Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

765 . NGUYỄN VY KHANH : Nhà Văn TRẦN DOÃN NHO

                                                                                                  


Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại

Nhà văn TRẦN  DOÃN  NHO

 

Trần Doãn Nho, bút hiệu sử dụng khi sáng tác và ký Trần Hữu Thục tên thật, khi viết tiểu luận. Sinh ngày 25-7-1945 tại Huế. Tốt nghiệp ngành Triết. Trước 1975, phụ khảo môn Triết tại Đại học Văn Khoa Huế; sĩ quan quân đội VNCH và cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn. Sau 1975, ở tù “cải tạo” đến 1981. Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo Dục Thành Phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Tự Do, Văn, và các trang mạng.

Tác-phẩm đã xuất bản: các tập truyện ngắn Vết Xước Đầu Đời (Thanh Văn, 1995), Căn Phòng Thao Thức (Thanh Văn, 1997), Đi. Trong Một Buổi Sáng (Văn Học Press, 2021) - ký và tùy bút Loanh Quanh Những Nẻo Đường (Văn Mới, 2000), truyện dài Dặm Trường (Văn Mới, 2001; Thư Ấn Quán tb 2018) - các biên-khảo tiểu luận Viết và Đọc (Văn Học, 1999), Tác Giả Tác Phẩm và Sự Kiện (Văn Mới, 2005), Từ Ảo Đến Thực (2006), Ẩn Dụ Cuộc Phiêu Lưu của Chữ (Người Việt, 2015), …

*

Trần Doãn Nho giáo chức và đã khởi nghiệp văn-chương từ trước 1975, ông thực sự xuất bản từ khi định cư tại Hoa Kỳ. Là một cây bút trí thức, do đó khi sáng-tác ông cũng đã hơn một lần cho người đọc thấy ông nhiều suy : con chữ Trần Doãn Nho hoặc Trần Hữu Thục, nếu không có mục-đích thì cũng liên hệ đến tâm thức và ý nghĩa nào đó của hiện hữu, của con người và nhất là con người Việt Nam!

Trong Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu của Chữ, ông nghiên cứu về “ẩn dụ” trong văn học Đông Tây trãi qua các thời đại. Chương viết về “Chữ nghĩa: chữ và nghĩa”, ông cho biết:

Chữ: Nói đến chữ, ta thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ. Dưới hình thức chữ cái, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ “tách khỏi thế giới và trở thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ,” theo Arild Utaker, trong một bài viết bàn về Saussure. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành “một vấn nạn triết lý”: tương quan “giữa ngôn ngữ và thế giới” hay nói khác đi, tương quan “giữa chữ và sự vật.” Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là phản ảnh vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm thấy trong chữ. Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn … “Hoạt động ngôn ngữ” là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói”. “Ngôn ngữ” có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. “Lời nói” là sự sử dụng cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này, Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là toàn thể các ký hiệu. Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ viết khiến ta không thấy được điều đó...”.

Nghĩa: Dù là bằng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic), chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “đi”. Đi là động tác di chuyển bằng chân hướng về phía trước, nhưng có nhiều chữ đi lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi đêm, đi khách. Hay chữ “ăn”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng, ta có những chữ ăn khác như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”...”.


Vết Xước Đầu Đời mà tựa sách là tên một trong số 13 truyện ngắn, các truyện còn lại là Cái giá của mùa xuân, Lặng lẽ ánh trăng, Người chú, Bạn cũ, Cuộc đời ở một phía khác, Kỷ niệm, Một chút Việt Nam, Dùng dằng, Vướng víu, Người đi kẻ ở, Good stuff và Nắng trên đồi.

Vết Xước Đầu Đời tức cái trớ trêu của một cuộc tình cũ mà nhân vật chính là Tâm, và người yêu cũ là Ánh. Hai người yêu nhau nhưng họ lại phải xa nhau. Rồi Tâm lấy vợ ở Vĩnh Long. Và Ánh lại có chồng là Tuân như một cách trả thù Tâm đã phụ bạc và chẳng may chồng nàng bị cánh quạt máy bay trực thăng đụng phải khi đi hành quân và tử nạn. Sau năm 1975, Tâm bị vợ bỏ, về lại Huế tìm lại Ánh và hai người lại có những trách móc sau khi Tâm dẫn Lan, con gái của Ánh “đi dạo loanh quanh ngoài đồng”. Ánh thì lo con gái mình không khéo lại bị chú Tâm du dỗ; còn Tâm thì khẳng định đời nào có chuyện tài trời như vậy. Và dưới mắt Ánh, khi rầy con với giọng chua chát: “Đời mẹ đã khổ vì đàn ông. Đàn ông không có gì đáng tin hết. Họ luôn luôn phỉnh phờ, lường gạt. Họ không hề biết yêu như người đàn bà. Có họ mình cũng khổ, mất họ mình cũng khổ. Mẹ không muốn con gần đàn ông, vì không muốn con khổ, con hiểu chưa?” (tr. 171). Và ngay trong đêm khuya hôm ấy, Lan nghe lời qua tiếng lại giữa mẹ và chú Tâm về chuyện đi dạo buổi chiều giữa Lan và chú ấy, và Lan “cảm thấy có chút gì tái tê, một chút gì đăng đắng, nghèn nghẹn của mùi vị cuộc đời. Như một vết xước đầu đời, nhưng cô cảm thấy buốt” (tr. 175).

