Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

792 . TRƯƠNG VŨ Kẻ sĩ trong xã hội Việt Nam

 


 

Khi nhận lời viết bài cho tạp chí “Kẻ Sĩ”, tôi có vài lúng túng. Tôi, người viết, phải là một kẻ sĩ? Hay, giới độc giả đa số là những kẻ sĩ, nói khác đi, thuộc tầng lớp sĩ phu? Giống như, với một tạp chí khoa học, người viết hay người đọc phần đông thuộc giới khoa học, hay ít ra, cũng ham thích các bộ môn khoa học. Mặt khác, về danh từ “kẻ sĩ”, tôi được đọc hay nghe nhiều khi còn ở trường học, hay khi đọc các sách văn, thơ, sử ký cũ. Trong đời sống hằng ngày, hiện nay, danh từ này rất ít được dùng đến. Và, nếu được dùng đến, để chỉ những ai, những người như thế nào trong xã hội chúng ta, trong nước hay trong các cộng đồng ở hải ngoại? Và, tại sao, từ xưa đến nay, không có một vị nữ lưu nào được gọi là kẻ sĩ? Chữ “kẻ sĩ” chỉ được dùng cho đàn ông? Bài viết này khởi đi từ những lúng túng như vậy.

 

Hãy thử có một cái nhìn tổng quát về vai trò của tầng lớp sĩ phu Việt Nam qua những giai đoạn quan trọng của lịch sử từ cuối thời Trịnh Nguyễn Phân Tranh đến thời hiện đại. Trong thời thịnh của Hán Nho, tầng lớp sĩ phu hay kẻ sĩ là một tầng lớp được kính trọng trong xã hội. Kẻ sĩ là một mẫu người lý tưởng. Trong một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ, ông khẳng định vị trí hàng đầu của Kẻ Sĩ trong câu “Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên”, theo quan niệm xếp hạng “sĩ nông công thương” ngày xưa.  Nói chung, qua cách hiểu thông thường, đây là thành phần có học, mê đọc sách, và hiểu đạo thánh hiền. Theo như một câu nói khá thịnh hành ở Việt Nam của Hoàng Đình Kiên, một họa/thi gia nổi tiếng thời Bắc Tống, “Sĩ phu ba ngày không xem sách soi gương mặt mũi đáng ghét, ăn nói nhạt nhẽo khó ưa” (Sĩ đại phu tam nhật bất độc thư, đối kính giác diện mục khả tăng, hướng nhân diệc ngữ ngôn vô vị).

 

Trong xã hội cũ, tầng lớp sĩ phu hầu như đồng nghĩa với tầng lớp nho sĩ. Đọc sách vở về những thế kỷ sau cùng, có cảm giác như mục đích chính của đa số trong tầng lớp này là đậu đạt và làm quan. Dù luôn là một tầng lớp được kính trọng và ưu đãi, tầng lớp sĩ phu thường tỏ ra bất lực trước những đổi thay của thời cuộc hay những biến động lớn trong xã hội. Còn giới quan lại thì ngày càng trở nên tham ô và bất tài. Đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí, chúng ta hình dung được khá rõ cách ứng xử nặng về chữ nghĩa, giỏi tránh né của giới sĩ phu Bắc Hà, trong những tranh giành quyền lực đẫm máu trong phủ chúa, trong các biến động gây ra bởi loạn kiêu binh, hay cách họ chạy theo hay chống đối vua Lê, chúa Trịnh, hay sự tiến quân của Nguyễn Huệ ra Bắc. Khi người Pháp đánh chiếm Việt Nam, có một số sĩ phu yêu nước đứng ra lãnh đạo và phát động cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, như Phan Đình Phùng, Đề Thám, v.v… Tuy nhiên, dù được đông đảo thành phần nông dân ủng hộ, họ thất bại, vì đa số sĩ phu thụ động. Trong xã hội Việt Nam thời Hán Nho, tiếng nói và hành động của sĩ phu thường có ảnh hưởng rất lớn. Nhưng, với đa số thụ động này, hành động được ngưỡng mộ chỉ là sự thanh liêm khi làm quan, từ quan khi bất mãn với thời cuộc, với thế sự, rồi về ở ẩn hay vui thú điền viên. Trong lúc đất nước lâm nguy, nhiều người đang hoặc từng giữ những chức vụ quan trọng vẫn tiếp tục làm thơ ca ngợi chữ “nhàn” hay ca ngợi đời sống rời xa thế tục. Chúng ta hiểu được sự thất bại của một nền giáo dục nặng từ chương đã lỗi thời, hiểu được hoàn cảnh của đất nước vào lúc đó, hiểu được sự thối nát của chế độ phong kiến đương thời nhưng rất khó hiểu về tinh thần sĩ phu của một dân tộc có một lịch sử lâu dài về văn hiến. Vì, lòng yêu nước và khả năng ứng xử của một kẻ sĩ không phụ thuộc vào lòng yêu nước, khả năng ứng xử của một ông vua hay những ông đại thần hèn nhát. Chỉ cần 11 tên lính Pháp với những khẩu súng trường rất thô sơ vẫn hạ được thành Ninh Bình.

 

Sau khi người Pháp chiếm Đông Dương, lớp nho sĩ tan rã dần. Xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện một thành phần mới thay thế lớp nho sĩ cũ. Thành phần mới này tiếp thu một nền giáo dục từ các trường học tổ chức theo chương trình Pháp. Danh từ trí thức bắt đầu xuất hiện. Sự đóng góp của họ cho xã hội khá phức tạp, có tiêu cực có tích cực, nhưng khó để đánh giá một cách đơn giản. Tuy nhiên, nói chung, về mặt tích cực, cách biểu lộ tình yêu nước và những đóng góp cho xã hội, cho quê hương vượt trội hơn lớp nho sĩ cũ. Họ có kiến thức rộng hơn, năng động hơn, thực tiễn hơn, nhìn xa hơn, và nhiệt huyết hơn. Trong thời nho mạt này, ngoài thành phần trí thức mới, một số nho sĩ cũ biết nhìn về một thế giới rộng lớn hơn, thấy được cái hay của người, kể cả của kẻ thù, và cái dở của mình. Không được đào tạo như lớp trí thức mới nhưng bằng khả năng và tầm nhìn lớn, họ tiếp thu cái hay của tinh thần trí thức Tây phương. Họ lập nên Đông Kinh Nghĩa Thục, phát động phong trào khai dân trí, phong trào Đông Du, v.v...  Những phong trào này nhận được sự hỗ trợ nồng nhiệt từ thế hệ trẻ hơn. Trong giai đoạn lịch sử này, người dân Việt cũng đồng thời chứng kiến nhiều vận động từ giới trí thức về cải cách xã hội, chính trị, văn hóa, qua báo chí và sách vở. Lòng yêu nước và khát vọng độc lập, khát vọng tiên tiến khơi dậy mạnh mẽ. Nhiều phong trào yêu nước liên tiếp được phát động, từ cuộc khởi nghĩa Yên Bái cho đến cuộc chiến tranh giành đôc lập về sau. Có thành công, có thất bại, nhưng chính nhờ vào sự dấn thân tích cực của đa số trí thức, thời cuộc thay đổi.

 

Trong cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-1954, tầng lớp này tham dự vào hai phe khác nhau. Lúc đó, sự chống đối giữa những trí thức không thuộc đảng phái nào chưa quyết liệt lắm. Tùy hoàn cảnh chính trị và địa dư, họ có thể cầm súng bắn nhau ngoài mặt trận, nhưng trên những diễn đàn trí thức, qua những ứng xử giữa con người với con người, họ không quá tàn ác với nhau. Khi đất nước chia đôi vào 1954, họ chấp nhận chia tay trong ôn hòa để đi về hai bên giới tuyến đối nghịch. Tuy nhiên, sau đó, mọi cách ứng xử hoàn toàn thay đổi.

