Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

884 . PHẠM VĂN NHÀN . Phạm Cao Hoàng : giấc mơ vẫn còn nguyên

                                                                                 


                                                                               

Chân dung Phạm Cao Hoàng
Tranh Đinh Cường (Tháng 11.2010)


Nhiều người đã viết về Phạm Cao Hoàng, nhưng với tôi, viết về Phạm Cao Hoàng có lẽ khác với những người đã viết về nhà thơ này. Bi vì, Phạm Cao Hoàng với tôi có một mối thâm tình vừa là bạn, vừa là em cũng có thể. Với tôi,  Phạm Cao Hoàng gần gũi không phải mới ngày hôm nay mà gần gũi vào những năm tháng thật xa, có thể trên 40 năm rồi cũng phải.

Ngày đó, do chiến tranh đưa đẩy, thành phố Qui Nhơn nơi lưu dấu những bước chân từ phương xa đến. Và cũng từ cuộc chiến này, nơi thành phố Qui Nhơn này, tôi có những người bạn văn nghệ thật tình quý mến. Những người bạn mà cho mãi đến hôm nay vẫn còn giữ nguyên. Nói đến Qui Nhơn tôi không thể nào quên những người bạn "chí cốt" thật dễ thương trong đời sống hằng ngày của tôi, cho dù  cuộc sống có đổi thay vì tình hình đất nước.

Khi nói đến  Phạm Cao Hoàng tôi lại nghĩ đến hai người bạn khác nữa, đó là Trần Hoài Thư và Lê Văn Trung. Đúng vậy, khi viết về Phạm Cao Hoàng mà không nói đến hai người bạn Trần Hoài Thư và Lê Văn Trung là một thiếu sót trong tôi. Hình như năm 1968 thì phải, Phạm Cao Hoàng, Lê Văn Trung đến Qui Nhơn  theo học ngành Sư Phạm để sau này ra trường làm thầy giáo. Còn tôi, sau những năm lội ở phía Bắc Bình Định từ cuối năm 1965, có biết Qui Nhơn là gì đâu. Thành phố đó như một lần mơ ước để về, mà nào có được. Bỗng dưng tôi cũng về và sống nơi thành phố này mấy năm. Trong mấy năm đó, từ năm 1968, 1969, Trần Hoài Thư, Phạm Cao Hoàng, Lê Văn Trung tôi thường xuyên gặp nhau. Cái duyên văn nghệ, văn gừng ấy đã kết chặt chúng tôi lại cho mãi đến hôm nay. 

Mà nghĩ cũng lạ, sau khi tôi được điều về hậu cứ, trước trận Mậu Thân, làm một anh chàng dạy lính học thì chuyện đánh đấm ngoài mặt trận tôi không màng đến nữa. Thế mà, nơi nào cần thì cấp trên lại  điều tôi đi. Như  khi quận Tuy Phước bị đột kích, thiếu tá Tùng quận trưởng chết. Hai giờ sáng, lệnh trên bắt tôi phải thành lập đơn vị đưa toán quân lên quận Tuy Phước  gấp để giữ an ninh. Đến nơi, một quận trưởng chết, một cô giáo sinh Sư Phạm chết, một cô bị thương nặng. Hình như cô giáo sinh Sư Phạm này cùng khóa với Phạm Cao Hoàng, Lê văn Trung thì phải? Thế rồi Trần Hoài Thư cũng đưa quân có mặt bên ngoài quận. Gặp mhau trên máy, tôi mừng vì có bạn tôi an ninh mặt ngoài. Sau quận Tuy Phước lại đến Mậu Thân năm  1968, cái duyên thật kỳ cục, tôi lại bị chỉ định dẫn  đơn vị ra giữ an ninh tuyến đường chỗ cây xăng Ông Tề trên đường Gia Long, mấy ngày ở trên đoạn đường đó chẳng sao. Sáng 29 tết. Có lệnh rút để đơn vị bộ binh vào thay thế. Hóa ra lại là đơn vị của bạn tôi – Trần Hoài Thư. Đêm 30 tết Mậu Thân, Trần Hoài Thư bị thương nơi chính cây xăng Ông Tề này mà tôi giữ an ninh đêm 29 tết.  