Căn Phòng Thao Thức gồm 3 tùy bút và 10 truyện ngắn, có bài đã viết từ trong nước. Những nhẹ nhàng kỷ niệm và cuộc sống dù khung cãnh là chiến tranh, tao loạn và hận thù. Quá khứ Hà nội, Huế và những nơi chốn khác, những nơi chốn thân thương đầy kỷ niệm văn học và cuộc đời cũ mới. Tuệ Sỹ, Phùng Quán, những con người trong bóng tối hay sống đời vô vọng cho một tương lai. Một số truyện của tập như Dáng Buồn Mệnh Phụ, Một Ngày Hơi Khác về sau tình tiết và câu chuyện được sử dụng cho truyện dài Dặm Trường, một loại liên-văn-bản. 

Căn Phòng Thao Thức ở ngoài nước, với những sinh hoạt cộng đồng không được như ý cho đến chuyện con cái sống nếp đời quá mới, qua chuyện của ông Điền bà Phượng sắp thành sui gia. Họ cùng chờ con mỗi người trở về nhà mà họ cũng chờ nhau đi bước đầu đến với nhau trong gang tấc. Kết của truyện giữa bà Phượng và ông Điền:

“Ông nhìn đồng hồ:

- Bốn giờ rồi. Tôi chắc tụi nó cũng sắp về.

Ngừng một lát, ông nói thêm một câu, ngoài ý muốn:

- Chị nên đi ngủ cho khỏe. Đừng lo lắng vu vơ nữa.

Bà Phượng miễn cưỡng đứng dậy, không nói gì, lẳng lặng bước đi. Chiếc rốp ngủ phất phơ với những đường nhăn vô tình, ý nhị. Bà vào phòng, khép cửa. Then cài. Đèn tắt. Im lặng. Ông nhìn đăm đăm. Đường sang trên cánh cửa không còn. Ông thở dài, nằm xuống, tự hỏi chẳng biết một lúc nào đó, cánh cửa sẽ mở ra, bạo dạn đón ông vào, rồi khép lại, khép chặt lại” (tr. 70).

Trong Loanh Quanh, Những Nẽo Đường, Trần Doãn Nho háo hức tìm lại kỷ-niệm cũ của tập thể như thế giới truyện Tự Lực văn-đoàn: "Hà-Nội như thể là quê tôi, như thể tôi đã từng sống, từng lớn lên, từng vui, từng buồn ở đó. Con đường Cổ Ngư hình như tôi đi nhiều lần hơn đường Ngọ Môn (...) Tôi cũng đến Hà-Nội để tìm, tìm một mộng tưởng giữa sự thật, một vĩnh cửu giữa cuộc thăng trầm..." ("Lô Sơn Yên Tỏa", tr. 97, 122). Những bài ký được viết bằng hồi ức về quê nhà thời trước khi lập nghiệp ở xứ người, ông kết thúc tập với bài thơ Ngày Gặp Lại.

Đi. Trong Một Buổi Sáng ngoài 3 truyện viết trước 1975, văn chương phần sau 1975 gồm 13 truyện theo cấu trúc nhà trường – mạch lạc, hình thức và nội dung rành mạch và có bất ngờ, bên trong của truyện pha thực và nghĩ, có giọng văn của nạn nhân và có khi đứng trên bục giảng, dù nhà văn đã báo trước trong “Mở”: “Tập truyện này gồm những truyện ngắn sáng tác trong nhiều thời điểm khác nhau, từ trước năm 1975 ở trong nước và từ giữa thập niên 1990, lúc mới sang định cư tại Hoa Kỳ, cho đến thời điểm gần đây, được đăng tải trên báo giấy cũng như báo mạng trong và ngoài nước. Tác giả có nhuận sắc lại đôi chút, kể cả thay đổi một vài truyện, nhưng vẫn giữ văn phong và nội dung vào thời điểm mà chúng xuất hiện. Cũng xin thưa: hư cấu, dù có phản ảnh một phần nào hiện thực, vẫn là hư cấu. Tức là bịa”.

