Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

855. HỘI CHỢ NEUILLY Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch & giới thiệu

VU À LA FOIRE DE NEUILLY - Tranh Max Ernst (1970)

Tên thật là  Émile Salomon Wilhelm Herzog, lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm 1918. Bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm 1938.

 

André Maurois để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – có người dịch là Tâm cảnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hồn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - . Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de lamour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était laction – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de lAngleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch sử Hoa Kỳ ), Histoire de France ( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ ( Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia ( Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )

 

Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm Thư gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình yêu, tín ngưỡng…


Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với nhan đề Tu seras un homme, mon fils.

 

Truyện ngắn của André Maurois là một bộ phận có vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Ông. Đó là những tác phẩm văn chương có giá trị, mang đầy đủ, trọn vẹn tính đa dạng và phong cách, khuynh hướng của nhà văn. André Maurois thường đơn giản hoá những vấn đề éo le, phức tạp, được kể với giọng văn giản dị, tự nhiên. Kiểu kết thúc câu truyện cũng rất độc đáo với một tình huống bất ngờ, thường trái với sự chờ đợi của người đọc.

 

Một số truyện nổi tiếng của Ông là Người tù trở về ( Le retour du prisonnier ), Hoa violet ngày thứ tư ( Les violettes du mercredi ) rất được tán thưởng.

  

FAIR AT NEUILLY, FRANCE
Tranh Christopher Wood (1901-1930)
  

Bonnivet hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi gì đó, Maufras nói, nhưng con đường sự nghiệp của ông ta chói lọi và nhanh chóng đến nỗi lúc nào tôi cũng xem ông như  ông chủ hơn là bạn. Tôi chịu ơn ông nhiều lắm. Chính ông đã gọi tôi đến làm việc tại văn phòng của ông lúc ông lên làm bộ trưởng Bộ Công chánh, rồi, khi bộ này giải thể,  cũng chính ông ta đã khéo léo “xếp “ tôi vào Toà Thị chính.

 

Khi trở lại chính quyền, ông nắm Bộ Thuộc Địa, lúc này tôi đang có một nhiệm sở dễ chịu ở Paris nên xin ông cứ để tôi yên ở lại đó. Quan hệ giữa hai chúng tôi vẫn thân thiết và hai gia đình vẫn thường mời nhau đến nhà ăn cơm.Bà Nelly Bonnivet là một phụ nữ trạc tứ tuần, còn xinh đẹp, được chồng cưng chiều, tỏ ra là một phu nhân bộ trưởng hoàn hảo. Còn tôi cũng đã lập gia đình mười năm rồi và sống hạnh phúc với Madeleine.

 

Vào đầu tháng sáu, vợ chồng Bonnivet mời chúng tôi ăn tối tại một nhà hàng trong “ Rừng “ (2). Chúng tôi có sáu người, buổi tối thật vui vẻ, đến nửa đêm vẫn chưa muốn chia tay. Bonnivet, người đã lâng lâng, ngỏ ý muốn đi Hội chợ Neuilly. Khi còn nắm quyền, ông thích đóng vai quốc trưởng Haroun- al - Raschid (3) để được nghe mọi người trầm trồ khi ông ấy đi qua : “ Kìa, ngài Bonnivet đấy! “

 

Ba cặp vợ chồng đã quá xuân cố tìm mà không ra cái hương vị trẻ trung trong những trò chơi con trẻ, thật ra chẳng vui vẻ gì. Chúng tôi chơi nhiều trò xổ số và trúng giải những chiếc bánh, những con thuyền bằng thuỷ tinh và những con vật nặn từ bột mì. Ba người đàn ông đã bắn trúng những con tàu quay, những vỏ trứng trôi lờ đờ trên mặt nước. Sau đó chúng tôi đi tới chỗ chiếc tàu hoả chạy vòng tròn, có lúc lộ ra ngoài trời, có lúc chui vào trong tấm bạt như chui vào đường hầm. Nelly Bonnivet đề nghị lên tàu chơi. Madeleine có vẻ như thấy trò chơi chẳng hào hứng gì và những chiếc đệm ghế không mấy sạch sẽ, nhưng không muốn mọi người mất vui, thế là chúng tôi đến mua vé. Trong lúc chen chúc để lên tàu, nhóm chúng tôi bị cắt làm hai. Chỉ có mình tôi cùng toa với Nelly Bonnivet.

 

Chiếc tàu nhỏ quay rất nhanh và vòng quay thiết kế làm sao mà hành khách trên toa cứ ngã nhào vào nhau. Ngay khúc cua đầu tiên, bà Bonnivet đã suýt ngã vào lòng tôi. Đúng vào lúc này, tấm bạt đã dìm chúng tôi vào bóng tối và tôi hoàn toàn không thể giải thích với anh chuyện gì đã xảy ra trong vài giây sau đó. Đôi khi người ta có những hành động mà ý thức không kiểm soát được. Tôi chỉ có thể nói được rằng Nelly gần như nằm dài trên đùi tôi và tôi đã vuốt ve bà ấy như một anh lính mới hai mươi vuốt ve cô gái mà anh đã dẫn đi hội chợ. Vẫn không ý thức được mình đang làm gì, tôi tìm đôi môi bà ấy, và không bị cưỡng lại, hai đôi môi gặp nhau, nhằm lúc con tàu chui ra vùng ánh sáng. Như có sự thoả hiệp, chúng tôi vội buông nhau ra ngay và nhìn nhau, choáng váng, sững sờ.

 

Tôi còn nhớ là lúc đó tôi đã cố tìm hiểu xem khuôn mặt bà Nelly Bonnivet biểu lộ điều gì. Bà vuốt lại mái tóc, chăm chú nhìn tôi không nói gì. Cái giây phút ngượng ngùng đó trôi qua nhanh thôi. Tàu dừng lại, chúng tôi gặp lại trên sân Bonnivet, Madeleine, và hai người cùng đi kia.

