Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

865 . THÂN TRỌNG SƠN : CUNG ĐÀN LỖI NHỊP Truyện dịch FRANÇOIS MAURIAC (1885 – 1970) Giải Nobel Văn học 1952

 


Nhà văn FRANÇOIS MAURIAC (1885 – 1970)


François Charles Mauriac sinh ở Bordeaux, trong một gia đình buôn rượu vang  giàu có, mồ côi bố khi chưa đầy hai tuổi. Sau khi tốt nghiệp trung học, Mauriac vào học văn học tại Đại học Bordeaux, tốt nghiệp năm 1905 với bằng thạc sĩ. Sau chuyển đến Paris , vào học trường École nationale des chartes năm 1908; sau một số thành công ban đầu, ông bỏ học, chuyên làm báo và sớm trở thành nhà văn độc lập. Năm 1909, theo lời khuyến khích của tòa soạn báo Temps présent ( Thời đại chúng ta ), Mauriac xuất bản tập thơ đầu tiên Les Mains jointes ( Những bàn tay gắn kết ), nhưng phải đến năm 1922 ông mới nổi tiếng là nhà viết tiểu thuyết có tài với cuốn Le Baiser aux lépreux ( Nụ hôn cho người hủi ).

Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tuy không phải nhập ngũ vì lý do sức khỏe, François Mauriac vẫn tình nguyện tham gia tổ chức Hồng thập tự,  phục vụ trong quân y viện hai năm ở Balcan, năm 1918 mới giải ngũ. Trong thập niên 1920, ông viết hàng loạt tiểu thuyết, trong đó có cuốn Le Désert de l'amour ( Sa mạc tình yêu ) được tặng giải thưởng cao nhất của Viện Hàn Lâm Pháp. Thése Desqueyroux (1927) cũng là tác phẩm thành công, được giới phê bình coi là tiểu thuyết Pháp hay nhất đầu thế kỷ 20. “ Ổ rắn độc “ (1932) kể về một bi kịch gia đình với nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc được coi là điểm đỉnh trong sáng tác của Mauriac. Năm 1933, nhà văn được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp.

Thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, François Mauriac tham gia chống phát xít Đức chiếm đóng Pháp, ủng hộ Charles de Gaulle. Tiểu thuyết Le Cahier noir (Cuốn sổ đen) được trao tặng huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Sau năm 1945, Mauriac làm đại diện Pháp trong tổ chức UNESCO. Lần đầu tiên ông được đề cử tặng giải Nobel  vào năm 1946, nhưng phải 6 năm sau mới được trao giải. Từ đó đến cuối đời, Mauriac xuất bản thêm 2 cuốn tiểu thuyết, hàng loạt hồi ký (chủ yếu về de Gaulle) và làm báo. Nhà văn mất tại Paris  năm 1970.

Thése Desqueyroux" là một tác phẩm nổi tiếng của François Mauriac, xuất bản năm 1927, kể về cuộc đời của Thése, một người phụ nữ sống trong một gia đình quyền thế ở miền tây nam nước Pháp. Thérèse bị buộc phải kết hôn với Bernard Desqueyroux, một người đàn ông mà nàng không yêu. Cuộc hôn nhân không tình yêu này đã đẩy Thérèse vào một trạng thái cô đơn và tuyệt vọng.

Khi Bernard phát hiện rằng Thérèse đã cố gắng đầu độc mình, anh ta không đưa nàng ra tòa, thay vào đó, Bernard và gia đình quyết định che đậy vụ việc để bảo vệ danh dự gia đình. Thérèse bị giam giữ trong nhà và bị cách ly khỏi xã hội. Cuối cùng, sau nhiều tháng bị giam cầm, Thérèse được thả ra, nhưng nàng vẫn phải sống dưới sự kiểm soát của Bernard và gia đình hắn. Cuộc đời nàng bị lãng phí trong sự cô độc và không bao giờ tìm được hạnh phúc. 

"Thése Desqueyroux" là một tiểu thuyết sâu sắc về cuộc đấu tranh nội tâm của một người phụ nữ bị trói buộc trong một xã hội gia trưởng. François Mauriac đã khắc họa chân thực cảm xúc và suy nghĩ của Thérèse, từ đó tạo nên một nhân vật phức tạp và đáng thương. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện về sự bất hạnh của Thérèse mà còn là một lời phê phán sâu sắc về những ràng buộc và áp lực mà xã hội áp đặt lên phụ nữ.

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết được viết một cách tinh tế, đầy chất thơ và giàu cảm xúc. Những miêu tả về cảnh vật và tâm trạng của Thérèse đã tạo nên một bức tranh sống động và ám ảnh về cuộc sống của nàng. François Mauriac đã sử dụng ngôn ngữ để làm nổi bật sự cô đơn và đau khổ của Thérèse, khiến người đọc không thể không cảm thông với nàng.

Mặc dù được viết từ gần một thế kỷ trước, "Thése Desqueyroux" vẫn giữ được giá trị thời đại và tiếp tục là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật. Câu chuyện về Thérèse là một lời nhắc nhở về sự cần thiết của tự do cá nhân và quyền được sống hạnh phúc, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Với Thérèse Desqueyroux, chính Mauriac cũng đã thú nhận cùng con trai của mình rằng, khi viết tác phẩm này, ông muốn mượn nhân vật nữ chính nói hộ những điều mà ông tin rằng mình không thể nào chịu đựng nổi trong cuộc sống lúc đó của ông.

