Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

960 . Anne Carson Giải Nobel Văn học năm 2026. / Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu

 

Anne Carson sinh ngày 21 tháng 6 năm 1950 tại Toronto, Canada. Bà là nhà thơ, nhà tiểu luận, dịch giả và học giả nghiên cứu văn học Hy Lạp cổ đại. Bà được biết đến như một trong những tiếng nói độc đáo của văn học đương đại, bởi đã kết hợp thơ ca, văn xuôi, triết học, thần thoại và nghiên cứu cổ điển trong những hình thức sáng tác mới mẻ. Ngày 8 tháng 10 năm 2026, bà được trao Giải Nobel Văn học 2026, ghi nhận sự nghiệp sáng tác giàu tính sáng tạo và cách bà đối thoại với truyền thống cổ điển để mở ra những hình thức văn học hiện đại.

Từ thời trung học, Carson đã say mê ngôn ngữ và văn học cổ đại. Nhờ sự hướng dẫn của một giáo viên tiếng Latin, bà bắt đầu học tiếng Hy Lạp cổ. Niềm say mê này trở thành nền tảng quan trọng cho sự nghiệp của bà. Carson theo học tại Đại học Toronto, nhận bằng cử nhân năm 1974, bằng thạc sĩ năm 1975 và bằng tiến sĩ về văn học cổ điển năm 1981. Bà từng giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Canada và Hoa Kỳ, trong đó có McGill, Princeton và Đại học Michigan.

Năm 1986, Carson xuất bản Eros the Bittersweet, tác phẩm nghiên cứu về tình yêu và khát vọng trong văn học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là thơ Sappho. Cuốn sách cho thấy một đặc điểm nổi bật trong tư duy của bà: sử dụng kiến thức học thuật để khám phá những cảm xúc phổ quát của con người. Với Carson, tình yêu không chỉ là cảm xúc riêng tư mà còn liên quan đến sự thiếu vắng, khoảng cách và những điều con người không thể hoàn toàn nắm bắt.

Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là Autobiography of Red (1998), một tiểu thuyết viết bằng thơ, lấy cảm hứng từ thần thoại Hy Lạp về Geryon và Herakles. Carson đưa các nhân vật cổ đại vào một thế giới hiện đại, đồng thời khám phá những chủ đề như tình yêu, bản sắc, tổn thương và sự cô độc. Tác phẩm tiêu biểu cho khả năng kết hợp thần thoại với những vấn đề tâm lý của con người ngày nay.

Các tác phẩm đáng chú ý khác của Carson gồm Glass, Irony, and God (1992), tập thơ và tiểu luận chứa bài thơ dài The Glass Essay; The Beauty of the Husband (2001), tác phẩm suy ngẫm về tình yêu, sự phản bội và đổ vỡ hôn nhân; Nox (2010), một tác phẩm giàu tính thử nghiệm được hình thành từ nỗi đau mất người anh trai; và Wrong Norma (2024), tập hợp những sáng tác thể hiện sự tìm tòi không ngừng về hình thức văn chương.

Ngoài sáng tác, Carson còn được đánh giá cao trong lĩnh vực dịch thuật văn học cổ điển. Bà đã chuyển dịch các tác phẩm của Sappho, Sophocles và những tác giả Hy Lạp cổ đại khác. Các bản dịch của bà không chỉ nhằm chuyển tải ý nghĩa nguyên tác mà còn tìm cách tái tạo sức sống thi ca của những văn bản đã tồn tại qua hàng nghìn năm. Trong sáng tác cũng như dịch thuật, bà thường kết hợp sự chính xác của một học giả với trí tưởng tượng của một nhà thơ.

Trong sự nghiệp của mình, Carson đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu quan trọng, trong đó có học bổng MacArthur năm 2000, giải T. S. Eliot cho The Beauty of the Husband, cùng các giải thưởng và học bổng dành cho thơ ca, nghiên cứu và sáng tác văn học. Năm 2005, bà được trao danh hiệu Thành viên Huân chương Canada nhằm ghi nhận những đóng góp cho văn học nước này. Giải Nobel Văn học năm 2026 là sự ghi nhận quốc tế nổi bật đối với sự nghiệp sáng tác khác biệt của bà.

Về phong cách, Anne Carson không dễ được xếp vào một thể loại văn học duy nhất. Tác phẩm của bà có thể đồng thời mang dáng dấp của thơ trữ tình, tiểu luận triết học, truyện kể, nghiên cứu văn học hoặc một thử nghiệm thị giác. Bà thường đặt những câu hỏi về tình yêu, ham muốn, ký ức, thời gian, nỗi đau và cái chết, nhưng không vội đưa ra những câu trả lời dứt khoát. Thay vì giải thích mọi điều, Carson để những hình ảnh, liên tưởng và khoảng trống trong ngôn ngữ tiếp tục vang vọng trong tâm trí người đọc.