Ông xướng lý vậy, nhưng đọc xong, độc giả có thể đặt nghi vấn nhà văn phải chăng khác với các nhà hiền-triết và giáo chủ khi đưa tự thân làm nền móng cho những mảnh tư duy, khi đưa cái Tôi ra cho con chữ vây quanh, khi không có cái Tôi đây thì không còn văn-chương?

Tác-giả cho biết Dặm Trường được khởi sự sáng-tác từ tháng 10-1993 – tức ngay sau khi đặt chân đến đất tạm dung, và viết xong tháng 1-2001; được nhà Văn Mới xuất-bản cùng năm và gần đây, vào tháng 5-2018, tác-phẩm được nhuận sắc lại và Thư Ấn Quán ở New Jersey tái bản vào mùa Hè 2018, 480 trang.

Dặm Trường được tác-giả gọi là truyện dài, viết về đời sống xã-hội bi-thảm ở Việt Nam sau ngày Bắc-Việt cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, qua những thăng trầm, khó khăn của gia-đình Đoàn Thị Mỹ Hạnh và Tống Viết Lục, “giáo viên lưu dung” - cựu sĩ quan biệt phái dạy học, sau 1975, học tập ngắn hạn rồi trở về dạy học rồi bị cho nghĩ việc, cũng như cuộc-sống gian truân của người thân quen và bạn bè của họ. Dặm Trường là đường dài mà các gia-đình ở Huế (và cả đất nước) phải cam go dong ruổi vượt qua, đi đến cùng, vì sinh kế, vì sống còn.

Trước hết, là chuyện đường dài của Hạnh và Lục. Hạnh phải xông pha đi buôn để nuôi chồng, nuôi con, đi buôn đường dài, đến những nơi có thể chưa từng biết trước đó, là dấn thân vào một thế giới xa lạ - môi trường bất thường và phiêu lưu này sẽ tàn nhẫn biến đổi con người khiến trở nên vong thân, xa lạ với cái Tôi bình thường hay trước đó.

“Lục không rành chuyện buôn bán, lại nữa, anh nhát gan. Gặp công an, thuế vụ, không có hàng đã run, huống hồ gì mang thứ hàng thuộc loại “quốc cấm” như trầm. Từ ngày bị giảm biên chế vì thuộc diện dính líu đến chế độ cũ, anh lui về lo việc nhà. Anh săn sóc con cái, nấu nướng, đếm tiền cho vợ. Vợ sai đâu, anh đi đó. Anh thuộc loại không thể thích nghi được với cái xã hội mới đầy cả mánh mun bên ngoài. Anh dị ứng với cảnh người ta lăng xăng lui tới gạ gẫm, đẩy đưa, mặc cả. Có lúc, anh chăm chú theo dõi, thậm chí thử tìm hiểu mà rốt cuộc vẫn cảm thấy lạ lẫm. Anh nhờ nó để sống, mà y như kẻ đứng ngoài, chẳng dính líu gì.

Hạnh khác. Hồi trước nàng nhút nhát, ít nói, rất sợ phải tiếp xúc. Thế mà đột nhiên, nàng đổi tính. Nàng nhảy một cái vào cái xã hội mới mẻ này, hòa nhập vào nó một cách mau chóng. Nàng nói nói cười cười thiệt thiệt giả giả. Khi tình, lúc lý. Khi giả đò, lúc thành thật. Nàng láo lường, tính toán, thủ đoạn.Nàng biết cách biến từ không đến có, từ giả thành thiệt. Ðêm đêm, sau khi đếm tiền, cất vàng, kiểm hàng xong, nàng mới trở lại một Hạnh của anh, dẫu không toàn vẹn lắm, nhưng cũng đủ để cho anh cảm thấy yên tâm. Nàng tỉ tê tâm sự. Nàng nũng nịu. Nàng chìu. Chỉ đến lúc này, Lục mới phần nào tìm thấy hơi hám quen thuộc của một Hạnh khép nép, dựa dẫm ngày nào. Suốt ngày anh lửng lửng lơ lơ, chờ mong cho đến lúc Hạnh xong mọi công việc làm ăn trong ngày, đổi lốt, trở về với anh” (tr. 5-6).    

