Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

991 . NGUYỄN MINH NỮU Bài thơ và một đời thơ.

 

Nhà thơ Lê Thị Ý - Ảnh PCH, Virginia, 15.8.2015


Bài thơ Thương Ca số 10 của Lê Thị Ý xuất hiện năm 1970, là lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang rộng khắp miền Nam, nhất là sau trận Mậu Thân 1968. Chiến tranh, tang tóc, thương đau  là những điều mà ai cũng nhìn thấy mỗi ngày.  Thời điểm đó Phạm Duy vừa phổ biến bài Kỷ Vật Cho Em, thơ của Linh Phương và   bài Tưởng Như Còn Người Yêu phổ từ bài thơ Thương Ca 10 của Lê Thị Ý. Cả hai bài  nhanh chóng được mọi người đón nhận với cảm xúc chia sẻ nỗi đau thương không viết hết bằng lời cái tâm trạng buồn đau của sự chia lìa, mất mát bởi chiến tranh:

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu.


Lúc đó , và nhiều năm sau nữa, ca khúc này ai đó chỉ nghe một lần là đã nhớ, có thể không phải trọn bài, nhưng vài ba câu thì ai cũng nhớ. Đi thẳng vào trái tim người nghe không chỉ bởi âm giai buồn hiu hắt mà còn từ lời thơ đầy cảm xúc khi bắt ngờ gặp đâu đó một lễ tang tử sĩ rất đỗi buồn.

Bài thơ đó của Lê Thị Ý, một tác giả rất mới, ít xuất hiện trên văn đàn và khá kín tiếng; từ đó, có ba điều mọi người hiểu sai về bà.

-   Đây là một góa phụ trong chiến tranh.

-   Đây là bài thơ duy nhất của bà.

-   Và thứ ba, có lẽ tác giả là một phụ nữ tâm tư sầu hận, u buồn như một tưởng tượng theo lời nhạc “… tôi nay khép kín trong tà áo đen... chao ơi thèm nụ hôn quen...”

Tôi gặp chị Lê Thị Ý lần đầu khoảng năm 1998 ở Virginia. Lúc đó chị đang là một thành viên của Câu lạc bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng Hoa Thịnh Đốn.

Cảm giác đầu tiên nhận được là một phụ nữ đoan trang hiền dịu nhưng rất cá tính.  Nói chuyện thẳng thắn bộc trực và rất dễ gần.  Khi đó, tôi đang có dự tính thực hiện một tờ tạp chí văn học ở miền Đông Hoa Kỳ.  Chị Ý hỏi ngay, “Em định lấy tên là gì?” – “Tạp chí Văn Phong, chị tham gia vào Ban Biên Tập với em không?”.  Chị Ý thoải mái gật đầu. Lê Thị Ý là một trong 28 người cầm bút ở vùng Hoa Thịnh Đốn đã trở thành cổ đông và Ban Biên Tập của Tạp Chí Văn Phong suốt 17 số báo ra mỗi tháng. Chị Lê Thị Ý là một thành viên tích cực đóng góp bài đều đặn cho mỗi số báo, ngoài ra, mỗi lần họp mặt, chị  đóng góp ý kiến xây dựng, cổ vũ và vun đắp tình thân giữa những người cầm bút trong vùng.

Sau này Văn Phong đình bản nhưng chúng tôi  vẫn có những buổi hẹn nhau cà phê ăn trưa kể chuyện ngày xưa…

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống văn hóa, Lê Thị Ý gọi học giả Phạm Quỳnh là Bác, vì phu nhân học giả Phạm Quỳnh là chị ruột của Mẹ Lê Thị Ý.

Gia đình đông con trong đó có tới 4 người cầm bút.  Trên Lê Thị Ý là nhà thơ Phượng Kiều, rồi tới nhà thơ Vương Đức Lệ và em Lê Thị Ý là nhà văn Lê Thị Nhị.  Vương Đức Lệ tên thật là Lê Đức Vượng, đoạt giải thưởng văn học toàn quốc về Thơ năm 1970 với tập thơ in chung với Mai Trung Tĩnh.

