Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

897. NGUYỄN MINH NỮU Lãm Thúy, người sống hết lòng với thi ca



Nhà thơ Lãm Thúy
(Ảnh Nhất Hùng – October 2014)

Tháng 10.2014 vừa qua, nhà thơ Lãm Thúy tổ chức ra mắt sách và giới thiệu tới người đọc hai tập thơ khá dày. Tập Từ Mẫu  (432 trang với 203 bài thơ) , và tập Thâm Tình (284 trang với 148 bài thơ).

Đây là lần thứ hai ra mắt thơ của Lãm Thúy. Lần trước cách đây 10 năm, Lãm Thúy đã giới thiệu tác phẩm đầu tay "Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi".  Ở lần thứ hai này, mọi người đều có cảm giác  choáng và ngợp trước sức làm việc, lòng yêu thơ  của Lãm Thúy. Cho đến nay, Lãm Thúy đã viết trên năm trăm bài thơ!

Khi tập thơ đầu tiên " Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi"  xuất bản, nhà văn Phạm văn Nhàn đã viết về thơ Lãm Thúy trên trang web Vanchuongviet.org :

"Ở trang sau của bìa sách, tác giả ghi vài dòng tiểu sử thật giản dị nhưng cũng đủ để cho người đọc biết được một phần đời của tác giả.

Sinh tại Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Cần thơ. Định cư tại Mỹ năm 1992. Biết được một ít thông tin về thân thế của nhà thơ nữ này, đọc tiếp nơi trang Lời ngỏ tác gỉ ghi: “ Lãm Thúy làm thơ, tức là dàn tri tâm hồn mình, diễn tả những cảm xúc, những rung động với cái buồn, cái đẹp, nỗi yêu đương bằng chính những gì thành thực trong trái tim và thường là nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi, không trau chuốt; vì thế chắc là thiếu phần tinh xảo và đặc sắc...”

Đó là những gì tôi đọc được trong “ lời ngỏ” của thi tập. Nhưng, càng đi sâu vào những trang thơ của tập thơ, có lẽ đây cũng chỉ là những lời “ khiêm tốn” đáng trân trọng của một nhà thơ nữ , có lẽ mới in tập thơ đầu tay này?

Thơ hay, dễ làm cho đọc giả dễ nhớ hơn là những bài thơ d. Điều này, rõ ràng như  một quy luật dành cho người đọc thơ và thích thơ. Nhưng với tập thơ “ Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi” của Lãm Thúy thì chưa có bài thơ nào làm tôi chán, khi đọc.

Với 124 bài thơ nằm gọn trong 153 trang. Có bài dài hai trang. Nhưng số nhiều, những bài thơ chỉ “ gói trọn” trong một trang. Ngắn. Dễ đọc. Đúng như những gì nhà thơ Lãm Thúy đã viết trong “lời ngỏ”: nghĩ sao viết vậy, không sữa đổi, không trau chuốt.. Nhưng xuyên suốt 124 bài thơ tôi đọc, ít ra cũng “gây một cảm xúc mạnh” đối với người đọc khó tính, khi đọc thơ Lãm Thúy. "

10 năm trước, khi đọc tập thơ "Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi" tôi đã có được cái cảm giác giống như Phạm Văn Nhàn  là những lời ngỏ của tác giả chỉ là những lời nói khiêm tốn. Thực ra thơ Lãm Thúy không phải là  những lời "..nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi, không trau chuốt; vì thế chắc là thiếu phần tinh xảo và đặc sắc...” mà ngược lại, chính cái nghĩ sao viết vậy không sửa đổi không trau chuốt lại là yếu tố làm cho câu thơ tinh xảo và đặc sắc.

Tôi không còn nhớ trọn bài thơ này, nhưng hai câu đầu bài thơ này làm tôi cảm thấy thú vị một cách bất ngờ:

"Sáng nay thức dậy hết hồn..
Người xa ta vạn dặm  đường còn đâu"

Trong hai câu thơ này, cái bàng hoàng đầu tiên là cái bàng hoàng  của tác giả, cảm xúc bất ngờ hụt hẫng đã thốt ra lời tự thán, đơn giản  "Nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi không trau chuốt" và cái bàng hoàng thứ hai là cái bàng hoàng của người đọc, một câu nói thảng thốt bình dị mà ai cũng có thể từng nghe từ người miền Nam , thế mà khi vào trong thơ nó lại long lanh như hạt ngọc. Cảm giác đó làm tôi yêu thích và gần gũi với thơ Lãm Thúy cho tới bây giờ.

