Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

840 . NGUYỄN MINH NỮU: Ngô Mạnh Thu: một lần bay, là bay đến muôn trùng

 



Buổi chiều thứ ba 17/8/2004, trong lúc đang lái xe từ Eden center về tòa soạn, điện thoại reo vang và một tin được thông báo, Anh Thu đang mê man trên giường bệnh.

 – Anh Thu? – Phải, Anh Ngô Mạnh Thu.

– Từ lúc nào? Đang khỏe mạnh bình thường mà.

– Đêm hôm qua, lúc 2 giờ sáng.

 

Đầu giây bên kia là Huynh Trưởng Đặng Đình Khiết, Trưởng Khiết còn nói thêm một vài câu gì nữa, dặn dò tôi theo dõi tin tức ở Cali, và thông báo tin này tới một vài người. Nhưng tôi không còn nghe rõ. Xe đang dừng lại ở ngã tư đường Heritage Dr và đường Little River chờ đèn xanh đèn đỏ. Tôi nói cám ơn, tắt điện thoại và chậm chậm ghé xe vào khu parking của tiệm Seven Eleven ngay đầu đường. Tắt máy xe. Ngồi im lặng một chút.

Ở tuổi chúng tôi, những tin tức thông báo với nhau theo nội dung như thế này, không phải là điều bất ngờ gì cho lắm. Những chiếc lá xanh tươi của mùa xuân năm nào, tất nhiên sẽ sẩm màu hơn khi mùa hạ tới, và cũng tất nhiên sẽ chuyển qua vàng, qua úa khi tới độ thu sang. Nhưng kiềm chế lòng mình trước những mất mát chia xa mới là khó khăn cho người ở lại.

Huynh Trưởng Ngô Mạnh Thu được nhiều người biết tới là một Nhạc Sĩ có tài, là một trong những người đầu tiên xây dựng phong trào Du Ca Việt Nam cùng với các Trưởng Nguyễn Đức Quang, Hoàng Ngọc Tuệ, Hoàng Kim Châu, Đỗ Ngọc Yến. Là một Huynh Trưởng kỳ cựu trong hệ thống tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam, và cho đến cuối đời, vẫn tiếp tục khoác trên người tấm áo mầu Lam trong các công tác của Áii Hữu Gia Đình Phật Tử Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại. Nhưng dường như với tôi, đó chỉ mới là những cái bên ngoài. Thâm sâu hơn trong lòng mỗi người là cái chất riêng của Trưởng Ngô Mạnh Thu, cái điềm đạm, tế nhị, sâu lắng nhưng nồng ấm của tình anh em toát ra từ Trưởng mới thật sự là cái kết dính của trưởng với những người chung quanh.

Tháng hai năm 2004, tôi về Cali để chịu tang người anh ruột. Trưởng Thu đến với tôi, nhẹ nhàng nói rất ngắn vài lời chia buồn, sau đó, cùng với Phạm Quốc Bảo, anh đưa tôi đi thăm một số người. Không, thực ra anh đưa tôi đi tham một số mộ trong khu nghĩa trang của thành phố Wesmingter. Đầu tiên là ngôi mộ của Huynh Trưởng Đỗ văn Phố, rồi với nắm hương đang nghi ngút khói, trưởng dát tôi đi thắp hương ở các mộ quen biết trong khu vực, đây là nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, đây là nhà văn Mai Thảo, kia là họa sĩ Long Ân. .

Sau đó khi ngồi ở một chỗ uống tách cà phê, Trưởng Thu vẫn giữ nụ cười, nháy mắt bảo tôi, này, hay ta ra ngoài làm tí khói cái nhá. Tôi nghĩ rằng Trưởng Thu không thèm một tí khói, nhưng trưởng Thu biết tôi thèm. Cái chia sẻ được với người khác phát xuất từ sự thật sự quan tâm tới nhau. Đi bên cạnh Trưởng Thu, tôi luôn tìm được cảm giác bình an, thanh thản và một hòa điệu không bày tỏ được bằng lời. Chỉ biết rằng luôn luôn, mọi việc mình làm, mọi lời mình nói luôn luôn được cổ vũ bằng tất cả sự độ lượng và cảm thông. Điều mà tôi nhận được từ Trưởng Thu là mọi hành xử của mọi người chẳng bao giờ sai, mà chỉ đôi khi chưa đúng lắm mà thôi. Đó chính là một khích lệ lớn lao để tôi có thể nói ra tất cả mọi điều, kể cả những điều kín đáo nhất.

Khi viết những giòng này, chưa có tin chính thức từ Cali để biết cơn bệnh có nguôi ngoai hay không. Nhưng cái hoang mang buổi chiều vẫn còn vướng vất. Tất nhiên chúng ta chờ đợi một tin lành, nhưng cũng sẵn trong lòng chuẩn bị cho một tin khác hơn.

Vào những lúc cận kề với sự mất mát. Tôi bỗng giật mình thấy rằng chúng ta đã làm quá ít những việc cần làm cho những người chung quanh. Dường như chúng ta chưa có sự chuẩn bị gì đối với tuổi 60. Và ngay chính chúng ta, khi lao mình vào cuộc sống, đã có ai một giây dừng lại, xem lại mình và xem lại chung quanh.