 Lê Thị Ý từ nhỏ bị bệnh lao phổi, ốm yếu và bác sĩ cho rằng sẽ không sống được quá sáu tháng, cho nên gia đình để ở nhà chăm lo và không được đi học như những trẻ em khác. Sau này khi thế giới tìm ra loại thuốc chữa trị, chị là một trong những bệnh nhân chấp nhận thí nghiệm chữa trị bằng loại thuốc này. May mắn Lê Thị Ý lành bệnh và bắt đầu đi hoc.

Lê Thị Ý kể lại, “Vào lớp học, thấy bạn chung lớp toàn nhỏ hơn mình cả năm bảy tuổi. Vui lắm!”.

Vương Đức Lệ là nhà thơ nổi tiếng và có mối giao du rất rộng rãi với văn thi hữu khắp nơi,  Lê Thị Ý thường theo anh mình tham dự các sinh hoạt văn nghệ.  Những giao tình đó nửa phần giống như bạn hữu, nửa phần giống như anh em.

Lê thị Ý xác nhận chị có những giao tình dường như trên mức tình bạn một chút với nhà thơ Mai Trung Tĩnh và nhà văn Huy Trâm (Người cũng đoạt giải thưởng văn học cùng năm với Vương Đức Lệ về biên khảo) nhưng chưa phải tình yêu mà chắc chỉ là tri âm tri kỷ.

Bài thơ Thương Ca số 10 được viết vào khoáng cuối thập niên 1960. Khi đó Lê Thị Ý đang sống ở Pleku, nhà nằm cạnh phi trường quân sự Pleiku.  Ở đó thường ngày, những chuyến bay quân sự lên xuống  có cả các chuyến bay tản thương binh từ chiến trường về, và cả những chuyến bay đón thân nhân tử sĩ lên nhận xác thân nhân. Chứng kiến những thảm cảnh não lòng đầy xúc động, có khi Mẹ già lên nhận xác con, vợ trẻ lên nhận xác chồng đã thành những dòng nước mắt viết xuống thành thơ.  Bài thơ đưa cho Vương Đức Lệ đăng trên một tờ báo do anh và nhóm bạn chủ trương. Bài thơ tìm được sự đồng cảm của những người chủ trương nên chuyền tay tới nhạc sĩ Phạm Duy.  Có thể lúc đó Phạm Duy vừa phổ bài Kỷ Vật Cho Em của Linh Phương, nên dòng cảm xúc liên đới ngay tới bài thơ bi thiết này và bản nhạc ra đời. Năm đó, Lê Thị Ý ba mươi tuổi, chưa lập gia đình và cũng chưa có người yêu.

Trọn vẹn bài thơ như thế này:

Ngày mai đi nhận xác chồng

Say đi để thấy mình không là mình

Say đi cho rõ người tình

Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ,

 

Cao Nguyên hoang lạnh ơ hờ

Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son

Tình ta không thể vuông tròn

Say đi  mà tưởng như còn người yêu

Phi cơ đáp xuống một chiều

Khuôn mây bàng bạc mang nhiều xót xa

Dài hơi hát khúc thương ca

Thân côi khép kín trong tà áo đen

Chao ơi thèm nụ hôn quen

Đêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau.

Bây giờ anh phủ cờ mầu

Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng.

Em không nhận được xác chàng

Anh thêm lon giữa hai hàng nến trong

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Nghĩa trang mà tưởng như phòng riêng ai…

(Bản gốc bài thơ do tác giả gửi)


Bài thơ khi phổ nhạc và phổ biến rộng rãi mà tác giả Lê Thị Ý vẫn không ai biết thân thế ra sao nên mới có những đồn đoán như đã ghi ở đầu bài.  Thì nay trong bài viết ngắn này xin xác thực ba điều.