Chuyến buôn đầu đáng kể của Hạnh là 4 kí-lơ trầm – thứ hàng mà một số nhà văn thơ sau 1975 cũng theo làm kiếm sống, đi tìm nơi rừng thiêng nước độc để đưa về xuôi bán lại. Đúng là “chuyến xe định mệnh”, khi Hạnh đi đến trạm Căn Cứ Năm thì bị tịch thu mất hết, may gặp được giúp đỡ nhưng phải để cho tên tài xế này hiếp, như một cách trả ơn đã giúp lấy lại hàng bị tịch thu: “một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ. Ừ, thì đâu có gì ghê gớm nhỉ. Chỉ là một cách trả ơn thôi”, như là một “giấc mộng bất bình thường” - “Ừ, thì chẳng có gì ghê gớm lắm”!

Chuyến đi buôn lời hơn 1 lượng vàng, chồng con đều có quà và cả nhà ăn 1 cái Tết vui vẻ. Lục mặc cảm bất lực, thừa thãi: “Em lo cho gia đình, lo cho anh như thế là quá sức rồi. Anh tiếc là anh đầu óc chậm lụt quá, không thích nghi kịp với cuộc sống.

Anh ôm vợ vào lòng. Hạnh nói:

- Thời buổi này là thời buổi của đàn bà, anh ơi. Ðàn ông các anh chẳng còn hợp thời nữa mô! (…) - Ðúng. Nhưng anh biết sao không, hầu như họ đều là dân trước đây đã từng sống va chạm với xã hội nhiều. Anh khác.

Anh là nhà giáo, lại là sĩ quan chế độ cũ. Ðầu óc anh không thể thích nghi được với cái nghề đi buôn thời nay. Gian xảo, lừa lọc, dối trá là chính.

- Em thì sao. Một hai chứng chỉ đại học rồi chứ có phải chơi đâu. Thế mà em...

Hạnh chống chế:

- Ừ, thì cũng có khác. Anh xem, em bất đắc dĩ mà thôi.

Riết thành quen. Mà lại, gặp sự việc gì rắc rối, đàn bà thì dễ…tính, dễ…dễ có cách…giải quyết... (tr. 32).

Hạnh vì hoàn cảnh phải đi buôn lậu, phải mánh lới để sống còn, để còn có đường trở về với chồng con đã có; nhưng nàng như được thả lỏng, được tự do, được nhìn thấy những chân trời và con người khác với những thân thuộc ở xứ Huế. Vô Sài-Gòn gặp lại thầy Túy – người tình của một thời nữ sinh, buôn chung với Phiệt có vợ bỏ đi Canada, cũng như phải “tiếp cận” với con người của xã-hội mới như giám đốc Tư Mau, như bí thư huyện ủy Mười Giộc,... Nói chung, ông nào cũng muốn cận kề và hưởng mùi gái xứ Thần-kinh. Thời mới, ai cũng có thể “tứ giải giai huynh đệ” với cán bộ, đảng viên, thủ trưởng, bí thư hầm bà lằng cũng đi buôn, chở lậu kiếm tiền, lập công ty ma,... Phụ nữ đi buôn như Hạnh dễ dàng trao thân cho người lạ, tài xế, bí thư,... dễ gần gũi những đàn ông khác như thầy Túy, như Cảnh, chồng của bạn nàng, như Quất người Hà-Nội trên đường buôn hàng. Với Hạnh, “Cảnh táo bạo, hồn nhiên. Túy sâu sắc, da diết và...yếu bóng vía. Mỗi người tạo cho nàng một ấn tượng riêng biệt. Ấn tượng nào cũng khiến nàng nao nức, bồi hồi (...).

“Khi mới lấy chồng, nàng nghĩ đàn ông thì ai cũng thế. Dâm đãng, tham lam và lười biếng. Nhưng giờ đây, nàng hiểu ra rằng, không đơn giản như thế. Mỗi một người có nét riêng của họ, khó hiểu và hấp dẫn. Mười Giộc hung bạo mà hào hoa. Túy nhút nhát mà sâu sắc. Cảnh thì ẩu tả mà quyến rũ. Chẳng ai giống ai. Mỗi người mang lại cho nàng những cảm giác riêng biệt. Lạ. Y như được nhắm thử những món đặc sản tại các vùng khác nhau” (tr. 393).

