Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

830 . SONG THAO - Ký Ức Saigon (4 ).

                                                                                                          


KÝ ỨC SÀI GÒN (4)

*SONG THAO

May mắn hơn là những nhân viên của Đài Mẹ Việt Nam. Họ được di tản có bài bản. Nhà văn Ngô Thế Vinh kể lại :Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm tòa soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến ngồi chung với Vũ Hạnh; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn. Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh, Tuý Hồng, Thanh Nam từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc”.

Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ cùng hội tụ với nhóm Mẹ Việt Nam trên đảo Guam. Tôi chợt nhớ tới câu ca dao : Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu nhiểu đắng cay”. Chẳng biết có phải là một thứ “sấm” không? Những” rau răm” bị bầm nát chết trong tù có Hiếu Chân, Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm văn Sơn, Trần văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường. Chết sau khi ra tù có Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Sống xa rời cây viết có Dương Nghiễm Mậu làm sơn mài, Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên lề đường, Trần Lê Nguyễn bán báo, Nguyễn Mộng Giác làm mì sợi, Trần Hoài Thư bán cà-rem dạo.

Giới cầm bút xấc bấc xang bang, dân Sài Gòn cũng cùng chung một quốc nạn. Từ ngày tháng tư u tối đó, dân Sài Gòn tan tác như đàn gà con mất mẹ. Mỗi người đều chạy vạy để có được một chỗ trên máy bay rời Sài Gòn. Chuyện không dễ gì. Vào những giây phút cuối, trực thăng bay hốt những đoàn người cuối. Tác giả Nguyễn Viết Đĩnh ghi lại giây phút tan hoang của Sài Gòn thoi thóp: Trên bầu trời Sài Gòn, từng đàn trực thăng võ trang của Thủy Quân Lục chiến Mỹ lượn vòng không ngớt. Tiếng cánh quạt xé gió vang lên suốt ngày đêm, như một thứ âm thanh báo tử. Chúng bay thấp, bay cao, đáp xuống các cao ốc, các địa điểm đã được chỉ định từ trước. Người ta nói về những cuộc bốc người từ nóc tòa đại sứ, từ các cao ốc lớn trong thành phố. Những chiếc thang dây buông xuống từ không trung, người bám vào như bám vào sợi dây cuối cùng của sự sống. Mỗi lần nghe tiếng trực thăng, tim tôi lại thắt lại. Không phải vì hy vọng, mà vì một cảm giác bị bỏ lại. Chúng không đến cho tất cả. Chúng chỉ đến cho một số người đã được chọn, đã có tên, đã có chỗ. Phần còn lại của thành phố chỉ đứng nhìn, ngước mắt lên trời, bất lực”.

Những người chậm chân sau đó đã xô nhau vượt biên, vượt biển tìm tự do bất chấp những nguy hiểm tới mạng sống kè kè trên mỗi bước đường trốn xa thành phố thân yêu. Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), tổng số người vượt biển từ 1975 tới 1995 khoảng từ 800 ngàn tới 900 ngàn. Trong số đó tới được Mã Lai (255 ngàn), Hồng Kông (143 ngàn), Indonesia (122 ngàn), Thái Lan (80 ngàn), Philippines (40 ngàn) và Singapore (30 ngàn). Tổng cộng 670 ngàn. Số tử vong ước tính khoảng từ 200 ngàn tới 400 ngàn vì chết đuối, bão tố, thiếu nước , đói, bệnh hoặc do cướp biển. Khoảng 10 ngàn phụ nữ và trẻ em gái bị bạo hành tình dục hoặc bị bắt cóc.

Vượt biên là tự phát. Dân lén lút dùng những tàu đánh cá ra biển. Có thể họ đi chui nhưng cũng có những vụ mua bãi có công an lấy vàng tiếp tay cho rời bến an toàn. Nhà nước thấy làm ăn được nên nâng chuyện cướp vàng của những người muốn vượt biên thành…chính sách. Nhân vụ muốn đẩy người Hoa ra khỏi nước, nhà nước đứng ra tổ chức những chuyến đi mà dân ta hồi đó gọi là đi “bán chính thức”. Nhà nước gọi là Phương Án II”. Tại sao có con số 2? Có ba phương án giải quyết việc ra đi của người Hoa: theo con đường Liên Hiệp Quốc HCR (gọi tắt là Phương Án I); cho ra nước ngoài làm ăn (Phương Án II) và cho về các địa phương sản xuất theo khả năng (Phương Án III).

Trong cuốn « Bên Thắng Cuộc », tác giả Huy Đức đã ghi lại : Phương án II là một kế hoạch được “phổ biến miệng để giữ bí mật”, theo đó: Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”. Việc triển khai Phương Án này được làm trong bí mật. Ngay Phó Bí Thư Thường Trực Sài Gòn Trần Quốc Hương cũng không được biết. Trung Ương lập ra Ban 69 để theo dõi hoạt động thi hành Phương Án II. Trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” ghi lại kết quả cuộc kiểm tra như sau: Kết quả kiểm tra của Ban 69 cho thấy có một sự khác biệt rất lớn giữa báo cáo của Bộ Nội vụ và thực tế thực hiện Phương án II. Báo cáo của Bộ Nội vụ nói rằng: “Từ tháng 8-78 đến 6-79, mười lăm tỉnh, thành đã cho người Hoa đi nước ngoài bằng tàu, thuyền gồm 156 chuyến với số người là 59.329 người, đã thu 5.612 kg vàng, năm triệu đồng Việt Nam, năm mươi bảy ngàn đô la Mỹ, 235 ô tô, 1.749 nhà và gian nhà”. Nhưng, số liệu sau khi Ban 69 kiểm tra cho thấy: “Số tàu đã cho đi: 533; Số người đã đi: 134.322; Thu vàng: 16.181kg; Ngoại tệ: 164.505 đô la; Tiền ngân hàng VN: 34.548.138 đồng; Một số tài sản khác: 538 ô tô, xe du lịch; 4.145 nhà và gian nhà”. Tuy đối tượng cần đưa đi ở các tỉnh trước hết là Thành phố HCM chưa giải quyết hết yêu cầu, việc phối hợp đưa 70 ngàn người Hoa ở Thành Phố HCM trong tổng số gần 140 ngàn người Hoa đã đi là một thành tích lớn. Việc thu vàng và tài sản của Phương Án 2 cũng là một thành tích rất lớn”. Trước con số lợi lộc lớn lao như vậy, các cán bộ thi hành  không bỏ lỡ cơ hội tham ô bỏ túi. Người Việt lợi dụng lối vượt thoát khá an toàn này nên đóng vàng cho công an để ngụy trang thành người Hoa trà trộn vào đoàn người Hoa ra đi. Tại Sài Gòn, nhiều tổ chức móc nối người Việt. Có người đi được, có người tiền mất tật mang. Tôi là một trong số nhiều người đã bị lừa. Số vàng tôi mất cho gia đình 4 người trên chục lượng. Sau khi thỏa thuận với người môi giới, gia đình tôi được họ cung cấp cho giấy Chứng Minh Nhân Dân và Thẻ Cử Tri với tên Hoa. Mỗi người phải học thuộc tên mình. Chuyện khá khó khăn nhất là với hai đứa con còn nhỏ của tôi. Cả nhà hy vọng ngồi chờ ngày ra đi. Ngày đó chẳng bao giờ tới.

