Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026
888 .HUỲNH LIỄU NGẠN - LỤC BÁT HUỲNH LIỄU NGẠN và NHỮNG BÀI THƠ MỚI.
TRĂM NĂM MỘT KHẮC BỤI HỒNG
nên xa xôi mấy cũng chìm dưới sông
em như ngọn gió ngoài đồng
thổi qua sa mạc mênh mông đời người
thương em lên núi xuống đồi
gánh rau nuôi mẹ lỗ lời nuôi em
tiếng gà thôi thúc từng đêm
thức khuya dậy sớm chân mềm gót chai
anh đi mấy chục năm dài
đầu hôm cuối bãi ngàn mai dặm trường
trên vai anh nặng vô thường
qua sông lỡ bến qua đường lỡ xe
biết giờ em có lắng nghe
câu hò mái đẩy xàng xê thuở nào
thuở anh còn mộng trăng sao
mà em sương khói nghiêng chao cả lòng
rồi thời gian cứ mệnh mộng
qua xuân tới hạ hư không một đời
ngày đi mẹ dặn quên rồi
áo cơm đắp đỗi quê người cũng xong
trăm năm một khắc bụi hồng
mây bay gió thổi phiêu bồng lại vui
tìm đâu năm tháng ngọt bùi
nồi cơm gạo tẻ tới lui phận nghèo
cuộc đời anh vẫn đơn neo
sáng trưa chiều tối quanh queo khúc đèo
lên cao thì phải gắng trèo
mới nghe được tiếng lửa reo bếp nồng.
9.8.2026
ĐỜI ANH CHỈ MỘT BÀI THƠ
anh về bắt nắng chiều đông
nghe con chim hót bâng khuâng trên cành
vì đâu chim lại bỏ anh
để bay theo những âm thanh cuộc đời
anh về bếp lửa chiều khơi
tro tàn nhen chút ấm phơi lại mình
đợi cho trăng xuống mái đình
anh ôm mộng ảo đăng trinh vào mây
tháng giêng hoa nở chưa đầy
cũng chờ gió sớm rung cây thay mùa
biết mai rồi sẽ tiễn đưa
một mùi hương đã chín vừa dấu môi
dòng đời cứ thế lặng trôi
em như sương khói pha phôi lên trời.
âm thầm anh sống đơn côi
nghe con chim hót lại chơi vơi lòng
ở đây không có dòng sông
nên không có cả nhánh rong giạt bờ
đời anh chỉ một bài thơ
nên cam chịu cảnh bơ vơ xứ người.
30.7.2026
NỖI BUỒN XIN GỞI VÀO THƠ
nỗi buồn xin gởi vào thơ
từ kiếp trước đến bây giờ kiếp sau
biết bao nước chảy qua cầu
mà sông không cạn còn sâu lòng người
tình đời chỉ có vậy thôi
mà sao muôn thuở không nguôi nỗi buồn
dù cho đá sỏi cạn nguồn
cũng mòn theo dấu chân cuồng loạn đêm
cầu cho chân cứng đá mềm
để đi cho hết bực thềm bụi cay
dẫu đời không có vòng tay
thì ánh mắt cũng đắm say thay lời
nỗi buồn xin gởi lên trời
cho mây trắng được gọi mời yêu thương
nếu mai mưa ướt dặm trường
thì tìm quê để hỏi đường mà đi
nếu còn lạc giữa sầu bi
cũng xin gởi trả sân si cho đời
phủi tay ừ phủi tay rồi
nhẹ không chỉ một tiếng cười là xong.
28.6.2026
TỪ KHI ĐÁ LỠ NON BỒI
mùa em sầu chất lên rừng
tay che sợi khói bay lừng về khơi
thuở xưa ấy gió mù trời
bởi em mặc áo để lơi giọt bồng
trăng không về chổ má hồng
nên sa xuống giữa cánh đồng nở hoa
mênh mông anh ngó lại nhà
tìm em khắp nẻo ta bà mà vương
đời anh giống ngã ba đường
sắc không như huyễn vô thường như say
bỏ quên hết tháng với ngày
anh vô sở trú như mây trên trời
từ khi đá lỡ non bồi
làm em phải ngại bước rời chân xa
biết anh tới bến trễ phà
qua sông gánh chợ làm quà ghé nuôi
anh còn giận mãi cuộc đời
vì tóc em buột miệng lời thế gian
đêm nằm cứ mớ đò ngang
chờ em lật sấp xuống hoang mang tình
lòng anh như thác đổ ghềnh
mà chân thì chạm mái đình chưa đi
sợ em núp bóng từ bi
quên anh với mối tình si dại cuồng.