Có thể nói, Anne Carson là một nhà thơ dùng tri thức cổ điển để khám phá những bất an của con người hiện đại. Qua các tác phẩm của bà, thần thoại Hy Lạp không chỉ thuộc về quá khứ mà trở thành phương tiện để suy ngẫm về những vấn đề vẫn còn nguyên tính thời sự: chúng ta yêu như thế nào, chịu đựng mất mát ra sao và làm thế nào để tiếp tục sống khi những điều từng đem lại ý nghĩa cho cuộc đời không còn tồn tại như trước.

 

The Glass Essay (Tiểu luận về thủy tinh) là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Anne Carson. Bài thơ dài này được xuất bản năm 1995, mở đầu tập Glass, Irony, and God (Thủy tinh, sự mỉa mai và Thượng đế). Tác phẩm có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp của Carson vì nó thể hiện rõ phương pháp sáng tác độc đáo của bà: kết hợp thơ trữ tình với tiểu luận, tự truyện, phê bình văn học và suy tư triết học. Nhiều nhà nghiên cứu xem đây là tác phẩm quan trọng để hiểu cách Carson tổ chức câu chuyện cá nhân thông qua việc đọc và diễn giải một tác giả khác.

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của  Tiểu luận về thủy tinh là mở rộng quan niệm về thơ ca. Tác phẩm không tuân theo cấu trúc thông thường của một bài thơ trữ tình, cũng không phải một bài tiểu luận học thuật thuần túy. Trong đó, những hồi ức riêng tư, những suy nghĩ về tình yêu, các nhận xét về văn học và những hình ảnh mang tính biểu tượng đan xen với nhau.

Người kể chuyện đến thăm mẹ ở vùng nông thôn Canada sau khi một mối tình tan vỡ. Trong thời gian ấy, cô suy ngẫm về người tình cũ, được gọi bằng cái tên Law, đồng thời đọc lại cuộc đời và thơ ca của Emily Brontë. Những suy tư về Emily không đứng ngoài câu chuyện tình cảm của người kể chuyện, mà liên tục tác động đến cách cô nhìn nhận chính mình.

Carson không tách riêng phần tự thuật khỏi phần nghiên cứu văn học. Bà cũng không yêu cầu người đọc lựa chọn giữa việc xem tác phẩm là thơ hay tiểu luận. Chính sự đan xen ấy tạo nên hình thức đặc biệt của văn bản: tư duy trở thành thơ, còn trải nghiệm cá nhân trở thành một phương thức khám phá văn học.

Công trình nghiên cứu Anne Carson: The Glass Essayist của Elizabeth Sarah Coles cũng nhấn mạnh đặc điểm này trong sáng tác Carson: hoạt động nghiên cứu, đọc và diễn giải không chỉ cung cấp chất liệu cho thơ, mà còn trở thành một phần của quá trình sáng tạo.

Vì vậy, Tiểu luận về thủy tinh có thể được xem là một bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành phong cách riêng của Carson, nơi những ranh giới giữa các thể loại không bị xóa bỏ hoàn toàn nhưng liên tục được thử thách.

Nếu chỉ nhìn ở bề mặt,  Tiểu luận về thủy tinh là câu chuyện về một người phụ nữ đau khổ sau khi bị người tình rời bỏ. Tuy nhiên, tác phẩm không dừng lại ở việc diễn tả nỗi buồn của một cuộc chia tay. Carson quan tâm sâu sắc hơn đến những gì xảy ra với ý thức con người khi một mối quan hệ từng đem lại ý nghĩa cho cuộc đời đột ngột tan vỡ.

Người kể chuyện không thể dễ dàng quên Law. Cô nhớ lại những khoảnh khắc gần gũi, cảm thấy bị tổn thương và tìm cách hiểu tại sao tình yêu lại kết thúc. Nỗi đau của cô không chỉ nằm ở việc mất đi một người yêu, mà còn ở sự sụp đổ của những niềm tin từng giúp cô hiểu thế giới và hiểu chính mình.

Điều đáng chú ý là Carson không lý tưởng hóa đau khổ. Bà không biến sự phản bội thành một bài học đạo đức đơn giản, cũng không khẳng định rằng con người nhất thiết sẽ trở nên mạnh mẽ hơn sau mất mát. Người phụ nữ trong bài thơ có lúc giận dữ, tuyệt vọng, hoài nghi và cảm thấy mình không còn chỗ dựa. Những trạng thái ấy tồn tại cạnh nhau, không được sắp xếp thành một hành trình trưởng thành có trật tự rõ ràng.

Chính ở điểm này, tác phẩm vượt ra ngoài khuôn khổ của một bài thơ tình. Nó khảo sát cách con người tiếp tục tồn tại khi tình yêu không còn mang lại sự an toàn, khi những câu trả lời từng được xem là hiển nhiên trở nên đáng ngờ.

