Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

917. Vũ Nguyễn - Cung Tích Biền - một người anh, một người viết

 Cung Tích Biền – một người anh, một người viết
 Vũ Nguyễn 


Có những người ta biết từ lâu mà vẫn tưởng như còn có thể gặp lại vào một sáng Chúa nhật nào đó. Vẫn là quán cà phê quen thuộc, vẫn những khuôn mặt quen thuộc, vẫn những câu chuyện văn chương không đầu không cuối. Người ấy có thể hôm nay vắng mặt vì bận việc, vì đau chân, vì đi chơi xa, hay chỉ vì ngại ra đường. Ta không nghĩ rằng đó là lần cuối cùng.

Đó là anh Cung Tích Biền của tôi.

Theo thông tin của gia đình, anh sinh năm Bính Tý 1936, cùng tuổi với giáo sư Trần Huy Bích. Tuy nhiên trong những buổi họp mặt, có khi anh khai sinh năm 1938 bằng anh Phạm Phú Minh, hay thậm chí 1940. Có lẽ anh không muốn làm ra vẻ mình cao tuổi nhất trong bàn. Hai người đều là những bậc đàn anh mà tôi kính trọng, nhưng mỗi người một vẻ. Nếu anh Bích là người của chữ nghĩa Hán học, của thư tịch, của khảo cứu và những cuộc chuyện trò có thể kéo dài từ một chữ trong câu thơ đến cả một thời đại văn học, thì Cung Tích Biền lại là người của văn chương trải qua nhiều dâu bể của thời cuộc, một nhà văn đã sống, đã viết, đã im lặng, rồi lại viết, và sau cùng vẫn đứng đó như một chứng nhân của một thời đại nhiều biến động.

Anh đã có một vị trí riêng trong văn đàn Việt Nam từ trước năm 1975. Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện từ năm 1966 trên tuần báo Nghệ Thuật, rồi những truyện của anh lần lượt xuất hiện trên nhiều báo và tạp chí văn học ở miền Nam. Sau những năm dài gần như gác bút, anh trở lại với văn chương, và tiếp tục viết trong nhiều thập niên. Người đọc ở trong nước cũng như ở hải ngoại đều biết đến tên tuổi anh.

Nhưng đối với tôi, Cung Tích Biền trước hết không phải là một cái tên trong lịch sử văn học. Anh là một người anh. Và có lẽ vì vậy mà tin anh ra đi đến với tôi trong một hoàn cảnh lạ lùng đến nỗi tôi cứ thấy lòng mình ngẩn ngơ.

… Một ngày “trùng cửu”


Ngày 9 tháng 9 vừa rồi, chúng tôi vẫn đùa nhau gọi là ngày “trùng cửu”. Cũng là ngày sinh nhật nhà thơ Thành Tôn. Anh em văn nghệ chúng tôi làm một cuộc họp mặt nho nhỏ tại Phở Gà Dakao vào buổi trưa, vừa ăn vừa chúc mừng sinh nhật anh Thành Tôn, rồi lại như thường lệ, nói đủ chuyện trên trời dưới đất: sách vở, văn chương, những người quen cũ, những chuyện ngày xưa mà nói mãi vẫn chưa hết.

Theo lịch trình, hôm ấy anh Cung Tích Biền và chị Hoàng Kim đang đi cruise nên chúng tôi không mời. Chẳng ai nghĩ gì khác. Người đang đi chơi thì cứ để người ta đi chơi. Anh em gặp nhau hôm nào chẳng được.

Nào ngờ, trong lúc chúng tôi đang vui vẻ tán gẫu thì anh đã ra đi, vào lúc 12 giờ 25 phút. Chỉ cách chúng tôi một khoảng thời gian ngắn, mà bỗng nhiên xa nhau cả một đời.

Tôi không biết phải gọi đó là sự trùng hợp, hay một thứ nghịch lý nào của đời người. Chúng tôi ngồi bên nhau, nói cười giữa một buổi trưa bình thường. Còn một người anh thân tình thì lặng lẽ đi qua một cánh cửa mà không ai trong chúng tôi hay biết.

Nếu biết trước, có lẽ tôi đã mời anh. Nếu biết trước, có lẽ tôi đã nói với anh vài câu. Nhưng đời sống không bao giờ cho người ta biết trước những cuộc chia tay.

Bởi vậy, điều còn lại không phải là những lời chưa kịp nói, mà là những câu chuyện đã nói từ lâu, những buổi sáng đã qua, những bữa cơm đã ăn, những lần gặp gỡ tưởng như rất bình thường mà nay bỗng trở thành kỷ niệm.