Tập thơ đầu, dường như Lãm Thúy làm cho tình yêu và nỗi thương nhớ vô bờ về một vùng đất đã rời xa, hai tập sau này viết về gia đình và bạn bè

Khi dự buổi ra mắt tập thơ của Lãm Thúy, họa sĩ Đinh Cường đã xúc động viết:

"Với tôi ai yêu thương Mẹ là anh hùng
chiều với Từ Mẫu , nhà thơ Lãm Thúy
là anh hùng thôi, cô con gái út  lên giới
thiệu Mẹ thật là hay, Cảm động thấy nhà
thơ đứng bên hai cháu ngoại nay đã lớn
từ ngày người con gái đầu mất.
...
Cảm ơn mái tóc còn xỏa dài mượt mà
của người thi sĩ vẫn luôn yêu mầu tím
tôi nhìn cả ra con sông Tiền , Sông Hậu
Những chuyến phà qua, lục bình trôi..."

Còn nhà thơ Phạm Cao Hoàng thì cho rằng  MẸ ƠI VĨNH BIỆT  của Lãm Thúy là một trong số những bài thơ hay nhất  viết về mẹ.  Và câu thơ Phạm Cao Hoàng đặc biệt chú ý lại chính là một câu thơ viết chân chất nhất, viết lại những gì chính mắt nhìn thấy  "Nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi không trau chuốt" :

Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp   
Từ đây đất lạnh là nhà

Thơ Lãm Thúy hay và lạ.

Hay vì ý thơ chân thành, lời thơ tha thiết, nhạc thơ dìu dặt...  Hãy đọc nho nhỏ một bài thơ của Lãm Thúy :

Cây buồn từ thủa chim bay
Rừng buồn thủa lá rụng đầy sườn non
Cha buồn theo nắng hoàng hôn
Mẹ buồn từ thủa lũ con chia bầy
Hoa buồn từ thủa hương phai
Con buồn từ thủa cha gầy mẹ đau
Con buồn từ thủa xa nhau
Chân trời góc bể địa cầu chia hai...

Nỗi buồn của Lãm Thúy theo dòng thơ đã đưa phong cảnh cô tịch, qua con người cô liêu, về tới suy nghiệm cô đơn  và về dần tới cô độc...

Lạ là ở chỗ những đề tài Lãm Thúy viết  là những đề tài quen thuộc, Tình mẹ với con, tình con với mẹ, tình cha, tình anh chị em, tình bằng hữu, tình vợ chồng...,  thế mà những dòng thơ viết xuống lại là những cảm nhận sâu xa ghi chú từ những tình huống bất ngờ, cái nhìn về một sự kiện giản đơn, bỗng long lanh thơ  hóa:

Bây giờ mẹ đã không còn
Con về bến cũ nghe hồn nát tan
Bến sông, một cõi thiên đàng
Lê chân viễn xứ hồn quan san về....

hay

Mẹ không hề biết đêm hôm ấy
Trăng ở nơi đâu lúc mẹ về
Chỉ biết, sau này, ngồi nhớ lại
Trăng tròn mười sáu, lúc con đi....

Thơ của Lãm Thúy, từ thi tập đầu "Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi" hay sau này hai tập thơ nữa là Từ MẫuThâm Tình  đều mang chung một nét chí tình.  Thiết tha với nỗi nhớ thương, sâu sắc với lòng yêu mến và tinh chất mộc mạc có vẻ như nghĩ gì viết thế mà thật ra là chắt lọc từng lời , chọn lựa từng ý để đưa thơ mình vào rung cảm người đọc người nghe.

Nghĩ suy tưởng của Lãm Thúy về cuộc đời, về tình yêu là những khám phá sâu lắng từ trong một tâm hồn nhạy cảm, khát khao yêu đời sống và yêu con người. Những khám phá đó được Lãm Thúy đưa vào thơ, và Lãm Thúy đã thành công vì   Lãm Thúy đã chuyển được cảm xúc của mình  vào lòng người đọc.

Nguyễn Minh Nữu

November 30, 2014

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

896 . Phạm Cao Hoàng: Một tách cà phê cũng ấm lòng.

