Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh
nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam,
California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày
cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ
nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn
huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có
một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung
Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ --
chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là
Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông
không lái xe.
Trí nhớ của Cung Tích Biền
có vẻ như tuyệt vời, theo cách ông nói chuyện không do dự; dù vậy, tôi vẫn ngờ
vực có thể có một số chi tiết ông nhầm lẫn, bởi vì bản thân tôi nhỏ tuổi hơn mà
cũng đã thấy trí nhớ lãng đãng bên triền mây trắng. Đôi khi ngồi uống cà phê,
tôi hỏi ông về một số người cầm viết Miền Trung, trong đó có nhà thơ Nguyễn
Lương Vỵ, một người tôi rất mực thân thiết trong những năm bạn này còn sinh tiền,
ông kể về những chuyện tôi chưa từng đọc về đời của họ với giọng thương cảm,
lân tài. Bây giờ thì nhà văn Cung Tích Biền cũng ra đi rồi.
Có thể tóm tắt vài câu về
cuộc đời của nhà văn Cung Tích Biền hay không? Tôi muốn viết theo chủ quan của
mình rằng, nhà văn họ Cung là người chủ hòa: bước vào đời từ thời niên thiếu trong
vùng kháng chiến với nhiều năm hoạt động nơi sân chùa, bị xô đẩy theo đủ thứ
sóng gió giũa một thời nội chiến, rồi sống như một nhà văn đời thường với các
đam mê rất người, nhưng tận cùng luôn luôn là một ngòi bút đi tìm cái đẹp ngôn
ngữ trong khi đưa ra những dòng chữ kêu gọi hòa bình và lời ước mơ có các quyền
làm người. Cần ghi nhận: nơi đây chúng ta nói "chủ hòa" để
tránh chữ "phản chiến" -- một cách nói tương đương, nhưng có lẽ
đã bị ô nhiễm. Thực sự, chủ hòa chính là lý tưởng nhân bản nhất của nhân loại,
cũng là của lời dạy của Đức Phật, rằng chúng ta không nên làm tổn thương bất kỳ
ai, bất kỳ sinh vật nào.
Cung Tích Biền đã kể rằng
ông trong thời thiếu niên đã đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính
trong thời đó ông cũng đi đánh đàn, chơi nhạc. Thời gian này, ông cũng là một
huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Trong một bài viết, khi kể về 2 tuần lễ tới khu
Chợ Được để huấn luyện cho các đoàn sinh Phật Tử, ông gọi đây là những ngày hạnh
phúc.
Tháng 7 năm 2024, ông viết
bài "Vương Trùng Dương: Một Cây Bút Đa Diện" ghi rằng: “Một
lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ
Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi
đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của
Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi.
Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông.
Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương
Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là
những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi”.
Đó là lời ông nói, rằng đó
là những ngày vui, hạnh phúc... Chúng ta có thể hình dung rằng những năm hoạt động
ở sân chùa thời niên thiếu đã hun đúc tâm hồn ông, đã dẫn tới khuynh hướng chủ
hòa theo lời dạy của giới luật, rằng không ai có quyền gây tổn thương hay sát hại
ai. Thêm nữa, chắc chắn rằng Cung Tích Biền phải dạy cho các đoàn sinh Phật tử
kia về lời dạy Lục Hòa, tức là sáu pháp hòa thuận, từ ái và tôn trọng lẫn nhau.
Người nào sống được như thế, sẽ thấy tâm mình y hệt như chữ viết trên nước,
không có gì để phải sân si giận dỗi trong cõi này.
Ông kể lại với nhà văn
Vương Trùng Dương rằng, sau năm 1954, khi đất nước chia đôi, "lúc đó
anh 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới
tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành
phần Cộng Sản nguy hiểm nên sau đó được thả ra."
Hiển nhiên rằng ông cân
nhắc rất kỹ trước khi cầm bút sáng tác với bút hiệu Cung Tích Biền. Ban đầu,
ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 1958 dưới nhiều bút hiệu khác nhau như
Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3 năm 1966 (tức là ba
năm sau khi vào quân lực VNCH), bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên
trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với hai truyện ngắn Ngoại
ô Dĩ An và Linh hồn tôi. Tại sao chọn bút hiệu Cung Tích Biền? Nhà
thơ Luân Hoán kể rằng ông chọn bút danh này đơn giản vì đây là tên ghép từ tên
của các anh chị ruột trong gia đình. Trong đó, chữ "Biền" là tên một
người anh đi tập kết. Nghĩa là, ông viết trong khi ý thức rằng bút hiệu của
mình đang có tên một người anh đã tập kết, và rồi mất tích.
Nhà văn Vương Trùng
Dương kể rằng Cung Tích Biền có 2 người anh chết cho cuộc chiến phân đôi này.