… Những sáng Chúa nhật ở Coffee Factory


Tôi vẫn nhớ những buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory.

Ngày ấy anh em văn nghệ tụ họp khá đông. Có khi bàn này nối sang bàn khác, người đến trước ngồi chờ người đến sau, cà phê hết ly này đến ly khác mà câu chuyện thì chẳng bao giờ hết.

Anh Cung Tích Biền thường ngồi đó, hòa nhã, từ tốn. Anh không phải kiểu người nói chuyện ồn ào để mọi người phải nghe mình. Anh nói với người này dăm ba câu, với người kia vài câu. Có khi một câu chuyện tưởng đã xong rồi, anh lại góp thêm một ý nhỏ, nghe tưởng như vu vơ mà ngẫm lại mới thấy có cái gì đáng nhớ.

Biết tôi thích cổ văn và Hán Nôm, anh thỉnh thoảng lại kéo tôi vào một câu chuyện chữ nghĩa.

Anh có cái thú của người đọc nhiều: gặp một điển tích cũ thì nhắc lại, gặp một thành ngữ nhiều người hiểu sai thì sửa lại cho vui. Không phải lúc nào anh cũng giảng giải dài dòng. Nhiều khi chỉ một câu nói tếu mà làm cho người nghe nhớ cả đời.

Có lần anh nói về thành ngữ “loan phụng hòa minh”. Anh giải thích chữ minh  ở đây là tiếng hót, tiếng gáy của chim; “loan” và “phụng” cùng cất tiếng hòa nhau, chứ không phải chữ minh  là sáng. Rồi anh lại pha một câu đùa rằng có người còn hiểu thành chữ , thế là từ “minh” thành ra… dốt!

Anh nói tỉnh bơ, làm tôi bật cười.

Những câu chuyện như thế có thể không phải là những điều lớn lao. Nhưng đời sống của một người đôi khi lại được làm nên bởi chính những điều nhỏ bé như vậy. Một câu chuyện bên ly cà phê, một chữ Hán được giải thích, một tiếng cười giữa những người cùng yêu chữ nghĩa – rồi đến một ngày, người kể câu chuyện ấy không còn ngồi ở chiếc bàn quen thuộc nữa.

Ta mới hiểu mình đã mất đi một điều gì.

 

… Cái chủ quan đáng yêu của một bậc trưởng thượng

Anh là người hòa nhã, nhưng dĩ nhiên, như mọi bậc đàn anh, anh cũng có cái chủ quan của… bậc trưởng thượng.

Tôi nhớ một lần trong buổi ra mắt sách của anh Bùi Vĩnh Phúc. Tôi chỉ cho anh xem bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và bản dịch tiếng Anh trong sách. Bản dịch mà anh Bùi Vĩnh Phúc đưa ra trong sách khá ngô nghê, và cái ngô nghê ấy lại được anh ghi nhận một cách hóm hỉnh. Tôi bật cười.

Anh Cung Tích Biền liền nói đại ý: “Bài ấy đã có bản dịch rất hay của Witter Bynner rồi. Dịch lại làm chi.”

Tôi không tiện phản đối một bậc đàn anh. Nhưng trong bụng tôi nghĩ: chuyện văn chương đâu phải lúc nào cũng đơn giản như thế.

Một bài thơ hay không phải chỉ có một bản dịch hay. Ngay trong tiếng Việt, riêng bài Hoàng Hạc Lâu đã có biết bao bản dịch của Ngô Tất Tố, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Khương Hữu Dụng, Bùi Khánh Đản, Vũ Hoàng Chương… rồi không biết bao nhiêu bản khác nữa, kể cả những bản phiếm dịch, ngẫu dịch, dịch chơi cho vui.

Vậy thì tại sao người ta lại dịch lại?

Bởi vì người dịch không chỉ dịch bài thơ. Nhiều khi người ta dịch chính mình.

Một bài thơ đọc ở tuổi hai mươi không giống bài thơ ấy đọc ở tuổi năm mươi. Một câu thơ khi còn trẻ có thể chỉ là câu thơ; đến lúc tóc đã bạc, nó bỗng có thêm một tầng nghĩa của chia lìa, của thời gian, của những người đã mất.

Ngay chính tôi, thỉnh thoảng cũng dịch lại, hoặc viết phiếm luận về Hoàng Hạc Lâu. Tôi nghĩ anh cũng hiểu điều đó. Người ta viết lại một bài thơ cũ đôi khi không phải để người khác đọc. Mà để nhìn lại mình.

