Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

751 .VÕ PHÚ - Phỏng vấn NGUYỄN MINH NỮU-NGƯỜI GHI DẤU VĂN CHƯƠNG BÊN DÒNG POTOMAC

                                                                               


TRẢ LỜI PHỎNG VẤN của Tạp Chí Văn Bút Miền Đông

Nguyễn Minh Nữu – Người Ghi Dấu Văn Chương Bên  Dòng Potomac

Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, văn học Việt Nam Hải Ngoại đã trở thành một dòng chảy đầy màu sắc; nơi những ngòi bút kỳ cựu tiếp tục miệt mài sáng tác, và những cây bút trẻ âm thầm nối bước, dù còn đó không ít thử thách. Giữa dòng chảy ấy, nhà văn, nhà báo Nguyễn Minh Nữu hiện lên như một người lặng thầm nhưng bền bỉ; một “người ghi chép” tận tụy với văn chương, một “người kết nối” giữa thế hệ, và một “người gìn giữ” hồn dân tộc qua từng con chữ.

Sinh năm 1950 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1995, ông không chỉ là người cầm bút mà còn là một người khởi xướng và tạo không gian văn hóa chữ nghĩa đến với văn học và độc giả. Từ Tuần báo Văn Nghệ Washington DC đến Tạp chí Văn Phong, từ Lời Ghi Trên Đá đến bộ sách đồ sộ Viết Bên Dòng Potomac (tập 1 và 2)... mọi dấu ấn mà ông để lại đều thấm đẫm tình yêu với văn học, với quê hương, và với di sản văn hóa Việt.

Đặc biệt, hai tập sách Viết Bên Dòng Potomac, vừa mới xuất bản và ra mắt độc giả, quy tụ hơn 98 tác giả và hơn 800 trang viết, không chỉ là tuyển tập văn chương quy mô lớn, mà còn là một kho tư liệu sống động, phản ánh tâm thức của người Việt xa xứ: những hoài niệm về quê nhà, những trăn trở về ngôn ngữ và bản sắc, và cả những đối thoại thầm lặng với thời cuộc.

Với tất cả những đóng góp sâu rộng và không mệt mỏi đó, chúng tôi, Tạp chí Văn Bút Miền Ðông, xin trân trọng gửi tới quý độc giả một cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Minh Nữu. Đây là những câu hỏi không chỉ xoay quanh tác phẩm, mà còn chạm đến hành trình sống, trải nghiệm sáng tác, và niềm tin vào sứ mệnh văn chương mà ông đã theo đuổi suốt hơn nửa thế kỷ.

Tạp chí Văn Bút Miền Đông (VBMÐ):

1.   Trước hết xin ông cho biết về tiểu sử của ông và quá trình cầm bút từ năm 1970; điều gì đã thôi thúc ông chọn văn chương?

 

NMN: Năm 1965 là năm nở rộ sinh hoạt Thi văn đoàn ở miến nam Việt Nam. Lúc đó, từ  các nhật báo đều dành ra một phần cho sáng tác thiếu nhi, và rất nhiều tờ báo dành cho thanh thiếu niên ra đời với đông đảo đọc giả, có thể nhớ như Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông… Niềm vui của tuổi mới lớn đó không có TiVi, không có internet má chỉ có sách báo và trò chơi thiên nhiên. Tôi cũng như nhiều bạn đồng trang lứa lập các Thi Văn Đoàn rồi làm thơ viết văn gửi đăng  báo …là niềm vui lớn nhất. Các bạn đó, bây giờ, vẫn còn cầm bút như Linh Phương  (tác giả Kỷ vật Cho Em) Trịnh Y Thư ( Có thời làm Chủ Nhiệm Tạp Chí Văn Học Cali) …Tôi cũng vậy. Đó là một thời thật đẹp của thời thiếu nên. Sau đó , đến tuổi trưởng thành, nhập ngũ  vẫn theo đuổi những ham thích đó cho các tạp chí lớn hơn…Cho tới năm 1971, tôi mới có truyện được đăng tải trên Tạp Chí Văn thơi do Nguyễn Xuân Hoàng làm thư ký tòa soạn.