 

Ở miền Bắc, sau 1954, sau vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất và những thanh trừng chính trị đẫm máu theo mẫu Stalin và Mao, tầng lớp trí thức hầu như không còn nữa. Thành phần nồng cốt của xã hội miền Bắc là thành phần cán bộ. Một trí thức cũ có thể trở thành cán bộ, nhưng đã là cán bộ, nhất là cán bộ trong một chế độ như chế độ Cộng Sản thì không còn là trí thức vì không thể duy trì được tư duy và nhân cách độc lập. Nhiều trí thức nổi danh trong thời Pháp thuộc không tiếp tục ứng xử độc lập như trước, để có những đóng góp cho xã hội, cho nhân loại như trước. Bài học họ để lại cho đời chỉ còn là những kinh nghiệm về chịu đựng và khả năng tồn tại. Nhiều khuôn mặt lớn trong Nhân Văn Giai Phẩm, chẳng hạn, cũng thế.

 

Ở miền Nam, sau 1954, ảnh hưởng của tầng lớp trí thức trong lãnh vực chính trị không nhiều. Không so được với thành phần chỉ huy quân đội và cán bộ một số đảng phái. Tuy nhiên, trong xã hội, họ vẫn còn là một tầng lớp tương đối được kính trọng, giúp giảm thiếu phần nào sức mạnh của các khuynh hướng độc tài và lệ thuộc. Ho giữ được khá tốt sự độc lập của trường học, đặc biệt, tính tự trị của đại học. Họ không để chính trị ảnh hưởng đến chương trình giảng dạy, và có nhiều đóng góp vào sự phát triển cho xã hội trong giáo dục và văn hóa. Trong điều kiện của cuộc chiến, ảnh hưởng này vẫn không đủ sức lấn áp để ngăn chận sự sụp đổ của miền Nam.

 

Kể từ 1975, xã hội Việt Nam hoàn toàn thay đổi, sau khi thống nhất, sau cách kết thúc đẫm máu, và sau những trả thù tàn bạo, những vượt biển thảm khốc. Một bộ phận người Việt khá đông rời quê hương, di tản đến nhiều quốc gia khác nhau. Ngày nay, ở hải ngoại, lớp trí thức cũ không còn bao nhiêu, lớp mới dần hội nhập vào giới trí thức Tây phương. Trong nước, số trường trung, tiểu học, và đại học nhiều hơn. Rất nhiều, so với trước 1975. Đào tạo về chuyên môn khá tốt. Tuy nhiên, đại học chưa được tự trị và có xu hướng đào tạo chuyên gia hay cán bộ hơn đào tạo trí thức. Mỗi năm, thành phần ưu tú tốt nghiệp trung học, có điểm số cao nhất, được tuyển chọn vào khối trường công an như học viện Chính trị Công an nhân dân, Học viện An ninh nhân dân, v.v... Điểm số dành cho các trường đại học Bách khoa, Kinh tế, Khoa học,… thấp hơn, thấp hơn cả ngành Hàn Quốc học của Đại học Quốc gia Hà Nội. Sinh viên theo ngành Hàn Quốc học này sau khi tốt nghiệp có thu nhập và có tương lai tốt hơn nhiều so với những sinh viên theo các ngành Việt học. Trong xã hội Việt Nam hiện nay, thành phần có ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của xã hội vẫn là thành phần cán bộ. Tiếp đến là giới đại gia. Về giới trí thức hiện nay, GS Hoàng Tụy đã nêu một nhận xét rất đáng lưu-ý:

 

“…Mỗi người chỉ biết việc của mình, chỉ lo cho mình, ít khả năng và cũng không thích thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp. Dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức VN. Chưa bao giờ trong xã hội ta có nhiều Xuân Tóc Đỏ như bây giờ. Tôi nói có vẻ bi quan, nhưng thà nhìn khắt khe một chút để biết người biết ta, còn hơn nhắm mắt chủ quan một cách lố bịch…” [1]

 

Nhìn lướt qua dòng lịch sử từ cận đại đến hiện đại như trên, ta thấy, nếu có một tầng lớp sĩ phu trong xã hội Việt Nam, thì đó phải là tầng lớp nho sĩ trong xã hội cũ và tầng lớp trí thức trong xã hội mới. Đến đây, chúng ta bắt đầu có chút mâu thuẫn. Mâu thuẫn ở chỗ tinh thần trí thức, chịu ảnh hưởng của giáo dục Tây phương, với tinh thần nho sĩ, chịu ảnh hưởng giáo dục Khổng Mạnh của Trung Hoa. Một bên chú trọng vào tư duy độc lập, khuyến khích tìm tòi, khuyến khích cống hiến những khám phá mới, khuyến khích phản biện. Một bên, cố học để thấu hiểu nhưng không phản biện sách vở, lời dạy của thánh hiền, để lập công-danh, để giúp đời, để sống đẹp, và dùng sách vở không khác gì của nho sĩ thuộc một, hai ngàn năm trước. Dù chịu ảnh hưởng văn hóa và chế độ giáo dục của Trung Hoa, đa số nho sĩ của ta từ thế hệ này qua thế hệ khác rất nặng về từ chương, không thật sự có đam mê khám phá và hiểu biết thâm sâu. Ngoài thơ, phú, không có công trình đáng kể nào về triết học, văn học, nghệ thuật như Trung Hoa. Nếu chấp nhận lớp trí thức mới này là sĩ phu thì khó chấp nhận lớp nho sĩ cũ là sĩ phu, dù rằng danh từ sĩ phu khởi đi từ thời thịnh của Hán Nho.

 

Một vấn đề khác chúng ta gặp phải khi theo dõi vai trò của tầng lớp trí thức, tức lớp sĩ phu mới, trong xã hội Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến nay. Thời Pháp thuộc, người Pháp áp đặt nền cai trị nhằm mục đích khai thác cho quyền lợi và quyền lực của họ, đồng thời xây dựng một chế độ giáo dục dựa trên khuôn mẫu của họ. Nhưng chính trong thời kỳ đó, tầng lớp trí thức được hình thành và có nhiều ảnh hưởng tích cực vào nhiều lãnh vực, làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn về văn hóa, dân trí, học thuật, v.v... Họ tạo nên thời cuộc. Nhưng tại sao, khi đất nước chịu sự cai trị của người Pháp, họ tạo nên thời cuộc, và khi không còn sự cai trị đó nữa, thời cuộc chế ngự họ? Lý do, theo tôi, dù dựng nên cho Việt Nam vì nhu cầu cai trị, nền giáo dục của Pháp vẫn là một nền giáo dục tiến bộ, nhân bản và nhằm đào tạo trí thức. Giáo dục của Việt Nam, ở miền Bắc trước 1975 và trên toàn quốc sau 1975 không nhằm mục đích đó. Một lý do khác, như được trình bày tiếp theo đây, liên quan đến định nghĩa chữ Kẻ Sĩ và tinh thần kẻ sĩ.

 

Nhiều dân tộc có mẫu người lý tưởng của họ, mang bản sắc của họ, và mỗi khi nói đến dân tộc đó người ta nghĩ ngay đến mẫu người này. Chẳng hạn, “gentleman” của người Anh hay “samourai” của người Nhật. Có phải “kẻ sĩ” là mẫu người lý tưởng, mang bản sắc của dân tộc Việt Nam và mỗi khi nói đến người Việt Nam thì nghĩ ngay đến tinh thần kẻ sĩ?

