Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

936. NGUYỄN MINH NỮU Truyện ngắn CON TRAI CỦA THỦY THẦN

 



Dựa vào truyền thuyết dân gian về nguồn gốc sông Cửu Long và phong cảnh thiên nhiên ở vùng rừng núi Thất Sơn (An Giang), Nguyễn Minh Nữu viết truyện CON TRAI CỦA THỦY THẦN. Truyện ca ngợi tình yêu, lòng chung thủy, và đạo làm người. (PCH)

 
Thất Sơn là tên gọi chung bảy ngọn núi huyền thoại ở tỉnh An Giang gồm: núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn), núi Dài Nhỏ hay núi Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn) và núi Nước (Thủy Đài Sơn).


1
Ông Tư Thời năm nay có lẽ đã trên 80. Ông sinh ra và sống bám vào vùng đất này từ thời thơ ấu đến nay. Ngồi bên tách trà nhâm nhi nhìn mưa gió tối trời tối đất của tháng chin trên vùng núi non hùng vĩ của Thất Sơn,  bỗng sinh lòng hoài cổ cảm khái kể lại như thế này.

Vào một năm lâu lắm rồi, lúc đó vùng Thất Sơn còn rất hoang tịch, dân cư thưa thớt, giao thông vẫn còn trông cậy vào xe ngựa ở trên bờ, và thuyền ghe dưới bến, sâu vào phía sau núi Ông Két, có một ông già sống đìu hiu một mình bên cạnh một mô đất lớn. Ông Tám nhấn mạnh,   “Mà ông già đó còn già hơn ông nội tao nữa nghen bây” . Nhờ vào những nén hưong thắp mỗi buổi chiều tàn, người ta mới hiểu đó là một ngôi mộ, nhưng là một ngôi mộ khá lớn so với kích thước bình thường. Ông già đó sống ở đó từ hồi nào và bao lâu rồi thì ông nội tao cũng không biết rõ.  Người ta thường gọi ông là  Thầy Tám Rắn, vì ông rất giỏi về thuốc trị rắn. Dân địa phưong và các vùng lân cận nếu ai bị rắn cắn, miễn là còn sống cho tới khi gặp thầy Tám là coi như người đó sống. Cách chữa trị của ông cũng lạ kỳ, có ngừoi bị rắn cắn hấp hối, khi gặp thầy Tám chữa trị xong, sống lại rồi kể lại:  khi khiêng bệnh nhân tới, thầy Tám kêu để trên bộ ngựa  giữa nhà rồi đuổi thân nhân ra ngoài hết, sau đó, thầy Tám đưa tay ra vuốt ngay chỗ rắn cắn, từ trong vết thưong rỉ ra một vệt nước đen đặc sánh chảy ra tay thầy, người bệnh cảm thấy nhẹ nhàng liền, chút  xíu sau là các vết sưng xẹp xuống, và  sinh hoạt bình thường.

“Ông nội tao hồi còn thanh niên bị rắn cắn, cũng đã được thầy Tám cứu, vậy mà khi tao lớn lên, thành thanh niên mười bảy mười tám tuổi  cũng còn thấy mặt thầy Tám …thì tao cũng không biết ổng già cỡ nào”

"Lúc đó lóng chừng khoảng giữa tháng 10, trời mưa hoài, mà lại giữa mùa nước lớn…, một bữa vào buổi chiều, trời cũng đang chạng vạng tao vừa ngoài ruộng về , bỗng thấy sấm chớp sao quá lớn, nhất là sét đánh gì đâu mà tứ tung , khắp trời như sao xẹt…Tao hoảng hồn kiếm chỗ núp sao mà bất ngờ chạy tới ụ rơm  kề ngay ngoài vườn nhà thầy Tám, và tao  hoảng hồn khi  thấy sao nhà thầy Tám đông người quá, mà người nào người nấy bận đồ như hình mấy ông Hộ Pháp trong chùa, có hai người quay mặt ra ngoài nên tao thấy rõ họ chỉ là những chàng thanh niên cỡ chừng hai chục tuổi, khuôn mặt sáng láng, họ đang nói chuyện bàn  bạc gì đó chung quanh thầy Tám. Còn thầy Tám thì nằm trên bộ  ngựa…không biết bệnh gì và còn sống hay không.  Thiệt tình thì tao cũng muốn chạy vô thăm hỏi, nhưng sợ sấm sét inh trời mà sao như nhiều tia chớp như phát ra từ trong căn nhà đó nên chưa biết tính sao. Chợt tiếng sấm thiệt lớn  nổ như ngay trên đầu mình, tao té lăn bất tỉnh, tới chừng tỉnh dậy cũng đã nửa đêm,  dòm ra thì  căn lều thầy Tám cũng không còn, chỉ thấy trên đó là một ụ đất lớn như ngọn đồi, mà bây giờ tụi  bây thấy đó, hai ngọn đồi nằm song song bên núi ông Két".

935 . NGUYỄN THỊ HOÀNG BẮC - viết về Thầy THẠCH TRUNG GIẢ


 

THẠCH TRUNG GIÃ

Tôi muốn mượn tên thầy để trang trọng đặt tựa đề này cho bài viết. Tôi muốn dùng những dòng chữ này để tưởng niệm một người thầy đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất, nỗi xúc động sâu xa nhất, và lòng thương nhớ lâu bền nhất trong quãng đời đi học của tôi. Dù ngày nay thầy không còn trên quãng đời này nữa...

Tôi vốn không phải là học sinh ròng của Võ Tánh. Vốn dốt Toán, thi vào Võ Tánh hai lần không đậu, tôi học ở Bồ Đề, và sau đó Lê Quý Đôn.