Hậu quả đương nhiên, trong một chuyến buôn trở về, Hạnh đã thay lòng chăng khi nhìn lại tổ ấm của gia-đình không còn là hạnh-phúc hoặc niềm vui như Sài-Gòn khi đổi đời, nàng đi buôn, có tiền nuôi cả nhà: “Trong bóng đêm, tất cả chỉ là những khối đen hòa lẫn với nhau im lìm say ngủ. Chúng ẩn nhẫn, chịu đựng. Lặng lẽ và buồn bã đến thế này sao! Một khác xa vời vợi với Sài Gòn. Nàng nhìn lui ra phía cửa ngõ. Khẽ thở dài. Ra khỏi đó là khung trời rộng mở. Là mênh mông. Là một thế giới khác. Nàng quay lại, ngơ ngác đứng sững nhìn ngôi nhà thân quen của mình. Sao mà nó lạ hoắc thế này! Nơi đây, nàng chẳng đã từng sống, từng vui đùa, từng sinh con, từng vui hưởng đời sống vợ chồng, từng vân vân và vân vân đó sao!?

Bước chân lên thềm, nàng thấy lạnh ở cổ. Gió khuya liu riu từ bên kia khu vườn lướt tới, mơn man. Nàng kéo áo ấm sít lại, bâng khuâng dừng lại trước cánh cửa. Một ý nghĩ kỳ lạ chợt đột nhập vào trong trí tưởng hoang mang của nàng: đừng vào nữa. Hãy trở ra cửa ngõ và đi, đi mãi, không quay lại. Hình ảnh Lục và mấy đứa con hiện ra nhạt nhẽo, vô hồn. Ngày lại ngày, chừng ấy! Ôi chao! Những khuôn mặt mong ngóng, khát khao, chờ đợi. Chồng và con! Chừng ấy! Cứ thế, mãi mãi. Không có gì khác.

Còn với Lục, người chồng, thì Hạnh nghĩ: Nàng chỉ có việc vén mùng, nằm xuống, đưa hai tay ôm choàng lấy thân hình anh, yên lặng nghe mùi mồ hôi thân quen, nao nức đợi lúc anh quay mình lại, ôm siết lấy nàng và cứ thế, tuần tự, anh sẽ…, anh sẽ…Nàng bất giác cảm thấy ơn ớn.

Như ăn mãi một thứ gì nhiều lần quá. Chẳng có gì vui. Nàng rón rén bước ra, đi thẳng vào phòng mấy đứa con, tới giường con Ngân, nằm vội xuống.

Hạnh tưởng là ngủ được ngay, nhưng mà lạ, nằm trằn trọc mãi.

Lần đầu tiên trong đời, nàng kinh qua một cảm giác lạ lùng: trở lại nhà của mình mà như đến trọ ở nhà một người lạ (tr. 185-186).

Hạnh đã đổi thay, dĩ nhiên, vì nàng đã biết đến da thịt người đàn ông khác, có thể vì hoàn cảnh, vì không lối thoát, nhưng Hạnh cũng thích thú đón nhận và mong đợi. Làm tình chồng vợ nay cũng đã khác giá trị cảm xúc, làm như làm vì phải làm, vì bản năng xác thịt: “Sau cơn ân ái, Lục hôn phớt lên tóc vợ, ngồi dậy. Khi ra ngồi hút thuốc ở ngoài hiên nhà, anh cảm thấy buồn buồn. Và thất vọng. Cả một tháng trời xa nhau, tưởng gặp lại, cả Hạnh và anh sẽ dạt dào hưng phấn, hân hoan thụ hưởng lẫn nhau, tíu tít chuyện trò để bù lại những ngày chờ đợi. Ấy thế mà không. Anh cảm nhận một cái gì khang khác. Thiêu thiếu, vương vướng, trục trặc. Ðôi môi Hạnh không nóng bỏng. Lại lạnh. Nàng ôm anh chừng mực. Ðôi mắt mở lớn nhìn lên trần nhà. Hơi thở nàng vẫn bình thường, không dồn dập. Nàng như miễn cưỡng chịu đựng cho xong chuyện. Anh hăm hở được khoảng thời gian đầu, rồi dịu xuống. Anh nản chí. Những động tác trở nên đều đặn, lấy lệ...” (tr. 189)

Trong khi đó, Lục chỉ biết tìm vui tạm bợ với những người bạn cũ: “Trong xã hội này, không những mọi người tập im lặng, tập nhắm mắt trước những sai trái, mà còn tập làm quen với những điều nghịch lý, không những thế, biến chúng thành hữu lý. Dần dà, im lặng trở thành quán tính, không những ở hành vi cử chỉ bên ngoài mà còn ở trong tư tưởng. Sự sợ hãi đã làm người ta tự tẩy não mình một cách thầm lặng. Bởi thế mà trong những buổi tụ họp như thế này, ăn nói, ai cũng giữa kẽ. Bạn bè đó, nhưng chỉ cần một “sự cố” nhỏ, là phản bội nhau ngay. Chỉ để tìm lấy sự an toàn cho chính mình.(...)