8.6.2026
TUNG LÊN TRỜI XANH
anh ôm kỷ niệm vào lòng
gió nồm thổi lại phập phồng anh lo
chiều ni anh hỏi con đò
còn đưa qua cửa câu hò mẹ ru
nhớ gì từ thuở âm u
anh đi bỏ lại trăng lu bên vườn
con chim đứng ngó dặm trường
lâu lâu lại hót vô thường sắc không
màu trời còn đọng bên hông
nhà ai khói bếp ùn xông chái nghèo
tiếng gà gáy tận cheo leo
lá rơi theo bóng mây heo hút đèo
anh xa quê mẹ bọt bèo
nồi cơm gạo hẻo còn reo trên nồi
từ khi vật đổi sao dời
anh già nua ở xứ người thật lâu
đời như một cuộc bể dâu
đã vùi sâu giấc mộng đầu của anh
bao nhiêu ước vọng chưa thành
anh tung lên hết trời xanh rồi cười.
24.5.2026
HUỲNH LIỄU NGẠN
887 . SONG THAO - XÍ QUÁCH
Tôi bén duyên với xí quách khá sớm. Từ thuở chơi đáo đánh khăng tại Hà Nội. Trên vỉa hè trước cửa nhà tôi có cho một ông phở gánh đứng bán. Chúng tôi mải miết chơi trên lề đường trong không gian thơm lừng mùi phở. Cuối ngày khi ông dọn về, ông vét nồi nước phở to đùng, vớt ra vài tô xí quách, cho anh em chúng tôi bồi dưỡng. Gặm xí quách là một thú khám phá đầy hấp dẫn. Thịt mềm, gân dai, sụn giòn. Chúng nằm không theo một thứ tự nào. Hên xui may rủi cho người gặm. Gặp khúc xương ống là thấy hạnh phúc nằm ở đầu lưỡi. Gặm thịt và gân dính ở đầu xương, khới lớp sụn, mút tủy xương béo béo thơm thơm, cuộc đời sao mà vui đến thế.
Niềm vui xí
quách của tôi là một niềm vui…cộng đồng. Hình như tụi nhỏ cứ đụng tới xí quách
là bay hồn vía. Như tác giả Đinh Trực. Anh còn nhớ mãi những ngày Chủ Nhật hay
ngày lễ được bố cho đi chơi Chợ Lớn hay Sài Gòn. Kết thúc buổi đi chơi bao giờ
cũng ghé một xe mì và cậu nhỏ Đinh Trực không bao giờ quên gọi một tô xí quách
xương heo ngay khi vừa ngồi xuống chiếc ghế xếp mặt gỗ bóng loáng vì dính dầu mỡ
thường xuyên. Tô xí quách được bưng ra. “Ôi... mùi thơm bốc lên làm cái bụng cồn cào thêm, đang đói mà ăn món
khoái khẩu thì còn gì bằng. Trong tô, nước lèo sóng sánh nước mỡ vàng, hai cục
xương heo nằm ngổn ngang, lớp hành xanh nhỏ rải trên mặt thật hấp dẫn. Không
ngần ngại, tôi cầm chai dấm và nước tương nêm vào tô ngay, “Đỏ là Dấm-Xanh là
Tương”, qui ước hai chai của người Hoa là thế mà. Có món ngon rồi, lại phải
biết cách ăn mới thú. Tôi chùi tay, cầm ngay cục xương lên mà cạp, gặm những
miếng thịt còn dính trên xương. Xoay tới xoay lui, tìm cái ống có lỗ trống, hút
liền một phát, những tinh tuý của tủy xương chạy một cái rột vào miệng: béo,
ngọt, thơm, mặn, bao nhiêu cái ngon trên đời đã vào bụng. Cầm cái muỗng múc
nước lèo húp liền hai phát kèm theo... đã quá đi thôi. Thời gian chậm chạp
trôi, hai cục xương đã được tôi làm sạch, nước lèo trong tô cũng cạn đáy, chỉ
còn lại những hạt tiêu đen và những mảnh xương vụn”.
Hình như dân ta
thuộc loài gặm nhấm. Già trẻ lớn bé chi cũng thích mang răng ra thi thố với
xương hết. Nhà văn Đỗ Duy Ngọc viết: “Tuỳ
là bò, gà, hay heo, những thứ bám vào xương có thể kể ra nhiều: thịt nạc, thịt
mỡ, gầu, nạm, da, sụn, gân, tuỷ. Cục xương to nhất không hơn nắm tay như giò
heo hoặc đuôi bò, dài khẳng khiu không hơn cây bút chì như xương chân gà, lại
cho ta nhiều thứ để thưởng thức như vậy. Ăn thịt heo luộc thì chỉ có nạc và mỡ,
ăn bít tết thì chỉ có thịt, ăn nem thì có thịt có da; không thức ăn nào cho ta
hưởng được nhiều thứ như gặm xương. Có lẽ vì sảng khoái như vậy nên dân nhậu
thường lấy xương làm mồi. Rỉa một miếng xí quách, chấm vào xì dầu (nước tương)
có pha tương ớt, cho vào miệng nhai, rồi ngẫm nghĩ, “Đời cũng còn nhiều thú vui
đơn sơ mà đáng sống”. Mà đúng thật, ăn xí quách cũng như sống cuộc đời, đủ mùi
vị khi ngọt bùi, khi cay đắng, khi đầy toan tính, khi thực bất ngờ. Ấy là chưa
kể nhấm thêm vài lá húng quế hoặc ngò mùi, ngò gai, cắn một tí ớt. Cộng hưởng
với men nồng của rượu, thực không có gì tiêu biểu cho cuộc đời lên voi xuống
chó cho bằng gặm xương”.