Nhưng tôi có duyên được học với những thầy giáo dạy Việt Văn tiếng tăm nhất thời đó ở Nhatrang. Bồ Đề với thầy Võ Dự, đệ thất, sau đó, thầy Võ Hồng, đệ lục, và ở Lê Quí Đôn, đệ ngũ với thầy Thạch Trung Giã, và kể từ đó, đệ tứ,đệ tam, đệ nhị Võ Tánh đều vẫn học với thầy Giả. Trong một bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í đăng ở Bách Khoa trước 75, nhà thơ Sao Trên Rừng, tức là anh học trò Võ Tánh Nguyễn Đức Sơn có đoạn trả lời: “... Ở Nha Trang tôi đã có những giờ học kỳ thú với giáo sư Thạch Trung Giã.” Tôi cho là chữ “kỳ thú”của anh Sơn dùng đã chính xác nhất để nói về những giờ học của thầy. Tôi cũng thế, là đàn em lớp sau của anh Sơn, tôi đã có những giờ học kỳ thú và khó quên với thầy Thạch Trung Giả.

Trường Lê Quí Đôn lúc ấy chỉ là một dãy nhà tôn lụp xụp, cất vội vã để đón đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 54, sau khi mọi người đã được định cư, cơ sở được sử dụng làm trường. Những buổi chiều, mặt trời sắp ngả bóng chiếu những tia nắng quái vàng rực chiếu lên mấy dãy nhà tôn, nhà lá, xóm bãi cát bên kia hàng rào, tôi ngồi ở gần của sổ lớp ngó ra, nghe các bạn trong lớp ồn ào, “kia kìa, coi bắc kỳ di cư thui thịt chó kìa…(!)”, tôi nhìn, nghe, nhưng chẳng thấy gì. Đầu óc mãi còn váng vất, ngây ngất, choáng váng vì bài giảng “Chiếc thuyền lơ lửng bên sông” của thầy về Nguyễn Trãi. Mãi về sau lâu lắm, với kinh nghiệm đi học và dạy học, tôi vẫn đồ chừng, có lẽ chưa có ai thấm thía nỗi cô đơn, và giảng được nỗi cô đơn bằng thầy Thạch Trung Giã. Mười lăm tuổi, chưa mường tượng được hết nỗi cô đơn của một kiếp người, nhưng tôi đã thực sự xúc động. Tôi ngây ngất nhìn nắng quái bên kia rào, và rồi hình ảnh của một chiếc thuyền, một ông lái, và phải chăng, một kiếp người cô đơn ám ảnh…Tôi bắt đầu làm thơ, bài thơ đầu tiên của tôi về một chiếc thuyền:

“như chiếc thuyền trôi lạc bến bờ

tôi tìm an ủi ở vần thơ

tôi nghe gió lộng trong thơ ấy

và sống thần tiên những phút mơ...”

Bài thơ lúc đó, được ký tên là Lam Kiều, và đăng trong tập báo Tết đặc biệt của Tam C Võ Tánh năm học 1959, năm thầy Phạm Quang Linh dạy Anh văn làm giáo sư hướng dẫn,thầy Thạch Trung Giã dạy Việt Văn, thầy Cung Giũ Nguyên dạy Pháp văn... Tôi nói đặc biệt vì tờ báo của lớp chúng tôi lúc ấy không trình bày như một tờ báo tường mà chúng tôi bỏ công làm dưới dạng tạp chí, tập san đàng hoảng, đóng thành tập, tất cả làm bằng tay, và dĩ nhiên chỉ có một bản duy nhất, độc bản!

Có hình bìa trước, bìa sau, do các “chú điệu” đang tu học tại chùa Phật học Nha Trang là Nguyễn Hữu Lợi (bây giờ là nhà nghiên cứu và dịch thuật Phật giáo Hạnh Cơ), Nguyễn Huệ Khai...rồng bay phượng múa viết chữ Hán bằng bút lông đen trên nền vàng bài thơ thiền “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Tiền đình tạc dạ nhất chi mai”, với toàn tập là công trình viết tay của biên tập viên Nguyễn Hữu Đàm nắn nót!

Bao nhiêu là nước đã chảy qua cầu...

Bây giờ thỉnh thoảng làm thơ, nhưng dẫu sao bài thơ vụng dại nhưng thơ mộng chân tình nhất về một chiếc thuyền gợi lên từ trong những giờ học Văn với thầy Thạch Trung Giã vẫn là bài thơ khó quên nhất của tôi.

Có một chuyện vui vui nhưng đã làm điên đảo tôi thuở ấy, một đứa học trò nhỏ, mười lăm tuổi, nhút nhát, ít bạn bè, ít nói (chứ không phải lắm lời và lắm bạn như tôi tùm lum hiện nay!!!) Một buổi chiều ở lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn, những bạn nào cùng học với tôi có thể cũng còn nhớ, anh trưởng lớp bảo mọi người ở lại để họp lớp, trưởng lớp tên là LMT, tôi nhắc lại để biết việc đó mấy chục năm sau vẫn như còn hiển hiện trước mắt. Cả lớp họp để tố cáo và làm kiến nghị gửi lên thầy hiệu trưởng Cung Giũ Nguyên là thầy Thạch Trung Giã không biết dạy Văn và một tội trạng nữa của thầy là đã quá thiên vị Hoàng Bắc, nghĩa là bất công với cả lớp… Chuyện kiến nghị của bọn trẻ con cũng là một hình thức tập tành dân chủ, rất tiến bộ của tinh thần học sinh miền nam thời ấy, nhưng lúc đó, đã làm tôi sợ điếng hồn, mất ăn mất ngủ suốt cả tuần, cả tháng, thậm chí thấy ai trong lớp cũng sợ, gặp mặt trưởng lớp chỉ muốn lủi trốn. Tôi lại còn đau lòng, và khóc, và lo lắng cho cả thầy nữa! Có lẽ thuở ấy nhìn bọn nhóc làm dân chủ không chừng thầy còn thấy vui vui nữa là khác. Vậy mà tôi hốc hác vì lo cho thầy! Nhưng chỉ là lo lấy một mình mà thôi,tôi nào có biết ăn nói thế nào để gọi là bày tỏ hay chia sẻ gì với thầy đâu!