2.   Là người sáng lập và điều hành Tuần báo Văn Nghệ và Tạp chí Văn Phong  ông nhìn nhận vai trò của báo chí văn học Việt tại hải ngoại như thế nào?

NMN: Vì nhu cầu kiếm sống bằng những gì mình biết trên xứ người , tuần báo Văn Nghệ ra đời. Vì thỏa mãn đam mê chữ nghĩa và nhu cầu kết giao với bạn tri âm cùng niềm yêu thich, Tạp chí Văn phong ra đời. Vai trò của báo chí văn học hải ngoại vượt quá tầm suy nghĩ của tôi.

750 . ĐINH TRƯỜNG GIANG - Tranh Mùa Xuân

 


749. TT-THÁI AN - BA ÔNG THẦY ĐẶC BIỆT

                                                                                                   


                                                                                              


 

Hè năm 1968, khi đến chơi nhà người chị họ, tôi thấy quyển truyện “Đời Phi Công” của Toàn Phong thì mở ra xem. Chị họ bảo sách do chú Á tặng chị.  Trong bụng tôi nghĩ thầm có lẽ vì chú Á là phi công, một sỹ quan không quân nên mua sách này tặng chị đây. Đọc qua vài trang, tôi thấy lôi cuốn nên định bụng cuối tuần sẽ ra Khai Trí tìm mua.

Chị họ bảo rằng chú Á kể cho chị nghe Toàn Phong là bút hiệu thôi. Tên thật của tác giả là Nguyễn Xuân Vinh, từng là Tư Lệnh Không Quân của VNCH từ nằm 1958-1962.  Sau đó ông từ chức và qua Mỹ du học.  Năm 1968 ông Nguyễn Xuân Vinh đã có bằng Tiến Sỹ Không Gian và là giáo sư tại Đại Học bên Mỹ.  Nghe thế, tôi càng háo hức mua cho được quyển truyện này.  “Đời Phi Công” được xuất bản lần đầu năm 1959, sau đó tái bản 6 lần, và đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.

Rồi tôi cũng mua được quyển Đời Phi Công của Toàn Phong. Năm đó tôi còn nhỏ, khoảng 14 thôi, chưa mơ mộng lãng mạn như bà chị họ nhưng đọc xong thì tôi thấy bà chị yêu chú Á cũng phải.

Thời gian trôi nhanh. Bỗng chốc đến tháng 4, 1975.  Miền Nam VNCH tan hàng, triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong đó có gia đình tôi.  Người ta vượt thoát bằng mọi cách, đi mọi nơi trên thế giới.  Gia đình tôi đã đến được trại tị nạn Bushan của Đại Hàn nhưng sau đó cha tôi lại bắt vợ con theo đến Đài Loan.

Ở Đài Loan hơn 3 năm, cha tôi lại giắt vợ con qua Bolivia, tôi cũng từng đi theo gần 3 tháng rồi bỏ về Đài Loan.

Ở Đài Loan từ 1975 đến cuối hè năm 1982 thì được anh Chăn, một người Việt Nam đang dạy học ở một trường đại học cộng đồng ở thành phố Tân Trúc báo tin có giáo sư Nguyễn Xuân Vinh từ Mỹ qua dạy ở Đại Học Tinh Hoa, một đại học lớn có danh của Đài Loan.  Anh Chăn mời được gia đình giáo sư Vinh đến nhà dùng cơm, tiện thể gặp gỡ các anh em Việt Nam bên đó.

Thế là còn khoảng chục anh em Việt Nam quanh vùng Đài Bắc, họ là những sinh viên từ miền Nam Việt Nam được học bổng của chánh phủ Đài Loan trước 1975, giờ thì đã ra trường và đã có việc làm ổn định, cùng nhau đến nhà anh chị Chăn dưới Tân Trúc để gặp gỡ giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Vì đám sinh viên Việt Nam qua Đài Loan khoảng năm 1970-1975 là những người đã từng nghe tên tuổi của Tư Lệnh Không Quân Nguyễn Xuân Vinh, cũng là nhà văn Toàn Phong.

