Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.
Tôi tin rằng hầu hết, nếu
không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời
thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là
bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang
giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và
trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi
banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó
đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú
lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Tôi học chơi bóng tròn từ
thời trung học cơ sở, chữ xưa gọi là trung học đệ nhất cấp. Tôi nghĩ rằng đó là
cơ may rất đẹp và nhiều kỷ niệm, khi một đứa học trò như tôi từ trường Trần Lục
ở Sài Gòn được tập ở sân Hoa Lư vào một giờ nào đó vào cuối tuần, theo vị thầy
thể dục thể thao ấn định khung giờ trước. Trong những buổi tập đó, thường là từ
7 giờ sáng tới 9 giờ sáng, nếu tôi nhớ không nhầm, cha tôi đánh thức tôi lúc 4
giờ sáng, lấy xe Mobylette, một loại xe hai bánh xưa cổ chạy xăng, chở tôi ra một
quán cà phê của người Hoa ở góc đường Lê Văn Duyệt (bây giờ đổi tên thành Cách
Mạng Tháng 8) và Tô Hiến Thành (không rõ đổi tên gì) ngồi một chặp, để ba uống
ly cà phê và hút xong điếu thuốc, và để tôi ăn xong một cái bánh bao, rồi mới
chở tôi tới sân Hoa Lư, nơi theo tôi nhớ là cách Sở Thú (Thảo Cầm Viên) khoảng 5 hay 7 đoạn đường.
Một thời gian sau, ba mua cho tôi cái xe đạp. Từ đó, tôi phải tự tới trường.
Nhưng mê bóng tròn vẫn là mê không rời.
Có khi bọn học trò rủ
nhau đá banh, mê quá, quên cả trời đất. Lúc đó, thỉnh thoảng, tôi làm thơ lục
bát (hồi đó, đệ lục, tức là lớp 7 bây giờ, là phải học làm thơ). Trong đó, có mấy
dòng, nhớ mang máng, có chữ vương vướng âm vận, bây giờ chỉnh lại, như sau.
Banh lăn qua cỏ sân trường
Làm cho thằng nhóc mê hồn
chạy theo
Đá cho chiều vướng trăng
treo
Đá cho nắng sớm cũng
trèo vô xem
Pele tới ngó ngoài hiên
Hú trong giấc ngủ nửa
đêm tưng bừng.
Tôi nhớ những buổi sáng ở
sân Hoa Lư, nhiều nhóm học trò từ nhiều trường và nhiều lớp khác nhau chia ra
các nơi trên sân cỏ để tập. Hơi sương buổi sáng sớm mang hơi mát ngấm vào người,
chạy một chặp thì hơi nóng khắp người. Nhưng cũng nơi sân cỏ, nhiều tháng sau, tôi
nhận ra mình không có năng khiếu về bóng tròn, và tự biết có tập cỡ nào cũng
luôn luôn thua nhiều bạn. Chạy không nhanh bằng người là hỏng rồi. Kỹ thuật đưa
chân lạng qua, lạng lại để lừa banh, dẫn banh không khéo cũng là hỏng. Tuy
nhiên, bóng tròn hay tuyệt vời là chỗ, bạn chỉ cần ngồi bên lề và nhìn thấy
banh lăn trên sân cỏ là đủ thấy hạnh phúc rồi. Nghĩa là, chỉ ngó banh là đủ để
hạnh phúc.
Tuy nhiên, thời gian
chơi bóng tròn nơi sân cỏ không nhiều trong niên học. Thời đó, xã hội mình chú
trọng điểm học nhiều hơn. Tôi và đám bạn lại tìm ra môn chơi bóng mới: đá banh
bàn. Thường là nơi một tiệm tạp hóa, hay một tiệm bi-da vẫn có một hay hai bàn
bóng đá. Kiểu chơi cũng đơn giản. Đó là một chiếc bàn hình chữ nhật mô phỏng
sân bóng tròn thu nhỏ, có thành băng cao để bóng không bay ra ngoài. Có tổng cộng
8 thanh sắt xuyên qua hai bên thành bàn (mỗi bên 4 thanh). Trên các thanh này
có gắn cố định các quân người máy nhỏ bằng nhựa hoặc gỗ đại diện cho cầu thủ. Ở
hai đầu bàn có hai lỗ khoét sâu xuống, đóng vai trò là cầu môn của mỗi bên. Quả
bóng nhỏ, cứng, có kích thước tương đương hoặc nhỏ hơn quả bóng bàn (ping-pong)
một chút, thường làm bằng nhựa cứng hoặc gỗ nhẹ để lăn và nảy tốt. Tôi và đám bạn
học thường lui tới các nơi có bàn đá banh bàn ở khu Tân Định. Hễ tan trường là
tới chơi chừng nửa giờ rồi mới về nhà. Tuy nhiên, la cà như thế, tôi lại học
thêm, biết chơi môn bi-da (Billiards), nhưng chỉ biết môn bi-da loại bàn 3
banh, về sau thấy có loại cả chục quả banh (gọi là bi) thì lạ rồi. Khi chuyển
trường sang Chu Văn An thì tự nhiên tôi
mất thói quen chơi banh bàn và bi-da.
