Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

989 . TRẦN DZẠ LỮ (1949-26.1.2024) Mười bài thơ.

 

Nhà thơ Trần Dzạ Lữ (1949-26.1.2024)


HÁT DẠO BÊN TRỜI

Ôm nửa vầng trăng lạnh
ta về bên trời cao
hát điên đời hiu quạnh
chống gậy nhìn mưa mau

Tuổi nay gần tam thậpsống lẻ như đá mònbằng hữu mù tăm tắptình nhân như dao đâm

Mấy năm rồi không gặphồn nứt nỗi âm thầmnhất túy buồn thêm đậmca ngâm vời cỏ cây

Cùng chỉ màu khói sươngngẫm nghĩ hoài hương đỏmắt mờ đường chiêm baongắt một cành hoa nhỏnhớ thu biếc hôm nàohồn ta chao chớn giónay biết về nơi đâu?
*1973

 

BÀI THƠ TẶNG CHỊ  Ở ĐÀ NẴNG
                            
Đứa lang bạt mà giờ đây tóc trắng
Phiêu linh về Đà Nẵng một  đêm xanh
Gặp lại chị - người xưa, nay tri kỷ
Ngỡ như mơ! Ngơ ngác hương Quỳnh… 
 
Đêm phả lạnh xuống đêm trần thế
Chị đắp mền cho đứa chiêm bao
Nhỏ nhít đâu! Hỡi người tri kỷ
Em thắp đèn mơ mộng nữa rồi sao? 
 
Xa xứ bao nhiêu năm rồi chị nhỉ
Mà ngày về vẫn nhớ tuổi mười lăm?
Chị cột tóc đuôi gà  bên bờ giếng
Chờ người tình mỏi mắt đăm đăm!
 
Đăm đăm suốt một đời trầm quế
Chị không lấy chồng-nhặt nhạnh cô đơn
Đắp cho cao núi sầu trong mắt
Và biển buồn len lén trong tim… 
 
Gặp lại chị-Em vẫn còn thảng thốt
Đà Nẵng ơi! Hồi niệm chửa phai màu
Nơi bờ giếng, một đêm trăng  ngày cũ
Chị chờ ai đau đáu thuở yêu đầu?

 

BÀI THƠ TẶNG BẠN CŨ Ở HUẾ
 
(Tặng Hà Thúc Quyết , Viêm Tịnh, Nguyễn Đức Cương )
 
Ôi chao! Răng mi lâu ngày rứa
Biền biệt mô không thấy dáng hình ?
Tau vẫn ở bên trời lận đận
Cuộc lữ này –gió bụi buồn tênh!
 
Ba mươi năm-nhắc chuyện tụi mình
Tau thảng thốt như vừa gặp lại
Túy Vân sơn-ngày xưa xa ngái
Rứa mà gần chỉ một gang tay…
 
Ôi chao! T vẫn như mây bay
Tau đuổi bắt thì nàng tan loãng
Bạn phụ trợ, không cách chi được
Đôi khi thèm tay nắm bàn tay…
 
Mộng ngày xưa chừ qúa hao gầy
Thanh xuân vèo qua như lá rớt
Đứng giữa đồng trung niên choáng ngợp
Quê nhà ơi! Hun hút màu mây…
 
Phương Nam hành! Mình gặp nhau đây
Ừ , cạn chén tao phùng đi hí !
Say cho quên những ngày cùng bí
Ôi những ngày lểnh lãng qua sông !
 
Ôi những ngay thèm chút mắt trong
Của T xưa, nhưng làm răng có được?
Thôi cạn chén, rồi mai xuôi ngược
Vó ngựa tình còn nhịp phách phương mong?

 

VÀ NHỚ HUẾ

*Tặng Phạm Đình Dương

Ở đây cũng là ngoại ô
dấu chân thổ mộ cũng thưa thớt chiều
cũng người áo tím liêu xiêu
cũng đêm nguyệt bạch lá vèo sang thu...
vậy mà - vẫn nhớ quê xưa
ai qua Vỹ Dạ tình đưa đón tình?
tóc thề thả gió trâm anh
liếc mắt Tôn Nữ nghiêng thành quách tôi !
mười năm biết có đền bồi
chút hương hoa cũ đâu rồi người ơi !
*Gò Vấp 2005.