Thứ nhất, bài thơ được viết xuống như dòng lệ xót đau thân phận phụ nữ thời chiến chinh.  Như người vợ của nhà thơ Hữu Loan chết khi chồng đang ở chiến trường xa,  Như người chiến binh sau chiến tranh trở về trên chiếc xe lăn hay trở về bằng hòm gỗ cài hoa như trong thơ Linh Phương. Nhưng đó là tâm sự người lính chiến khi ra đi đã chấp nhận “Hàng hàng lớp lớp chưa về hàng hàng tiếp nối câu thề gìn giữ quê hương”  như nhạc Nguyễn Văn Đông. 

Còn đây là tâm sự u uất của một phụ nữ,  xót xa, đắng cay và bão giông cho đến cuối đời.  Bài thơ được viết từ một người nữ chưa lập gia đình, chưa từng lập gia đình cho tới bây giờ.

Thứ hai, đây không phải bài thơ duy nhất của Lê Thị Ý. Bởi vì ngay tên bài thơ là bài Thương Ca số 10 chúng ta đã đoán được ít nhất đây cũng là một trong 10 bài Thương Ca. Dù chỉ in một tập thơ duy nhất nhưng  Lê Thị Ý vẫn âm thầm làm thơ, ít phổ biến khi còn trong nước và xin giới thiệu nơi đây một bài thơ của chị : Lá Xanh Thay Màu đăng trên tạp chí Văn Phong số 4, xuất bản tháng 11 năm 1999:

Mười lăm mười tám yêu nhau

Trời xanh xanh ngắt một màu mộng mơ.

Sáng mong chiều đợi đêm chờ

Áo dài hoa tím gió lùa tóc mây

Xuân thu nắng phủ vai gầy

Say men tình ái, tháng ngày thênh thang.

Em là điểm tụ hào quang

Dấu chân em nở hoa vàng chiều xưa

Những ngày phố nhỏ giăng mưa

Đôi môi đọng nụ hôn vừa chớm yêu.

Người đi mắt biếc trông theo

Quãng đời thơ mộng đã vèo bay qua...


Và thứ ba , là một mẫu người phụ nữ cứng rắn, nhiều cá tính, không hề ủy mị nhìn đời bi thảm. Lê Thị Ý sống mẫu mực và tự lập. Trước 1975 là một người kinh doanh thành đạt từng có xe hơi riêng, và bây giờ ở tuổi 85 vẫn nhẹ nhàng di chuyển và chuyện trò minh mẫn. Hiện nay, Chị đang trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và liên tục tham dự các sinh hoạt văn chương tại vùng Hoa Thịnh Đốn.

Thơ Lê Thị Ý không cường điệu mà tràn đầy cảm xúc rất thật, rất người, cho nên bài thơ  ngay lập tức làm động tâm người thưởng ngoạn . Do đó bài thơ sống đời. Nếu gọi là cùng tâm trạng có lẽ chúng ta sẽ nhớ hai câu thơ của thi Sĩ Đông Hồ, trong bài giảng tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Khi mô tả tâm trạng của Trưng Vương sau khi trả được thù nhà, lên ngôi ở Mê Linh đã than thở:

 “Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá,

 một bóng trăng tàn, thiếp lẻ loi”


 Hai câu thơ đọc trong nước mắt và nhà thơ đã đột quỵ ngay tại giảng đường cùng nỗi bi thương cảm xúc quá đầy.

NGUYỄN MINH NỮU
Tháng 10/2024

Bấm vào đường dẫn dưới đây
để nghe Khánh Ly trình bày ca khúc
TƯỞNG NHƯ CÒN NGƯỜI YÊU
Thơ Lê Thị Ý - Nhạc Phạm Duy.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

989 . TRẦN DZẠ LỮ (1949-26.1.2024) Mười bài thơ.