Có những người không màng chuyện ra đi mà nguyện sống mãi mãi với thành phố thân yêu. Họ tự hủy thân xác trong thành phố để được sống với Sài Gòn dấu yêu. Có rất nhiều người đã chọn bước đường cùng như vậy. Nổi bật nhất là cái chết của Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn văn Long và Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh.

Trong những ngày Sài Gòn vừa thất thủ, dân Sài Gòn đã bàng hoàng trước tấm hình TrungTá Nguyễn văn Long nằm chết trong bộ quân phục. Tấm hình do một ký giả Pháp chụp và phổ biến trên báo Paris Match. Nhà văn Giao Chỉ ở San Jose viết trong bài “Câu Chuyện Về Cái Chết Của Trung Tá Nguyên Văn Long. Cái Chết Của Cha Tôi”: “Bức hình chụp được phổ biến cho thấy ông nằm nghiêm chỉnh dưới bức tượng xung phong của thủy quân lục chiến trước tòa nhà quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Có nhiều người chứng kiến nhưng không ai là nhân chứng kể lại giây phút cuối cùng. Dường như có người đã sắp xếp lại di hài vị anh hùng mang cấp bậc trung tá cảnh sát. Hai tay để ngay ngắn trên bụng. Nón trước ngực. Tấm hình chụp thật rõ ràng. Ai đã sắp xếp lại? Đồng bào miền Nam hay anh phóng viên chụp hình cho tờ báo Pháp. Bức hình của người sĩ quan bại trận nằm yên nghỉ nhưng hết sức lẫm liệt”. Trung Tá Long sanh tại Phú Hội, Huế, ngày 1/6/1919, tuẫn tiết tại Sài Gòn năm 1975, lúc đó 56 tuổi. Ông có 13 người con, 6 trai 7 gái. Tên các con trai thể hiện giấc mơ của cha : Phụng, Hoàng, Minh, Tiến, Quang, Hội. Tất cả đều gia nhập quân đội, trừ cậu út mới 13 tuổi, chưa đủ tuổi đi lính. Tên các con gái như hình ảnh dịu hiền của mẹ : Đào, Tâm, Thiện, Hòa, Hảo, Hiền, Huê. Ông làm việc tại Đà Nẵng, di tản vào Sài Gòn. Bà Tâm, con gái thứ ba của ông kể lại : “Lúc đó vào cuối tháng 3/75 ở Đà Nẵng. Ba vẫn làm việc trong trại, không về nhà. Hai cậu em không quân, một ở Đà Nẵng, một ở Biên Hòa. Một cậu đưa cả nhà vào sân bay Đà Nẵng chờ di tản. Nhưng rồi cũng không đi được. Vào ngày cuối người cha về nhà không thấy gia đình. Ông nghĩ rằng vợ con có thể đã đi thoát trong phi trường. Ông xuống bãi và ra đi bằng tàu. Vào đến Saigon đã có cô con gái lớn đón cha về ở tạm. Lúc đó mới biết vợ con còn kẹt ở Đà Nẵng. Cha tôi lại vào trình diện Tổng Nha Cảnh Sát để làm việc”. Trưa 30/4/75 khi radio phát thanh lời Tổng Thống đầu hàng thì một phát súng đơn độc nổ bên thái dương, Trung Tá Long ngã xuống. Ông buông cây súng nhỏ theo lệnh Tổng Thống, cây súng tùy thân ông vẫn mang theo từ Huế, Đà Nẵng vào đến Sài Gòn. Thân xác ông được đưa vào bệnh viện Grall. Trong bộ quân phục của ông có mảnh giấy ghi địa chỉ của gia đình nên vào cuối tháng 5/1975 có người từ nhà thương Grall liên lạc về Đà Nẵng. Hai vợ chồng bà Tâm từ Đà Nẵng vào hợp cùng chị và em ở Sài Gòn tới nhà xác bệnh viện. Khi nhân viên nhà xác mở ngăn lạnh chứa xác, xác ông vẫn còn nguyên vẹn trong quân phục có đeo cấp hiệu và mũ Cảnh Sát. Nhân viên nhà xác cho biết được lệnh bảo quản vì đây là thi hài của một anh hùng, chờ gia đình tổ chức mai táng chu đáo. Gia đình đã chôn cất Trung Tá Long tại nghĩa trang Bà Quẹo.

      Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh không tự tử một mình. Ông đã giúp cả gia đình gồm vợ và bảy người con thoát khỏi kiếp sống dưới chế độ Cộng sản trước khi quay súng bắn vào đầu tự tử. Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh, khi đó mới 11 tuổi, là hàng xóm của gia đình Trung Tá Vĩnh, còn nhớ như in quang cảnh ngày oan nghiệt đó trong hồi ký “Chín Nén Nhang Cho Gia Đình Cố Trung tá Đặng Sĩ Vĩnh”: “Ngày 30/4/1975, lời tuyên bố đầu hàng đã truyền đi. Lá cờ tai họa đã bay trên Dinh Độc Lập. Bố tôi từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị về nhà. Mắt ông đỏ tia máu. Trước nhà tôi, những người lính cởi trần ngồi lề đường khóc. Họ chửi rủa rằng họ bị phản bội, bị bỏ rơi. Họ nói đến chuyện tự tử để không thẹn với hồn thiêng sông núi. Có cái gì đó khủng khiếp khi những người đàn ông khóc. Hàng xóm xúm lại an ủi họ. Trời chang chang nắng đổ. Súng ống quân phục đầy đường từ Ngã Tư Bẩy Hiền vào Lê Văn Duyệt. Tiếng súng do bọn thanh thiếu niên hoang loạn bắn từ vũ khí vương vãi trên hè phố nổ rền suốt mấy giờ liền. Đến khoảng 2 giờ chiều chỉ còn lác đác tiếng súng ở xa. Nỗi hoang mang tiếp tục gia tăng khi người ta bắt đầu nhìn thấy những người lính miền Bắc đeo ba-lô, đi dép râu, mặt mũi lơ láo, lạ lẫm bắt đầu đi vào con đường hẻm. Bất thình lình, trong cái oi bức, ngột ngạt của không gian, trong cái căng thẳng kinh hoàng của đầu óc, có những tiếng súng nhỏ vang lên trong một căn nhà. Những tiếng súng ấy nhỏ và không vội vã như người ta bắn qua lại khi giao tranh. Những tiếng súng ấy bình tĩnh, cách nhau đều đặn. Chúng vang lên một cách chắc chắn, chắc chắn như quyết định của người nổ súng. Đó chính là tiếng súng mà Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh đã nổ để kết liễu mạng sống của cả gia đình gồm vợ với bảy người con và chính bản thân ông”.

Ngôi nhà màu xanh lá cây, cổng gạch trắng, không có chỗ đậu xe hơi, mang số 98/39 Phạm Hồng Thái, ấp Hòa Bình, quận Tân Bình, Gia Định. Con hẻm này thuộc Khu Ông Tạ, được dân chúng gọi nôm na là Hẻm Con Mắt. Xe ông thường mang để nhờ trong sân nhà kịch sĩ Năm Châu ở xế cửa nhà ông. Bà Vĩnh tên Trần Ánh Nguyệt, là chị vợ của nhà thơ Hà Thượng Nhân. Nhà thơ cho biết ông anh cột chèo này rất hiền lành, nhân hậu, chẳng bao giờ cau có, cãi cọ với ai. Hai ông bà có bảy người con. Anh con cả là Đặng Trần Vinh, sanh năm 1948. Hai cô út là một cặp sinh đôi khi đó khoảng 15 tuổi. Ông tốt nghiệp Khóa 3 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào năm 1953, tùng sự tại Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Từ cuối thập niên 1960, ông được biệt phái qua Tổng Nha Cảnh sát.

Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh nhớ lại: “Trong ký ức tuổi thơ của tôi, ông Vĩnh lúc ấy 56 tuổi mà còn phong độ. Gặp bố tôi, ông trao đổi một vài câu chuyện với giọng thật hiền hòa, thân thiện. Anh Vinh, con ông lúc ấy 27 tuổi. Hai cô em gái sinh đôi của anh thường đùa nghịch cười rúc rích. Họ đồng tuổi với chị Trang của tôi. Da trắng, tóc dài, đen nhánh, buộc bằng nơ đỏ và xanh dương. Âm thanh và hình ảnh của gia đình Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh, nếu chỉ có thể trong tôi, đã không trở thành ký ức kinh hoàng. Ký ức đó chỉ một thời gian ngắn sau, đã bằng những tiếng súng chuyển thành kinh hoàng. Bố tôi nói buổi trưa ngày 30/4/1975, khi nghe tiếng súng:“Chắc bác Vĩnh tự tử rồi!”. Mắt ông vẫn đỏ tia máu. Tôi dư biết ông có khẩu súng lục và một trái lựu đạn trong ngăn kéo trên lầu. Bố tôi không nói gì nữa. Ông ngồi đó mà không ăn trưa, hai mắt lừ lừ. Tôi không tin lời bố tôi nói. Một đứa 11 tuổi chưa đủ khả năng để lượng định những áp lực tinh thần đang đè nặng trên vai kẻ sĩ trong lúc đất nước rơi vào tay giặc. Thật sự, dù có tin, tôi cũng không nghĩ đến cái chết của người khác vào lúc đó. Nhưng tôi sợ cái chết của bác Vĩnh và cả nhà sẽ khiến bố tôi quyết định cùng gia đình chọn cái chết hơn là sống với chế độ Cộng Sản. Mẹ tôi lo ngại, lén lấy súng lục và lựu đạn của bố gói trong bao vải ném xuống kinh Nhiêu Lộc. Mẹ tôi chỉ nói ngắn gọn với bố: “Anh muốn làm gì cũng phải bàn với cả nhà, nhất là với mẹ, người sinh ra anh trên đời này”. Bà tôi thấy vậy cũng sợ, bắt chúng tôi bốn đứa âm thầm thay phiên nhau canh chừng bố. May thay sau đó bố tôi đã thoát được những ám ảnh từ gia đình bác Vĩnh”

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

819 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - THÁNG NĂM HOA TRÀN ĐỒNG

                                                                                                                  


THÁNG NĂM HOA TRÀN ĐỒNG

Tháng năm hoa nở tràn đồng, hoa vàng rực rỡ như màu nắng, hoa trồng bởi con người và hoa dại của thiên nhiên đồng khoe sắc hương. Những hạt giống ngủ trong đất từ mùa cũ hay vừa mới ươm gần đây đều bừng lên.

Tháng năm đất trời cao rộng, màu trời xanh miên viễn với mây trắng trùng trùng vô tận mặc cho cõi người ta thế sự thăng trầm đảo điên. Lòng người có loạn động thế nào thì hoa vẫn nở như đã từng từ thuở hồng hoang.