Bài viết trên đăng trên Tuần Báo Văn Nghệ số ra ngày thứ sáu 20/8, nhưng thật sự đã được đua đi in từ sáng thứ tư 18/8. Đưa báo đi in xong, ghé qua Phở Xe Lửa uống ly cà phê buổi sáng, Anh Toàn hỏi tôi cậu biết tin gì chưa, anh Ngô Mạnh Thu mất rồi, bản tin của Nhật báo Người Việt Online vừa phổ biến bản tin. Tôi ngồi lặng người. Ly cà phê hờ hững và cổ họng như cái gì đó nghèn nghẹn.

Tôi hiểu rằng cái mất mát đã là có thật, và bây giờ, những điều cần làm là lưu giữ lại và phổ biến thật rộng ra những gì anh Ngô Mạnh Thu đã để lại cho đời, trong suốt 67 năm để được mọi người nhìn nhận là một Nhạc Sĩ, một Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử đạo đức và trách nhiệm, một nhà Giáo và một Nhà Văn Hóa.

Dường như cái chung của những người nghe tin chuyến đi xa này của anh Ngô Mạnh Thu là một nỗi tiếc nuối, xót xa, nhưng ở riêng từng góc, lại là những tưởng tiếc về các góc cạnh khác nhau về một cuộc đời.


Là một cư sĩ Phật tử đạo hạnh, một Huynh trưởng Gia đình Phật tử nhiệt thành, một nhà hoạt động Giáo Dục đầy năng lực, một nhà truyền thông kinh nghiệm và yêu nghề, một nhạc sĩ sáng tác tài ba. Nhưng nếu gom tất cả những cái đó lại, có phải là chúng ta có được một cái nhìn về con người của Ngô Mạnh Thu hay không? Tôi thấy dường như đã đầy nhưng mà chưa đủ. Mặc dù chỉ là một trong những nghiệp danh trên đã nhiều khi với tôi đã bơi mãi chưa đến được bờ. Cái mà tôi nhìn thấy từ nơi anh là một cái khác hơn, đơn giản hơn và cũng gần gũi hơn nhiều,.


Quen biết với anh từ những ngày cuối năm 1974, do Nguyễn Quyết Thắng đưa đến chơi với Du Ca, Lúc đó Phong trào Du Ca Việt Nam tổ chức đêm gói Bánh Chưng cho đồng bào tỵ nạn Cộng Sản tại trại tạm cư Phú Văn Bình Dương. Tác giả ca khúc nổi tiếng “Từ Một Cơn Mơ” xuất hiện trong bộ quần áo màu nâu, bên cạnh đống lửa trại để bắt nhịp cho chúng tôi một bài ca sinh hoạt, tiếng nói trầm ấm và phong cách tác động đám đông đã lập tức lôi cuốn chúng tôi vào vòng tròn của say mê, và nồng nhiệt cùng anh trong các tình ca quê hương, nhận thức ca, sinh hoạt ca tiếp theo nhau. Câu chuyện bên ánh lửa tàn tại Trung Tâm Liên lạc Sinh Viên Quốc Nội Hải Ngoại số 19 đường Kỳ Đồng quận 3 Saigon đã làm tôi gần gũi với anh hơn.


Cuốn hút từ anh để tôi bước vào thế giới Du ca và trở lại với màu áo Lam mà tôi đã bỏ quên, hình như sau thời gian sinh hoạt Oanh Vũ ở Gia Đình Phật Tử Giác Hoa hồi còn thơ ấu.


Biết tên tuổi của anh là vì anh là một Nhạc Sĩ có tác phẩm mà minh yêu thích, nhưng từ khi quen biết và kết thân với anh, để trở thành một đứa em của anh, cho đến nay, khi nghe tin bất ngờ anh đi xa, tôi mới bàng hoàng nhận ra là mình đã quên hẳn cái nghiệp danh nhạc sĩ của anh từ lâu lắm. Anh luôn luôn có mặt trong tôi như một người anh, một chỗ dựa tinh thần, một người chia sẻ, an ủi, khuyến khích và chỉ bảo cho tôi ở bất kỳ một sự việc nào trong đời sống.

 

Như chiếc áo len bỏ quên trong góc tủ, bất ngờ được lục ra khoác trên người khi trời trở rét, như cái quạt tay bỏ quên trong bên bàn viết, bỗng được lục tìm khi hơi nóng bức mùa hè bắt đầu. Anh Ngô Mạnh Thu trong suốt hơn ba mươi năm quen biết vẫn thường xuyên năm yên đâu đó trong ký ức, để bất ngờ tôi lục lọi tìm kiếm mỗi khi đụng chuyện cần có người chỉ bảo. Vẫn nồng nhiệt chào đón khi gặp lại, vẫn thân mật trữ tình khi tiếp đón, vẫn ân cần nhẫn nại khi nghe trình bày và vẫn bao dung và nhẹ nhàng khi phân tích và khuyên bảo. Giống hệt chiếc áo len ngày xưa trong góc tủ, vẫn sẵn lòng tỏa ấm khi mùa đông đến, giống hệt như chiếc quạt lá cầm tay, vẫn sẵn lòng cho hơi gió khi hè về. Anh Ngô mạnh Thu vẫn nhẹ nhàng từ trong ký ức bước ra, xòe đôi cánh độ lượng tăng cho tôi những khuyên bảo hợp lý hợp tình.

