

Ngày
18 tháng 10 năm 2022. Tạp chí Ngôn Ngữ số 22, số viết về tác giả Khánh Trường,
một nhà văn, họa sĩ, nhà báo, người biên tập văn học đã phát hành. Chắc là khi
dự trù công việc này, Ban Biên Tập Ngôn Ngữ đã kín đáo không báo cho Khánh Trường
biết, nên khi nhận được tạp chí, Khánh
Trường đã ghi trên facebook lời cám ơn
ngạc nhiện :
-Trời
đất! Bạn zàng Luân Hoán và bằng hữu gần xa định "tế sống" tôi hay sao
mà mần một số NN đặc biệt về tôi?
Nói
đùa để che dấu cảm động đang dâng trào trong lòng. Phải, tôi cảm động lắm,
không ngờ một tên bán trời không mời thiên lôi là tôi lại được các bạn rộng
lòng ưu ái.
Cảm
ơn, bằng hữu gần xa, nhiều bằng hữu thân gần tôi đã gặp, có người chỉ quen trên
fb chưa từng diện kiến, có người "văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình", cảm
ơn, cảm ơn.
Trong
lời cám ơn chung này, Khánh Trường nói tới những người viết về Ông mà chưa từng
diện kiến, chỉ làm bạn trên facebook, “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” thì
đây, tôi là một người như thế , và bài
viết này là một bài như thế. Xin gửi lên
đây để cám ơn anh Luân Hoán và BBT Ngôn Ngữ đăng bài, và gửi tới anh Khánh Trường
một người tôi quý trọng mà chưa một lần trò chuyện. Thân quý.
(Cô hàng cà phê Tân Định kể)
Ai
có cho rằng tôi mê tín dị đoan nhảm nhí mặc kệ, tôi vẫn tin rằng có duyên
"tiền định" mới nên vợ chồng.
Chồng tôi người Việt nhưng quốc tịch Mỹ,
lấy tên là Charles Lee, thường gọi là (Đít) Dick. Dick tốt nghiệp đại học Mỹ.
Trong khi chờ ngày đi làm, bố chồng tôi có ý định đưa con trai về Việt Nam kiếm
vợ. Anh ta học giỏi, đẹp trai, mặt mũi sáng láng nhưng khờ đặc trong việc giao
tiếp với bạn bè. Ngay thời còn ở high-school, nhiều cô bạn cùng trường đến làm quen, anh ta cứ thụt lùi mãi, khiến
các cô phát nản.
Trước năm 1975, bố anh ta là hạ sĩ quan
an ninh phi trường Tân Sơn Nhất, ông có người bạn đồng ngũ rất thân. Sau 1975, bố anh ta về quê, xoay xở đưa cả gia đình vượt biên, còn người bạn thì về
nhà, kế nghiệp cha mẹ, làm chủø một tiệm hủ tiếu ở đường Hai Bà Trưng, trước chợ
Tân Định. Người bạn nầy gốc Tàu, tính cần kiệm và kín đáo nên không bị đánh tư
sản (bị tịch thu gia sản, đuổi đi kinh tế mới).
Ở Mỹ, bố anh chàng Dick thường thư từ
cho người bạn bán hủ tiếu ở Tân Định. Khi biết ông ta có ý định về Việt Nam kiếm
vợ cho con thì người bạn đồng ngũ nầy ngỏ ý muốn giới thiệu con gái của mình với
anh Dick. Hai ông bạn trao đổi hình ảnh con của mình cho hai đứa nhỏ nghiên cứu,
tìm hiểu nhau. Thấy hình cô gái cũng đẹp, chưng diện coi bộ còn thời trang hơn
cả các cô gái Việt ở Mỹ nên Dick thích lắm, nhưng đỏ mặt, không có ý kiến. Thế
là ông gọi cho người bạn, hẹn năm nay về ăn Tết, sẽ cho tiến hành lễ hỏi và lễ
cưới cho hai đứa.