Thế sự loạn động không đến từ bên ngoài, không phải là ngẫu nhiên. Nó là hậu quả của nghiệp, là hiện tướng của tham – sân – si, nói gọn hơn nữa là vô minh. Nếu một người vô danh tiểu tốt thì tham – sân – si chỉ ảnh hưởng bản thân người ấy hay gia đinh người ấy thôi. Còn nếu là một người danh phận lớn như quốc chủ thì tham – sân – si của kẻ ấy ảnh hưởng xấu đến cả quốc gia, nếu là nước lớn thì còn ảnh hưởng đến cục diện cả thiên hạ.

Quốc chủ vô minh gây loạn động mà lại được một bộ phận dân chúng cuồng phò mê muội âu cũng là có nhân duyên với nhau. Nhà Nho nói “nhất ẩm nhất trác mạc phi tiền định” là vậy. Nhà Phật thì rõ ràng hơn, thông suốt hơn: “Cái quả hôm nay là do cái nhân từ quá khứ, cái nhân hôm nay sẽ là cái quả trong tương lai” (dục tri quá khứ nhân/kim sanh thọ giả thị/ dục tri lai thế quả/ kim sanh tác giả thị). Cực hữu da trắng, cực đoan Hồi giáo, cực tả cộng sản, cực ác phát xít…đều đem lại đau thương máu lệ cho con người. Ngay cả trong đạo cũng thế, một khi cực mê thì không thể nào giải thoát nổi. Đạo là con đường để đi đến giải thoát. Đạo là phương pháp tu hành, đạo là đức tin, là phương tiện đưa người rời bến mê…Một khi thiên lệch thì đạo sẽ lạc đường. Đức Phật đã trải qua nhiều phương pháp tu hành và cuối cùng ngài rút ra kinh nghiệm hành xác hay phóng túng đều không thể giải thoát. Kinh Chuyển Pháp Luân ghi rõ: “Này các tỳ kheo, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tranh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục lụy, phàm phu, không thanh thiện; hai là khổ hạnh cũng không thanh thiện, không lợi lạc lại khổ đau”. Nói cách khác thì cực đoan kiểu nào cũng đều không có lợi, thậm chí còn ràng buộc thêm.

Từ kinh nghiệm tu hành của mình, đức Phật phát kiến ra con đường trung đạo và thực tế cho thấy chỉ có con đường trung đạo mới có thể đi dến giải thoát. Trung đạo chính là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Người tu hành phải đi con đường này, chỉ con đường này mới có thể chuyển phàm thành thánh, chỉ có con đường này mới đi đến giải thoát. Trung đạo là phương pháp tu, là phương cách sống, lối sống không chỉ đem lại hiệu quả trong đạo mà còn cực kỳ tốt đẹp cho đời.

Chánh kiến là cái thấy biết đúng đắn, mọi vật mọi việc đều không ngoai khổ đau, vô thường, vô ngã, khổ không và Tứ Diệu Đế là căn bản…Chánh tư duy cũng trên cơ sở này, cho đến nói năng, hành động, cũng đều trên cơ sở này. Đấy chính là trung đạo trong nhà Phật, trung đạo là bát chánh đạo, là không nghiêng lệch qua hành xác hay phóng túng.

Ngoài đời cũng có thể áp dụng trung đạo, nói năng, hành động không nghiêng tả hay lệch hữu. mọi lời nói và hành động theo đúng giá trị tự do – dân chủ - nhân quyền. Tiếc thay, thế gian này khó mà áp dụng được vì lòng người vốn thiên lệch đã lâu, tâm ý con người thường tự tư tự lợi. Người nào cũng muốn lợi cho mình mà mặc kệ người khác. Quốc gia nào cũng tranh lợi về mình mà chẳng cần biết đến quốc gia khác, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ…chính vì thiếu trung đạo mà thế gian này luôn loạn động, luôn bất an, chiến tranh liên miên không dứt. Trong đạo ngoài đời đều hiếm thấy áp dụng trung đạo. Thế gian có nhiều đạo nhưng hầu như chỉ có Phật giáo mới tu trung đạo. Thế gian có nhiều quốc gia nhưng chẳng có chính phủ nào áp dụng trung đạo vào việc quản trị và giao hảo. Hễ không hữu cũng tả hay cực phái. Thế gian này có một bộ phận dân chúng sống tương đối giâu có, tự do, dân chủ, nhân quyền như các nước Bắc Âu, Tây Âu…Tất cả những gì con người đang thọ hưởng sung sướng hay khổ đau đều là hậu quả của nghiệp cũ. Từng cá nhân thì là biệt nghiệp cả tập thể thì là cộng nghiệp. Trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Điều này dễ dàng thấy được trong đời sống hàng ngày. Ví như trong một gia đình giàu vẫn có những người con khánh tận, bệnh tật và trong một gia đình nghèo hèn vẫn có người con tuấn tú, thông minh và phát triển đi lên. Trong một tập thể như một quốc gia giàu mạnh, vẫn có những người bần cùng và trong một tập thể bần cùng vẫn có những kẻ giàu sang.

824 .NGÃ DU TỬ - YÊU LẮM ĐỜI VĂN , LƯƠNG DUYÊN CÙNG HƯƠNG SEN.

                                                                        

YÊU LẮM ĐỜI VĂN

Ngần ấy đủ dài theo giấc mộng
Đếm thời gian theo góc nhớ vui buồn
Năm tháng qua vèo như cơn lũ
Còn nhớ gì không những dốc truông?

Này em, sông núi vô tình lắm
Hãy đến cùng ta chuyện gió mưa
Sông Văn vẫn chảy theo thuyền mộng
Thương nhớ còn vương ngọn cỏ đùa

Lỡ yêu con chữ từ muôn hướng
Mạnh bước đi trong mưa bão dập dồn
Trang văn còn đó theo ngày lớn
Có em về trong bóng núi hoàng hôn

Là em trang sách hồng mong đợi
Ký tự xanh rờn giữa nhân gian
Yêu em như buổi trăng vừa chín
Ánh sáng từ em gọi đại ngàn

Tháng năm nhìn lại màu mắt ấy
Thương nhớ một thời cuộc thế gian
Văn bút một đời say chữ nghĩa
Chắp cánh bay như đôi cánh chim ngàn.