 

Nhà thơ Trần Dzạ Lữ (1949-26.1.2024)


HÁT DẠO BÊN TRỜI

Ôm nửa vầng trăng lạnh
ta về bên trời cao
hát điên đời hiu quạnh
chống gậy nhìn mưa mau

Tuổi nay gần tam thậpsống lẻ như đá mònbằng hữu mù tăm tắptình nhân như dao đâm

Mấy năm rồi không gặphồn nứt nỗi âm thầmnhất túy buồn thêm đậmca ngâm vời cỏ cây

Cùng chỉ màu khói sươngngẫm nghĩ hoài hương đỏmắt mờ đường chiêm baongắt một cành hoa nhỏnhớ thu biếc hôm nàohồn ta chao chớn giónay biết về nơi đâu?
*1973

 

BÀI THƠ TẶNG CHỊ  Ở ĐÀ NẴNG
                            
Đứa lang bạt mà giờ đây tóc trắng
Phiêu linh về Đà Nẵng một  đêm xanh
Gặp lại chị - người xưa, nay tri kỷ
Ngỡ như mơ! Ngơ ngác hương Quỳnh… 
 
Đêm phả lạnh xuống đêm trần thế
Chị đắp mền cho đứa chiêm bao
Nhỏ nhít đâu! Hỡi người tri kỷ
Em thắp đèn mơ mộng nữa rồi sao? 
 
Xa xứ bao nhiêu năm rồi chị nhỉ
Mà ngày về vẫn nhớ tuổi mười lăm?
Chị cột tóc đuôi gà  bên bờ giếng
Chờ người tình mỏi mắt đăm đăm!
 
Đăm đăm suốt một đời trầm quế
Chị không lấy chồng-nhặt nhạnh cô đơn
Đắp cho cao núi sầu trong mắt
Và biển buồn len lén trong tim… 
 
Gặp lại chị-Em vẫn còn thảng thốt
Đà Nẵng ơi! Hồi niệm chửa phai màu
Nơi bờ giếng, một đêm trăng  ngày cũ
Chị chờ ai đau đáu thuở yêu đầu?

 

BÀI THƠ TẶNG BẠN CŨ Ở HUẾ
 
(Tặng Hà Thúc Quyết , Viêm Tịnh, Nguyễn Đức Cương )
 
Ôi chao! Răng mi lâu ngày rứa
Biền biệt mô không thấy dáng hình ?
Tau vẫn ở bên trời lận đận
Cuộc lữ này –gió bụi buồn tênh!
 
Ba mươi năm-nhắc chuyện tụi mình
Tau thảng thốt như vừa gặp lại
Túy Vân sơn-ngày xưa xa ngái
Rứa mà gần chỉ một gang tay…
 
Ôi chao! T vẫn như mây bay
Tau đuổi bắt thì nàng tan loãng
Bạn phụ trợ, không cách chi được
Đôi khi thèm tay nắm bàn tay…
 
Mộng ngày xưa chừ qúa hao gầy
Thanh xuân vèo qua như lá rớt
Đứng giữa đồng trung niên choáng ngợp
Quê nhà ơi! Hun hút màu mây…
 
Phương Nam hành! Mình gặp nhau đây
Ừ , cạn chén tao phùng đi hí !
Say cho quên những ngày cùng bí
Ôi những ngày lểnh lãng qua sông !
 
Ôi những ngay thèm chút mắt trong
Của T xưa, nhưng làm răng có được?
Thôi cạn chén, rồi mai xuôi ngược
Vó ngựa tình còn nhịp phách phương mong?

 

VÀ NHỚ HUẾ

*Tặng Phạm Đình Dương

Ở đây cũng là ngoại ô
dấu chân thổ mộ cũng thưa thớt chiều
cũng người áo tím liêu xiêu
cũng đêm nguyệt bạch lá vèo sang thu...
vậy mà - vẫn nhớ quê xưa
ai qua Vỹ Dạ tình đưa đón tình?
tóc thề thả gió trâm anh
liếc mắt Tôn Nữ nghiêng thành quách tôi !
mười năm biết có đền bồi
chút hương hoa cũ đâu rồi người ơi !
*Gò Vấp 2005.

 

NGÀY TÀN CUỘC

Gửi hương hồn Vũ Hữu Định.