Hôm gia đình anh ta xuống phi trường
Tân Sơn Nhất, cả nhà cô gái long trọng đón về. Vừa là bạn chí cốt, lại sắp
thành thông gia nên hai gia đình rất vui vẻ, thân mật. Cô gái đẹp hơn cả trong
hình, nên chàng Dick thích mê, nhưng mắc cỡ. Hễ đối diện với cô ta thì mặt đỏ lên, miệng ấp úng, nói không nên lời. Hơn nữa,
vì không rành tiếng Việt nên anh ta cứ ngập ngọng, nhưng nhờ cô gái đang học đại
học, ban Anh văn nên cả hai không đến nỗi khó khăn khi chuyện trò. Cô ta rủ anh
chàng đi chơi Sài Gòn, đi mua sắm, đôi khi còn chở Dick sau xe gắn máy, vi vút
ra ngoại ô hóng gió, ăn uống ở các nhà hàng đồng quê. Được ngồi sau, ôm eo người
đẹp, anh ta thích quá, nhất là khi được người đẹp ngồi bên cạnh tựa ngực vào
người, giọng thủ thỉ, nũng nịu khiến anh chàng chết mê, chết mệt. Thế nên,
trong một buổi cơm tối, cô cậu được hỏi ý kiến, có bằng lòng nhau không? Chàng
ta trả lời "Dạ chịu!" Còn cô gái chỉ liếc anh ta và tủm tỉm cười. Thế
là đám hỏi diễn ra ngay hôm sau.
Thời đại hỏa tiễn, gì cũng tốc hành cho
nhanh gọn. Buổi sáng, nhà trai đi sắm nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, trang phục cô
dâu, chú rể và các vật dụng cần thiết, ý là đám hỏi xong thì tiến hành đám cưới
ngay. Buổi chiều hai họ kéo nhau ra nhà hàng nhậu nhẹt tưng bừng. Trong buổi tiệc
gọi là tiệc đám hỏi đó, hai ông bạn nghéo tay nhau hẹn tuần sau nhà trai (từ dưới
tỉnh) sẽ lên đón cô dâu về quê làm đám cưới cho xôm tụ. Nhà gái, dĩ nhiên phải
o bế cho cô dâu thêm phần xinh đẹp để bà con dưới tỉnh rõ mặt gái Sài Gòn.
Dick về dưới quê nhưng đã bị cô gái hớp
hồn rồi nên người cứ sững chừng, suốt ngày lơ ngơ, không nghe, không thấy gì
chung quanh, rồi than buồn. Cha mẹ anh ta biết ngay là thằng con đã bị cô gái bắt
mất vía nên gợi ý cho anh ta lên Sài Gòn, ở lại nhà cô vợ tương lai trước khi
làm đám cưới. Biết con mình chánh hiệu con nai vàng ngơ ngác, nên ông bà dặn dò
rất kỹ, nào là không được qua đường một mình (sợ xe tung), đi đâu phải có cô vợ
tương lai bên cạnh để khỏi bị bọn bất lương lường gạt, cướp giật. Ở chơi đúng
hai ngày sau thì về để chuẩn bị làm đám cưới.
Chiều hôm đó, Dick đón xe đò lên Sài
Gòn. Về đến bến xe Miền Tây thì đã khuya, Dick là người lịch sự theo kiểu Âu Mỹ,
không muốn làm phiền người khác nên anh chàng đến khách sạn qua đêm.
HƯ ẢO THU
Dường như tôi nghe
Anh đang chờ mùa thu
Nhẹ như cơn gió thoảng
Anh đang chờ mùa thu
Âm man mác buồn
Vẽ ra trong nắng bỏng
ánh mắt im. xa vắng.
Chờ một người quen lâu lắm chưa về
Dường như đã lặng gió rồi, mùa cũ
Hôm nay ai đó quăng viên cuội xuống mặt hồ
Âm âm
Anh đang chờ mùa thu
Xuyến xao vòng nước
Hư huyễn lời thầm thì
Ảo ảnh một người. Có thể đã ngồi đấy. Và
nói
Anh đang chờ mùa thu…
Có ai vừa gọi tôi
Mùa thu tràn dưới phố
Dường như tôi vừa ngoảnh lại
Mùa cúc quỳ hư ảo
Mầu vàng ngập hết chiêm bao
Ntkm
Mời nghe nhạc: Tâm chau Michelle thực hiện
với Suno
https://www.youtube.com/watch?v=kvPGBCrKc8E&list=RDkvPGBCrKc8E&start_radio=1
ÂM VANG THU
*Về tiếng hát Thu Vàng, một âm vang
thu trong tôi
Sao không ở cùng tôi thêm chút nữa, cơn
mưa... để rót đầy tình tự mùa thu trên bờ úa nắng, để riêng che một cõi xưa đằm
thắm theo về.
