Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

CÁO PHÓ NHÀ THƠ LÃM THÚY

 


881 . THÂN TRỌNG SƠN Dịch và giới thiệu:: HOA THEO MÙA Truyên ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967)

 




Ông sinh năm 1885 tại Elbeuf, một thành phố nhỏ thuộc vùng Normandie, Tây Bắc nước Pháp. Sớm có năng khiếu văn chương từ nhỏ, cậu bé Émile Herzog lúc theo học trường trung học Corneille tại Rouen có may mắn được học với giáo sư Émile-Auguste Chartier, tức là triết gia Alain nổi tiếng. Chính vị giáo sư này đã phát hiện tài năng của học trò và hướng dẫn, khuyến khích cậu phát triển ngay từ phương pháp học tập ở lớp. Điều bất ngờ là thầy khuyên trò sau khi rời trường nên trở về làm việc trongxưởng dệt thảm của gia đình. Ông nghe lời thầy và trở về Elbeuf, tuy nhiên ông vẫn say mê chữ nghĩa nên trong phòng làm việc ông để sẵn nhiều tiểu thuyết của Balzac, ông chép lại nhiều trang của Stendhal để luyện viết văn, đồng thời tích cực học tiếng Anh.

Thế chiến lần thứ nhất xảy ra, ông nhập ngũ và được cử làm thông dịch viên và sĩ quan liên lạc tại một trung đoàn của quân đội hoàng gia Anh. Sự nghiệp văn chương bắt đầu từ thời gian này. Ông lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm 1918,  tác giả sớm nổi tiếng để ba năm sau viết tiếp cuốn " Những bài diễn văn của bác sĩ O' Grady " ( Les discours du Docteur O' Grady ). Ông sẽ ký bút danh này trên tất cả tác phẩm của mình, và điều thú vị là bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm 1938. 

André Mauroisđể lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – Mặc Đỗ dịch là m cnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - . Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch sử Hoa Kỳ ), Histoire de France ( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ ( Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia ( Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )

Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm “Thư gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình yêu, tín ngưỡng…

Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với nhan đề Tu seras un homme, mon fils.

879 . LÊ ĐỨC LUẬN - ĐI COI MẮT VỢ


      Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi.

      Trời sinh ông Tư cái tật hay nói — không được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước mắm.

      Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải sống dưới chế độ cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi lao động khổ sai mút mùa…thì đời tàn trong ngõ hẹp.

       Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm đường vượt biên sang Mỹ.

       Khi được sống trong đất nước tự do, ông tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ tiến bộ quá nhanh - chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím máy vi tính (computer) - Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi “ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim cổ.  

     Lời nói của ông Tư đâm ra thừa!

     Nhưng nói là cái tật trời sinh — ông không bỏ được…

     Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự chính trị.

     Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ thiếu văn hóa — qua đó bộc lộ tính “bát nháo” trong ngành truyền thông.

      Dần dà, những lời nói trung thực và tâm huyết của ông Tư hầu như lạc lõng giữa đám truyền thông “bát nháo” - dân ta coi những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi…đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”  

        Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể chuyện đời xưa.

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

878. ĐẶNG MAI LAN - Chiêm bao




Tôi thích được ngồi cạnh Ngữ. Ngữ là mẫu người nghe nhiều hơn nói, và nếu chẳng may có một người nào trong đám bằng hữu nhộn nhịp, phá phách tấn công tôi về một mặt nào đó, thì chắc chắn rằng anh sẽ không đủ mồm mép để bênh vực hay chống trả hộ tôi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy có một sự an tâm, một bao che mơ hồ êm ái nào đó khi ngồi gần anh. Như thể ngồi gần anh thì chẳng ai dám đụng tới tôi vậy. Và anh cũng thích ngồi cạnh tôi. Tôi biết rõ điều đó bằng trực giác bén nhậy của một phụ nữ, trong sự tương quan giữa tôi và anh. Còn những người bạn của chúng tôi họ có biết hay không  thì tôi không rõ lắm. Nhưng thường thì họ vẫn xếp cho tôi ngồi cạnh anh. Có lẽ theo khuôn mẫu trật tự về tuổi tác, vai vế.