Ngày tàn cuộc người về thăm quê quánđồng cỏ mừng đón vó ngựa hồng xưachuyện chiến tranh coi như là dĩ vãngsông Thanh Bình tấp nập bến đò đưa

Mẹ ra ngõ chờ con trai trở lạisau nhiều năm đi biệt dáng chim cògiọt lệ mừng và tay vui vẫy gọibếp lửa hồng nhúm lại buổi hoang sơ

Cha chống gậy nhìn trời cao hy vọngsớm mai xanh trên những lối đi vềtiếng ha hả ai đang cười nối mộngcó anh hồi hương tất tả đường quê

Có chị hồi sinh tuổi xưa rực rỡphơi tóc chiều xuân bên giậu hoa vàngbứt lá thẹn thùng như cô dâu mớingậm tình nồng trong răng ngọc thương thương

Ở rừng cao khi giã từ vũ khíta tuôn về ôi rất đỗi hân hoanmười năm giang hồ làm...lất-bất sĩsẽ coi nhu chuyện mây khói bên ngàn

Để ta thắp tình ngợi ca Tôn Nữnụ hôn nào thơm hương sứ hương sen?đường vào nội thành mùa xuân trải chiếuta ru em bằng điệu hát Nam Bình...

Rồi mình sẽ ở đời đời với Huếhương xuân reo thuở có lại quê nhàdù đói dù no tình người vẫn mới
phải không em,người yêu dấu của ta?

*1974
(trước đề tặng VHĐ.sau gửi hương hồn VHĐ)

 

GỌI TÌNH BÊN SÔNG


Có một lần nhớ quá
ra sông đứng gọi tình
tình xa,người hoá lạ
chiều mồ côi cánh chim...

Có một đời xưa quenđã mù sa cổ tíchkỷ niệm sầu chia nhánhĐịa Ngục và Thiên Đàng 

Rạng đông màu mắt emsực nức hương buổi sớmhoàng hôn túa trong anhtừ ngày chia biệt mộng

Qua sông hề sông rộngsoi bóng dài chiêm baobiết tìm nhau nơi đâugiữa mù khơi đời sống?

Có đôi lần đứng ngóngngày tình nhân chia lìavỗ đàn mà hát hỏngnhớ sum vầy xưa kia...

Có nhiều lúc chơi vơihôn Cúc vàng thầm lặngthương ơi tờ lụa mỏngem biệt dạng bên trời.
*1990
(trích HDBT)

 

CẢNH TƯỢNG THÁNG GIÊNG


Về đây mỏi cánh chim trời
ngó sông khói đụn,trông đời dần thưa
mùa xuân ngắt tạnh như tờ
én trong mưa bụi bay khờ lẻ loi

Về đây đời cắt thành đôiđêm tôi bó rọ,ngày phơi tật nguyềntay đàn rung nhớ tình emtrăm năm buồn nỗi bất bình thế gian

Về đây cảnh tượng điêu tànmơ mơ nhân ảnh,bẽ bàng gương xưahồn buồn vọng những âm mưaáo xanh Tôn Nữ bây giờ về đâu?bất cần sao vẫn còn đaumùa tôi dựng tóc lạnh màu thanh niên...
*1973
(trích HDBT)

 

KHI QUA GIỐC MẠ ƠI Ở BA LÒNG

Trong đám đi tìm trầmchốn thâm sơn cùng cốccó người là nông dânbỏ cày lên mạn ngượccó kẻ ở thị thànhbẻ bút làm hảo hớncũng có "anh hùng tận"vác rựa lên sườn noncó tay đời lận đậntìm kiếm phút huy hoànglại có người là thánhcó kẻ là ma vươngtất cả đều thượng sơncô hồn chung một lũngày rừng chan mưa lũrâu tóc ướt phiêu bồngnói chung,đám tìm trầmvì đói cơm rách áongười yêu coi như khôngvợ con như gió thoảngchiều nay,qua Ba Lòngvì đâu,mà thương nhớđâu phải giò phong lantim tím chiều mắt ngó?cũng không phải chùn chântrước núi rừng muông thúnhưng mà,cả binh đoànđều rưng rưng nước mắtlúc leo qua con dốccó tên là Mạ Ơidốc còn cao mong đợitình còn sầu chơi vơiriêng ta,thì em ơinhớ miền Nam tha thiếtSàigòn có em biếtnỗi đau của mưa rừng?không ngãi cũng tìm trầmđó là điều có thật.
*BaLòng 1985.
(trích Hát Dạo Bên Đời)

 

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN VỚI VỢ
 
Bốn mươi năm cứ bịn rịn bên người
Ôi Bồ Tát của lòng anh lúc đến
Bốn mươi năm có lúc tình nín nhịn
Khi lìa đời, đâu biết trước ai đây?
 