 

Sau 1975, các sinh hoạt thanh niên dừng hẳn lại. Tôi và anh thỉnh thoảng mới có dịp gặp nhau. Cuối thập niên 80, hay đầu thập niên 90 gì đó bỗng một lần anh ghé lại thăm và gọi tôi lên sinh hoạt với Gia Đình Phật Tử Vĩnh Nghiêm, đầu tiên là tham dự khóa huấn luyện huynh trưởng A Dật Đa ở Chùa Vĩnh Nghiêm.


Mười năm rồi tôi mới có dịp gặp lại các cháu, con của anh, Những Xì, Xịt, Xiu, Xìu ngày xưa, nay đã là các Huynh Trưởng trẻ, năng động của Gia Đình Phật Tử với tên thật ngoài đời: Ngô Lê Trọng Tú, Ngô Lê Trọng Thuấn, Ngô Lê Trọng Tường, Ngô Lê My Uyên… và tôi cũng đã có con để trở thành các Oanh Vũ, thiếu niên trong GĐPT Vĩnh Nghiêm.

 

Những Huynh Trưởng trẻ dẫu khả năng chuyên môn cao, nhưng kinh nghiệm cầm đoàn chưa vững lắm, và khác biệt giữa tổ chức Gia Đình Phật Tử với các tổ chức thanh niên khác chính là cái giới hạn tuổi tác. Với các tổ chức thanh niên khác, khi qua khỏi một giới hạn tuổi tác nào đó, họ trở thành phụ huynh, hoặc bạn đoàn, nhưng tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta có Bác Gia Trưởng, thì tự nhiên hình thành không chính thức một hàng lớp các Huynh Trường cao niên, Không còn là Anh là Chị của đoàn sinh nữa, mà là Chú, là Bác, là Ông, là Bà của các Thiếu niên, Oanh Vũ trong Gia Đình.


Đứng chung trong một vòng tròn, người điều khiển sẽ khó khăn khi thưa gửi, chẳng lẽ dài dòng thưa quý Chú, Quý Bác, Quý Ông, Quý bà, Quý Cô Quý Dì… Chính Anh Ngô Mạnh Thu đã tạo ra một phương thức xưng hô ngắn gọn: Hãy gọi các Huynh Trưởng chung bằng một chữ thưa Trưởng, và thêm vào chữ Huynh Trưởng cao niên nếu trong văn bản. Giải quyết của Anh Ngô Mạnh Thu đã lập tức trở thành thông dụng. Chữ Trưởng Thu mà bây giờ ai cũng gọi đã xóa hẳn chữ Anh Thu trong trí nhớ nhiều người.

 

Năm 1994, Trưởng Thu và gia đình rời Việt Nam, trước lúc chia tay, một cuộc trại tổ chức tại Hòn Một Vũng Tàu, Trại Tuệ Tạng 3, với các Gia Đình Giác Long, Giác Ngạn, và Vĩnh Nghiêm. Tôi là Huynh Trưởng Điều Hợp cho buổi trại, khi đại diện cho tất cả các Huynh Trưởng Đoàn Sinh nói lời chia tay với Trưởng Thu, tôi không kiềm được cảm xúc của mình khi nói tới những thiếu vắng mất mát Trưởng Tâm Hòa đối với chúng tôi trong lần chia xa ấy. Trưởng Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu đã đứng lên, trầm ấm và nhẹ nhàng như thói quen cố hữu, Trưởng nói là “Sao lại có chuyện chia xa là mất mát, dẫu rằng không đứng chung một vòng tròn như bây giờ với các em, nhưng lúc nào anh cũng vẫn chung một suy nghĩ, chung một nỗ lực trong tình Lam như từ bấy đến nay với các em”.


Mười năm qua, Trưởng Thu luôn chứng tỏ lời nói ấy trong rất nhiều công việc cụ thể với tập thể áo Lam.


Năm 1995, tôi cùng gia đình cũng rời Việt nam để định cư tại Hoa Kỳ. Tôi ở miền Đông, Trưởng Thu ở miền Tây. Ngay khi vừa đến Mỹ, món quà của Tổ Chức Ái Hữu Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại gửi tới với lời nhắc của Trưởng Thu “hãy mau mau ổn định đời sống và bắt tay vào các sinh hoạt với GĐPT Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại” Ở cách xa nhau ba ngàn dặm, mà hầu như gần gũi cận kề.


           Huynh Trưởng Tâm Hòa NGÔ MẠNH  THU (1938 -2004)



Năm 2001, khi dự Đại Hội Lưỡng Niên Gia Đình Phật Tử Việt Nam Hải Ngoại ở Chùa Pháp Quang, Texas. Chúng tôi lại có dịp ngồi vòng tròn chuyện trò suốt đêm với nhau. Tôi có dịp hồi tưởng lại lần đầu gặp gỡ ngày xưa. Cái tôi ghi nhận được là thời gian có thể làm trán người ta nhăn lại, mắt người ta mờ đi, nhưng dường như lòng người ta đầm ấm hơn, trí tuệ người ta thâm trầm sâu lắng hơn. Cái nhìn cái nghĩ của Huynh Trưởng Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu không chỉ là Gia Đình Phật Tử Vĩnh Nghiêm nữa mà là phương hướng hoạt động sao cho hợp với thời đại của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Cái nhìn cái nghĩ của Huynh Trưởng Tâm Hòa Ngô Mạnh Thu không chỉ thu gọn trong màu áo Lam, mà còn nhìn tới cả thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong và ngoài nước, Niềm ước mơ của Trưởng tỏa rộng ra cho tất cả Thanh Thiếu Niên Việt Nam, Những lời ca thật đơn giản cho các cháu tập học tiếng Việt như: “a, con chào Ba, a, con chào Má”… Những bài viết hướng nỗi nhớ về quê nhà trong loạt bài phát thanh ” Chúng Ta Đi mang Theo Quê Hương” Những sưu tập tác phẩm bạn bè như góp tay biên soạn tập ca khúc của Trần Đình Quân, của Nguyễn Đức Quang, tham gia các hoạt động của các Trung Tâm Việt Ngữ, những sắp xếp cho các buổi sinh hoạt văn nghệ tại Hội Trường Nhật Báo Người Việt, và rất nhiều công sức với các tổ chức Áo Lam.