 

-   Trò chơi này quá trẻ con đối với chúng ta, Bonnivet mệt mỏi nói, thôi đã đến giờ chúng ta về đi ngủ.


Madeleine tán thành và chúng tôi quay lại Cửa Maillot (4) và từ biệt nhau. Khi hôn tay bà Nelly, tôi nhìn vào mắt bà, bà vẫn nói cười vui vẻ với Madeleine, không để lộ một dấu hiệu nào.

 

Tôi không thể nào ngủ được. Sự việc bất ngờ xảy đến làm xáo động cuộc sống bình lặng lâu nay của tôi. Tôi chưa bao giờ là kẻ hay theo đuổi phụ nữ, từ khi lấy vợ lại càng không. Tôi rất mực yêu thương Madeleine và chúng tôi hoàn toàn tin tưởng nhau. Còn đối với Bonnivet thì tôi vẫn yêu quý và biết ơn. Vậy mà ma quỷ xui khiến sao mà tôi cứ nôn nóng muốn gặp lại Nelly, muốn biết cái nhìn của bà ấy khi chúng tôi rời nhau có ý nghĩa gì. Sửng sốt? Hận thù? Anh biết đấy, con người dù khiêm tốn nhất cũng giấu trong lòng đôi chút kiêu ngạo. Tôi tưởng tượng một ham muốn kín đáo bỗng trỗi dậy trong giờ khắc ngẫu nhiên. Nằm trên giường sát cạnh giường tôi, Madeleine vẫn thở đều một cách nhẹ nhõm.

 

854 . TRƯƠNG VŨ Mưa ướt Vị Thành

 

Trương Vũ
MƯA ƯỚT VỊ THÀNH

Chân dung Trương Vũ, tranh Trương Thị Thịnh, sơn dầu trên bố, 24” x 30”, 1986

Cách đây hơn 20 năm, tôi bắt đầu tham dự khá thường xuyên vào các sinh hoạt văn học ở hải ngoại, trong suốt một thời gian khá dài kể cả lúc còn làm việc toàn thời gian ở NASA trước khi về hưu. Hợp tác với Wayne Karlin để thực hiện tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven, hợp tác với giáo sư Huỳnh Sanh Thông của đại học Yale cho tập san Việt Học The Vietnam Review, viết bài và hợp tác với một số tạp chí văn học Việt Nam ở hải ngoại, thuyết trình ở một số hội thảo về văn học, v.v... Sự tham dự tương đối năng động vào những sinh hoạt đó có vẻ như bất bình thường, vì văn học là một lãnh vực tôi không hề được đào tạo ở trình độ cao. Mà, ngay cả ở trung học, bạn bè đều biết tôi là một đứa học trò rất tầm thường về môn văn. Từ bé tới lớn, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nhà văn hay một giáo sư văn chương.

Một hôm, trong một hội thảo hè dành cho các nhà văn trẻ tổ chức ở đại học St. Mary thuộc tiểu bang Maryland, một nhà văn trao đổi với tôi về trường hợp của cô. Cô mê văn chương, viết rất nhiều truyện ngắn, đang vật lộn với đời sống và phấn đấu với chính mình để xem có nên tiếp tục sống toàn phần cho văn chương và bán phần cho sinh kế, hay ngược lại. Cô muốn tôi lấy kinh nghiệm cá nhân để giúp cô ý kiến. Rất tiếc, hôm đó tôi chẳng giúp gì được vì chẳng có kinh nghiệm nào về chuyện này. Câu trả lời của tôi khá mông lung. Văn chương có giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống của tôi thật nhưng không phải để tôi trở thành nhà văn, mặc dầu đôi khi, do những gì đã viết ra, nhiều người trong văn giới gọi tôi là nhà văn. Tuy nhiên, nhân câu chuyện trên, tôi thấy cần viết một bài về đề tài này, về cái vị trí của văn chương trong đời sống của mình, để từ kinh nghiệm riêng chia sẻ được gì với người khác. Đặc biệt, tôi muốn chia sẻ với những bạn trẻ giống như tôi trước đây, không được đào luyện tốt về văn chương ở trường ốc và sống với những ngành nghề gần như trái ngược. Tôi xin viết một cách tản mạn, và tản mạn từ những chuyện rất riêng tư.

Tôi tin mỗi người trong chúng ta đều mang trong tim mình những dấu ấn, những tì vết gây ra từ một biến cố trong đời, một chấn động mạnh hay có thể chỉ là một hình ảnh đến rất nhanh, như một nụ cười, một giọt nước mắt, … Để rồi, sau đó, vào một lúc rất bất chợt, con tim nhói lên, cái cách vui buồn thương ghét trong cuộc đời bỗng thay đổi. Một bài thơ, một cuốn sách đã đọc vào một lúc nào đó cũng có thể làm nên chuyện như vậy.

Tôi xuất thân là một thầy giáo toán, được gọi nhập ngũ khi có lệnh tổng động viên lúc chiến tranh ở miền Nam trở nên tàn khốc. Sau hơn hai năm, được biệt phái trở về dạy học lại. Cách sống của tôi thay đổi hẳn. Đời sống trong quân ngũ có làm tôi thay đổi thật, nhưng ảnh hưởng lớn nhất thật ra là từ một bài thơ, của một nhà thơ sống cách đây hơn ngàn năm ở một nơi xa lắm.
Cách đây gần 50 năm, sau khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đi trình diện đơn vị ở một hải đảo xa. Tôi nhớ, đó là một buổi sáng mưa nhẹ hột. Trên đường đi đến đơn vị, tôi và một người bạn cùng khóa mang ba-lô đi bộ lên một ngọn đồi, trên đó có một quán ăn nhỏ. Chúng tôi vào quán uống cà phê. Ngồi khá lâu vì mưa bắt đầu nặng hột. Đơn vị ở cách đó không xa nhưng qua mưa không nhìn thấy. Cả hai châm thuốc hút, rồi bỗng nhiên, tôi nhớ tới một bài thơ của Vương Duy. Tôi đọc lên. Bạn tôi chỉ mỉm cười, im lặng, phà khói thuốc, rồi lãng đãng nhìn những giọt mưa rơi từ mái tôn xuống bậc thềm. Năm đó, dù đã dạy học một thời gian trước khi động viên, tôi chỉ mới vừa qua tuổi 26. Bạn tôi, cũng cùng tuổi và cả hai đều đã có gia đình. Tôi nhớ rất rõ bản tiếng Hán, Vị Thành Khúc (), của Vương Duy:

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
西Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

Và, cả bản dịch của Ngô Tất Tố:

Trời mai mưa ướt Vị Thành
Xanh xanh trước quán mấy nhành liễu non
Khuyên chàng hãy cạn chén son
Dương Quan đến đó không còn ai quen 
             
Đây chắc không phải là bài thơ hay nhất của Vương Duy và càng không phải là bài thơ hay nhất của Đường Thi. Chắc cũng không có bao nhiêu bạn đọc cảm xúc gì nhiều khi đọc bài này. Nhưng, với tôi, khi đọc lên tôi xúc động. Tôi biết tôi đã đọc nó lần đầu tiên từ cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, lâu lắm rồi, khi còn ở trung học, trong căn nhà cũ gần bờ biển Nha Trang, nơi tôi đã sống suốt tuổi thơ. Bài thơ đó, thời gian đó, không gian đó, với những xúc cảm của lúc đó, tưởng quên đi, nhưng không. Cũng từ đó, tôi đọc nhiều sáng tác văn học hơn mỗi khi rảnh và nhớ lại nhiều bài thơ đã học và đã quên.

Ở hải đảo có một thời gian tôi làm sĩ quan tuần tra. Tôi nhớ, một buổi tối, mưa tầm tã, khi hết phiên trực, tôi ghé vào lều của một ông thượng sĩ già, xin cà phê uống. Ở đó, người sĩ quan trực kế tiếp, MDT, cũng đang ngồi uống cà phê. MDT trước khi động viên dạy Pháp văn ở Huế. Trong khi trò chuyện, bỗng nhiên T. nói về những tiểu thuyết Pháp đang ăn khách như Bonjour Tristesse, Un Certain Sourire,… của Françoise Sagan, rồi quay trở lại nói về những tác phẩm học ở thời trung học, những tác phẩm của Alphonse Daudet hay Anatole France, rồi Nguyễn Du của ngày xưa, rồi Bùi Giáng của ngày nay, rồi quay sang nói về Sartre, về Camus, v.v… Chúng tôi nói say sưa, ông thượng sĩ già châm thêm cà phê, lặng lẽ nghe và thỉnh thoảng nở nụ cười độ lượng. Trước khi chia tay và bắt đầu phiên trực của mình, T. nói với tôi: “Tụi mình… à la recherche de la jeunesse perdue!” Tôi cũng thấy mình già đi thật. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, thấy… tếu tếu. Tuy nhiên, những câu chuyện theo kiểu câu chuyện trong lều của ông thượng sĩ già đó, đã giúp tôi rất nhiều để những ngày tháng nơi hải đảo bớt đi cái nhớ nhà, cái lo sợ, cái nhàm chán. Và, dù hễ mở miệng là thích nói về cái tuổi trẻ đã mất, nhưng chính vào thời gian đó, từ những câu chuyện văn chương đó, tôi thấy cái tuổi trẻ thật sự của mình bắt đầu bừng lên một sức sống mãnh liệt. Tôi nghĩ đến những ngày tháng tới, khi không còn chinh chiến, hay khi được trở về với đời sống thường dân, tôi sẽ sống khác, nhìn cuộc đời cách khác. Và, quả thật, khi về lại, tôi vẫn tiếp tục dạy toán, nhưng tôi có khác.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

853. TIỂU LỤC THẦN PHONG - ĐUỔI THEO ÁNH SÁNG



Những tia nắng đầu ngày lấp lánh trong trẻo như pha lê, vườn cây hớn hở tắm trong ánh nắng tươi mát, từng phiến lá hả hê nhả dưỡng khí vào dất trời. Màu xanh cây lá mát mắt, mát dịu cả tâm hồn. Màu xanh chắt ra từ nước nguồn nước mẹ thiên nhiên, từ năng lượng ấm áp của nắng gió để ròi chuyển thành năng lượng sống của vô số chiếc lá. Thần ánh sáng Helios trên chiếc xe kéo bởi những con ngựa có bờm lửa lướt qua bầu trời. Ánh sáng tràn ngập cả không gian khiến cho gã người phải mở mắt ra.

Trải qua một đêm dài, gã người ngủ say nhưng mộng mị vẫn diễn ra mà không sao kiềm chế được. Mộng mị vốn là một phần của đời sống gã người, đừng nói chi lúc ngủ, ngay cả lúc thức gã ta vẫn cứ sống trong mộng kia mà. Gã người thức dậy để chuẩn bị cho một ngày mới, nói là mới nhưng chẳng có chi mới, ngày nào gã cũng thực hiện bao nhiêu việc đó, lao lực cày kiếm tiền mưu sinh, nuôi thân, nuôi gia đình và nuôi cả những cơn mộng mị vô cùng tận.

Một ngày mới của gã người dù ở đồng quê quần quật với trâu bò, ruộng nương, bờ bãi…Ánh sáng đầu ngày còn mát mẻ với gã ta nhưng khi đến giấc trưa và xế chiều thì trở thành một cực hình. Ánh nắng thiêu đốt cháy đen da thịt, cả thân hình còm cõi quắt queo. Đời dù khổ thế nhưng không thể bỏ được, nếu bỏ làm thì đời còn thê thảm hơn, không chỉ mình gã ta mà còn cả gia đình hắn và cả cái xã hội này. Bởi vậy mà ngày qua ngày, tháng năm nối nhau, đời từng đời…gã người cứ quần quật với ruộng nương bờ bãi, mồ hôi gã ta  rơi xuống và đôi khi cả nước mắt nữa đã biến thành dưỡng chất nuôi dưỡng mùa màng.