Lần này không hiểu ai là người đã sắp đặt chỗ ngồi mà tôi lại không được ngồi cạnh Ngữ. Cũng không nhớ nổi ai đã ở bên tôi lúc đó. Hầu như chung quanh tôi rặt toàn đàn ông. Ngữ ở hàng ghế bên kia, đối diện tôi. Chúng tôi không nói gì được với nhau. Lâu lâu Ngữ nhìn tôi, anh và tôi chỉ gửi gấm đến nhau bằng những ánh mắt thầm kín như thế.

Căn nhà đầy người, đầy tiếng cười nói vọng lên từ nhà dưới, vườn trước, vườn sau. Mùa xuân, hoa nở đầy vườn. Tôi ngồi nhìn mãi những nhành hoa trắng vươn qua từ vườn nhà hàng xóm. Không biết người ngồi cạnh tôi đã bỏ đi đâu tự lúc nào. Cái ghế trống. Tôi thấy Ngữ đứng lên. Tôi nhìn theo, không biết anh đi đâu, làm gì. Nhưng chỉ một phút thôi tôi hiểu ra, đó chỉ là một cái cớ. Vì Ngữ đã quay trở lại và ngồi vào chiếc ghế trống ấy. Ngữ kéo cái ghế đẩy sát vào tường. Anh dựa lưng, cánh tay duỗi ra, hờ hững gác trên chiếc kệ thấp cạnh đó, sát bức tường sau lưng tôi. Nếu tôi ngã người ra phía sau một chút, chắc chắn là tôi sẽ ngã gọn trong tay anh. Tôi thích cái khoảng cách vừa xa vừa gần. Cái khoảng cách vừa lẳng lơ mời mọc, thách thức, lại vừa có vẻ hồn nhiên vô tội vạ. Và lòng tôi rộn lên một thứ cảm giác rạo rực, háo hức. Thứ cảm giác quyến rũ làm sao !

Ngữ hỏi tôi có muốn ra ngoài một chút không ? Tôi gật đầu và đứng lên theo anh. Tôi cũng muốn đi dạo và ngắm cảnh chung quanh, vì đây là nơi mà tôi đến lần đầu. Không khí bên ngoài có vẻ trong lành êm ả hơn. Những người khác sau khi ăn uống cũng tản mạn rủ nhau ra hết ngoài vườn. Góc này vài người đứng, chỗ kia thì vài người ngồi, ngã nghiêng, nhàn nhã trên những chiếc ghế thấp, có lọng dù che nắng.

877 . ĐINH TỪ BÍCH THÚY Nguyễn Đức Sơn, vòng quay sinh tử

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020) - Nguồn ảnh: Google image