Những hoạt động thật đa dạng và bận rộn, nhưng nhìn chung lại là những hoạt động trong một phạm trù Văn Hóa mà thôi. Những vị trí của Trưởng Thu đứng trong mọi công việc cũng thật quá nhiều, nhưng nói chung vẫn là người tạo chất kết dính nhiều người, và tác động để công việc đến nơi đến chốn.


Tôi gọi mỗi công việc mà Trưởng Thu làm là mỗi chuyến bay, Mỗi lần cất cánh bay lên là mỗi lần chung với nhiều người tạo ra những điều mới lạ trong niềm say mê về sự nghiệp văn hóa dân tộc. Nhưng khác với các chuyến bay ngày trước là đáp xuống sau khi công việc kết thúc. Chuyến bay này của Trưởng là chuyến bay dài hơi hơn nhiều, chuyến bay đi vào các thế hệ Việt Nam tiếp nối mãi mãi cho đến vô cùng. Kết quả của những công việc Trưởng làm hôm nay, không chỉ gặt hái kết quả bây giờ, mà còn về lâu, về dài ngày sau, đời này còn có đời sau mỗi khi nhắc tới.


Có điều, họ sẽ không nhắc tới như chúng tôi bây giờ khi thân ái gọi là Trưởng Ngô Mạnh Thu, mà họ sẽ gọi là Nhà Văn Hóa Ngô Mạnh Thu (1938-2004)


NGUYỄN MINH NỮU

9/2021

839 . TRƯƠNG VŨ - NÓI VỚI CHÀNG SIÊU

 

 TRƯƠNG VŨ Nói với chàng Siêu


Ảnh: internet



Dấu binh lửa, nước non như cũ
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
Phận trai: già ruổi chiến trường
Chàng siêu mái tóc điểm sương mới về (1)
(CHINH PHỤ NGÂM KHÚC)


Những năm gần đây, tôi gặp lại nhiều bạn bè cũ, những người mà vào tuổi thanh xuân có ít nhất một lần mơ ước được như tướng quân Ban Siêu của hai ngàn năm trước, một đời duổi rong trên lưng ngựa. Khi gặp lại, tóc của bạn bè tôi đã điểm sương hay bạc xóa. Không được lãng mạn như trong ngâm khúc Chinh Phụ, tóc họ đổi màu không vì già ruổi chiến trường mà chỉ vì ở trong tù năm tháng dài hơn ngoài đời.

Bạn bè tôi hầu hết đều có tuổi trẻ đầy ước mơ. Trong gần hai mươi năm qua, họ lại phải thu mình hoặc chịu đày đọa trong bẫy sập của thực tế. Thực tế thứ nhất là cái quân lực mà họ phục vụ không còn nữa. Thực tế thứ hai là dù quân lực đó không còn nữa và cuộc chiến đã chấm dứt, họ cũng vẫn phải sống trong lao tù. Thực tế thứ ba, làm cho đời sống lao tù của họ cay đắng hơn, nhục nhã hơn, là vì quân đội đó tan vỡ quá nhanh chóng, tan vỡ trong hỗn loạn, và gần như không có chống cự. Thực tế thứ tư là dù ở tuổi nào, con người cũng vẫn biết mơ ước, và thông thường, chỉ cảm thấy hạnh phúc khi những ước mơ có cơ thực hiện.

Ước mơ, hoang tưởng và giả dối là những cái hoàn toàn không giống nhau. Đời sống ở Mỹ hay ở những nước phương Tây nói chung lại dễ cho phép những cái rất khác nhau này được sống lẫn lộn. Do đó, trước cùng một sự kiện, con người có những phản ứng hoàn toàn khác biệt. Người lạnh lùng, người thích thú, người phẫn nộ, người chua chát, người giễu cợt v.v…

Tôi viết bài này cho những chinh phụ của hai mươi năm cũ mà dấu binh lửa vẫn còn. Đặc biệt, cho những người phải bắt đầu lại cuộc đời ở mái tóc chàng Siêu. Dù ít dù nhiều, họ đều có những ước mơ. Nhọc nhằn hơn cả là phải lựa chọn ước mơ nào để thực hiện cho kỳ được và ước mơ nào nên quên đi. Sự lựa chọn này nhọc nhằn cho bất cứ ai khác, không riêng gì họ.

Cách đây hai tháng, nhận lời mời của một người bạn thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa, tôi đến dự dạ tiệc kỷ niệm ba mươi chin năm thành lập binh chủng này.