Sự thành công của Tiểu luận về thủy tinh nằm ở chỗ Carson không cố giải quyết nỗi đau bằng một kết luận dễ chịu. Bà để người đọc chứng kiến quá trình một người phụ nữ đối diện với những phần khó chấp nhận nhất trong chính mình.

 

959 . NGUYÊN CẨN - Ý Nghĩ trên cỏ.

           


Ý nghĩ trên cỏ

 

Tôi bước đi trên cỏ

Vì tôi thấy  nó êm *

Thả lòng mình trên đó

Dưới chân vạt cỏ mềm

 

Vui một  thời với cỏ

Ngóng chú  dế xa nhà

Nhớ màu xanh tuổi nhỏ

Phai dần  theo xuân qua

 

Trót sinh ra từ gió

Phiêu du như mây trời

Chẳng không và chẳng có

Khi về như gió thôi

 

Làm sao giam được gió

Vì gió đến từ trời

Làm sao ngăn được cỏ

Cỏ từ đất sinh sôi

 

Tôi còn đi trên cỏ

Vì còn yêu màu xanh

Tôi cứ đi trên cỏ

Vì sợ đời trôi nhanh

 

Hôm nay đi trên cỏ

Mai kia dưới cỏ, nằm

Trong ta ngừng ngọn gió

Đã thổi  suốt trăm năm

 

Và  ngàn sau lại hẹn

Hồn ta , trên cỏ xanh....

 

Nguyên cẩn

 

Ghi Chú ( *) Theo câu nói nổi tiếng của cố GS Trần Đức Thảo khi bị cảnh sát Pháp chất vấn về việc tại sao ông lại đi chân trần trên cỏ trong một công viên ở Paris . Ong đã trả lời :” Vì tôi thấy nó êm

 

958 . LÊ ĐỨC LUẬN - Bà Năm Ước

                                           

Bà Năm Ước

    Những ngày đầu đặt chân đến Hoa Kỳ định cư, có những chuyện nhỏ xíu mà người Việt chúng ta cũng phải mất một thời gian mới quen. Hai điều dễ khiến người ta nhầm lẫn khi điền giấy tờ: tháng lại đứng trước ngày, còn tên thì đứng trước họ — hai cách thức ấy hoàn toàn trái với thói quen lâu đời của người Việt. Những chuyện tưởng chẳng đáng gì, vậy mà giữa một đất nước xa lạ, cũng đủ làm cho người mới đến thấy mình như đứa trẻ đang học lại từ đầu, rồi tự nhắc mình: từ nay, ta bắt đầu làm quen với nếp sống mới.

 

     Sau một thời gian sống trên đất khách, vì công việc làm ăn và nhu cầu giao tiếp với người bản xứ, nhiều người Việt có thêm một cái tên Mỹ bên cạnh tên Việt, như Daniel Nguyễn, Laura Phạm… nhất là sau khi nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Có người vì tên Việt khó phát âm nên đành dùng tên Mỹ cho tiện. Những tên như Dung, Phúc, khi qua giọng Mỹ đôi lúc nghe thành một âm khác, khiến chính người mang tên cũng phải… ngượng ngùng. Như họ Nguyễn — nhiều người Mỹ đọc trại thành “Nu-en” — nghe vừa lạ vừa vui tai. Cũng có người cảm thấy cái tên tiếng Mỹ nghe có vẻ “sang chảnh”, nên bỏ hẳn tên tiếng Việt. Thế là, qua một thời gian sống nơi xứ người, có người mang trên mình hai tên, có người chỉ còn lại cái tên Mỹ - như thể trong hành trình hội nhập, người ta phải đổi thay cả cách mình được gọi.

 

       Chỉ là một cái tên thôi, nhưng cái tên cha mẹ đặt cho từ thuở lọt lòng đã mang theo tiếng nói quê hương và một phần ký ức gia đình. Bởi vậy, mỗi khi có người âm thầm đổi tên Việt sang tên Mỹ, không khỏi có chút ngậm ngùi…

 

     Tuy nhiên, cũng có những người nhất định không muốn thay tên, đổi họ như bà Mận - Đào Thị Mận. Bà muốn giữ cái tên cha mẹ đặt cho mình như giữ lại một phần ký ức tuổi thơ và giữ lấy cái hồn quê đã theo bà qua bao tháng năm sống trên đất khách. Khi nghe ai đó gọi: “bà Mận”, thì trong tâm trí bà hiện về một vùng đất miệt vườn ở Long An – quê nội và Mỹ Tho – quê ngoại. Nơi có những buồng chuối trĩu xuống bên hàng cau, có những cây xoài trĩu cành những trái vàng ươm, có những chùm mận đỏ hồng chen nhau trong lá, và có những vườn cây ăn trái xanh tươi - mùa nào trái nấy - ngọt lịm phù sa cùng nắng gió phương Nam. Cho nên, cái tên Mận, với bà, không chỉ là một cái tên mà còn là mùi đất sau cơn mưa, là vị trái cây đầu mùa, là tiếng mẹ gọi bên hiên nhà và là cả một miền quê yêu dấu - dù đã xa mờ… nhưng bà không muốn đánh mất.