Nhậu mà thiếu xí quách là thiếu một phần
hạnh phúc trần gian. Sao mà rượu lại cặp kè với xí quách như đôi bạn tâm đầu ý
hợp đến thế. Những ngày nhậu nhẹt với mấy ông nhà báo ở Sài Gòn, trên đường Phạm
Ngũ Lão, nay vẫn còn bám vào mảnh ký ức đang dần nhạt nhòa của tôi. Những cuộc
nhậu có nem chua, cà ri dê, lẩu bò, thịt rừng và nhiều thứ bắt mồi khác tôi ít
nhớ, nhưng những cuộc nhậu những ngày túi vơi bên cạnh một ông phở gánh có thau
xí quách làm chuẩn, tôi lại nhớ nhiều hơn. Có lẽ mùi vị của xí quách ngày nhỏ vẫn
còn đánh đu trong ký ức của tôi. Có tí rượu vô, chúng tôi phét lác chỉ có dân
nhậu chúng tôi mới có đủ trình độ thưởng thức xí quách, tây chỉ pho-ma với thịt
nguội làm sao biết gặm xương. Hồi đó chưa có tây ba lô, chừ tây ba lô ngổn
ngang khắp nước, tây cũng gặm xương như ta.
Max McFarlin, một anh chàng người Mỹ,
là người đã nhiều năm lui tới du lịch bụi tại Việt Nam. Anh có một kênh YouTube
được trên 600 ngàn người theo dõi. Trong một video có tới hơn một triệu người vào coi anh đã ca tụng món xí quách,
món ăn mà anh gọi là “xương xẩu”. Anh nhắc lại kinh nghiệm ăn món lẩu xí quách
tại một cửa hàng tại Quận 9 Sài Gòn. Lẩu xí quách không có trong những ngày lê
la ăn xí quách của tôi. Có lẽ đây là một “phát minh” mới của dân ăn nhậu ngày nay.
Món này hầu như không có trong các nhà hàng mà chỉ có trong các quán nhậu. Đó
là nồi nước xương hầm có bỏ thêm vài loại trái và các loại rau. Nồi lẩu thơm
mùi rau quả, có vị thanh thanh cộng với mùi đặc trưng của xí quách, ăn với tàu
hũ và bún. Món lẩu xí quách này nghe ra không làm dân nhậu háo hức. Xí quách đã
mất đi mùi đặc trưng. Nhưng anh Max vẫn háo hức kể lại: “Mình đã phải lái xe 35
phút, cuối cùng mới tìm thấy quán này. Anh chủ quán còn thắc mắc sao mình đi ăn
sớm thế. Thật tuyệt vời. Nhà hàng còn
cho mình kéo để dễ ăn hơn. Trong nồi vừa có xí quách, vừa có xương sườn, rất
ngon”. Đọc tới đây tôi khinh thường anh Mẽo này ra mặt. Ăn xí quách mà dùng kéo
còn ra cái thể thống chi. Nhưng anh chàng Max này cũng khá bản lãnh. Anh bàn tiếp:
“Lấy kéo cắt thịt là cách ăn sạch sẽ, văn minh và lịch sự. Nhưng thành thật mà
nói, ăn tay không mới ngon!”. Có thế chứ! Nhập gia tùy tục, đớp xí quách phải dùng
tới bàn tay năm ngón kiêu sa. Anh Max đã tìm ra chân lý: “Khi thịt chín, thịt
béo ngậy, đậm đà thơm ngon. Chấm với sốt chấm tê tê, cay cay nữa là tuyệt vời.
Mùi vị béo ngậy vẫn còn trong miệng mình. Mình cũng rất thích phần huyết bên
trong xí quách”.
Tôi vẫn ấm ức vì mình sớm bỏ nước ra đi
không biết món “lẩu xí quách” ra sao. May mắn tôi đã tìm ra được bài của tác giả
Ngữ Yên, một “chuyên viên” về lẩu xí quách mới rõ ràng nó là cái chi chi. “Tới
nơi khi món bưng ra mới biết đó là cái lẩu xí quách. Bợm nhậu Cần Thơ chơi ác
đặt tên nó là món MIA, viết tắt ngữ “missing in action”, một từ thông dụng ở
Việt Nam sau ngày hai nước ký kết bang giao. Mỹ yêu cầu Việt Nam hỗ trợ tìm
kiếm và giao hài cốt quân nhân Mỹ. Xí quách trong con hẻm ấy ngon thiệt. Thịt
vừa mềm tới, không quá rục. Mùi tiêu quyện với mùi hành, mùi xương, hình ảnh
những cái xương ống, thoạt cảm đã ấn tượng thèm ngay những giây đầu. Lại có bán
cả rượu và bia. Chúng tôi chọn bia để còn có thể sống sót đi lê la chỗ khác.
