Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

929 . HOÀNG KIM OANH - Ta buồn như đá- lạnh ngàn năm


 

TA BUỒN NHƯ ĐÁ- LẠNH NGÀN NĂM…

(Đọc tập thơ Mênh mông chiều của Lê Thị Ái Niệm)

                         Ta có vầng trăng muôn ước hẹn

Xao xuyến vì ai những đêm rằm

Những bước chân xa không dừng lại

Ta buồn như đá – lạnh ngàn năm…

       (Bài thơ tặng ngày sinh nhật)

 Câu thơ buồn nhất trong 86 bài thơ ở tập Mênh mông chiều của Lê Thị Ái Niệm mà tôi mở-gấp tập bản thảo nhiều lần vẫn không thể nào xua nỗi ám ảnh về nó được, cũng chính là bài thơ tác giả viết cho chính mình ngày sinh nhật. Lẽ thường, sinh nhật là ngày đông vui, có gia đình, bạn bè và những lời chúc tụng yêu thương. Lê Thị Ái Niệm có ai? “Riêng mình một cõi nắng mưa thôi” dù quanh nhà thơ không phải không có những vòng tay bạn bè ấm áp, những người bạn tri kỷ có thể chếnh choáng chén rượu suốt canh trường hay ấm lạnh buồn vui từ thời áo trắng Đồng Khánh thơ ngây... Lê Thị Ái Niệm có gì? Ba điệp khúc mở đầu ba khổ thơ dõng dạc “Ta có…”, “Ta có…”, “Ta có…” như liệt kê tác giả nhận được rất nhiều thứ… Đó là: (1) Ta có dại khờ không kể hết, (2) Ta có mùa thu đi không hết, (3) Ta có vầng trăng muôn ước hẹn. Mà nhà thơ cũng giàu có thiệt, giàu những dại khờ, ước hẹn, mộng tưởng đến thừa thãi, tràn trề không kể hết, không đi hết, không đếm hết…

Đá vốn là một vật thể cứng rắn vô tri. Nhưng thẳm sâu trong cội nguồn thần thoại của đá, “linh hồn con người và đá có một mối liên quan chặt chẽ (...) Đá không phải là những khối vô hồn; những tảng đá sống rơi từ trên trời xuống, sau khi rơi xuống chúng vẫn là những vật sống (...) Đá và người đại diện cho sự vận động theo hai chiều: đi lên và đi xuống[i]… Những hòn đá thô là biểu tượng của tự do, trăm năm ngàn năm lặng lẽ giữa đất trời ấy, hấp thụ mọi tinh khí của vũ trụ, đã biến thành một vật thiêng. Ví nỗi buồn như “đá” khiến nỗi buồn của chủ thể “ta” lồng lộng lạ thường, nhưng cũng là nỗi câm lặng cô đơn tột cùng tuyệt nhiên không thể chia sẻ, giãi bày. Tác giả còn nhấn mạnh tiếp ở vế sau: “lạnh ngàn năm”. Cái số nhiều không xác định, không đo đếm được ấy thực sự đã gợi lên một cái gì vừa lớn lao sâu đậm, vừa vĩnh cửu, vĩnh hằng. Phải chăng đó cũng là nỗi buồn trót “mang nặng kiếp người” được thức nhận trong cái vô cùng của vũ trụ mênh mông?

928 . NGUYỄN VY KHANH - Văn Học Hải Ngoại gia đoạn hình thành 1980-1986


 

[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]

[Ghi chú: Các biên khảo, tuyển tập văn-chương,… xuất bản từ năm 1980 đến 2025, sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương sau-Một số Nội dung và Thể loại văn-chương]

GIAI-ĐOẠN TỊ-NẠN CHÍNH-TRỊ

(giai đoạn hình thành, 1980-1986)

Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Năm 1980 đánh đấu sự tham gia sinh hoạt văn-nghệ, báo-chí của đợt thuyền nhân/boat people từ đầu năm 1979, chính-trị rõ hơn với kinh nghiệm sống với cộng-sản Hà-nội của người miền Nam và một phần người miền Bắc (đa số là “bộ-nhân” sang Trung-quốc và Hương Cảng) và sự xuất hiện tích cực một thời của các Mặt Trận chống Cộng và đấu tranh nhắm lật đổ chế độ cộng-sản trong nước. Nhà văn GS Đặng Phùng Quân nói về giai đoạn văn học này như sau: “… văn học lưu vong đã thực sự hình thành; lúc bấy giờ tôi gọi nó là một văn chương thời thế bởi nhà văn không còn là một hiện tượng đơn độc mà thể hiện qua một tập thể đông đảo tạo thành một sinh mệnh, một thế lực văn chương đặc biệt. Tôi coi nó đã mang nguyên vẹn cơ sở văn học từ trong nước ra bên ngoài. Ðiều này không những là một thách đố mà còn là một thái độ xóa bỏ cái văn chương bị chỉ đạo ở trong nước, cái văn chương của tập đoàn văn nghệ chỉ huy và những kẻ cầm bút ăn lương biên chế. Quan điểm này hẳn làm phiền lòng những người ấy, nhưng đó là một thực tại chứng thực kinh qua sự tồn tại và phát triển của nó trong một phần tư thế kỷ nay. (Tẩu Khúc Văn Chương/Triết Lý)