864 . ĐINH CƯỜNG (1939 - 2016): hai bài thơ cho Hồ Đình Nghiêm

 

ĐINH CƯỜNG (1939 - 2016): hai bài thơ cho Hồ Đình Nghiêm

Rừng Scibilia mùa thu, photo by Phạm Cao Hoàng, 4 November 2018


SAU MÙA ĐÔNG
ĐI ĐÂU CŨNG THẤY SỬA ĐƯỜNG

gởi Hồ Đình Nghiêm

Chân dung Hồ Đình Nghiêm, dinhcuong, tháng 5.2012

Tháng năm nắng thắm rừng xanh lại
những ngày đi trong màu xanh lá cây
những ngày đi trong màu hoa rực nở
sau mùa đông các toán sửa lại đường

đi đâu cũng thấy đường đang sửa
toàn xe cơ giới. nhẹ. nhanh làm sao
nghĩ lại mới thấy thương mình đã gặp
một toán người sửa đường trên B’lao

những người sửa đuờng dùng tay bưng đá
đẩy xe ba gác chất đầy gạch xanh
bạc phếch áo quần. đầu che nón lá
mặt che khăn. bụi  nắng ôi chao …

lại nhớ đến nhà thơ Hữu Loan thồ đá [*]
những năm về Nga Sơn ở ẩn quê nhà
sáng đi bộ nhìn đoàn xe sửa đường tân tiến
mà thương quê mình. nghèo. sao cứ festival …

Virginia, May 8, 2014
 [*] Hữu Loan (2.4.1916 – 18.3.2010)
Nga Sơn – Thanh Hóa


BA GIỜ SÁNG
ĐỌC ĐOẠN GHI CỦA HỒ ĐÌNH NGHIÊM
TRÊN SANGTAO.ORG VÀ NGỒI GÕ…

12 giờ khuya ngủ, khoảng 3 giờ sáng dậy, thường hay bật lướt qua computer.
Đọc được đoạn ghi của Hồ Đình Nghiêm …sáng ra tôi lại đi bộ 
qua Starbucks ngồi một mình. Mùa hè cha mẹ hay dẫn thêm các con theo,
không khí nhộn nhịp hơn, đôi khi không có chỗ ngồi , bưng ly cà phê
ra ngồi ở băng ghế để bên ngoài cho người hút thuốc lá. Tôi hút thuốc lá dữ lắm
mà qua đây phải bỏ, vì tánh  hay sợ phiền, hay trời tuyết lạnh mà ra đứng
ngoài hút thì cũng …không phải. nên con gái nói thôi ba bỏ thuốc là tôi bỏ.
như vậy là hai chục năm. Tôi qua đây mới đó tính đến nay đã hai mươi bốn năm.

Có gặp Hồ Đình Nghiêm mấy lần khi qua Montreal, một thời đông vui bè bạn.
Nhớ con phố Saint Denis nơi Phạm Nhuận ở, đêm uống rượu cùng nhau. Thời nhóm Việt Thường tổ chức kỷ niệm Bùi Giáng, thời Võ Đình và cả tôi qua bày tranh, thời có Trịnh Công Sơn qua thăm gia đình…Nay hình như Luân Hoán dọn đi xa hơn, Hoàng Xuân Sơn cũng vậy…các bạn ít gặp nhau cùng Song Thao, Lưu Nguyễn … Nguyễn Đông Ngạc thì đã mất, nhớ chiếc tẩu thuốc rất ấm của Ngạc.

Nghiêm Bích và hai cháu trai nay đã tốt nghiệp đại học đã đi làm, 
Có qua Virginia thăm cũng có ghé qua Starbucks, biết đường đi sau cánh rừng Natick
Chắc không để ý nghe tiếng còi tàu hụ. tiếng còi tàu mỗi ngày ngang qua vùng Burke này
Gợi nhớ kỷ niệm. Thì cứ nhớ. cứ cũ kỹ . người ngồi cũ kỹ . Nhìn cách tân mà thích mà
ham, nhưng nếu cố gắng làm theo thì đâm ra lại… cũ kỹ .

Thì thôi mình cứ bình chân như vại, cứ thật thà như đếm mà sống. còn làm được gì thì làm với lòng thành cho vui. Vui thôi mà. Như Bùi Giáng. Đôi khi bè bạn viết qua viết lại không phải như ngưởi ta hay nói áo thụng vái nhau mà chính chiếc áo thụng đôi khi lại che được chúng ta qua một cơn mưa. Tình người và tình bè bạn ở chân trời góc biển.

Virginia, June 26, 2013

Hồ Đình Nghiêm - Lê Tấn Lộc - Lưu Nguyễn - Luân Hoán - Đinh Cường - Phạm Nhuận
Montreal - Canada, 1992

863 . NGUYỄN MINH NỮU Từng có một thời

 

Nhà trong rừng Scibilia – Photo by PCH (2015)



Căn nhà nằm gần cuối một con hẻm ở đường Nguyễn Tri Phương này tôi đã đến nhiều lần, nhiều tới độ không nhớ đã bao nhiêu lần. Từ những năm đầu thập niên 1970, khi đó, Bùi Công Bằng là Ca Trưởng của Đoàn Du Ca Giao Chỉ, đó là một nhóm thanh niên là nhiều giáo sư và học sinh của trung học Đắc Lộ có chung sở thich ca hát. Tôi đến đó để gặp khuôn mặt trắng trẻo, đôn hậu và hàm râu xanh mượt mà luôn kèm nụ cười hào sảng. Hơn năm mươi năm qua đi, căn nhà cũ ngày xưa đã sửa chữa tân trang một chút cho phù hợp với thời đại, nhưng vẫn giữ nguyên một trệt một lầu như trước. Cái bàn gỗ dài lên nước bóng bên cạnh cây Piano nằm sát vách, cái kỳ diệu là khuôn mặt xưa dù tóc bạc phơ, hàm râu dài rậm trắng tinh vẫn rộn rã tiếng cười hào sảng. Tiếng cười của chàng thanh niên tuổi hai mươi ngày xưa và của ông già gần bảy mươi với đàn cháu nội ngoại sao vẫn như chẳng có gì thay đổi.