 

NGÀY TÀN CUỘC

Gửi hương hồn Vũ Hữu Định.

Ngày tàn cuộc người về thăm quê quánđồng cỏ mừng đón vó ngựa hồng xưachuyện chiến tranh coi như là dĩ vãngsông Thanh Bình tấp nập bến đò đưa

Mẹ ra ngõ chờ con trai trở lạisau nhiều năm đi biệt dáng chim cògiọt lệ mừng và tay vui vẫy gọibếp lửa hồng nhúm lại buổi hoang sơ

Cha chống gậy nhìn trời cao hy vọngsớm mai xanh trên những lối đi vềtiếng ha hả ai đang cười nối mộngcó anh hồi hương tất tả đường quê

Có chị hồi sinh tuổi xưa rực rỡphơi tóc chiều xuân bên giậu hoa vàngbứt lá thẹn thùng như cô dâu mớingậm tình nồng trong răng ngọc thương thương

Ở rừng cao khi giã từ vũ khíta tuôn về ôi rất đỗi hân hoanmười năm giang hồ làm...lất-bất sĩsẽ coi nhu chuyện mây khói bên ngàn

Để ta thắp tình ngợi ca Tôn Nữnụ hôn nào thơm hương sứ hương sen?đường vào nội thành mùa xuân trải chiếuta ru em bằng điệu hát Nam Bình...

Rồi mình sẽ ở đời đời với Huếhương xuân reo thuở có lại quê nhàdù đói dù no tình người vẫn mới
phải không em,người yêu dấu của ta?

*1974
(trước đề tặng VHĐ.sau gửi hương hồn VHĐ)

 

GỌI TÌNH BÊN SÔNG


Có một lần nhớ quá
ra sông đứng gọi tình
tình xa,người hoá lạ
chiều mồ côi cánh chim...

Có một đời xưa quenđã mù sa cổ tíchkỷ niệm sầu chia nhánhĐịa Ngục và Thiên Đàng 

Rạng đông màu mắt emsực nức hương buổi sớmhoàng hôn túa trong anhtừ ngày chia biệt mộng

Qua sông hề sông rộngsoi bóng dài chiêm baobiết tìm nhau nơi đâugiữa mù khơi đời sống?

Có đôi lần đứng ngóngngày tình nhân chia lìavỗ đàn mà hát hỏngnhớ sum vầy xưa kia...

Có nhiều lúc chơi vơihôn Cúc vàng thầm lặngthương ơi tờ lụa mỏngem biệt dạng bên trời.
*1990
(trích HDBT)

 

CẢNH TƯỢNG THÁNG GIÊNG


Về đây mỏi cánh chim trời
ngó sông khói đụn,trông đời dần thưa
mùa xuân ngắt tạnh như tờ
én trong mưa bụi bay khờ lẻ loi

Về đây đời cắt thành đôiđêm tôi bó rọ,ngày phơi tật nguyềntay đàn rung nhớ tình emtrăm năm buồn nỗi bất bình thế gian

Về đây cảnh tượng điêu tànmơ mơ nhân ảnh,bẽ bàng gương xưahồn buồn vọng những âm mưaáo xanh Tôn Nữ bây giờ về đâu?bất cần sao vẫn còn đaumùa tôi dựng tóc lạnh màu thanh niên...
*1973
(trích HDBT)

 

KHI QUA GIỐC MẠ ƠI Ở BA LÒNG

Trong đám đi tìm trầmchốn thâm sơn cùng cốccó người là nông dânbỏ cày lên mạn ngượccó kẻ ở thị thànhbẻ bút làm hảo hớncũng có "anh hùng tận"vác rựa lên sườn noncó tay đời lận đậntìm kiếm phút huy hoànglại có người là thánhcó kẻ là ma vươngtất cả đều thượng sơncô hồn chung một lũngày rừng chan mưa lũrâu tóc ướt phiêu bồngnói chung,đám tìm trầmvì đói cơm rách áongười yêu coi như khôngvợ con như gió thoảngchiều nay,qua Ba Lòngvì đâu,mà thương nhớđâu phải giò phong lantim tím chiều mắt ngó?cũng không phải chùn chântrước núi rừng muông thúnhưng mà,cả binh đoànđều rưng rưng nước mắtlúc leo qua con dốccó tên là Mạ Ơidốc còn cao mong đợitình còn sầu chơi vơiriêng ta,thì em ơinhớ miền Nam tha thiếtSàigòn có em biếtnỗi đau của mưa rừng?không ngãi cũng tìm trầmđó là điều có thật.
*BaLòng 1985.
(trích Hát Dạo Bên Đời)