Cộng đồng nhà văn Việt-Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn. Đặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm với cộng sản, và đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Đã vậy họ bị cấm viết, bị cầm tù vì hoặc với "tư cách" là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi lính cho chế độ Cộng hoà. Nay vượt biên, “đi chui”, hoặc đoàn tụ gia đình (bắt đầu từ năm 1979, 1980 tùy quốc-gia), tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại nhờ đó sung tích và đa dạng hơn nữa.

Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn chính trị, từ tâm thức bị phản bội vào thời 30-4-1975, nay người Việt hải-ngoại nhận chân chính-nghĩa luôn ở về phía người tị nạn, lưu vong. Viết về chiến tranh, đa phần vẫn là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng cay của các trại “cải tạo” và của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí chống cộng sản độc tài, những trì trệ không “giải phóng” được đất nước khỏi nghèo đói và chậm tiến, điều này đưa đến khuynh-hướng phục quốc trong văn-chương đã đành mà còn thực sự song hành với những phản kháng, nổi dậy chống cộng-sản ở trong nước.

Hơn nữa, trên bình diện thế giới, “chiến-tranh lạnh” vẫn còn đó, mạnh hơn trước với những “bật mí” về các thủ đoạn tuyên truyền của tập thể khối cộng-sản cùng đám trí thức thiên tả Âu Mỹ trong chiến-tranh Việt-Nam cũng như nhiều nơi khác, và sẽ đi vào thời kỳ chót năm 1989.

Giai đoạn này có thêm những nhà văn thơ thuyền nhân và có những nhà văn viết vì phẫn nộ. Thuyền nhân tị nạn là một bộ mặt khác của chiến-tranh và sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những kẻ thua trận không đặc sắc. Người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc.

Cũng là thời của những cây viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn, Cung Vũ, Võ Kỳ Điền, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Trần Long Hồ, Nguyễn Ý Thuần, Thế Giang (Trần Hưng, 1958 -), Vĩnh Hảo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong, Võ Hoàng,... bên cạnh những nhà văn tị nạn đã từng hoạt động trước 1975 ở quê nhà như Nhật Tiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An, … Các tờ Hồn Việt, Đất Mới, Văn Học Nghệ Thuật, Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Đen, Người Việt, Việt-Nam Hải Ngoại,… ở Hoa-Kỳ và Làng Văn, Dân Quyền ở Canada và Quê Mẹ ở Pháp đã là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới và chống Cộng.

Giai đoạn hai, tạp-chí văn-chương Văn Học Nghệ Thuật tiếp tục với bộ mới, 5-1985 và đổi thành Văn Học “tạp chí sáng tác nhận định văn nghệ” từ tháng 2-1986, Mai Thảo tục bản tạp chí Văn (7-1982), cũng như xuất hiện Làng Văn (1984) thu hút được nhiều cây bút mới bên cạnh những nhà văn đã nổi tiếng,…

Không khí chiến tranh thường trực, không quốc-cộng thì nội bộ hải ngoại, làm như Việt-Nam là một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa qua và cái độc “di tản” phần nào ra ngoài nước. Các nhà văn khai thác chủ đề chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu, tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.

Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết vì phẫn nộ như Nhật Tiến: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (6)

Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, v.v. Ngoài sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại và hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của thế giới cộng sản và thiên tả đã chỉ có giá trị giai đoạn, khi hoả mù chiến tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới văn hoá Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Todd, v.v.

Tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực do tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong xuất-bản lần đầu năm 1980 với tựa Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam “192 bài thơ bi hùng” - ghi Khuyết Danh, theo thông tin khả tín là của Nguyễn Chí Thiện lúc đó còn ở trong nước, đã thành công ném tập thơ vào sân tòa đại sứ Anh ở Hà-Nội, được xuất bản như một tiếng sét khác đánh động lương tâm con người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ấn bản ghi là do Ủy-ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính-trị tại Việt-Nam, tiếp đó VIVO tức Tổ chức Người Việt Thiện Chí tái-bản năm 1981 nguyên văn bản đầu, rồi sau đó văn bản và tựa bị sửa (7).

Nguyễn Chí Thiện từ ngục tối, khi nghe tin miền Nam rơi vào tay quỷ đã than:

"Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

Cả nước đã quay về một mối

- Một mối hận thù, một mối đau thương !

Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường

Đảng tới là tan nát cả!

Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa

Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?

Đau đớn này không chỉ riêng ta

Mà tất cả!