 

     Ấy vậy mà sau ba mươi năm sống trên đất Mỹ, những người thân quen đã gán cho bà cái tên mới “Bà Năm Ước”, nhân dịp con cháu tổ chức lễ mừng sinh nhật 80 tuổi cho bà.

 

957 . NGUYỄN VY KHANH - TRƯƠNG VŨ và Văn Học Hải Ngoại

                                                                                 

Với 50 năm văn học hải ngoại, Trương Vũ (tên thật Trương Hồng Sơn) là một tên tuổi thành phần nhưng không hẳn thường trực một cách liên tục. Sách được tác giả tặng khi chúng tôi đang biên soạn về Văn học Hải ngoại, Trương Vũ phân tích văn chương, trong khi chúng tôi ghi nhận lịch sử định hình và sinh hoạt. Chúng tôi từng theo dõi sinh hoạt văn học hải ngoại, biết Trương Vũ qua các tạp chí Hợp Lưu, Văn Học có thời ông làm cố vấn hoặc chủ biên, Đối Thoại (chủ bút, 1993-1994) và để ý tới ông khi theo dõi tạp-chí The Vietnam Review (1996–1997) - ông là đồng chủ biên với Huỳnh Sanh Thông và Hoàng Ngọc Hiến cũng như đồng chủ biên với Wayne Karlin, Lê Minh Khuê thực hiện tuyển tập truyện ngắn The Other Side of Heaven: Post-War Fiction by Vietnamese and American Writers (Curbstone Press, 1995) gộp thơ văn về chiến tranh của 3 phía Hoa-Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản Hà-Nội. Chúng tôi cũng như ông từng tham gia diễn đàn Talawas và cộng tác với Hợp Lưu, Văn Học, Văn, Trăm Con, v.v.

Đuổi Bóng Hoàng Hôn (Nhân Ảnh, 2019) gồm những tiểu luận đánh dấu những giai đoạn sinh hoạt báo chí và đóng góp cho văn học hải ngoại bên cạnh những tùy bút về quê nhà, các Thầy Cô, học trò cũ và bạn hữu. Như tựa sách chung, gần như trong tất cả 20 bài viết Trương Vũ đều ít nhiều hoài vọng và tham chiếu cố hương và thời xưa, trước. Ông muốn đuổi được bóng hoàng hôn nhưng thú nhận là khó: “Rất nhiều kỷ niệm đã giúp tôi trưởng thành. Không phải trưởng thành trong cái nghĩa chồng chất thêm tuổi tác, mà trong cái nghĩa hài hòa với cuộc đời” (tr. 14); “Mỗi người trong chúng ta đều có một Sorrento, để về lại trong hồi tưởng. Dù có lẫn lộn với bao cảm xúc trái nghịch nhau, khi về lại, ít nhiều chúng ta cũng tìm được ở đó một gốc để nghỉ ngơi” (tr. 204) đồng thời ông cũng tình thực “sống ở Mỹ hơn nửa đời người. Rất khó để nói rằng nước Mỹ không là một quê hương mới” (tr. 19).

Trên cái nền “bóng hoàng hôn” là những chân dung và sinh hoạt văn học, từ nhóm Sáng Tạo của miền Nam đến các phong trào đối kháng ở miền Bắc và phản kháng theo “Đổi mới” sau 1987, từ tiền bối Cung Giũ Nguyên đến Mai Thảo, Võ Phiến và các nhà văn ở hải ngoại như Võ Đình, Cao Xuân Huy, Phạm Cao Hoàng, Phùng Nguyễn, Đinh Cường, Nguyễn Minh Nữu, v.v… Trong bài này, chúng tôi ghi nhận những phân tích, lý giải liên quan đến văn học hải ngoại.

- Chiến Tranh Việt Nam, Văn Học Việt Nam Hải ngoại và Phía Bên Kia Thiên Đường

Bài viết về ba đề tài, tựu trung là văn học trong liên hệ trong-ngoài, người và ta, bảo thủ và khai phóng.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

956 . HOÀNG KIM OANH - Về thành cổ Vijaya

 

  v ề  t h à n h   cổ  V i j a y a*

 vương triều. 