 

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN VỚI VỢ
 
Bốn mươi năm cứ bịn rịn bên người
Ôi Bồ Tát của lòng anh lúc đến
Bốn mươi năm có lúc tình nín nhịn
Khi lìa đời, đâu biết trước ai đây?
 
Bốn mươi năm, hạnh phúc mình không hay
Nhưng vẫn cứ đeo nhau như đĩa đói
Chuyện chúng mình ,thật tình rất đáng nói
Hôn phối này là giọt sương mai…
 
Nhiều khi anh bay theo núi thẳm sông dài
Em ở lại, vẫn đợi chờ chung thủy
Ôi Bồ Tát của lòng anh đó hỉ?
Thêm xuân này đã rụng bớt tóc mai!
 
Có bão giông mới biết đêm dài
Mưa lâu ngày mới dần dà thấm đất
Sống với một người có trái tim chân thật
Hóa ra mình lỡ vận, vẫn còn may…
 
Hóa ra em vẫn có những ngày
Khi nằm bệnh, anh âm thầm giặt áo
Có gì đâu-mà trách con Tạo?
Hãy vuông tròn cùng cuối giữa trần ai!
 
Đã từ lâu anh cứ làm việc miệt mài
Sáng tinh mơ, chiều đỏ-đèn-đen- đất
Em cắc củm từng đồng bạc cắc
Lo toan cùng, chờ hé lộ ngày mai…
 
Đã từ lâu, mình mới có một ngày
Rất thanh thản- anh chồng em vợ
Bồ Tát ơi! Xin em hãy nhớ
Bài thơ này, anh viết tặng cưng đây!
 Sài Gòn tháng giêng năm 2012

                       

SINH NHẬT EM NGƯỜI TRI KỶ

Hai tay nâng chén rượu …tình
Anh mời em uống, ngày sinh nhật nì !
Hoàng ơi ! Em rất nhu mì
Đêm nay thỏ thẻ lời chi rứa hè ?

Ở mô rồi cũng thương quêMắt em là ánh sao khuya dẫn đường…Suốt đời tri kỷ nghe khôngĐể hương cau ngát bên lòng anh đây!Uống đi ! Cạn nốt ly nàyĐể anh thấy Huế trong ngày sinh em … 

Trần Dzạ Lữ
(1949-2024)

Ghi chú: 10 bài thơ trên được trích từ trang VUÔNG CHIẾU - LUÂN HOÁN.
https://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm-12-4-5.htm

988 . DƯƠNG NGHIỄM MẬU Truyện ngắn TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT


Phác thảo chân dung Dương Nghiễm Mậu - Đinh Trường Chinh


Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại:
-Anh đã về.

Người anh phác một nụ cười:
-Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.

Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối.
-Anh về bao giờ lại đi?
Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm:
-Anh về ở nhà.
Ngươi hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt:
-Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe…À kìa, anh cả về đó sao?
-Dạ chào bác.
-Từ hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được, hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện…

Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói:
-Cha đâu?
-Cha nằm trong nhà.

Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra:
-Cha đang ngủ, anh không lên tiếng.

Người em đứng dậy gài ống sáo lên hiên nhà, bước xuống sân đi vào nhà ngang. Người anh thơ thẩn trong khoảng sân gạch. Vẫn cánh cửa xưa. Có chăng mái ngói nâu tươi nay đã rêu phong, trên sân giữa những khe gạch đã có chỗ cỏ mọc. Cây mít lớn hơn và tàn cây rộng hơn. Người anh nhớ tới người em gái kế. Người anh đi vào nhà ngang nơi người em đang xúc thóc từ cỗ quan tài ra thúng.
-Chị bé đâu em?