Cả những kẻ đã nằm trong mả

Và những bào thai trong bụng mẹ chót sinh ra

Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha

Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ

(...) Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

Đến bao giờ lấy lại được giang san!

Chế độ này trâu ngựa sống không an

Sài lang đã dựng xong nền thống trị

Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ?

Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn

Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan

Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!"

(Vì Ấu Trĩ)

927 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH - ĐẶNG THƠ THƠ- RONG CHƠI NGOÀI THỜI GIAN, CÕI VẠN HOA CỦA SÁNG TẠO

                                                                                                                   

 

Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp. Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm biết. Nó lại rơi vào khái niệm thời gian phi tuyến tính mà triết gia John William Dunne đề cập đến trong một nghiên cứu của ông và kết luận rằng, “Giấc Mơ là một minh chứng cho quan điểm trục thời gian đa chiều đồng hiện diện.” Tôi cảm thấy tôi có cái gì đó hơi khác -cái khác mơ hồ- rằng ở tôi, giấc mơ là khởi đầu vụ mùa, ở J.W.Dunne giấc mơ là thu hoạch, dù ngẫu nhiên cả hai đều minh chứng cho sự không trật tự cùng xuất hiện của thời gian. Tôi thấy mình rất dễ để lọt vào và rất ổn thỏa sống trong cái lộn xộn đó.

Cũng tâm thái ấy, tôi có được khi đọc Phòng Triển Lãm Mùa Đông của nhà văn Đặng Thơ Thơ, và sau đó là xoay sở cho lọt vào những con chữ mang đầy ý nghĩa bức phá hiện thực của tập truyện này.

Tôi đọc lần này, cách lần trước 15 năm. Vẫn cảm được cái huyễn ảo, huyền ảo của phong khí* ấy, nhưng khác trước, lần này không những tôi Đọc, mà tôi Sống cùng thảy những tầng lớp ngữ nghĩa, ngữ cảnh của nhà văn. Một lần tôi chủ động, một lần tôi bị động.

Chủ động cảm xúc của mình tiếp nhận một cách chủ quan.

Bị động vì sự quyến rũ của những cánh cửa suy tưởng của nhà văn mở ra thách thức. Bị động nên mất phương hướng trong miệt mài tìm kiếm, và tôi bị lạc trong cái quy ước tâm linh của chính tôi. Hóa ra trong cái chập chùng tôi tưởng là phi trình tự vẫn theo một xoay chuyển có lập trình của vô thức. Cõi giấc mơ hiện ra trong sự không định vị Không gian và Thời gian, ở Đặng Thơ Thơ, ngoài vai minh chứng cho cái phi tuyến tính của thời gian- còn cho cả cái linh hoạt của không gian. Ngữ cảnh Thơ Thơ xoay chuyển mọi ngõ ngách. ký ức của quá khứ, ký ức của hiện tại và ký ức của tương lai, nó đồng loạt sống dậy, khi nhà văn cần đến, lội ngược dòng cái nhìn cố hữu, giải mã ổn thỏa phi thực- thực, đem lại hiệu quả tái cấu trúc hiện thực với những tầng lớp không- thời- gian trong từng cung bậc của cảm nhận tương ứng.

926 . THÙNG RƯỢU AMONTILLADO Truyện ngắn Edgar Allan Poe ( 1809 - 1849 ) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

 

Edgar Allan Poe (1809-1849)
 

Edgar Allan Poe  là một nhà văn nổi tiếng người Mỹ, xuất sắc trong thơ, truyện, tiểu thuyết, tiểu luận, báo chí lãng mạn và phê bình. Tác phẩm của ông nổi bật so với phần còn lại của văn học thời đó do bầu không khí tối tăm và kỳ dị của nó.

Edgar Poe họ tên đầy đủ là Edgar Allan Poe sinh ngày 19.1.1809 tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts trong một gia đình nghệ sĩ. Người cha, David Poe, mất khi cậu con trai Edgar chưa chào đời, còn người mẹ Eliza cũng từ trần lúc Edgar Poe mới tròn ba tuổi.

Cậu bé mồ côi được John Allan, một nhà buôn thuốc lá giàu có nhận về nuôi. Rồi Poe ghi danh vào Đại học Virginia, nhưng chỉ theo học được năm đầu và quyết định xung vào quân đội. Đó là khoảng giữa năm 1827, cũng là thời điểm xuất hiện cuốn sách đầu tiên của Poe.

Sau khi giải ngũ với quân hàm trung sĩ vào đầu năm 1829, Edgar Poe cho ấn hành đầu sách thứ hai có tựa đề Al Aaraf gây tiếng vang lớn. Kế tiếp Poe thi đậu vào Học viện Quân sự West Point và lại… bỏ dở để “dốc lòng” theo nghiệp văn chương.

Cuộc đời đầy những mất mát của Poe đã để lại một dấu ấn đậm nét trong những sáng tác của ông, tạo nên một không khí u uẩn và bi thương.