Qui Nhơn qui tụ nhiều anh em cầm bút, lính có, dân sự có, trốn lính cũng có. Những cậy bút thành danh một thời trước 1975. Ngày đó, Trần Hoài Thư mỗi lần rảnh rỗi, không bận việc quân hành là từ cầu Bà Di dù về với ba anh em chúng tôi trong căn nhà thuê ở Khu Sáu, gần Ghềnh Ráng. Ngày đó, với tôi, Phạm Cao Hoàng và Lê văn Trung rất dễ thương. Lúc đó, Phạm Cao Hoàng là một giáo sinh nhưng xem ra cũng "bụi" lắm như tôi với Thư. Chỉ có Lê văn Trung là có dáng dấp "đạo mạo chỉnh tề” của một ông thầy trong tương lai. Ngày đó,  Hoàng có một nụ cười mà ngay chính chúng tôi cũng còn mến huống hồ đám con gái. Nụ cười ấy, đôi kính cận ấy làm sao chúng tôi quên được phải không Lê Văn Trung và Trần Hoài Thư?

Phạm Cao Hoàng (1969)
  
Càng ngày cuộc chiến càng khốc liệt. Những người bạn của chúng tôi cũng đã nằm xuống, như nhà thơ Nguyễn Phương Loan trên Pleiku. Ai cũng nhìn thấy rõ chiến tranh, nhất là nơi thành phố Qui Nhơn này. Phạm Cao Hoàng cũng đã nhìn thấy, cũng đã trăn trở:

đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương

(ĐI GIỮA CHIẾN TRANH – 1969)

Ni âu lo trên từng gương mặt. Sự nhạy cảm qua những con chữ để thơ của Hoàng bay bng. Bài Hành Phương Đông của Hoàng là bài thơ tôi rất thích. Trong cuộc chiến tranh này, thiên hạ đang chơi trò chơi "xanh đỏ" trên quê hương chúng tôi mà nhiều lần tôi thường nói đến. Chúng tôi những thanh niên thời ấy, cũng âu lo:

thời bây giờ ta như chim bị đạn
kêu đau thương nay đã suốt bao chiều
bay lảo đảo dưới trời hiu quạnh
đợi tan tành cùng mặt đất buồn thiu

thời bây giờ, của những giọt nước mắt 
ướt đẫm khăn hồng người con gái năm xưa
thời của những khăn tang chít vội
thời ruột đau như cắt nỗi chia lìa

thời huy hoàng của những bầy quạ đen
bay phơi phới giữa phương đông hực lửa
thời của những người đã đánh mất trái tim
chỉ còn bóng hận thù vây mọi phía

(HÀNH PHƯƠNG ĐÔNG – 1971)

Có những đêm trong căn nhà ở Khu Sáu, nhìn ngọn hỏa châu trên đỉnh núi Ghềnh Ráng, Trần Hoài Thư không về. Mặt trận nơi nào nữa đây đến với Thư?

Viết về  Phạm Cao Hoàng. Mà tại sao phải viết về thơ? Có nhiều kỷ niệm với bốn anh em chúng tôi lắm mà. Viết bao nhiêu giấy cho đủ. Bốn người: ba người định cư ở Mỹ. Một người còn lầm lũi sống ở khu kinh tế mới Đồng Nai  ngày hôm nay. Tháng 4 năm 2014, tôi về nước, trong dịp giỗ anh Từ Thế Mộng, vợ chồng Lê văn Trung từ kinh tế mới Đồng Nai ra thăm. Hai chúng tôi ngồi trong  ngôi nhà của tôi ở Phan Thiết, ngôi nhà có tới 100 tuổi, mà Phạm Cao Hoàng và Trần Hoài Thư đâu? Lê Văn Trung hỏi. Một nỗi buồn xen lẫn nỗi vui tôi gặp lại Trung. Nhắc đến những tháng năm khi còn ở Qui Nhơn, nay mỗi người mỗi ng. Nhìn Trung, già và ốm. Không như ngày xưa. Hình Lê Văn Trung đây. Phạm Cao Hoàng và Trần Hoài Thư xem hình và hai bạn còn nhớ những câu thơ của  Lê văn Trung viết trên tường nhà trong Khu Sáu Qui Nhơn: ..." Em nào hiểu giữa cơn say/ta chiêm bao thấy một ngày rất xa/tình không không cửa không nhà/ lòng như mây trắng bay qua biển chiều..." . Cúc Hoa ơi! Chị Yến ơi! Thu của tôi ơi! Hiệp ơi! Ngày đó, bốn đứa chúng tôi "bụi " lắm. Tình không. Tiền không. Mà người vẫn nói: tiền lính tính liền đấy nhé.


