Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

811 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI: KHI THƠ TRỞ THÀNH LÁ CỜ CHO MÂY TRẮNG.

 


 Mây trắng là hình ảnh của cái vốn không có hình dạng sắc màu nhưng biến hiện ra vô cùng hình dạng sắc màu. Mây trắng là hình ảnh của vô thường, của sinh và diệt không ngừng, của xa lìa tất cả các nhãn hiệu bất kể là căn cước của da vàng hay da trắng, của Nam hay Bắc, của Việt hay Tây, Tàu, Mỹ, Nhật... Mây trắng là hiển lộ của tự do, của bình an. Nơi mây trắng không có bạo lực, không có níu kéo buộc ràng hay uốn nắn gắng gượng. Thơ của Lê An Thế là thơ của những ước mơ mây trắng, là lá cờ của mây trắng thong dong như thế.

Nhà thơ Lê An Thế  trong các năm gần đây đã ấn hành hai thi tập để tặng. Thơ không bán, vì thực ra không mấy ai làm thơ để bán. Khi Lê An Thế về thăm Quận Cam những ngày đầu tháng 3/2026, anh mang theo hai thi tập -- Vòng Không, ấn hành năm 2022; và Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống, ấn hành năm 2025 -- để tặng một số bằng hữu.

Tôi nhìn bìa tập thơ Vòng Không, một vòng tròn biểu tượng của Thiền Tông, và năm ấn hành, năm 2022 là năm của cao điểm đại dịch COVID-19, nghĩ ngay tới hình ảnh một nhà thơ luôn luôn sống cận kề nỗi chết. Bản thân tôi từ đầu năm  2020 tới ba năm sau vẫn luôn luôn tự thúc giục mình phải viết khẩn cấp điều này hay điều kia, vì luôn luôn tự ý thức rằng mình có thể sẽ chết trong đại dịch. Có lẽ, theo tôi nghĩ, có lẽ Lê An Thế làm những bài thơ trong tập Vòng Không cũng trong tâm thức như thế. Một vòng luân hồi vô tận của cõi này nhưng trong thực tướng là một vòng của rỗng rang, vô tướng. Không thấy và không sống được với thực tướng là Không thì sẽ kẹt mãi ở cõi này.

Bài thơ đầu trong tập Vòng Không là bài Bát Nhã nơi trang 5. Nơi đây, chúng ta sẽ giữ cách viết của nhà thơ Lê An Thế, dùng chữ hoa cho tựa đề bài thơ, và sẽ giữ khoảng cách như anh trình bày.

  

BÁT NHÃ

Nếu đi ngược lại

tôi sẽ đẩy mẹ xa bố trong đêm tạo hình

 

Tôi sẽ không biết tên những quốc gia những màu cờ

tôi sẽ không biết tên những dòng sông những ngọn núi

 

tôi sẽ không biết người

tôi sẽ không biết tôi

 

Nếu đi ngược lại

tôi có thể đu trên cành

thèm ăn trái ngọt

 

Nếu đi ngược lại đêm nay

tôi sẽ nghe

dĩa CD tụng kinh Bát Nhã cho đến sáng.

-- California Jan 10, 2022

  

810 . TT THÁI AN . NGƯỜI ĐẸP NHIỀU MẶC CẢM

                                                                


 

Trong cơn hỗn loạn của ngày 30 tháng 4, 1975 Sương chạy ra bến Bạch Đằng, thấy người ta chen chúc nhau lên một chiếc Tàu sắp nhổ neo.  Sương lao vào, nhờ làn sóng người xô đẩy mà Sương lọt được lên cái thang dây.  Tàu nhổ neo, Sương hú hồn hú vía vì mình được ra đi trong lúc đang tuyệt vọng.

 

Giờ này cha mẹ Sương có lẽ chưa biết Sương đang rời xa Sài Gòn, và sẽ xa mãi mãi.  Nghĩ đến cha mẹ, Sương bật khóc vì chắc gì có ngày gặp lại.  Riêng anh Ba, hơn Sương 5 tuổi đang đóng quân ở đâu Sương không muốn nghĩ đến. Vì anh là mối căm hận của Sương.