Trong suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố, mẹ, anh trai, mẹ nuôi, đặc biệt là người vợ trẻ Virginia.

Sau một thời gian dài đấu tranh với bệnh lao, người vợ của Edgar đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ vào năm 1847. Một lần nữa, một người phụ nữ yêu dấu đã rời bỏ Edgar mà đi. Một lần nữa, Edgar lại chìm trong đau đớn. Điều này có thể đã để lại những vết thương tâm lý và tình cảm sâu sắc nơi ông, lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết.

Cái chết của người vợ yêu dấu đẩy Edgar Poe tới chỗ kiệt quệ, sức khoẻ suy sụp, bởi Virginia luôn là nguồn sáng tạo mạnh mẽ của Poe, khiến Poe cảm thấy được những ấm áp mà từ nhỏ ông đã không thể có được.

Chỉ 2 năm sau, ngày 7.10.1849, người ta tìm thấy Edgar Poe trong một quán rượu tại Baltimore, quần áo tả tơi, mê sảng, không biết mình ở đâu. Nhà văn được đưa vào bệnh viện và qua đời 4 ngày sau đó, hưởng dương 40 tuổi.

Cái chết của ông cũng mang nhiều bí ẩn như chính những tác phẩm của ông. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.

Truyện ngắn giới thiệu dưới đây được đăng tải lần đầu tiên trong số tháng 11 năm 1846 của tạp chí Godey’s Lady Book.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

925 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - NGÀY NÀO CHO MÁ

                                                                                      


NGÀY NÀO CHO MÁ

Tháng bảy lại về, không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất, lúc bấy giờ họ đem cả ông bà, cha mẹ, thầy tổ…ra đấu tố). Nói vô thần là ngày xưa chứ bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất. Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.

Không biết tự bao giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân văn của hiếu hội Vu Lan.

Hiếu nào chỉ một ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới, ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo của người và vật.

Người Việt là những cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những hình tượng to lớn kỹ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ ràng

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

924 . NGUYÊN CẨN - Hạt bụi trong đáy mắt

                                                                                                    



Buổi chiều ông Hòa ra phía trước hiên nhà ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế dựa. Ông ngả người nheo nheo cặp mắt. Những ngày này, dọc theo mấy cánh đồng xả lũ, thấy trắng xóa một màu mênh mông của nước. Nước tràn qua bờ ruộng, lấp lánh ánh mặt trời trong buổi ban mai, rồi chấp chới sắc vàng dìu dịu lúc chiều tà. Là người dành cả đời sống cùng mùa lũ, ông cảm nhận rõ nét nhất sự đổi thay của mẹ thiên nhiên.

Con sông Vàm Cỏ muôn đời vẫn thế, ít khi dâng lên dữ dội mà chỉ mấp mé bờ trong những ngày nước lớn. Con sông vòng tay ôm quanh xã Long Hựu từ bao lâu nay, thời chưa chia ra Đông – Tây như bây giờ. Long Hựu thuộc vùng hạ huyện Cần Đước là một xã vùng sâu, ngăn cách với thị trấn Cần Đước bởi kênh nước mặn, là xã cuối cùng của tỉnh Long An, nằm đối mặt với Biển Đông có đồn Rạch Cát. Địa hình khá bằng phẳng hơi nghiêng về phía biển Đông chia ra làm hai vùng thượng - hạ ranh giới là nơi kinh Xóm Bồ nối với Rạch Đào. Nơi ông ngồi hôm nay thuộc Long Hựu tây, phía bắc giáp xã Long Hựu Đông và Phước Đông. Các phía còn lại giáp tỉnh Tiền Giang.

Vùng đất này lúc xưa ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản nên người dân riết rồi quen với việc sống với cả hai phía. Nhiều gia đình có người phục vụ cả hai bên như gia đình ông Hòa. Ông nhớ thằng Bình, em ông, gương mặt điển trai, ánh mắt luôn đượm buồn không hiểu vì sao, hay nó đã tiên liệu số phận yểu mệnh của nó. Nó học giỏi hơn ông nên đậu tú tài xong bị ông già bắt đi lính quốc gia vì ổng sợ bị lão xã trưởng Khiêm dòm ngó. Gia đình có một thằng đi sĩ quan là an toàn hơn, trong khi mấy ông chú toàn người phía bên kia. Chú Năm Điệp người đã bày vẽ cho ông Hòa con đường đến với cách mạng, là một người người sống với lý tưởng cao đẹp, lúc nào ông cũng ngợi ca xã hội miền Bắc và những người sống ngoài đó, chừng như ông nằm trong gan ruột họ vậy! Hòa ngả dần theo lý tưởng ấy lúc nào không biết, anh giả vờ té trật chân, nằm nhà một thời gian và tránh đi lính vì là người con duy nhất còn lại trong gia đình khi thằng em đã là sĩ quan quân đội  Cộng hòa. Nhưng ban đêm anh đi xuồng vô trong những căn nhà mái lá núp trong những bụi cây bên kia sông, họp hành, nghe phổ biến nghị quyết. Ở đó anh đã gặp lại Loan, con bác Ba Tiết, bạn ông già. Loan mặt mày xinh xắn trắng trẻo, nụ cười như người ta hay nói như hoa hàm tiếu, liếc nhìn rồi khúc khích cười nên ông đặt cho nàng biệt danh “Loan lý lắc”, nhưng ban đêm Loan làm giao liên tích cực chuyển gạo thuốc vào vùng giải phóng cho bộ đội.