 

Trong văn thơ cũ, khi đọc đến chữ “kẻ sĩ” chúng ta dễ liên tưởng đến giới nho sĩ. Chẳng hạn, khi đọc bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ như đã nêu trên. Và, liên tưởng đến giới trí thức ngày nay. Nhưng một nho sĩ không hẳn là kẻ sĩ và một trí thức cũng không hẳn là kẻ sĩ. Bên cạnh, nếu chúng ta chấp nhận một định nghĩa cho chữ Kẻ Sĩ dựa trên từ nửa Hán nửa Nôm này, thì một sĩ phu cũng không hẳn là một kẻ sĩ.

 

Riêng chữ “trí thức”, chúng ta thường sử dụng nó trong nghĩa rất tương đối. Đa số thuộc tầng lớp mà chúng ta gọi là trí thức trong thời Pháp thuộc chưa tốt nghiệp đại học, nghĩa là còn ở tầm học trò khá thấp trong ngành chuyên môn của họ. Thời đó, ai tốt nghiệp đại học đương nhiên được xem là trí thức. Ngày nay, số tốt nghiệp đại học đông hơn nhiều, tiêu chuẩn cao hơn. Tuy nhiên, cách gọi ai là trí thức vẫn mang giá trị tương đối so với giá trị thực đòi hỏi ở các xã hội có truyền thống giáo dục Tây phương cao, như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật, v.v... Tạm thời, xin chấp nhận cách nhìn tương đối về trí thức trong bài viết này.

 

Trở lại chuyện sĩ phu, trí thức và kẻ sĩ. Theo tôi, chữ “sĩ” trong “kẻ sĩ” không chỉ có nghĩa là học trò, là người có học mà còn có nghĩa như trong chữ “sĩ khí”. Như vậy, trong xã hội ngày nay, một kẻ sĩ là một trí thức có sĩ khí, có trách nhiệm làm tốt xã hội, quyết liệt bảo vệ sự thật và không chịu khuất phục dưới bất cứ đe dọa, áp lực nào mà mình tin là phản trí thức. “Kẻ Sĩ” cũng không bị giới hạn vào giới tính, như “Sĩ Phu”. Từ quan điểm đó, nhìn lại những giai đoạn lịch sử kể trên, cái mà xã hội chúng ta thiếu không phải là sĩ phu hay trí thức mà chính là kẻ sĩ. Thời thuộc Pháp, Trần Đức Thảo là một trí thức lớn, sau khi về nước, ông chịu bao áp lực, ông không tiếp tục nói, viết ra những suy nghĩ thật nữa, không dám đóng góp cho xã hội, cho nhân loại bằng khả năng trí thức của ông. Ông chịu khuất phục. Hiểu biết cái chính trị của xã hội Việt Nam vào lúc đó, chúng ta thông cảm cho ông, thương tâm ông. Ông vẫn là một trí thức nhưng rõ ràng, không là một kẻ sĩ. Ông không là Tư Mã Thiên. Ông không là Emile Zola. Ông không là Shakarov. Ông là Phùng Quán. Xã hội chỉ thay đổi được cho tốt hơn nếu xã hội đó có nhiều kẻ sĩ.

 

Kẻ Sĩ là một mẫu người lý tưởng. Một vấn đề cần được bàn ở đây là có phải nó biểu trưng cho bản sắc của dân tộc Việt như Gentleman của Anh hay Samourai của Nhật? Câu hỏi rất khó trả lời. Trong đời sống hằng ngày, không phải chỉ người Anh, mà chính chúng ta, người Việt, vẫn thường dùng chữ gentleman để nhận xét về phong cách của một người Anh nào đó. Cách dùng chữ samourai cũng vậy. Chỉ mới đây thôi, nhiều người Việt đã dùng chữ tinh thần samourai để nói về phong cách của một cô công chúa Nhật khi quyết định rời bỏ hoàng cung. Nhưng, trong đời sống hằng ngày, mấy khi chúng ta dùng chữ kẻ sĩ để nói về một người Việt nào đó? Và, ngày nay, trong đời sống hằng ngày, trong các trao đổi giữa giới trẻ với nhau, chúng ta có thường nghe hay thấy chữ kẻ sĩ được dùng trong câu chuyện? Với một hiểu biết, có thể nông cạn, về một thực tế như vậy, tôi chưa dám trả lời câu hỏi trên.

 

Tuy nhiên, Kẻ Sĩ vẫn là một mẫu người lý tưởng. Cho xã hội Việt Nam. Tôi thích câu trả lời của Reginald Johnston, ông thầy người Anh của hoàng đế Phổ Nghi, trong phim The Last Emperor. Trong buổi học đầu tiên, Phổ-Nghi hỏi Johnston: “Ông có phải là một gentleman?” Johnston trả lời: “Thưa ngài, tôi cố gắng làm một gentleman.” Tôi không được đọc cuốn sách của Johnston, nói về thời gian ông làm gia sư cho Phổ Nghi, nhưng sau khi đọc hồi ký của Phổ Nghi, tôi tin Johnston quả thật là một gentleman.[2] Câu chuyện đó có thật sự xảy ra hay chỉ có trong phim, tôi vẫn thích câu trả lời đó. Cho dù, ông có thật sự là một gentleman hay chưa phải.

 

Kẻ Sĩ là một mẫu người lý tưởng. Tôi xin mượn câu trả lời của Reginal Johnston trong phim để kết thúc bài viết này: “Cố gắng làm một kẻ sĩ”. Nhất là, trong học thuật, trong văn học, và trong nghệ thuật.

 

TRƯƠNG VŨ

Virginia, tháng 2 năm 2022.

 

(1] Hoàng Tụy, “Để có lớp trí thức xứng đáng”, Tạp chí Tia Sáng, (2008).

[2] Pu Yi, Paul Kramer biên-tập, The Last Manchu: The Autobiography of Henry Pu Yi, the Last Manchu Emperor of China [Người Mãn-châu cuối cùng: Tự-truyện của Henry Phổ-Nghi, Hoàng-đế Mãn-châu cuối cùng của Trung-quốc], Kuo Ying Paul Tsai dịch (London: Weidenfeld and Nicolson, 1987).

791 . PHẠM CAO HOÀNG : Bốn mươi hai năm, chưa quên.

 

Sông Ba, đoạn chảy qua cầu Đà Rắng, Tuy Hòa - Photo by Phạm Cao Hoàng, ,27.9.2017


vậy là bốn mươi hai năm
từ khi giã biệt dòng sông quê nhà
từ khi từ biệt Tuy Hòa
tôi lên Đà Lạt rồi qua Hoa Kỳ
đi thì vẫn cứ phải đi
trở về thì vẫn đôi khi phải về
dẫu gì đất cũng là quê
là hương của những ngày xưa êm đềm
dẫu gì máu cũng về tim
vườn xưa vẫn nhớ tiếng chim thiếu thời
và tôi nhớ tuổi thơ tôi
chiều thu nhớ nắng đêm ngồi nhớ trăng
mùa đông nhớ một chỗ nằm
về đây lại nhớ những năm tháng buồn
bốn mươi hai năm, chưa quên!