điện ngọc. 
cung son.
thầm thì hưng phế
.
đá vỡ gót chân cong nàng Apsara mơ màng ngủ yên trong đá

Cánh Tiên, Bánh Ít, Bình Lâm, Thủ Thiện, Dương Long… chứng nhân ngàn năm vũ điệu Champa dọc duyên hải miền Trung

quấn quýt tháp Đôi anh và em đời đời ước hẹn

Phú Lốc vòi vọi cô đơn trầm mặc đồng bằng
Chà Bàn bán nguyệt gạch cát nhấp nhô

bước cùng cỏ may luyến lưu chích châm da thịt
người về
đừng quên
gươm khua chiến thuyền biển động
giọt lệ thức thao huyền thoại
giang sơn
ai về Chiêm quốc
nhắn hộ Huyền Trân
phấn son 
tấc lòng
…


Vijaya! Vijaya!

vàng son và đổ nát

lịch sử chồng lịch sử**

oán-ân. công-tội. não nùng còn lại dấu cỏ khâu

người xưa đâu?

gió vẫn lộng trên đỉnh đồi chiều vắng
bóng Shiva trải trôi hồn tháp cổ
xinh đẹp
. bi hùng. ngạo nghễ.
trong lặng câm

bóng chiều huyền bí
cánh dơi đập vội
trên bàn thờ đơn sơ linga-yoni sừng sững

bầu vú thánh thiện nguyên sơ vút căng giấc mơ phồn thực
khát vọng no
đủ. sinh sôi 
và sáng tạo

trăng tròn. trăng khuyết.
mặt
trời lặn rồi mọc.
nơi mảnh
đất này
mãnh liệt và đớn đau
ngàn thiêng thức dậy
lửa tràn 
huỷ diệt 
tái sinh.

Tour d' Argent
Thổ
Sơn cổ tháp
22.3.25

hoangkimoanh

----

 

             *Vijaya (tiếng Phạn): Thành Đồ Bàn, còn gọi là thành cổ Chà Bàn, An Nhơn, Quy Nhơn

               ** Thành Vijaya/Đồ Bàn/ Chà Bàn mang ba tầng lịch sử: (1) là kinh đô Champa khoảng 1000–1471; (2) sau 1471, vùng đất Vijaya được sáp nhập vào Đại Việt; (3) triều Tây Sơn, Nguyễn Nhạc xây thành Hoàng Đế trên nền thành cũ vào thế kỷ XVIII.

 

955 . PHAN TẤN HẢI - Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa


 

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Trí nhớ của Cung Tích Biền có vẻ như tuyệt vời, theo cách ông nói chuyện không do dự; dù vậy, tôi vẫn ngờ vực có thể có một số chi tiết ông nhầm lẫn, bởi vì bản thân tôi nhỏ tuổi hơn mà cũng đã thấy trí nhớ lãng đãng bên triền mây trắng. Đôi khi ngồi uống cà phê, tôi hỏi ông về một số người cầm viết Miền Trung, trong đó có nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, một người tôi rất mực thân thiết trong những năm bạn này còn sinh tiền, ông kể về những chuyện tôi chưa từng đọc về đời của họ với giọng thương cảm, lân tài. Bây giờ thì nhà văn Cung Tích Biền cũng ra đi rồi.

Có thể tóm tắt vài câu về cuộc đời của nhà văn Cung Tích Biền hay không? Tôi muốn viết theo chủ quan của mình rằng, nhà văn họ Cung là người chủ hòa: bước vào đời từ thời niên thiếu trong vùng kháng chiến với nhiều năm hoạt động nơi sân chùa, bị xô đẩy theo đủ thứ sóng gió giũa một thời nội chiến, rồi sống như một nhà văn đời thường với các đam mê rất người, nhưng tận cùng luôn luôn là một ngòi bút đi tìm cái đẹp ngôn ngữ trong khi đưa ra những dòng chữ kêu gọi hòa bình và lời ước mơ có các quyền làm người. Cần ghi nhận: nơi đây chúng ta nói "chủ hòa" để tránh chữ "phản chiến" -- một cách nói tương đương, nhưng có lẽ đã bị ô nhiễm. Thực sự, chủ hòa chính là lý tưởng nhân bản nhất của nhân loại, cũng là của lời dạy của Đức Phật, rằng chúng ta không nên làm tổn thương bất kỳ ai, bất kỳ sinh vật nào.

Cung Tích Biền đã kể rằng ông trong thời thiếu niên đã đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời đó ông cũng đi đánh đàn, chơi nhạc. Thời gian này, ông cũng là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Trong một bài viết, khi kể về 2 tuần lễ tới khu Chợ Được để huấn luyện cho các đoàn sinh Phật Tử, ông gọi đây là những ngày hạnh phúc.

Tháng 7 năm 2024, ông viết bài "Vương Trùng Dương: Một Cây Bút Đa Diện" ghi rằng: “Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi”.

Đó là lời ông nói, rằng đó là những ngày vui, hạnh phúc... Chúng ta có thể hình dung rằng những năm hoạt động ở sân chùa thời niên thiếu đã hun đúc tâm hồn ông, đã dẫn tới khuynh hướng chủ hòa theo lời dạy của giới luật, rằng không ai có quyền gây tổn thương hay sát hại ai. Thêm nữa, chắc chắn rằng Cung Tích Biền phải dạy cho các đoàn sinh Phật tử kia về lời dạy Lục Hòa, tức là sáu pháp hòa thuận, từ ái và tôn trọng lẫn nhau. Người nào sống được như thế, sẽ thấy tâm mình y hệt như chữ viết trên nước, không có gì để phải sân si giận dỗi trong cõi này.