Mới vào, tôi chứng kiến những cảnh thật cảm động. Lần đầu tiên trong một buổi dạ tiệc, tôi nghe nhiều quan khách cùng hát theo bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa và hát trong xúc động. Nét mặt của các cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến thuộc đủ lứa tuổi, thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi đứng trình diện quốc kỳ, quân kỳ, cùng với tiếng hát của họ đã làm mọi người quên hiện tại. Một không khí hoài niệm bao trùm. Một không khí của tiếc thương, của tình đồng đội, và của định mệnh, thứ định mệnh dành cho những người lính mà loại tuổi xanh của họ đã khiến họ lựa chọn một binh chủng có khả năng đưa họ đến cái chết nhanh hơn.

Tối hôm đó còn có vẻ như một đêm đoàn tụ của nhiều bạn bè xa cách lâu năm. Thời còn trẻ, họ cũng sống lăn lóc với nhau trong quân ngũ, trên chiến trường. Lúc đó, họ không khác nhau mấy. Ngày nay, gặp lại, mỗi người có một đời sống gần như hoàn toàn khác biệt. Có người đã rất thành công trong nghề nghiệp. Có người chưa rành ngôn ngữ mới, chưa biết làm gì để sống. Có người sống ở Mỹ từ 75. Có người trải qua gần mười lăm năm trong lao tù. Cùng tuổi nhau mà người này trông trẻ trung, nhanh nhẹn, còn người kia thì lụ khụ, tóc bạc, răng cỏ không còn. Có người sống khác hẳn đời sống cũ, đạo hạnh như một thầy tu. Có người vẫn hào hoa như ngày còn trong lính. Nhưng khi tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ được thổi lên, trông họ thật giống nhau. Không phải chỉ vì họ khoác lại bộ quân phục cũ để trình diện quân kỳ, mà có lẽ vì trên tất cả, vào lúc đó, tình bạn, tình đồng đội, sự hồi tưởng về một tuổi trẻ đã mất và những bạn bè đã mất chế ngự mọi tình cảm của họ.

838 . PHẠM CAO HOÀNG - CHIỀU NGỒI TRONG STARBUCKS

 Thơ Phạm Cao Hoàng: Chiều ngồi trong Starbucks.

Quán cà phê Starbucks - Ảnh: Pinterest 

Nhớ anh Đinh Cường, 10 năm
 
Chiều ngồi trong Starbucks
nhìn ra phía bên ngoài
thấy con chim màu đỏ (1)
đậu trong hoàng hôn phai.
 
Thấy người thi sĩ ấy
từ phương xa trở về
ngồi trên thềm đá cũ
viết một ngàn bài thơ.
 
Thấy người họa sĩ ấy
tâm rất thiện và lành
ngồi trong căn phòng nhỏ
vẽ một ngàn bức tranh.
 
Thấy người quân tử ấy
đi bộ sau cánh rừng
tiếng còi tàu để lại
một vệt buồn sau lưng.
 
Thấy người hiền sĩ ấy
trong tịch mịch im lìm
dưới ánh đèn mờ ảo
cào lá ngoài sân đêm. (2)
 
Chiều ngồi trong Starbucks
chiếc bàn cũ đây rồi
mười năm người biền biệt
còn lại một mình tôi.
 
PHẠM CAO HOÀNG
Virginia, tháng 1. 2026

(1) Cardinal (Chim hồng y), loài chim biểu tượng của tiểu bang Virginia. Cardinal có bộ lông màu đỏ nên họa sĩ Đinh Cường gọi là chim đỏ. Hình ảnh con chim này thường xuất hiện trong tranh Đinh Cường   giai đoạn ông sống ở Virginia (1989 – 2016).

(2) Tựa đề một tập thơ của Đinh Cường.


 Chim đỏ
oil on canvas 24 x 30 in
dinhcuong

Chim đỏ trong cánh rừng phía sau nhà Đinh Cường
Ảnh Đinh Trường Giang


837. NGUYÊN MINH, BẠN HIỀN CHU TRẦM NGUYÊN MINH



VIẾT TRÊN GIƯỜNG BỆNH


Từ thập niên 1960 anh em trong giới cầm bút vẫn thường nhầm lẫn giữa Nguyên Minh và Chu Trầm Nguyên Minh là một người. Thật ra tên hật của Chu Trầm Nguyên Minh là Trần Đức Tâm sinh năm 1940 tại Phan Thiết – Bình Thuận trong vùng Kháng Chiến chống Ph1p, sau năm 1954 anh về thành phố làm lại  giấy khai sinh đổi thành là họ Phạm, tên là Minh Tâm và lui năm sinh thành 1943. Ngay bút hiệu của anh bây giờ tôi mới biết khi anh tâm sự với tôi trong những ngày chúng tôi qua Pháp, lấy một người nữ mang họ Chu tên Minh, người con gái đó đã từng làm tâm hồn anh rung động một thời tuổi trẻ yêu đương say đắm và vẫn mãi vấn vương theo thời gian. Thì ra vậy. CHU TRẦM NGUYÊN MINH.



                   Nhà thơ CHU TRẦM NGUYÊN MINH


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

836. DOÃN CẨM LIÊN Đọc tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của Trịnh Y Thư

 

DOÃN CẨM LIÊN Đọc tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của Trịnh Y Thư


Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu.

Nhà văn Trịnh Y Thư thuộc nền văn học hiện đại, tại hải ngoại kể từ 1975. Nhìn dáng dấp, khuôn mặt, cách nói chuyện của ông, người ta thấy cái “cá tính” của ông hiện lên một cách rõ ràng. Những ai quen biết ông đều thấy cái gì ông đụng vào đều làm nó trở thành siêu! Làm nhân viên ngành điện tử viễn thông, viết văn, chơi classical guitar, sáng tác nhạc, ông đều làm tròn vai trò một cách xuất sắc.