Những kẻ được trọng vọng một thời bây giờ hiện thân là những anh giáo làng ngơ ngác. Mọi người lặng lẽ uống. Và uống. Tưởng như uống cho hết cái cảm giác bất lực, lạc lõng của một lớp người. Đúng là những thằng người gỗ! Và là những thằng người gỗ biết nhậu, Lục đau đớn nghĩ thầm” (tr. 70-71).

Ngày ngày chờ vợ đi buôn trở về, Lục tìm đến những bạn như Tân và các sinh viên thời tranh đấu, và những người nữ một thời như Hồng, nữ sinh Đồng Khánh, từng mến chàng. „“ở quán cà phê Tổng Hội có một buổi sinh hoạt ca nhạc sinh viên học sinh.do Thành Ðoàn đứng ra tổ chức. Gặp Hồng. Nhưng giờ đây, mọi thứ đều xa lạ, hờ hững. Tới đây mà làm gì nhỉ? Có còn gì là của mình nữa đâu!”.

Với Lục, cái thành phố thơ mộng của họ cũng như đã đổi khác: “Bao giờ cũng thế, cảm giác của anh khi đi qua phố vẫn là cảm giác lạc lõng dai dẳng. Thì cũng chợ, cũng nhà, cũng người. Cũng bạn bè bà con chòm xóm. Cũng những người quen biết. Cũng là những cư dân trong thành phố nhỏ bé thân yêu này. Họ ngày ngày đổ tụ về làm ăn, như từ bao giờ, nhưng anh vẫn thấy xa lạ y như thể chẳng dính dáng gì mấy đến mình.

Có phải vì anh dị ứng với bóng dáng của bà giáo viên trường Ðồng Khánh bỏ dạy ra chạy chợ? Có phải vì cái anh xe thồ trong bộ áo quần tơi tả, mặt mày đăm chiêu, lơ láo đợi khách ở góc đường kia, đã từng là hiệu trưởng một trường trung học? Hay anh đạp xe xích lô đang gò lưng đạp kia đã từng là một trung đội trưởng khét tiếng trên chiến trường? Có lẽ tất cả thế và còn nhiều hơn thế. Cái xã hội vốn như một toàn thể trước đây, sau cơn sóng gió lịch sử, vỡ ra từng mảnh vụn, như cái ly thủy tinh vỡ, bây giờ ráp lại với nhau, cái khớp, cái không, lơ láo, tạm bợ...” (tr. 176-177).

Hụt hẫng tình cảm và mặc cảm với Hạnh, Lục tìm đến ấm áp của Hồng, liều mình trong một phiêu lưu tình cảm rượu cũ bình mới. Hồng – người bạn đi buôn chung có chồng hờ tên Thuận ghen, bạo dâm và bạo lực xé sách vở, đồ đạc. Hồng cũng mê Lục: “Nhưng lạ là, cứ mỗi lần nghĩ đến Lục là Hồng thấy có Hồng ở trong. Lạ thế! (…)  Mỗi lần nhìn Lục, Hồng thấy có nhiều thứ của mình trong đó”.

Các chuyến đi buôn không chấm dứt dễ dàng dù đã tiền trao cháo múc, mà còn dây dưa lâu dài hơn. Mười Giộc ra Huế mở chi nhánh Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản đánh tiếng làm ăn. Lục dị ứng với ngôn-ngữ của cán bộ, nên Hạnh bị tên bí thư lôi kéo tiếp nhưng bị vợ y là Út Vực cảnh cáo. Cũng vì Lục, Hạnh mất dịp may làm ăn. Và cũng không dễ chấm dứt vì sau các cuộc trao đổi, Hạnh có thai - cũng như Tương bạn buôn như nàng, nên phải giấu Lục và tìm cách phá thai. Sau đó, Hạnh làm ăn lại với Thương, một cô bạn cũ khác và lại rơi vào vòng tình ái với Cảnh chồng Thương.

Với Hạnh, Lục hết còn là điểm tựa cũng như cánh tay bảo vệ. Lục cuối cùng cũng đi buôn lậu, đi Khe Sanh, vấn-đề bị bắt, nhà bị công an lục xét, mất vốn. Rồi chuyển qua đi xe thồ, việc làm mà Hạnh cho là làm nhục gia-đình mẹ con, nhưng Lục thích thú vì khác đa phần là phụ nữ, chàng được nghe bao pho tiểu-thuyết đủ tình tiết hấp dẫn, giúp chàng quên Hạnh thường trực xuôi Bắc Nam.