Năm Sương được 11 tuổi, anh Ba đã lợi dụng lúc cha mẹ không có nhà mà đè Sương ra hãm hiếp rồi còn đe dọa Sương nếu mét với cha mẹ thì anh sẽ giết Sương.  Sương câm nín thì thỉnh thoảng anh lại đè Sương ra làm tiếp. Khi anh Ba thi rớt tú tài, anh phải đi lính, vào trại Quang Trung rồi đổi ra các đơn vị tác chiến. Thỉnh thoảng anh biên thư cho má có gửi lời thăm Sương, nhưng Sương không bao giờ biên thư cho anh.

Khi Sương được 16 tuổi, người anh rể đang làm ở tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Lào có dịp về Sài Gòn công tác hay học tập vài tháng.  Chị Hai của Sương vẫn ở lại Lào vì các  con còn đi học, chưa nghỉ hè nên anh đến ở nhờ nhà cha mẹ Sương vài tháng.  Sương gọi anh là anh Hai vì gọi theo thứ tự của chị Hai.  Anh Hai cũng lợi dụng lúc cha mẹ không có nhà mà đè Sương ra hãm.  Anh nói ngọt với Sương rằng anh yêu Sương, rằng Sương đẹp hơn chị Hai nhiều.  Anh năn nỉ Sương đừng cho ba má và chị Hai biết. Anh cũng sắm cho Sương sợi dây chuyền vàng có mặt con cá chép và đôi mắt bằng đá màu đỏ, thân cá lúc lắc uyển chuyển mà thời đó tiệm vàng hay bầy bán.  Sương chẳng thương yêu gì anh Hai, nhưng không hiểu sao nàng không cự tuyệt quyết liệt nên thỉnh thoảng anh lại đè Sương ra làm.

Mặc cảm tội lỗi càng ngày càng dầy đặc trong Sương. Khi anh Hai trở về Lào, Sương thở phào nhẹ nhõm, không muốn anh có dịp trở lại như anh hứa. 

Kỳ này theo con tàu ra khơi, rời xa Việt Nam mãi mãi, Sương hy vọng cái quá khứ xấu xa của mình cũng bị bỏ lại với phần đất nàng sẵn sàng bỏ lại sau lưng vì sắp bị đổi chủ.

Tàu đưa mọi người đến Guam.  Sau vài tháng ở Guam, Sương được qua Mỹ.  Sương được một nhà thờ bảo lãnh về Virginia, lúc này Sương vừa 18 tuổi.  Người bảo lãnh ghi danh cho Sương đi học lớp ESL. Rồi năm sau Sương vào NOVA học. Nhờ lúc này có thêm vài bạn Việt Nam, Sương quen một người thanh niên Việt Nam qua Mỹ du học trước 1975, anh này tên Bảo, hơn Sương 8 tuổi. Bảo xuất thân con nhà danh gia thế phiệt, lại có học thức, tính tình điềm đạm, nhất là có việc làm ổn định.  Sương thầm có cảm tình với Bảo, nhưng chưa bao giờ dám mơ ước đến một người chồng như Bảo. Thế mà một thời gian sau Bảo xin cưới Sương. Sương nói ngay với Bảo rằng nàng thấy mình không xứng đáng với Bảo.  Bảo hỏi tại sao? Sương nói ngày đến quá khứ bị anh rể hiếp dâm, nhưng không dám nói đến chuyện bị anh ruột hiếp. Vì nàng cảm thấy quá xấu xa, không thể cho ai biết được.  Bảo thản nhiên nói với Sương:
-Sương chỉ là nạn nhân thôi. Anh không thấy Sương có tội lỗi gì cả.  Sương quên nó đi để sống cuộc đời của mình. Đừng bao giờ nghĩ đến nó nữa.

Thế là Sương sung sướng làm đám cưới với Bảo.  Phía Sương chỉ có vài cô bạn học, phía Bảo có anh và chị gái cũng sang Mỹ học trước Bảo.  Sương không ngờ mình lại được một người con nhà danh giá như Bảo chiếu cố.

Ở với nhau nửa năm thì Sương có thai, bỏ học ở nhà chờ sinh nở. Sự thật ra Sương không tha thiết đến việc học lắm, đầu óc Sương ít khi nào chịu tập trung một lúc lâu nên khó học bài. Bảo không nài ép vợ ráng học vì chàng biết khả năng của mỗi người đến đâu thì theo đến đó.