Ông nghĩ ông may mắn được sinh ra và lớn lên cùng mùa lũ. Hồi ấy, dân quê ít ai kêu “lũ”, họ chỉ quen với “mùa nước nổi”, hay chân chất nữa là “mùa nước lên”. Đời sống vật chất những năm đó còn thiếu thốn, nhưng mùa nước nổi thì vô cùng hào phóng. Thời điểm đó, người ta chỉ cần có gạo ăn là yên tâm sống qua mùa lũ, bởi cái thuật ngữ “chim trời, cá nước” còn đúng lắm. Trong ký ức của ông, bước sang đầu tháng 5 (âm lịch) thì con nước ngoài sông đã xuất hiện màu đỏ của phù sa. Khi đó, cá linh non xuất hiện ở chợ quê, trong tiếng lèo xèo cười nói của các bà, các mẹ. Ông không biết cá linh non thời điểm đó thành đặc sản hay chưa, nhưng với đám con nít quê thì nó là món ăn quen thuộc. Cứ thấy chảo cá linh kho ớt bốc khói thơm lừng trong mâm cơm chiều, là sà xuống mâm, chở cơm nóng. Những ngày ấy sao vui và hồn nhiên quá. Nếu không có chiến tranh! Than ôi chiến tranh đi qua để lại bao tang thương và trong lòng ông đầy những vết xước dù ông được phong anh hùng, dù ông đeo huy chương bao lần, ông vẫn không nuốt nổi nỗi buồn khi nghĩ đến cái chết của thằng Bình.

Từ ngày về hưu, mỗi chiều, ông ngồi nhìn ra bờ sông Vàm Cỏ, dõi mắt nhìn theo triền sông màu vàng rực bông điên điển. Theo những người dân miền Tây, điên điển ngày xưa là cây hoang dã, thuộc họ đậu thân gỗ nhỏ, dễ thích nghi với môi trường và có sức sống mãnh liệt ở vùng ngập nước theo mùa. Bông có màu vàng tươi, là thức ăn giàu dinh dưỡng cho hương vị thơm, giòn, bùi, béo. Từng chùm bông điên điển nở vàng rực khắp các bờ đê, ven sông. Mỗi mùa điên điển, nhìn người ta chống xuồng trong từng bờ rạch, bờ đê hái những chùm bông vàng rực để làm rau ăn trong mỗi bữa cơm. Chính cuộc sống khó khăn từ xa xưa đã tạo nên sự sáng tạo trong từng bữa cơm của người dân miền sông nước Nam Bộ mỗi mùa nước lũ tràn về trên khắp các cánh đồng. Cây điên điển mọc ở các đầm ao, hay trồng theo các bờ ranh hoặc đất trống. Cây phát triển rất nhanh, điều đặc biệt không cần chăm sóc, hay đầu tư phân thuốc mà vẫn cho bông rất sai, nhờ vậy đã giúp rất nhiều người dân nghèo ở vùng lũ tăng thêm thu nhập.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

923 . SONG THAO - CẢM “HẠ CÁNH CỬA ĐỜI NGỘ CÁI TÔI” CỦA LUÂN HOÁN

                                                                                              


 

Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi” là tập thơ mới nhất, nhưng được ông cho biết là tập thơ cuối cùng, của nhà thơ Luân Hoán. Tập thơ dày cộm tới 450 trang gồm 206 bài mới viết trong những năm gần đây đã được ông để ở trước lan can nhà tôi vào ngày 12/8 vừa qua. Ông này hình như thích hít thở không gian bạn bè sống. Tôi đã có lần kể chuyện  sáng mùng một tết, ông lái xe đi một vòng thành phố, ghé dán vài câu thơ chúc trên cửa nhà bạn bè. Chỉ vậy thôi. Không rung chuông, không gặp gỡ. Lần này cũng vậy, ông cho thơ nhưng không diện kiến. Về nhà, ông lại cho thơ :

 

chiều hè gió nhạt nắng sâu

ghé cửa nhà bạn, quay đầu về luôn

cuốn sách tặng để trước gương

cửa nhà bạn, nơi vẫn thường tới chơi

trong lòng cả đống không vui

vào lây cho bạn ngậm ngùi hay sao

thơ tặng, đã rất dật dờ

mang tâm "viếng mộ" sợ hồ đồ thêm

tuổi sương tuyết mỏng mảnh mềm

nghĩ linh tinh chuyện lênh đênh mây trời

quay về ngồi lại chỗ ngồi

còn chưa thể bỏ, bồi hồi buồn thêm

 

Chuyện không vui của ông là chuyện ông vừa tới viếng “mộ” ông.