LƯƠNG DUYÊN CÙNG HƯƠNG SEN

Cắm vài đóa sen hồng trong mùa Phật đản
Hương thoảng thơm ấm áp cả ngôi nhà
Nhẹ cõi lòng trước nhịp sống ngân nga
Nghe thiền vị rung lên từng nhịp thở

Mùa chay tịnh tháng tư về trước ngõ
Tâm chơn như khoác vội một cung rằm
Cả đời thường khiêm nhẫn sóng nhân tâm
Ngan ngát vọng hương từ bi phổ độ

Suốt một thời ruổi rong từng con lộ
Bàn chân hoang dạo khắp chốn nhân tình
Vẹt gót mòn nần nợ cuộc mưu sinh
Xin thâm tạ qua bao mùa giông bão

Tháng tư này, bình nhiên mùa xiêm áo
Lần suy tư, chiêm nghiệm đoạn đường đời
Mỗi đời người hiển hiện một lần thôi
Trân trọng giữ trái tim từng thời thay đổi

Và em nhé, hương dịu dàng sen nhẹ
Sẽ bình yên trước cơn sóng vô thường
Nhẹ lòng mình trước bước sóng yêu thương
Mùa Phật đản dọn lòng mình thanh khiết



Ngã Du Tử/ SG


 

823 . NGUYÊN CẨN - THẦY SÁU

                                                                                                          


Thầy Sáu

Cậu biết không?Mình phải trở thành cái mà người ta muốn mình là chứ không phải cái mà mình thực sự là.

Thầy nói gì con không hiểu hết trơn. Phức tạp quá!

Cậu hiểu không? Đó là định nghĩa triết học về bản ngã và dự phóng. Cái hình ảnh của mình về mình bị bóp méo trong lăng kính người khác, nên mình sống không thực lòng ,sống theo cái nhìn của người khác . nên ông Jean Paul Sartre ổng mới nói:” Tha nhân là địa ngục ( L’enfer, c’est les autres.)

Chà thầy nói cao siêu quá ,biết chừng nào con mới hiểu được những điều thầy nói dù con có học qua triết lớp 12 rồi.

Tôi nhìn thầy Sáu, thán phục . Một người trí thức, một ông giáo tiểu học nhưng sao uyên bác dữ , cái gì hỏi cũng biết , nói năng rạch ròi .Thầy mới về xóm được hơn 2 năm mà ai cũng nể . Người thầy gầy, cao khẳng khiu, đeo cặp kính rất dầy, nghe đâu 7,8 độ gì đó . Ẩn sau lớp kính ấy là một cặp mắt có cái nhìn khá khó chịu đến nổi  tôi phải tránh nhìn thằng vào mắt thầy vì nó sắc sảo một cách kỳ lạ!   Một người thoạt nhìn biết ngay là người có học, nghiêm trang , đạo mạo, chỉn chu.  Sáng nào nghe tiếng xe mobylette của thầy rồ máy là tôi biết đúng 6 giờ . Trăm bữa như một trừ chủ nhật.

Ở một xóm lao động, bạn có thể nghe âm thanh đủ mọi loại, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng nói chuyện tụm năm tụm ba nhậu nhẹt , hát hò  , hòa với tiếng chửi bới nhau ầm ĩ trong nhà ngoài  ngõ . Tất cả tạo nên đặc trưng của khu Bàn Cờ, hay rộng hơn của Sài Gòn , thành phố không bao giờ ngủ.  Nhưng gia đình thầy Sáu chung vách nhà tôi gần như là ngoại lệ. Ba đứa con, một gái hai trai luôn ở trong nhà, không la  cà , giao du với ai. Chúng như những chiếc bóng. Hai cậu trai chỉ thấy đi và về trên chiếc xe đạp “cuộc“6 líp thì phải ? Cô con gái lớn, khá xinh  , gương mặt thanh tú , cặp mắt rất sắc , không thua gì thầy Sáu , sáng chiều xuất hiện trên chiếc Honda dame ngày ấy . Họ không bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai trong xóm, nhất là cậu trai lớn, khuôn mặt có cái nhìn hơi khinh khỉnh, hay cậu coi thường xóm nghèo chăng ? Nhưng bà Sáu thì rất hiền. Bà béo người, thấp và gương mặt vui vẻ , dù bà cũng ít nói.Năm thì mười họa , bà đi chợ về nói dăm ba câu với mấy người ở gần nhà . Vậy thôi! Nhưng nom bà dễ gần nhất nhà đó.Rồi bỗng dưng họ đưa về một chàng bác sĩ quân y khá đạp trai đeo lon trung úy . Hỏi ra mới biết là rể. Còn đám cưới lúc nào, ở đâu chằng ai được mời hay thông báo . Đó là chuyện lạ ở xóm này- nơi họ có thể chửi nhau , thậm chí đánh nhau nhưng có tiệc là mời , dù là đám thôi nôi, đầy tháng, cúng 49 hay 100 ngày  … huống chi là đám cưới . Nhà này sát vách nhà kia, nhìn thẳng sang nhà nọ, có chi là bí mật mà giấu ? Nhưng nhà thầy Sáu thiệt ngộ. Một thế giới riêng! Thậm chí đến khi họ có cháu , một thằng cháu ngoại ra đời , đầy tháng thôi nôi vẫn không có tiệc tùng gì hay ít ra mọi người nghĩ thế !Phần có lẽ vì thằng bé quặt quẹo , nay ốm mai đau , trông như con mèo con , lúc nào cũng xanh mướt , thễu mễu ,dặt dẹo…

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

822 .TÁC PHẨM MỚI của TẠP CHÍ NGÔN NGỮ : Tác giả TIỂU LỤC THẦN PHONG

 


Thư đầu sách của Nhà Thơ Luân Hoán đã giới thiệu tác phẩm này  là  tuyển tập thứ 15 trong hệ thống các tuyển tập Tác giả và Tác phẩm do Tạp chí Ngôn Ngữ đã thực hiện mấy năm vừa qua  (14 tác giả trước  mà Ngôn Thữ đã thực hiện là :  Song Thao, Nguyễn Vy Khanh, Hồ Đình Nghiêm, Khánh Trường, Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Trịnh Y Thư, Trần Hoài Thư, Phạm Cao Hoàng, Trương Vũ, Nguyễn Thị Khánh Minh, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Minh Nữu, Bùi Vĩnh Phúc).