Tôi bắt đầu tìm hiểu về Nguyễn Đức Sơn khi bất chợt đọc được đoạn văn nói về ông trong bài viết của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn trên báo Người Việt online (đăng ngày 11 tháng 11 năm 2006):
Thay vì “làm học trò không có sách cầm tay, có tâm sự đi nói cùng cây cỏ” (Ðinh Hùng), chàng trai mới lớn trong thơ Nguyễn Ðức Sơn giấu trong cặp “chiếc băng vệ sinh” nhặt được ở đâu đó ngoài đường.
Người đàn bà, người nữ, xuất hiện trong thơ Nguyễn Ðức Sơn, không mặt mũi nhan sắc, trước tầm nhìn (thôi, cứ coi là tình cờ) của chàng trai mới lớn, ngồi xuống và “em chưa đái mà hồn anh đã ướt”.
Hình ảnh Nguyễn Đức Sơn giấu trong cặp ‘chiếc băng vệ sinh’ vô danh/vô thừa nhận đã ám ảnh tôi từ lúc đó. Tại sao nhà thơ lại làm như vậy, đó có phải là một hành động “nữ quyền” đi trước thời đại hay còn một mục đích nào khác?
Sống, lớn lên, và học hành ở Mỹ, từ lúc viết và xuất bản trong tiếng Anh khởi sự từ năm 1991, tôi nghiễm nhiên coi mình là một người viết Mỹ gốc Việt. Những gì tôi biết về văn chương Việt Nam trước đó cũng không nhiều. Tôi đã tưởng rằng những nhà văn, nhà thơ Việt Nam trước thời tôi là những người phần nhiều cổ kính, mẫu mực, với gu thẩm mỹ và cách sống không khác bố mẹ tôi. Tuy đã đọc văn chương Tự Lực Văn Đoàn và thơ của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, và Lưu Trọng Lư, cung cách lãng mạn của thi văn Tiền Chiến cũng không làm thay đổi cái nhìn chung của tôi: lúc đó tôi nghĩ những nhà văn, nhà thơ của Việt Nam là những con người thơ mộng, u hoài, bị đè nén triền miên, và vì vậy tôi đi tìm sự tác động và nổi loạn trong văn học hiện đại của Hoa Kỳ và Âu Châu.
Điều mâu thuẫn (mà tôi không nhìn thấy lúc đó) là ngay trong lúc thấy mình được tự do khai phá trong giòng văn chương ngoại ngữ, tôi đã chọn cho mình một đời sống rất cung cách và bình thường. Thay vì nổi loạn, tôi đã theo học Luật, rồi ra trường và nhận việc làm trong một cơ sở thuộc ngành tài chánh của chính quyền Hoa Kỳ. Số phận di dân (con gái đầu lòng trong một gia đình có 6 người con) không cho phép tôi làm những chuyện ngông cuồng. Tôi nghĩ mình chỉ là một con người thực tế thích sự an toàn. Tôi theo nghề Luật và do đó đã chọn thái độ “nằm xuống” thay vì nổi loạn—theo nghĩa của Nguyễn Đức Sơn trong Ý Tưởng Chiều Tà–để không lâm vào cảnh “chết đói” của những sinh viên theo ngành chữ nghĩa chỉ vì không đủ khả năng học lấy bằng kỹ sư điện toán hay theo nghề thuốc. Đã từ nhiều năm, tôi vẫn hỏi mình câu hỏi không có lời giải đáp, mà về sau tôi mới biết cũng là câu hỏi của Heidegger trong Sein und Zeit (Hữu thể và Thời gian), và của Nguyễn Đức Sơn cùng những nhà văn miền Nam cùng thời với ông: “Làm sao để sống hết sức thực lòng trước những giới hạn của số phận?”
Ngoài chuyện cảm phục tác phong độc lập của một nhà thơ “quái dị,” tôi cũng muốn tìm hiểu thêm về Nguyễn Đức Sơn từ khía cạnh giới tính, vì tôi thấy ông đã đi xa hơn những nhà thơ Việt cùng thời khi diễn tả vai trò phụ nữ trong quá trình sáng tác của ông. Khi chứng kiến cảnh phụ nữ tiểu tiện, Nguyễn Đức Sơn không bị “chồn dạ” mà trái lại còn có vẻ bị mê hoặc bởi hình ảnh người con gái đẹp hành động vô tư theo bản năng:
Một Đêm Vàng
không biết trong mơ em còn mắc cở
một đêm vàng rúng động giấc thanh tân
dưới chăn chiếu thiên nhiên lồ lộ mở
em đái dầm ướt sẫm cả trần gian
(trong tập Đêm Nguyệt Động)
và, tương tự, nhà thơ sẽ hoặc đã “đến” khi chứng kiến
Vũng Nước Thánh
anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước
miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi
ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người
em chưa đái mà hồn anh đã ướt
(trong tập Đêm Nguyệt Động)

880 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI - Ngô Thì Nhậm: Viết trong thời ly tán.

                                                                                             


Đất nước Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ ly tán gay gắt, với nội chiến tàn khốc, như thời Trịnh-Nguyễn phân tranh của thế kỷ 17 và 18, như thời nhà Tây Sơn với quân đội Nguyễn Ánh của thế kỷ 18 và 19.  Sau nội chiến là trả thù và truy sát tàn bạo.

Bây giờ, may mắn, chúng ta đang sống trong thời hậu chiến, nhưng mắt nhìn lẫn nhau không chắc đã thân thiện. Tuy rằng quê nhà đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn còn ly tán. Chữ nghĩa có vẻ như là những quả thủy lôi đang thả lơ lửng trên dòng sông Bến Hải, nơi chúng ta dễ dàng chạm tới là sẽ bị nổ tan xác. Chúng ta đã thấy trong mấy tuần qua có một số nhà văn trong Hội Nhà Văn VN ở Hà Nội bị bắt vì một tác phẩm ca ngợi lãnh tụ viết theo một văn phong giới trẻ, chỉ vì không giữ văn phong truyền thống.

