[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan
(Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]
[Ghi chú: Các biên khảo, tuyển tập văn-chương,… xuất bản từ
năm 1980 đến 2025, sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương sau-Một số Nội dung
và Thể loại văn-chương]
GIAI-ĐOẠN TỊ-NẠN CHÍNH-TRỊ
(giai đoạn hình thành, 1980-1986)
Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở
ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Năm 1980 đánh đấu sự
tham gia sinh hoạt văn-nghệ, báo-chí của đợt thuyền nhân/boat people từ đầu năm
1979, chính-trị rõ hơn với kinh nghiệm sống với cộng-sản Hà-nội của người miền
Nam và một phần người miền Bắc (đa số là “bộ-nhân” sang Trung-quốc và Hương
Cảng) và sự xuất hiện tích cực một thời của các Mặt Trận chống Cộng và đấu
tranh nhắm lật đổ chế độ cộng-sản trong nước. Nhà văn GS Đặng Phùng Quân nói về
giai đoạn văn học này như sau: “… văn học lưu vong đã thực sự hình thành; lúc
bấy giờ tôi gọi nó là một văn chương thời thế bởi nhà văn không còn là một hiện
tượng đơn độc mà thể hiện qua một tập thể đông đảo tạo thành một sinh mệnh, một
thế lực văn chương đặc biệt. Tôi coi nó đã mang nguyên vẹn cơ sở văn học từ
trong nước ra bên ngoài. Ðiều này không những là một thách đố mà còn là một
thái độ xóa bỏ cái văn chương bị chỉ đạo ở trong nước, cái văn chương của tập
đoàn văn nghệ chỉ huy và những kẻ cầm bút ăn lương biên chế. Quan điểm này hẳn
làm phiền lòng những người ấy, nhưng đó là một thực tại chứng thực kinh qua sự
tồn tại và phát triển của nó trong một phần tư thế kỷ nay. (Tẩu Khúc Văn
Chương/Triết Lý)
Cộng đồng nhà văn Việt-Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn.
Đặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm
với cộng sản, và đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Đã vậy họ bị cấm viết,
bị cầm tù vì hoặc với "tư cách" là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi
lính cho chế độ Cộng hoà. Nay vượt biên, “đi chui”, hoặc đoàn tụ gia đình (bắt
đầu từ năm 1979, 1980 tùy quốc-gia), tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận
văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại nhờ đó sung tích và đa dạng hơn nữa.
Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn
chính trị, từ tâm thức bị phản bội vào thời 30-4-1975, nay người Việt hải-ngoại
nhận chân chính-nghĩa luôn ở về phía người tị nạn, lưu vong. Viết về chiến
tranh, đa phần vẫn là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng
cay của các trại “cải tạo” và của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí
chống cộng sản độc tài, những trì trệ không “giải phóng” được đất nước khỏi
nghèo đói và chậm tiến, điều này đưa đến khuynh-hướng phục quốc trong
văn-chương đã đành mà còn thực sự song hành với những phản kháng, nổi dậy chống
cộng-sản ở trong nước.
Hơn nữa, trên bình diện thế giới, “chiến-tranh lạnh” vẫn
còn đó, mạnh hơn trước với những “bật mí” về các thủ đoạn tuyên truyền của tập
thể khối cộng-sản cùng đám trí thức thiên tả Âu Mỹ trong chiến-tranh Việt-Nam
cũng như nhiều nơi khác, và sẽ đi vào thời kỳ chót năm 1989.
Giai đoạn này có thêm những nhà văn thơ thuyền nhân và có
những nhà văn viết vì phẫn nộ. Thuyền nhân tị nạn là một bộ mặt khác của
chiến-tranh và sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào
lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những
kẻ thua trận không đặc sắc. Người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc
thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc.
Cũng là thời của những cây viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn, Cung
Vũ, Võ Kỳ Điền, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Trần Long Hồ, Nguyễn Ý Thuần,
Thế Giang (Trần Hưng, 1958 -), Vĩnh Hảo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vũ
Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong,
Võ Hoàng,... bên cạnh những nhà văn tị nạn đã từng hoạt động trước 1975 ở quê
nhà như Nhật Tiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An, … Các tờ Hồn Việt,
Đất Mới, Văn Học Nghệ Thuật, Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Đen, Người Việt,
Việt-Nam Hải Ngoại,… ở Hoa-Kỳ và Làng Văn, Dân Quyền ở Canada và Quê Mẹ ở Pháp
đã là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới và chống Cộng.
Giai đoạn hai, tạp-chí văn-chương Văn Học Nghệ Thuật tiếp
tục với bộ mới, 5-1985 và đổi thành Văn Học “tạp chí sáng tác nhận định văn
nghệ” từ tháng 2-1986, Mai Thảo tục bản tạp chí Văn (7-1982), cũng như xuất
hiện Làng Văn (1984) thu hút được nhiều cây bút mới bên cạnh những nhà văn đã
nổi tiếng,…
Không khí chiến tranh thường trực, không quốc-cộng thì nội
bộ hải ngoại, làm như Việt-Nam là một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa
qua và cái độc “di tản” phần nào ra ngoài nước. Các nhà văn khai thác chủ đề
chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu,
tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu
không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.
Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết
vì phẫn nộ như Nhật Tiến: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của
người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh
cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể
hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ
đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những
đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (6)
Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo,
Nguyễn Mộng Giác, v.v. Ngoài sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh
thức phần nào lương tâm nhân loại và hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của
thế giới cộng sản và thiên tả đã chỉ có giá trị giai đoạn, khi hoả mù chiến
tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới
văn hoá Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Todd, v.v.
Tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực do tuần báo Văn Nghệ Tiền
Phong xuất-bản lần đầu năm 1980 với tựa Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam
“192 bài thơ bi hùng” - ghi Khuyết Danh, theo thông tin khả tín là của Nguyễn
Chí Thiện lúc đó còn ở trong nước, đã thành công ném tập thơ vào sân tòa đại sứ
Anh ở Hà-Nội, được xuất bản như một tiếng sét khác đánh động lương tâm con
người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ấn bản ghi là do
Ủy-ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính-trị tại Việt-Nam, tiếp đó VIVO tức Tổ chức
Người Việt Thiện Chí tái-bản năm 1981 nguyên văn bản đầu, rồi sau đó văn bản và
tựa bị sửa (7).
Nguyễn Chí Thiện từ ngục tối, khi nghe tin miền Nam rơi vào
tay quỷ đã than:
"Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
Cả nước đã quay về một mối
- Một mối hận thù, một mối đau thương !
Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Đảng tới là tan nát cả!
Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa
Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?
Đau đớn này không chỉ riêng ta
Mà tất cả!
Cả những kẻ đã nằm trong mả
Và những bào thai trong bụng mẹ chót sinh ra
Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha
Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ
(...) Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác
Đến bao giờ lấy lại được giang san!
Chế độ này trâu ngựa sống không an
Sài lang đã dựng xong nền thống trị
Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ?
Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn
Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!"
(Vì Ấu Trĩ)