Cốt là về Sài Gòn có tư liệu viết bài… Xương hầm lấy nước lèo thay vì là đồ bỏ
trở thành đồ được dân nhậu tôn vinh rất mực. Thế rồi những năm 90 thế kỷ trước,
ẩm thực tiến hóa dữ dằn, món xí quách không còn là phó phẩm của hủ tíu, mà trở
nên hàng chánh phẩm. Một số hàng quán đã cho ra đời món lẩu xí quách hầm trực
tiếp để dọn ăn. Pháp này còn ngon và đầy đủ hương vị hơn món phó phẩm. Tôi được
ăn món xí quách này trên đường Võ Văn Tần (xưa là Trần Quý Cáp), gần một tòa
báo. Món ăn không đạt độ đủ mềm. Nói chung là chưa điêu luyện. Về sau và nhiều
năm sau nữa, khi vào quán Rặt Dê trên đường Huỳnh Tịnh Của, kêu món xí quách. Một
cái lẩu xí quách dê được dọn lên, kèm nào rau các loại, lại thêm mấy cái ống
hút cỡ ngón tay. Té ra, bây giờ Sài Gòn còn biết tận dụng luôn cả tủy trong
xương ống bằng ống hút. Hút tủy trở thành một món nhanh ghiền. Lẩu xí quách
quán Mưa Rừng, đường Sư Thiện Chiếu, đối diện cổng hông chùa “cách mạng” Xá
Lợi, so với các quán tôi và các bạn thường lê la có lẽ “vĩ đại” nhất. Xương vun
cao hơn cái lẩu một khúc. Toàn khuỷu xương ống. Phải bốn tên vật mới “toang”
cái lẩu và một thùng Tiger có lẻ. Nhưng lẩu chỉ ăn một bữa là ớn. Muốn gặm
xương dài hơi, bạn nên đến quán Cẩm Lệ trong một con hẻm nằm trên đường Cao
Thắng, đoạn giữa hai đường Điện Biên Phủ và Ba Tháng Hai. Quán nằm gần cái Miếu
thờ Lê Văn Khôi như là thành hoàng bổn cảnh. Ở đây có lẩu chưn giò heo. Trời!
Gặm chưn giò có đủ mùi vị của những kẻ nghiện xí quách. Da sừn sựt nè, sụn giòn
giòn, thịt béo béo, tủy béo ngậy. Lại còn có cô Nga phục vụ nhanh nhẹn, vui
tươi hết sức dễ mến. Hỡi ôi, cô Nga hồi đóng cửa do dịch Covid-19 đi nấu cơm từ
thiện, lây bịnh và qua đời”.
Xí quách là cách phát âm theo tiếng Quảng
Đông chữ “trư cốt”, nghĩa là xương heo. Sau đó, xí quách được dùng rộng ra cho
không chỉ xương heo mà xương bò, xương dê cũng…xí quách tuốt. Đó là thứ phó phẩm
của hủ tíu, phở và các loại bún. Người ta cốt lấy nước hầm từ xương làm nước
chan vào chén hủ tíu, phở và bún. Thứ thịt đã nhả hết chất ngọt ra nước sau đó
là thứ vất đi. Không biết từ khi nào xí quách lại được trọng dụng. Ai đã có
công biến một thứ vứt đi thành một món ăn ngon miệng, tôi nghĩ người đó chắc phải
là một bợm nhậu.
Xí quách đậm đà, béo béo là do chất tủy
nằm trong xương ống. Tách riêng ra, tủy là một đặc sản trong ẩm thực của cả ta
lẫn tây từ khuya. Nhiều nhà nhân chủng học cho rằng con người nguyên thủy là những
kẻ ăn xác thối. Họ dùng đá để đập vỡ xương của những xác thối do những dã thú
như sư tử bỏ lại khi bộ hàm của thú ăn thịt không đủ khỏe để gặm vỡ xương. Ngày
nay, trong các nhà hàng sang trọng cũng như bình dân, món tủy rất được thực khách
chiếu cố. Tủy bò nướng, tủy heo hấp lá chuối, súp cua tủy, lẩu hút tủy, tủy bò
chiên giòn, tủy bò nhúng mẻ là vài món thông dụng tại các nhà hàng trong đó món
tủy bò nướng được ưa chuộng nhất.