Người em đứng thẳng người:
-Chị bé chết ít lâu sau ngày anh đi. Súng nổ từ phía ngoài cánh đồng.

Người anh đứng im.
Người em tiếp tục xúc thóc ra chiếc thúng rồi bưng đổ vào chum để nơi góc nhà. Mồ hôi đọng trên trán, chảy trên thái dương. Người anh đứng lại bên. Người em bốc một nắm thóc đổ vào lòng bàn tay người anh:
-Anh coi, những hạt thóc có tốt không. Năm nay được mùa nhưng thu hoạch không được bao nhiêu. Đồng ruộng bỏ hoang ai nhìn thấy cũng như dao cắt ruột. Cả làng không còn một con trâu. Hôm nấu xôi mới, cha nhắc tới anh và bảo: nếu thằng cả nó ở nhà…

Người anh quay mặt đi, ngắt lời:
-Thôi để mùa sau.
-Mùa sau?

Người em nhắc lại giọng lạnh và buồn.

Những hạt thóc cuối cùng được vét ra khỏi cổ áo quan. Người anh đổ nắm thóc từ tay này sang tay kia:
-Cha vẫn thường gọi đây là những hạt ngọc. Nhiều khi ngọc cũng không giá trị bằng.

Người em nhìn người anh, nụ cười ngậm ngùi. Người anh nhìn em: nó vẫn như xưa chẳng thay đổi gì, lầm lầm lì lì…Người em quét sạch cỗ áo quan, lấy tay kỳ cọ trên lớp sơn bóng rồi gõ vào thành gỗ:
-Gỗ gì không biết, tiếng nó cũng lạ, anh nhớ không?
-Gỗ vàng tâm. Cha đã kỳ công đi tìm nó để sắm áo cho ông nội. Anh nhớ…ông nội còn sống thì nay đã hơn trăm tuổi.
-Anh nghĩ ông nội còn sống?
-Cha đã tìm bao nhiêu nơi, nào có thấy tông tích gì. Tù tội. Có khi xương còn nằm trong nhà tù nào đấy…
-Anh khéo tưởng tượng.
-Biết đâu đấy.

Người em lấy ra chiếc ruột tượng, màu xanh hoa lý đã nhạt, người em nói:
-Anh nhớ không?
-Chiếc ruột tượng của mẹ.
-Đúng rồi.

Người em gập một đầu ruột tượng lại rồi mở ra đầu kia đổ thóc vào một đoạn ngắn rồi gấp đầu thứ hai lại gọn gàng và đặt xuống sau cỗ áo quan:
-Chiếc gôi này êm lắm.

Người em sờ tay lên khắp cỗ áo quan, giọng đều đều:
-Sau khi đắp nâm mộ chung cho bốn người, trong đó có chị bé, cha vỗ tay vào cỗ áo quan nói: có sẵn áo quan đây mà nó đâu được nằm, cái số nó thế chịu thôi…Có thời nào mà chết chùm, tan xương nát thịt chẳng còn nhận ra được. Rồi cha nhìn em bảo: không lẽ tao đóng cỗ quan tài này cho mày?

Người anh lặng im lắng nghe. Bao nhiêu cảnh huống của ngày tháng cũ, khoảng trống những ngay anh vắng mặt:
-Anh nhớ ngày cỗ áo quan được đóng. Còn em?
-Những hình ảnh mơ hồ, lúc ấy anh đã lớn, em còn nhỏ. Từ đó nó ở bên em và những câu chuyện về ông nội do cha kể lại.