Bốn mươi năm, hạnh phúc mình không hay
Nhưng vẫn cứ đeo nhau như đĩa đói
Chuyện chúng mình ,thật tình rất đáng nói
Hôn phối này là giọt sương mai…
 
Nhiều khi anh bay theo núi thẳm sông dài
Em ở lại, vẫn đợi chờ chung thủy
Ôi Bồ Tát của lòng anh đó hỉ?
Thêm xuân này đã rụng bớt tóc mai!
 
Có bão giông mới biết đêm dài
Mưa lâu ngày mới dần dà thấm đất
Sống với một người có trái tim chân thật
Hóa ra mình lỡ vận, vẫn còn may…
 
Hóa ra em vẫn có những ngày
Khi nằm bệnh, anh âm thầm giặt áo
Có gì đâu-mà trách con Tạo?
Hãy vuông tròn cùng cuối giữa trần ai!
 
Đã từ lâu anh cứ làm việc miệt mài
Sáng tinh mơ, chiều đỏ-đèn-đen- đất
Em cắc củm từng đồng bạc cắc
Lo toan cùng, chờ hé lộ ngày mai…
 
Đã từ lâu, mình mới có một ngày
Rất thanh thản- anh chồng em vợ
Bồ Tát ơi! Xin em hãy nhớ
Bài thơ này, anh viết tặng cưng đây!
 Sài Gòn tháng giêng năm 2012

                       

SINH NHẬT EM NGƯỜI TRI KỶ

Hai tay nâng chén rượu …tình
Anh mời em uống, ngày sinh nhật nì !
Hoàng ơi ! Em rất nhu mì
Đêm nay thỏ thẻ lời chi rứa hè ?

Ở mô rồi cũng thương quêMắt em là ánh sao khuya dẫn đường…Suốt đời tri kỷ nghe khôngĐể hương cau ngát bên lòng anh đây!Uống đi ! Cạn nốt ly nàyĐể anh thấy Huế trong ngày sinh em … 

Trần Dzạ Lữ
(1949-2024)

Ghi chú: 10 bài thơ trên được trích từ trang VUÔNG CHIẾU - LUÂN HOÁN.
https://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm-12-4-5.htm

988 . DƯƠNG NGHIỄM MẬU Truyện ngắn TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT


Phác thảo chân dung Dương Nghiễm Mậu - Đinh Trường Chinh


Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại:
-Anh đã về.

Người anh phác một nụ cười:
-Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.

Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối.
-Anh về bao giờ lại đi?
Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm:
-Anh về ở nhà.
Ngươi hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt:
-Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe…À kìa, anh cả về đó sao?
-Dạ chào bác.
-Từ hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được, hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện…

Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói:
-Cha đâu?
-Cha nằm trong nhà.

Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra:
-Cha đang ngủ, anh không lên tiếng.

Người em đứng dậy gài ống sáo lên hiên nhà, bước xuống sân đi vào nhà ngang. Người anh thơ thẩn trong khoảng sân gạch. Vẫn cánh cửa xưa. Có chăng mái ngói nâu tươi nay đã rêu phong, trên sân giữa những khe gạch đã có chỗ cỏ mọc. Cây mít lớn hơn và tàn cây rộng hơn. Người anh nhớ tới người em gái kế. Người anh đi vào nhà ngang nơi người em đang xúc thóc từ cỗ quan tài ra thúng.
-Chị bé đâu em?

Người em đứng thẳng người:
-Chị bé chết ít lâu sau ngày anh đi. Súng nổ từ phía ngoài cánh đồng.