Rồi Cộng-sản bày trò đổi tiền cốt cướp tiền dân, nhưng đồng thời tạo nên một “thị trường làm ăn mới. Lực theo Tần kiếm được khá tiền nhờ huê hồng của những “mối mua bán tiền, nhưng lại bị công an chận bắt và mất tất cả. Cùng lúc, Hạnh bị mất hàng khi đi tàu vào đến Nha trang với Quất, bị “kiểm tra hàng hóa đột xuất trên tàu Thống Nhất 4. Lục bị bắt và đưa ra tòa, Hồng đến dự mới biết chàng bị gán tội nằm trong tổ chức “phản cách mạng do Nguyễn Hữu Vấn cầm đầu, chỉ vì nghe lén đài VOA!

Dặm Trường, theo thiển ý, là một truyện dài với kỹ thuật của tiểu-thuyết. Rõ ràng là Trần Doãn Nho muốn trần thuật những gì đã xảy ra đối với một số người dân xứ Huế và cả nước sau biến cố tháng Tư 1975. Tuy vậy, ông đã không chọn thái-độ chủ-quan và thể-loại hồi-ký, mà ông còn muốn đưa vào cái nhìn và phân tích từ cái sống của ông vào cái thời-kỳ đó, muốn làm văn-chương và triết lý từ những mẫu chuyện xã-hội, những lầm than và bi đát của nghịch cảnh. Khác với một số tác-giả hải-ngoại ít ưu tư về kỹ thuật, về căn nguyên của sáng-tác tiểu-thuyết có thể vì không có môi trường thuận tiện với độc giả và giới sáng-tác theo dõi sinh hoạt văn-hóa như ở miền Nam trước 1975.

Tác-giả Dặm Trường đã sử-dụng kỹ thuật tiểu-thuyết: viết là kể một câu chuyện, với khả năng tưởng tượng và khéo dùng hình ảnh, tiếng nói và nhắm người đọc. Yếu tố "câu chuyện" có thời sẽ mất quan trọng, nghĩa là không nhất thiết phải có một câu chuyện. Thường kỹ thuật tiểu thuyết thâu tóm ở nhân vật, bối cảnh, biến cố khởi đầu, các động tác dồn dập đưa đến bất ngờ hoặc tột đỉnh tiểu thuyết và cuối cùng kết thúc chuyện. Trong Dặm Trường, cái kết như không thật dù có thể xảy ra: Lục và Hạnh có thể bị bắt và bị tù từ những biến cố, hành động khác nhau, trong một chế độ bất nhân đã khiến cho hoàn cảnh như thế đã phải xảy ra, vì lưới phi nhân, tàn bạo đã phủ trùm cả nước, nhưng tác-giả đã để cho hai nhân-vật này sát da đụng thịt rồi mới nhận ra nhau vốn không phải là hai chủ-thể hoàn toàn xa lạ – họ là vợ là chống từng hạnh-phúc bên nhau. Chương cuối 41, tác-giả kết thúc đường đã dài với cảnh Lục đi lao động tự giác ở trong rừng, gặp gỡ và làm tình với một người nữ tù của một trại gần đó, mà rồi chàng mới nhận ra đó là Hạnh, vợ chàng:

... Không cần nhìn nhau và tuyệt đối không nói một lời nào, họ quấn vào nhau. Chân thành. Cuồng bạo. Rừng xoáy đổ. Suối xiêu dòng.

ra khỏi cơn mơ, đúng lúc hai người rời nhau như hai kẻ xa lạ, thì lục bỗng cảm nhận một cái gì rất đỗi thân thuộc từ người đàn bà. từ hơi thở, cái bíu tay, nụ hôn cho đến tiếng nấc hoan lạc. ai? anh ôm người đàn bà xoay lại, đưa cả mười ngón tay vuốt tóc nàng lên. anh há hốc, mắt trợn tròn. người đàn bà bước lùi lại, lắp bắp:

- trời... anh lục...phải anh...là lục...không...không...

giọng anh run bần bật:

- hạnh!

thế giới bỗng mở ra toang hoác, tan nát. cả hai người bay từ cõi tiền sử về trần gian khốn khổ. người này là một phần của người kia. người này là nỗi đau đớn của người kia. hai người nhìn sững nhau chốc lát rồi lao vào nhau, gục vào nhau, khóc. khóc hội ngộ. khóc tan vỡ. khóc cay đắng. lục đẩy nhẹ hạnh ra, hỏi:

- vào tù khi nào?

- à...mấy năm rồi nhỉ...em không nhớ...