Trong thời kỳ như thế, tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng là một xuất hiện rất hy hữu, chạm vào những vết thương của rất nhiều người, gợi những ký ức mà phần lớn dân mình đôi khi chỉ tạm quên đi và tránh nhắc tới. Hơn nửa thế kỷ qua đã có rất nhiều chiếc ghe biến mất giữa biển. Hẳn là, sẽ có nhiều người nhìn về tác phẩm “Thuyền” từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người nói sao viết mơ hồ quá, như trên mây, không chạm được tới những đau đớn của những người đã từng ngồi trên các chiếc ghe liều thân ra đi. Có người nói đây là văn phong thơ mộng, dòng ý thức. Và vân vân. Tôi chưa đọc, xin thú thật, nhưng được nhà văn Nguyễn Đức Tùng dặn là cứ lên nói, nghĩ gì nói đó. Do vậy, xin có vài lời. Bài viết này là những suy nghĩ rải rác nhiều năm qua trong khi nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm, người cuối đời là Thiền sư Hải Lượng, bây giờ xin gom lại.

Hãy nhìn về lịch sử quê nhà. Trong các thời kỳ nội chiến hay sau nội chiến, rất nhiều tác phẩm văn học không muốn nói tới lịch sử. Phần lớn, tôi nghĩ, tác giả thấy đau đớn quá. Bên nào cũng có người thân. Thời phân tranh Trịnh-Nguyễn (1627–1775), và rồi thời kỳ nội chiến giữa nhà Tây Sơn (trong đó có vua Quang Trung) và Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) các năm (1771–1802). Sau nội chiến là truy sát, những người sống sót chạy vào thật xa ở Miền Nam, đổi tên họ và ẩn thân.

876 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG phổ thơ NGUYỄN MINH NỮU - HÁT RONG GIỮA ĐỜI

 


 
 HÁT RONG GIỮA ĐỜI. 
 Thơ Nguyễn Minh Nữu 
 Nhạc Nguyễn Quyết Thắng.
 Trình Bày QUANG ĐẠT - MINH CHIẾN

875 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG phổ thơ THÁI TRUNG - NGOÀI PHỐ

874 . LÃNG THANH - MẪU TỬ TÌNH THÂM.

 


Thời gian nhuộm mái tóc má, giờ trắng phơ như mây trời. Tháng năm xóa đi sự tươi trẻ, làn da nay in đậm những dấu ấn nhăn nheo. Đôi mắt má không còn trong như lúc thanh xuân mà đã mờ nhạt màu mây. Mình đau xương nhức, đi đứng liêu xiêu…

Mỗi làn nói chuyện với má, ánh mắt má xa xăm diệu vợi như lạc vào cõi hư vô. Giờ má nói chuyện như một cái máy thâu sẵn, nhớ đâu nói đó, chuyện nọ xọ chuyện kia. Căn bệnh mất trí nhớ của người già đã làm cho má không còn ý thức được nội dung câu chuyện. Má chỉ nói theo ký ức còn lưu giữ trong tâm thức. Dường như tất cả những người già đều sống nhiều với dĩ vãng hơn là hiện tại. Má cũng thế, kể cũng lạ, chuyện trước mắt thì không nhớ mà chuyện từ xa xăm lại không quên. Điều này chứng tỏ bệnh lú lẫn của người già không thể xóa hết những ký ức cũ, ký ức cũ chính là “chủng tử” lưu trong A lại da thức. A Lại Da thức còn được gọi là hàm tàng thức, nghĩa là cái kho cất giữ lưu chứa tất cả những niệm của con người, có thể là niệm của một đời, niệm nhiều đời. Cái kho ấy chứa tất cả những hạt giống thiện, ác, trung tính của mỗi con người.