Gã người ở độ thị lại khổ kiểu khác, khi ánh nắng ban mai còn chưa đủ phủ ngập phố phường thì gã ta đã lục tục kéo nhau ra đường. Những công xưởng, nhà máy nuốt hết bọn họ vào trong. Gã người ở chốn thành đô quần quật dưới ánh sáng nhân tạo của đèn neon. Ngày dài lắm và ngày nối tiếp ngày, bọn họ chẳng mấy khi được tắm mình trong ánh sáng ban mai. Bọn họ không bị thiêu đốt bởi ánh nắng trưa hay xế chiều nhưng lại bị sức nóng từ máy móc làm cho kiệt quệ. Sức nóng từ máy móc còn nghiệt ngã hơn, vắt kiệt sức lực của bọn họ, khi về đến nhà thì rã rời cả thân tâm. Khi ánh hoàng hôn nhập nhoạng vướng vất trên phố phường, những gã người nơi đô thị lại hùng hục chạy về như thể bị những tia nắng cuối ngày đuổi dí sau lưng.

**

852 . PHAN TẤN HẢI - BÓNG TRÒN: KHI CHẠY THEO BANH LÀ HẠNH PHÚC



Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.

Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.

Tôi học chơi bóng tròn từ thời trung học cơ sở, chữ xưa gọi là trung học đệ nhất cấp. Tôi nghĩ rằng đó là cơ may rất đẹp và nhiều kỷ niệm, khi một đứa học trò như tôi từ trường Trần Lục ở Sài Gòn được tập ở sân Hoa Lư vào một giờ nào đó vào cuối tuần, theo vị thầy thể dục thể thao ấn định khung giờ trước. Trong những buổi tập đó, thường là từ 7 giờ sáng tới 9 giờ sáng, nếu tôi nhớ không nhầm, cha tôi đánh thức tôi lúc 4 giờ sáng, lấy xe Mobylette, một loại xe hai bánh xưa cổ chạy xăng, chở tôi ra một quán cà phê của người Hoa ở góc đường Lê Văn Duyệt (bây giờ đổi tên thành Cách Mạng Tháng 8) và Tô Hiến Thành (không rõ đổi tên gì) ngồi một chặp, để ba uống ly cà phê và hút xong điếu thuốc, và để tôi ăn xong một cái bánh bao, rồi mới chở tôi tới sân Hoa Lư, nơi theo tôi nhớ là cách Sở  Thú (Thảo Cầm Viên) khoảng 5 hay 7 đoạn đường. Một thời gian sau, ba mua cho tôi cái xe đạp. Từ đó, tôi phải tự tới trường. Nhưng mê bóng tròn vẫn là mê không rời.

Có khi bọn học trò rủ nhau đá banh, mê quá, quên cả trời đất. Lúc đó, thỉnh thoảng, tôi làm thơ lục bát (hồi đó, đệ lục, tức là lớp 7 bây giờ, là phải học làm thơ). Trong đó, có mấy dòng, nhớ mang máng, có chữ vương vướng âm vận, bây giờ chỉnh lại, như sau.

Banh lăn qua cỏ sân trường

Làm cho thằng nhóc mê hồn chạy theo

Đá cho chiều vướng trăng treo

Đá cho nắng sớm cũng trèo vô xem

Pele tới ngó ngoài hiên

Hú trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.

Tôi nhớ những buổi sáng ở sân Hoa Lư, nhiều nhóm học trò từ nhiều trường và nhiều lớp khác nhau chia ra các nơi trên sân cỏ để tập. Hơi sương buổi sáng sớm mang hơi mát ngấm vào người, chạy một chặp thì hơi nóng khắp người. Nhưng cũng nơi sân cỏ, nhiều tháng sau, tôi nhận ra mình không có năng khiếu về bóng tròn, và tự biết có tập cỡ nào cũng luôn luôn thua nhiều bạn. Chạy không nhanh bằng người là hỏng rồi. Kỹ thuật đưa chân lạng qua, lạng lại để lừa banh, dẫn banh không khéo cũng là hỏng. Tuy nhiên, bóng tròn hay tuyệt vời là chỗ, bạn chỉ cần ngồi bên lề và nhìn thấy banh lăn trên sân cỏ là đủ thấy hạnh phúc rồi. Nghĩa là, chỉ ngó banh là đủ để hạnh phúc.

Tuy nhiên, thời gian chơi bóng tròn nơi sân cỏ không nhiều trong niên học. Thời đó, xã hội mình chú trọng điểm học nhiều hơn. Tôi và đám bạn lại tìm ra môn chơi bóng mới: đá banh bàn. Thường là nơi một tiệm tạp hóa, hay một tiệm bi-da vẫn có một hay hai bàn bóng đá. Kiểu chơi cũng đơn giản. Đó là một chiếc bàn hình chữ nhật mô phỏng sân bóng tròn thu nhỏ, có thành băng cao để bóng không bay ra ngoài. Có tổng cộng 8 thanh sắt xuyên qua hai bên thành bàn (mỗi bên 4 thanh). Trên các thanh này có gắn cố định các quân người máy nhỏ bằng nhựa hoặc gỗ đại diện cho cầu thủ. Ở hai đầu bàn có hai lỗ khoét sâu xuống, đóng vai trò là cầu môn của mỗi bên. Quả bóng nhỏ, cứng, có kích thước tương đương hoặc nhỏ hơn quả bóng bàn (ping-pong) một chút, thường làm bằng nhựa cứng hoặc gỗ nhẹ để lăn và nảy tốt. Tôi và đám bạn học thường lui tới các nơi có bàn đá banh bàn ở khu Tân Định. Hễ tan trường là tới chơi chừng nửa giờ rồi mới về nhà. Tuy nhiên, la cà như thế, tôi lại học thêm, biết chơi môn bi-da (Billiards), nhưng chỉ biết môn bi-da loại bàn 3 banh, về sau thấy có loại cả chục quả banh (gọi là bi) thì lạ rồi. Khi chuyển trường sang Chu Văn  An thì tự nhiên tôi mất thói quen chơi banh bàn và bi-da.