Ông kể lại với nhà văn Vương Trùng Dương rằng, sau năm 1954, khi đất nước chia đôi, "lúc đó anh 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm nên sau đó được thả ra."

Hiển nhiên rằng ông cân nhắc rất kỹ trước khi cầm bút sáng tác với bút hiệu Cung Tích Biền. Ban đầu, ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 1958 dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3 năm 1966 (tức là ba năm sau khi vào quân lực VNCH), bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với hai truyện ngắn Ngoại ô Dĩ An và Linh hồn tôi. Tại sao chọn bút hiệu Cung Tích Biền? Nhà thơ Luân Hoán kể rằng ông chọn bút danh này đơn giản vì đây là tên ghép từ tên của các anh chị ruột trong gia đình. Trong đó, chữ "Biền" là tên một người anh đi tập kết. Nghĩa là, ông viết trong khi ý thức rằng bút hiệu của mình đang có tên một người anh đã tập kết, và rồi mất tích.

Nhà văn Vương Trùng Dương kể rằng Cung Tích Biền có 2 người anh chết cho cuộc chiến phân đôi này. Người thứ nhất trong gia đình hy sinh là ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, tập kết ra Bắc, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai là ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, ông Tấn đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất.

Cung Tích Biền sinh ngày 8 tháng 2/1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từng theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Trước khi vào quân đội VNCH, từng đi dạy học tại các trường trung học ở quê nhà Quảng Nam vào năm 1960. Năm 1963, bị động viên nhập ngũ và theo học khóa Sĩ quan (trường Bộ binh Thủ Đức. Từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp, quân nhu và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Năm 1973, Cung Tích Biền giải ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).

Sau năm 1975, ông ngừng viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt đầu cầm bút trở lại, có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông Hương, Văn Nghệ) lẫn các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da Màu). Nhà văn Cung Tích Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 theo diện vợ con bảo lãnh. Tại Hoa Kỳ, Cung Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm. Tính chung là hơn 150 truyện ngắn và trên 30 tiểu thuyết, một số đã in thành sách, đã được dịch sang Pháp và Anh ngữ, và hàng trăm bài khác ở nhiều thể loại...

Khi nhìn lại, Cung Tích Biền nói lên tâm sự rất buồn, qua bài viết về một nhạc sĩ cũng có thời trẻ ở vùng kháng chiến. Bài viết nhan đề "Phạm Duy, Người Đi Cùng Mệnh Nước Ngược Xuôi -- Ra Đi Từ Lúc Trăng Tơ" đăng trên Việt Báo ngày 03/02/2023, với những dòng chữ tự sự rất buồn của họ Cung, trích:

"Chúng tôi chào đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ. Cái buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng thể ra ngoái nỗi nhớ…. Là nhà văn, khi cầm bút, quá khứ luôn đứng đầu chỗ ngọn bút. Mỗi giọt mực là một giọt/dòng dĩ vãng. Tất cả cái “bản đồ số phận” trong Cõi nhớ ấy, trong một thời/không gian có hạn định, đã từ lâu trôi qua. Có khi trôi tút mù trong bộ nhớ của nhơn loại. Nó như xác một con dán chết khô trong kẹt tủ, dưới gầm bàn bỏ quên. Mà chúng tôi vẫn nhớ. Nhớ tận mạng, li ti, day dứt. Không có thước tấc nào đo đạc đủ bề sâu chiều rộng cái Nhớ ấy. Nhìn chung, chúng tôi, chừng là một tộc người đang đánh mất hiện tại, mù đôi mắt nhìn ra tương lai. Chỉ dặm dài, hun hút một đôi-mắt-luôn-sau-ót, phản chiếu những phó bản của Ngày qua." (ngưng trích)

Cuộc đời ông là như thế, một thời ở sân chùa, một thời thiếu niên trong vùng kháng chiến chống Pháp, rồi tới cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc: chào đời vào buổi không mấy vui, phải sống với một đôi-mắt-luôn-sau-ót... và không thoát khỏi nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ nào? Chúng ta có thể suy đoán rằng ông luôn nhớ mãi thời cầm đàn đi tới các sân chùa để hướng dẫn các đơn vị Gia Đình Phật Tử, mà ông gọi là những ngày vui, những giờ hạnh phúc. Thực tế, chiến tranh cũng là thời mà bất kỳ ai cũng là nạn nhân.