Hương ngai ngái của đất vừa chớm ướt, hat
mưa chỉ còn là nỗi run rẩy trên bàn tay bé
nhỏ lá ơi, hãy chắt chiu đến tận cùng có thể, cho tôi nhìn sâu thẳm âm
thanh là những hạt long lanh đến thế.
Chiều thu êm dòng sông xanh, tôi lắng
mình hạt nước nhỏ vợi lòng theo tiếng hát ngọt lành, nghe niềm đau
tìm về an ủi trong sóng yêu thương, hương cánh lá bất chợt vàng trên sông chiều
xao động…
Gió phương tây thổi về rung rung vàng óng,
cỏ xanh tơ mật nồng nàn không gian dịu như lòng đang xúc cảm. Nhẹ mùa thu dặt
dìu tiếng hát cho tôi gửi vào bao la trái tim nhỏ bé vừa hôm nay gặp lại lòng
mình.
Yêu đến vô bờ những vì sao mờ tỏ thắp
trời khuya, ai thấy được trong lung linh bờ cỏ một vì sao vừa rụng
xuống đêm nay, riêng trong tôi cũng lâu rồi ấp ủ một ánh nhìn như nước mắt sao
đêm…
Mở cánh gió bừng bừng hạnh phúc bước rộn
ràng trên mái nhà đang yên giấc, chiếc lá khô giòn reo bập bùng trên tàng cây
khuya khoắt, gió gió thế mà vi vu khó tả, ru ngon nhịp võng ngày thơ tôi thiếp
ngủ nồng nàn tiếng hát thu ơi…
Thánh thót vàng thu lãng đãng thời gian,
chỉ một nhịp khẽ rơi vào tim mà bồi hồi không dứt, mong manh ơi sẽ là bất tận
trong thương yêu ký ức chở che, cho tôi run run mỗi lúc tìm về âm vang tiếng
hát thu reo mừng hoài niệm…
ntkm
GEORGE ORWELL, tên thật là Eric Arthur Blair, sinh ngày 25/6/1903 tại Motihari, Bengal ( tên hiện nay là Bihar ) khi Ấn độ còn là thuộc địa của đế chế Anh. Cha ông khi đó là nhân viên của Ty Nha phiến, thuộc Sở Dân sự. Ông là con thứ hai trong gia đình. Mẹ ông xuất thân trong một nhà lái buôn chè. Mới lên 1 tuổi, ông được đưa về chính quốc, được gửi vào một trường nhỏ thuộc giáo phái Anh, nơi đây chị gái ông từng theo học.
Hai năm sau ông được tiến cử với hiệu trưởng của một trong những trường dự bị thành công nhất của Anh vào thời đó ( Trường St. Cyprian’s School, Eastbourne, Sussex ). Tại đây, ông được cấp một nửa học bổng. Kết quả học tập khá tốt, ông tốt nghiệp được ở trường chất lượng cao vốn chỉ dành cho con nhà khá giả. Năm 1922, không đủ tiền vào đại học, Blair gia nhập Indian Imperial Police, phục vụ tại Miến Điện. Những điều tai nghe mắt thấy ở vùng thuộc địa Nam Á này đã khiến ông chán ghét chủ nghĩa đế quốc. Quay trở lại Anh, ông từ bỏ cuộc đời công chức để dồn sức phấn đấu trở thành nhà văn. Từ năm 1923, ông bắt đầu công bố những “ sáng tác người lớn “ của mình. Ông bắt đầu lăn lộn với các tầng lớp dưới, tìm hiểu những cảnh đời ngang trái và lầm than ở cả Anh lẫn Pháp. Từ năm 1935, ông bắt đầu sử dụng bút danh George Orwell vì không muốn cha mẹ biết về những trải nghiệm bần cùng của mình. Về giai đoạn sống và chiến đấu ở Tây Ban Nha, ông đã viết tiểu thuyết tư liệu Kỷ niệm Catalonia ( 1926 ), và Ký ức chiến tranh ở Tây Ban Nha ( 1943 ).
Khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ,
Orwell mặc dù tuyên bố rằng chính thể ở Anh còn tồi tệ hơn ở nước Đức phát xít
nhưng vẫn xung phong ra mặt trận, tuy nhiên ông bị từ chối vì vết thương trong
chiến tranh Tây Ban Nha. Ông về hậu phương, làm phóng viên trên Đài Phát thanh
BBC, dẫn các chương trình chống phát xít. Trong thời gian này, ông viết tiểu
thuyết Trại Súc Vật ( Animal Farm ) , ám chỉ rõ nét Liên Xô, khi hoàn thành bị
từ chối in cả ở Anh lẫn Mỹ. Phải chờ đến năm 1945, Trại Súc Vật mới được công bố
và trở thành vũ khí của những lực lượng chống cộng ở phương Tây.
Ông mất
năm 1950 vì bệnh lao. Orwell được đánh giá là một nhà văn mang nhiều mâu thuẫn
trong mình, một người theo chủ nghĩa cá nhân và tuyệt đối chính trị.
Orwell chỉ
sống tới tuổi 46 nhưng đã để lại nhiều xét đoán khác biệt. Tác phẩm của ông
không phải ở đâu cũng được đón nhận thuận chiều.
Đoản văn giới thiệu dưới đây có tên là
Bookshop Memories, Hồi ức về một tiệm sách, đúng hơn là những hồi ức của một
người bán sách cũ. Tác giả viết truyện này năm 1936, kể về thời gian ông làm việc
như một nhân viên bán sách bán thời gian tại
tiệm bán sách cũ Booklover’ s
Corner toạ lạc ngay góc phố Pond Street và South End Green, thành phố London,
nước Anh. Hiện nay tiệm này không còn nữa mà biến thành nhà hàng pizza, tuy
nhiên ở đó còn gắn tấm biển ghi rằng: Gworge Orwell, nhà văn, từng sống và làm
việc trong một tiệm sách ngay vị trí này.
Những người
mê sách cũ hẳn sẽ tìm thấy nhiều đồng cảm khi đọc những chi tiết về mua, bán
sách cũ. Và những ai đã có dịp đến thủ đô Paris của nước Pháp chắc sẽ không
quên những tiệm sách cũ dọc bờ sông Seine. Từ năm 1859, Hội đồng thành phố Paris
quyết định dành một dãy đất bên bờ sông Seine giúp những người bán sách cũ được “ định cư “ cố định để bán sách cũ từ lúc mặt
trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn.
Năm 1932, bờ kè sông Seine với những người bán sách cũ được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới và cũng từ đó, sông Seine được đặt biệt danh là “ dòng sông duy nhất trên thế giới trôi giữa những kệ sách “.
Ernest Hemingway, nhà văn lừng danh của Mỹ, và nhiều tác giả khác, đã từng lang thang tại khu vực cầu cảng này, lật từng trang sách cũ và thậm chí tìm những tác phẩm của chính mình được trưng bày trong các kệ sách đặt sát nhau. Ước tính có trên 300000 cuốn sách được bày bán dọc theo con đường bán sách cũ bên bờ sông Seine. Nơi tập trung đông nhất là lối dẫn vào Khu phố La tinh ( Quartier Latin ), nơi có Trường Đại học Sorbonne nổi tiếng.
Đừng tưởng chỉ có Anh, Pháp mới có tiệm bán
sách cũ. Ngay tại Saigon cũng không thiếu. Bạn thử tìm tới Nhà sách Khải Vinh,
43 Trần Nhân Tôn, Quận 5. Nơi đây có bán sách báo cũ và mới. Một vài địa chỉ
khác để bạn tham khảo:
Trung Tâm
Sách Cũ, 50, Võ Thị Sáu, Tân Định, Quận 1.
Một địa chỉ khác, rộng rãi hơn là Đường Sách Thành phố, dọc theo đường Nguyễn Văn Bình, Bến Nghé, Quận 1.