Có nhiều lý do. Trong đó, tôi nghĩ là mê đọc nhiều hơn. Sách đã làm tôi lười ra sân cỏ hơn. Tôi mê truyện. Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh, tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh. Thực sự, cha tôi có một máy phát thanh (chữ Miền Bắc gọi là đài, chữ Miền Nam gọi là radio), nhưng tôi không dám đụng tới, vì chủ yếu là cha tôi dùng để nghe tin quốc sự trên các đài BBC, VOA. Và hình như, theo tôi nhớ, có thể là cha nghe cả truyền thanh từ Miền Bắc tới. Tôi đoán là Miền Nam cấm nghe đài Miền Bắc, vì những lúc như thế, ba tôi áp tai sát vào chiếc máy radio hiệu Panasonic của Nhật, mặt rất nghiêm và buồn. Tôi nghĩ rằng cha muốn nghe tin về Hà Tĩnh, nơi cha ra đời, nhưng chẳng bao giờ tôi dám hỏi cha nghe những gì. Thêm nữa, quốc sự là cái gì rất xa lạ với bọn học trò như tôi thời đó.

Có những buổi trưa, buổi chiều vui tưng bừng, là khi các bác, các anh trong xóm rủ nhau tới tiệm hớt tóc và nghe trực tiếp truyền thanh các trận banh. Tôi không nhớ chính xác các diễn biến, chỉ nhớ trong ký ức những đứa học trò như tôi cũng vô nghe ké, rồi hô lớn vô, vô, vô... cùng với các bác người lớn. Có khi tôi cầm theo một cuốn sách ra tiệm hớt tóc, vừa ngồi nghe, vừa đọc khi không có những âm thanh vang dội. Nghĩa là, càng lớn, tôi càng nghe một cách lơ là, không kiểu nghe từng lời của bác Huyền Vũ. Bây giờ, tất cả những hình ảnh và âm thanh hiện lên trong trí nhớ như một giấc mơ.

Cầu thủ Pele lúc đó là một huyền thoại, một thiên tài. Hồi xa xưa đó chưa có truyền hình. Bây giờ, có lúc vô YouTube tìm xem Pele, thì phim đen trắng cũ mèm, mờ mờ ảo ảo. Tội nghiệp Pele. Không thể nào như Messi hiện nay, hình màu TV, xem trên YouTube rực rỡ màu sắc âm thanh là dư sức phê rồi. Sau khi nhóm học sinh Trần Lục chuyển trường sang Trung học Chu Văn An, thế là được nâng cấp: tập thể dục thể thao ở sân Phan Đình Phùng (sân này không rõ đổi tên mới là gì). Nhiều thầy nổi tiếng hơn, thế là học trò đứa nào cũng tự thấy trang nghiêm hơn. Thêm nữa, phải lo thi cử. Rồi bẵng đi nhiều năm nữa.

Có mấy dòng thơ còn nhớ mang máng, từ khi tôi nghĩ rằng mình hiểu được lờ mờ Tâm Kinh, lúc đó mừng vô cùng tận, bây giờ chỉnh lại cho ý nghĩa ngay ngắn. Dù vậy, lúc đó tôi vẫn nói chuyện đá banh cho giảm bớt chất thơ mộng.

Banh đi qua tuổi học trò

Lăn theo đồi núi sông hồ biển xa

Sút một cú, trời mưa hoa

Cúng dường vô lượng ta bà sắc không.

Nửa khuya thức ngó mười phương

Thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng.

Rất nhiều năm về sau, khi vào nghề báo, có lúc tôi nghĩ mình nên viết một truyện ngắn có ý nghĩa liên hệ tới bóng tròn. Tôi nhớ rằng trong thời gian Cuộc Chiến Việt Nam 1954-1975, có lẽ đợt ngừng bắn chính thức lâu nhất (ít nhất là trên danh nghĩa) khoảng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định Paris. Nghĩa là, từ ngày 28 tháng 1/1973 trở đi. Thời gian ngưng bắn cũng là hai phía Nam quân và Bắc quân rủ nhau cắm cờ, lấn đất, giành dân... trước khi tiếng súng bùng phát dữ dội trở lại, vì khi hai bên cùng lấn đất thì sẽ đụng nhau để bùng nổ các đợt tấn công mới.

Tôi nghĩ ra một truyện ngắn, nội dung sơ lược là: trong những ngày mới ngưng bắn sau Hiệp định Paris, quân hai miền Nam, Bắc còn choáng váng, còn ngây ngất vì niềm vui ngưng bắn, thì tại một ngôi làng nào đó ở Miền Trung, nơi bọn thanh niên hồi nhỏ học chung trường tiểu học, rồi học lên trung học, có nhiều kỷ niệm khi chia phe đá banh. Tới khi chiến tranh bùng nổ khắp nơi, có lẽ nên ghi là khoảng giữa thập niên 1960s, sau khi quân Mỹ bắt đầu vào Đà Nẵng, thì các thanh niên mới lớn trong làng liền chia đôi, y hệt như thời Rồng Tiên ly dị, một nửa lên núi tòng quân cho VC, và một nửa xuống biển nhập ngũ cho VNCH.