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

862. NGUYÊN CẨN - VỊ NGỌT ĐẦU ĐỜI.

                                                                                     

 

Một đêm mưa chợt thức giấc nghe tiếng mưa reo trên mái nhà bâng khuâng nhớ lại trong giấc mơ tình cờ gặp những gương mặt tưởng đã nhạt nhòa trôi xa trong ký ức. Nỗi nhớ ngập tràn như Henry Miller có lần nói “Sứ mệnh con người trên mặt đất này là nhớ. “Hình ảnh không theo lớp lang nhưng lần lượt hiện về.

Kỷ niệm đầu đời giống như những nét vẽ đầu tiên, vụng về nhưng rất thật, nhất là khi nó bất ngờ xuất hiện trong mơ.

Trong mơ lại thấy biển, lại thấy những đồi cát mênh mông tưởng chừng vô tận ngày thơ trẻ, những lần nghỉ học kéo nhau vào những bụi cây sum suê, hái trâm, loại trái mà ngày ấy Vũng Tàu nhiều vô kể. Trái trâm chín có vỏ ngoài đen như than, ruột bên trong tím ngắt, vị ngọt quyện với một chút chát nhẹ, thường ăn kèm với muối ớt sẽ ‘đã’ hơn. Trái trâm mọc thành chùm giống như nho, có thể hái cả chùm rồi ngồi bỏ vào bao ra biển hóng gió, nhâm nhi những trái trâm chín mọng tím đen ngọt .Người ta nói mùa trâm bắt đầu từ giữa tháng 4, kéo dài đến hết tháng 6 nhưng ngày ấy hầu như mùa nào cũng có ít nhiều . Khi nhắc đến quả trâm rừng, nhiều người sẽ nhớ ngay đến bài đồng dao quen thuộc:

"Trời mưa lâm râm.

Cây trâm có trái.

Con gái có duyên…".

Quên sao được hình ảnh một câu học sinh thành phố vì không kịp chuyển trường giữa năm lớp 6 lần đầu theo ba mình ngượng nghịu vào một ngôi trường đạo, Thánh Giuse …ở Trung tâm thành phố. Nhìn những lớp học khang trang, học sinh nghiêm cẩn học hành, ngoài hành lang một vị cha áo đen đi đi lại lại, gương mặt nghiêm trang, đó là ngài Tổng giám thị, cha Hiệp, dáng cha mạnh mẽ, cứng cỏi, cặp mắt thì khỏi nói, không có học sinh nào dám nhìn. Có hai thầy phụ tá nhưng hầu như cha luôn trực tiếp đi rảo quanh các lớp và cả sân trường. Bọn trẻ gọi cha là “Hiệp sĩ áo đen “nhưng hiệp sĩ này không đeo kiếm mà có một cây roi mây rất to và theo lời kể của những “tội nhân “đã nếm đòn thì chỉ hai roi là không đứng dậy nổi! Từ thành phố ra, tôi hầu như bị cô lập vì chung quanh là những kẻ xét nét, xem cái thằng ‘Sài Gòn ‘này có chịu chơi, hòa hợp không. Một khó khăn mà tôi gặp phải là do chuyển nơi học giữa năm nên không kịp chuyển trường công vì ba tôi quá bận, ông nhận thầu một công trình quân sự của quân đội Úc nên phải ra Vũng Tàu và mang tôi theo nên quyết định học trường tư cho dễ. Cũng mất khoảng gần 10 ngày mới thu xếp được, tôi bỏ mất một chương trong môn Toán, phải cố gắng nhiều hơn các bạn. Mẹ và 2 em ra sau. Thầy giáo dạy toán, thầy Đính, rất nghiêm, đứa nào ho hay có dấu hiệu cảm là thầy đuổi ra khỏi lớp. Thầy dạy lại hơi khó hiểu nên trong lớp có đứa cũng muốn chống thầy nhưng không biết cách nào thì thời cơ đã đến một cách không ngờ.