Có lẽ vì thế mà những bài thơ nổi tiếng nhất của nhân loại vẫn tiếp tục được dịch, được đọc, được giảng, được viết lại. Mỗi thế hệ có một cách nhìn; mỗi tuổi đời có một cách hiểu.

Và mỗi người đọc, sau cùng, lại tìm thấy mình trong một câu thơ của người xưa.

… Một câu chuyện rất đời


Tôi cũng nhớ những bữa cơm gia đình khi anh chị ghé nhà tôi cùng một số thân hữu.

Chị Hoàng Kim kể chuyện quá trình học ở Cal State Fullerton. Anh ngồi bên cạnh, có lúc ghé tai tôi nói nhỏ:

“Hồi ở Việt Nam, chị mày lấy xe gắn máy chở tao đi uống cà phê.”

Tôi bật cười.

Chẳng phải chuyện văn chương gì cả.

Chỉ là một mẩu chuyện của đời sống.

Nhưng nó làm hiện ra cả một quãng đời khác: Việt Nam ngày trước, những con đường cũ, chiếc xe gắn máy, những quán cà phê, những người hàng xóm, những bạn bè văn nghệ. Khi ấy anh chị là hàng xóm của chị Ý Nhi.

Có những người cả đời viết hàng ngàn trang sách, nhưng đôi khi một câu nói rất ngắn về chiếc xe gắn máy năm nào lại khiến người nghe hình dung được cả một thời.

Có lẽ đó cũng là cái duyên của một người viết: sống qua những chuyện rất bình thường, nhưng trong trí nhớ lại giữ được cái bóng của một thời đã mất.

 

… Những cuốn sách chưa số hóa

Khoảng năm 2010, anh có lần ngỏ ý nhờ tôi giúp số hóa sách vở của anh ngày xưa.

Thời ấy các chương trình OCR còn rất sơ khai. Những bản sách in typo cũ, giấy xấu, chữ nhòe, scan lại có độ phân giải thấp – máy đọc chữ gần như chịu thua. Muốn làm cho ra hồn thì phải sửa từng trang, từng chữ.

Tôi lúc ấy còn bận chuyện mưu sinh. Mà công việc thì quả thật… khó quá. Đành phải từ chối anh.

Tôi đề nghị anh nhờ anh bác sĩ Hoàng Hưng hoặc nhờ bạn bè bên Việt Nam đánh máy lại. Tôi nghĩ cách ấy vừa nhanh hơn vừa đỡ tốn kém. Anh nghe lời và anh đã làm. Rồi từ đó, hết cuốn này đến cuốn khác, những tác phẩm cũ của anh được đánh máy, sửa chữa, tái bản. Một đời viết tưởng như nằm yên trong những chồng sách cũ lại được đưa trở về với người đọc.

Mỗi khi tái bản được dăm ba đầu sách, anh chị lại tổ chức một buổi ra mắt ở Coffee Factory.

Tôi nhớ những buổi như thế.

Anh ký tặng sách cho thân hữu. Người ta đến không chỉ để mua sách, mà còn để gặp anh, gặp bạn bè và nghe chuyện văn chương. Chị Hoàng Kim lại trổ tài nấu nướng, thế là một buổi ra mắt sách nhiều khi trở thành một buổi họp mặt gia đình lớn.

Có người mua một cuốn. Có người mua vài cuốn. Có người mua để đọc, có người mua để làm kỷ niệm. Nhưng tôi nghĩ sâu xa hơn, người ta mua sách của anh vì muốn giữ lại một phần đời văn chương ấy trong tủ sách gia đình.

Sách, trong trường hợp này, không chỉ là sách.

Nó là ký ức.

 

… Một đời đứng giữa những biến động


Cung Tích Biền là một trường hợp đặc biệt trong văn học Việt Nam hiện đại.

Ông trưởng thành trong chiến tranh, từng sống ở những phía khác nhau của lịch sử, từng khoác áo lính, từng mang lon đại úy trước khi giải ngũ năm 1973, từng giảng dạy, từng viết văn trong một thời kỳ mà văn chương miền Nam phát triển mạnh mẽ. Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, có một thời gian dài gần như gác bút, rồi trở lại với văn chương vào những năm sau đó…

Những năm tháng ấy không phải chỉ là những mốc trong tiểu sử. Chúng là những năm tháng đã đi vào văn chương của ông.

Bởi vậy, đọc Cung Tích Biền không thể chỉ đọc câu chữ. Phải đọc cả cái bóng của lịch sử đứng phía sau câu chữ.

Có những nhà văn được thời đại nâng lên. Có những nhà văn bị thời đại vùi xuống. Có những người may mắn được lịch sử đối xử nhẹ tay. Và cũng có những người phải sống rất lâu với những câu hỏi mà thời đại để lại.