Người anh đứng im.
Người em tiếp tục xúc thóc ra chiếc thúng rồi bưng đổ vào chum để nơi góc nhà. Mồ hôi đọng trên trán, chảy trên thái dương. Người anh đứng lại bên. Người em bốc một nắm thóc đổ vào lòng bàn tay người anh:
-Anh coi, những hạt thóc có tốt không. Năm nay được mùa nhưng thu hoạch không được bao nhiêu. Đồng ruộng bỏ hoang ai nhìn thấy cũng như dao cắt ruột. Cả làng không còn một con trâu. Hôm nấu xôi mới, cha nhắc tới anh và bảo: nếu thằng cả nó ở nhà…

Người anh quay mặt đi, ngắt lời:
-Thôi để mùa sau.
-Mùa sau?

Người em nhắc lại giọng lạnh và buồn.

Những hạt thóc cuối cùng được vét ra khỏi cổ áo quan. Người anh đổ nắm thóc từ tay này sang tay kia:
-Cha vẫn thường gọi đây là những hạt ngọc. Nhiều khi ngọc cũng không giá trị bằng.

Người em nhìn người anh, nụ cười ngậm ngùi. Người anh nhìn em: nó vẫn như xưa chẳng thay đổi gì, lầm lầm lì lì…Người em quét sạch cỗ áo quan, lấy tay kỳ cọ trên lớp sơn bóng rồi gõ vào thành gỗ:
-Gỗ gì không biết, tiếng nó cũng lạ, anh nhớ không?
-Gỗ vàng tâm. Cha đã kỳ công đi tìm nó để sắm áo cho ông nội. Anh nhớ…ông nội còn sống thì nay đã hơn trăm tuổi.
-Anh nghĩ ông nội còn sống?
-Cha đã tìm bao nhiêu nơi, nào có thấy tông tích gì. Tù tội. Có khi xương còn nằm trong nhà tù nào đấy…
-Anh khéo tưởng tượng.
-Biết đâu đấy.

Người em lấy ra chiếc ruột tượng, màu xanh hoa lý đã nhạt, người em nói:
-Anh nhớ không?
-Chiếc ruột tượng của mẹ.
-Đúng rồi.

Người em gập một đầu ruột tượng lại rồi mở ra đầu kia đổ thóc vào một đoạn ngắn rồi gấp đầu thứ hai lại gọn gàng và đặt xuống sau cỗ áo quan:
-Chiếc gôi này êm lắm.

Người em sờ tay lên khắp cỗ áo quan, giọng đều đều:
-Sau khi đắp nâm mộ chung cho bốn người, trong đó có chị bé, cha vỗ tay vào cỗ áo quan nói: có sẵn áo quan đây mà nó đâu được nằm, cái số nó thế chịu thôi…Có thời nào mà chết chùm, tan xương nát thịt chẳng còn nhận ra được. Rồi cha nhìn em bảo: không lẽ tao đóng cỗ quan tài này cho mày?

Người anh lặng im lắng nghe. Bao nhiêu cảnh huống của ngày tháng cũ, khoảng trống những ngay anh vắng mặt:
-Anh nhớ ngày cỗ áo quan được đóng. Còn em?
-Những hình ảnh mơ hồ, lúc ấy anh đã lớn, em còn nhỏ. Từ đó nó ở bên em và những câu chuyện về ông nội do cha kể lại.

Người anh lại gần để tay lên thành cỗ áo quan:
-Hồi đó người ta ta định xử bắn ông nội. Cha chạy ngược chạy xuôi lo tìm gỗ về cho thợ đóng gấp. Nhưng ông nội không bị xử bắn, ngươi ta kết án chung thân khổ sai, biệt xứ. Ông nội bị đưa đi chẳng bao giờ thấy mặt. Cha kêu đám thợ mang đi sơn cỗ áo quan rồi được mang vào nhà ngang, nó ở từ đó tới nay. Những ngày đầu cỗ áo quan làm cho nhiều người sợ, nhưng dần thành quen thuộc, có khi nó dùng đựng thóc, lúc đựng ngô, lúc nhỏ có lần anh và em nằm trong đó trốn cho chị bé đi tìm…

Người em đứng ở đầu cỗ áo quan, đưa hai tay xuống dưới thử nhấc lên:
-Nặng quá. May mà có anh trở về…Lúc trước có lúc em nghĩ nếu mình chết chắc cha sẽ bỏ mình vào đây, nghĩ thế thấy khiếp quá, bây giờ thì anh đã về và em chưa chết.
-Có khi nào em hay cha cho rằng anh đã chết không?
-Mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết …Nhưng anh cũng đã trở về, dù sao em cũng mừng bỡi vì chỉ một mình em thì làm sao mà tha cỗ áo quan lên nhà trên. Anh giúp em một tay.