Tôi sau đó được đổi trường, từ trường Bán công chuyển thẳng vào Đệ Tam C trường Công lập Võ Tánh, một môi trường mới, lại được học lại với thầy. Lúc xếp hàng chờ vào lớp, thấy thầy đang đứng chờ ở cửa, lòng tôi mở rộng reo vui! Chương trình Tam Giáo ở Tam C với thầy, tôi bắt đầu hiểu đạo Phật, theo thầy, ngoài việc là một tôn giáo, còn là một triết lý sống, một khơi nguồn cho những cảm hứng vô biên cho hai nền văn học Lý Trần vĩ đại của văn học Việt. Sau đó là Nhị C Võ Tánh, không hiểu sao thầy Giã thôi không dạy chúng tôi một dạo, và thay vào đó, thầy Nguyễn Tri Tài. (Sau này tôi gặp lại thầy khi học Dự Bị ở Văn Khoa Saigon, thầy Tài dạy Triết ở Dự Bị.) Nhưng tôi chỉ thích học với thầy Giã thôi, tất nhiên, bằng cảm tính, tôi không thích thầy Tài. Cũng là chuyện trẻ con thời ấy, tôi và bạn thân học cùng lớp Lan Xuân, đã “sáng tác chung” một bài thơ... giễu thầy, ngay tại bãi biển Nhatrang, trong lúc hai đứa chúng tôi đi tắm biển:

“nhatrang có Tri Tài

cứng cứng lại dai dai

cái chân hình như... cụt

khi nói miệng đến tai!”

Xin lỗi thầy Tài, nếu vô phước thầy đọc phải những dòng này! Chúng tôi cố phác họa hình ảnh thầy đứng trên bục giảng như chúng tôi thấy: khi giảng bài, thầy luôn luôn đứng sau bàn giáo sư, hai tay chống trên bàn, một chân đứng thẳng, một chân đu đưa, và miệng thì nói liên tục, rồi lâu lâu thầy ngừng hơi, chép miệng, nuốt nước miếng, rồi như nhai nhai cái gì đó trong miệng. Và quả tình khi thầy cười thì miệng rộng... vô song. Nếu thầy có vô phước mà đọc phải những dòng này thì cũng xin thầy rộng lượng tha thứ cho những trò đùa nghịch ngợm của bọn con nít học trò.

Thương thầy Giã nhiều quá, tôi đâm ra “bất công” với những thầy/cô khác cũng là chuyện thường tình. Và cũng có thể, thương tôi nhiều quá, thầy đã có thể bất công với nhiều bạn khác của lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn thời đó. Tôi nhớ thầy nói oang oang trước lớp, “…bảo tôi bênh Hoàng Bắc cũng như trách Khổng tử sao lại bênh Nhan Hồi, Socrates bênh Platon v.v…” Thầy nói chi mà cao xa với một lũ trẻ chỉ 13, 15 tuổi!?

Số phận lại đưa đẩy tôi lại học Sư Phạm ở Saigon rồi trở về Nhatrang làm cô giáo dạy Văn, cũng ở Võ Tánh như thầy. Thuở đó có lệ ở Đại Học Sư Phạm Saigon, sinh viên ra trường được nêu 3 nhiệm sở ưu tiên của mình, tất nhiên là tôi chọn Nhatrang ưu tiên một. Ai cũng biết Nhatrang là nhiệm sở dành cho các bạn ở Đại Học Sư Phạm Huế, không mấy hy vọng cho tôi, nhưng tôi tha thiết với Nhatrang nên cứ ghi vào. Tất nhiên là không được! Nhiệm sở đầu tiên của tôi cũng là một tỉnh miền Trung như yêu cầu nguyện vọng thứ hai, rất gần Saigon, đó là trường Phan Bội Châu Phan Thiết. Cũng là nơi tập tành dạy dỗ đầu đời của mình, với những kinh nghiệm thơ ngây và non nớt. Nhiệm sở thứ hai là hoàn đổi với 1 đồng nghiệp về TH Diên Khánh và cuối cùng là Võ Tánh, là nhiệm sở cuối cho đến 1975 nó đổi tên thành Lý Tự Trọng. Tôi dạy gọi là lưu dung ở đó gần hai năm, rồi vượt biên bị bắt, và tất nhiên bị sa thải v.v…

Sau một chuyến vượt biển cuối thành công, tôi đến Mỹ, và sau đó tình cờ gặp thầy Từ Mẫn tức là ông Võ Thắng Tiết, người chủ trương Nhà Xuất Bản Lá Bối,Saigon và sau này NXB Văn Nghệ ở California,ông Tiết cho biết thầy Thạch Trung Giã đang giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh Saigon thì xảy ra biến cố 75, thầy đã tự vẫn bằng độc dược…Tôi đã sững sờ thương tiếc…

Ở Mỹ, tôi đã hai lần đăng báo tìm kiếm các con của thầy, hy vọng nối lại chút liên lạc với gia đình thầy, nếu được đến thắp nén hương bái biết lần cuối với thầy…nhưng mãi vẫn chưa có tăm hơi. Tôi nhớ tên thật của thầy là Hoàng Ngọc Lộc, và tên cậu con trai lớn của thầy là Hoàng Sơn Mộc. Sơn Mộc ở đâu, xin liên lạc với người học trò cũ của thầy, vì không lẽ, gặp nhau chỉ một lần trong đời rồi không bao giờ còn cơ hội gặp lại để nói lời bái biệt tạ ơn THẦY một lần hay sao?