Đó là một buổi chiều thứ sáu có giờ dạy của thầy mà lại là 2 tiết cuối. Thầy đi trễ. Thằng Tuấn, con một ông chủ xe đò, quậy nhất lớp la lên “Thầy nghỉ rồi, bay ơi! Tụi mình ra biển tắm đi! “Quay sang tôi, Tuấn hất hàm “Thằng Nguyên, mày đi không?” Tôi nghĩ đây là dịp tốt để làm quen va kết thân với chúng nó, đám “xóm nhà lá hổ báo “này, nên gật đầu ngay “Tao đi “. Khi cả bọn vừa ùa ra hành lang xuống cầu thang, nghe tiếng thằng Lạc, một thằng hiền lành nhút nhát gọi vói theo “Thầy tới rồi kìa! Tụi bay dô đi!”, nhưng thằng Tuấn gằn giọng “Đi thôi, kệ ổng cho ổng biết thế nào là dạy dở! Biến theo tao nhen tụi bay. “Tôi ngần ngừ nhưng thằng Tuấn xô vai nói “Mày đi theo tụi tao, nhát như thỏ thì dô Sài Gòn mà ở.” Thế là tôi theo cả đám chúng nó lấy xe đạp phóng ra biển. Nơi chúng chọn là Bãi Dứa, có tên thơ mộng là bãi Phong Trần. Chúng tôi ngồi chơi trên các mỏm đá và tắm biển, 17 đứa tất cả, tung tăng mãi đến gần 5 giờ khi bóng chiều đã hiện lên mặt biển. Mặt trời hắt những tia nắng cuối cùng trong ngày. Cả bọn lục tục kéo nhau ra về. Những gương mặt nghịch ngợm cũng mệt mỏi khom mình chạy thật nhanh về nhà. Riêng tôi, một cảm giác hối hận tràn ngập vì tôi sợ ba tôi sáng mai đây khi nhà trường ra quyết định kỷ luật sẽ buồn vì tôi trong khi ông đang hy sinh làm việc ngày nào cũng đến 2, 3 giờ sáng mới về. Tôi cắn môi suy nghĩ và trong một tích tắc hồi tâm tôi phóng xe về thẳng trường vừa lúc đang tan. Tôi chạy vội, vất xe dưới một gốc cây, cắm đầu chãy thẳng đến phòng Tổng Giám Thị. Tôi gõ cửa, cha Hiệp thò đầu ra, “Mày lớp nào?” Tôi lí nhí “Dạ, lớp 6A2”. “Vô đây”, cha nói “Mày tìm cha có chuyện gì?”

 Tôi nói ngay “Thưa cha, con có lỗi xin thưa với cha. Cha tròn mắt “Lỗi gì?” Tôi lúng túng giây lát mới mở miệng được:” Dạ, hôm nay tụi con trốn học giờ Toán thầy Đính đi tắm biển vì tưởng thầy nghỉ “Cha gằn giọng “Sao mấy đứa không chờ thầy?”  Tôi đành thứ thực “Dạ, thầy nghiêm quá nên tụi nó sợ.” Cha bật cười “Sợ mà dám trốn học?”

 Tôi cảm thấy bình tĩnh hơn “Cha cứ phạt con nhưng xin cha đừng mét ba con “. Cha hỏi tiếp “Bao nhiêu đứa?”  “Dạ 17 đứa.”  “Mày nhớ tên không?” “Dạ nhớ được một số bạn tại con mới từ Sài Gòn ra nên không biết hết các bạn.” Cha nói “Biết đứa nào thì kể tên ra. “ Tôi kể được khoảng 7 đứa . Cha ghi nhận và hỏi “Còn mày tên gì?” “Dạ, con tên Nguyên.” Cha gật đầu, cúi xuống hý hoáy ghi tên tôi và nói “Thôi về đi. “

Ngày thứ bảy sinh hoạt tập thể nên phải đến sáng thứ hai, chúng tôi mới được thầy giám thị thông báo 17 em nghỉ học chiều thứ sáu lên gặp thầy Tổng Giám thị sau giờ học. Nhiều đứa đi chơi hò hét gào la là thế mà bây giờ mặt mày tái mét, hỏi nhỏ “Bây giờ nói sao tụi bay?” Thằng Tuấn tỉnh bơ “Kệ mẹ nó, có sức chơi có sức chịu, chắc lĩnh roi rồi, chịu khó nhét mấy cuốn tập dô đít quần cho đỡ đau .

 Và chúng tôi vào phòng Cha Hiệp, chờ tất cả ngồi yên, cha nói “Đứa nào bày đầu cho tụi bay trốn học?” Không đứa nào dám trả lời vì thằng Tuấn rất dữ, không đứa nào dám trái ý nó. Cha lại nói “Nếu tụi bay không khai là cha hạ hạnh kiểm hết.” Tụi nó nhìn nhau rồi cúi đầu yên lặng. “Cha hỏi thằng Tuấn “Mày tên Tuấn phải không? Mày nói coi vì sao trốn học? “Tuấn lẩm bẩm “Dạ tại thầy dạy tụi con hổng hiểu gì hết mà nghe tin thầy nghỉ tụi con mới đi, hổng biết thầy đi trễ.” Cha gằn giọng “Bịa đặt. Nói dối là phạm tội với Chúa nhen con. Chúa cấm nói dối qua Điều Răn Thứ Tám: ‘Ngươi không được làm chứng dối hại người lân cận mình’nhấn mạnh sự dối trá đi ngược lại bản chất của Thiên Chúa, là Cha sự thật, và có hại đến linh hồn, danh dự, mối quan hệ con người; khi phạm lỗi, hãy ăn năn ngay để được Chúa tha thứ. Các con còn nhỏ mà đã nói dối là mầm mống của sự hư hỏng trong tương lai. Cha biết là thầy đi trễ, có đứa nói là kêu tụi bay trở lại nhưng tụi bay cố ý trốn học, Biết tội chưa?”

Cả đám gật đầu “Dạ, tụi con biết tội rồi.” Bây giờ sao, cha sẽ đánh mỗi thằng 2 roi tượng trưng cảnh cáo. “

 Từng thằng một nằm lên cái bệ xi măng trong phòng thầy. Thằng Nguyên đâu?” Tôi lí nhí “Dạ thưa Cha, con đây.” Cha dõng dạc “Mày bước ra về. Còn 16 thằng ở lại.” Bọn nó trố mắt nhìn tôi, kinh ngạc. Không đứa nào biết chuyện gì xảy ra vì Cha không nói gì. Cha rờ lưng từng thằng, không được lót bất cứ thứ gì, tập vở, bìa cứng hay giấy … và bắt đầu nện vun vút những ngọn roi, bọn trẻ mím môi, không dám khóc.