Khói Vẫn Còn Vương
“Không, ông à, anh em mình già rồi, ngẫm lại
mọi chuyện cũng phải chừng mực, khách quan chứ !”
Tôi ngạc nhiên, một gã bất cần đời thấm
nhuần triết lý Tây phương, coi nhẹ mọi
chuyện như Sử mà có lúc cũng
đắn đo vậy sao? Sử xuất
thân con nhà nền nếp, khoa bảng, bản thân học khoa Ngoại ngữ, tiếng
Pháp, cùng đại học với
tôi. Hắn đàn hay, hát giỏi, khá đẹp
trai, lại để bộ ria mép, thường được gọi
là Sử Sĩ Phú vì hắn hát bài “Cô láng giềng”
rất hay, nhái đúng giọng và phong cách Sĩ Phú khi trình diễn. Khi ra trường, Sử cùng đi với tôi ra Phú Khánh, nhưng hắn phải về Tuy Hòa, còn tôi ở Nha Trang. Cũng may
ngôi trường hắn được bổ nhiệm khá lớn nhưng ngặt nỗi không có học sinh tiếng Pháp nên người ta dự
kiến chuyển hắn xuống
cấp 2 dạy tiếng Anh. May sao ông Hiệu trưởng thấy hắn cũng dễ mến nên giữ hắn
lại dạy tiếng Anh, mà trình độ sinh viên sư phạm ngày ấy, nhất là dân
trường Tây như hắn thì đủ
sức dạy cả hai thứ tiếng.
Bẵng đi rất lâu mất liên lạc, nhất là khi tôi chuyển về Sài Gòn trước hắn mấy năm. Gần đây
nhờ facebook bạn bè mới gặp lại nhau.
Sử rót đầy ly, uống một hơi, và kể …
…Những
ngày đầu về Tuy Hòa, Sử cảm thấy ngột ngạt vì không quen nếp sinh hoạt của một ngôi trường cấp 3. Toàn là đi họp và lên lớp, suốt ngày, hết làm chủ nhiệm rồi họp Chi đoàn, Công đoàn, Tổ Bộ môn,
quay cuồng soạn giáo án
đã mệt lử rồi.
Huống chi dân Pháp Văn nhảy sang Anh văn cũng phải mất thời
gian tập phát âm cho
“dẻo” miệng vì quen accent tiếng Pháp bấy lâu. Lại không được mở đài nước ngoài nghe vì sợ mang tiếng nghe “đài địch”. Cũng may học sinh khá hiền, và chúng nó cũng không biết tiếng Anh thật sự đọc thế nào vì
có tiếp xúc với người
nước ngoài bao giờ đâu. Ông thầy luôn là thần tượng về mặt tri thức. Những thầy cô lâu năm thì ‘năm thì mười họa’ mới dự giờ vì ai cũng bận bịu. Rủi nghe thầy phát âm hơi cứng thì cũng thông cảm. Thầy vốn xuất thân dân
Pháp văn, dạy được thế là tốt rồi.
Sử lại không bon
chen, không hề có ý niệm
“phải tiên tiến”
hay “đạt điểm thi đua”.
Lớp Sử chủ nhiệm luôn
đứng hạng chót
toàn khối. Thao giảng thì Sử cũng không cần đánh giá tốt, cho trung bình cũng được! Sử an nhiên sống theo “hạnh an nhi” ấy, như một
đứa trẻ, bỏ ngoài tai mọi
lời dèm pha, phê bình. Nhưng bù lại chàng đàn rất hay, hát rất ngọt, nên các cô giáo
rất thích. Hội diễn văn
nghệ nào cũng kéo chàng tham dự, thay mặt cho tổ, cho trường… Những đêm hội trại, chàng ôm đàn hát đến khuya, cô nào cũng thích mon men
đến nghe, dù không tránh khỏi phê bình “hay hát nhạc
vàng. Cần củng cố quan điểm văn
nghệ quần chúng”.