Tôi vẫn không quên đã học hỏi được sự nhiệt tình, say mê, và lối giảng dạy như đang trò chuyện với học sinh của thầy. Tôi đã có được những giờ học như là với một người bạn lớn tuổi có cùng niềm say mê văn chương to lớn và muốn chia sẻ hạnh phúc này với những người bạn nhỏ tuổi hơn của mình. Trong những giờ học của thầy, tôi tưởng thầy đang “rút ruột” ra để truyền“bí kíp văn chương” cho chúng tôi hơn là đang giảng dạy cho học sinh. Có lẽ lối giảng của thầy không đúng với cái gọi là “phương pháp sư phạm” theo cái nghĩa chật hẹp cứng nhắc nhất của nó, như tôi đã được học sau đó, và có lẽ lối dạy của thầy thích hợp với cách dạy sinh viên ở đại học hơnlà áp dụng cho học sinh ở trung học. Nhưng những ai sớm biết say mê văn chương học thuật, nếu có cơ duyên được học với thầy, những giờ học kỳ thú với thầy sẽ là niềm khơi dậy, sự đánh thức nỗi say mê văn chương đang tiềm ẩn trong mỗi con người. Chẳng trách những người học trò xuất sắc môn Văn ở trung học của thầy sau này đã trở thành những văn nhân, thi sĩ tiếng tăm.Những tên tuổi Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng... tất cả đều đã từng là môn đệ một thời của Thạch Trung Giã

Có nhiều kỷ niệm vui buồn với nhiều học sinh của tôi. Có biết bao thế hệ học sinh đã học Văn với tôi trong khoảng thời gian hơn 10 năm đi dạy học? Có bao nhiêu học sinh đã thương yêu tôi như tôi đã đặc biệt thương quý thầy Thạch Trung Giã? Chắc là không bao nhiêu, may ra, có thể có vài em đã rắn mắt làm thơ giễu tôi, như tôi đã từng làm thơ giễu thầy Tài… Nếu có nghe được, biết được, tôi cũng chỉ cười thôi, vì tuổi trẻ làm gì cũng đáng yêu và đáng được tha thứ. Thậm chí, lắm khi ôn lại cuộc đời đi dạy của mình, dù là vô tình hay cố ý, tôi cũng đã phạm nhiều sai lầm đối với các em học sinh của tôi. Mong tất cả các em, nếu có thể, tha lỗi cho tôi. Cuộc đời đi dạy của tôi không cách gì có thể so sánh được với cuộc đời đi dạy của thầy Thạch Trung Giã, nếu tôi dám mạo muội so sánh! Nhiều lắm thì cũng chỉ là như “con giun ngước lên trời, yêu trăng xa vời vợi…” (Phạm Duy)

Hôm nay tôi đang nhớ Thầy. Những buổi chiều vàng Nhatrang. Và nắng quái.

Virginia, tháng 6 năm 2022

 

 

 

 

 

 

 

 

 

934 . TRƯƠNG VŨ Cau chuyện bên một dòng sông.

Sông Potomac - Nguồn ảnh: Pinterest

Sông Potomac dài 383 dặm chạy dọc theo biên giới các bang Maryland, Virginia, West Virginia và thủ đô Washington, D.C.. Trong nội chiến Hoa Kỳ 1861-1865, nó là ranh giới của hai phe Bắc Nam và đã chứng kiến bao thảm kịch kinh hoàng khi quân đội hai bên cố vượt qua vượt lại con sông này. Nhưng, điều đáng nói nhất, đó là một con sông dài và đẹp.

Gần một trăm năm sau, một cuộc nội chiến tàn bạo nổi ra ở Việt Nam. Sau khi chấm dứt, nó đã đẩy rất nhiều đứa con của Việt Nam đến con sông này. Có khác, với họ, trên con sông Potomac hay dọc hai bên bờ của nó, không có thảm kịch. Sông Potomac dài và đẹp.