 

Google images

Tặng Hồ Đình Nghiêm

Tôi về Đà Lạt đêm hôm ấy
trăng phủ mênh mông ngập núi đồi
sương phủ trên muôn ngàn lá cỏ
và nỗi buồn phủ kín hồn tôi.
 
Tôi đi về phía đường Minh Mạng
vào quán cà phê ở cuối đường
ngồi lại chỗ ngồi trong góc quán
âm thầm thương nhớ một mùi hương.
 
Tôi ngồi ở đó và im lặng
nghe tiếng Chopin khẽ thở dài
khúc Sonate của ngày xưa ấy
chảy dài như suối tóc trên vai.
 
Tôi ngồi ở đó và im lặng
nhìn bức tranh treo ở cuối phòng
biết rằng không gặp người năm cũ
một tách cà phê cũng ấm lòng.


PHẠM CAO HOÀNG
tháng 10.2023

897 . TRẦN HUIỀN ÂN Giọt nắng (Truyện ngắn)

 


Cảnh đồng quê Việt Nam – Tranh sơn dầu Lê Sâm



Bức tranh ấy do người cha anh tự vẽ lấy, cách nay đã khá lâu.
Ông già vốn học thức chỉ có bằng Sơ Học Yếu Lược, chuyên sống với ruộng rẫy. Ngoài việc cày cuốc, thú vui là bẫy chim, đơm cá, không mấy khi cầm tới tờ báo, quyển sách, chưa bao giờ biết thưởng thức cái đẹp của một bức tranh, một tấm ảnh .
Chiến tranh đẩy ông xuống thị xã, dí vào cuối con hẻm nhỏ, quanh co, hết quẹo phải rồi quẹo trái. Cũng may, căn nhà tồi tàn còn một mảnh sân độ bốn thước vuông để mỗi chiều có thể đặt chiếc ghế con ngồi đó nhìn lên. Ở đây không có nhà cao tầng nên vẫn thấy được trời rộng. Mùa nắng mây trắng giăng đầy .
Không cầm rựa cầm rìu nữa thì cầm cái bay. Nhờ sáng trí, khéo tay, không lâu ông thành một thợ hồ giỏi. Lớn tuổi, cẩn thận, chăm chỉ nên ông thường có việc làm. Hết sở này đến sở nọ, liên tiếp được kêu, hầu như chẳng một ngày rảnh nghỉ. Ra đi lúc chưa sáng, trở về lúc quá xẩm, tính toán công việc vừa xong, nằm xuống là giấc ngủ ập đến, ông không còn thì giờ để suy nghĩ vẩn vơ, để buồn, để nhớ. Con người như con ốc trong chiếc xe cũ kỹ, khô dầu, nhưng cứ chạy, chạy mãi giữa nắng trưa .
Cho đến một hôm ông ngã bệnh. Và không thể bình phục hẳn. Người gầy tọp lại, yếu đuối. Công việc mười phần chỉ còn làm được một, đành phải trông nhà, giữ cháu. Ông sợ nhất là ban đêm. Những đêm dài như vô tận. Ông nằm nhắm mắt mà không ngủ. Tiếng muỗi kêu vo vo ngoài màn. Tiếng lũ chuột xạ chích chích dưới chân giường. Lũ mèo đuổi nhau chạy trên những mái tôn. Có khi là tiếng gió xào xạc. Tiếng sóng vỗ rất nhỏ rất đều phía bờ biển. Tiếng mưa gõ nhịp lúc nhặt lúc khoan. Và ông hình dung ra nhà cửa, ruộng vườn, làng xóm … Là ông đó chăng? Chú bé chạy tung tăng trong sân nhà. Thằng chăn trâu đứng giữa sườn đồi ngập nắng. Chàng trai nông thôn rụt rè e ngại trước mặt bạn gái. Rồi, dẫu gì cũng có một mái ấm đề huề, bà con, anh em thỉnh thoảng gặp nhau, rượu trà đều rót trong chén bịt …
Ông muốn nói ra những điều ấy. Nói ra được, sự buồn khổ, nhớ nhung hẳn là vợi bớt. Nhưng bây giờ, vợ con lại bận rộn như ông trước đây. Đi sớm, về khuya, đầu tắt mặt tối. Họ chẳng còn giây phút nào để ông tâm sự. Ông cảm thấy mình chỉ còn như cái bóng do ánh sáng của ngọn đèn con hắt lên vách, mờ nhạt lặng lẽ.
Buổi chiều ấy, ông đến thăm một người bạn cũng tản cư xuống ở một làng ven thị. Trở về, lúc mặt trời vừa gác núi, nghe mùi lúa trổ, mùi bùn, mùi những lá rau chóc, lá bông súng già đang rã dần trong nước, bước chân ông như ngây ngất, cứ muốn con đường dài thêm, dài mãi. Bên vệ đường, một người họa sĩ đang đứng vẽ phong cảnh đồng quê. Nét cọ đưa qua, nhẹ nhàng, thanh thoát. Trên khung vải lần lần hiện ra đủ cả dòng sông, mương nước, dãy núi, lũy tre, lẫn trong đồng ruộng xanh tươi là những mái nhà ngói đỏ… Cho đến khi tia nắng cuối cùng vụt tắt, xếp giá lại, người họa sĩ vẫn không hay biết có ông đứng  sau lưng. Chẳng nói  chẳng rằng, ông thẫn thờ đếm bước.