Từ khi đứa con gái ra chào đời, Sương quá bận lo cho con, khiến nàng hay nổi nóng với chồng. Bảo luôn cố gắng phụ vợ tắm rửa, thay tã cho con những khi chàng có nhà vào buổi tối.  Khi con sốt nhẹ một chút thôi Sương đã gọi ngay cho Bảo la hét trong điện thoại gọi chàng về đưa con đi bác sỹ ngay dù Sương có thể lo việc này một mình. Bảo không bao giờ cự nự một lời.  Bảo càng điềm tĩnh chịu đựng tánh nết nóng nảy, hay la hét của Sương, Sương càng nhìn thấy tánh quân tử của Bảo, nàng càng cảm thấy mình bất xứng với chàng.  Cái vòng lẩn quẩn cứ xoay vòng vòng trong đầu óc của Sương rằng mình may mắn lấy được chồng cao sang, đầy nhân cách nhưng mình đâu có xứng với chàng.  Càng mặc cảm, Sương càng hay la hét, nạt nộ chồng một cách vô lý.

Khi con gái được một tuổi, mỗi khi Sương la hét chồng thì nó hoảng sợ khóc ré lên. Bảo năn nỉ Sương đừng quát tháo chàng trước mặt con nhưng Sương càng hung hăng hơn. Sương hét la cho đến khi mệt thở không nổi thì mới chịu im miệng.  Đứa con gái càng lớn càng thương cha và xa lánh mẹ. Vì nó thấy cha nó đáng thương, nhịn mẹ nó quá đáng. Hơn nữa, cha nó lúc nào cũng nói chuyện nhỏ nhẹ với nó và với mẹ nó, còn mẹ nó hở ra là quát tháo ầm ỹ, dễ mất cảm tình và khó gần gũi quá.  Những lúc mẹ nó quát tháo cha, cha nó không dám bỏ vào phòng vì mẹ nó sẽ rượt theo đập phá cửa.  Cha nó phải ở lại chịu trận, nghe mà vờ như không nghe để mẹ nó có nơi trút trận cuồng phong.  Mà cha nó có lỗi gì cho cam, chỉ có hơi chậm chạp chưa đi đổ rác ngay hay chưa bỏ chén đĩa vào máy rửa chén ngay hay quên chưa mua cho mẹ nó cái băng cassett ca nhạc mới ra của Ngọc Lan, của Khánh ly, Thanh Thúy, Lệ Thu vv.

Mỗi khi Sương bắt đầu lên cơn la hét, Bảo thường nói nhỏ với con gái:

-Con đi vào phòng đóng cửa lại.

Đứa con gái đến ôm cha rồi nói:

-Daddy đừng buồn, con thương Daddy nhiều.

Nhưng lần này, sau khi nó vào phòng vài phút, mẹ nó đang quát tháo lớn tiếng bỗng ngưng lại vài giây rồi hét to:

-Tiffany ra đây coi ba bị sao nè!

Đứa con gái chạy ra, nó gào lên:
-Daddy! Daddy! Rồi lấy tay đập lên mặt cha nó, nhưng cha nó bật động.

Sương nhắc con:
-Gọi 911 coi!

Tiffany gọi xe cứu thương. 10 phút sau họ đến ngay.  Sương dặn Tiffany ở nhà chờ phone nàng sẽ gọi về, rồi lái xe chạy theo.  Lúc này Tiffany đã 14 tuổi.  Người ta đem Bảo vào phòng cấp cứu, Sương ngồi chờ bên ngoài.