Món tủy bò nướng rất dễ làm. Cưa đôi
xương bò, rắc hành lá , ớt và gia vị rồi nướng trên lửa than. Tủy xương sẽ tỏa
ra mùi thơm khó cưỡng. Múc phần tủy xương ăn với bánh mì. Có người thích cầm
thanh tủy lên húp nhưng cũng có người thích đổ rượu, trộn lên rồi uống. Đây là
món ăn phổ biến tại nhiều quốc gia, mỗi nước có cách ăn khác nhau. Pháp, Anh,
Philippines ăn khác Trung Quốc. Mỗi địa phương Trung Quốc lại thưởng thức món tủy
khác nhau. Có nơi cho thêm chút bơ để tạo mùi thơm kích thích vị giác. Ăn tủy gần
giống như ăn thịt mỡ nhưng không béo bằng. Có khi dính trên tủy còn có gân nhai
thấy dai dai, có mùi thơm dịu của sữa.
Xí quách là thứ quyến rũ những cái miệng
sành ăn sành uống. Ngay học giả Trần văn Khê cũng có bài “Nghĩ về Nghệ Thuật Gặm
Xương” viết về xí quách. Ông vốn là một nhà nghiên cứu về văn hóa, âm nhạc cổ
truyền nổi tiếng quốc tế. Học vị của ông là Tiến sĩ Âm Nhạc Học. Ông là Giáo sư
tại trường đại học danh tiếng Sorbonne ở Paris, thành viên danh dự của Hội Đồng
Âm Nhạc Quốc Tế và UNESCO. Những gì ông viết ra đều là những nghiên cứu nặng ký
mang tầm vóc quốc tế. Tôi không tin ông cất công bỏ thời giờ ra viết về một thứ
phàm phu tục tử như vậy nên vào hỏi ông trí tuệ thông minh ChatGPT. Ông “thông
minh” này xác định ngay bài viết ngắn có tính cách cà rỡn đó đúng là “tác phẩm”
của ông Trần.
Theo
ông, gặm xương có triết lý riêng của nó. Thứ nhất là hưởng được những điều bất
ngờ khi gặm giò heo, đuôi bò, chân gà hoặc xí quách. “Xương còn dính thịt cho ta cái bất ngờ là lúc đang gặm tí thịt còn lắt
léo trong góc kẹt của cục xương thì bỗng sựt một cái, ta cắn được một miếng gân
hoặc một miếng sụn giòn. Đang gặm tí da tí mỡ của giò heo thì lại đớp được một
mẩu thịt nạc. Khoái hơn nữa là gặm cái sụn giòn tan nằm cuối xương ống chân gà,
nhất là loại gà công nghiệp. Những khi ăn đám ăn tiệc, ta buộc lòng phải bỏ mấy
cái xương gà loại này vì muốn bảo toàn danh dự, tuy lòng tiếc hùi hụi. Hưởng
được những bất ngờ đó khoan khoái như “tha hương ngộ cố tri” hoặc “nắng hạn gặp
mưa rào”. Lòng ta phơi phới. Ta nhai nhai một tí, rồi tợp một tợp hoặc tu một
tu”. Cái thú thứ hai: gặm xương là đang uống
thuốc bổ mà như không phải là uống thuốc mà nhai thuốc một cách hớn hở. “Gặm
xương còn là một liều thuốc bổ, Calcium. Không hiểu sao nhiều người phải mua
calcium về uống, trong khi xương là nguồn calcium vô tận. Thử hỏi uống một viên
Calcium, vừa nhạt nhẽo vừa nóng, sao cho bằng gặm một cục xương, vừa béo vừa
bùi? Thế mới biết, người Mỹ người Tây cần uống Calcium vì họ không biết gặm
xương!”.
Gặm xương còn tập cho chúng ta biết
lập kế hoạch. Gặm chỗ nào trước, chỗ nào sau là cả một kế hoạch cho việc gặm
xương trở thành viên mãn. Người gặm xương còn tập được tính kiên nhẫn. Không
kiên nhẫn sẽ có chuyện gãy răng. Tính mạo hiểm cũng được phát huy khi phải mò
mẫm như vào một hang động hoang vắng “ngậm ngải tìm trầm”. Gặm xương dậy chúng ta
tính tùy thời, khi nào gặm khi nào phải ngưng gặm, biết nắn biết buông như người
chơi đàn thập lục. Tính chỉ huy cũng được phát huy khi điều hợp miệng, răng,
lưỡi chặt chẽ để đạt hiệu quả cao nhất.
Sau khi “nghiêm chỉnh” về triết lý gặm
xương, ông Trần văn Khê…phiếm: “Xí quách là gì? Hà, hà. Đơn giản xí
quách là trư cốt, là xương heo đọc theo âm Quảng Đông. Hồi đầu mới du nhập Việt
Nam, xí quách chỉ là xương heo, nhưng sau xương bò, xương gà, xương gì gì nữa
cũng được kêu tuốt là xí quách. Xương heo để nấu nước lèo hủ tiếu (phở thì dùng
xương bò). Chiều chiều, các bợm nhậu thường ghé quán hủ tiếu gọi một tô xí
quách lai rai. Chừng mà chủ quán kêu hết xí quách rồi thì coi như đời tàn,
chẳng còn gì vui hết, lại phải về sớm với bà vợ lắm điều. Mà nhiều khi còn bị
vợ hỏi xóc hông “Ông chơi với bạn bè ra sao mà người ta không cho vô bàn nhậu,
phải về sớm vậy nè, hả?”.