Người thứ nhất trong gia đình hy sinh là ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, tập kết ra
Bắc, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai là ông Trần Ngọc Tấn,
Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm
1975, ông Tấn đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình chỉ được
thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất.
Cung Tích Biền sinh ngày
8 tháng 2/1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từng theo học tại trường
Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Trước
khi vào quân đội VNCH, từng đi dạy học tại các trường trung học ở quê nhà Quảng
Nam vào năm 1960. Năm 1963, bị động viên nhập ngũ và theo học khóa Sĩ quan (trường
Bộ binh Thủ Đức. Từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp, quân nhu
và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Năm 1973, Cung Tích Biền giải
ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở thành giáo sư thỉnh
giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).
Sau năm 1975, ông ngừng
viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt đầu cầm bút trở lại,
có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông Hương, Văn Nghệ) lẫn
các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da Màu). Nhà văn Cung Tích
Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 theo diện vợ con bảo lãnh. Tại Hoa Kỳ, Cung
Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm. Tính chung là hơn 150 truyện ngắn
và trên 30 tiểu thuyết, một số đã in thành sách, đã được dịch sang Pháp và Anh
ngữ, và hàng trăm bài khác ở nhiều thể loại...
Khi nhìn lại, Cung Tích
Biền nói lên tâm sự rất buồn, qua bài viết về một nhạc sĩ cũng có thời trẻ ở
vùng kháng chiến. Bài viết nhan đề "Phạm Duy, Người Đi Cùng Mệnh Nước
Ngược Xuôi -- Ra Đi Từ Lúc Trăng Tơ" đăng trên Việt Báo ngày
03/02/2023, với những dòng chữ tự sự rất buồn của họ Cung, trích:
"Chúng tôi chào
đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ. Cái
buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng thể
ra ngoái nỗi nhớ…. Là nhà văn, khi cầm bút, quá khứ luôn đứng đầu chỗ ngọn bút.
Mỗi giọt mực là một giọt/dòng dĩ vãng. Tất cả cái “bản đồ số phận” trong Cõi nhớ
ấy, trong một thời/không gian có hạn định, đã từ lâu trôi qua. Có khi trôi tút
mù trong bộ nhớ của nhơn loại. Nó như xác một con dán chết khô trong kẹt tủ, dưới
gầm bàn bỏ quên. Mà chúng tôi vẫn nhớ. Nhớ tận mạng, li ti, day dứt. Không có
thước tấc nào đo đạc đủ bề sâu chiều rộng cái Nhớ ấy. Nhìn chung, chúng tôi, chừng
là một tộc người đang đánh mất hiện tại, mù đôi mắt nhìn ra tương lai. Chỉ dặm
dài, hun hút một đôi-mắt-luôn-sau-ót, phản chiếu những phó bản của Ngày qua."
(ngưng trích)
Cuộc đời ông là như thế,
một thời ở sân chùa, một thời thiếu niên trong vùng kháng chiến chống Pháp, rồi
tới cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc: chào đời vào buổi không mấy vui, phải sống
với một đôi-mắt-luôn-sau-ót... và không thoát khỏi nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ
nào? Chúng ta có thể suy đoán rằng ông luôn nhớ mãi thời cầm đàn đi tới các sân
chùa để hướng dẫn các đơn vị Gia Đình Phật Tử, mà ông gọi là những ngày vui, những
giờ hạnh phúc. Thực tế, chiến tranh cũng là thời mà bất kỳ ai cũng là nạn nhân.
Tư tưởng chống chiến
tranh của Cung Tích Biền được hiển lộ trong truyện “Thừa Dư” một cách điển
hình. Truyện “Thừa Dư” viết tại Sài Gòn năm 1992, tức là thời kỳ hậu
1975. Truyện kể về hai anh em sinh đôi Dư và Thừa, sinh ra trong một gia đình
đông con. Ngay từ khi chào đời, hai người đã giống nhau đến mức gần như không
thể phân biệt. Trong bối cảnh chiến tranh, hai anh em chia lìa: Thừa cưới vợ,
vào lính VNCH, rồi giải ngũ và trở về khai hoang ở vùng núi Bình Thuận; Dư thì
phiêu bạt theo một con đường khác. Thừa bị tai nạn trên đường từ rừng về và phải
cưa mất chân trái. Nhiều năm sau, người kể chuyện là Ngọc nhận được thư của Thừa,
mời về quê để cùng bà con trùng tu nhà thờ họ. Dịp này, Dư cũng sẽ về làng,
nhưng cũng bị cưa chân, không được truyện nói rõ lý do, nhưng Cung Tích Biền
ghi là do lý tưởng, trích: "Trong hương xưa ngất ngây, không ai than
phiền mình đã bị gãy cẳng, hoặc vui vẻ được gãy cẳng vì lý-tưởng-có-sẵn-mì-ăn-liền."