851 . LÂM MINH ANH - XA XƯA CHỮ MẪN


Lâu lắm rồi ông  Lý mới  đến thăm ông Tư vào cuối tuần, cả nhà vui vẻ đón tiếp vị khách đặc biệt,  Lam Ngọc chuẩn bị trà bánh rồi cùng Tân ngồi xuống thăm hỏi trò chuyện. Ông Lý hỏi cậu bé Minh Châu đâu, Tân thưa:

-Dạ ! Cháu nó hôm nay đến chùa sinh hoạt gia đình Phật tử từ sáng sớm. Nói về nó, cháu lại có chuyện kể bác nghe. Số là, mấy hôm trước cháu đang tập viết chữ Nho, thằng bé đứng cạnh nhìn rồi nói :”Sao ba mẫn tiệp thế?” . Cháu giật mình hỏi nó học được chữ MẪN TIỆP ở đâu ra vậy? Minh Châu cười cười lễ phép trả lời có lần con học thuộc mấy chữ trong Tam Thiên Tự của Ngô Thời Nhiệm được ông nội khen mẫn tiệp có nghĩa là thông minh, khéo léo. Hôm nay nhân có ba và bác Lý ở đây, xin giảng giải cho tụi con có chút hiểu biết về chữ MẪN. 

Ông Lý vui vẻ nói:

-Chữ Mẫn mang nội hàm rất sâu sắc, là linh hồn cổ xưa. Một trong những chữ Nho cổ được ghi nhận sớm nhất và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

  Giáp cốt văn xuất hiện vào thời kỳ văn hoá đồng xanh 1300 TCN (tiếp theo sau là đồng đỏ), tự dạng Mẫn , bên trái chữ Mỗi (chỉ nữ giới hoặc bà mẹ); bên phải bộ phốc (xưa kia viết là Hựu , hoặc Thốn ) động tác tay vỗ nhẹ vào người hay vật. Biểu thị nghĩa gốc là tay chân nhanh nhẹn, ứng xử linh hoạt, còn nghĩa rộng là cần cù, gắng sức, cẩn trọng, khang kiện, thông minh, sáng suốt…

Tuy nhiên, trên Giáp cốt văn (trước đó là Đào văn) một số tự dạng sơ khai được khắc họa bằng hình ảnh bởi người cổ đại chưa rõ ràng (chữ , +, cũng không tránh khỏi trong trường hợp ấy), hoặc bị thời gian lâu dài bào mòn xoá mờ, do đó, người đời sau dựa vào hình dạng trên để giải thích nên mang những nghĩa khác nhau:

1/ Chữ Mẫn có hình dạng bên trái chữ (chỉ nữ giới); bên phải bộ (chỉ bàn tay), mang nghĩa nữ giới dùng tay lấy vật trang sức nhanh nhẹn cài lên mái tóc hoặc búi tóc phía sau đầu.

2/ Chữ Mẫn biến dạng giống như chữ Độc , có tự dạng trên là chữ Sinh (sinh sản, chỉ sự sống), hoặc chữ Thủ (bàn tay); dưới chữ Mẫu (bà mẹ), mang nghĩa khi phụ nữ sinh con, cần bàn tay bà đỡ nhanh nhẹn, dịu dàng nâng em bé chào đời kịp lúc.

3/ Chữ Mẫn , +) có dạng bên trái (bà mẹ), bên phải chữ Lực (chỉ sức mạnh), khi người mẹ sinh con, cần bàn tay bà đỡ đủ sức mạnh, cẩn trọng khéo léo để nâng em bé chào đời, người mẹ cũng cần sức mạnh chịu đựng  khó khăn trong giây phút “khai hoa nở nhuỵ”.

4/ Chữ Mẫn có nghĩa thông với chữ Mẫu (chỉ ngón tay cái, hoặc ngón chân cái), mang nghĩa nữ giới dùng ngón tay cái rẽ tóc hoặc điểm xuyết đồ trang sức trên đầu.

5/ Chữ Mẫn khi làm hình dung từ là diễn đạt sự ngây thơ trong trắng của thiếu nữ, và khi đọc là Hối , mang nghĩa ăn năn, hối lỗi.

6/ Sách Nhĩ Nhã giải thích thêm rằng:

+Phần Thích Nhạc (Lạc) nói: Mẫn trong ngữ cảnh Ngũ Cung âm nhạc phương Đông, là nốt nhạc Thương, quen gọi là Xự tương đương với nốt La thuộc khoá Sol của Thất Cung phương Tây. Biểu tượng nốt nhạc mang âm thanh nặng, người nghe trở nên ngay thẳng, can đảm (Thương vị chi Mẫn - 商謂之敏).

+Phần Thích Huấn nói: Mẫn tức Mẫu (ngón tay cái, hoặc ngón chân cái) là chữ giả tá. Chữ ở đây mượn chữ có âm gần giống nhau để viết, mang nghĩa tay chân mau mắn thận trọng, tâm trí mẫn tiệp, mẫn đạt…Ở dòng thứ 17 còn nói rằng: Theo nguồn gốc bộ tộc nhà Châu, vũ là dấu tích đại nghiệp tiền nhân lưu lại, mẫn là dấu vết ngón chân cái của thượng đế để lại. (Lý đế vũ mẫn, vũ, tích dã, mẫn, mẫu dã - 覆帝武敏武跡也敏挴也). Và ở dòng thứ 97 nói: Chân đạp gấp gáp, và chạy nhanh lẹ gọi là mẫn. (Quyết quyết tích tích, mẫn dã - 蹶蹶踖踖敏也).

850. QUANG ĐẶNG - TẢN MẠN PHÚ YÊN.

                                                                                        



Trung tuần tháng sáu vừa rồi đưa một nhóm bạn Sài Gòn về thăm Phú Yên. Bốn ngày ba đêm quá ít cho một tỉnh duyên hải miền Trung dày đặc cảnh quan và di tích nhưng cũng đủ để khắc họa một Phú Yên quyến rũ trong mắt người phương Nam.

 

Tiếng là dân Phú Yên nhưng sinh trưởng trong chiến tranh sau đó lại đi xa nên những hiểu biết về quê hương rất ít. Chuyến đi lần này phải trông cậy vào cô bạn thân không sinh ra ở đó lại rành đất Phú như trong lòng bàn tay.