Hôm sau vô lớp tụi nó xúm quanh chất vấn tôi “Sao ổng tha mầy?” Tôi lắc đầu “Tao không biết. “Có tiếng léo nhéo “Ba mày quen Cha phải không?’ Có thằng la lên “Chắc nó con rơi của ổng mày ơi! “Mặc chúng nói gì, tôi cũng đã thoát một trận đòn, kinh nghiệm nhớ đời.

 Kỷ niệm thì nhiều dù chỉ có một năm ngắn ngủi, tôi nhớ những ngày trước khi đi học, chở vịt ra chợ cho mẹ bán. Có lần máu bắn tung tóe, một con vịt quẹt cổ vào căm xe đạp, cổ tươm máu, khi giao cho mẹ tôi mới phát hiện. Cả ngày hôm ấy tôi ngẩn ngơ buồn, không biết vì làm mẹ mất một con vịt hay là thương con vịt bị mình làm chảy máu …(?)

 Rồi có một lần thầy Trí, thầy giáo dạy văn rất giỏi, của tôi đến nhà như một sự tình cờ, ghé thăm ba tôi và thầy hỏi ba tôi rằng thằng Nguyên nó có anh em gì ngoài này không thì ba tôi chỉ nói rằng gia đình ở đây nó là lớn nhất, thằng anh ở Sài Gòn học thi tú tài không ra đây. Nó ra Vũng Tàu với hai thằng em thôi mà thầy hỏi vậy nghĩa là sao thì thầy Trí mới nói:“Là vì khi cho lớp làm bài Việt văn lục cá nguyệt (học kỳ) vừa rồi, tôi chấm bài văn của nó, cho nó 17 điểm rưỡi trên 20. Lớp nó đồn rằng là thằng anh nó làm dùm bài luận cho nó. Chứ không phải là nó làm mà cũng vì tôi thấy bài của nó không có giống một bài văn mẫu nào hết, khá   độc đáo nên tôi thắc mắc không biết có ở nhà có ai làm giúp nó không?” Ba tôi nói “Không, tôi đi làm suốt ngày tới khuya mới về, nó tự học một mình thôi không có ai ngoài này hết.” Và lúc đó thầy ra cái đề là “Tả một cuốn lịch “thì thường tất cả các học sinh khác đều viết về công dụng của cuốn lịch là coi ngày coi tháng và đảm bảo thời gian vân vân nhưng tôi thì lại mô tả thêm cái bức tranh trong cuốn lịch. Tôi viết đại loại trên cuốn lịch có một bức tranh, cảnh một con trâu nằm với chú mục đồng đang thổi sáo ở một ngôi làng quê Việt Nam êm đềm trên cánh đồng xanh biểu hiện sự an bình. Xa xa, hình ảnh buổi chiều nơi thôn quê khi mặt trời nghiêng bóng hắt xuống cánh đồng một màu vàng óng dịu nhẹ. Khói lam chiều từ những mái nhà tranh bay lên, mỏng manh và êm ả, hòa vào bầu trời đang dần ngả sang màu tím…Lâu rồi tôi chỉ nhớ mang mang vậy.

Đồng thời tôi cũng kết luận là nhớ lời ba tôi dậy là “Xuân bất tái lai” nghĩa là mùa xuân chẳng bao giờ trở lại hai lần do đó tôi phải trân trọng, phải gìn giữ tuổi trẻ của mình.

Vì những điều đó mà thầy thấy rằng suy nghĩ của tôi vượt lên trên tầm suy nghĩ của một đứa trẻ 12 tuổi. Và quyết định cho tôi 17 điểm rưỡi nên khi nghe trong lớp nó đồn rằng là anh nó làm dùm, thầy cũng ngờ ngợ tin, nên muốn đến nhà vừa thăm nhà đồng thời cũng vừa để biết thêm gia cảnh của tôi. Môn toán thì tôi gặp đôi chút khó khăn nhưng sau vài tháng thì tôi bắt đầu phục hồi lại và cuối năm đó tôi đứng hạng hạng 5 trên 52 đứa trước khi chuyển về Sài Gòn trở lại.

 Nhớ thành phố Vũng Tàu với bao nhiêu  nhộn nhịp về đêm và bao nhiêu cám dỗ ,tuy nhiên ba tôi luôn dặn các con phải đi đến nơi về đến chốn không được nhìn ngang ngó ngửa mặc kệ những cô gái  mắt xanh môi đỏ õng ẹo cặp tay mấy anh lính viễn chinh Hoa Kỳ đi nghênh ngang ngoài đường ngoài  phố hay dọc biển , phía Bãi Trước , rất nhiều snack bar xập xình ca nhạc .Nhưng quân đội Úc thì  hết sức nghiêm túc ,sau năm giờ chiều tất cả đều phải cắm trại ở trong doanh trại hết và không ai được không ai được ra ngoài . Ba tôi khen người Úc kỷ luật và dặn tôi phải sống như vậy mới được. Còn bao nhiêu kỷ niệm nữa có thể nhớ như một lần đi chơi với các bạn vào đường hầm trong Tịnh Xá Ngọc Bích nơi quân đội Pháp hay Nhật ngày xưa trú ẩn, chúng tôi cầm đèn cầy đi bỗng dưng tắt ngúm (chắc vì thiếu oxy) tất cả ùa té chạy ra …

Bao nhiêu là kỷ niệm, thời gian đã trôi đi rất xa, bạn bè đã có người đi mãi không về nhưng những ngày tháng cũ vẫn nồng nàn hương sắc một thời.