- sao lại ở tù?

- chắc...là tại vì...vượt biên...

- ở đâu?

- không nhớ...in thử như là...quảng ninh.

- sao lại về đây?

- họ...họ... chuyển về...ai mà biết...

- có án không? mấy năm?

- có...à mà... mấy năm...quên mất rồi...

- vì sao?

- buôn bán tem phiếu...bị truy nã...cướp tàu vượt

biên...rồi...

- con đâu?

- không biết...à phải rồi, con ngân và thằng phụng... đi

với em, bị bắt... nhưng thả về rồi thì phải...hay ở đâu...

- còn thằng đồng?

- không rõ...anh...anh...mấy năm?

- sáu.

- tội...tội... gì?

- phản động.

một tiếng động bỗng vang lên lảnh lót, vang động cả rừng cây. chim bay xao xác. bóng nắng run rẩy. tiếng suối chảy chùng lại. hơi thở hụt. ời nghẹn tắt. chút thanh bình hiếm hoi tan tác. họ bàng hoàng nhìn nhau. sâu thẳm và lạc loài. Mỗi người tìm thấy trong người kia những giọt nước mắt tròn, lăn, lăn mãi xuống. trong một thoáng, toàn thế giới chỉ là những giọt nước tròn lăn hoài. bất tận.

hạnh cầm tay anh run run, bóp nhẹ rồi chạy xuống triền núi. lục ẩn mình sau thân cây, nhìn theo. thoáng chốc, hạnh biến mất sau rừng cây. như một ảo ảnh. lục gào lên hạnh hạnh hạnh hạnh đợi anh. anh chạy, băng rừng chạy. tiếng gào thoảng trong rừng xào xạc.

Tỉnh dậy, Lục nhìn quanh, chỉ thấy mênh mông tối. Trong tiếng xào xạc cây lá và tiếng côn trùng vang vang trong đêm rừng hoang vắng, hình như có tiếng ai gọi tên anh từ đâu rất xa, vẳng lại” (tr. 480).

Thực và ảo pha trộn, có đó mà vắng mặt! Một kết thúc văn-chương, triết lý cho một truyện dài xã-hội hậu 1975, với đoạn văn không viết hoa đầu câu và tên người. Chủ chiếc đũa sáng tạo, họ Trần như muốn cho nhân-vật của ông sống cái ảo của ẩn dụ, sống cái bất-khả của một xã-hội có chủ trương giúp con người thoát vong-thân để trở về là mình mà ông đã chứng minh ngược lại! Nếu sáng tạo cần linh động, cần sự sống cho câu chuyện, gây nên cái hồn cho tác phẩm, thì có thể xem như Trần Doãn Nho đã thành công. Câu chuyện không thật sự lạ, mới vì nhiều tác-giả đã viết, nhưng ở đây đã có sự sáng-tạo. Sáng tạo ở bút pháp và kỹ thuật là bận tâm của người viết, vì người đọc chỉ muốn thưởng thức cái được viết ra: câu chuyện và muốn được biết chuyện người khác! Nhưng với sáng tạo, người viết đã đem đến cho người đọc và cho chính mình một lối thoát: vượt lên trên hiện-thực vì thực-tại đã là bất khả, cũng là vượt lên trên những tính toán không lối thoát của chuỗi câu chuyện đường dài và là một kết thúc không bình thường - giả dụ như tác-giả cũng như người đọc mong muốn Lục và Hạnh trở lại hạnh-phúc bên nhau như khi đường dài đó chưa mở ra. Có thể xem chuyện dài xã-hội chủ nghĩa Dặm Trường mang tính ẩn dụ của văn-chương và triết lý. Kỹ thuật tiểu thuyết có thể khiến câu chuyện kể trở thành không thật, như một chuyện bịa. Trần Doãn Nho trong Lời Mở của cuốn tiểu thuyết Dặm Trường đã viết có ba chữ "viết là bịa" và đến Lời Kết, ông hạ bút "Viết xong, đọc lại, muốn viết lại từ đầu. Nhưng quá muộn. Nó đã ra đời mất rồi" (tr. 481). Tuy nhiên, khác với kỹ thuật "bịa" hay rập khuôn có sẵn tức kỹ thuật “minh họa" của văn-nghệ có chỉ đạo, bịa của Trần Doãn Nho nghĩ cho cùng là một kỹ thuật phương tiện khiến cho truyện dài xã-hội thành tiểu-thuyết văn-chương!

 

Nguyễn Vy Khanh

[Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại. 2025. Q. Hạ-Tác giả II, tr. 485-497]