809 .SONG THAO . KÝ ỨC SÀI GON (1)

 



Tôi rời nơi chôn rau cắt rốn Hà Nội khi chỉ còn đúng 4 ngày nữa là bước qua tuổi 16, tuổi dậy thì. Nơi tới là Sài Gòn. Tôi bay bằng máy bay Cosara được Không Quân Pháp trưng dụng để chở nhân viên và gia đình vào Sài Gòn khi hiệp định Genève chia cắt đất nước vừa được ký kết một tuần trước. Khi đó chưa có phong trào di cư, cậu bé ( hay chàng trai) sắp 16 tuổi lòng phơi phới lần đầu được đi máy bay tới một nơi xa tít, tuốt tận miền Nam đất nước. Sài Gòn, nơi tôi bắt đầu tuổi thanh niên. Cái tuổi đẹp nhất đời người của tôi tại Sài Gòn dài tới 41 năm, ăn đứt 16 năm tại Hà Nội, chốn thơ dại của tôi. Ký ức của tôi về thành phố thân thương này rất đậm đà. Đậm đà không kém người dân chính gốc Sài Gòn. Từ ngày thành phố mất tên, ký ức về Sài Gòn là ký ức chung của những người dân Sài Gòn, dân chính gốc cũng như dân ngụ cư.

Khi tôi tới Sài Gòn, tên đường phố chưa thay đổi. Vẫn là những tên Pháp. Ông Catinat hay ông Bonard là các ông cha căng chú kiết nào, không cần biết nhưng hai con đường mang tên hai ông thì tuổi trẻ Sài Gòn khi đó đều biết. Hồi đó, vào ngày Chủ Nhật hay ngày lễ, thanh niên thanh nữ dập dìu bát phố trên hai con đường trung tâm này. Hành động này được gọi là “Catinater” hay “Bonarder”. Dân bát phố chế thêm chữ “déxiquachté”, nghĩa là “hết xí quách”! Làm chi mà không hết xí quách khi cứ đi lên đi xuống giờ này qua giờ khác. Những anh chị có đôi có cặp đi rước đèn loanh quanh cho thiên hạ thèm chơi. Các anh cu ki dắt tay nhau đi nghễ gái. Ngày đó chuyện này là thường tình. Ngày nay mà hai anh đực rựa dắt tay trên đường sẽ bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ. Những tà áo dài tha thướt, những mini-jupe hững hờ, dắt tay nhau tung tăng cho mấy anh mắt la mày liếc lếch mắt. Họa sĩ Hà Cẩm Tâm cảm tác: “Buổi chiều. Từ chợ mới Sài Gòn đầu đường Lê Lợi hay từ nhà thờ Đức Bà đầu đường Tự Do trai thanh gái lịch kéo nhau từng cặp từng nhóm từng đoàn về bờ sông Sài Gòn. Gió hây hây từ sông Sài Gòn lùa vào mát rượi cả thành phố hoàng hôn. Những bước chân líu lo, những tâm hồn rộn rã, những hứng thú hàn huyên, những tiếng cười giòn tan...  là những ấn dấu của một thời nhàn du thư thả không thể nào xóa mờ trong tâm trí. Những nhà sách đồ sộ. Những góc phố hằng hà sách bán xôn. Những nhà hàng sang trọng. Những bữa cơm vỉa hè. Những dancing lừng lẫy. Vài quán nhỏ nhâm nhi. Những ca sĩ áo dài má phấn môi son. Một hát dạo xàng xê vệ đường (…) Lưu lạc giang hồ trăm nơi ngàn chốn, tình cảnh đủ điều văn minh vật chất, siêu đẳng như lai thoát vùng hệ lụy, lạnh thấu tủy xương, nóng ran sa mạc, buồn hơn mẹ chết, sướng tợ tiên ông, tự do như gió, stress thường xuyên, chết lên sống xuống, muốn gì được nấy... mà chẳng thấy ở đâu sống “đã” bằng ở Sài Gòn ngày ấy...”.