Hết
xí quách về chẳng lẽ lại bảo vợ là hết xí quách. Có khi chuyện này hiểu ra
chuyện nọ. Ông Trần phiếm tiếp : “Xương
còn cứng thì dáng người thẳng thóm, tướng đi hùng dũng. Xương loãng rồi tướng
đi lòm ròm, đầu gối lủng củng còn gì là uy phong. Ngoài ra, xương sống mà nhất
là tủy sống là nơi sinh sản ra cội nguồn sự sống. Lớn tuổi rồi, bộ máy sinh học
đã mệt mỏi theo năm tháng, phần cần dùng lúc nào cũng nhiều hơn năng lực sản
xuất. Không biết cách điều tiết thì nhiều khi phải ăn vào vốn, là nguy cơ đi
gặp ông bà sớm. Vậy là hết xí quách rồi”.
Khám
phá ra khía cạnh rất dân dã của một bậc khoa bảng chẳng là một thích thú sao?
Thích thú nhưng tôi không quên thắc mắc: do đâu ông có được cái xuề xòa của một
lão ông quần ống thấp ống cao ngồi rề rà nói chuyện xí quách và chuyện hết xí
quách một cách tinh ranh như vậy? Nghĩ riết rồi cũng vỡ lẽ ra: ông là anh của
quái kiệt Trần văn Trạch!
08/2026
Website: www.songthao.com
886 . PHẠM VĂN NHÀN : Viết về TRẦN HOÀI THƯ
Vào ngày 28 tháng 5 năm 2013, email cùa người bạn thơ, anh Lê Ký Thương từ Sài Gòn gởi qua cho tôi hay là đã tìm được tập thơ: Tiếng Thơ Miền Trung trong một chồng báo cũ ẩm mốc mà bà chủ cửa hàng sách cũ trên đường Trần Huy Liệu đang chờ xe rác tới là vứt bỏ ngay. Tập thơ vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ có bìa sách là cũ và rách. Anh đã giữ tập thơ này đã 20 năm , anh mới có dịp gởi qua cho tôi. Anh Lê Ký Thương, một thành viên trong nhómÝ Thức của anh Nguyên Minh ngày nào khi còn ở Phan Rang. Bìa tập thơ rách, cho nên anh đóng lại thành bìa cứng. Nhận tập thơ tôi vui lắm. Nhưng niềm vui cũng chưa trọn vẹn. Phải chi, khi anh TTM còn sống, lúc nào anh cũng ao ước là mong sao tìm lại tập thơ này. Đến lúc anh mất, : Tiếng Thơ Miền Trung lại đến với chúng tôi. Mà, theo như anh Lê Ký Thương nói: về tập TTMT chỉ có bạn và anh THT thực hiện thì quý vô cùng và lại mang một ý nghĩa chính đáng nữa. Với tôi, tập thơ TTMT trên 55 tìm lại được. Vui có mà buồn cũng có. Vui là tập thơ không còn bị thất lạc. Và, buồn khi anh TTM đã nằm xuống chưa thấy lại được đứa con đầu tay của mình.
Tuy nhiên, hôm nay, ngày 18 tháng 8 năm 2015 lại một niền
vui khác lại đến với tôi lần thứ hai. Khi tôi nhận được tập truyện ngắn của bạn
tôi, nhà văn Trần Hoài Thư. Tập truyện Những
Vì Sao Vĩnh Biệt do Ý Thức in và xuất bản năm 1971. Với thời điểm này, tôi
không còn ở Tháp Chàm mà đổi ra Dục Mỹ cuối năm 1969 đầu năm 1970. Và, cũng từ
năm 1970, tôi với Trần Hoài Thư không còn gặp nhau, ngay cả liên lạc thư từ vì không biết KBC của nhau.
Sau khi tôi đưa anh ra Nha trang để đổi lên vùng cao BMT.
44 năm đã trôi qua. Những Vì Sao Vĩnh Biệt
không có nghĩa là vĩnh viễn biệt tăm. Đối với anh Trần Hoài Thư, anh cũng nghĩ
là đứa con tinh thần của anh cũng chỉ còn chăng là trong kỷ niệm của anh và bạn
bè một thời. Cũng như anh Từ Thế Mộng cũng nghĩ là tập thơ đầu tay của anh và
bạn bè sẽ không bao giờ tìm thấy lại. Nay, Tiếng Thơ Miền Trung anh TTM không
thấy, nhưng vợ con anh đã thấy.