Đường về thủy phủ là quyển sách gồm ba truyện vừa. Thoạt tiên độc giả cứ tưởng ba mẩu chuyện Ký ức của loài bò sát, Dưới những gốc nho biểnĐường về thủy phủ với tình tiết của những nhân vật khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, chẳng liên hệ gì với nhau. Thế nhưng không! Trịnh Y Thư đã không tiết lộ gì cả ở hai truyện đầu, và chỉ dần mở ra rồi nối kết chúng lại ở truyện vừa thứ ba Đường về thủy phủ. Các nhân vật bác sĩ Mẫn trong Ký ức của loài bò sát, nhân vật “cô” trong Dưới những gốc nho biển, nhân vật “tôi” trong Đường về thủy phủ đều có dây mơ rễ má với nhau.

Đọc Trịnh Y Thư để thấy tính cách, lối suy nghĩ, hành xử của người Việt Nam, tạm đại diện bởi những nhân vật trong truyện của ông, ở ba thời đại. Thời kỳ Pháp thuộc, thời hậu chiến tranh 1975, và thời kỳ lưu vong nơi xứ người. Cả ba thế hệ tuy với số tuổi cách biệt nhau từ 80 năm đến 20 năm tuổi đều có những tình cảm, nỗi niềm, khổ sở, chấn động tâm lý chẳng khác nhau là mấy. Cái hay của tác giả là lịch sử đất nước, con người Việt Nam trải dài từ hậu bán thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21, tất cả đều rất đúng, đều có thực. Ông đã tiểu thuyết hóa các nhân vật, trong đó là đại diện cho một số người có thật ở từng thời và từng vùng.

Ký ức của loài bò sát, những nhân vật ở độ tuổi thiếu niên niên lớn dần thành những thanh niên sống trong khung cảnh lịch sử của người Việt chống Pháp. Họ sống động và sống thực, nên họ khóc cười, nôn ọe giống y tình huống thực của người đương thời ngày ấy. Những thiếu niên đùa phá rồi cười khúc khích khi xem trộm cảnh cô gái tắm bên giếng vườn sau nhà. Rồi thời gian trôi, người ngày lớn dần lên, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, cách đối xử của hai phe Việt Minh và kẻ xâm lấn – người Pháp – ngày càng tàn khốc. Tác giả đã tả chân và thực đến nỗi độc giả cũng phải muốn ọe theo tình cảnh của truyện. Nhưng tác giả vẫn luôn giữ được tính nhân bản của người Việt Nam ở phần kết, ở lời ru bú mớm của nhân vật Xụ Phụn Phèn. Cô ru đứa con khi cả hai mẹ con đều không còn trên cõi đời nữa: “Yêu là gì, hả mẹ?” “Yêu là có thể hy sinh thân mình cho người mình yêu.” “Thế mẹ có yêu bố không” […] “Bố sẽ về với mẹ con mình mãi mãi…” “Bao giờ, hả mẹ?” “Bố hẹn với mẹ con mình ở thủy phủ…” […] “… Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”

835 . LÊ CHIỂU GIANG Nhớ về hội họa sĩ trẻ

LÊ CHIỂU GIANG Nhớ về hội họa sĩ trẻ




Tôi nhỏ xíu, tôi bé xíu.

Cũng chẳng có nghĩa những bóng lớn của Hội Họa Sĩ Trẻ đó đã che hết dáng tôi, cô học trò xinh xinh, chen chân, nhón gót xem tranh trong những chiều trốn lễ, bỏ nhà thờ…

Tôi mượt mà, tóc bay và mắt ướt, tôi thơ mộng như những thiếu nữ trong tranh.

Tôi nhìn thấp thoáng chút yêu kiều, thời của những Chagall, Pissarro, Cezanne, Matisse… Và ngay cả rất xa xưa, Rembrandt.


*** 

Không khí phòng triển lãm Alliance Française, tràn đầy những tinh hoa, thoát bay và ấm áp.

Khói thuốc Haft & Haft thơm tho, Basto nặng nồng, hay Lucky mờ mịt. Mắt tôi bốc cay với khói mà tưởng như có thêm cả chút nồng nàn, sướt mướt.

Những bức tranh với tên gọi bàng bạc như Thơ.

Anh Trịnh Cung với “Vương Hương”; “Trăng, Chim, Hoa và Nàng” của anh Đinh Cường; Nghiêu Đề với “Vùng Thanh Thoát”; và Nguyễn Trung của “Đêm Chân Không”

Tôi mê những bức tranh cổ điển của anh Đỗ Quang Em. Ánh sáng và bóng tối, lạnh toát hay vắng tanh, anh đã làm ấm lại trong tranh chỉ với chút ánh đèn dầu le lói.

Và tranh Cù Nguyễn đẹp như một thinh lặng, gắn bó cùng nỗi chết, đâu đó mãi tận cuối chân trời.

Sàigòn, những ngày xao xác cùng chiến tranh, những lửa đạn kinh hoàng Khe Sanh, Quảng Trị...

Đạn lạc tên bay tận những nơi xa vời để bảo vệ cho Sàigòn. Một Sàigòn không tiếng súng.