Ký ức của Phạm Công Luận, nhà văn chuyên viết về Sài Gòn ngày cũ, người lục tung những mảnh quá khứ của Sài Gòn: “Nhớ hoài những tháng năm đầu thập niên 1970, ở đâu chiến tranh xảy ra không biết nhưng trên đường này, dù ngoài trời đang nóng hay mát, người ta diện những bộ đồ đẹp để đi mua sắm, xem xi nê, vào tiệm chụp hình làm vài pô ảnh trước tấm phông vải vẽ cảnh biệt thự, lầu tạ. Dưới hàng cổ thụ dọc hai bên đường, hàng ngàn người di chuyển từ phía trụ sở Hạ viện lũ lượt đi về phía chợ Bến Thành. Áo dài bông, áo dài tay raglan, mini jupe của các bà các cô. Áo sơ mi bỏ vào quần hay để thong thả ra ngoài, vài ông thắt cravate… Mùi dầu thơm, mùi brillantine thoang thoảng trong nắng trong gió. Đoàn diễu hành mùa hè (lúc nào Sài Gòn cũng như đang trong mùa hè) đầy háo hức, từ những chàng trai trẻ non tơ bồn chồn vào nhà sách Lê Lợi săn tìm sách mới, tìm sách từ điển hay đi lấy báo Thế Giới Tự Do miễn phí ở thư viện Abraham Lincoln, hay như anh chàng thủy thủ tàu biển nước ngoài từ cảng mới đi lên, trố mắt nhìn mọi phía, xoay tứ phía ống kính máy ảnh”. Thư viện Abraham Lincoln của Mỹ ngày đó nằm ngay ngã tư Tự Do – Lê Lợi là nơi máy lạnh chạy vù vù mát rượi. Đi bát phố giữa cái nóng mùa hè, muốn nghỉ ngơi không chi bằng vào thư viện này đọc sách. Những cuốn sách được bao bọc vừa đẹp vừa sang. Lại phải thú tội: ngày đó tôi có anh bạn làm tại đây thỉnh thoảng giúi cho tôi ít giấy nhựa trong suốt bọc sách rất Mỹ này.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

808. Thơ thị giác: Mona Lisa: Vì sao nàng mỉm cười ở Florence vào năm 1503?

807 . PHẠM THÀNH CHÂU Truyện ngắn CÔ LÀNH VỀ QUẢNG NAM

 

Ảnh minh họa - Google images
         

Cô Lành ở Mỹ về Việt Nam tìm thăm bạn cũ. Xuống máy bay ở Sài Gòn, cô đón xe ra Ðà Nẵng, mấy hôm sau, cô đi Vĩnh Ðiện, một thị trấn nhỏ, cách Ðà Nẵng vài chục cây số. Thực ra, trước đó vài ngày, cô có vô Vĩnh Ðiện, hỏi han vài người ở bến xe điều gì đó rồi cô lại về Ðà Nẵng. Lần nầy, cô đi Vĩnh Ðiện sớm. Trời còn lất phất mưa nên cô Lành phải mặc áo đi mưa trước khi xuống xe. Khi xe vừa ngừng thì những người chạy xe ôm vây quanh mời mọc. Họ nhao nhao lên với cô: “Ði mô cô? Tui đưa cô về nghe! Mời lên xe”. Cô Lành nói: “Tôi là khách quen của anh Hai Tí. Thấy ảnh đâu không?” Mọi người dãn ra: “Phải Tí Kế Xuyên không? Hắn ngồi quán đằng kia kìa”

Chữ “Kế Xuyên” dùng để chỉ những người nhà quê, bảo thủ, nhất là có giọng nói rặc Quảng Nam, giống như ta dùng chữ “Sịa” để chỉ dân Huế nhà quê. Tuy là Việt kiều nhưng cô Lành trông rất xập xụi. Cô mặc một bộ bà ba cũ, ngoài khoác áo đi mưa, mang đôi dép lẹp xẹp, tay cầm giỏ lác nhẹ tênh, giống các bà nội trợ, đi chợ buổi sáng về nấu ăn cho gia đình. Cô Lành theo hướng người xe thồ chỉ, đến một cái quán nhỏ, giống bất cứ quán nào ở bến xe thị trấn nghèo và vắng vẻ. Trước hiên quán là một chiếc bàn cũ với hai chiếc ghế dài. Một bình tích với bốn cái ly thủy tinh không được sạch lắm. Ngay bên trong là một cái kệ bày mấy thứ kẹo, bánh, chuối, ổi… Một người đàn ông, ngồi dựa lưng vào vách, tay cầm chiếc bánh ú, miệng nhóp nhép nhai, mắt nhìn tận đâu như đang suy nghĩ điều gì nên không thấy cô Lành bước vào.