Tư tưởng chống chiến tranh của Cung Tích Biền được hiển lộ trong truyện “Thừa Dư” một cách điển hình. Truyện “Thừa Dư” viết tại Sài Gòn năm 1992, tức là thời kỳ hậu 1975. Truyện kể về hai anh em sinh đôi Dư và Thừa, sinh ra trong một gia đình đông con. Ngay từ khi chào đời, hai người đã giống nhau đến mức gần như không thể phân biệt. Trong bối cảnh chiến tranh, hai anh em chia lìa: Thừa cưới vợ, vào lính VNCH, rồi giải ngũ và trở về khai hoang ở vùng núi Bình Thuận; Dư thì phiêu bạt theo một con đường khác. Thừa bị tai nạn trên đường từ rừng về và phải cưa mất chân trái. Nhiều năm sau, người kể chuyện là Ngọc nhận được thư của Thừa, mời về quê để cùng bà con trùng tu nhà thờ họ. Dịp này, Dư cũng sẽ về làng, nhưng cũng bị cưa chân, không được truyện nói rõ lý do, nhưng Cung Tích Biền ghi là do lý tưởng, trích: "Trong hương xưa ngất ngây, không ai than phiền mình đã bị gãy cẳng, hoặc vui vẻ được gãy cẳng vì lý-tưởng-có-sẵn-mì-ăn-liền." (Ghi nhận: lý tưởng này không được giải thích rõ trong truyện.)

Cả hai anh em đều đã mất một chân: Thừa mất chân trái, còn Dư mất chân phải. Trong đêm văn nghệ mừng khánh thành nhà thờ họ. Dư và Thừa cùng lên sân khấu trong tiết mục “Anh em một nhà, chúng ta cùng tiến bước”. Vì mỗi người chỉ còn một chân, họ dìu nhau, ghép hai thân thể thành một hình tượng có đủ hai chân nhưng hai thân người, hai cái đầu. Dư chơi guitare, Thừa thổi khẩu cầm. Cuối truyện, Ngọc, Dư và Thừa ngủ chung một giường. Trong đêm, Thừa đắp mền cho Dư và Ngọc; khi chân họ chạm vào nhau, Ngọc chợt nhận ra rằng ba người họ, sau tất cả những biến động của lịch sử, chỉ còn sống trên bốn cái chân.

Đoạn kết Cung Tích Biền viết, trích: "Gần sáng, trời trở lạnh. Thừa quơ mền đắp cho Dư và đắp quàng qua cho tôi. Chân chạm vào nhau mới sực tỉnh: Hóa ra trong bao năm dài chúng tôi ba người chỉ có, và chỉ sống trên bốn cái chân. Lịch sử từ lâu nhường bước cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua..."

 Một điển hình cho nền văn học chủ hòa khác: truyện ngắn Bạch Hóa, do Cung Tích Biền viết sau trận Mậu Thân, 1968. “Bạch Hóa” lấy bối cảnh một vùng quê Việt Nam bị chiến tranh tàn phá. Nhân vật trung tâm là chú Sáu, một người nông dân ít học, cả đời gắn bó với ruộng đồng và đàn bò. Đối với chú, con bò không đơn thuần là gia súc mà là một phần của đời sống, lao động và thế giới tinh thần của mình. Chú từng có một con bò đực rất khỏe, nhưng nó chết vì đạn pháo. Từ đó, chú đặc biệt quý trọng hai con bò còn lại, nhất là con bò con.

Chiến tranh đã biến làng quê thành nơi đầy chết chóc và sợ hãi. Sáu Vu, một người từ lâu rời làng trở về, đã tổ chức một cuộc xử án và chặt đầu chính cha của y là Hương Đằng, nhân danh cách mạng. Sau đó, chiến tranh tiếp tục làm làng xóm tan hoang, người dân bỏ đi, ruộng vườn bị phá hủy, bom đạn trở thành một phần của đời sống hàng ngày.

Trong căn hầm tránh pháo, chú Sáu sống cùng cô con gái Miệng và con chó đen. Miệng còn trẻ, nhưng chiến tranh đã khiến cuộc sống của cô bị bóp nghẹt. Chú Sáu thương con gái, thương người vợ đã chết và cảm thấy con người đang bị đẩy trở lại tình trạng sống như súc vật. Một đêm, pháo kích dữ dội. Một mảnh đạn xuyên vào sau đầu Miệng và cô chết ngay trong căn hầm. Con chó cũng chết. Buổi sáng, con bò cái bị bom giết chết. Chú Sáu mất dần tất cả những gì thân thuộc: vợ, con, bò, chó và quê nhà. Ngọc, người thương Miệng, âm thầm đào huyệt chôn cô và con chó.

Bốn tháng sau, chú Sáu phải rời quê đến một khu định cư. Chú chỉ còn con bò con. Ở thành phố, chú không thích nghi được với đời sống mới. Người ta cấp cho chú nhà cửa, thực phẩm và quần áo, nhưng những thứ ấy không thể thay thế quê hương, ruộng đồng, cánh đồng và đời sống cũ. Chú vẫn chỉ nghĩ đến việc kiếm cỏ và chăm sóc con bò. Cuối cùng, một trận pháo kích giết chết luôn con bò con. Nó bị phá tan thành thịt, máu và thuốc súng. Đối với chú Sáu, đó là giọt nước cuối cùng. Chú quyết định trở về quê, mặc dù mọi người cảnh báo đó là “vùng oanh kích tự do”, nơi người ta có thể tùy ý bắn phá.