Và tôi, trốn hết học hành trường lớp. Tôi mê muội theo những hương thơm ngát của sơn dầu, tôi bàng hoàng bên những nét cọ sắc sảo. Nét cọ mà khi dào dạt cùng tranh, đã phải óng ánh hơn những nét bút rời rạc; chữ nghĩa lơ mơ chợt quên, chợt nhớ của tôi trong trường thi, lớp học.

Tôi bị cuốn theo những chiều rực rỡ La Pagode, những đêm Givral hoa đèn lấp lánh.

Và cả với những sáng khi Sàigòn còn mờ hơi sương, lúc phòng tranh chưa mở cửa. Nơi đó, có năm bảy chàng họa sĩ trong Hội Họa Sĩ Trẻ, ngồi nghi ngút cùng café bên góc hè của Continental Hotel, ngay cạnh phòng triển lãm Alliance Française.

Hình ảnh mà sau này tôi xem trong phim tài liệu về những Họa sĩ thuộc thế kỷ 19th: Claude Monet, Rodin, Degas, Renoir, Cezanne… Họ đã có những sáng vang vang bốc khói cùng café, những đêm rượu đổ đầy đường trên phố Montmartre. Họ cũng đã ngồi cùng nhau bên những câu chuyện đầy màu sắc, ấm áp và chan chứa nhiệt tình, không khác gì những vị trong Hội Họa Sĩ Trẻ.

Từ The Boulevard Montmartre tới Đại Lộ Tự Do Sàigòn.

Trăm giấc mơ đã cùng với khói thuốc mịt mù bay, họ say sưa bàn bàn, nói nói về những tác phẩm tinh khôi, nhằm sáng tạo ra nhiều nét khác biệt hẳn với những tàn dư cũ.

Những bước chân reo cho một ước mơ dài: Làm mới, làm thăng hoa thêm cho nền hội họa của Miền Nam Việt Nam.

Hội Họa Sĩ Trẻ, và phố xá, và Sàigòn của những đêm mưa…  Ánh đèn đường lạnh lẽo hắt hiu, mờ mờ soi vàng những chiếc lá lao xao, rơi rụng.

*** 

834 . Thơ NGUYỄN MINH NỮU, Nhạc Nguyễn Tuấn, thực hiện Lâm Dung

 

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

833 . NGUYỄN MINH NỮU - LÊ ĐỨC LUẬN : Viết để cảm tạ Thiêng Liêng, Đất Nước, Con Người.

                                                                                                     


            Bài đăng trên trên Tạp Chí NGÔN NGỮ số 44 Xuất bản ngày 01 tháng 07 năm 2026.

                                                                                

                                                                                        


                                                                                                       

 Tôi làm quen với Lê Dức Luận qua tác phẩm đầu tay của ông xuất bản năm 2025. Cuốn Người Mẹ Tìm Con do Tiếng Quê Hương xuất bản. Lúc đó, tên tuổi Lê Đức Luận tương đối còn chưa được nhiều người biết, là một tác giả mới, nhưng lại không một tác giả trẻ.

Ông sinh năm 1944 ở Tuy Hòa Phú Yên. Tốt nghiệp Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Cử Nhân Chính Trị Học Đại học Vạn Hạnh,Saigon.  Trước năm 1975 là Sĩ quan phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị  Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và nhiệm sở sau cùng là trong Ủy Ban Binh Thư thuộc Tổng cục CTCT. Sau 1975 đã chịu bảy năm tù tập trung dưới chế độ Cộng sản.

 Ông đến Mỹ năm 1986, và dồn sức cho an ổn đời sống với gia đình cho đến tuổi về hưu. Theo lời tự thuật của ông thì cầm bút viết lại từ khoảng năm 2020. Tôi dùng chữ cầm bút lại vì thực ra cả một quãng đời trong chinh chiến, ông đã cầm bút nhưng để viết binh thư, viết chính trị, và cả viết báo, bây giờ thì ông viết về đời sống.

Ông không chọn văn chương học thuật mà ông chọn tâm sự chuyện đời. Thực sự con đường ông chọn là con đường thành công vì được nhiều người yêu thích. Kể cả tôi, người viết bài này.

Tại sao yêu thích?

Thứ nhất là hành văn. Những dòng chữ ông viết xuống chân chất như lời kể của một vị lão niên miền Nam, thảnh thơi bên chén trà buổi sớm mai , thong thả kể lại chuyện đời với tấm lòng bao dung nhìn chuyện đã qua nhưng dòng nước trôi xuôi, dẫu có bi thương, dẫu có ngậm ngùi và khổ đau đến mấy khi trải qua rồi cũng chỉ đọng lại như một kỷ niệm và một bài học cho chính mình.

Thứ hai là nội dung, toàn bộ những bài ông viết xuống là những thực tiễn ông đã trải qua, đã nhìn thấy và những kỷ niệm buồn vui suốt 80 năm tuổi đời mà ông gọi là ký sự chỉ thêm một chút hư cấu cho tròn câu truyện.

Những truyện trải dài từ Việt Nam Cộng Hòa, qua thời Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Những mẫu chuyện mà ai trong chúng ta cũng lõm bõm biết qua, nhưng đào sâu hiểu rõ hoàn cảnh thời thế, những mảng đời trôi dạt để rồi cảm thông, chia sẻ buồn vui với nhân vật như Lê Đức Luận thì chẳng phải ai cũng có.

Thứ ba là Ý nghĩa giữa hai dòng chữ.  Truyện của Lê Đức Luận không hề rao giảng một tư tưởng đạo dức, khuyên làm lành tránh dữ. Không kể ra để nhấn mạnh hận thù, mà lặng lẽ gửi tới người đọc như một lời cảm tạ.  Cảm tạ thiên liêng, Cám tạ đất nước và cảm tạ con người.  