Lê Văn Trung - April 2014 (Ảnh PVN)


Vâng, phải viết, viết về những kỷ niệm thời còn rất trẻ.
Tôi kèm theo đây một tấm hình chụp vào giữa năm 1969. Tấm hình chụp như một kỷ niệm khi tôi với Trần Hoài Thư về thăm Tuy Hòa. Hai người lính lấy phép sao không về thăm quê nhà, mà lang thang thăm những người bạn? Thôi thì tạm mượn mấy dòng thơ của Thâm Tâm để tri lòng:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say...

(TỐNG BIỆT HÀNH – Thâm Tâm)


Phạm Ngọc Lư  Trần Hoài Thư  Nguyễn Lệ Uyên  Phạm Văn Nhàn
Tuy Hòa 1969  (Photo by PCH)


Hình này chụp trước ngôi nhà nhỏ của Ba Mẹ Phạm Cao Hoàng, người chụp là Hoàng. Phạm Cao Hoàng có còn nhớ không? Phải chi ngày hôm đó có ai chụp dùm cho thì đủ năm anh em. Tôi nhớ chiếc áo mà Trần Hoài Thư mặc trên người ngày hôm đó là chiếc áo pull của Phạm Cao Hoàng.

Gần đây, đọc được bài thơ CHA TÔI của Phạm Cao  Hoàng trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo, viết về người cha đã mất cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.

ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi  
để lại đàn con trên quê hương tan tác   
để lại trong tôi vết thương  mang theo suốt cuộc đời

bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương

(CHA TÔI – 2015)

Dạo ấy, mỗi lần ghé Tuy Hòa, tôi ở lại cùng Phạm Cao Hoàng trong căn nhà nhỏ ấy. Đọc bài thơ CHA TÔI,  tôi nhớ đến ngôi nhà và hình ảnh của bác trai. Bác cao, hơi gầy và da ngăm đen. Cái đen của nắng và gió của một người nông dân thuần chất. Hiền và độ lượng. Ngôi nhà có cái chái bếp nấu ăn bằng những thanh củi. Ngôi nhà có bộ ván ngựa mà tôi với Trần Hoài thư thường nằm ngủ. Ngôi nhà với lối đi từ đường Nguyễn Huệ vào với những thửa  ruộng nhỏ như vuông chiếu nằm, đầy ắp tình yêu thương. Đọc bài thơ, hình ảnh bác trai lại hiện ra trước mắt. Sao bác lại qua đời khi chiến tranh kết thúc vậy bác? Còn nỗi buồn nào hơn khi  chiến tranh  đã chấm dứt trên quê hương mà bác lại ra đi? Sao Bác không ở lại để nhìn thấy các con của bác và bạn bè không còn phải sống trong cảnh mịt mù khói lửa của cuộc chiến tranh này? 

Tôi muốn viết một chút về Phú Thứ, quê hương của Phạm Cao Hoàng.

mùi hương của đất làm con nhớ
những giọt mồ hôi những nhọc nhằn
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh

mùi hương của đất làm con tiếc
những ngày hoa mộng thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùa lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền

(MÂY KHÓI QUÊ NHÀ - 1999)