Còn Những Vì Sao Vĩnh Biệt của anh
Trần Hoài Thư thì ngày hôm nay, anh nhận được cũng qua công sức của những người
bạn trong và ngoài nước bỏ công tìm kiếm, sưu tầm để cho đứa con tinh thần của
người bạn tôi sau 44 năm lưu lạc lại về trong tủ sách truyện ngắn của anh.
Còn với riêng tôi. Hai tập: TTMT và
tập truyện NVSVB đều đem đến cho tôi một niềm vui rất lớn; vì đó là hai tác
phẩm rất thân với tôi của những tác giả mà một thời tôi quen biết. Chỉ riêng
tập truyện Những Vì Sao Vĩnh Biệt, anh THT thường hay nói chuyện với tôi là
chắc không bao giờ tìm thấy lại được. Ngay cả tập truyện đầu tay của anh: Nỗi
Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang cũng do Ý Thức xuất bản khi cơ sở Ý Thức còn ở Phan
Rang. Khi tôi về Việt Nam, ngồi nói chuyện với các anh Nguyên Minh, Nguyễn Lệ
Uyên và Lê Ký Thương cũng như nhiều người bạn khác trong Ý Thức ngày nào, không
ai còn giữ tập truyện này.
44 năm trôi qua. 44 năm hình ảnh và
những nhân vật trong những truyện ngắn Những Vì Sao Vĩnh Biệt đã làm sống lại
trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Đối với độc giả đọc truyện của anh THT với
một cảm nhận trên văn chương, trên từng con chữ, trên mỗi truyện của anh đi
trên các tạp chí. Khen hay chê là cảm nhận của từng người. Còn đối với tôi,
ngoài văn chương chữ nghĩa ra, tôi còn cảm nhận được cái tình bạn gắn bó một
cách lạ lùng qua những tình tiết trong mỗi truyện ngắn của anh sáng tác, với
cuộc sống đời thường của hai chúng tôi.
Tập truyện ngắn: Những Vì Sao Vĩnh
Biệt. Nhận được tôi đọc ngay trong đêm. Từng truyện ngắn anh viết, tôi lại nhớ
mấy tháng anh về sống với tôi ở Tháp Chàm, trong căn phòng tôi thuê hoàn toàn
bằng tôn. Mái nhà cũng bằng tôn. Trần nhà được phủ một lớp carton, nhưng hơi
nóng thì như lò bánh mì. Nhà trên một ngọn đồi nhỏ, bên cạnh đường xe lửa.
Chung quanh là những động đĩ, rất nham nhở và dơ dáy. Ngày tôi đi làm. Anh ở
nhà ngồi viết trên cái bàn ộp ẹp độc nhất trong căn phòng thuê. Anh viết ngày ,
viết đêm, viết không mệt mỏi. Thỉnh thoảng vào giờ nghỉ dạy có Võ Tấn Khanh lên thăm chơi. Hơn hai tháng ở Tháp Chàm, anh
cắm cúi viết. Những ngày nghỉ hai chúng tôi rũ nhau ra sông Dinh bắn cá về nấu
ăn. Cuộc sống rất ư là thoải mái. Cho nên khi đọc lại cái truyện "Cuộc
Sống Tôi", gồm ba nhân vật: hai còn sống ( tôi và anh), một đã chết trong
đói nghèo ở Đà Lạt hay Tháp Chàm gì đó? sau tháng 4/1975 tôi không liên lạc
được. Sau này tôi mới biết qua cháu gái con của Minh ( nhân vật trong truyện. Tên thật Lê Minh ) nói
lại. Còn chiếc xe Honda mà hai tên lính mượn chạy trong đêm giới nghiêm ở Nha
Trang, trời mưa như trút nước là xe của họa sĩ Thanh Hồ. Còn ngôi nhà gạch
trong xóm Rộc Rau Muống, ấp Hà Thanh, nơi anh đã lớn lên. Anh đưa tôi đến, ký
ức tuổi thơ anh lại hiện về trong anh. Nhìn anh bề ngoài, tưởng anh là một sĩ
quan sống rất bụi, chẳng ai nghĩ anh là một giáo sư dạy học ở Quảng Ngãi.