 

định đi thăm lại "mộ" mình

bởi buồn một cách thình lình, chiều qua

mí mắt máy cứ như là

có chuyện chi đó xảy ra bất ngờ

đến cổng nghĩa trang không vào

tiện tay bấm vidéo lạnh lùng

hình ảnh quang cảnh lung tung

"mộ" đâu phải mộ, ôi khung kính buồn!

922 . NGUYỄN ĐỨC TÙNG - TƯỞNG NIỆM CUNG TÍCH BIỀN

                                                                                     


TƯỞNG NIỆM CUNG TÍCH BIỀN

Nguyễn Đức Tùng

Khi tôi đọc truyện Bạch Hóa của Cung Tích Biền lần đầu tiên, miền Nam vừa sụp đổ. Đó là mùa hè năm 1975. Tôi mua được cuốn Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, do Nguyễn Đông Ngạc biên tập, xuất bản năm 1974, trong chợ Cồn, một chợ trời nổi tiếng ở Đà Nẵng thời ấy. Trong tập có Cung Tích Biền bên cạnh bốn mươi bốn nhà văn khác của miền Nam, bắt đầu với Bình Nguyên Lộc và kết thúc với Vũ Khắc Khoan. Truyện do các tác giả tự chọn.

Cầm cuốn sách bìa cứng in rất đẹp trên tay, mua với giá rẻ mạt, tôi nghĩ đó là món quà của miền Nam tự do gửi lại.

Vào lúc ấy, thật khó khăn để nói về chiến tranh. Thật khó khăn để nói về cái chết. Khi một người đang ở trong chiến tranh, giữa những cái chết, những điều ấy lại là những điều khó nói nhất. Buồn bã, bất an, thương tiếc có mặt khắp mọi nơi. Có những con chó hoang, có những đường phố tan tác. Đà Nẵng, nơi tôi ở với chị tôi, vừa đi qua những ngày như thế. Giữa nỗi buồn còn quá mới ấy, từ một truyện ngắn bước ra những điều mà tôi chưa biết gọi tên: tội ác, sự phản bội, cái chết như một ảo tưởng, quyền lực của lý tưởng, ảo tưởng cách mạng, sự đánh mất khuôn mặt của mình, sự tan vỡ. Tất cả làm nên hình ảnh miền Nam thời ấy: thất bại, tủi nhục, buồn bã, mất phương hướng. Bạch Hóa ở lại trong tôi từ lần đọc đầu tiên. Và nó còn ở đó mãi.

Thực ra, trước đó vài năm, tôi đã đọc Luống cải vàng của cùng tác giả, đăng nhiều kỳ trên báo Đời của Chu Tử. Đó là một truyện dài. Tôi còn nhớ nó, nhưng ký ức về nó đã trở nên mờ nhòe. Sau này, khi gặp nhà văn Cung Tích Biền ở California, tôi hỏi anh về truyện ấy, bởi tôi không tìm thấy tài liệu nào nhắc đến nó. Anh xác nhận rằng quả thật anh đã viết Luống cải vàng đăng trên báo Đời, nhưng tác phẩm chưa bao giờ được xuất bản thành sách. Nó thuộc về một nền văn học mà nhiều văn bản đã thất lạc.

Cung Tích Biền tên thật là Trần Ngọc Thao, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1936 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Anh viết từ sớm, nhưng bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện từ những năm 1960. Đó cũng là lúc chiến tranh bước vào giai đoạn khốc liệt. Đà Nẵng thay đổi với thủy quân lục chiến M ỹ. Cuộc sống đầy âu lo nhưng cũng sôi nổi, đẹp, rộn ràng. Những truyện ngắn của anh thời đó: Nỗi buồn thắp sáng, Ai tỉnh ai điên, Hòa bình nàng tình rỗng. Sau năm 1975, bẵng đi hơn mười năm, anh trở lại với Thằng Bắt Quỷ, Xứ Động Vật, Chim Cánh Cụt, Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử.