Đọc những câu thơ này trong bài MÂY KHÓI QUÊ NHÀ của Phạm Cao Hoàng, tôi nhớ con đường dọc theo mương dẫn thủy nhập điền từ đập Đồng Cam về tưới tiêu cho cánh đồng Phú Yên. Tôi lại nhớ đến năm tháng ở trại A.30 và ngày được thả cho về trên chuyến xe lam chạy trên con đường ấy. Những cánh đồng xanh màu xanh của lúa, Tôi xuống xe tìm đến một gia đình quen: cô Mãn, ngày xưa làm y tá tại Bệnh Viện Đa Khoa Nha Trang, làm chung một phòng với vợ tôi, có người em trai tên Khang cũng ở chung với tôi trong trại A.30. Ngày tôi về, Khang nhờ  tôi là ghé Phú Thứ thăm chị. Tôi tìm được cô Mãn khi cô đang làm cỏ lúa ngoài ruộng. Cô đưa tôi về nhà. Làng ngập toàn tre xanh, mát rượi trên con đường quê, đầy bóng mát. Những cây cau cao vút đang trổ buồng. Đêm đó tôi ngủ lại Phú Thứ. Rất rõ và thèm: nồi cá rô thơm mùa lúa mới  như trong thơ  Phạm Cao Hoàng.

Năm 1969, tôi ra khỏi Qui Nhơn. Đổi về Tháp Chàm, một thị trấn nhỏ của Tỉnh Ninh Thuận. Ngày đầu về Tháp Chàm, đi qua Cầu Móng, gặp một người dừng xe lại hỏi tôi có phải Phạm Văn Nhàn không? Và người bạn giới thiệu cho tôi biết là nhà thơ Võ Tấn Khanh. Hỏi ra mới biết Phạm Cao Hoàng nói trước với Võ Tấn Khanh tôi về đây. Năm đó,  Phạm Cao Hoàng ra trường đổi về Bình Thuận, Lê văn Trung ra Quảng Ngãi. Rồi Trần Hoài Thư cũng rời khỏi Bình Định về cao nguyên rồi vô Nam. Bốn chúng tôi cũng không còn ai ở lại Qui Nhơn và căn nhà trong Khu Sáu nữa. Chỉ có Thỉnh thoảng tôi còn gặp Phạm Cao Hoàng ở Phan Rí Cửa, khi Hoàng dạy học ở Duồng. Sau đó Hoàng  lên Đà Lạt, vừa dạy học vừa tiếp tục theo học tại trường Đại Học Đà Lạt rồi lấy vợ lập cư trên đó.

Viết về người bạn ngày nào, với những kỷ niệm một thời sao mà nhớ quá đỗi. Viết về những kỷ niệm. Những kỷ niệm vẫn còn nguyên đó, mỗi lần nói đến, những hình ảnh ngày xưa của những bạn tôi vẫn còn y nguyên. Như giấc mơ của Hoàng vẫn còn nguyên với Cúc Hoa và bạn bè. Rất tiếc, dù ở cùng một quốc gia, mà sao thấy xa vời vợi. Ước gì, gặp lại, ngồi với nhau bên tách trà nóng để nghe Phạm Cao Hoàng ngâm thơ. Với ai tôi không biết, chứ với Phạm Cao Hoàng có một giọng ngâm thơ tuyệt vời như  một người nghệ sĩ diễn ngâm thực thụ. Giọng ngâm thơ đã ghi dấu những kỷ niệm trong căn nhà Khu Sáu không có ánh điện mà chỉ có ánh đèn dầu lửa.  Có phải thế không Trần Hoài Thư?

Texas, May 10, 2015

883 . TẠP CHÍ VĂN PHONG PHÂN ƯU NHÀ THƠ LÃM THÚY TỪ TRẦN.

Nhà thơ Lãm Thúy
Photo by PCH - New Jersey, 5.2017
                                                              

Nhà thơ Lãm Thúy

Thành Kính Phân Ưu

Nhà Thơ LÃM THÚY NGUYỄN THỊ THÚY,

 pháp danh Tịnh Liễu 

sinh ngày 15/5/1952 tại Cần Thơ đã từ trần lúc 11.51 đêm 08/08/2026, nhằm ngày 26/06/năm Bính Ngọ.

 

Lãm Thúy đi dạy học tại Cần Thơ trước năm 1975. Khi định cư tại Hoa Kỳ, chị tiếp tục làm thơ trên các Tạp chí văn học Hải Ngoại như Thư Quán Bản Thảo, Văn, Văn Học, Văn Bút Miền Đông và một số trang mạng như Tạp Chí Văn Phong, Diễn Đàn Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Trang Nhà Trần Thị Nguyệt Mai.... Chị từng đảm trách Chủ Tịch Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ trong hai nhiệm kỳ  từ 2008 đến 2013. 