Phạm Cao Hoàng
Tuy Hòa, 28.9.2017 

Phạm Cao Hoàng - Photo by Nguyễn Hữu (Virginia, 2023)

ĐƯỜNG LÊN ĐẬP ĐỒNG CAM (Phú Yên) = Photo by Phạm Cao Hoàng, 28.9.2017

790 . NGUYỄN MINH NỮU Làm Báo Ở Washington DC

 

Nhà văn Nguyễn Minh Nữu - Ảnh PCH


Định cư tại Mỹ năm 1995. Ở tuổi 45, tôi có 5 năm thơ dại sinh trưởng tại Hà Nội, có 20 năm đi học, đi lính và sống với Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975 có 20 năm lăn lộn kiếm sống với Việt Nam Cộng Sản, tôi còn bao nhiêu năm để sống với đất nước tự do Hoa Kỳ nữa đây? Đến Mỹ ở lứa tuổi quá lứa cho đi học, những đam mê đọc và viết từ thời thanh niên đã tự giấu mình suốt mấy chục năm, một gia đình nhỏ những đứa con chưa đến tuổi trưởng thành, mọi thứ đều tạm gác lại cho tương lai của lứa đời sau.

Khi định cư tại Hoa Kỳ, niềm mơ ước đầu tiên và lớn nhất của mình là được cầm bút trở lại. Không thể sống toàn thời gian bằng ngòi bút như khao khát, nên tôi tìm kiếm việc làm từ ngành báo chí. Trong vùng, đang có nhiều tờ tuần báo phát hành. Tất cả các tờ báo này đều là tập hợp của các bản tin thời sự, bình luận chính trị và quảng cáo. Trong đó, có bốn tờ báo mạnh, mạnh nghĩa là có nhiều quảng cáo, tờ báo dày và có một phong cách riêng như nhắm vào một thành phần độc giả thí dụ về Phụ Nữ, về Chính Trị, về Xã hội và về một ngành nghề như Nail. Nhưng Văn Chương hoàn toàn vắng bóng trong các tờ báo này. Bước khởi đầu là tôi gọi điện đến xin việc và bị từ chối vì đã đủ người. Sau đó, thấy một quảng cáo cần người đánh máy tiếng Việt, tôi gọi điện đến xin việc và được gọi tới phỏng vấn.

Người tôi gặp là Lê Khiêm. Khiêm còn trẻ, đang là người cung cấp các bản tin cho các báo Việt Ngữ trong vùng.  Sau năm 1975, Hiệu trưởng trường trung học Văn Học tại Đà Lạt cũ là Chử Bá Anh định cư tại vùng Hoa Thịnh Đốn. Ông hình thành một cơ quan thông tấn, chuyên nghiên cứu và dịch thuật các bản tin quốc tế liên quan đến Việt Nam từ các hãng thông tấn Mỹ, các tư liệu văn học cũ và các sinh hoạt người Việt khắp nơi trên thế giới, đúc kết thành một bản tin mỗi ngày, cung cấp cho những người có nhu cầu đặt mua, và các tờ báo Việt Ngữ làm tư liệu. Khi ông Chử Bá Anh từ trần, người cộng tác với ông là Lê Khiêm tiếp nối công việc đó.

Lê Khiêm còn trẻ, năng động và nồng nhiệt. Khiêm hỏi tôi có biết đánh chữ tiếng Việt không? Tôi gật đầu, Khiêm đưa tôi một một xấp giấy viết tay, và chỉ cho tôi một cái Computer bỏ trống để làm việc thử. Khoảng hai giờ sau, Khiêm ghé lại nhìn qua những gì tôi đã làm, và mời tôi vào phòng riêng trò chuyện. Khiêm hỏi, thực sự anh muốn gì? Bởi vì nếu anh đến xin việc đánh máy thì em nghĩ là anh không sống được. Tiền lương lao động đơn giản hiện nay thấp nhất là 4,25 đồng một giờ, còn ở đây, em trả tiền theo số trang đánh máy, giá mỗi trang là 1,50 đồng, anh đánh máy suốt hai giờ và chỉ được có ba trang. Cho nên em cho rằng anh muốn một cái gì khác chứ không phải muốn đánh máy chữ kiếm tiền.

Tôi nói tôi vừa định cư tại Mỹ hơn một năm. Trước 75 tôi cầm bút viết văn, có làm việc cho một vài tờ nhật báo ở Saigon, tôi yêu thích làm truyền thông vì phù hợp với khả năng của mình. Tôi nghĩ tôi có thể đọc, có thể viết và có thể trở lại được cái hào hứng sáng tác tôi có. Nhưng không tìm được công việc từ các tờ báo hiện tại ở đây, và tôi tưởng  Hãng Tin này sẽ có một công việc cho mình.

Lê Khiêm vui vẻ, cái công việc ngày xưa anh làm là viết báo chứ không phải làm báo, rất gần gũi với việc biên tập và thực hiện một tờ báo chứ không phải là cặm cụi đánh máy ăn tiền. Anh thực sự có muốn tự thực hiện một tờ báo trong vùng này?

- Sao làm được khi mới qua Mỹ, tiền không có và vốn liếng Anh ngữ chưa đầy lá mít.

- Không phải đâu, tiền để thực hiện một tờ báo không nhiều và có thể xoay sở được, Anh Ngữ rất cần nếu đi vào thị trường Hoa Kỳ, làm báo tiếng Việt lại không quan trọng mấy, anh đang có một thứ mà nhiều người làm báo ở đây không có; đó là Đọc, đó là Nhận Định, đó là Phân Tích và Tổng hợp. Nếu anh muốn, em có thể giúp anh.

- Bằng cách nào?

- Em sẽ chỉ cho anh cách trình bày một tờ báo, cách nuôi sống tờ báo, địa điểm in ấn, cách phát hành và cung cấp cho anh bài vở tin tức, nghĩa trọn bộ để có một tờ tuần báo, còn có tìm được quảng cáo hay không là do khả năng giao tiếp của anh, tờ báo có độc giả hay không là do nội dung anh chọn lựa và đưa vào.

Bài toán đầu tiên là với kích thước khổ giấy Taploi, in 2 màu, số lượng 2000 bản, giá phải trả cho nhà in là 450 đồng. Bản tin thì thay vì phải mua 7 bản tin cho một tuần để chọn lựa, mỗi bản tin 50 đồng thì Lê Khiêm nói em sẽ tính anh mỗi tuần 50 đồng thôi. Giá quảng cáo một trang là 50 đồng. Nghĩa là nếu lấy được 20 trang quảng cáo, còn 20 trang đi bài vở thì mỗi tuần sẽ có được số tiền cho công chọn bài vở, layout trình bày, phát hành báo tới các địa điểm kinh doanh. Nhưng quan trọng và thú vị là được làm công việc phù hợp với năng lực của mình và niềm mơ ước của mình.

Bản tin mà Lê Khiêm thực hiện là sự nối tiếp công việc dang dở của Giáo Sư Chử Bá Anh sau khi ông từ trần. Công việc của Chử Bá Anh là một bản sao của Thông Tấn Xã Việt Nam trước năm 1975. TTXVN là cơ quan của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, có Tổng biên tập, và đội ngũ hùng hậu các phóng viên thời sự, phóng viên chiến trường, quan sát viên chính trị, dịch giả nhiều ngôn ngữ. Hàng ngày, có khi phát hành một tới hai, ba bản tin tổng hợp Chính trị, Kinh tế, Thời sự trong và ngoài nước. Ngoài việc gửi tới các báo chí, phát thanh, truyền hình những tin đáng chú ý trong và ngoài nước, còn là cách hướng dẫn dư luận theo một đường lối chính trị. Cái cần nhấn mạnh là, hướng dẫn dư luận, chứ không phải Chỉ Đạo truyền thông như sau này chúng ta thấy ở trong nước sau 1975.

Thực hiện một tờ báo ở vùng Hoa Thịnh Đốn, khác với thực hiện một tờ báo ở California, và tất nhiên là khác hơn rất nhiều việc thực hiện một tờ báo ở Việt Nam hồi trước 75. Khác như thế nào?