Có nhiều lý do. Trong
đó, tôi nghĩ là mê đọc nhiều hơn. Sách đã làm tôi lười ra sân cỏ hơn. Tôi mê
truyện. Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh, tôi lại
ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi chung với
vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn viên Huyền
Vũ trực tiếp kể về các trận banh. Thực sự, cha tôi có một máy phát thanh (chữ
Miền Bắc gọi là đài, chữ Miền Nam gọi là radio), nhưng tôi không dám đụng tới,
vì chủ yếu là cha tôi dùng để nghe tin quốc sự trên các đài BBC, VOA. Và hình
như, theo tôi nhớ, có thể là cha nghe cả truyền thanh từ Miền Bắc tới. Tôi đoán
là Miền Nam cấm nghe đài Miền Bắc, vì những lúc như thế, ba tôi áp tai sát vào
chiếc máy radio hiệu Panasonic của Nhật, mặt rất nghiêm và buồn. Tôi nghĩ rằng
cha muốn nghe tin về Hà Tĩnh, nơi cha ra đời, nhưng chẳng bao giờ tôi dám hỏi
cha nghe những gì. Thêm nữa, quốc sự là cái gì rất xa lạ với bọn học trò như
tôi thời đó.
Có những buổi trưa, buổi
chiều vui tưng bừng, là khi các bác, các anh trong xóm rủ nhau tới tiệm hớt tóc
và nghe trực tiếp truyền thanh các trận banh. Tôi không nhớ chính xác các diễn
biến, chỉ nhớ trong ký ức những đứa học trò như tôi cũng vô nghe ké, rồi hô lớn
vô, vô, vô... cùng với các bác người lớn. Có khi tôi cầm theo một cuốn sách ra
tiệm hớt tóc, vừa ngồi nghe, vừa đọc khi không có những âm thanh vang dội.
Nghĩa là, càng lớn, tôi càng nghe một cách lơ là, không kiểu nghe từng lời của
bác Huyền Vũ. Bây giờ, tất cả những hình ảnh và âm thanh hiện lên trong trí nhớ
như một giấc mơ.
Cầu thủ Pele lúc đó là một
huyền thoại, một thiên tài. Hồi xa xưa đó chưa có truyền hình. Bây giờ, có lúc
vô YouTube tìm xem Pele, thì phim đen trắng cũ mèm, mờ mờ ảo ảo. Tội nghiệp
Pele. Không thể nào như Messi hiện nay, hình màu TV, xem trên YouTube rực rỡ
màu sắc âm thanh là dư sức phê rồi. Sau khi nhóm học sinh Trần Lục chuyển trường
sang Trung học Chu Văn An, thế là được nâng cấp: tập thể dục thể thao ở sân
Phan Đình Phùng (sân này không rõ đổi tên mới là gì). Nhiều thầy nổi tiếng hơn,
thế là học trò đứa nào cũng tự thấy trang nghiêm hơn. Thêm nữa, phải lo thi cử.
Rồi bẵng đi nhiều năm nữa.
Có mấy dòng thơ còn nhớ
mang máng, từ khi tôi nghĩ rằng mình hiểu được lờ mờ Tâm Kinh, lúc đó mừng vô
cùng tận, bây giờ chỉnh lại cho ý nghĩa ngay ngắn. Dù vậy, lúc đó tôi vẫn nói
chuyện đá banh cho giảm bớt chất thơ mộng.
Banh đi qua tuổi học trò
Lăn theo đồi núi sông hồ
biển xa
Sút một cú, trời mưa hoa
Cúng dường vô lượng ta
bà sắc không.
Nửa khuya thức ngó mười
phương
Thấy ngàn mây dạt vầng
dương ửng hồng.
Rất nhiều năm về sau, khi
vào nghề báo, có lúc tôi nghĩ mình nên viết một truyện ngắn có ý nghĩa liên hệ
tới bóng tròn. Tôi nhớ rằng trong thời gian Cuộc Chiến Việt Nam 1954-1975, có lẽ
đợt ngừng bắn chính thức lâu nhất (ít nhất là trên danh nghĩa) khoảng hơn một
tháng sau khi ký Hiệp định Paris. Nghĩa là, từ ngày 28 tháng 1/1973 trở đi. Thời
gian ngưng bắn cũng là hai phía Nam quân và Bắc quân rủ nhau cắm cờ, lấn đất,
giành dân... trước khi tiếng súng bùng phát dữ dội trở lại, vì khi hai bên cùng
lấn đất thì sẽ đụng nhau để bùng nổ các đợt tấn công mới.
Tôi nghĩ ra một truyện
ngắn, nội dung sơ lược là: trong những ngày mới ngưng bắn sau Hiệp định Paris,
quân hai miền Nam, Bắc còn choáng váng, còn ngây ngất vì niềm vui ngưng bắn,
thì tại một ngôi làng nào đó ở Miền Trung, nơi bọn thanh niên hồi nhỏ học chung
trường tiểu học, rồi học lên trung học, có nhiều kỷ niệm khi chia phe đá banh.
Tới khi chiến tranh bùng nổ khắp nơi, có lẽ nên ghi là khoảng giữa thập niên
1960s, sau khi quân Mỹ bắt đầu vào Đà Nẵng, thì các thanh niên mới lớn trong
làng liền chia đôi, y hệt như thời Rồng Tiên ly dị, một nửa lên núi tòng quân
cho VC, và một nửa xuống biển nhập ngũ cho VNCH.