Cung Tích Biền thuộc về thế hệ đã đi qua một trong những đoạn lịch sử khốc liệt nhất của đất nước. Nhưng điều đáng kể là sau tất cả những biến động ấy, ông vẫn còn giữ được một thứ mà người viết cần nhất: tiếng nói riêng của mình.

Ông không chỉ viết để kể chuyện. Ông viết để đối thoại với đời sống. Và đôi khi, để đối thoại với chính mình. Có lẽ vì thế mà văn chương của Cung Tích Biền vẫn còn người đọc sau nhiều chục năm. Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với một nhân vật, một ý tưởng, một cách nhìn của ông. Nhưng khó thể phủ nhận rằng đó là tiếng nói của một người đã sống rất sâu trong thời đại mình.

 

… Một người anh vừa đi xa


Tôi vẫn nghĩ về buổi trưa ngày 9 tháng 9. Chúng tôi ngồi ở Phở Gà Dakao, chúc mừng sinh nhật Thành Tôn, nói cười và tán gẫu. Nếu lúc ấy có ai nói với tôi rằng chỉ ít phút sau anh Cung Tích Biền sẽ ra đi, chắc tôi không thể tin được.

Con người ta thường tưởng rằng những người mình quen biết vẫn còn đó. Anh Cung Tích Biền vẫn còn đó trong ký ức tôi: một buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory; một câu chuyện về chữ ; một câu nói tếu về chữ “minh”; một cuộc tranh luận về chuyện dịch Hoàng Hạc Lâu; một bữa cơm gia đình; một lần anh nhờ số hóa sách; những buổi ra mắt sách ở Coffee Factory; những cuốn sách được chuyền tay nhau; và giọng nói từ tốn của một người anh.

Có những người để lại cho đời một thư mục tác phẩm. Có những người để lại một thư mục ký ức.

Cung Tích Biền để lại cả hai.

Và đối với tôi, có lẽ thư mục ký ức ấy mới là điều khó mở ra nhất, bởi mỗi lần mở lại, tôi lại thấy một người anh đang ngồi đâu đó, bình thản nói chuyện với người này vài câu, người kia vài câu; rồi bất chợt quay sang tôi, nhắc một chữ Hán, một điển tích, một thành ngữ mà thiên hạ vẫn hiểu lầm.

Tôi sẽ còn nhớ câu chuyện về “loan phụng hòa minh”. Bởi từ nay, chữ  ấy đối với tôi không chỉ còn là tiếng chim hót. Nó còn là tiếng nói của một người anh. Một tiếng nói đã từng vang lên giữa những buổi sáng cà phê, giữa những cuộc chuyện trò văn chương, giữa một cộng đồng những người cầm bút xa quê.

Rồi một ngày, tiếng nói ấy bỗng im. Nhưng văn chương thì không im. Những trang sách vẫn còn đó. Những cuốn sách anh đã nhọc công cho tái bản vẫn còn đó. Những câu chuyện anh kể vẫn còn đó. Và những người từng ngồi bên anh, như tôi, sẽ còn kể lại. Để một người viết không chỉ được nhớ vì những gì anh đã viết, mà còn được nhớ vì anh đã từng sống giữa chúng ta như thế nào.

Anh Cung Tích Biền đã đi rồi.

Nhưng trong một buổi sáng Chúa nhật nào đó, nếu tôi lại ngồi ở Coffee Factory, tôi biết mình vẫn sẽ vô thức nhìn sang chiếc ghế quen thuộc, như chờ một người anh đến trễ.

Và có lẽ trong một lúc nào đó, giữa câu chuyện của bạn bè, tôi sẽ lại nghe như có tiếng anh từ đâu đó:

“Chữ ấy là , không phải  đâu!”

Rồi tôi sẽ cười.

Và nhớ anh.

V.N

 

918 . NGÔ THẾ VINH: CON ĐƯỜNG SÁCH SÀI GÒN VÀ CÂU CHUYỆN ĐỐT SÁCH

 



CON ĐƯỜNG SÁCH LỊCH SỬ

Khởi từ ý tưởng của báo Tuổi Trẻ, ngày 15.10.2015, Sở Thông Tin và Truyền Thông Thành phố đã khởi công xây dựng con Đường Sách trên đường Nguyễn Văn Bình [là tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình] phường Bến Nghé, Quận I TP. HCM. Đây là một con đường nhỏ nằm bên hông Bưu điện Thành phố, nối liền Nhà Thờ Đức Bà và đường Hai Bà Trưng nhưng có ưu điểm là nằm ngay trong khu vực trung tâm thành phố, đây không chỉ là một không gian sinh hoạt văn hóa mà còn là một tụ điểm du lịch, là nơi thường xuyên có nhiều du khách ghé qua.