Khoa học nói: “Năng lượng không tự sinh ra và cũng không mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Ví như điện có trong than đá, dầu lửa, nước, gió…Con người chế ra những máy móc để “bắt” được nguồn điện và dùng điện vào sản xuất hay sinh hoạt của đời sống. Dòng điện khi được xài thì nó sẽ chuyển thành nhiệt năng, cơ năng… chứ nó đâu có mất đi. Con người ta cũng thế, khi thân xác này tan hoại nhưng những ký ức từ A lại da thức đâu có mất đi, nó sẽ chuyển biến từ dạng thức sống này sang dạng tức sống khác, hình tướng khác…cũng như dòng điện chuyển từ dạng này snag dạng khác. Dòng điện vốn không có sẵn nhưng vẫn hiện hữu trong gió, nước, than đá. Sự sống sanh ra nhưng thật là không sanh, sự sống mất đi nhưng thật chẳng mất mà chỉ chuyển từ thân này thành thân khác. Cơ chế hoạt động của tâm thức rất vi diệu, khoa học hiện đại cũng không làm sao biết được cho dù có dùng đến những phương tiện máy học hiện đại như điện não đồ hay các loại máy móc tinh vi nhất. Khoa học chỉ có thể nói mất trí nhớ là do những tế bào thần kinh chết đi mà những tế bào mới sanh ra không bù đắp được. Không thể biết trước khi về già ai sẽ minh mẫn đến phút cuối hay ai sẽ bị bệnh mất trí nhớ.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

873. Tranh Đinh Cường: Phác thảo chân dung Lãm Thúy.

Phác thảo chân dung Lãm Thúy
Tranh Đinh Cường - 26.10.2014

872. LÃM THÚY (1952-2026): 5 BÀI THƠ

Phác thảo chân dung Lãm Thúy
Đinh Cường (26.12.2014)

MÙA ĐÔNG ĐẤT KHÁCH
 
Buổi sáng uống ly trà lạnh
Nghe mùa đông chợt dài hơn
Chiều về nghe chim vỗ cánh
Chạnh lòng ta nhớ cố hương
 
Chẳng biết xưa người lữ khách
Châm điếu thuốc buồn ra sao?
Chẳng biết xưa nơi đất Trích
Tráng sĩ sầu như thế nào?
 
Chỉ biết ta buồn quá đỗi
Ngó mây bay cũng nhớ nhà
Đêm nằm, lặng nghe gió thổi
Thương gì thương đến xót xa !
 
Nhiều khi thoáng nghe đâu đó
Mùi hương  nguyệt quế trong vườn
Nhiều khi trên từng lá cỏ
Chở đầy nỗi nhớ quê hương
 
Nhớ nhánh sông mùa nước lũ
Nhớ bờ lau sậy lưa thưa
Nhớ cây Bằng lăng vườn cũ
Mương bèo, rụng tím mùa hoa
 
Chiều lạnh, mùa đông đất khách
Thương cha, nhớ mẹ, nghẹn ngào
Chẳng biết chim nào chim Vịt
Kêu chiều, thảm não như nhau.
 
ĐÊM Ở SÀI GÒN QUÁN
Đêm ở Sài gòn Quán
Gặp gỡ người tài hoa
Nghe Đinh Cường khen tặng
Thơ Mẹ, tình thiết tha.
 
Cảm ơn Nguyễn Minh Nữu
Và Mai, cô vợ hiền
Nhắc chuyện mười năm cũ
Đọc câu thơ hồn nhiên ( 1 )
 
Nghe chuyện Kim Các Tự
Nhà sư trẻ đốt chùa
Cảm ơn anh Trương Vũ
Nói những điều sâu xa…
 
Xưa, thuở còn trẻ dại
Đọc.  Chẳng hiểu chi nhiều
Chỉ biết nhà sư ấy
Chà đạp người diễm kiều
 
Phải chăng vì quá yêu
Người ta muốn hy diệt
Để muôn đời mang theo
Sâu kín niềm tưởng tiếc?
 
Cảm ơn Phạm Cao Hoàng
Tiếng trầm như nốt nhạc
Thắp lên niềm hân hoan
Giữa miền sầu chất ngất.
 
Đọc mấy câu “Tàn Thu” ( 2 )
Hỏi người bao nhiêu tuổi?
Hăm mấy mà làm như
Hơn nửa đời tàn rụi!


Đêm ở Sài Gòn  Quán
Nói chuyện thơ, chuyện người
Với chị Sơn mới gặp
Mà như quen lâu rồi
 
Về một mình, đêm lạnh
Gió thu làm bâng khuâng
Nghe niềm vui chắp cánh
“Chắt chiu những ân cần”.
 