Báo chí ở Việt Nam trước, có tòa soạn với Chủ Nhiệm lo đối ngoại, một Chủ Bút hay Tổng thư Ký lo viết bài, đọc và chọn lựa bài của các bản tin và của các phóng viên gửi về. Có nhiều phóng viên thu thập tin tức, viết phóng sự xã hội, chiến trường, chính trị, thời sự, cộng với những mục thường xuyên mang tính biệt dị của từng tờ báo.

Báo chí Việt Ngữ ở California phát triển từ khoảng năm 1976 với một vài tờ tuần báo với những tin tức thu lượm từ báo chí Hoa Kỳ, những bài vở văn thơ đa số ghi nhớ lại trước 1975, và một số tin tức cộng đồng người Việt. Sau đó càng lúc càng phát triển mạnh mẽ, khoảng thời gian khi tôi làm báo, thì ở California đã có trên 50 tuần báo, ba tờ nhật Báo là Người Việt, Viễn Đông, Việt Báo, có tới ba hãng thông tấn thực hiện bản tin hàng ngày và ít nhất là khoảng 5 websites tiếng Việt được phổ biến và theo dõi. Báo ở Cali cạnh tranh rất nhiều, dù không thể như Việt Nam xưa, nhưng mỗi tờ báo cũng có ít nhất vài phóng viên viết phóng sự về người Việt, và căn bản là có một Ban Biên Tập có thực lực viết bài bình luận thời sự, sáng tác thơ văn và chọn lựa bài vở tin tức giữa trùng trùng lớp lớp những bài trên các bản tin và trên mạng.

Còn làm báo tại Hoa Thịnh Đốn lại khác hơn nữa. Mỗi tờ báo chỉ có một người biên tập, viết bài và nhiều lắm là một nhân viên làm về layout.

Làm tờ báo như thế, nghe có vẻ dễ dàng, nhưng không phải vậy.

Về tin tức, ngoài những bản tin mua có trả tiền để sử dụng chính thức, còn có những tin tức tiếng Việt trên các đài VOA, BBC, RFI và các websites tiếng Việt và người biên tập phải đọc tất cả để cân nhắc tin nào thật, tin nào giả, tin nào phù hợp với lập trường tờ báo, về các bài viết, cũng phải tìm đọc mênh mông các bài bình luận, tham luận, nhận định, và sáng tác văn học, để chọn ra để đăng trên báo của mình trùng với những điều mình ủng hộ.

Một kỷ niệm sẽ không quên được về làm báo. Đó là thời điểm chuẩn bị để xuất bản. Một số bạn bè trong vùng chân tình khuyên nhủ là suy nghĩ lại. Làm báo là con đường dễ chết, vì thiếu bài, vì thiếu người, vì không đủ tài chính nuôi tờ báo và còn vì sự đánh phá từ nhiều phía như bạn cùng nghề, các thế lực chính trị không cùng quan điểm  vì... ... Sau đó, một buổi gặp gỡ với bạn bè, tất cả các câu hỏi về năng lực, về ý tưởng, lòng kỳ vọng, mọi người đều khuyên nên nghĩ lại. Khi quay về nhà, một mình trong đêm vắng, trằn trọc suy nghĩ và quyết định. Tự nhiên chợt nhớ đến một trận đánh trong truyện Tây Hán Chí. Trận đánh giữa quân của Tây Sở Bá Vương Hạng Võ và Phá Sở Nguyên Nhung Hàn Tín.

Trận đánh quyết liệt đó, Hàn Tín lập một trận thế kỳ lạ ngược hoàn toàn với các binh pháp cổ xưa, đó đằng sau thế trận là một bờ sông lớn, nghĩa là tạo cho quân sĩ một tâm thế chỉ có một đường là Đánh chứ không có đường lui.  Tự xét về hoàn cảnh thực tế của mình, và nóng bỏng khao khát muốn được sống và làm việc bằng khả năng mà mình còn có được giữa xứ người, tôi bật dậy, dùng bút đen nét lớn viết trên bức tường ngay trước mặt bàn làm việc của mình ba chữ thật lớn: BỐI THỦY TRẬN. Vâng, đó là một trận thế mà sau lưng không có đường rút chạy.

Hơn hai mươi năm sau ngày 30/4, cộng đồng người Việt ở Mỹ đã hình thành bốn khu vực đông đảo là 1/ California, 2/ Texas, 3/ Washington State  và 4/ khu vực vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Đây là khu dân cư gồm Maryland phía bắc, Virginia phía nam, bao bọc thủ đô Washington DC ở giữa. Cả bốn khu vực đã có rất nhiều sinh hoạt về văn hóa, nhiều người cầm bút trước 75 đã bình tâm nhìn lại và viết lại, cùng với nhiều người mới hơn tham gia thực hiện các tạp chí mạng, tạp chí giấy.  Các tạp chí văn chương như Văn do Mai Thảo thực hiện, rồi Nguyễn Xuân Hoàng tiếp nối, Hợp Lưu  với Khánh Trường, Văn Học với Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Trịnh Y Thư, Thế kỷ 21 với Lê Đình Điểu, Đỗ Quý Toàn và những bài tham luận chính trị  trên nhật báo Người Việt của Ngô Nhân Dụng, Vũ Ánh, Cao Thế Dung, là những tư liệu quý hiếm mà các tờ báo địa phương sưu tầm phổ biến lại trong quan niệm về chính trị và nhân bản.

Chọn lựa tờ báo sẽ đi theo hướng bài vở như thế nào, và tờ báo phải có những đặc điểm riêng nào và để cho độc giả cũng như các đơn vị kinh doanh nhìn thấy được cái khác biệt với những tờ báo có sẵn.

Một tờ báo về văn chương nghệ thuật? Hay một tờ báo về thương mại dịch vụ? Cái cân nhắc chọn lựa chính là thiên hướng về phía nào. Hướng đi tôi chọn lựa là một phương tiện kiếm sống bằng báo thương mại, nhưng nghiêng bài vở về Nhân văn và Văn Học Nghệ Thuật để gửi tới một phần trong đám đông độc giả còn tha thiết khoảng trống này. Văn Học Nghệ Thuật không phải điều giải trí, mà hành trang để tới nhân bản nhân văn.

Tôi chọn tên là Tuần Báo Văn Nghệ, khi chưa có khả năng làm về văn học, thì hãy làm văn nghệ trước đã. Tờ báo sẽ có bốn chuyên mục mỗi tuần thật riêng tư mới lạ với báo chí trong vùng. Thứ nhất là bài viết ở trang 3, đặt tên là Tản Mạn Đời Thường do Chủ Nhiệm viết mỗi tuần, nói về đủ thứ nghe thấy, nhìn thấy, nghĩ về... trong tuần đó, một lời tâm sự nho nhỏ. Có lẽ đây là mục mà tôi trân quý nhất, vì đó chính là nơi nói được cái ước ao khi làm tờ báo ở vùng Hoa Thịnh Đốn. Ý tưởng này không phải do tôi sáng tạo ra, mà là một bản sao từ trước 1975 của nhật báo Tiền Tuyến. Đó là mục Tạp Ghi do Ký giả Lô Răng tức nhà văn Phan Lạc Phúc thực hiện hàng ngày trên trang 2 tờ báo. Mục Tạp Ghi này thực phong phú những đề tài nói tới bao gồm văn học, nghệ thuật, chính trị, quân sự, xã hội, được nhìn qua  ngòi viết đa tài và sâu sắc của Lô Răng, sau đó còn có nhiều người tham gia như Thanh Tâm Tuyền, Trần Hoài Thư... Tản Mạn Đời Thường là một cách thực hiện như thế, nhẹ nhàng hơn và gần gũi hơn với độc giả miền Đông Hoa Kỳ, bởi người viết đang thực hiện điều mà tôi khao khát là tôi đang ở đây và tôi nghĩ điều gì.