Người anh lại gần để tay lên thành cỗ áo quan:
-Hồi đó người ta ta định xử bắn ông nội. Cha chạy ngược chạy xuôi lo tìm gỗ về cho thợ đóng gấp. Nhưng ông nội không bị xử bắn, ngươi ta kết án chung thân khổ sai, biệt xứ. Ông nội bị đưa đi chẳng bao giờ thấy mặt. Cha kêu đám thợ mang đi sơn cỗ áo quan rồi được mang vào nhà ngang, nó ở từ đó tới nay. Những ngày đầu cỗ áo quan làm cho nhiều người sợ, nhưng dần thành quen thuộc, có khi nó dùng đựng thóc, lúc đựng ngô, lúc nhỏ có lần anh và em nằm trong đó trốn cho chị bé đi tìm…

Người em đứng ở đầu cỗ áo quan, đưa hai tay xuống dưới thử nhấc lên:
-Nặng quá. May mà có anh trở về…Lúc trước có lúc em nghĩ nếu mình chết chắc cha sẽ bỏ mình vào đây, nghĩ thế thấy khiếp quá, bây giờ thì anh đã về và em chưa chết.
-Có khi nào em hay cha cho rằng anh đã chết không?
-Mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết …Nhưng anh cũng đã trở về, dù sao em cũng mừng bỡi vì chỉ một mình em thì làm sao mà tha cỗ áo quan lên nhà trên. Anh giúp em một tay.

987 . Nguyễn Đức Nhân CHIỀU THU CAO NGuYÊN. CHƯA TÀN PHAI ĐÂU. ÁNH MẮT NĂM XƯA BÊN HOA DÃ QUỲ.

 

Hồ Xuân Hương (Đà Lạt) - Google images
 

hoàng hôn phố núi
 
ly cà-phê nóng vỉa hè rất thơm. không thể ngăn
mùi nước hoa bốc hơi từ người đàn bà đi ngang qua
 
hoàng hôn phố núi
 
những chiếc lá vàng gởi tin cấp báo
mùa mưa dầm. những ngày sắp tới. sẽ
cư trú trong cơn ho tóc bạc qua đường. và
cơn mưa sẽ ngủ
trên cây đòn gánh cong mệt mỏi áo cơm
dựng bên hông cao nguyên nắng chiều
 
hoàng hôn phố núi
 
hồ Than Thở.  vẫn mây trắng
chẳng hề thở than
Đà Lạt mơ màng
im hơi
chiều thu
 
hoàng hôn phố núi
 
ánh mắt phố núi long lanh
dường như có ai đang gặm nhấm kỷ niệm
trên ngọn thông thắp sáng nắng vàng ấp ủ tiếng chim
chiều rớt lạnh
 
dưới bóng hoàng hôn
 
từ Đà Lạt quay về Phi Nôm. Cầu Đất
những đoá hoa dã quỳ vàng rực được gió chiều ngợi ca
còn nhớ không
mắt cao nguyên long lanh
chiều thu
 
dưới bóng hoàng hôn
 
dõi theo sắc màu cao nguyên
Phi Nôm. Cầu Đất trải lòng.  mây trắng bay
tôi.  mỉm cười
không thể níu giữ đời ai
nơi vòng tay hữu hạn
phận người
 
nụ cười cao nguyên năm xưa
nghiêng nghiêng bên hoa dã quỳ
chưa tàn phai đâu
 
dưới bóng hoàng hôn
 
dọc đương gió bụi. bầu trời xanh lơ tâm tưởng. hơn một lần ảo ảnh
mái tóc cao nguyên. hay
mái tóc chiều thu xưa. bay
bay trên phố thị. ruộng đồng. sa mạc. trùng dương. buồn vui óng ả
mái tóc cao nguyên. hay
mái tóc chiều thu xưa.  bay về đâu
làm sao biết mái tóc bay về nơi đâu là
tận cùng.  chiều thu
 
dưới bóng hoàng hôn
 
những ngọn đồi ấy. đang
bận rộn chuẫn bị đón tiếp mùa hoa vàng. một thuở. thu xưa
đâu cần thiết phải để lại lời nhắn cho cỏ mọc hoang
phải thế không
 
dưới bóng hoàng hôn cao nguyên
 
tôi - bụi đường nhiệt đới
tôi - vỉa hè lang thang. khét mồ hôi Châu Á
tôi - chiếc lá rơi nghiêng chưa chạm đáy mùa
vẫy chào cao nguyên bao la.  huyền ảo tâm tư chiều thu
tôi ra đi
không níu giữ đời ai nơi vòng tay hữu hạn
phận người
 
trên nền trời cao nguyên xanh lơ.  hôm nay.  ngày mai.  mai sau
ánh mắt cao nguyên năm xưa.  bên hoa dã quỳ
chưa tàn phai đâu
còn nhớ không.  chiều thu
 