Maryland 17-11-2014
( 1 ) Thơ Lãm Thúy:
Sáng nay thức dậy hết hồn
Người xa ta vạn dặm đường, còn đâu.
( 2 ) Thơ Phạm Cao Hoàng:
Ngậm ngùi nghe gió mùa thu tạt.
Ngó lại đời ta đã nửa đời
 
THƯ CHO ÚT PHỦ


Từ lâu. Chị vẫn thường ấp ủ
Những mong nói với Út đôi lời
Anh chị bây giờ xa cách cả
Chuyện nhà, trông cậy Út mà thôi
 
Chị biết lắm khi em bực dọc
Thân trai tù túng việc tề gia
Em ơi! Hãy nhớ niềm lao nhọc
Một đời. Cha mẹ đã vì ta…
 
Em còn trẻ quá, cần bay nhảy
Nuôi người bệnh hoạn. Dễ gì đâu!
Khổ nỗi, nhà mình đơn chiếc vậy
Không nhờ em, còn biết làm sao?
 
Cha mẹ già thường sinh cáu gắt
Cũng đừng hờn giận. Chị xin em
Mỗi ngọn lửa hờn em dập tắt
Là một hồng ân trên phước duyên.
 
Người bảo: Hai vai ta dẫu cõng
Mẹ cha đi khắp cả tinh cầu
Cũng chưa đền được ơn sâu nặng
Huống gì nhịn nhục một đôi câu…
 
Em còn được ở bên cha mẹ
Là phước ngàn đời. Em biết không?
Lỡ khi ngày tắt, chiêu dương xế
Đời ta. Bóng tối sẽ vô cùng!
 
Ai không được ở gần cha mẹ
Là mất đi suối mật, rừng hương
Là nỗi thiệt thòi không xiết kể
Là niềm bất hạnh, là tai ương!
 
Chị vốn không may: đời bạc phước
Tự năm mười tuổi đã xa nhà
Tuổi thơ thiếu mẹ sầu như nước
Bao chiều ngồi khóc, ngó về xa…
 
Thảm cảnh. Làm sao em hiểu được
(Một đời bên gối mẹ nâng niu!)
Có đâu như chị mười năm ngót
Thiếu vắng vòng tay mẹ sớm chiều…
 
Thuở ấy, mỗi năm về hai bận
Hè đi. Đợi mãi tận sang xuân
Ngày vui bên mẹ sao mà ngắn
Mỗi lần đi, đứt ruột một lần!
 
Những sớm còn vương hơi ấm mẹ
Còi xa. Tàu dã giục lên đường
Hành trang trĩu nặng vai thơ trẻ
Ngập ngừng chân bước, lệ tuôn tuôn…
 
Những cuộc chia ly về sáng ấy
Buồn không thể tả. Buồn vô biên.
Ba mươi năm. Giòng đời trôi chảy
Niềm rưng rưng ấy vẫn còn nguyên
 
Đời chị có bao lần chia biệt
Đã trăm lần tiễn, vạn lần đi
Nhưng hồi còi cũ buồn thê thiết
Của chuyến tàu khuya còn khắc ghi.
 
Đời.  Qua bằng những lần ly biệt
Kéo dài như thế suốt mười năm
Trở về bên mẹ. Vui chưa hết
Lại lấy chồng. .Xa đến mấy lần!
 
Mười năm, cũng bởi đời dâu bể
Được về nương náu với từ thân
Mười năm. Chị nuốt bao nhiêu lệ
Bởi đời cay đắng, bởi thăng trầm!
 
Rồi lại thêm lần chia biệt nữa
Ngày đi. Ôm mẹ, chẳng đành buông
Cứ xa thêm mãi, giờ xa quá
Tính lại đường bay, chợt hết hồn!
 
Đã muôn trùng vậy, làm sao gặp?
Nửa vòng trái đất_ mấy trùng dương…
Nhớ nhà, ra đứng trông trời đất
Đâu biết phương nào vọng cố hương!
 
Anh chị mỗi người đi mỗi chỗ
Nhọc nhằn phụng dưỡng để mình em
Ơn ấy ngàn đời xin ghi nhớ
Chưa biết làm sao để đáp đền.
 
Chị biết:  em là người hiếu đạo
Không nề khó nhọc, chẳng than van
Nói đây, không phải lời khuyên bảo
Tự dưng tâm sự bỗng tuôn tràn
 
Có lẽ chiều nay trời trở lạnh
Xui lòng nhớ quá nắng chiều quê
Xót Út chốn quê mùa quanh quẩn
Trách nhiệm hai vai gánh nặng nề
 
Út à. Giờ cha già mẹ yếu
Chuyện nhà phó thác một tay em
Nhân sinh hữu hạn, mong em hiểu
Gắng giữ giùm nghe, những ngọn đèn!
 