Mục thứ hai là Một Bông Hồng Trong Đời Sống, sưu tầm những tiểu truyện khoảng một trang về tình người, tình bạn, tình cha, tình mẹ, tình thầy trò, tình chiến hữu đa số sưu tầm từ loạt bài Chicken Soup, Học làm Người, Quà Tặng Cuộc Sống, những bài viết đã gây xúc động sâu sắc trên toàn thế giới, và thật hữu ích cho những người có dịp đọc được.

Mục thứ ba Thế Giới Nghệ Sĩ, mua lại tác quyền của nhạc sĩ Trường Kỳ, đăng tải hàng tuần về tiểu sử và quá trình của các tài năng trong âm nhạc, Và mục thứ tư là Lang Thang Trên Web, sưu tầm từ khắp nơi các tin rất ngắn các điều mới lạ vừa phát hiện ra trên khắp thế giới về thiên văn, địa lý, khoa học, đặc biệt lồng vào hành trạng và tác phẩm các tác giả văn học.

Những mục thường xuyên đó là câu chuyện văn học tản mạn mỗi tuần, là cung cấp các bài học nhân bản cho các bậc cha mẹ dạy dỗ con cái, là nhắc nhớ những tiếng hát, ca khúc đi theo ta suốt nửa đời người, và sau chót là phổ biến tổng hợp những kiến thức mới nhất bằng các bản tin ngắn gọn. Nội dung đó, thật vui vì đáp thỏa được nhu cầu của rất nhiều gia đình người Việt trong vùng, họ đến các cơ sở kinh doanh tìm xin báo Văn Nghệ, và kích động các cơ sở đó đăng thông tin kinh doanh trên tờ tuần báo họ yêu thích. Tôi tin rằng chính nội dung riêng biệt mà tờ báo chọn lựa đã tạo sức sống cho tờ báo suốt bao nhiêu năm. 

Bài viết ngắn này, xin gửi tới ba người đã cho phép Văn Nghệ thường xuyên được sử dụng bài vở trên Văn Nghệ là Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc với loạt bài Thư Gửi Bạn Ta, Nhà văn Tưởng Năng Tiến với loạt bài Sổ Tay Thường Dân và Bình Luận Gia Chính Trị Đại Dương. Với tôi, và cho đến bây giờ, vẫn cho rằng đó là những loạt bài rất thời sự, rất văn chương và sắc sảo nhất về những đề tài mà họ nhắc đến.

Tuần báo Văn Nghệ phát hành được 18 năm, từ 1997 đến 2014. Đình bản tháng 8 năm 2014 vì nhiều lý do, thứ nhất kinh tế lúc đó trì trệ sau bùng vỡ quả bóng địa ốc, các cơ sở kinh doanh người Việt đóng cửa, hoặc có mở cửa cầm chừng cũng thu gọn quảng cáo, tờ báo không còn đủ chi phí in ấn; thứ hai, lớp độc giả ngày xưa mỗi cuối tuần lái xe ra các trung tâm thương mại xin báo về đọc càng lúc càng hiếm hoi vì tuổi già, vì mắt yếu và đôi khi đã mãn phần. Lớp trẻ hơn tìm đọc tin tức bài vở trên hệ thống internet nhanh hơn, đa dạng hơn và dễ dàng hơn. Và ngay người chủ trương cũng ý thức được tuổi già đã tới, khoảng đời còn lại không nhiều, muốn dành thời gian cho những tâm nguyện khác, mà thời gian làm báo bận rộn cho kinh doanh đã không thực hiện được mơ ước của mình.

Dù đóng góp nhiều hay ít, dù thành công hay thất bại, cũng đã là kỷ niệm. Dù sao thì cũng đã một thời.

 

Nguyễn Minh Nữu

Dec 28, 2021


Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

789 . SONG THAO : CÁI TÊN NGỦNG NGẲNG

                                                                                                             


Ông thầy của tôi ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn tên Vương Hồng Sển, một cái tên không giống ai. Ông cũng là một ông thầy không giống ai. Tôi nhớ có lần ông nói trong lớp: “Qua nói cho các em biết. Sau này các em ra trường thành ông Cử ông Nghè, nói năng chi phải cẩn thận vì các em có bằng cấp. Cứ như qua đây muốn nói chi cũng đặng, chẳng ai bắt bẻ chi được”. Ông chỉ có bằng Brevet Elementaire, đậu trong khóa thi ngày 18/6/1923 nhưng vì những nghiên cứu về văn minh Việt Nam của ông nên được đặc cách dạy Đại học, môn Văn Minh Việt Nam. Bằng của ông chỉ là bằng Diplome! Cái tên Sển là độc đáo. Chính ông vẫn tự hào cả nước chẳng có ai có cái tên giống tên ông. Thực ra tên của ông khi khai để làm khai sanh đẹp hơn nhiều: Vương Hồng Thạnh. Nhưng người giữ sổ lục bộ người Hoa lại ghi là Sển theo cách phát âm của người Triều Châu. Năm 1915, khi ông được 11 tuổi, thân phụ của ông muốn làm khai sanh lại để đổi tên thành Thạnh nhưng ông không chịu. Ông nói: “Tôi nhứt định không đổi. Cha mẹ đặt tên làm sao tôi để y làm vậy. Mẹ tôi biết tôi với tên này thì xin để vậy để dễ nhìn dưới huỳnh tuyền”. Khi đó mẹ ông đã quy tiên.