Đà-lạt, 01/6/2021

986 . Chùm thơ Đặng Tấn Tới






TÌNH CÁT BỤI


Một ít tơ xanh rụng tóc hồ
Nơi đâu là nghĩa trắng hư vô
Bao nhiêu gương thắm đằm gương nước
Soi đến không cùng đất bạc thô

Mỗi ngày tôi vẫn đến bên chân
Thả chẳng xa và nắm chẳng gần
Đôi mảnh thơ hồng hương đắm đuối
Ơi tình cát bụi mãi còn ngân



MẦU XỨ SỞ


Tôi còn lại bên bờ non biển thẳm
Đợi bao lần xa mất giữa trăm năm
Sầu hoang loạn xứ sở nào bước gặp
Mạch thơ mầu cổ lục mắt đăm đăm

Người từ buổi lên đường mang lửa đốt
Gió sương mùa thao thức màu long lanh
Sông reo sóng trường sa hồn phiêu hốt
Dội diêu tàn biền biệt xuống xuân xanh

Tôi nay đứng trên đường thương thế kỷ
Ngả mười lăm mười bảy đã qua nhanh
Lời mời gọi vô cùng cơn lâm lụy
Ánh hoa đời ngời rạng suối tình anh



CÁT BỤI THƠ


Đây xương máu còn xanh sông núi
Nọ linh hồn vẫn suối tình mơ
Bao nhiêu bước mất, chân chờ
Gặp hoải trong cát bụi thơ tuôn trào



TRƯỚC ĐÈN KHUYA


Việc vặt trong ngày vừa tạm yên
Khuya chong đèn nhỏ sáng trời riêng
Còn nuôi một điểm hồng trang trắng
Bút mực về xa, nồng lửa thiêng



NGÀY SAU


Đi vào mây nước thẳm
Còn hạt cát vu vơ
Ngày sau ai nắm được
Cảm thật đến ban sơ



GỞI NGƯỜI XƯA
ĐÃ ĐỂ LẠI CHO NGƯỜI SAU


Tài tử duyên còn gặp
Thất thanh cười khóc nhau
Trăng tình chung chảy máu
Hừng hực lửa thơ mầu



HOA VASSIKA


Hoa rơi từng cánh úa
Phấn lụa mặc lòng mơ
Hương tình đâu bén nữa
Trăng sáng vườn ban sơ



CÁNH BIẾC


Đàn hạc xuân về biếc
Trời vui theo cánh lưa
Ngàn cao không dấu vết
Hồn đẹp thoảng xa đưa



SUKHAVAGGA  DHAMMPADA


Đất trải lòng chân thật
Thân trần lượng nước qua
Đâu hận thù còn mất
Vô thình rêu thắm hoa



TÂM KHÚC


Nếu không,  lòng chẳng đợi
Như có, hồn đâu đau
Trời xanh ngát mãi sau
Trăng sao còn chín tới



CÒN NHAU


Chút lòng trong cát bụi
Sáng ngoài hương cỏ cây
Đêm trăng tơ mềm núi
Ta còn nhau ngắm mây



NGŨ TUYỆT


Ngàn thu trang cỏ vắng
Nở hoa sương một đêm
Một thoáng hương dịu mềm
Long lanh lòng bất tuyệt


Đặng Tấn Tới

Đặng Tấn Tới sinh năm 1943 tại An Nhơn, Bình Định, tác giả của các tập thơ:
  
MƯA MẮT TÌNH           1968
TÂM THU KINH            1970
TUYỆT HUYẾT CA       1972
THI THIÊN                      1973
TRÚC BIẾC                    1974

Đặng Tấn Tới bị stroke cách đây hai năm, từ đó đến nay anh phải ngồi xe lăn. Chùm thơ trên trích trong tập bản thảo “Lửa và Hoa – BÊN BỜ NĂM THÁNG HAI NGÀN” do một người bạn của nhà thơ- anh Mang Viên Long- chuyển lại cho chúng tôi.