Cung Tích Biền không phải chỉ là một nhà văn viết về lịch sử. Anh viết về những gì lịch sử đã làm đối với con người. Quê hương còn đó nhưng con người sống trên quê hương mình có thể đã trở thành kẻ lưu vong. Cung Tích Biền không đứng ngoài lịch sử để quan sát và phán xét nó. Anh trôi nổi theo dòng chảy của lịch sử, sống chết với nó, vừa như một nạn nhân, vừa như một người quan sát. Theo chính ngôn ngữ của Cung Tích Biền, anh sống trong phòng đợi của lịch sử. Văn của Cung Tích Biền không cầu kỳ. Câu thường ngắn, giản dị, tiết kiệm. Anh không phải là nhà văn chủ tâm làm mới ngôn ngữ. Sức mạnh của anh nằm ở những ý tưởng bên dưới câu văn, ở khả năng chọn một tình huống, một hành vi, một chi tiết rất nhỏ để qua đó làm lộ ra sự phi lý của đời sống và chiến tranh. Sau hơn mười năm im tiếng, khi viết trở lại vào cuối những năm 1980, Cung Tích Biền vẫn là Cung Tích Biền, nhưng truyện của anh ngày càng mang tính ngụ ngôn và phi lý. Theo tôi, đó không hẳn là một phương pháp sáng tác được lựa chọn từ trước. Đó là sự phi lý của chính đời sống sau chiến tranh. Xứ Động Vật ra đời trong hoàn cảnh ấy. Con người sống trong một xã hội hòa bình nhưng tan nát, nơi các giá trị bị đảo lộn. Con người còn là con người đến đâu? Từ một nhà văn viết bên trong chiến tranh, Cung Tích Biền sống sót để thực hiện một thứ văn chương khác: văn chương hậu chiến của miền Nam, và sâu xa hơn, một nền văn chương hậu chấn thương.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

921 . BAN MAI - CUNG TÍCH BIỀN VÀ XỨ ĐỘNG VẬT MÀU HUYẾT DỤ

 



Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông.


Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.


Cung Tích Biền là nhà văn Miền Nam độc lập, ông thú nhận, sau năm 1975 “Tôi tự cô lập bằng cách sống ẩn mình,…đoạn tuyệt với những mối quan hệ không cần thiết, trong hòa đồng xã hội…giữ vị thế cô đơn để trọn vẹn cuộc Hành nghiệp”. Sau thời hậu chiến, ông lặng lẽ chiêm nghiệm, miệt mài sáng tác và hơn 30 năm sau, tự mình xuất bản chỉ để lưu lại cho đời Bộ Tổng Tập Văn chương gồm trên 10 quyển, non 7.000 trang sách.


Tôi gặp ông cũng thật bất ngờ, buổi chiều hôm ấy thật đông bạn bè. Đặng Hiền về thăm, có Lê Thánh Thư, Thận Nhiên, Lý Đợi, Inrasara, Đami… Đặng Hiền phone mời ông đến, tôi không thể nghĩ người đàn ông tóc bạc phơ, với khuôn mặt tươi trẻ, nụ cười rạng rỡ toát lên vẻ yêu đời, bên cạnh một cô gái cháy bỏng lại là ông. Một nhà văn ít xuất hiện trước đám đông, giọng văn cay độc, với cách nhìn đời lão luyện quá thâm sâu, tôi nghĩ phải là một nhà hiền triết, không thể là một “Lão ngoan đồng” như vậy. Nhưng tôi đã sai. Đúng là Văn và Người hoàn toàn tách biệt. Sau này, Trần Vũ kể ông thích khiêu vũ và nhảy rất điệu nghệ. Có lần Vũ và ông đi hộp đêm, Cung Tích Biền thuê cave quay valse và tango điêu luyện.


Sau vài ly rượu, Lê Thánh Thư cao hứng ký họa ngay trên bàn rượu hình ảnh của Cung Tích Biền, Thận Nhiên và tôi…Đặng Hiền đòi giữ bản quyền cho HL khi có bài in. Không biết bây giờ có còn không? Nhìn là vậy, nhưng ông chỉ mỉm cười ngồi nghe mấy kẻ hậu sinh tranh nhau luận bàn, tôi ngồi im nhìn ông. Và tò mò nhìn cô gái cùng đi rất điệu nghệ chăm sóc ông chu đáo. Ông nói sẽ gửi cho tôi các tập sách đang in và đã giữ lời hứa. Một năm sau, tôi nhận được 5 tập sách ông gửi. Tập hợp hầu hết những trước tác của đời ông. Sách in đẹp, với lời đề từ trang trọng. Ông tự in ấn, với phần ghi chú rỏ ràng, khẳng định quyền xuất bản của nhà văn không cần ai kiểm duyệt. “NXB Một mình. Có mục đích bảo lưu tác phẩm và tác quyền của tác giả. Việc phổ biến có giới hạn, không lệ thuộc vào bất cứ điều luật nào hạn chế việc Tự do phổ biến Tác phẩm”.