Nhưng, bên trong con người anh chứa đựng nhiều tình cảm, anh rất yếu mềm khi
bắt gặp lại những hình ảnh của tuổi thơ ngày nào. Sống nội tâm. Người lính THT
trở về ngôi nhà ở Rộc Rau Muống trong nổi cô đơn, có tôi bên cạnh. Anh gục đầu
trước khung cửa ngõ bằng gỗ. Tuổi thơ anh ở đó. Buồn, rồi đi. Con dốc nhỏ đưa
chúng tôi ra đường Sinh Trung, về xóm Bóng. Qua bên kia cầu là ngọn đồi với
những ngôi nhà Tây đồ xộ. Ngôi giáo đường và tu viện. Tuổi thơ anh lại về. Như
những ngày anh sống ở Tháp Chàm, chiều nhìn về hướng Đơn Dương anh nghe tiếng
còi xe lửa từ ga Tháp Chàm chạy qua. Nổi buồn của tuổi thơ lại về. Tôi im lặng
nhìn nổi buồn của người bạn. Tối đó, đi hoan cho hết đêm không về ngủ trên căn
gác nhà anh Huy Hoàng trong xóm Rộc Rau Muống ấp Hà Thanh. Mà rủ nhau về ngủ
trong chuồng ngựa viện Pasteur Nha Trang cùng với Minh. Ba con ngựa hoang. Ba
cái chuồng với những tên con ngựa được đánh dấu treo trên tấm bảng trước
chuồng. Bên ngoài giới nghiêm. Hai tên lính không có giấy tờ gì cứ phóng xe mà
chạy. Ừ nhỉ! sao tôi với bạn ngày đó sống liều và sống bụi quá. Người ta cũng
sĩ quan như chúng tôi nhưng sao họ sống rất đàng hoàng, có gia đình, còn tôi
với bạn thì buông thả. Cô đơn! Đời lính
trận mà: sống hôm nay chết ngày mai.
Còn nữa, cũng trong Những Vì Sao Vĩnh
Biệt, biết bao kỷ niệm lại ùa về trong ký ức của tôi. Như hai nhân vật "
Mỵ và Đắc " . Cô nữ sinh Nha Trang ngày ấy, đẹp và đã có chồng. Có cô em
gái là một nhà thơ nữ nỗi tiếng trước 1975. Hai vợ chồng lại là quen với tôi.
Ông giáo nhà văn Trần Hoài Thư ngày ấy tôi chưa quen, vì những tháng năm ấy tôi
chưa vào lính. Nhưng đến khi anh viết cái truyện : Cuộc Sống Tôi, vô tình nhân
vật Mỵ đọc được, trong căn nhà thuê của hai vợ chồng ở Phú Nhuận, trên đường Chi Lăng. Tôi như bị
cái búa bổ vào đầu. Những tiếng chì tiếng bất tôi gánh hết. Trong khi đó, Trần
Hoài Thư ơi, bạn lúc đó đang ở BMT Cần Thơ ? Còn tôi thì như một anh chàng
"ngố" cứ ngồi mà chịu những lời "đay nghiến". Chỉ có anh
chàng Đắc, chồng Mỵ là ngồi cười. (Nhà văn, nhà thơ mà, bà trách làm chi ). 44
năm qua, tôi nhớ như in trong đầu.
Tập truyện: Những Vì Sao Vĩnh Biệt.
Ngắn. Chỉ có 8 truyện không dài lắm. Nhưng với tôi, sau 44 năm, đứa con tinh
thần của anh lại trở về với anh, như trở về mái nhà xưa. Và, với tôi, lại là
khoảng thời gian dài biết bao kỷ niệm
của hai anh em một đời gắn bó trong lớp áo nhà binh 44 năm về trước.
Cám ơn tất cả mọi người đã tìm lại cho
người bạn tôi đứa con thất lạc sau 44 năm. Cảm ơn tình bạn gắn bó ngày nào vẫn
còn y nguyên của một thời làm tên lính "lãng tử".
885 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - BƯỚC ĐỜI
BƯỚC ĐỜI
Tập tễnh đếm tiền,
con số sao hữu hạn ít ỏi
Cần mẫn đếm thời gian, vô tận không cùng
Một cõi nhân gian chật hẹp
Giữa đất trời mênh mông bao la
Rị mọ đếm ngày tháng dần qua
Những gì có được chỉ là con số không tròn vo
Bao ước mơ còn nguyên một mối từ thuở nọ
Tí hạnh phúc nhẹ tựa làn hơi
Vô số khổ đau nặng đè bẹp kiếp người
Dò dẫm đếm bước đi tới dăm vết chân đã mất hút
Đường chân trời tít tắp diệu vợi xa
Đếm không xuể hình nhân trong cõi người ta
Cứ nhập nhoạng nhòe đi lẫn lộn
Ta với người mụ mị cả tâm hồn
Buồn tình đêm thắp đèn đếm chữ
Loáng thoáng bóng người cùng ma say vũ điệu khỏa thân
Bần thần trang giấy trắng
Những dòng chữ xiêu vẹo ngã nghiêng
Nghìn ký tự ùn lên mây khói
Ánh đèn mờ bọc trong đêm đen đặc bóng tối
Đốt tờ giấy tro tàn bay lả tả
Giữa đất trời phượng hoàng lửa vụt bay qua
Vũ trụ bừng lên màu sáng lạ
Quầng sáng tụ bởi vô lượng ánh sao sa
Từ nhúm tro phượng hoàng lửa tái sinh
Một tiếng kêu thảng thốt đồng vọng trong vũ trụ
Khoảnh khắc cháy sáng bất diệt
Một lần thôi là vĩnh viễn
Ánh sáng phượng hoàng lửa vô biên
Rực rỡ
Cơn mơ
Ai đếm được bao giờ.
Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0726