Trên đường về, chú Sáu gặp Ô Mã Nhi và những người du kích. Họ buộc tội chú là gián điệp và đọc một “bản cáo trạng” giả tạo để kết án tử hình. Thực chất, tờ giấy ấy chỉ là một mảnh giấy thu lúa, nhưng Ô Mã Nhi dùng nó làm cớ để giết chú. Chú Sáu chết mà không kịp biết rằng chính người con trai của mình, Đích, cũng bị họ tuyên án tử hình.

Phần cuối truyện chuyển sang Đích, con trai chú Sáu, lúc này là một người lính Quốc gia. Đích cùng đơn vị trở về vùng quê của mình. Anh nhớ lại tuổi thơ, những cánh đồng, gia đình và những con bò ngày trước. Nhưng nơi quê nhà giờ đây chỉ còn cây cháy, nhà đổ, hố bom và những dấu vết chết chóc.

Đích gặp một đứa trẻ sống sót. Đứa trẻ nói cha mẹ mình đã chết dưới hầm và nó không còn gì để sống. Thế rồi một người lính khám phá ra một xác một cụ già chết đã sình thối dưới mương. Người lính nói xác ấy mặc áo viện trợ Chicago. Đích không biết đó là xác cha mình. Khi đoàn lính hành quân và rồi quay về lại, anh chợt hỏi: “Ơ, hồi nãy có đứa nào chịu khó chôn lão già không bây.” Truyện kết thúc ở đó, để lại một cảm giác đau đớn về một người con đã trở về quê nhưng không còn quê nhà, và có thể đã đi ngang qua xác chính cha mình.

Để kết bài này, chúng ta có thể nhận ra rằng ước mơ của nhà văn Cung Tích Biền cũng chính là những gì đã được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đó là quyền biểu tình để đòi quyền sống, đó là quyền tự do ngôn luận, và các quyền căn bản khác. Trong bài đưa tiễn Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền viết bài "Ông Dương, Ông Đã Đi Rồi" vào tháng 9/2019, trích:

"Sáng hôm nay, ngày chủ nhật. Mỗi buổi sáng cuối tuần tôi thường đi vơ vẩn khu trung tâm thành phố, quanh nhà thờ Đức Bà. Xem có gì “lạ” không. Xa xa, trên đường phố, có thể có một đám đông. Một đám đông dân chúng đi biểu tình đòi quyền sống, quyền ngôn luận, quyền làm chủ một đất nước có danh dự. Một phản xạ có điều kiện, cứ sáng sáng chủ nhật là tôi ra khỏi nhà. Như ngày ngày của một gã ăn xin, mong được bố thí, nửa ổ bánh mì, một mẩu vụn lời hứa cho Tự do..."

Thế đó, cái mà chúng ta nơi đây gọi là nền văn học chủ hòa trong truyện Cung Tích Biền vẫn có mục tiêu cụ thể, đó là ước mơ có quyền làm người. Những ngày Chủ Nhật của Cung Tích Biền khi còn ở quê nhà là những bước đi chờ đợi, hy vọng cho một ngày người dân Việt Nam được sống tử tế như con người, được tôn trọng các quyền làm người, để được nói và viết tự do.

Khi Cung Tích Biền từ trần, sách của ông vẫn chưa được phép in lại tại Việt Nam; nhưng chúng ta vẫn có thể tin rằng sẽ tới một ngày các quyền làm người, các quyền căn bản ghi trong Hiến chương LHQ sẽ được tôn trọng và thực hiện tại quê nhà. Bởi vì, sâu thẳm của ý nghĩa “chủ hòa” trong truyện của Cung Tích Biền là xuất phát từ lời dạy Lục Hòa trong các sân chùa khi các đơn vị Gia Đình Phật Tử sinh hoạt, nơi đó hoàn toàn vắng bóng bạo lực, nơi đó là hòa nhã, từ ái, và tôn trọng lẫn nhau. Thực sự, chủ hòa là ước mơ lớn của lịch sử nhân loại, bất kể ở quốc độ nào và với bất kỳ dân tộc nào. Và nền văn học chủ hòa chắc chắn sẽ đưa tới một ngày cứu được dân tộc Việt Nam, khi mọi người nhìn nhau như anh em một nhà  và xa lìa hẳn một quá khứ bạo lực.

Xin từ biệt nhà văn Cung Tích Biền. Anh đã có một chỗ đứng độc đáo trong văn học Việt Nam. Những gì anh viết sẽ được nhiều thế hệ về sau suy ngẫm, nghiên cứu và để rút ra bài học về lời kêu gọi chủ hòa.

(Một số trích đoạn trong bài này đã được tác giả đọc trong tang lễ nhà văn Cung Tích Biền hôm Thứ Hai 28/9/2026 tại Quận Cam, California.)

 

PHOTO:

Nhà văn Cung Tích Biền