895. TRƯƠNG VŨ Cung Giũ Nguyên: tác giả và tác phẩm




(Bài viết sau đây nguyên là bài thuyết trình của Trương Vũ đọc trong buổi ra mắt tác phẩm Le Boujoum. Buổi ra mắt do các học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên tổ chức tại giảng đường đại học George Mason, Virginia vào tháng 11, 2003.)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên (1909-2008)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên sinh năm 1909 tại Huế. Lấy tên thật làm bút danh. Cựu học sinh trường Quốc Học Huế. Trước 1954, làm phóng viên và biên tập viên nhiều nhật báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng Pháp. Chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie (Á Châu Buổi Chiều) (1940-1941) và nhật báo La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Ðông Thời Báo) vào 1954. Từ 1947, dạy Pháp văn ở trung học và sau đó làm hiệu trưởng trường trung học Lê Quý Ðôn ở Nha Trang. Từ 1972 đến 1975, giáo sư và chủ nhiệm ban Pháp văn tại Ðại học Duyên hải Nha Trang. Từ 1989 đến 1999, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Pháp tại trường Cao đẳng Sư phạm Nha trang. Ông là thầy của rất nhiều thế hệ học sinh và sinh viên Nha Trang, kể cả thế hệ đầu tiên, bước chân vào trường trung học Võ Tánh năm 1947, lúc đó còn mang tên Collège de Nha Trang.

Cung Giũ Nguyên viết văn bằng tiếng Pháp, Việt, và Anh. Ông đã sáng tác và dịch trên 50 tác phẩm. Sáng tác đầu tiên bằng tiếng Việt là một truyện ngắn nhan đề “Tình ái mỹ” đăng ở Ðông Pháp Thời Báo Sài Gòn năm 1928. Sách tiếng Pháp đã xuất bản gồm có: Volontés d’Existence (“Những ý chí sống còn”, tiểu luận), Le Fils de la Baleine (“Kẻ thừa tự của ông Nam Hải”, tiểu thuyết), Le Domaine Maudit (“Vùng Cấm”, tiểu thuyết), ... Le Fils de la Baleine đã được dịch sang tiếng Ðức và xuất bản năm 1957 tại Genève và Francfort dưới nhan đề Der Sohn des Walfischs. Trong vòng một năm, 1958, tiểu thuyết này đã được tái bản đến lần thứ mười tại Pháp, do nhà xuất bản Arthème Fayard, Paris.