Giữa thập niên 1990, một nhà văn Việt Nam, Nguyễn Minh Nữu, đến cư ngụ ở vùng Potomac. Nguyễn Minh Nữu là con trai út cụ Phó bảng Nông Sơn Nguyễn Can Mộng (1880 - 1954), một nhà nho, nhà thơ, nhà giáo khả kính. Rời Việt Nam đến vùng Potomac, Nguyễn Minh Nữu mang theo một hành trang tinh thần khá phức tạp, đầy dấu vết của cuộc chiến trên quê nhà, pha lẫn với truyền thống nho gia của gia đình, và một đời sống cá nhân nhiều năng động. Năng động khi là một quân nhân, một du ca, một huynh trưởng Phật tử, một nhà văn, và đặc biệt, một lãng tử. Với một quá khứ như thế, bây giờ, ở một vùng đất hoàn toàn mới lạ, vào cái tuổi trên 40, phải làm lại từ đầu với đầy trở lực, mọi sự không dễ. Không dễ như ngắm cái đẹp của một dòng sông. Tuy nhiên, không bắt đầu bằng sức lao động bình thường như rất nhiều người đồng hương khác, Nguyễn Minh Nữu chọn một con đường khó. Nữu quyết định làm một tờ báo tiếng Việt cho cộng đồng Việt Nam. Một tờ báo sống nhờ quảng cáo thương mại nhưng lại mang nội dung văn nghệ, tên là Tuần báo VĂN NGHỆ. “Khi định cư tại Hoa Kỳ, niềm mơ ước đầu tiên và lớn nhất của mình là được cầm bút trở lại. Không thể sống toàn thời gian bằng ngòi bút như khao khát, nên tôi tìm kiếm việc làm từ ngành báo chí.” (Viết Bên Dòng Potomac, Phần 1).  “Khi chưa có khả năng làm về văn học, thì hãy làm văn nghệ trước đã.” (Viết Bên Dòng Potomac, Phần 2). Ngoài Tuần báo VĂN NGHỆ, Nguyễn Minh Nữu còn chủ biên Tạp chí Văn học nghệ thuật VĂN PHONG. Tạp chí xuất bản hàng tháng này ra được 18 số thì đình bản.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

933 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG viết nhạc, NGUYỄN MINH NỮU viết lời, Tiếng hát Ngọc Huy

<p>  
 Lời Tỏ Tình Chưa Nói 
 
Nhạc : Nguyễn Quyết Thắng 
Lời : Nguyễn Minh Nữu 
 Tiếng hát Ngọc Huy 

 Muốn nói nhưng ngại gió
 xôn xao lá rung cây 
 Muốn nói nhưng chiều nay 
vai run tay ngại ngần 

 Còn nguyên tình anh đấy,
 đượm thơm hồn thơ ngây 
 Hòa theo làn mây bay, ngất ngây 
 Đồi vắng còn dấu chân 
 Nguyệt sáng niềm ái ân 
 Đừng phí hoài tuổi xuân chóng tàn
 Lời anh chưa nói lên câu,
 mà trong đôi mắt sâu 
 Ngàn sao như thắp trong nhau nỗi niềm

 Này là mây trắng dịu êm
 Này là hoa thắm bên thềm 
 Này là môi hát tình ca tiếng hát thiết tha 
 Hãy lắng nghe trong hồn ta 
 Vang tiếng du dương chan hòa
 Lời yêu, ấm áp kiếp con người 

 Trao lời ca dâng tiếng đàn 
 Rung động đời phiêu lãng 
xin được làm tia nắng 
 Ghé vai em sớm mai, 
lời trao em đắm say 
 Nói một lời ước nguyện 
 Viết vào lòng hứa hẹn
 Muôn đời sẽ không tàn phai 
 Muôn đời sẽ không nhạt phai.

932. NP PHAN - NGƯỜI CON DÂU NHÀ HỌ PHAN

 

1.

Thuở nhỏ, tôi cứ đinh ninh họ Phan nhà tôi toàn là người bên lương, không có ai và không có nhà nào theo đạo Thiên chúa. Đối với tôi, những người bên đạo rất xa lạ bởi không cùng tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên như mình, mặc dù làng tôi rất gần hai giáo xứ lớn của tổng Trung Châu, phủ Diên Khánh xưa: Giáo xứ Đại Điền và giáo xứ Cây Vông.

Vậy mà, có đôi lần, cha tôi đã dẫn tôi đi thăm những người (bà con) bên đạo ở làng Đại Điền Nam, thuộc xã Diên Sơn, nơi tọa lạc nhà thờ Cây Vông. Tôi chỉ còn nhớ hai người. Một người là một phụ nữ lớn tuổi mà cha tôi gọi là cô Ba (tôi gọi là bà Ba) và một người đàn ông cao lớn, mặt rỗ mà cha tôi gọi là anh Tư (tôi gọi là bác Tư). Bác Tư là một viên chức cảnh sát của chính quyền VNCH, mà hình như cha tôi đang có việc nhờ che chở. Ở cả hai nhà, tôi chỉ nhớ mang máng là có bàn thờ chúa Jesus rất trang trọng.

Tôi chỉ nhớ có vậy, không hề nghĩ là có mối liên hệ gì giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con ấy. Tuổi còn nhỏ, chỉ lo học và chơi nên tôi chẳng quan tâm hay hỏi cha tôi về mối quan hệ này.

Bẵng đi hàng chục năm, tôi cũng quên đi những chuyến viếng thăm của hai cha con tôi thuở nào.

Mãi hơn hai mươi năm sau ngày thống nhất, qua lời kể của cha tôi và những câu chuyện góp nhặt từ những người lớn tuổi, tôi mới biết được mối liên hệ giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con bên đạo kia.

Họ vốn là những người cháu của bà cao tổ (bà sơ) họ Phan nhà tôi, một tín đồ Thiên chúa giáo ngoan đạo.

 

931 . PHẠM VĂN NHÀN Đọc: Tưởng Chừng Đã Quên của Nguyên Minh

                                                                              

 PHẠM VĂN NHÀN

Đọc: Tưởng Chừng Đã Quên của Nguyên Minh

       ( Thư An Quán in & tái bản- Hoa Kỳ 2004 )

Trần Hoài Thư viết :Lời Mở” cho tập truyện : Màu Thời Gian của tôi. Anh viết: ....được đọc một tác phẩm của một tác giả mà mình yêu mến là một niềm vui. Càng vui mừng hơn nữa khi tác giả ấy là một người cùng một thế hệ, cùng một lứa tuổi, trên vai mang cùng chung những thăng trầm của lịch sử...”. Đoạn văn ngắn mà anh Trần Hoài Thư  viết trên có gì là “quá đáng ” không, khi anh viết về tôi? Tôi nghĩ là không. Không quá đáng và cũng không “ cường điệu ” gì cả trong câu viết ấy. Tôi nghĩ: anh đã trải lòng mình trên những trang giây để viết “ Lời Mở ” cho tập truyện của Tôi. Và, hôm nay, tôi cũng trải lòng mình khi đọc xong một tác phẩm của người bạn cũ. Tác phẩm Tưởng Chừng Đã Quên của nhà văn Nguyên Minh.