Cái tên Sển của ông thầy tôi chỉ hiếm nhưng không có chi ngủng ngẳng. Ngày nay có nhiều cái tên ngủng ngẳng hơn nhiều. Có bao giờ các bạn nghe tới cái tên dài dằng dặc Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi chưa? Anh sanh năm 1987 tại thôn Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Cái tỉnh bị cho là “hay cãi”. “Quảng Nam hay cãi / Quảng Ngãi hay co / Bình Định hay lo / Thừa Thiên ních hết!”. Tên của anh Rưởi là một trường hợp cãi thầy chạy. Cha của anh là ông  Mai Xuân Cán, hành nghề lái đò, đã có 4 con. Theo chủ trương sanh đẻ có kế hoạch của nhà nước thời bấy giờ, ông đưa vợ lên trạm y tế xã để đặt vòng tránh thai. Ông tin tưởng vào hiệu quả của vòng nên không kiêng cữ chi. Nhưng bất ngờ vợ ông lại to bụng. Ông quyết định để vợ sanh chứ không phá. Ủy Ban Nhân Dân xã Đại Cường không xét tới chuyện đặt vòng mà vẫn mang thai của trạm y tế xã mà lại phạt ông 6.500 đồng về tội “vi phạm chính sách sinh đẻ có kế hoạch”. Nếu không nộp phạt xã sẽ không làm giấy khai sanh cho thằng bé. Số tiền 6.500 đồng thời đó không phải là số tiền nhỏ, ông không lo được. Vợ chồng ông năn nỉ Chủ Tịch xã và Trưởng Công An xã để được giảm tiền phạt nhưng họ không chịu. Nếu không có khai sanh, đứa bé sẽ bị coi như dân lậu và sẽ không được nhận vào trường học. Cùng đối đế, ông phải đi vay mượn khắp nơi mới đủ tiền nộp phạt. Khi đi làm giấy khai sanh, ông…phản kháng bằng cách đặt cho con cái tên Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi. Cán bộ xã tá hỏa tam tinh khi thấy cái tên không giống ai này, khuyên ông nên lựa cái tên khác nhưng ông nhất định không thay đổi. Ông dọa: “Nếu ông không ký thì ghi vô là không ký để tôi mang lên huyện cho họ ký”. Cuối cùng Chủ Tịch Xã phải chịu thua vì ông Cán đặt tên con như vậy không có gì sai. Khi anh Rưởi học tới cấp 2, bị bạn bè chế giễu vì cái tên không giống ai, anh không chịu nổi nên bỏ học ra Đà Nẵng làm thợ hồ. Chuyện xảy ra như vậy nhưng ông Cán vẫn bướng bỉnh không chịu đổi tên cho con. Ông cãi là vì muốn cho con biết sự ra đời của nó gian truân như thế nào để con cố gắng vươn lên, học hành tới nơi tới chốn cho bằng người ta. Anh Rưởi rất thông minh và có hiếu với cha mẹ nên bỏ làm thợ hồ, về quê đi học lại với cái tên hiên ngang của mình. Dù mất 2 năm bỏ học nhưng anh vẫn theo kịp bạn bè, lên cấp 3 và tốt nghiệp ngon lành. Ngày 1/9/2005, khi Rưởi đủ 18 tuổi, chị anh là Mai Thị Nga đã làm thủ tục đổi lại tên Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi thành Mai Hoàng Long. Anh trúng tuyển Đại học và tốt nghiệp kỹ sư điện loại giỏi. Anh nhận được công việc khá tốt, lấy vợ sanh con với cái tên rất đẹp Mai Hoàng Long. Ông Mai Xuân Cán nay đã già yếu nhưng câu chuyện phản kháng của ông vẫn được dân làng nhắc đến mỗi khi có dịp hội họp. Chắc phải ghi thêm một chuyện nho nhỏ: ông L.V.N., Chủ Tịch xã Đại Cường, người kiên quyết phạt ông Cán 6.500 đồng về tội để lòi ra thằng cu thứ năm, sau này cũng sanh 5 con nhưng không bị phạt chi cả!

Cùng một trường phái, một ông bố họ Mai ở thôn Quảng Đại đặt tên con là Mai Phạt Ba Ngàn Rưởi. Số tiền ít hơn ba ngàn đồng vì ông bị phạt nhẹ hơn. Tội của ông là làm khai sanh trễ. Thấy tên họ Mai coi bộ hot, một ông bố họ Nguyễn ở Bắc Giang đã nhất định khai sanh cho con họ Mai với cái tên Mai văn Cỏn. Nhưng họ Mai của con ông không giây mơ rễ má chi với hai ông họ Mai ở Quảng Ngãi kể trên. Nguyên do là ông chống lại cả dòng họ Nguyễn của ông nên muốn cho con mang dòng họ khác. Và ông chọn họ Mai vì hâm mộ Michael Jackson! Bị chê cười, ông lý luận: “Họ cười tôi vì tôi không giống họ. Tôi cười họ vì họ quá giống nhau!”. Ông con Mai văn Cỏn cũng lên cơn tếu như ông bố: “Theo điều tra sơ bộ, ADN của mình và bố trùng 99,9% nên xét theo phương án con nuôi thì có thể loại trừ. Mình chỉ thắc mắc rằng: sổ đỏ nhà đất sẽ đứng tên ai?”.

Phan Hết Gas Hết Số cũng có thể quy vào trường phái đặt tên theo một hobby của người cha. Cái tên của em bé 8 tháng tuổi này xuất hiện trong một tấm hình chụp từ danh sách chờ khám bệnh tại một bệnh viện và được tung lên mạng xã hội. Bé được sanh ra tại xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Khi được hỏi tại sao đặt cho con cái tên không giống ai này, ông Phan Quốc Huy cho biết ông muốn giữ lại kỷ niệm một thời đam mê tốc độ của ông và mong con sẽ lớn lên mạnh mẽ trong cuộc sống. Khi ra xã làm giấy khai sanh, xã đã từ chối vì trong cái tên này có chữ “gas” không phải tiếng Việt. Theo luật hộ tịch tên phải là chữ Việt. Ông nhất định không chịu đổi nên tới chừ cháu bé vẫn chưa có giấy khai sanh.

Nếu có cuộc thi cái tên dài nhất, người ta sẽ không thể bỏ qua một số tên. Như một chàng trai sanh năm 1992 có cái tên : Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân. Anh là con của một ông bố thích cái chi cũng dài dằng dặc. Người chị đầu của anh Nhân tên Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhàn, người chị thứ hai tên Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Linh Phượng. Nói về cái tên đọc tới mỏi miệng của các con, bà mẹ Nguyễn Thị Tư, 55 tuổi, ngụ tại Sài Gòn, cho biết mỗi lần bà mang bầu, đức ông chồng của bà ngày đêm suy nghĩ đặt tên con thế nào cho vừa hay vừa ý nghĩa. Cuối cùng ông chọn cách ghép thật nhiều từ ông thích và theo ông có ý nghĩa tốt đẹp nhất để khỏi sót. Không biết tốt đẹp ra sao nhưng cái tên dài lòng thòng ông đặt cho các con chắc không có ai sánh bằng. Tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cô Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương có cái tên dài nhất tỉnh nhưng cũng chỉ có 6 từ, thua tên các con của bà Nguyễn Thị Tư có tới 8 và 9 từ. Nhưng cái tên của cô Phạm Công Cúc Hoa Ngọc Lê Na sanh này 1/1/2016 tại xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, khá hơn một chút, có tới 7 từ!

Mấy ông bợm nhậu có cách đặt tên con theo những ly rượu các ông đổ vào bụng. Tác giả Ngân Giang kể lại một cái tên được đặt trên bàn rượu. Có lần người viết đi hội trại ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Toàn hội trại có hơn 200 người nhưng ai cũng chú ý đến cái tên “Lê La Ít Ly”. Tôi tò mò theo hỏi, cô gái mới tiết lộ rằng cái tên mình ra đời ngay trên bàn nhậu, trước ngày đầy tháng. Bố của cô gái giải thích rằng, đặt tên như vậy cũng là để... cảnh báo dân nhậu. Ít ly đọc láy lại sẽ là y lít. Nhiều khi dân nhậu hay rủ chơi “vào đây uống ít ly” nhưng lê la một hồi sẽ hết cả lít rượu. Chẳng biết cái tên này có “cảnh báo” giúp ông bố ít nhậu đi hay không nhưng nó khiến cô gái đi đâu cũng được chú ý. Cô cho đó là niềm vui, trừ những lúc bị cô giáo bắt lên bảng dò bài nhiều vì có cái tên lạ”.

Cũng tác giả Ngân Giang, vẫn chuyện cái tên được đặt trên bàn nhậu. “Một ngày mưa của 21 năm về trước, dân phụ hồ quê tôi thất nghiệp nên cánh đàn ông í ới nhau lập bàn nhậu. Về chiều, cuộc nhậu rã đám khi có tiếng la thất thanh từ phía bên kia hàng rào. Chú Công đứng dậy, lao đi giữa cơn mưa xối xả, đám bạn nhậu chạy theo. Hôm đó, vợ chú trở dạ sinh con. Mấy ông bợm nhậu người khiêng, người che đưa cô Cúc - vợ chú Công -  đi trạm xá sinh con. Cô Cúc vượt cạn rất nhanh, đến nỗi ông chồng chưa  kịp tỉnh rượu. Đang cơn ngà ngà say, chú Công hỏi bạn nhậu: “Hồi trưa giờ mình uống mấy lít rượu”. Một ông nhẩm đếm: “6 chai nhựa là ba lít”. Chú Công gật gù rồi chốt: “Vậy tui đặt tên cho con bé là Bích La”. Nhiều người trố mắt nhìn, ông bố giải thích: “Bích La là ba lít. Chẳng phải nó ra đời sau khi tôi đã uống ba lít rượu là gì”. Ai có mặt ở trạm xá hôm đó đều bật cười, tưởng hôm sau tỉnh rượu ông sẽ nghĩ lại. Ai dè cái tên ra đời sau cuộc nhậu đó đeo đuổi con bé suốt 21 năm nay. Nhiều khi người ta bảo vui, may mà hôm đó ông Công uống ba lít chứ uống bốn lít thì... khổ thân con bé!”.