Mặc. Sử sống phớt đời. Người phê bình chàng nặng nhất là cô Thu, phụ trách Đoàn Thanh niên, nói chàng không làm gương cho học sinh, hay đàn đúm, thiếu tác phong sư phạm, la cà quán xá, lề mề… Có lần chàng hỏi gặng Thu: “Sao, cô muốn tôi thành người máy hả? Tôi phải
sống như một con người”. Thu quắc mắt nhìn chàng “Tôi sẽ đưa anh ra kiểm điểm trong Đoàn và Chi bộ sẽ có ý kiến với anh vì tác phong “tiểu tư sản” miền Nam chưa gột rửa được!”. Nói vậy thôi chứ trường đang cần giáo viên có khả năng văn
nghệ mà Sử thì lại
rất tài hoa. Ngoài âm
nhạc, chàng còn biết trang trí và vẽ bằng phấn những tiêu đề rất đẹp cho trường
trong những ngày lễ. Thầy
hiệu trưởng có lần phải
vỗ về cô Thu “Con ngựa chứng thường có tài em à! Thôi kệ cứ từ từ uốn nắn hắn. Văn hóa mới cần có thời gian thẩm thấu. Cô Thu
hạ quyết tâm “chuyển hóa” chàng.
Nhưng Sử có cần biết cái gì là văn hóa mới
đâu? Chàng vẫn ôm đàn trong những đêm sinh hoạt chung mà hát “Bay đi cánh chim biển” hay “Em còn nhớ hay em đã quên” trong sự ngưỡng vọng của đám học trò mới lớn. Trong lớp chàng kể cho các em nghe những bi kịch của Shakespeare, Corneille, những tác phẩm của Victor Hugo, Balzac, những câu chuyện kể của Alexandre Dumas hay
Georges Sand… Chúng
nghe mê mẩn vì cảm thấy chàng đã
mở cả một bầu trời bao la cho tuổi trẻ như những cánh chim non bay vào… Chàng dịch những bài thơ lãng
mạn Anh như của John Keats, Byron.., Pháp như của Chateaubriand,
Lamartine, Alfred de Musset,… rồi
đọc cho học sinh nghe. Khi chàng kể hay đọc, các em như thấy cơn mưa rào sau
những cơn nắng hạn với nền văn học mà các em đang học trong nhà trường. Cứ như thế dù bị công kích, phê phán về
thói lề mề trong sổ sách, lè phè trong sinh hoạt thì chàng tỏ ra “vô hại” cho
mọi người, nếu không muốn
nói chỉ mang tới sự sảng khoái và
niềm vui qua tiếng
hát, qua những câu chuyện duyên dáng… Từ một thầy giáo tiếng Anh tay ngang, chỉ sau 3 năm chàng
được đưa lên dạy
thế cho một cô giào nghỉ
hộ sản ở lớp 12. Và chàng đã gặp Châu, cô bé lớp phó học tập, lanh lẹ, nghiêm nghị, cặp mắt to, tròn,
như hai viên bi. Châu có nhìn xoáy vào người đối diện, nửa như dò xét, nửa như bỡ ngỡ nên người ta vừa sợ vừa mến.
Châu học rất giỏi, nhưng Châu ít khi khi hài lòng với những gì đã học trên lớp,
luôn tìm tòi
và đặt câu hỏi trong
giờ học, sau giờ học. Chàng
lại được giao chủ nhiệm lớp Châu.
Mẹ Châu có sạp ở chợ, nên kinh
tế gia đình tương
đối khá giả. Một lần bà đến
trường gặp chàng và nói thẳng: “Tôi nghe cháu Châu khen thầy giỏi lắm. Năm nay là năm thi của cháu, tôi muốn thỉnh thầy về nhà dạy thêm cho cháu được không?”. Sử trả lời ngay “Nhà trường có mở
lớp phụ đạo cho mấy em yếu, Châu thuộc loại giỏi, chắc khỏi cần học thêm”.
Bà khẳng khái nói
luôn “Giỏi là giỏi trong lớp thôi. Tôi muốn nhờ thầy làm một công hai chuyện,
dạy cho cháu giỏi để thi tú tài
và vào đại học, sau này nếu có đi nước ngoài thì tiếng Anh cũng phải khá mới
học tiếp được. Thầy đừng ngại vấn đề thù lao. Nhà tôi rộng. Cháu có phòng học
riêng, yên tĩnh. Tôi chỉ có hai đứa con thôi. Châu là con gái lớn”.