 Nhà thơ Luân Hoàn viết:

“ Một loại sách rất cần cho việc lưu trữ tài liệu, giúp các nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật sau này, khi cần tìm hiểu và đánh giá về một giai đoạn sinh hoạt, hoạt động của một nền văn học. Trong mỗi số đặc biệt như thế này, tư tưởng, văn phong của mỗi tác giả qua sáng tác của họ, được trung thực gói gọn, gìn giữ. Với 14 tác phẩm đã được xuất bản trước đây, những tác giả đều là những cây bút kỳ cựu, thành danh từ thời Việt Nam Cộng Hòa và họ đã tiếp tục cầm bút sau khi bị thay đổi hoàn cảnh lẫn vị trí địa lý sinh hoạt, nhưng đều đoạt được thành quả khả quan trong sự nghiệp lẫn sứ mệnh bảo tồn, phát huy văn hóa ngôn ngữ Việt thân yêu.

Trong lần giới thiệu này, chúng tôi hân hạnh trình diện cùng bạn đọc bốn phương một tác giả còn trẻ tuổi, khởi nghiệp văn sau khi định cư tại hải ngoại. Tuy là trẻ nhưng thời gian "đứng cùng nghề" của anh cũng đã khá lâu. Ngoài nhiều diễn đàn khác, anh, nhà văn Tiểu Lục Thần Phong, đã góp tay cùng tạp chí Ngôn Ngữ của chúng tôi ngay từ số đầu và hiện diện tiếp tục qua nhiều kỳ báo. Bên cạnh đó, Tiểu Lục Thần Phong cũng sở hữu nhiều đầu sách được Nhà xuất bản Nhân Ảnh cho trình làng rộng rãi.”

 Tạp Chí Văn Phong cũng là nơi được nhà văn Tiểu Lục Thần Phong thường xuyên cộng tác bài vở từ khi thực hiện Tạp Chí Online.

Với văn phong mạnh mẽ, sôi động và trẻ trung, Tiểu Lục Thân Phong đã đem vào văn học những điều mới lạ về đời sống Người Việt Trẻ trên đất Mỹ nhìn thấy chung quang, nhìn lại quê nhà nhìn ra thế giới. Cái nhìn phóng túng, hồn nhiên nhưng lại rất sâu sắc của anh tạo nên không gian Mới, Lạ, Chân thực và đầy diễm tuyệt.

Muốn có tác phẩm này, xin liên lạc: freedomsteven_01.@yahoo.com

 



823. NP PHAN . ÁM THỊ XANH

                                                                                         


ám thị xanh

 

1.
ngọn đèn đường thức thâu đêm
đang canh chừng
những giấc mơ đào thoát

 

2.
đàn chuột nhởn nhơ
vẫn đang mon men tiến về
chiếc nắp cống hào hoa

 

3.
đã tắt từ lâu rồi
tiếng vọng từ bên kia ngọn núi
sợi khói bay lên

 

4.
ý tưởng gầy guộc
từng bị bỏ quên trong xó nhà
một hôm rực sáng

 

5.
con tàu lao đi
xé đôi màn đêm u uất
tiếng còi tàu ở lại

 

6.
những mảnh kính vỡ
trong một dạ tiệc phù hoa
đã có thế giới riêng

 

7.
vết xe đổ phía trước
không phải là lời cảnh báo
cho sự liều lĩnh

 

8.
sự thức tỉnh muộn màng
đã bị bỏ lại phía sau
ám thị xanh

 

9.
đường dài hun hút
những cánh chim không ngoái lại
cơn giông

 

10.
mặt trời mùa đông
giấu nỗi buồn sau làn mây xám
chiếc bóng trầm tư

 

NP phan

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

821 . THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu HAN KANG Nhà văn Hàn Quốc Giải Nobel Văn Học 2024.

                                                        




                                    

THỂ TRUNG GIAN

Han Kang

( 1970 -  )

Nhà văn Hàn Quốc

Giải Nobel Văn học 2024

 Han Kang là con gái tiểu thuyết gia Han Seung-won. Cô sinh ở Kwangjiu và lúc lên 10 tuổi chuyển đến Suyuri (về việc này cô  đã trình bày một cách trìu mến trong tiểu thuyết Greek Lessons) ở Seoul. Cô học văn học Hàn Quốc ở Đại học Yonsei.  Anh trai của cô Han Dong Rim cũng là một nhà văn. Cô bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình khi một trong những bài thơ của cô đã được đăng nổi bật trong ẩn bản mùa đông của tạp chí hàng quý Văn học và Xã hội . Cô xuất hiện lần đầu trong văn đàn trong năm sau khi truyện ngắn của cô "The Scarlet Anchor" là tác phẩm giành giải trong cuộc thi văn học mùa xuân của nhật báo "Seoul Shinmun". Kể từ đó, cô đã giành giải của Giải văn học Yi Sang  (2005), Giải thưởng Nghệ sĩ trẻ đương đại, và Giải thưởng tiểu thuyết văn học Hàn Quốc. Tại thời điểm mùa hè năm 2013, Han dạy viết văn tại Viện Nghệ thuật Seoul trong khi viết truyện và tiểu thuyết, hiện đang làm việc trên cuốn tiểu thuyết thứ sáu của mình.

Sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Yonsei, Han Kang đăng đàn năm 1993 trên báo Văn học và Xã hội với tư cách một nhà thơ. Năm 1994, bà ra mắt tập truyện ngắn Mỏ neo đỏ, giành giải sáng tác cho tác giả trẻ của báo Seoul Shinmun, đánh dấu mở đầu sự nghiệp văn chương chuyên nghiệp.Suốt ba mươi năm gắn bó với văn chương, Han Kang là chủ nhân của ba tập truyện ngắn, gần 10 tiểu thuyết và 1 tập thơ. Bà được tôn vinh một trong những nhà văn quan trọng nhất của văn học Hàn Quốc hiện đại. Năm 2016, Han Kang giành giải Booker quốc tế nhờ tác phẩm The Vegetarian (Người ăn chay ). Năm 2018, bà tiếp tục lọt vào danh sách đề cử của giải thưởng này với tiểu thuyết giàu tính tự thuật Trắng.