Anh ta khoảng trên 40, người cao, ốm nhưng rắn chắc, da đen thùi, xương gò má nhô cao, hai mắt sáng trưng thụt vào hốc mắt như mắt con khỉ. Anh mặc bộ đồ nhà binh của lính Cộng Hòa cũ, đã phai thành màu xám mốc. Một chiếc xe đạp thồ tựa vào vách quán. Cô Lành hỏi: “Anh chạy xe thồ phải không?” “Dạ. Cô đi mô?” “Tôi đi nhiều chỗ lắm. Anh biết Thanh Quít không?” “Nhà tui ở đó. Răng không biết?” “Thanh Quít, nhưng vô tuốt trong xa. Anh đi nổi không?” “Ăn thua chi! Lên Di Xiên tui cũng đi tới. Cô chờ cho chút nghe. Tui en xong cái bánh ni là đi liền”

Anh xe thồ nhét phần còn lại của chiếc bánh ú vào mồm, trẹo trạo nhai rồi trợn mắt nuốt. Anh lấy cái bình tích rót một thứ nước vàng vàng vào ly, bưng uống cạn rồi lấy tay quẹt ngang miệng, coi như làm vệ sinh sau bữa ăn. Anh nói vọng vào trong quán: “Chập nữa quay lại tính tiền luôn nghe, chị Tư”

Anh đẩy xe ra, lấy chiếc áo đi mưa gài ở yên sau mặc vào. Áo đi mưa màu xám tro, dày súc, giống như áo của lính cứu hỏa. Anh mặc ngược để tránh gió lùa vào áo. Anh lấy miếng giẻ nhét dưới yên xe lau cái yên sau cho hết nước mưa. Yên sau là một miếng gỗ lớn, có bọc nệm, làm thủ công nên trông thô kịch nhưng chắc chắn. “Mời cô lên xe. Chừ đi mô đây?” Cô Lành ngồi lên yên sau: “Anh cho tôi vô chợ Vĩnh Ðiện, mua ít quà cho người quen”. “Cô ngồi rứa không được mô. Phải bỏ hai chưn hai bên, ôm tui cho chẹt. Ðường đất khó chạy lắm, ngồi rứa té bể đầu, tui mang họa”. “Ôm anh, vợ anh có ghen không?” “Vợ con chi tui. Mà có vợ, hén cũng không ghen được, chiện lồm en. Ghen tương, đúa trơ mỏ”

Anh xe thồ đạp ra đường cái một đoạn rồi rẽ xuống đường làng. Ðường tráng xi măng nhưng hẹp lại có người đi nên xe phải lách qua, lách lại như làm xiếc. Cô Lành thò tay vào trong áo mưa, vòng ra trước ôm bụng anh xe thồ. Chiếc xe đạp, vì bơm bánh cứng ngắt nên cứ nẩy lên từng lúc. Thỉnh thoảng xe thắng thình lình khiến ngực cô Lành ép sát vào lưng anh xe thồ. Ngực cô căng cứng. Anh xe thồ phải chạy chậm lại.

Xe ngừng ở đầu chợ. Cô Lành bước xuống: “Anh chờ tôi ít phút. Anh biết chỗ nào bán cam, sữa hộp không?” Vì bị cô Lành ép ngực vào lưng mình nên anh xe thồ cố ý nhìn mặt cô Lành, nhưng cô trùm mũ áo mưa sùm sụp, chỉ thấy được hai con mắt ướt rượt, đuôi mắt kéo dài ra, rõ ràng cô đang cười bằng mắt với anh ta. “Trong ni không có cam, quít chi mô. Sữa bò hợp ở quán tê tề”

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

805 . TRƯƠNG VŨ Cái đẹp

 

Trương Vũ

C Á I  Đ Ẹ P

 

Mấy hôm nay, tôi thường đi bộ dọc theo bờ sông nhỏ trước khách sạn. Một buổi sáng, khi thoạt nhìn xuống những cây cỏ mà bình thường không để ý, tôi xúc động. Đó chỉ là những cây đước mọc từ đáy sông, mạnh mẽ vươn mình lên khỏi mặt nước, biểu hiện một sức sống mãnh liệt và đẹp. Rất đẹp, kể cả đám cây cỏ dại nhỏ bé mọc xung quanh, trên mặt nước. Tôi thấy một con thuyền nhỏ, hình như là nhà ở cho một gia đình nghèo. Tôi thấy những trụ gỗ hoang cũ, nhô lên mặt nước như hình ảnh hai vợ chồng, một đứa con. Tôi thấy một chiếc ghe nhỏ bỏ hoang, đơn độc.