Đi sâu vào từng câu chuyện của Lê Đức Luận, người đọc nhận ra một điều: ông không viết để than thở, không viết để kết tội, cũng không viết để tô vẽ cho bất cứ lý tưởng nào. Ông viết như một cách để cảm tạ. Cảm tạ Thiêng Liêng đã gìn giữ ông qua chiến tranh, qua tù đày, qua những khúc quanh sinh tử. Cảm tạ Đất Nước : quê hương cũ đã nuôi ông lớn bằng những mùa nắng gió miền Trung, và quê hương mới đã mở vòng tay cho ông làm lại cuộc đời sau bảy năm tù ngục. Và hơn hết, ông cảm tạ Con Người :những phận đời bình dị, những tấm lòng nhỏ bé nhưng tử tế, đã đi qua đời ông và để lại trong ông niềm tin rằng nhân tính vẫn còn nguyên vẹn giữa những đổ nát của thời cuộc.

Chính mạch cảm tạ ấy làm cho văn chương của Lê Đức Luận có một độ lắng rất riêng. Ông kể chuyện như người đã đi qua bão tố, không còn muốn oán trách ai, chỉ muốn giữ lại những điều đẹp đẽ nhất của đời sống. Những trang viết của ông vì thế mà ấm áp, nhân hậu, và có sức lay động lâu bền bởi chúng không chỉ kể chuyện đời ông, mà còn nhắc người đọc nhớ lại những ơn phước âm thầm trong chính cuộc đời mình.

Năm 2026, Nhà văn Lê Đức Luận trình làng tác phẩm thứ hai NỖI LÒNG CHƯA TỎ. Tập gồm 28 truyện. Những chuyện kể gây cảm xúc rất thật với người đọc, nhất là những người bất ngờ có những đoạn đời trùng lập với ông.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trong ca khúc Trên Đồi Arlington đã nói: Đã bảo vết thương không nhắc nữa, mà sao nhìn sẹo vẫn bâng khuâng. Nhà văn Lê Đức Luẫn cũng dắn vặt: Đã bao lần tôi tự nhủ: Hãy quên nó đi!” Nhưng rồi, tôi không thể “cài then” ký ức. Vậy là tôi viết - viết về những bi thảm của chiến tranh… Thế mới biết tư duy không phải lúc nào cũng giải tỏa được những ẩn ức tồn đọng trong tâm hồn của mỗi con người”

Đoạn văn này trích từ truyện “Chiến tranh-Tiếng gọi căm hờn” của Lê Đức Luận. Cậu chuyện làm tôi bật khóc khi nhớ lại những ngày ba lô nón sắt trong chiến trường tây nguyên năm 1970. Và xúc động nhiều hơn khi đọc hiểu hết những chữ ông viết xuống. Ông căm hờn chiến tranh tàn phá đất nước, tàn phá tâm hồn con người. Những kẻ gieo chiến tranh là những kẻ gieo căn hơn, oan khuất.

Vẫn là phong cách điềm đạm và gần gũi, Nhà văn Lê Đức Luận thong thả kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong suốt hơn 40 năm định cư nơi nước Mỹ. Lạ lùng là những điều ông kể , chúng ta không xa lạ  vì đã thường gặp, nhưng góc nhìn của ông sâu lắng hơn, tha thiết hơn và tất nhiên xúc động hơn những thước phim mà chúng ta vẫn thấy ở đời thường.

Từ những mảnh đời rách bươm sau chiến tranh trong BUỔI CHIỀU TRÊN BÃI BIỂN NHA TRANG, hay CHIẾN TRANH TIẾNG GỌI CĂM HỜN được kể lại chua chát, đắng cay, nhưng không có hận thù, mà chỉ có xót thương và nhân hậu. Cho tới nhân vật bình thường như những Ông Già trong CHUYỆN HÚT THUỐC, CHUYỆN CHỮ NGHĨA…  lời trao đổi, tranh luận nghe như rất bâng quơ, nhưng ẩn vào đó biết bao ký thác tâm tình.

Chuyện NỖI LÒNG CHƯA TỎ là một tiêu biểu, bởi vì nó không chỉ là một chuyện tình không đoạn kết, mà ở đó, chúng ta còn nghĩ rộng ra những niềm vui, nỗi buồn của kẻ lưu lạc nơi quê người chắt chiu trong lòng không biết tỏ cùng ai.

Văn chương của Lê Đức Luận không ồn ào, không biện luận, cũng không tìm cách đứng vào vị trí nào trong văn đàn. Nó lặng lẽ như chính con người ông, một người lính đã đi qua chiến tranh, tù đày, lưu lạc, và cuối cùng chọn cách cảm tạ thay vì oán trách.

Ông viết để ghi lại đời mình, nhưng cũng để nhắc chúng ta rằng giữa những biến động của lịch sử, điều còn lại sau cùng không phải là thắng hay thua, mà là tấm lòng.

Có lẽ vì vậy mà truyện của ông có sức lay động lâu bền. Nó không chỉ kể chuyện đời ông, mà còn soi rọi vào đời sống của mỗi chúng ta, để ta nhận ra những ơn phước âm thầm mà đôi khi chính mình quên mất phải biết ơn.

NGUYỄN MINH NỮU

05/2026