Bạn trường những bóng phù vân

Xót thương mái tóc nay dần hết xanh (Hồ Dzếnh – Trưa vắng)

Có ai đó nói làm sao quên được những “ngọn gươm giáo gãy “thời tuổi dại. Chúng ta đã xa rời tuổi thơ của mình và không bao giờ trở lại được đồi cát ngày xưa, nơi những kỷ niệm đầu tiên, mộc mạc nhưng trong trẻo và theo ta suốt cả cuộc đời.

Dấu chân trên cát đã phai mờ nhưng trong hình bóng ngày xưa còn đầy lưu luyến. Ẩn sâu giữa những tán cây rừng rậm rạp, những quả trâm nhỏ bé nhưng mang hương vị độc đáo, vừa ngọt vừa hơi chát gắn liền với ký ức tuổi thơ của chúng tôi ở một thành phố biển dù bây giờ không còn nữa! Nhưng vị ngọt đầu đời vẫn còn đọng lại mãi trong tôi.

Lâu rồi còn thoảng mùi thơm

Chân đi nghe động tới hồn ngây thơ. (HD- Trưa vắng)

 

Nguyên Cẩn

 

861. LÊ ĐỨC LUẬN - KỂ CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

                                                                                             


Dòng sông! Nó hiện hữu trong thiên nhiên từ khi khai thiên lập địa như muôn thứ đã có trên quả đất này - tự nó ngàn đời không thay đổi - gom nước từ đầu nguồn rồi khơi dòng chảy ra biển cả. Con người đặt cho nó cái tên là Dòng Sông.

Khi thêm vài chữ kèm theo với dòng sông như: dòng sông êm đềm, thơ mộng hay là dòng sông oan nghiệt, ô nhục… Các thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ dựa vào đó mà “thổi vào” dòng sông “cái linh hồn” và làm ra những tác phẩm rung động lòng người.

Nhưng có một chữ đi kèm với dòng sông - chữ “định mệnh”- đã biến dòng sông thành chỗ riêng tư. Dòng Sông định mệnh chính nó đã ấp ủ và nuôi dưỡng con người hay một cơ duyên nào đó đưa đẩy con người đến với nó. “Dòng sông định mệnh”- nơi con người đã từng gắn bó với nó và cho họ những cảm xúc dạt dào. Và chính những con người đó mới nói lên hay tạo được tác phẩm tuyệt vời.

Các văn nhân, thi sĩ khó lòng nói thay hay chế tác hư cấu. 

Trong đời, ai cũng có những kỷ niệm về một dòng sông. Có những dòng sông lưu trong ký ức, nhưng rất ít được gọi là “dòng sông định mệnh”.

Với tôi, có ba dòng sông lưu trong ký ức và hai dòng sông tôi đã sống chết với nó do định mệnh an bài. Tôi gọi đó là “dòng sông định mệnh”.

Khi thầy, cô giáo dạy tôi tập đọc và học thuộc lòng những bài văn của các nhà văn Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân miêu tả dòng sông Hương ở Huế - êm đềm, thơ mộng - dòng nước trong veo, phẳng lặng như tờ… Hỉnh ành đó đã đi vào ký ức của tôi từ thuở đầu đời.

Khi lên Trung học, học sinh phải học hai ngoại ngữ: Pháp văn và Anh văn. Sách giáo khoa thời bấy giờ có Cours  de Langues (gồm 4 quyển) cho Pháp văn; English For Today (gồm 4 quyển) cho Anh văn. Nhờ mấy quyển sách này mà tôi biết dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris nước Pháp và dòng sông Potomac ôm ấp thủ đô Washington D.C. của Mỹ. Thời đó, nhìn trên bản đồ, thấy hai dòng sông này cách xa vạn dặm, tôi như đứa trẻ nhìn trăng, thấy chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa và không nghĩ có một ngày mình sẽ đặt chân đến những nơi này.

Nhưng hai dòng sông đó đã đi vào ký ức, vì tôi cảm nhận cái nên thơ và lãng mạn của nó qua các bài văn. Mấy mươi năm sau, không ngờ, có một dòng sông đã trở thành “Dòng Sông Định Mệnh” của đời tôi. Đó là dòng sông Potomac.

Còn một dòng sông đã đi vào ký ức, khi tôi có ý thức về chính trị. Đó là dòng sông Bến Hải - một dòng sông hiền hòa bỗng trở thành “dòng sông oan nghiệt” - nó chia đôi đất nước tôi và lịch sử Việt Nam ghi thêm một trang ô nhục - khiến tôi ngậm ngùi!

Đã nói về ba dòng sông đã đi vào ký ức. Bây giờ, tôi kể chuyện hai dòng sông định mệnh: Dòng sông Đà Rằng ở quê tôi và dòng sông Potomac trên đất khách.

Không biết tự bao giờ, khi tôi được sinh ra đời đã có con sông Đà Rằng. Dân quê ở thượng nguồn gọi nó là con sông Ba, ở hạ lưu người ta gọi là sông Đà Rằng và sách địa lý cũng ghi như thế.