Sau gần 3 tháng thi công, Đường Sách chính thức được khai trương ngày 09.01.2016. Chỉ với con đường nhỏ chiều dài 144 m, lòng đường 8 m, hai bên vỉa hè rộng 6 m, với thiết kế một bên là 20 gian hàng sách, một bên là café sách và khu triển lãm. Hai đầu Đường Sách là hai bức tượng điêu khắc Cô gái bên trang sáchSuy ngẫm - hai tác phẩm được tuyển chọn từ Trại điêu khắc quốc tế TP.HCM.

Hình 1: Trên Đường Sách, cũng là đường mang tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình (1910-1995), bên hông Bưu Điện, chạy dài từ Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng, như một tụ điểm sinh hoạt văn hóa và du lịch, đang rộn rã không khí Giáng Sinh 2017 với ban nhạc Santa Claus có lẫn cả một ông Tây béo mập cao ngồng thổi kèn, vây quanh là tấp nập khách đi xem, chụp hình, ngồi tụ tập trong các quán cà phê sách, và một số thì tìm mua sách. Đường Sách Nguyễn Văn Bình ngày nay là hình ảnh một mini-đường sách Lê Lợi của hơn 40 năm trước. [Photo tư liệu Ngô Thế Vinh] 

Ông Lê Hoàng khi còn làm Giám đốc Nxb Trẻ đã mơ ước có một không gian chỉ có sách và sách và ông là một trong những người đã đứng ra vận động cho việc hình thành con Đường Sách và sau đó trở thành giám đốc Công ty Đường Sách Thành phố. Đường Sách đã trở thành một không gian khá lý tưởng để các nhà xuất bản, nhà kinh doanh sách có cơ hội học hỏi chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp, và cả tiếp cận với giới bạn đọc. Đường Sách trở thành một không gian biểu tượng của văn hóa đọc, nơi gặp gỡ của những người yêu sách, cũng là điểm hẹn lý tưởng cho những người bạn trong và cả ngoài nước.
  
Hình 2a: Từ hướng Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng,
bên trái là 20 gian hàng sách; phải, với bạn trẻ ngồi đọc sách ngoài trời.
[photo by Ngô Thế Vinh]

Hình 2b: Mấy tụ điểm để du khách chụp hình; trái, bức tượng đồng "Hai bé ngồi chống lưng đọc sách", phải, cô gái ngồi đàn guitare live trong một khu đọc sách ngoài trời. [Photo by Ngô Thế Vinh] 

Hình 3a: Bên phải Đường Sách là các cửa hàng café sách, các khu triển lãm; Phương Nam Book Café đẹp khang trang lúc nào cũng đông khách; phải, do thiếu diện tích mặt bằng, có thêm mấy Kiosk sách bên lề phải Đường Sách phía ngã ba Hai Bà Trưng - Nguyễn Văn Bình, anh chị Long đôi vợ chồng rất yêu sách, gốc người Sài Gòn cũ, chị gốc nhà giáo rồi làm công chức Nha Quân pháp trước 1975, nay sống bằng nghề buôn sách cũ. [photo by Ngô Thế Vinh] 

Hình 3b: trái, thiếu diện tích mặt bằng, cả trên lòng đường cũng được tận dụng cho những Kiosk sách di động trên Đường Sách, với các bạn trẻ đứng ngồi tĩnh lặng say mê đọc sách, gợi lại hình ảnh thật đẹp của Sài Gòn trước 1975 với đường sách Lê Lợi, nhà sách Khai Trí thuở nào; phải: Quán Sách Mùa Thu với thêm dòng chữ "về lại chốn thư hiên", nơi có thể tìm hoặc đặt mua những cuốn sách cũ "tàn dư văn hóa Mỹ Ngụy" nay trở thành quý hiếm. [Photo by Ngô Thế Vinh] 

916 . NGUYỄN MINH NỮU Làm Báo Ở Washington DC

 

Nhà văn Nguyễn Minh Nữu - Ảnh PCH


Định cư tại Mỹ năm 1995. Ở tuổi 45, tôi có 5 năm thơ dại sinh trưởng tại Hà Nội, có 20 năm đi học, đi lính và sống với Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975 có 20 năm lăn lộn kiếm sống với Việt Nam Cộng Sản, tôi còn bao nhiêu năm để sống với đất nước tự do Hoa Kỳ nữa đây? Đến Mỹ ở lứa tuổi quá lứa cho đi học, những đam mê đọc và viết từ thời thanh niên đã tự giấu mình suốt mấy chục năm, một gia đình nhỏ những đứa con chưa đến tuổi trưởng thành, mọi thứ đều tạm gác lại cho tương lai của lứa đời sau.