Và xuất bản nhiều thi tập nổi tiếng như CÒN RIÊNG NỖI NGẬM NGÙI, THÂM TÌNH, TỪ MẪU.

Tạp Chí VĂN PHONG chân thành chia buồn với Anh Trần Nam và cháu Thúy Quỳnh. Và xin chung lời cầu nguyện:

 Hương linh Lãm Thúy Nguyễn Thị Thúy siêu thăng cực lạc.

 

TẠP CHÍ VĂN PHONG


882 . TT THAI AN - HẠNH PHÚC CỦA MỘT BÀ LÃO

                                                                                                     



Đôi vợ chồng ông bà Vượng đã về hưu từ lâu.  Họ sống thoải mái trong căn nhà single house hai tầng, loại duplex ở quận Fairfax, Virginia.  Bà Vượng mua căn nhà này từ năm 1975 nhờ số tiền bà đem qua từ Việt Nam khi chạy di tản vào tháng 4,1975.  Hai vợ chồng và hai đứa con gái sống trong căn nhà này cho đến khi các con có gia đình thì dọn ra, chỉ còn hai ông bà ở lại.

Bà Vượng nhờ khôn ngoan, biết buôn bán đồ cổ trước 1975, xây nhà cho Mỹ thuê mỗi tháng vài trăm đô la US thời đó là sung túc lắm.  Đã thế, bà còn làm thư ký trong tòa Đại Sứ Mỹ, lương khá cao so với công chức thời VNCH.  Ông Vượng làm sỹ quan cao cấp ngành cảnh sát đặc biệt, tuy nhiên lương tháng của ông chỉ đủ để ông tiêu dùng, bà không cần đến. 

Hai ông bà lấy nhau theo như người đời ví von là “rổ rá cạp lại”.  Vì ông góa vợ khi vừa ngoài 30, còn bà ly dị chồng khi vừa ngoài 20.  Ông lớn hơn bà 10 tuổi.  Hai người có hai cô con gái với nhau. Bà Vượng cho các con học trường Pháp.

Đến ngày 26 tháng 4, 1975, chưa thấy xếp tình báo người Mỹ của ông Vượng đưa gia đình bà đi di tản.  Bà đến thẳng văn phòng của chồng để nói chuyện với xếp của chồng:

-Nếu ông không cho gia đình tôi di tản, tôi đã sắm sẵn 1 quả lựu đạn, nếu không đi được thì mấy mẹ con tôi tự tử chết hết.

Ông xếp thấy vậy bèn trấn an bà:

-Bà cứ về nhà thu xếp mỗi người một túi nhỏ quần áo và tư trang cần thiết. Ngày mai sẽ có xe đến đón mẹ con bà. Còn ông Vượng phải ở lại với tôi đến giờ chót để hủy phá tất cả hồ sơ, rồi rút lui chung với tôi.

Bà Vượng bắt ông xếp phải thề giữ lời, ông xếp hứa ngay.

Sáng hôm sau, có một xe cứu thương đến trước nhà bà để đem mấy mẹ con bà vào phi trường Tân Sơn Nhất cùng nhiều người bay qua đảo Guam theo chương trình di tản của chánh phủ Hoa Kỳ.

Riêng ông Vượng vẫn đến văn phòng vào sáng 30 tháng 4, chẳng thấy xếp.  Xếp gọi vào bảo ông Vượng phải tự kiếm đường ra đi vì xếp đã phải rút lui lúc nửa đêm không kịp báo cho ông Vượng hay. Ông Vượng hớt hải suy nghĩ cách đi thì chuông điện thoại lại reo. Bên kia đầu dây là tiếng của em trai bà Vượng:

-Giờ này mà anh còn chưa đi sao? Tụi em sắp ra bến Bạch Đằng, anh ra ngay để kịp nhảy lên tàu.

Thế là ông Vượng thoát khỏi Sài Gòn trước 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975 theo ngã đường thủy tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn.

Hai vợ chồng và các con lại trùng phùng trong trại tị nạn ở Guam.  Sau đó họ được đưa vào Mỹ theo chương trình tị nạn.