-Ngày thứ nhất đi về phía Nam

Rời khách sạn lúc 5h sáng Tuy Hòa còn đang ngái ngủ. Ngang qua cầu Hùng Vương dòng sông Ba lấp lánh những tia nắng đầu tiên. Trên con đường vắng thênh thang thỉnh thoảng vài người đạp xe tập thể dục sớm lướt qua. Xe chạy thêm chút nữa cung đường biển Phước Tân- Bãi Ngà hiện ra trước mắt. Những động cát nối dài, núi trùng điệp một bên, biển loáng bạc nắng sớm một bên. Ai nỡ từ chối những góc ảnh tuyệt vời như thế! Nhưng Bãi Môn- Mũi Điện( hay mũi Đại Lãnh) cung đường ven biển đẹp nhất ở Phú Yên mới khiến ai nấy trầm trồ. Những khúc cua tuyệt vời. Những vách đá cheo leo. Biển xanh thẫm phía đưới. Núi và biển cuộc rượt đuổi không cùng. Một lát sau ngâm chân trong làn nước mát lạnh bên một con lạch nhỏ ở Bãi Môn, ngắm ngọn hải đăng Mũi Điện một trong những nơi đón bình minh đầu tiên trên đất liền Việt Nam thấy lòng mênh mông vô cùng. Trưa hôm đó đoàn nghỉ chân ở Vũng Rô nơi người viết có nhiều kỷ niệm. Trước năm 1975 mỗi khi đi học ở Sài Gòn về xe đò ngang qua đây biết là sắp về đến nhà. Năm 1978 trên một chuyến tàu chợ Tuy Hòa- Nha Trang nhiều chi tiết xảy ra đã viết thành một truyện ngắn(1).

Chiều muộn xe ghé biển Làng Lò Hòa Hiệp rồi hồ Hóc Răm Hòa Tân. Một ngày mệt nhoài với nhiều điểm đến nhưng ai nấy đều thích thú với các cảnh sắc hùng vĩ, thơ mộng, hữu tình của Phú Yên.Trên xe về lại Tuy Hòa ai đó hát một câu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang: “ Đường đi đưa tới phía Nam…”(2).

-Ngày thứ hai đi về phía Bắc

Nếu vùng biển phía Nam để lại nhiều kỷ niệm thì vùng biển phía Bắc mang nhiều tiếc nuối. Năm 1977 học xong khóa I trường CĐSP Nha Trang về nhận nhiệm sở đầu tiên ở xã An Chấn sau đó là xã An Hòa. Ba năm đi dạy thời bao cấp, những bước chân chập chững vào đời thiếu thốn cả tinh thần lẫn vật chất tâm trạng nào quan tâm đến cảnh đẹp. Hiện tại trên bản đồ du lịch Phú Yên Tuy An là vùng biển tập trung nhiều thắng cảnh. Xe chạy qua các điểm du lịch nổi tiếng Cầu Gỗ Ông Cọp, Nhà Thờ Mằng Lăng, Gành Đá Dĩa, Hòn Yến cũng đổng thời chạy qua những địa danh gắn bó một thời như Đầm Ô Loan, An Hòa, Nhơn Hội, Phú Thường để rồi tiếc nuối sao mình biết về vùng đất này muộn thế! Nhớ một đêm năm 1979 ngoài trời tối đen như mực, có tiếng động nhẹ ở ngoài sân. Hỏi cô bạn trọ cùng nhà, dạy cùng trường làm gì thế? Cậu học trò lớp Chín dưới Yến tặng con cá ngừ. Lúc đó cứ ngỡ Yến là một nơi xa xôi nào lắm. Giờ lặng người khi đứng trước Hòn Yến. Chưa có cảnh biển nào gây xúc động đến thế! Hai khối đá lớn nhỏ sừng sững giữa trời mây có cảm giác với tay là chạm được. Nước biển thì như một bức tranh phối màu có chủ đích. Phía xa là xanh dương đậm, gần hơn là màu rêu của đá, trắng của san hô. Đúng là một tuyệt tác của thiên nhiên. Càng tiếc hơn nữa khi cô em họ đổi về An Hòa sau đó mấy năm bảo, thập niên 80 Hòn Yến còn đẹp hơn bây giờ rất nhiều đồng thời tiết lộ Yến(3) chỉ cách trường cấp II An Hòa nơi chị dạy hơn một cây số có thể đi bộ được.

Xe rời An Hòa đi ngang qua địa phận xã An Chấn những cái tên như Phú Quý, Long Thủy lại thấy bồi hồi. Ôi Tuy An một thời tuổi trẻ!

 

Bên cạnh các thắng cảnh phía Nam và phía Bắc các bạn Sài Gòn còn dành nhiều tình cảm cho thành phố Tuy Hòa. Hiền hòa, không chặt chém, ồn ào thậm chí kẹt xe chẳng khác gì Sài Gòn như nhiều thành phố du lịch biển khác. Tuy Hòa tạo cho người nơi khác đến cảm giác được sống chậm, bình yên. Chì là một buổi tối ngồi trên chiếc ghế lười cạnh tháp Nghinh Phong ngắm ánh đèn nhấp nháy ngoài khơi. Chì là một buổi sáng uống Café Tùng, đi dọc đường Tản Đà nghe bạn kể tuổi thơ với những chùm chim chim, dúi dẻ nơi căn nhà của ngoại dưới chân núi. Chỉ là khoảnh khắc đứng trên núi Nhạn nhìn ngọn Chóp Chài rồi dòng sông Ba tuôn mình ra biển lớn thầm thì, bạn có biết quê bạn thơ mộng lắm không? Và sau hết thảy thay cho lời khen ngợi là câu hứa sẽ trở lại Phú Yên nói chung, Tuy Hòa nói riêng lần nữa.