 

Cái đẹp! Nhiều khi không phải tìm đâu xa. Nó quanh quẩn đâu đây.

 

Bến Tre 1/3/2023


Một số hình ảnh ghi lại được






804 .. BÓNG HÌNH CŨ Truyện ngắn. A.J. MCKENNA Nhà văn Anh (1888-1919) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

Nhà văn A. J. MCKENNA (1888-1919)

Tên đầy đủ là McKenna James Andrew Joseph, thuở nhỏ học các trường St Patrick và St Dunstan, những cơ sở giáo dục Thiên chúa giáo ở quê nhà. Sau đó, có một thời gian ngắn làm việc cho ngành hoả xa rồi thử nghề viết báo trước khi chuyển về Ottawa làm thư ký tại công sở. Ông chăm chỉ công tác nên không bao lâu được bổ nhiệm vào làm tại Sở Công tác Ấn Độ, và làm thư ký riêng cho toàn quyền Sir John A. Macdonald. Ông làm công việc này trong mười năm . Trong thời gian này, ông học luật và thành thạo trong lĩnh vực luật pháp nên tiếp tục thăng tiến những năm sau đó. Cuộc đời công chức với nhiều biến chuyển thời cuộc khiến ông không còn thời gian để viết lách. Tháng tư năm 1917 ông xin nghỉ và về sống tại Victoria. Tháng 2 năm 1918 ông in vài bài trên các báo ở địa phương.

McKenna qua đời vì bệnh tim năm 1919.

Tác phẩm ông để lại không nhiều nhưng những truyện ngắn của ông đều gây tiếng vang. Ngoài truyện ngắn, ông còn viết tiểu thuyết và kịch.

Truyện ngắn giới thiệu dưới đây nguyên tác có tên là Old Ghosts, đăng trên trang eastoftheweb.com, là một trong hai truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông ( truyện kia là Hope and Comfort. Tác giả khéo dẫn dắt người đọc lúc kể chuyện hiện tại lúc quay về quá khứ, theo những diễn biến tâm lý của nhân vật chỉ có cái tên ngắn ngủi là Jim. Ông già cô đơn và cô độc, ân hận về những điều đã làm lúc trẻ. Bút pháp lạnh lùng bằng những câu cụt ngủn, tả cảnh để nói về tình. Cái kết là một lối thoát cho nhân vật và cũng khiến người đọc thôi thấp thỏm trong cảnh ma quái âm u.

803. NGUYỄN TƯỜNG GIANG Đôi điều về truyện ngắn BÀN TAY CHO YẾN của Doãn Dân

 


Hôm nay trời mưa rỉ rả vì ảnh hưởng một cơn bão rớt, tôi nhẩn nha ngồi đọc hết truyện ngắn BÀN TAY CHO YẾN của Doãn Dân. Nhà văn Doãn Dân tôi không được đọc trước và sau 1975, nhưng rất cảm động về buổi tưởng niệm 50 năm mất và ra mắt Tuyển Tập Doãn Dân. Tò mò tôi tìm đọc trong mấy số báo Tân Phong tôi có, đọc được hai truyện Hoa Nở Muộn và Ghen, đúng như nhận xét của Trương Vũ, Doãn Dân có văn phong của Tự Lực Văn Đoàn (hai truyện đó viết vào khoảng 59-60) và viết về thời đẹp đẽ và an bình của những người thuộc thế hệ Tiểu tư sản miền Bắc (nhà biên khảo Nguyễn Vy Khanh đã nhận xét rất nhạy bén khi viết về DD). Cũng trong buổi họp mặt Tưởng Niệm Doãn Dân đa số nhận xét là truyện của ông ít bị ảnh hưởng của chiến tranh (tôi không được đọc các tác phẩm khác của ông nên không thể biết). Nhưng hôm nay khi đọc BÀN TAY CHO YẾN, tôi nghĩ đó là một truyện ngắn rất hay và chân thực về chiến tranh, lặng lẽ và âm thầm, có lẽ đó là những cảm nghĩ của tôi, mặc dù không hân hạnh được làm một người lính thời đó nhưng tôi vẫn tưởng tượng và thông cảm những cảm nghĩ của nhân vật Nguyên, một thanh/thiếu niên Bắc di cư, ở trại định cư, đi học, dạy học rồi nhập ngũ (tôi đoán thế khi đọc hai truyện trước). Dĩ nhiên là tôi có bias trong suy nghĩ này. Chỉ tiếc một điều là Doãn Dân mất đi quá sớm, trước khi chiến tranh trở nên dữ dội hơn (Hạ Lào, Mùa Hè Đỏ Lửa, 30 tháng tư…) và trại cải tạo, vượt biên v.v…, nếu còn sống có lẽ với sự ham mê văn chương và tấm lòng đối với con người và cuộc đời ông có thể cho ta đọc những tác phẩm sâu sắc về những biến cố trên. 