Ông xếp biết tin ông Vượng vừa tới Virginia thì bay qua gặp gỡ, chúc mừng và xin lỗi đã không kịp đưa ông Vượng di tản.  Sau đó, xếp hết lòng tìm kiếm việc làm mới cho ông Vượng.  Xếp đưa ông Vượng đi gặp một công ty chuyên cung cấp nhân viên bảo vệ cho các tòa nhà của chánh phủ.  Bà Vượng bất mãn nói ngay:

-Tưởng ông kiếm việc gì tốt chứ việc này ai lại để ông Vượng làm kỳ vậy?

Xếp nhăn nhó nói:
-Chứ ông Vượng không có kinh nghiệm chuyên môn về kỹ thuật thì tôi biết kiếm việc gì khác cho ông ấy?  Tôi nghĩ là có việc làm ổn định, có bảo hiểm sức khỏe là tốt rồi.

Bà Vượng trả lời:

-Thì để ông Vượng làm tạm, còn tôi sẽ đi kiếm việc khác nếu tốt hơn thì bỏ việc làm bảo vệ này.

Hôm sau bà đi ngang qua một nhà thờ Công Giáo, thấy có chương trình giúp người tị nạn Việt Nam định cư, kiếm chỗ ở, xin tiền trợ cấp xã hội, xin trường học, xin việc làm v. v.  Bà Vượng vào hỏi mọi thủ tục, rồi bà đề nghị với linh mục sở tại:

-Tôi thấy công việc ở đây nhiều, mà thiếu một người quản lý văn phòng nói giỏi hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh.  Linh mục nên kiếm một người làm việc này.

Vị Linh mục nghe cũng phải nên nói với bà:
-Tôi thấy bà có thể làm việc này. Vậy, tôi cho bà làm giám đốc điều hành ở văn phòng này nhé!

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

CÁO PHÓ NHÀ THƠ LÃM THÚY

 


881 . THÂN TRỌNG SƠN Dịch và giới thiệu:: HOA THEO MÙA Truyên ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967)

 




Ông sinh năm 1885 tại Elbeuf, một thành phố nhỏ thuộc vùng Normandie, Tây Bắc nước Pháp. Sớm có năng khiếu văn chương từ nhỏ, cậu bé Émile Herzog lúc theo học trường trung học Corneille tại Rouen có may mắn được học với giáo sư Émile-Auguste Chartier, tức là triết gia Alain nổi tiếng. Chính vị giáo sư này đã phát hiện tài năng của học trò và hướng dẫn, khuyến khích cậu phát triển ngay từ phương pháp học tập ở lớp. Điều bất ngờ là thầy khuyên trò sau khi rời trường nên trở về làm việc trongxưởng dệt thảm của gia đình. Ông nghe lời thầy và trở về Elbeuf, tuy nhiên ông vẫn say mê chữ nghĩa nên trong phòng làm việc ông để sẵn nhiều tiểu thuyết của Balzac, ông chép lại nhiều trang của Stendhal để luyện viết văn, đồng thời tích cực học tiếng Anh.

Thế chiến lần thứ nhất xảy ra, ông nhập ngũ và được cử làm thông dịch viên và sĩ quan liên lạc tại một trung đoàn của quân đội hoàng gia Anh. Sự nghiệp văn chương bắt đầu từ thời gian này. Ông lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm 1918,  tác giả sớm nổi tiếng để ba năm sau viết tiếp cuốn " Những bài diễn văn của bác sĩ O' Grady " ( Les discours du Docteur O' Grady ). Ông sẽ ký bút danh này trên tất cả tác phẩm của mình, và điều thú vị là bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm 1938. 

André Mauroisđể lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – Mặc Đỗ dịch là m cnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - . Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch sử Hoa Kỳ ), Histoire de France ( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ ( Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia ( Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )

Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm “Thư gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình yêu, tín ngưỡng…

Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với nhan đề Tu seras un homme, mon fils.

879 . LÊ ĐỨC LUẬN - ĐI COI MẮT VỢ


      Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi.

      Trời sinh ông Tư cái tật hay nói — không được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước mắm.

      Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải sống dưới chế độ cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi lao động khổ sai mút mùa…thì đời tàn trong ngõ hẹp.

       Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm đường vượt biên sang Mỹ.