Khi định cư tại Hoa Kỳ, niềm mơ ước đầu tiên và lớn nhất của mình là được cầm bút trở lại. Không thể sống toàn thời gian bằng ngòi bút như khao khát, nên tôi tìm kiếm việc làm từ ngành báo chí. Trong vùng, đang có nhiều tờ tuần báo phát hành. Tất cả các tờ báo này đều là tập hợp của các bản tin thời sự, bình luận chính trị và quảng cáo. Trong đó, có bốn tờ báo mạnh, mạnh nghĩa là có nhiều quảng cáo, tờ báo dày và có một phong cách riêng như nhắm vào một thành phần độc giả thí dụ về Phụ Nữ, về Chính Trị, về Xã hội và về một ngành nghề như Nail. Nhưng Văn Chương hoàn toàn vắng bóng trong các tờ báo này. Bước khởi đầu là tôi gọi điện đến xin việc và bị từ chối vì đã đủ người. Sau đó, thấy một quảng cáo cần người đánh máy tiếng Việt, tôi gọi điện đến xin việc và được gọi tới phỏng vấn.

Người tôi gặp là Lê Khiêm. Khiêm còn trẻ, đang là người cung cấp các bản tin cho các báo Việt Ngữ trong vùng.  Sau năm 1975, Hiệu trưởng trường trung học Văn Học tại Đà Lạt cũ là Chử Bá Anh định cư tại vùng Hoa Thịnh Đốn. Ông hình thành một cơ quan thông tấn, chuyên nghiên cứu và dịch thuật các bản tin quốc tế liên quan đến Việt Nam từ các hãng thông tấn Mỹ, các tư liệu văn học cũ và các sinh hoạt người Việt khắp nơi trên thế giới, đúc kết thành một bản tin mỗi ngày, cung cấp cho những người có nhu cầu đặt mua, và các tờ báo Việt Ngữ làm tư liệu. Khi ông Chử Bá Anh từ trần, người cộng tác với ông là Lê Khiêm tiếp nối công việc đó.

Lê Khiêm còn trẻ, năng động và nồng nhiệt. Khiêm hỏi tôi có biết đánh chữ tiếng Việt không? Tôi gật đầu, Khiêm đưa tôi một một xấp giấy viết tay, và chỉ cho tôi một cái Computer bỏ trống để làm việc thử. Khoảng hai giờ sau, Khiêm ghé lại nhìn qua những gì tôi đã làm, và mời tôi vào phòng riêng trò chuyện. Khiêm hỏi, thực sự anh muốn gì? Bởi vì nếu anh đến xin việc đánh máy thì em nghĩ là anh không sống được. Tiền lương lao động đơn giản hiện nay thấp nhất là 4,25 đồng một giờ, còn ở đây, em trả tiền theo số trang đánh máy, giá mỗi trang là 1,50 đồng, anh đánh máy suốt hai giờ và chỉ được có ba trang. Cho nên em cho rằng anh muốn một cái gì khác chứ không phải muốn đánh máy chữ kiếm tiền.

Tôi nói tôi vừa định cư tại Mỹ hơn một năm. Trước 75 tôi cầm bút viết văn, có làm việc cho một vài tờ nhật báo ở Saigon, tôi yêu thích làm truyền thông vì phù hợp với khả năng của mình. Tôi nghĩ tôi có thể đọc, có thể viết và có thể trở lại được cái hào hứng sáng tác tôi có. Nhưng không tìm được công việc từ các tờ báo hiện tại ở đây, và tôi tưởng  Hãng Tin này sẽ có một công việc cho mình.

Lê Khiêm vui vẻ, cái công việc ngày xưa anh làm là viết báo chứ không phải làm báo, rất gần gũi với việc biên tập và thực hiện một tờ báo chứ không phải là cặm cụi đánh máy ăn tiền. Anh thực sự có muốn tự thực hiện một tờ báo trong vùng này?

- Sao làm được khi mới qua Mỹ, tiền không có và vốn liếng Anh ngữ chưa đầy lá mít.

- Không phải đâu, tiền để thực hiện một tờ báo không nhiều và có thể xoay sở được, Anh Ngữ rất cần nếu đi vào thị trường Hoa Kỳ, làm báo tiếng Việt lại không quan trọng mấy, anh đang có một thứ mà nhiều người làm báo ở đây không có; đó là Đọc, đó là Nhận Định, đó là Phân Tích và Tổng hợp. Nếu anh muốn, em có thể giúp anh.