Han Kang cũng nổi tiếng với một số tác phẩm như Love of Yeosu ( Tình yêuYeosu), tiểu thuyết Your cold hands ( Tay người thì lạnh)...
Nhà vă
n Han Kang từng chia sẻ bà thích sự riêng tư và sớm trở lại cuộc sống bình thường sau khi nhận giải thưởng văn học danh giá m 2016. Bà Han Kang là giáo sư chuyên ngành viết sáng tạo tại Học viện Nghệ thuật Seoul.
Han Kang được trao giải Nobel Văn học năm 2024 do có
văn xuôi đầy chất thơ mãnh liệt đối mặt với những tổn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của đời người”.    Sinh ra ở Gwangju, Hàn Quốc, cô chuyển đến Seoul năm 10 tuổi. Cô học văn học Hàn Quốc tại Đại học Yonsei. Bài viết của cô đã giành được Giải thưởng Văn học Yi Sang, Giải thưởng Nghệ sĩ Trẻ Ngày nay và Giải thưởng Tiểu thuyết Văn học Hàn Quốc. The Vegetarian, cuốn tiểu thuyết đầu tiên được dịch sang tiếng Anh của cô, được Portobello Books xuất bản vào năm 2015 và đã giành được Giải thưởng Quốc tế Man Booker năm 2016. Cô cũng là tác giả của Human Acts (Portobello, 2016) và The White Book (Portobello, 2017).
Trước chiến thắng lớn, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol bày tỏ đâ
y là một thành tựu to lớn trong lịch sử văn học Hàn Quốc và mang lại niềm vui cho toàn thể người dân, theo The Korea Times. Trang CWN đưa tin ngay sau khi Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố Han Kang chiến thắng, hơn 60.000 bản sách được bán tại hệ thống nhà sách nổi tiếng Kyobo, hơn 70.000 bản tại sàn thương mại điện tử Yes24. Sàn thương mại trực tuyến Coupang thông báo cháy hàng” các cuốn sách của Han Kang.
Người dân Hàn Quốc ăn mừng thành tích của Han Kang, nhưng tác giả từ chối tổ chức họp báo và không ăn mừng sau khi nhận giải Nobel Văn họ
c. Cha của Han Kang - tiểu thuyết gia nổi tiếng Han Seung Won (85 tuổi) - chia sẻ với truyền thông Hàn Quốc: Han Kang nói với tôi rằng, trên thế giới có nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, nhiều người dân thiệt mạng, làm sao chúng ta có thể ăn mừng. Quan điểm của Han Kang đã thay đổi từ một nhà văn sống ở Hàn Quốc sang ý thức của một nhà văn toàn cầu”.

Ở tuổi 53, bà trở thành nữ nhà văn Hàn Quốc đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học, đồng thời là nữ nhà văn thứ 18 trong tổng số 121 nhà văn đoạt giải thưởng danh giá này cho đến nay. Bên cạnh sự nghiệp văn chương, Han Kang còn là một nhạc sĩ và có niềm đam mê với nghệ thuật thị giác (visual art).

 

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Han Kang là “The Vegetarian” (Người Ăn Chay), xuất bản tại Nam Hàn năm 2007, và được dịch sang tiếng Anh lần đầu tiên năm 2015. Cuốn tiểu thuyết này giành giải Man Booker International năm 2016, được trao cho cả tác giả Han Kang và dịch giả Deborah Smith.

 

Vào thời điểm đó, bản dịch của Smith đã gây ra nhiều tranh cãi về độ chính xác. Nhưng dịch thuật trong văn chương không chỉ là đem từng chữ dịch cho thật sát nghĩa, mà còn là một quá trình bay bổng với trí tưởng tượng và óc sáng tạo của dịch giả, để truyền tải được trọn vẹn nhất tinh thần của tác phẩm gốc. Han Kang đã tin tưởng và bảo vệ dịch giả của mình về vấn đề này.

 

Tính đến nay, Han Kang đã xuất bản sáu tác phẩm bằng tiếng Anh. The Vegetarian” là tác phẩm giúp bà nổi tiếng trên thế giới. Tiếp theo là các tác phẩm như “Human Acts,” “The White Book,” “Europa” và “Greek Lessons.” Tác phẩm ngắn Convalescence” được xuất bản vào năm 2013, là một ấn bản song ngữ.

 

Tiểu thuyết mới nhất của bà là “We Do Not Part,” xoay quanh một nhà văn đang nghiên cứu về cuộc nổi dậy Jeju 1948-1949 (chống lại sự chia cắt bán đảo Triều Tiên do ảnh hưởng của Chiến tranh Lạnh), cũng như kể về những tác động của sự kiện này đến gia đình một người bạn của nhà văn. Tác phẩm dự kiến sẽ được xuất bản vào năm 2025.

820 . NGUYỄN SÔNG BA . DALAT THANG NĂM sơn dầu 60x90cm trên bố

 


818 . SONG THAO - KÝ ỨC SAIGON (3)

                                                                               


KÝ ỨC SÀI GÒN (3)

*SONG THAO

Dân Sài Gòn rất xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông Lãnh. Hàng xóm là dân lao động rất dễ mến. Chỉ vài ngày là anh Hai, chị Ba, dì Tư với nhau. Tên thiệt cất để dành trong khai sanh, không ai xài tới. Những anh Hai chị Ba mới chân ướt chân ráo tới ngụ cư bỗng thấy mình Sài Gòn hẳn ra. Cũng hồn  nhiên xé đôi tờ giấy bạc một đồng làm hai mảnh 5 cắc. Nhưng cũng có những người hỏi móc sao ngoài Bắc đã hòa bình độc lập mà dzô Nam làm chi? Lũ trẻ vốn hồn nhiên, thấy mấy đứa Bắc kỳ nói giọng khác đã hè nhau trêu chọc. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn kể lại chuyện trong lớp học: “Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng: "Bắc kỳ ăn cá rô cây / Ăn nhằm lựu đạn...chết cha Bắc kỳ”. Một thằng khác sẵn giọng phụ họa : "Có cái thằng nhỏ nó "đao“ làm sao / Lỗ đ. nó dính cái cọng “rao” / Người ta ai mà kỳ như “dzậy“ ?”. Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào hai đứa rồi rống lên : "Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”. Bản nhạc “Khúc Nhạc Đồng Quê” của Thúc Đăng rất thịnh hành đã được chế lời: “Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời / Bên bờ sông bên bờ ao...trồng rau muống!”