 

Đọc tác phẩm của anh để thấy có tôi trong đó; mà đã bao nhiêu năm lầm lũi sống, trong nước cũng như ra hải ngoại, tôi cứ ngỡ những cậu chuyện, những người bạn một thời, như: Tưởng Chừng Đã Quên mất rồi.

 

Vâng! Nhìn lại thời gian trước 1975, trong quãng đời quân ngũ rày đây mai đó của tôi. Tôi không gặp lại anh: kể từ khi anh rời khỏi khu phố cổ ngắn và đầy bóng râm trên con đường Nguyễn Thái Học, Phan Rang - ngôi nhà mang số 11- để vào Sài Gòn lo cho nhà in và tiếp tục làm tờ Ý Thức. Hình như cuối năm 1969 (?). Và sau đó đời lính của tôi cũng rời khỏi nơi đóng quân ở Tháp Chàm, để đi đến một nơi khác, cho mãi đến tháng 4 năm 1975. Ngay cả những bạn bè lúc ấy, nơi thành phố nhỏ bé Phan Rang tôi cũng không gặp lại kể từ năm ấy. Ai nhỉ, nào: Trân Hoài Thư, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Ngy Hữu, Chu Trầm Nguyên Minh, Tô Đình Sự...Cũng vì bao nỗi thăng trầm của lịch sử... nói to lớn cho vui vậy thôi, chứ thật ra, đời lính thú mà, họ sai đâu thì đi đó. Cũng vì sai đâu đi đó, mà bạn bè khó gặp lại...Trước 1975, nghe đâu, Trần Hoài Thư đổi vào Nam, thỉnh thoảng có “dù ” về Sài Gòn gặp Nguyên Minh nơi tòa soạn Ý Thức. Và, cũng từ chỗ này, Thư còn gặp nhiều anh em khác nữa. Còn tôi thì biệt tăm cá nhạn.

 

Để rồi, vào tháng tư năm 1975, bạn bè lại mỗi người mỗi ngã, tan tác. Gặp nhau rất khó. Tôi thì “chôn chân” tại một thành phố biển nhỏ bé như trong lòng bàn tay. Phan Thiết. Âm thầm mà sống. Nào ngờ! Đúng quá Nguyên Minh ạ. Tác phẩm của anh Tưởng Chừng Đã Quên.  ( Bốn chữ này tôi phải viết hoa và đồ lại cho đậm nét). Vâng! Với tôi, tôi tưởng tôi quên hết rồi. Ngay như vào cuối năm 1982 được lịnh cho về trong nỗi cơ hàn của một “ bần sĩ ” chánh hiệu . Ngồi bên lề quốc lộ 1, thành phố Tuy Hòa để đón chuyến xe đò xuôi Nam tìm lại vợ con. Hôm ấy, lòng buồn não nuột. Tuy Hòa cũng có những người bạn một thời trân quý. Ngồi giữa lòng thành phố Tuy Hòa nhưng nghe sao rất xa với bạn bè, anh em thuở nào. Nào: Nguyễn Lệ Uyên , Mang Viên Long, Phạm Ngọc Lư , Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình Huy Quang và anh Trần Huiền Ân...không biết có còn ở nơi đây không. Hay trở về quê cũ?  Nhớ như in trong trí nhớ, gần trong khu não bộ, mà sao thấy xa quá. Như NLU, tôi cứ ngỡ bạn ta còn đứng nơi bục giảng ở đâu miệt sông nước Hậu Giang. Nào ngờ bạn ta cũng đã trở về cày sâu cuốc bẩm nơi quê nhà Phú Yên. Phải chi biết được NLU ở đó, chắc ngày về của tôi cũng “ râm rang ” chuyện trò suốt đêm với vài ba ly rượu đế.

 

Để rồi, với thời còn bao cấp, đi đứng khó khăn của một người trở về từ một nơi chẳng được “ lành lặn ” cho mấy.  Đành vậy: Tưởng chừng đã quên. Ấy thế mà hôm nay, chính anh ( Nguyên Minh ) đã đưa tôi về với bạn bè, với những địa danh nơi tôi đã đi qua, đã một thời “ lăn lộn ”. Tập truyện ngắn Tưởng Chừng Đã Quên của anh, anh viết cho anh, cho những bạn bè của anh, và cho cả tình yêu ban đầu của anh nữa, mà sao như anh viết cho chính tôi...vậy.