- Bằng cách nào?

- Em sẽ chỉ cho anh cách trình bày một tờ báo, cách nuôi sống tờ báo, địa điểm in ấn, cách phát hành và cung cấp cho anh bài vở tin tức, nghĩa trọn bộ để có một tờ tuần báo, còn có tìm được quảng cáo hay không là do khả năng giao tiếp của anh, tờ báo có độc giả hay không là do nội dung anh chọn lựa và đưa vào.

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

915 . THÂN TRỌNG SƠN- NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH tác giả Hans Christian Andersen ( 1805 - 1875 )

                                                                                              


Hans Christian Andersen, sinh tại Đan Mạch , gần như là người phát minh ra thể loại eventyr – tức truyện cổ tích phiêu lưu hay truyện kỳ ảo. Dù ông viết nhiều thể loại khác nhau như kịch, bút ký du hành, tiểu thuyết và thơ, chính những truyện cổ tích của ông mới trở thành biểu tượng văn hóa trong thế giới phương Tây. Các câu chuyện của Andersen vượt qua mọi rào cản tuổi tác, biên giới quốc gia và văn hóa, và đã được dịch ra hơn 125 ngôn ngữ. Các câu chuyện của ông đã truyền cảm hứng cho vô số vở kịch, ballet và phim điện ảnh. Ai mà chưa từng đọc hoặc xem một bộ phim hoạt hình chuyển thể từ Cô bé Thumbelina (1835), Bộ quần áo mới của hoàng đế (1837), Nàng tiên cá (1836) hay Công chúa và hạt đậu (1835)?

 

Andersen cũng để lại cho nhân loại một trong những câu chuyện Giáng Sinh buồn nhưng cảm động và đẹp đẽ nhất mọi thời đại – Cô bé n diêm.

Andersen còn có nhiều truyện xuất sắc ít được biết đến, rất đáng để bạn chú ý và đều có sẵn trên trang AmericanLiterature.com. Hãy khám phá những truyện thú vị sau:

Người lính chì dũng cảm

Giấc mơ cuối cùng của cây sồi già

Cổ áo sơ mi

Đôi hài may mắn (1838)

Cậu bé hỗn xược (1835)

Mũ ngủ của ông già độc thân

Anh chàng chăn heo (1841)

Người bạn đồng hành (1835)

Vào năm 1847, trong chuyến thăm đầu tiên đến Anh, Andersen đã gặp Charles Dickens. Ông viết trong nhật ký: Chúng tôi đi ra hiên nhà, tôi thật hạnh phúc khi được gặp và trò chuyện với nhà văn đang sống của nước Anh – người mà tôi yêu mến nhất.” (Hcandersen-homepage.dk. 2001-12-30). Cả hai tác giả đều tập trung viết về người nghèo và những người kém may mắn, với những câu chuyện về sự vượt lên nhờ nỗ lực, can đảm và may mắn.

Các truyện của Andersen đã đặt nền móng cho nhiều tác phẩm thiếu nhi kinh điển khác như Gió qua đồng nội ca Kenneth Grahame hay Gấu Pooh của A.A. Milne. Có thể nói, Andersen như một nhà văn Disney được tiền định”, với sở trường thổi hồn vào những đồ vật vô tri như đồ chơi, khiến chúng sống dậy và trải qua những cuộc phiêu lưu cuốn hút người đọc ở mọi lứa tuổi – ông đã tạo ra một loạt các tác phẩm vượt thời gian. Andersen là một bậc thầy viết truyện, người mà tác phẩm và chủ đề đã được noi theo qua nhiều thế hệ và trên nhiều nền tảng.

Andersen qua đời ngày 4 tháng 8 năm 1875 tại Copenhagen, sau khi không bao

giờ hồi phục hoàn toàn từ một chấn thương do ngã khỏi giường hai năm trước đó.

 

Hans Christian Andersen là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của văn học thiếu nhi thế giới, người đã vượt khỏi khuôn khổ của những câu chuyện thần thoại cổ điển để thổi vào chúng hơi thở nhân văn, triết lý và cảm xúc. Người bạn đồng hành” là một truyện ngắn mang màu sắc cổ tích rõ nét nhưng lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu xa về đạo đức, lòng nhân hậu, sự trả ơn, và chiến thắng của điều thiện trước cái ác.