Chồng tôi là một trong những sinh viên du học Đài Loan trước 1975 nên tôi bế con đi theo chồng đến nhà anh chị Chăn để gặp giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.  Đối với tôi và tất cả anh em Việt Nam còn sót lại ở Đài Loan là một niềm hạnh phúc “tha hương ngộ cố nhân” dù ông chẳng biết chúng tôi là ai.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là một người thấp bé so với kích thước trung bình của đàn ông Việt Nam. Tôi cứ tưởng là phi công thì phải cao trên trung bình nên tôi hơi ngạc nhiên khi vừa trông thấy ông.  Ông có cái mũi mà người ta thường gọi là mũi lân, nghĩa là đầu mũi to tròn, và đầu mũi của ông có nhiều đường gân máu màu đỏ nổi dưới lớp da thấy rõ. Có lẽ người ta bảo đó là tướng làm lớn.  Ông mặc cái áo sơ mi trắng ngắn tay và cái quần tây màu đen.

748 . HỒ ĐÌNH NGHIÊM - NHỮNG LINH HỒN LẠC LỐI

                                                                                                     


 

Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi.

 

Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích. 

Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

747 . NGUYỄN SÔNG BA : VỀ NHÀ THÔI.

 VỀ NHÀ THÔI

(Hậu chuyện tình Lang Biang thời nay)
Sơn dầu 90x120 trên bố
Tranh: Nguyễn Sông Ba




Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

746 . LÃNG THANH - MIẾU ĐỀN NGUY NGA - Thơ

                                                                                                          


MIẾU ĐỀN NGUY NGA

Hiện thân nhan sắc cuộc tình

Nõn nà mướt mát cho mình đam mê

Cuồng lên cung bậc tỉ tê

Cuộn oằn oại cuốn sướng phê phủ đời

 

Rỉ rên thay thế ngôn lời

Máu rần rần chảy mắt ngời ngời lên

Hương thân khoái lạc bồng bềnh

Em như thể hóa miếu đền nguy nga

 

Tàn đêm rúng động hoan ca

Hồn say bất luận ấy là thị phi

Mai kia bờ bãi xanh rì

Mộ bia mấy chữ còn ghi nòi tình

 

Lãng Thanh

Ất Lăng thành, 0226


745 .ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên) . GIẤC MỘNG THÁNG BA - Thơ.

                                                                   

 GIẤC MỘNG THÁNG BA

Tháng Ba!
Băng tuyết tan chảy dưới vầng dương rực rỡ
Lũ Xuân ồn ào
Nước dâng
Cuồn cuộn dòng trôi
Tiễn biệt Mùa Đông xám
Tiễn biệt băng giá buồn phát khóc
Tiễn biệt chuỗi ngày ảm đạm thê lương
Vạn vạn chồi non lộc biếc
Vạn vạn bừng nở hoa
Những đám mây anh đào
Những đám mây mai vũ
Biếc xanh cỏ
Bạch mã ung dung mộng mơ hoàng tử chờ ai?
Đêm mùa Xuân thơm mùi thời gian
Giấc mơ Xuân lấp lánh thiều quang
Ta gặp Đại thi hào Johann Wolfgang von Goethe
Ồ! Dáng lãng tử hào hoa
Thiên tài thi ca
Faust - Thánh kinh Dân tộc Đức
Ồ! Sao chàng lại trẻ trai rất mực?
Đâu rồi hình bóng Quan đại thần?
Đâu rồi hình bóng Ngài Giáo sư đại học vạn quyển thiên kinh?
Đâu rồi Thi nhân trầm mặc khắc khoải u sầu cuộc nhân sinh tiến thoái lưỡng nan đôi bờ Thiện - Ác, Chân lí - Lầm lẫn, Thiên đàng - Địa ngục, Dấn thân - Giải thoát
Lưỡng nan từ thủa có Loài Người
Ta bất ngờ hoàn toàn bất ngờ
Ta người Việt - vô danh
Thi nhân siêu phàm - người Đức
Cuộc trò chuyện trong mơ còn trên cả tuyệt vời
Ta và Johann Wolfgang von Goethe hình như còn cười hồn nhiên vô tư bè bạn...