 

930 . HOÀNG XUÂN SƠN - Đứng - Ta còn đứng

                                                                          

ĐỨNG

Anh vẫn đứng. và đứng mãi như thế

Đợi trời trồng thêm một cột tang thương 

Áo đã bụi sao còn long lanh chớp

Mắt choáng nâu từ cảnh thổ hoang đường 


Sẽ thấy anh sừng sững chiếc trụ đồng

Vững muôn đời không bao giờ gục ngã 

Cho dù có hàng trăm vạn lời nguyền 

Tình yêu linh thiêng không hề mặc cả 

  

Chỉ một mình em làm anh lu câm

Một lần quay mặt cột đồng rơi lệ

Màu teng xanh loang rã đến âm thầm

Ăn hết màu từng kỷ niệm hoang phế

  

Và cổ tích mở đầu chương sách cổ

Giấy đã toan xé duyên nợ hồng trần

Nếu thấy dây thắt vòng treo lơ lửng 

Là sợi buồn tình thắt cổ hồi âm

 

h o à n g x u â n s ơ n 

21. Aout.2026

 

 

TA CÒN ĐỨNG

_______________

  

Mây vàng cuốn hút không gian

Nơi ta còn đứng giữa hang hốc mình

Tuổi đời

Thân nhục vô minh 

Sơn hà đến độ 

Rụng hình bóng nhau

Bạc xám tóc tơ loạn màu

Ta không còn biết về đâu trạm chờ

Em còn nhớ chuyện bài thơ?

Sao mây 

Và dải huyền cơ rộn tình

Ta biết nỗi về rung rinh

Hốt nhiên cơn địa chấn 

Thình lình 

Ngưng


 

 

 

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

929 . HOÀNG KIM OANH - Ta buồn như đá- lạnh ngàn năm


 

TA BUỒN NHƯ ĐÁ- LẠNH NGÀN NĂM…

(Đọc tập thơ Mênh mông chiều của Lê Thị Ái Niệm)

                         Ta có vầng trăng muôn ước hẹn

Xao xuyến vì ai những đêm rằm

Những bước chân xa không dừng lại

Ta buồn như đá – lạnh ngàn năm…

       (Bài thơ tặng ngày sinh nhật)

 Câu thơ buồn nhất trong 86 bài thơ ở tập Mênh mông chiều của Lê Thị Ái Niệm mà tôi mở-gấp tập bản thảo nhiều lần vẫn không thể nào xua nỗi ám ảnh về nó được, cũng chính là bài thơ tác giả viết cho chính mình ngày sinh nhật. Lẽ thường, sinh nhật là ngày đông vui, có gia đình, bạn bè và những lời chúc tụng yêu thương. Lê Thị Ái Niệm có ai? “Riêng mình một cõi nắng mưa thôi” dù quanh nhà thơ không phải không có những vòng tay bạn bè ấm áp, những người bạn tri kỷ có thể chếnh choáng chén rượu suốt canh trường hay ấm lạnh buồn vui từ thời áo trắng Đồng Khánh thơ ngây... Lê Thị Ái Niệm có gì? Ba điệp khúc mở đầu ba khổ thơ dõng dạc “Ta có…”, “Ta có…”, “Ta có…” như liệt kê tác giả nhận được rất nhiều thứ… Đó là: (1) Ta có dại khờ không kể hết, (2) Ta có mùa thu đi không hết, (3) Ta có vầng trăng muôn ước hẹn. Mà nhà thơ cũng giàu có thiệt, giàu những dại khờ, ước hẹn, mộng tưởng đến thừa thãi, tràn trề không kể hết, không đi hết, không đếm hết…

Đá vốn là một vật thể cứng rắn vô tri. Nhưng thẳm sâu trong cội nguồn thần thoại của đá, “linh hồn con người và đá có một mối liên quan chặt chẽ (...) Đá không phải là những khối vô hồn; những tảng đá sống rơi từ trên trời xuống, sau khi rơi xuống chúng vẫn là những vật sống (...) Đá và người đại diện cho sự vận động theo hai chiều: đi lên và đi xuống[i]… Những hòn đá thô là biểu tượng của tự do, trăm năm ngàn năm lặng lẽ giữa đất trời ấy, hấp thụ mọi tinh khí của vũ trụ, đã biến thành một vật thiêng. Ví nỗi buồn như “đá” khiến nỗi buồn của chủ thể “ta” lồng lộng lạ thường, nhưng cũng là nỗi câm lặng cô đơn tột cùng tuyệt nhiên không thể chia sẻ, giãi bày. Tác giả còn nhấn mạnh tiếp ở vế sau: “lạnh ngàn năm”. Cái số nhiều không xác định, không đo đếm được ấy thực sự đã gợi lên một cái gì vừa lớn lao sâu đậm, vừa vĩnh cửu, vĩnh hằng. Phải chăng đó cũng là nỗi buồn trót “mang nặng kiếp người” được thức nhận trong cái vô cùng của vũ trụ mênh mông?

928 . NGUYỄN VY KHANH - Văn Học Hải Ngoại gia đoạn hình thành 1980-1986


 

[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]

[Ghi chú: Các biên khảo, tuyển tập văn-chương,… xuất bản từ năm 1980 đến 2025, sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương sau-Một số Nội dung và Thể loại văn-chương]

GIAI-ĐOẠN TỊ-NẠN CHÍNH-TRỊ

(giai đoạn hình thành, 1980-1986)

Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Năm 1980 đánh đấu sự tham gia sinh hoạt văn-nghệ, báo-chí của đợt thuyền nhân/boat people từ đầu năm 1979, chính-trị rõ hơn với kinh nghiệm sống với cộng-sản Hà-nội của người miền Nam và một phần người miền Bắc (đa số là “bộ-nhân” sang Trung-quốc và Hương Cảng) và sự xuất hiện tích cực một thời của các Mặt Trận chống Cộng và đấu tranh nhắm lật đổ chế độ cộng-sản trong nước. Nhà văn GS Đặng Phùng Quân nói về giai đoạn văn học này như sau: “… văn học lưu vong đã thực sự hình thành; lúc bấy giờ tôi gọi nó là một văn chương thời thế bởi nhà văn không còn là một hiện tượng đơn độc mà thể hiện qua một tập thể đông đảo tạo thành một sinh mệnh, một thế lực văn chương đặc biệt. Tôi coi nó đã mang nguyên vẹn cơ sở văn học từ trong nước ra bên ngoài. Ðiều này không những là một thách đố mà còn là một thái độ xóa bỏ cái văn chương bị chỉ đạo ở trong nước, cái văn chương của tập đoàn văn nghệ chỉ huy và những kẻ cầm bút ăn lương biên chế. Quan điểm này hẳn làm phiền lòng những người ấy, nhưng đó là một thực tại chứng thực kinh qua sự tồn tại và phát triển của nó trong một phần tư thế kỷ nay. (Tẩu Khúc Văn Chương/Triết Lý)

Cộng đồng nhà văn Việt-Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn. Đặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm với cộng sản, và đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Đã vậy họ bị cấm viết, bị cầm tù vì hoặc với "tư cách" là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi lính cho chế độ Cộng hoà. Nay vượt biên, “đi chui”, hoặc đoàn tụ gia đình (bắt đầu từ năm 1979, 1980 tùy quốc-gia), tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại nhờ đó sung tích và đa dạng hơn nữa.

Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn chính trị, từ tâm thức bị phản bội vào thời 30-4-1975, nay người Việt hải-ngoại nhận chân chính-nghĩa luôn ở về phía người tị nạn, lưu vong. Viết về chiến tranh, đa phần vẫn là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng cay của các trại “cải tạo” và của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí chống cộng sản độc tài, những trì trệ không “giải phóng” được đất nước khỏi nghèo đói và chậm tiến, điều này đưa đến khuynh-hướng phục quốc trong văn-chương đã đành mà còn thực sự song hành với những phản kháng, nổi dậy chống cộng-sản ở trong nước.

Hơn nữa, trên bình diện thế giới, “chiến-tranh lạnh” vẫn còn đó, mạnh hơn trước với những “bật mí” về các thủ đoạn tuyên truyền của tập thể khối cộng-sản cùng đám trí thức thiên tả Âu Mỹ trong chiến-tranh Việt-Nam cũng như nhiều nơi khác, và sẽ đi vào thời kỳ chót năm 1989.

Giai đoạn này có thêm những nhà văn thơ thuyền nhân và có những nhà văn viết vì phẫn nộ. Thuyền nhân tị nạn là một bộ mặt khác của chiến-tranh và sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những kẻ thua trận không đặc sắc. Người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc.

Cũng là thời của những cây viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn, Cung Vũ, Võ Kỳ Điền, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Trần Long Hồ, Nguyễn Ý Thuần, Thế Giang (Trần Hưng, 1958 -), Vĩnh Hảo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong, Võ Hoàng,... bên cạnh những nhà văn tị nạn đã từng hoạt động trước 1975 ở quê nhà như Nhật Tiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An, … Các tờ Hồn Việt, Đất Mới, Văn Học Nghệ Thuật, Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Đen, Người Việt, Việt-Nam Hải Ngoại,… ở Hoa-Kỳ và Làng Văn, Dân Quyền ở Canada và Quê Mẹ ở Pháp đã là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới và chống Cộng.

Giai đoạn hai, tạp-chí văn-chương Văn Học Nghệ Thuật tiếp tục với bộ mới, 5-1985 và đổi thành Văn Học “tạp chí sáng tác nhận định văn nghệ” từ tháng 2-1986, Mai Thảo tục bản tạp chí Văn (7-1982), cũng như xuất hiện Làng Văn (1984) thu hút được nhiều cây bút mới bên cạnh những nhà văn đã nổi tiếng,…

Không khí chiến tranh thường trực, không quốc-cộng thì nội bộ hải ngoại, làm như Việt-Nam là một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa qua và cái độc “di tản” phần nào ra ngoài nước. Các nhà văn khai thác chủ đề chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu, tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.

Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết vì phẫn nộ như Nhật Tiến: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (6)

Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, v.v. Ngoài sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại và hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của thế giới cộng sản và thiên tả đã chỉ có giá trị giai đoạn, khi hoả mù chiến tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới văn hoá Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Todd, v.v.

Tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực do tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong xuất-bản lần đầu năm 1980 với tựa Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam “192 bài thơ bi hùng” - ghi Khuyết Danh, theo thông tin khả tín là của Nguyễn Chí Thiện lúc đó còn ở trong nước, đã thành công ném tập thơ vào sân tòa đại sứ Anh ở Hà-Nội, được xuất bản như một tiếng sét khác đánh động lương tâm con người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ấn bản ghi là do Ủy-ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính-trị tại Việt-Nam, tiếp đó VIVO tức Tổ chức Người Việt Thiện Chí tái-bản năm 1981 nguyên văn bản đầu, rồi sau đó văn bản và tựa bị sửa (7).

Nguyễn Chí Thiện từ ngục tối, khi nghe tin miền Nam rơi vào tay quỷ đã than:

"Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

Cả nước đã quay về một mối

- Một mối hận thù, một mối đau thương !

Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường

Đảng tới là tan nát cả!

Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa

Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?

Đau đớn này không chỉ riêng ta

Mà tất cả!

Cả những kẻ đã nằm trong mả

Và những bào thai trong bụng mẹ chót sinh ra

Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha

Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ

(...) Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

Đến bao giờ lấy lại được giang san!

Chế độ này trâu ngựa sống không an

Sài lang đã dựng xong nền thống trị

Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ?

Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn

Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan

Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!"

(Vì Ấu Trĩ)