Ngay từ đầu truyện, nhân vật John được giới thiệu như một chàng trai tốt bụng, hiếu thảo với cha và không màng đến của cải. Chi tiết John dùng hết số tiền ít ỏi để lo tang lễ tử tế cho một người chết bị người đời khinh miệt là tình tiết mở đầu rất quan trọng. Hành động ấy không chỉ thể hiện bản chất lương thiện, mà còn là hạt giống cho phần thưởng lớn về sau.

Trong thế giới cổ tích, những hành động tốt lành thường không bị lãng quên, mà sẽ được đền đáp một cách kỳ diệu. Nhưng ở đây, Andersen không chỉ đơn thuần mô tả phần thưởng như một món quà từ “phép mầu ”, mà làm nổi bật logic nhân quả về đạo đức – người tốt sẽ gặp người tốt, người giúp người khác trong lúc khó khăn sẽ được giúp lại khi cần.

Người bạn đồng hành – hiện thân của lòng biết ơn và phép màu nhân đạo

Hình ảnh người bạn đồng hành bí ẩn trong truyện không chỉ đóng vai trò như một người trợ giúp thần kỳ, mà còn là biểu tượng cho sự đền đáp và bảo vệ của những linh hồn thiện lương. Sau này, khi người bạn tiết lộ rằng anh chính là người quá cố mà John đã giúp chôn cất, ta nhận ra rằng những hành động tử tế dù âm thầm vẫn có thể tạo ra phép màu.

Andersen cho thấy thế giới tâm linh trong truyện cổ tích không chỉ là cõi xa vời, mà tồn tại song song với đời sống con người. Người bạn đồng hành không giáng thế như một vị thần toàn năng, mà sánh bước bên John, giúp đỡ nhưng vẫn để nhân vật chính phải tự vượt qua thử thách. Điều này hàm ý rằng, dù có sự giúp đỡ, con người vẫn cần chủ động lựa chn con đường thiện lương và dũng cảm đối mặt với thử thách.

Phần giữa và cuối truyện đưa ta đến thử thách chính của John: chinh phục trái tim của một công chúa kiêu kỳ, thực chất là nạn nhân của một lời nguyền ma thuật. Công chúa và tên pháp sư phản diện là biểu tượng điển hình của cái ác trá hình – cái đẹp bên ngoài nhưng ẩn chứa sự hiểm độc, lạnh lẽo, và quyền lực tà thuật.

Tuy nhiên, Andersen không vẽ nên một câu chuyện tình lãng mạn ngây thơ, mà là hành trình giải thoát. John không chỉ tìm cách cưới được công chúa, mà còn cứu vớt cô khỏi sự chi phối của ma thuật hắc ám. Chi tiết tắm nước với lông thiên nga và ba lần nhúng xuống bồn nước là nghi thức thanh tẩy – không chỉ rửa sạch tà thuật mà còn là sự tái sinh của tâm hồn công chúa. Điều này mang ý nghĩa sâu sắc: tình yêu chân chính phải dựa trên sự cảm hóa, không thể ép buộc hay chỉ dựa vào bề ngoài.

Andersen đề cao sức mạnh của niềm tin và lòng kiên định. John không bao giờ hoài nghi người bạn đồng hành, không từ chối thử thách dù đối mặt với cái chết, và cũng không yêu cầu phần thưởng trước khi cứu công chúa khỏi bùa phép. Đây là những phẩm chất mà Andersen coi là thiết yếu để con người vượt qua cái ác và đạt được hạnh phúc thực sự.

Cái kết có hậu – John cưới được công chúa, vua cha sống lâu để chơi đùa cùng các cháu, và John trở thành vị vua tốt – là phần thưởng xứng đáng cho cả hành trình thiện lương. Nhưng Andersen không quên để người bạn đồng hành ra đi một cách nhẹ nhàng, như một thiên sứ hoàn thành sứ mệnh. Sự chia ly ấy đọng lại cảm xúc sâu sắc: cái thiện không khoe khoang, không đòi hỏi công lao, chỉ lặng lẽ gieo những điều tốt đẹp rồi tan vào không gian.

Người bạn đồng hành” là một truyện cổ tích cảm động, kết hợp hài hòa yếu tố kỳ ảo với thông điệp nhân văn. Andersen đã dùng những hình ảnh đơn sơ mà đầy biểu tượng để nói về những giá trị vĩnh cửu: lòng tốt, sự biết ơn, tình bạn, tình yêu, và niềm tin vào điều thiện. Tác phẩm này không chỉ dành cho trẻ em, mà còn khiến người lớn suy ngẫm về cách sống, cách cư xử, và cách tin vào điều tốt đẹp trong cuộc đời.