920 . LÊ ĐỨC LUẬN - BUỔI CHIỀU TRÊN BÃI BIỂN NHA TRANG

                                                                      


     

        Ngồi trên bãi biển Nha Trang khi thủy triều xuống cuốn nước xa bờ để lại vạt cát dài màu trắng mịn, nắng chiều chiếu xiên trên mặt biển gợn sóng lăn tăn… trông như dải lụa dát vàng lung linh đến tận các hải đảo xa mờ mây nước, khách nhàn du mê mẩn với sắc màu kỳ diệu của buổi chiều tà mà quên hết cảnh huyên náo chung quanh. 

        Bãi biển Nha Trang được thiên nhiên ưu đãi với các hòn đảo bao quanh như Hòn Tre, Hòn Én, Hòn Mun…v…v… che chắn các trận cuồng phong từ ngoài khơi thổi vào, nên ít khi có sóng lớn - dù lúc triều dâng, mặt biển cũng chỉ gợn lên làn sóng nhẹ.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

        Nha Trang không rõ nét thời tiết bốn mùa mà chỉ có mùa khô từ tháng Giêng đến tháng Chín, nhiệt độ trung bình 27 độ C; sang mùa mưa từ tháng Chín đến tháng Mười Hai, nhiệt độ trung bình 24 đến 25 độ C. Cho nên du khách có thể đến Nha Trang quanh năm - thoải mái với vùng nhiệt đới ảnh hưởng khí hậu đại dương ôn hòa.

       Do đó, du khách trong và ngoài nước đã đến Nha Trang mỗi ngày một đông và được ca ngợi là vùng biển nghỉ dưỡng lý tưởng cho người cao tuổi. 

       Quả là như vậy! Buổi sáng tinh mơ, ra bãi biển, đi chân trần trên cát mịn, nơi bọt sóng trắng vừa vỗ vào bờ, ta nghe như biển mặn thấm vào da… Rồi chờ mặt trời nhô lên mặt biển - rực rỡ ánh bình minh! Bấy giờ, gió nam non hiu hiu thổi, vừa đủ cho mái tóc bồng bềnh - cứ thế ta đi cho đến lúc nắng mai tỏa khắp làm mồ hôi rìn rịn…ta trầm mình xuống biển. Rồi chiều về, dưới chiếc dù cắm sẵn, ngả lưng trên chiếc ghế dài ngắm các cô gái mặc bikini hai mảnh - lồ lộ tấm thân trần ngà ngọc…Ngọn gió nồm mát rượi từ biển thổi vào mơn trớn làn da làm lòng ta rạo rực… 

Ôi! Có tìm lên Thiên đàng tắm biển cũng hấp dẫn đến thế là cùng… 

                                                                                                                                                                                                                                                                       

       Mùa hè năm rồi, ông bà Frank đã chọn phố biển Nha Trang làm nơi nghỉ dưỡng. 

       Bà Frank chọn Nha Trang là do tình cờ đọc được quảng cáo về các “Tour Du Lịch Sinh Thái” ở Việt Nam, còn ông Frank chọn Nha Trang là vì ông muốn tìm lại những kỷ niệm của mối tình đầu dang dở gần năm mươi năm về trước.  

        Năm 1972, ông Frank sang Việt Nam làm việc trong Trung tâm huấn luyện không quân Nha Trang. Nơi đây ông gặp một người con gái trong đêm dạ vũ - nàng có vẻ đẹp liêu trai với làn tóc mượt mà, óng ả xõa ngang vai làm ông say đắm… ông theo đuổi… Nhưng không dễ chút nào, vì nàng con nhà lễ giáo, cha nàng là một sĩ quan cao cấp của trung tâm huấn luyện và rất nghiêm khắc. Vậy mà, tiếng sét ái tình đã đem đến cho họ một mối tình rất lãng mạn.

        Gần một năm đằm thắm trôi qua, đợi một lễ cưới trang trọng theo ý muốn của cha nàng. Nhưng cuối năm 1974, tình hình chính trị ở Việt Nam biến chuyển, Frank được lệnh rời khỏi Việt Nam gấp rút. Họ đành chia tay trong nỗi ngậm ngùi.

        Trước đêm chia tay, họ trao cho nhau tất cả ân tình… và hẹn ngày tái ngộ. Không ngờ một lần ân ái, Frank đã để lại giọt máu của mình trong thân thể người đàn bà. 

         Rồi biến cố ngày 30-4-1975 đã cắt đứt mọi mối dây liên lạc. Từ đó, hai mảnh đời son trẻ rẽ ra hai hướng.

        Frank về Mỹ, mấy năm đầu sống trong sự nhớ thương ray rứt… chàng tìm đủ mọi cách để trở lại Việt Nam tìm người yêu, nhưng không được vì lúc đó Mỹ đang cấm vận Việt Nam. 

        Thất vọng, chán chường! Ba năm sau, Frank lập gia đình với người bạn gái học cùng trường thời High School.

        Còn nàng rời khỏi Nha Trang, lên Buôn Mê Thuột, sau khi nhà cửa ở Nha Trang bị tịch thu và người cha bị đưa vào trại cải tạo.