       Khi được sống trong đất nước tự do, ông tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ tiến bộ quá nhanh - chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím máy vi tính (computer) - Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi “ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim cổ.  

     Lời nói của ông Tư đâm ra thừa!

     Nhưng nói là cái tật trời sinh — ông không bỏ được…

     Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự chính trị.

     Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ thiếu văn hóa — qua đó bộc lộ tính “bát nháo” trong ngành truyền thông.

      Dần dà, những lời nói trung thực và tâm huyết của ông Tư hầu như lạc lõng giữa đám truyền thông “bát nháo” - dân ta coi những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi…đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”  

        Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể chuyện đời xưa.

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

878. ĐẶNG MAI LAN - Chiêm bao




Tôi thích được ngồi cạnh Ngữ. Ngữ là mẫu người nghe nhiều hơn nói, và nếu chẳng may có một người nào trong đám bằng hữu nhộn nhịp, phá phách tấn công tôi về một mặt nào đó, thì chắc chắn rằng anh sẽ không đủ mồm mép để bênh vực hay chống trả hộ tôi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy có một sự an tâm, một bao che mơ hồ êm ái nào đó khi ngồi gần anh. Như thể ngồi gần anh thì chẳng ai dám đụng tới tôi vậy. Và anh cũng thích ngồi cạnh tôi. Tôi biết rõ điều đó bằng trực giác bén nhậy của một phụ nữ, trong sự tương quan giữa tôi và anh. Còn những người bạn của chúng tôi họ có biết hay không  thì tôi không rõ lắm. Nhưng thường thì họ vẫn xếp cho tôi ngồi cạnh anh. Có lẽ theo khuôn mẫu trật tự về tuổi tác, vai vế.

Lần này không hiểu ai là người đã sắp đặt chỗ ngồi mà tôi lại không được ngồi cạnh Ngữ. Cũng không nhớ nổi ai đã ở bên tôi lúc đó. Hầu như chung quanh tôi rặt toàn đàn ông. Ngữ ở hàng ghế bên kia, đối diện tôi. Chúng tôi không nói gì được với nhau. Lâu lâu Ngữ nhìn tôi, anh và tôi chỉ gửi gấm đến nhau bằng những ánh mắt thầm kín như thế.

Căn nhà đầy người, đầy tiếng cười nói vọng lên từ nhà dưới, vườn trước, vườn sau. Mùa xuân, hoa nở đầy vườn. Tôi ngồi nhìn mãi những nhành hoa trắng vươn qua từ vườn nhà hàng xóm. Không biết người ngồi cạnh tôi đã bỏ đi đâu tự lúc nào. Cái ghế trống. Tôi thấy Ngữ đứng lên. Tôi nhìn theo, không biết anh đi đâu, làm gì. Nhưng chỉ một phút thôi tôi hiểu ra, đó chỉ là một cái cớ. Vì Ngữ đã quay trở lại và ngồi vào chiếc ghế trống ấy. Ngữ kéo cái ghế đẩy sát vào tường. Anh dựa lưng, cánh tay duỗi ra, hờ hững gác trên chiếc kệ thấp cạnh đó, sát bức tường sau lưng tôi. Nếu tôi ngã người ra phía sau một chút, chắc chắn là tôi sẽ ngã gọn trong tay anh. Tôi thích cái khoảng cách vừa xa vừa gần. Cái khoảng cách vừa lẳng lơ mời mọc, thách thức, lại vừa có vẻ hồn nhiên vô tội vạ. Và lòng tôi rộn lên một thứ cảm giác rạo rực, háo hức. Thứ cảm giác quyến rũ làm sao !

Ngữ hỏi tôi có muốn ra ngoài một chút không ? Tôi gật đầu và đứng lên theo anh. Tôi cũng muốn đi dạo và ngắm cảnh chung quanh, vì đây là nơi mà tôi đến lần đầu. Không khí bên ngoài có vẻ trong lành êm ả hơn. Những người khác sau khi ăn uống cũng tản mạn rủ nhau ra hết ngoài vườn. Góc này vài người đứng, chỗ kia thì vài người ngồi, ngã nghiêng, nhàn nhã trên những chiếc ghế thấp, có lọng dù che nắng.