Dân Sài Gòn không ăn rau muống. Đó là thứ rau dành cho heo. Dân Bắc thì lại rau muống làm chuẩn trong các bữa cơm. Vậy nên rau muống mới…phạm tội. Ông cha sở nhà thờ Vĩnh Hội trong bài giảng vào thánh lễ ngày Chủ Nhật đã căn dặn bà con trong Nam hãy coi những di dân như anh chị em cùng có một cha chung. Và ông mang chuyện rau muống ra…giảng. Đại khái ông cho biết rau muống rất bổ, người Bắc ăn rau muống là khôn ngoan. Dân Nam chê họ không nấu canh mà dùng nước rau muống làm canh, ông cha dễ thương biện hộ là tinh túy của rau khi luộc nằm trong nước rau, người Bắc dùng nước rau muống là biết tận dụng tất cả sự bổ béo của rau muống. Ông cha sở này mặt mũi khó đăm đăm nhưng là dân Sài Gòn chính hiệu bà lang trọc. Hầu như ai tới Sài Gòn cũng cảm thấy như được yêu mến như người nhà đi xa trở về.

Nhà văn Vương Hoài Uyên từ Quảng Ngãi vào học Văn Khoa Sài Gòn là một người được Sài Gòn đón tiếp như con dân của Sài Gòn hoa lệ: “Ðầu thập niên 70, tôi bước chân vào giảng đường Đại Học. Từ miền Trung vào, Sàigòn đối với tôi như một miền đất hứa vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ. Vào đến thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô gái Sàigòn ăn mặc theo mốt Hippy, rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…Một lần vào ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo – Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, do mất bình tĩnh khi tránh một người đi bộ ngang qua đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương rách da cằm. Mấy người dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì ít, sợ thì nhiều, tôi hoảng hốt chẳng biết phải làm gì. Hồi đó, đâu có điện thoại để gọi người thân như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ tôi dậy. Anh bảo tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe đạp ven đường trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện may vết thương ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này, mà không hề có chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện. Vị bác sĩ vừa may vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương này thì sẽ trở thành một cái sẹo to đấy.” May xong vết thương, anh thanh niên tốt bụng kia lại chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của tôi vẫn dựng bên đường. Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và nghĩ sao Sàigòn lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh niên kia có thể thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết đâu mà tìm. Hình ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với lòng cảm mến và biết ơn sâu sắc. Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào Sàigòn đi ngang qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm xưa, tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể. Hai người thanh niên tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, họ đã là những ông già trên dưới 80 tuổi. Trong lòng tôi, họ mãi mãi vẫn là biểu tượng cho một Sàigòn nhân hậu năm xưa”.

Ngày 30/4/1975, ngày tang tóc của Sài Gòn. Thành phố đổi chủ, đổi tên, Sài Gòn vong thân không còn là Sài Gòn nhân hậu của những tháng ngày cũ. Nhà thơ / nhà văn / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã xót xa: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / như giòng sông nước quẩn quanh buồn / như người đi cách mặt xa lòng / ta nhủ thầm em có biết không?... Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / mất từng con phố đổi tên đường / khi hẹn nhau ta lạc lối tìm / ôi tình buồn như đã sống thêm”. Ca khúc làm bâng khuâng người Sài Gòn này được sáng tác trong tù vào cuối thập niên 1970. Thường nỗi nhớ của người xa Sài Gòn mới là nỗi nhớ da diết nhưng dù sao đó cũng chỉ là  nỗi nhớ hoài niệm từ xa. Ca khúc của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ thiết tha day dứt của người vẫn sống trong lòng Sài Gòn, còn trong cái mất. Vậy nên đây là ca khúc mang tính cách chứng từ của người mất Sài Gòn ngay trong lòng Sài Gòn. Ca khúc bị nhốt tại Sài Gòn cho tới khi Hồ Trường An được đi Pháp. Tại căn chung cư của Nguyễn Đình Toàn ở Cali, anh kể cho tôi nghe đường đi ra hải ngoại của ca khúc bất hủ này. Anh cho biết anh đã cùng Hồ Trường An ra bờ sông bên làng Báo Chí để hát cho An nghe và học thuộc lòng cả nhạc lẫn lời. Hồ Trường An không biết nhạc nên khi anh qua Pháp, hát cho nhạc sĩ ghi lại, ca khúc đã có vài điểm sai cả nhạc lẫn lời. Báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái đã phổ biến bản này dưới cái tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”, ca sĩ Jeannie Mai là người đầu tiên trình bày bản nhạc này nhưng sức phổ biến chỉ hạn chế. Khi Khánh Ly hát, bản nhạc mới gây sóng gió tại hải ngoại. Thời gian đó, tôi còn kẹt ở Việt Nam nhưng đã được nghe qua đài VOA. Dân Việt còn ở trong nước đã khóc thầm mỗi khi nghe bản này. Nguyễn Đình Toàn kể là không biết tại sao công an lại nghi ngờ anh là tác giả và gọi anh lên làm việc khi anh còn ở trong tù. Anh chối, dĩ nhiên. Lý do anh đưa ra là một nhà văn nhà thơ như anh đâu có thiếu chữ mà phải đặt cái tên ngớ ngẩn “niềm nhớ không tên”. Anh thoát tội. Sau khi qua Mỹ vào năm 1998, anh mới nhờ Khánh Ly hát lại bản đúng cả nhạc lẫn lời và dùng cái tên nguyên thủy “Nước Mắt Cho Sài Gòn”!