Tôi gắn bó với dòng sông Đà Rằng trên hai mươi năm và có “một trời” kỷ niệm…

Kể sao cho hết cái thích thú của những lần tắm sông cùng lũ nhóc trong làng vào những buổi trưa hè… Mùa hè nước cạn, trong veo… phơi ra bờ cát mịn. Lũ trẻ chúng tôi tha hồ bơi lội, có lúc ra giữa lòng sông. Khi nắng lên cao, lũ trẻ men theo bờ cát vào soi (1) nhổ những cây rau đắng mọc dại ven bờ về cho mẹ phơi khô để nấu chè rau đắng - hương vị nồi chè rau đắng rất đặc biệt - chỉ quê tôi mới có. Khi nào có dịp ghé quê tôi, tôi sẽ mời bạn thưởng thức chén chè rau đắng.

Đó là chuyện hiền hòa, dễ thương của dòng sông Đà Rằng vào mùa hạ.

Nhưng sang mùa đông nó “cuồng nộ” đến phát sợ - nước đục ngầu từ nguồn đổ về cuồn cuộn, chảy xiết… cuốn trôi mọi thứ ven bờ. Nhưng sau cơn “cuồng nộ”, dòng sông phủ lên những cánh đồng đất mịn phù sa mầu mỡ, giúp cho dân làng có một vụ mùa bội thu năm tới.

Còn tôi có cái thú vui vào mùa bão lũ là theo cha đặt lờ bắt cá. Các loại cá như cá rô, cá trắng, cá tràu (cá lóc) ngược dòng nước lênh láng khắp cánh đồng tìm nơi đẻ trứng. Chúng nó dại khờ chui vào những cái lờ bóng bẩy mà cha tôi đặt chỗ nước chảy. Ca dao có câu: “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt/ Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô”. Tôi không biết diễn tả làm sao cho hết cái “khoái” khi đi “giở lờ” (nhấc cái lờ khỏi mặt nước) - năm bảy con cá rô đỏ hoe con mắt - rùng rùng trong lờ! Cha tôi cười, còn tôi reo lên khoái chí, mở nắp giỏ cho cha đổ cá vào.

Tôi sống, tôi vui với dòng sông Đà Rằng trong thời niên thiếu. Năm hai mươi tuổi, tôi xa nó để vào Sài Gòn tiếp tục việc học hành, rồi lên Đà Lạt gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Từ đó, đời tôi nổi trôi theo vận nước với bao gian truân và nghiệt ngã - mười năm lính, bảy năm tù cải tạo làm hao gầy trí lực. Dòng sông Đà Rằng chỉ còn trong hoài niệm. Nhưng khi ai hỏi: “Mi ở xứ mô?” - tôi ví von rằng: “Tao dân Núi Nhạn, Sông Đà.” (2)    

Năm 1975, lịch sử sang trang, tưởng rằng: tôi sẽ được trở về với dòng sông cũ, bến đò xưa… Tôi sẽ đứng trên chiếc cầu dài nhất miền Trung, ngắm dòng sông quen thuộc, trông những cồn cát ven sông phủ lên màu xanh của soi dưa, ruộng mía… Xa bờ là xóm làng dân cư đông đúc và tưởng rằng tôi sẽ được sống với hình ảnh êm đềm nơi quê hương yêu dấu.

Nhưng than ôi! Tôi đã bị lưu đày nơi rừng sâu, núi thẳm… rồi biệt xứ ở vùng Thượng du rồi Trung du Bắc Việt gần bảy năm trường. Ngày được thả về, đời tôi coi như “tàn trong ngõ hẹp…”

Đời chỉ “tàn” chứ chưa “tan” trong ngõ hẹp! Nên giờ đây tôi còn có dịp viết những dòng tâm cảm gởi quí bạn đọc chơi.

Năm 1986, gia đình tôi được nguời em vợ bảo lãnh sang Canada, sau đó tôi xin qua Mỹ - định cư ở Virginia - tính đến nay đã hơn bốn mươi năm.

Trước khi rời Việt Nam đi Canada, tôi về quê thăm mẹ tôi, và ra nhìn con sông Đà lần cuối. Tôi có già đi, nhưng dòng sông vẫn thế - nó không già đi hay trẻ lại - nuớc vẫn lững lờ trôi… Không biết nó có buồn khi tôi xa nó? Nhưng lòng tôi cảm thấy ngậm ngùi!   

Ai cũng biết lý do tại sao, sau năm 1975, nhiều người Miền Nam bất chấp hiểm nguy, liều thân sống chết: vượt biên, vượt biển hay tìm mọi cách thoát ra nước ngoài, mặc dù trong lòng vẫn đau đáu với quê hương.    

Từ ngày được định cư ở Virginia, ngoài việc tìm sinh kế nuôi sống bản thân và gia đình, tôi thường tham gia sinh hoạt cộng đồng để tìm nguồn an ủi và hơi ấm đồng hương. Khi cuộc sống căng thẳng, tôi tìm thư giãn ở những nơi có cảnh đẹp sông, hồ… để chụp ảnh. Và tôi đã bắt gặp dòng sông Potomac.

Khi mới đến Virginia còn nhiều bỡ ngỡ,  một người bạn thân đã định cư ở đây từ năm 1975, “đãi” gia đình tôi một chuyến “du ngoạn” trên sông Potomac bằng du thuyền. Du thuyền Spirit khởi hành từ National Harbor (D.C.) ngược dòng sông Potomac đến ngọn đồi thoai thoải Mount Vernon, một khu trang trại rộng lớn, có ngôi nhà trắng, mái ngói đỏ nổi bật ở lưng đồi nhìn xuống dòng sông thơ mộng… hiện tại đã trở thành di tích lịch sử, nhưng trước đây là nhà ở của George Washington, vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã được lịch sử lưu danh là “Cha già dân tộc”.