Tên lạ tại Việt Nam thì thiếu giống! Trần Trọng Quá Đẹp Trai sanh ngày 17/4/2013. Lê Téc Nen sanh năm 1981. Đồng Hồ Thụy Sĩ sanh ngày 22/9/1992 tại Sài Gòn. Bùi Rực Rỡ sanh tháng 7 năm 1958. Hồ Hận Tình Đời sanh năm 1975. Đỗ Phi Đen Castrô, học sinh trường Trung Học Cơ Sở An Thạnh. Mông Tiến Thông sanh năm 1991. Trịnh Thị Nôen sanh ngày 25/12/1994. Lò Vi Sóng ngụ tại Thôn Nhàng, Thượng Khê Thường Xuân. Đỗ Rê Mon có ông bố thích đọc Doraemon. Nguyễn Cô Vy được sanh sau trận dịch Cô Vít.

Luật Dân sự Việt Nam không có khoản nào ngăn chặn những cái tên trái mùa như trên. Luật sư Nguyễn Tri Đức, Đoàn Luật sư Sài Gòn, cho biết: “Khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015 quy định họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong tờ khai đăng ký khai sinh. Còn theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015, việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ”.

Trong gia đình tôi thường gọi các con cháu trai là cu nọ cu kia. Chuyện thông thường, chắc gia đình nào cũng vậy. Cho tới khi chúng lớn, đi học, đi làm, gia đình vẫn cứ cu nọ cu kia. Nhưng chúng có những cái tên khác, thường rất đẹp. Ít ai đặt tên con là Cu. Tại trường phổ thông cơ sở Chợ Mới, An Giang, có một nam sinh tên Ng. V.C. Tên C. là chữ viết tắt chỉ bộ phận sinh dục nam. Vì viết tắt nên không biết rõ tên thật của em này. Cái chữ viết tắt C. này rắc rối lắm. Có thể đi từ nhạt tới mặn, đôi khi mặn hết muối! Người tiết lộ tin này cho biết tên này thường nghe ở vùng quê nhưng khi được ghi vào khai sanh thì em bị bạn học trêu chọc, các cô giáo không khỏi ngượng miệng khi kêu tên em. Khi em vào lớp 6, nhà trường đã thuyết phục gia đình đổi tên nhưng không được vì, theo gia đình, “tên xấu dễ nuôi”. Gia đình còn trả lời nhà trường: “Tên gắn liền với “sinh mệnh” của con tui, đổi tên có việc gì xảy ra ai chịu trách nhiệm?”. Em C. hát rất hay, được chọn để trình bày văn nghệ mỗi khi nhà trường tổ chức một sự kiện chi. Khi giới thiệu tên em, các cô giáo không dám đọc, phải nhờ các thầy. Mà các thầy cũng phải lướt nhẹ nhàng âm cuối. Chà! Cứ như đố vui để…chọc. Tôi không đoán được cái tên này nhưng chắc thuộc loại mặn chát chúa. Tới giữa năm lớp 8, gia đình mới chấp thuận đổi tên em thành Cư. Để tiện tham khảo, xin trình làng một cái tên khá ngộ nghĩnh khác cùng category: Cà văn Dái! Em này sanh ngày 14/12/1981.

Phe đối lập có những cái tên cũng vui hết biết. Cô Hoàng thị Bướm sanh năm 2002 tại Hà Nam cho biết rất ngại ngùng với cái tên nhạy cảm của cô. Trong trường cô học có một bạn nam tên Nguyễn Đức Cu. Các bạn học đùa giỡn khi ghép hai người có cái tên đặc trưng này thành một cặp, họ vẽ hình tượng trưng cho hai cái tên lên bảng. Em Bướm quá mắc cở, xin nghỉ học. Nhà trường phải giáo dục các em nghịch ngợm để em Bướm trở lại trường. Tại Bắc Kạn có cô Lường thị Bướm, sanh năm 1986. Bướm bay lượn lờ. Tại Quảng Ninh có một cô gái có cái tên chi tiết hơn: Phạm Thị Bướm Dài. Tại xã Hiệp An, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương có tên Nguyễn thị Lờ, sanh ngày 10/8/1948.

Có một cô gái có cái tên tôi không biết xếp vào hạng mục nào nên chỉ biết ghi ra đây nhờ các bạn giúp đỡ: Phạm thị Lâu Ra ngụ tại Đồng Hới, Quảng Bình!

 

                                                                                                     04/2026

                                                                                Website: www.songthao.com

788 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH : CAO VỊ KHANH - MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH.

                                                                                


CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

-Nhân đọc tập thơ Ký Ức Tháng Tư, và Khúc Đoạn Trường của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

 

viết bao nhiêu chữ cho vừa lệ

một cuộc tang thương, mấy đoạn trường(CVK)

 

Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

CAO VỊ KHANH- NGƯỜI NHẶT KÝ ỨC

 

Độc hành trong triệu bóng độc hành. Mỗi người oằn vai một gánh đau chung và một nợ đau riêng, họ trôi dạt theo lớp sóng thời gian, họ bước đi trên mảnh vỡ của một không gian rách toạc, mỗi mảnh vang mỗi địa chấn, của nghèo đói, của tù ngục, của thuyền nhân, của lưu vong. Có ai nhìn thấy bóng lẻ loi ấy. Ký ức nào người nhặt về, thời gian nào người níu lại, không gian nào người đang chắp nối? - dẫu lòng ngập mặn đã tầng sâu-, vẫn không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ.

 

Có ai cảm thấy cái tận dài của đêm khóc một mình, cái hút sâu của ai oán bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng? Nghe nó bẽ bàng, tủi nhục và cô đơn cùng tận. Cảm thương cho khí phách dưới trăng tà, tiếng bi ai của nghìn nghìn trái tim ngủ vùi trong cát trận, và xa chưa, mà ngọn gió biên ải vẫn sướt da, mà âm vang áo bào, dấu trận vẫn lửng lơ đầu vực? Tàn cuộc lửa binh ư? Không, một vở bi hài kịch vừa kéo màn, mà tất cả diễn viên, khán giả kẻ khóc người cười biết lấy gì vui mà đắp đổi...

 

… người tù trẻ

trả súng rồi.

đêm khóc một mình.

(Tàn Cuộc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ta đánh mất trái tim ngoài bãi trận

Lấy gì vui đắp đổi buổi tàn thu

(Lệ Khôn Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Sợi giây oan khuất treo đầu vực

Manh áo bào phai dấu trận mờ

(Góc Biển- Ký Ức Tháng Tư)

 

Lũ lượt người đi lên ải bắc

Tấc lòng mông muội nhớ mang mang

Máu xương đòi đoạn còn ngây dại

Bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng

(Điếu Khúc – Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn những người đi chẳng thấy về

Những bồ mỹ tửu lạnh môi tê

Qua sông Dịch trắng thù chưa trả

Kiếm gãy cờ tan lạnh bốn bề

(Buồn Xưa)