TỪ NAY THẾ GIỚI VẮNG ĐINH CƯỜNG


Chị Ý báo tin buồn. Thứ bảy
Lặng người không nói . Nói gì hơn?
Anh không ở nữa thì thôi vậy
Từ nay thế giới vắng Đinh Cường!
 
Có nghĩa là không còn nét vẽ
Những người thiếu nữ dáng như mơ
Những người thiếu nữ xanh như liễu
Rất mỏng manh và rất đỗi Thơ!
 
Có nghiã từ đây Sài Gòn Quán
Sẽ trống đi thêm một chỗ ngồi
Gặp nhau , dù có bao nhiêu bận
Không ai còn có thể nào vui!
 
Sẽ nhớ , dù sức tàn , lực kiệt
Cũng gom tàn lực để mà đi
Cố đến cùng bạn bè thân thiết
Chua xót nhìn nhau biết nói gì?
 
Có nghiã lần sau ra mắt sách
Không còn ai viết tặng bài thơ
Nét vẽ vội vàng trong khoảnh khắc
Gói lòng trân quý có ai ngờ!
 
Có nghiã từ đây trên kệ sách
Những người thiên cổ đã tương phùng
Chỉ có riêng mình ta thống trách
Giận rằng không gặp lúc lâm chung!
 
Giận không gửi bài thơ viết sẵn
Bây giờ còn biết gửi cho ai ?
Bảo biết lâu rồi đời ngắn lắm
Vậy mà để muộn mãi không hay!
 
Đêm nay gió lạnh nhiều , Anh ạ
Mở cửa ra nhìn bông tuyết bay
Chợt nhớ , lòng sao sầu thảm quá
Chỗ ấy đêm nay chắc lạnh đầy!
 
Cõi ấy , một mình đêm buốt giá
Từ nay sẽ lạnh đến thiên thu
Nhưng niềm thương tiếc bao la quá
Mong ấm lòng Anh cuộc viễn du.
           
January 12, 2016
 
MẸ ƠI, VĨNH BIỆT


Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!
 
Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!
 
Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…
 
Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!
 
Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!
 
Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!
 
Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!
 
Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!
 
Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!
 
Lãm Thúy 

                           

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

TIN BUỒN: NHÀ THƠ LÃM THÚY ĐÃ ĐI XA,

                                                                                    


                      Nhà thơ LÃM THÚY  ( 1952-2026)

TIN BUỒN.

Tin mới nhận, Nhà thơ Lãm Thúy, một tác giả rất quen thuộc với giới cầm bút Hoa Kỳ vừa đột ngột rời xa chúng ta ngày hôm qua. Bản tin ngắn do Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ vừa thông báo ngắn rằng:

"Vô cùng đau buồn thông báo đến tất cả anh chị em trong GIA ĐÌNH VBVNHN VÙNG ĐÔNG BẮC HK:

Thủ quỹ LÃM THÚY một hội viên tài năng, dễ thương, hiền hòa thân yêu của chúng ta đã ra người thiên cổ. LÃM THÚY đã đột ngột bỏ chúng ta ra đi một cách bất ngờ. Tuy LÃM THÚY bỉ bệnh đã lâu nhưng vẫn OK KHÔNG CÓ DẤU HIỆU GÌ ĐỂ CÓ THỂ NGHĨ LÀ LÃM THÚY SẼ BỎ CHÚNG TA RA ĐI NHANH CHÓNG , BẤT NGỜ NHƯ VẬY.

Xin các anh chị cầu nguyện cho LÃM THÚY được về cõi niết bàn. Có CÁO PHÓ hoặc tin tức gì thêm HT sẽ xin thông báo tiếp.Thân mến

Hồng Thủy".

 Chúng tôi đang chờ tin tức cụ thể và cáo phó của gia đình.

Chân Thành chia buồn cùng tang quyến và thương tiếc tiễn đưa một bạn văn thân thiết vừa rời xa chúng ta .


Nhà thơ Lãm Thúy
Photo by PCH - New Jersey, tháng 5.2017

                                                MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA 
                           Nhà thơ LÃM THÚY  ( 1952-2026)