Du thuyền rời bến khoảng nửa giờ, tôi ngây ngất với cảnh đẹp hai bên bờ sông - những cây hoa anh đào khoe sắc, in bóng lung linh trên dòng nước trong xanh… xa xa là những ngôi nhà cổ kính núp dưới bóng cây cổ thụ cho ta một cái nhìn thoáng đãng và không gian tươi mát. Quay nhìn phía sau là cây cầu vòm đá cổ kính, xa mờ là những tòa kiến trúc đầy kiêu hãnh như Đài tưởng niệm Washington (Tháp Bút Chì), Tòa nhà Quốc Hội...

Ôi! Chưa đầy ba trăm năm lập quốc mà Hoa Kỳ đã tạo được những  kỳ tích phi thường.

Khi đang say mê nhìn cảnh đẹp ven sông, bỗng trong đầu tôi thoáng qua ý nghĩ về lai lịch của dòng sông Potomac. Nó là một chứng nhân lịch sử - từng in dấu chân của những Tổ Phụ lập quốc Hoa Kỳ. Nước của dòng sông này đã từng hòa với máu của những anh hùng trong cuộc chiến giành độc lập từ đế quốc Anh để đất nước Hoa Kỳ có ngày Độc lập: July 4, 1776. Và nó cũng từng là lằn ranh sinh tử cuả những người lính Bắc- Nam trong cuộc nội chiến (1861- 1865).

Thế nhưng giờ đây, dòng sông Potomac hiền hòa ôm ấp mọi cư dân của đất nước, không phân biệt màu da hay chủng tộc. Nó trở thành biểu tượng của sự hòa hợp và là một phần linh hồn tổ quốc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. 

Không phải mình tôi khám phá ra cái kỳ diệu của dòng sông Potomac mà còn có những người đồng cảm. Hãy nghe thi sĩ Phạm Cao Hoàng làm thơ:

khi dừng lại bên dòng Potomac
 em bên tôi vẫn rất dịu dàng
 gió lồng lộng cả một trời Đông Bắc
 tóc em bay trong nắng thu vàng
 
 và như thế mình đi và đã đến
 mình đã tìm và gặp được dòng sông
 tôi ngồi xuống để nghe sông hát
 và đứng lên ôm lấy mặt trời hồng
 
 và như thế mình đi và đã đến
 đã bên nhau thủy tận sơn cùng
 tôi nằm xuống để nghe đất thở
 tạ ơn đời độ lượng bao dung
 
 khi dừng lại bên dòng Potomac
 tôi và em nhìn lại quê nhà
 buồn hiu hắt thương về chốn cũ
 phía chân trời đã mịt mù xa

Và đọc một vài đoạn trong bài thơ “Khi qua sông Potomac” của Nguyễn An Bình:

Chiếc cầu nổi hai bên bờ Potomac
 Cây vẫn xanh màu lá vẫn dịu dàng
 Tôi qua đó nghe dòng sông tự hát
 Khúc tình ca gởi tặng kẻ lang thang

Em ngồi lại cùng tôi bên dòng Potomac
 Để cùng nhau nghe sóng kể chuyện lòng
 Ôi nước Mỹ đất mênh mông đến vậy
 Sao nặng tình thao thức một dòng sông. 

Đấy, dòng sông Potomac đầy tình tự và nên thơ… Nếu bạn ở phương xa, có dịp đến thăm Vùng Hoa Thịnh Đốn (thường được hiểu bao gồm: Thủ đô Washington D.C. và hai Tiểu bang Maryland và Virginia) chớ bỏ qua một chuyến du thuyền trên sông Potomac.

Bạn cũng có thể ngắm cảnh đẹp dòng sông từ các bãi “đậu xe vọng cảnh” (outlook) dọc bên đường George Washington Memorial Parkway - một con đường đẹp nhất ở Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn - bắt đầu từ Beltway I- 495S, exit 43 chạy đến Mount Vernon, nơi có ngôi nhà của Tổng Thống George Washington.

Vào mùa xuân khoảng đầu tháng Tư, hoa anh đào nở rộ - khoe sắc hồng khắp lối; vào cuối mùa thu lá vàng óng ả suốt dọc con đường.

Lái xe trên con đường này, bạn sẽ cảm thấy như mình đang lạc vào chốn thiên thai. Không là thi sĩ, bạn cũng có thể làm vài câu thơ…

Nếu bạn thích bộ môn nhiếp ảnh, hãy chọn bên này bờ sông Potomac, gần cầu Key làm nơi đặt máy - lấy dòng sông làm tiền cảnh, ống kính thu hình hướng về: cầu Key, lăng Tổng Thống Abraham Lincoln, xa hơn là chóp đài tưởng niệm Washington (Tháp bút chì). Thế là bạn sẽ có tấm hình ghi lại được 1/3 phong cảnh biểu tượng cho Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Nếu bạn đến vào dịp Lễ Độc Lập July 4, chớ quên ra bờ sông chờ chụp cảnh bắn pháo bông. Ôi! Từng chùm pháo hoa phản chiếu trên mặt sông… Bạn sẽ có tấm ảnh nghệ thuật chụp phong cảnh tuyệt vời. 

Tôi vừa viết mấy dòng chấm phá cảnh đẹp của dòng sông Potomac. Bây giờ xin nói thêm những điều kỳ diệu ven sông.