987 . Nguyễn Đức Nhân CHIỀU THU CAO NGuYÊN. CHƯA TÀN PHAI ĐÂU. ÁNH MẮT NĂM XƯA BÊN HOA DÃ QUỲ.

 

Hồ Xuân Hương (Đà Lạt) - Google images
 

hoàng hôn phố núi
 
ly cà-phê nóng vỉa hè rất thơm. không thể ngăn
mùi nước hoa bốc hơi từ người đàn bà đi ngang qua
 
hoàng hôn phố núi
 
những chiếc lá vàng gởi tin cấp báo
mùa mưa dầm. những ngày sắp tới. sẽ
cư trú trong cơn ho tóc bạc qua đường. và
cơn mưa sẽ ngủ
trên cây đòn gánh cong mệt mỏi áo cơm
dựng bên hông cao nguyên nắng chiều
 
hoàng hôn phố núi
 
hồ Than Thở.  vẫn mây trắng
chẳng hề thở than
Đà Lạt mơ màng
im hơi
chiều thu
 
hoàng hôn phố núi
 
ánh mắt phố núi long lanh
dường như có ai đang gặm nhấm kỷ niệm
trên ngọn thông thắp sáng nắng vàng ấp ủ tiếng chim
chiều rớt lạnh
 
dưới bóng hoàng hôn
 
từ Đà Lạt quay về Phi Nôm. Cầu Đất
những đoá hoa dã quỳ vàng rực được gió chiều ngợi ca
còn nhớ không
mắt cao nguyên long lanh
chiều thu
 
dưới bóng hoàng hôn
 
dõi theo sắc màu cao nguyên
Phi Nôm. Cầu Đất trải lòng.  mây trắng bay
tôi.  mỉm cười
không thể níu giữ đời ai
nơi vòng tay hữu hạn
phận người
 
nụ cười cao nguyên năm xưa
nghiêng nghiêng bên hoa dã quỳ
chưa tàn phai đâu
 
dưới bóng hoàng hôn
 
dọc đương gió bụi. bầu trời xanh lơ tâm tưởng. hơn một lần ảo ảnh
mái tóc cao nguyên. hay
mái tóc chiều thu xưa. bay
bay trên phố thị. ruộng đồng. sa mạc. trùng dương. buồn vui óng ả
mái tóc cao nguyên. hay
mái tóc chiều thu xưa.  bay về đâu
làm sao biết mái tóc bay về nơi đâu là
tận cùng.  chiều thu
 
dưới bóng hoàng hôn
 
những ngọn đồi ấy. đang
bận rộn chuẫn bị đón tiếp mùa hoa vàng. một thuở. thu xưa
đâu cần thiết phải để lại lời nhắn cho cỏ mọc hoang
phải thế không
 
dưới bóng hoàng hôn cao nguyên
 
tôi - bụi đường nhiệt đới
tôi - vỉa hè lang thang. khét mồ hôi Châu Á
tôi - chiếc lá rơi nghiêng chưa chạm đáy mùa
vẫy chào cao nguyên bao la.  huyền ảo tâm tư chiều thu
tôi ra đi
không níu giữ đời ai nơi vòng tay hữu hạn
phận người
 
trên nền trời cao nguyên xanh lơ.  hôm nay.  ngày mai.  mai sau
ánh mắt cao nguyên năm xưa.  bên hoa dã quỳ
chưa tàn phai đâu
còn nhớ không.  chiều thu
 
Đà-lạt, 01/6/2021