(Ghi nhận: lý tưởng này không được giải thích rõ trong truyện.)
Cả hai anh em đều đã mất
một chân: Thừa mất chân trái, còn Dư mất chân phải. Trong đêm văn nghệ mừng
khánh thành nhà thờ họ. Dư và Thừa cùng lên sân khấu trong tiết mục “Anh em
một nhà, chúng ta cùng tiến bước”. Vì mỗi người chỉ còn một chân, họ dìu
nhau, ghép hai thân thể thành một hình tượng có đủ hai chân nhưng hai thân người,
hai cái đầu. Dư chơi guitare, Thừa thổi khẩu cầm. Cuối truyện, Ngọc, Dư và Thừa
ngủ chung một giường. Trong đêm, Thừa đắp mền cho Dư và Ngọc; khi chân họ chạm
vào nhau, Ngọc chợt nhận ra rằng ba người họ, sau tất cả những biến động của lịch
sử, chỉ còn sống trên bốn cái chân.
Đoạn kết Cung Tích Biền
viết, trích: "Gần sáng, trời trở lạnh. Thừa quơ mền đắp cho Dư và đắp
quàng qua cho tôi. Chân chạm vào nhau mới sực tỉnh: Hóa ra trong bao năm dài
chúng tôi ba người chỉ có, và chỉ sống trên bốn cái chân. Lịch sử từ lâu nhường
bước cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua..."
Một điển hình cho nền văn học chủ hòa khác:
truyện ngắn Bạch Hóa, do Cung Tích Biền viết sau trận Mậu Thân, 1968. “Bạch
Hóa” lấy bối cảnh một vùng quê Việt Nam bị chiến tranh tàn phá. Nhân vật trung
tâm là chú Sáu, một người nông dân ít học, cả đời gắn bó với ruộng đồng và đàn
bò. Đối với chú, con bò không đơn thuần là gia súc mà là một phần của đời sống,
lao động và thế giới tinh thần của mình. Chú từng có một con bò đực rất khỏe,
nhưng nó chết vì đạn pháo. Từ đó, chú đặc biệt quý trọng hai con bò còn lại, nhất
là con bò con.
Chiến tranh đã biến làng
quê thành nơi đầy chết chóc và sợ hãi. Sáu Vu, một người từ lâu rời làng trở về,
đã tổ chức một cuộc xử án và chặt đầu chính cha của y là Hương Đằng, nhân danh
cách mạng. Sau đó, chiến tranh tiếp tục làm làng xóm tan hoang, người dân bỏ
đi, ruộng vườn bị phá hủy, bom đạn trở thành một phần của đời sống hàng ngày.
Trong căn hầm tránh
pháo, chú Sáu sống cùng cô con gái Miệng và con chó đen. Miệng còn trẻ, nhưng
chiến tranh đã khiến cuộc sống của cô bị bóp nghẹt. Chú Sáu thương con gái,
thương người vợ đã chết và cảm thấy con người đang bị đẩy trở lại tình trạng sống
như súc vật. Một đêm, pháo kích dữ dội. Một mảnh đạn xuyên vào sau đầu Miệng và
cô chết ngay trong căn hầm. Con chó cũng chết. Buổi sáng, con bò cái bị bom giết
chết. Chú Sáu mất dần tất cả những gì thân thuộc: vợ, con, bò, chó và quê nhà.
Ngọc, người thương Miệng, âm thầm đào huyệt chôn cô và con chó.
Bốn tháng sau, chú Sáu
phải rời quê đến một khu định cư. Chú chỉ còn con bò con. Ở thành phố, chú
không thích nghi được với đời sống mới. Người ta cấp cho chú nhà cửa, thực phẩm
và quần áo, nhưng những thứ ấy không thể thay thế quê hương, ruộng đồng, cánh đồng
và đời sống cũ. Chú vẫn chỉ nghĩ đến việc kiếm cỏ và chăm sóc con bò. Cuối
cùng, một trận pháo kích giết chết luôn con bò con. Nó bị phá tan thành thịt,
máu và thuốc súng. Đối với chú Sáu, đó là giọt nước cuối cùng. Chú quyết định
trở về quê, mặc dù mọi người cảnh báo đó là “vùng oanh kích tự do”, nơi người
ta có thể tùy ý bắn phá.