Tác phẩm quan trọng nhất của Cung Giũ Nguyên là Le Boujoum, tiểu thuyết. Tác phẩm được khởi sự viết một năm sau biến cố 1975 và hoàn tất năm 1980 tại Nha Trang. Cũng trong năm này, một chương trong tác phẩm, Khúc Hát của Amdo (“Le Chant d’Amdo”), đã được đăng tải trên một tạp chí văn học ở Pháp, với lời giới thiệu và ngợi khen đầy nhiệt tình của giáo sư Camille Souyris, chủ biên của tạp chí. (“Fer de Lance”, Rythmes et Couleurs, Cannes, France, Décembre 1980). Le Boujoum được dự trù xuất bản ở Pháp vào đầu thập niên 80, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là sự khó khăn tài chánh của nhà xuất bản Arthème Fayard vào lúc đó, sách không ra đời được. Ðây là một tác phẩm khó đọc, nó giới hạn số độc giả, và không ai hy vọng nó mang lại một lợi tức tài chánh cho nhà xuất bản. Năm 1993, nhà xuất bản Ðại Nam ở Hoa Kỳ đề nghị tác giả dịch Le Boujoum sang tiếng Việt. Tác giả đồng ý và Le Boujoum chuyển sang tiếng Việt thành Thái Huyền, chia làm hai tập. Sau khi xuất bản tập I vào năm 1994, nhà xuất bản lỗ vốn, và quyết định không xuất bản tập II. Cách đây hai năm, một vài học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên quyết định cho xuất bản Le Boujoum. Với một lý do rất đơn giản, ít nhất với những người học trò này, đây là một cuốn sách rất cần được xuất bản, rất đáng được đọc, và không hẳn là một cuốn sách khó đọc như nhiều người nghĩ. Năm 2002, Le Boujoum, tiểu thuyết, dày 654 trang, được Trung Tâm Cung Giũ Nguyên ở Hoa Kỳ xuất bản. Như cái số phận vốn long đong của nó, đến mãi hôm nay, ngày 16 tháng 11 năm 2003, nó mới được chính thức ra mắt người đọc, tại giảng đường Luật Khoa Đại Học George Mason, Virginia, Hoa Kỳ.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

894 . ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên) . Một khúc Thánh Ca, và những bài thơ khác.

                                                     


MỘT KHÚC THÁNH CA

Cũng như tôi và như tất cả những ai từng có mặt trên đời
Bạn được sinh ra
Bạn bị sinh ra
Những lí do ngoài bạn
Bạn đâu được lựa chọn
Bạn đâu được hỏi ý kiến.

Vì sao bạn được sinh ra?
Vô số câu trả lời
Và khi đã là vô số
Sự - thật - ơi - chào - mi!
Chào - mi - sự - thật - ơi!

Số phận!
Thiên mệnh!
Luân hồi!
Nhân duyên quả kiếp!
Tình yêu mãnh liệt!
Vỡ kế hoạch!
Nhỡ nhàng!
Toan tính!
Hi vọng!
Một cơn rồ xác thịt!
Và còn nhiều khả thể
Và tất cả tất cả ẩn dưới những lớp vỏ ngôn từ
Hào nhoáng
Bóng bẩy
Huỵch toẹt
Mù mờ...
Bí ẩn
Bí ẩn đủ khiến suốt đời bạn dò tìm
Còn hơn đáy biển mò kim...

Bạn đã ra đi
Trong tận cùng thảm khốc
Trong tận cùng đớn đau thân xác
Trong tận cùng tuyệt vọng
Bạn đã ra đi

Bạn đã được sinh ra hay bị sinh ra?
Vĩnh viễn không có câu trả lời
Bạn mang trên xác thân gánh nặng thân phận
Một mảy bụi nhỏ nhoi...

Bạn đã được sinh ra hay bị sinh ra?
Bạn đã ra đi trong tận cùng đớn đau tuyệt vọng...
Phi lí chăng?
Bí ẩn chăng?
Vả vô nghĩa chăng?

Không!
Tôi hiểu đó là Ý Chúa!
Bàn tay sắp đặt của Ngài luôn luôn hoàn hảo
Bạn là sứ giả của Ngài
Tôi gọi là Phép thử.

Phép thử
Đúng - Sai
Thiện lương - Tàn ác
Người - Quỷ ma...
Nơi mặt đất này.

Tôi không đủ tư cách để xót thương và nguyện cầu!
Bạn về nơi Nước Chúa!
Và để
Cho những ai chưa kịp chết
Lương tâm dày vò - nếu còn chút lương tâm
Và rữa thối - nếu còn khả năng rữa thối
Cứ việc nhởn nhơ diễn - vì còn nhiều đất diễn
Khoe sang trọng khoe giàu có khoe bằng sắc -
tự phơi bày vì đã phì đại và đang phì đại
Khoe ngôn từ - miên man ngôn từ
Và khoe gia thế ba đời bảy đời rạng danh vinh hiển

Tôi chỉ dám hình dung
Linh hồn Bạn đã về nơi nước Chúa
Trong tiếng Ca Dâng.