Phú Yên trong con mắt người phương xa như thế còn người gốc ở đó ra sao? Khẩu vị, thói quen, tâm hồn dù lưu lạc bao nhiêu năm vẫn là người con xứ biển. Số lần trở về nhiều hơn khi du lịch phát triển. Tự hào khi thấy hình ảnh quê hương xuất hiện trong các bộ phim nổi tiếng như Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh, Ngày Xưa Có Một Chuyện Tình, Hẹn Em Ngày Nhật Thực. Thế nhưng bên cạnh niềm vui còn vài nỗi băn khoăn. Có cần thiết phải làm một con đường trang trí màu sắc lòe loẹt dẫn vào Gành Đá Dĩa, những hàng quán nhếch nhác cản trở tầm nhìn ở Hòn Yến, những lồng bè buôn bán luộm thuộm ở Vũng Rô, cảnh giả ở các khu du lịch. Mong sớm có một bàn tay tổng đạo diễn nếu không làm cho Phú Yên đẹp hơn xin hãy trả lại vẻ đẹp tự nhiên vốn có của thiên nhiên ban tặng.

 

Hôm chia tay Tuy Hòa xe qua khỏi cầu Đà Rằng hỏi các bạn nghĩ thế nào về Phú Yên? Thay cho câu trả lời là hàng loạt câu hỏi địa phương từng đến tên gì, quán ăn đó ở địa chỉ nào, chả dông là chả ra sao, mùa nào du lịch Phú Yên thuận tiện nhất. Ông bạn nhà văn quê Đồng Tháp còn khoe cuốn sổ tay ghi chi chít các chi tiết cho loạt bài Phú Yên Du Ký sắp ra mắt. Cô bạn gốc Chợ Mới An Giang lo xa, lần sau đi Phú Yên sẽ đến những điểm nào? Biển trời Phú Yên rộng mở khắc đi khắc đến!

 

QUANG ĐẶNG

 

1/Truyện ngắn Ở Lại Cung Đường trong cuốn Muôn Nẻo Đường Về của QĐ

2/Bài hát Chiều Qua Tuy Hòa của NS Nguyễn Đức Quang

3/Yến tên gọi tắt Hòn Yến của dân địa phương    

 

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

849 . TT-THAI AN - KHÔNG XIN MÀ ĐƯỢC - Truyện

                                                                             

Sau khi sanh xong đứa con gái, Hường và con được cho vào phòng nằm chung với mấy mẹ con người khác vì phòng dành cho nhiều người nằm chung. 

Năm 1970, bệnh viện Đà Lạt nhỏ, nhưng có khoa hộ sinh dành cho các bà cư trú ở quanh đây đến sinh đẻ.  Riêng Hường từ nơi khác đến đây theo chỉ định của cha mẹ. Sinh xong thì phải trở về nhà.  Vì thế, những bà mẹ khác có chồng hoặc cha me, hoặc chị em đến thăm nuôi, đem cơm vào cho ăn mỗi ngày.  Hường chẳng có ai đến thăm nên phải nhờ mấy bà dọn dẹp ở đây ra phố mua thức ăn đem vào cho nàng.

Cô y tá trưởng tên Nhân khoảng trên dưới năm mươi tuổi, dáng mảnh khảnh, nói năng từ tốn thỉnh thoảng ghé thăm sản phụ đã lưu ý thấy Hường đơn chiếc, chẳng người thăm nuôi nên hay dừng lại hỏi thăm.  Cô Nhân nói chuyện nhẹ nhàng khiến Hường yên tâm trò chuyện với cô.  Hường kể với cô Nhân rằng chồng đi lính, đóng quân ở xa, lại phải ra trận thường xuyên nên chờ lâu mới có thư của chồng.  Cô Nhân thương cảm hoàn cảnh của Hường nên có hôm cô đem thức ăn vào cho Hường.

Bệnh viện cho sản phụ và con ở lại bốn ngày sau khi sanh mà thôi. Vì thế, Hường do dự tìm cách nói với cô Nhân trước ngày phải ra khỏi viện.  Trong thâm tâm, Hường rất phục một người xuất thân từ một gia đình gia giáo như cô. Chỉ nhìn tuổi của cô lớn hơn tuổi của cha mẹ của Hường mà đã học ra y tá chuyên ngành trong khi thế hệ của cô nhiều đàn bà con gái còn chưa biết chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết là tốt lắm rồi.  Cô Nhân không có chồng nhưng cô có nghề nghiệp tốt, đời sống ổn định.

Hường chờ cô Nhân đến bên giường, cô hỏi thăm trước:

-Ngày mai mẹ con cháu xuất viện rồi, có ai đến rước không?

Hường ngại ngùng nói khẽ, không muốn người khác nghe thấy:

-Cô ơi, chẳng ai đến rước hết.  Mới có người ở nhà trọ đem thư của đơn vị anh ấy đến cho cháu bảo rằng anh mất tích từ tuần trước. Cháu phải lên đơn vị anh ấy chờ xem tin tức thế nào.  Cháu mạo muội xin cô giúp cháu một việc, không biết có được không?

-Việc gì cứ nói ra, nếu cô giúp được thì cô sẵn sàng.

-Xin cô cho con gái cháu ở lại trong bệnh viện thêm một tuần, cháu đi khoảng 1 tuần sẽ về đón nó ra. Cô ơi! Cháu không biết nhờ ai nữa. Xin cô giúp cháu, cháu muôn vàn tạ ơn cô!

Chần chừ một lúc, cô Nhân hỏi:

-Cô thấy hoàn cảnh cháu mà thương, không nỡ từ chối.  Thế nhà cháu ở đâu? Cháu làm việc ở đâu, cho cô biết để ghi xuống.  Còn tên tuổi của cháu thì bệnh viện đã ghi sổ, nhưng cháu cũng đọc cho cô ghi xuông đây.

Hường mừng đến phát khóc, nắm ngay tay cô Nhân và cám ơn chân thành. Cô Nhân cũng rơm rớm nước mắt vì thương hoàn cảnh của Hường quá.  Cô thấy cuộc chiến này đã để lại quá nhiều quả phụ và con mồ côi, cô không giúp được gì cho họ. Nhưng hôm nay, đứng trước một thiếu phụ chỉ ngoài hai mươi đang khốn khó vì chồng mất tích, đứa con thơ chưa được gặp cha nên cô không đành từ chối giúp đỡ.