 

NGUYỄN TƯỜNG GIANG

Virginia, 7 May 2022

802. DU TỬ LÊ Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

 


Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.

Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là  “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.

Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”

Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.

Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.

Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với  người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…

Ở phần “Phụ Lục” cuối tuyển tập thơ mới nhất, tựa đề “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” do Thư Ấn Quán, in lần thứ ba, tại Hoa Kỳ, 2018, nhà văn Phạm Văn Nhàn, trong bài “Đất và Người,” viết: “Gần đây, đọc được bài thơ ‘Cha Tôi’ của Phạm Cao Hoàng, viết về người cha đã qua đời cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.

‘ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi
để lại đàn con trên quê hương tan tác
để lại trong trong tôi vết thương mang theo suốt đời.
bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương’
(Cha Tôi, 2015)

801 .DƯƠNG NGHIỄM MẬU Truyện ngắn TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT

 


Phác thảo chân dung Dương Nghiễm Mậu - Đinh Trường Chinh


Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại:
-Anh đã về.

Người anh phác một nụ cười:
-Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.

Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối.
-Anh về bao giờ lại đi?
Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm:
-Anh về ở nhà.
Ngươi hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt:
-Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe…À kìa, anh cả về đó sao?
-Dạ chào bác.
-Từ hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được, hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện…

Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói:
-Cha đâu?
-Cha nằm trong nhà.

Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra:
-Cha đang ngủ, anh không lên tiếng.

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

800 . NGUYỄN MINH NỮU : TÁCH TRÀ THƠM BUỔI SỚM MAI

                                                                                                              


TÁCH TRÀ THƠM BUỔI SỚM MAI
 
Nâng tách chè thơm buổi sớm mai
Dáng người như một vệt sương phai
Lẫn vào hương thoảng trầm hương cũ
Lẫn cả hương đêm lúc rạng ngày.
 
Là lúc thời gian đọng giữa chừng
Không gian dường cũng rất mông lung
Mẹ nối bây giờ cùng quá khứ
Và gửi tương lai một tấc lòng
 
Con quấn trong chăn, đã dậy rồi
Nhưng nằm mở mắt ngắm xa xôi
Quanh con như lớp tơ mềm óng
Chỉ thở mà ngân tiếng nhạc vời
 
Thấp thoáng hương bay cuốn bệ thờ
Ánh mắt Cha nhìn như ánh thơ
Con thấy Mẹ nâng tay tách nước
Nghe rung động suốt cõi mơ hồ
 
Thinh lặng giữa đôi bờ hư thực
Hương chè mạn lục thoảng qua môi
Hắt hiu một bóng soi trên vách
Mà khay vẫn có tách song đôi.
 
Những sớm mai kia, có chẳng nhiều
Mẹ già bạc tóc với cô liêu
Con thì phiêu bạc theo năm tháng
Đắng lưỡi tê môi với sớm chiều.
 
Đời con rồi ghé vào hưng phế
Đã biết bao nhiêu cuộc đổi dời
Tĩnh tâm chỉ có khi ngồi lại
Sớm mai nhớ Mẹ, tách chè thôi.


Sớm mai bên Mẹ tách chè thôi
Tâm nhẹ nhàng theo dáng mẹ ngồi.