Trên đường về, chú Sáu gặp
Ô Mã Nhi và những người du kích. Họ buộc tội chú là gián điệp và đọc một “bản
cáo trạng” giả tạo để kết án tử hình. Thực chất, tờ giấy ấy chỉ là một mảnh giấy
thu lúa, nhưng Ô Mã Nhi dùng nó làm cớ để giết chú. Chú Sáu chết mà không kịp
biết rằng chính người con trai của mình, Đích, cũng bị họ tuyên án tử hình.
Phần cuối truyện chuyển
sang Đích, con trai chú Sáu, lúc này là một người lính Quốc gia. Đích cùng đơn
vị trở về vùng quê của mình. Anh nhớ lại tuổi thơ, những cánh đồng, gia đình và
những con bò ngày trước. Nhưng nơi quê nhà giờ đây chỉ còn cây cháy, nhà đổ, hố
bom và những dấu vết chết chóc.
Đích gặp một đứa trẻ sống
sót. Đứa trẻ nói cha mẹ mình đã chết dưới hầm và nó không còn gì để sống. Thế rồi
một người lính khám phá ra một xác một cụ già chết đã sình thối dưới mương. Người
lính nói xác ấy mặc áo viện trợ Chicago. Đích không biết đó là xác cha mình.
Khi đoàn lính hành quân và rồi quay về lại, anh chợt hỏi: “Ơ, hồi nãy có đứa
nào chịu khó chôn lão già không bây.” Truyện kết thúc ở đó, để lại một cảm
giác đau đớn về một người con đã trở về quê nhưng không còn quê nhà, và có thể
đã đi ngang qua xác chính cha mình.
Để kết bài này, chúng ta
có thể nhận ra rằng ước mơ của nhà văn Cung Tích Biền cũng chính là những gì đã
được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đó là quyền biểu tình để đòi quyền sống,
đó là quyền tự do ngôn luận, và các quyền căn bản khác. Trong bài đưa tiễn
Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền viết bài "Ông Dương, Ông Đã Đi Rồi"
vào tháng 9/2019, trích:
"Sáng hôm nay,
ngày chủ nhật. Mỗi buổi sáng cuối tuần tôi thường đi vơ vẩn khu trung tâm thành
phố, quanh nhà thờ Đức Bà. Xem có gì “lạ” không. Xa xa, trên đường phố, có thể
có một đám đông. Một đám đông dân chúng đi biểu tình đòi quyền sống, quyền ngôn
luận, quyền làm chủ một đất nước có danh dự. Một phản xạ có điều kiện, cứ sáng
sáng chủ nhật là tôi ra khỏi nhà. Như ngày ngày của một gã ăn xin, mong được bố
thí, nửa ổ bánh mì, một mẩu vụn lời hứa cho Tự do..."
Thế đó, cái mà chúng ta
nơi đây gọi là nền văn học chủ hòa trong truyện Cung Tích Biền vẫn có mục tiêu
cụ thể, đó là ước mơ có quyền làm người. Những ngày Chủ Nhật của Cung Tích Biền
khi còn ở quê nhà là những bước đi chờ đợi, hy vọng cho một ngày người dân Việt
Nam được sống tử tế như con người, được tôn trọng các quyền làm người, để được
nói và viết tự do.
Khi Cung Tích Biền từ trần,
sách của ông vẫn chưa được phép in lại tại Việt Nam; nhưng chúng ta vẫn có thể
tin rằng sẽ tới một ngày các quyền làm người, các quyền căn bản ghi trong Hiến
chương LHQ sẽ được tôn trọng và thực hiện tại quê nhà. Bởi vì, sâu thẳm của ý
nghĩa “chủ hòa” trong truyện của Cung Tích Biền là xuất phát từ lời dạy Lục Hòa
trong các sân chùa khi các đơn vị Gia Đình Phật Tử sinh hoạt, nơi đó hoàn toàn
vắng bóng bạo lực, nơi đó là hòa nhã, từ ái, và tôn trọng lẫn nhau. Thực sự, chủ
hòa là ước mơ lớn của lịch sử nhân loại, bất kể ở quốc độ nào và với bất kỳ dân
tộc nào. Và nền văn học chủ hòa chắc chắn sẽ đưa tới một ngày cứu được dân tộc
Việt Nam, khi mọi người nhìn nhau như anh em một nhà và xa lìa hẳn một quá khứ bạo lực.
Xin từ biệt nhà văn Cung
Tích Biền. Anh đã có một chỗ đứng độc đáo trong văn học Việt Nam. Những gì anh
viết sẽ được nhiều thế hệ về sau suy ngẫm, nghiên cứu và để rút ra bài học về lời
kêu gọi chủ hòa.
(Một số trích đoạn
trong bài này đã được tác giả đọc trong tang lễ nhà văn Cung Tích Biền hôm Thứ
Hai 28/9/2026 tại Quận Cam, California.)
PHOTO:
Nhà văn Cung Tích Biền