Ngôn từ không còn khoảng cách
Tiếng nói bạn bè như khúc liên ngâm
Tiếng nói bạn bè như nước chung dòng cuộn chảy
Tiếng nói bạn bè rào rạt sóng xô
Tiếng nói bạn bè như khúc hoan ca
Như khúc bi ca
Như khúc oán ca
Như khúc tráng ca
Tiếng nói...

Ơi nhân loại!
Chìm đắm trong những diễn ngôn trong suốt pha lê
Diễn ngôn về tình yêu - trong suốt
Diễn ngôn về thi ca - trong suốt
Diễn ngôn về trí tuệ - trong suốt
Diễn ngôn về chính khách về đấng Quân vương - trong suốt
Diễn ngôn về Con Người - trong suốt....
Trong suốt pha lê
Ảo tưởng pha lê điên rồ pha lê
Vỡ vụn pha lê
Khi cây - búa - ngôn - từ vung lên tàn nhẫn
"Grau, teurer Freund, ist alle Theorie,
und grün des Lebens goldner Baum.“
Xám xịt thay!
Xám xịt thay!
Đóng băng lạnh cứng những diễn ngôn phong cách pha lê!

Cả thế giới ngỡ ngàng!
Cõi nhân gian nghiêng đổ!
Người người nhà nhà trích dẫn
Và quên
Đó là lời của Quỷ Mephistopheles!
Quỷ biện - cây búa phê bình
Diễn ngôn pha lê vụn vỡ

Xanh tươi như cây đời
Như Con Người tàn ác và thánh thiện
Như Tình yêu thiêng liêng và phàm tục
Như Thi ca sáng trong và ngầu đục
Như Trí tuệ siêu việt và xuẩn ngốc
Như Chính khách khôn ngoan và ma cà chớp
Như Quân vương nhân từ và bạo ngược
Như ngôn từ sống động và cỗi cằn
Những diễn ngôn phong cách pha lê
Những cây đời xanh tươi luôn rập rình gai sắc nhọn
Những hoa thơm ngào ngạt luôn ẩn chứa khôn lường hiểm họa
Những trái quả căng tròn luôn núp náu độc dược chết người...

Lời cảnh tỉnh chao đảo đôi bờ như mơ như thực
Hỡi loài người!
Lắng nghe!
Hãy lắng nghe!
Không phải dụ ngôn nhiệm màu cổ tích!
Hãy lắng nghe!
Không phải những gì ta thích!
Hãy lắng nghe!
Không phải mê dụ thánh thư!
Hãy lắng nghe!
Ngôn từ Mephistopheles
Huỵch toẹt nhấm nhẳng cà lăm cố tình chọc giận
Cây búa ngôn từ!

Tháng Ba!
Mùa Đông xám ngắt đi qua
Giấc mộng đêm mùa Xuân ẩm ướt
Ta hóa thành thi nhân
Ngôn từ giúp ta vượt thoát
Ngôn từ giúp ta kết nối những ngàn trùng những diệu vợi xa những mông lung khác biệt
Trong mơ
Ta được gặp J.Goethe?
Hay J.Goethe được gặp ta?
Nơi Núi thiêng?
Hay nơi trần tục?

-----

(*) Đại thi hào người Đức (1749–1832)



TỰ NHIÊN NHỚ
"LONG THÀNH CẦM GIẢ CA"
của Nguyễn Du...

Diễn nôm như sau

Ồ! Thời gian sao trôi đi nhanh quá
Ta chưa kịp già
Càng chưa kịp chết
Chưa kịp hóa thành bụi đất
Mà đã thấy vật đổi sao dời...

Ta nhớ
Các quan của triều đại mới
Cực kì sung mãn ở chốn ăn chơi
Vàng ngọc họ coi như bùn đất
Sơn hào hải vị xem như cháo heo thóc vãi cho gà
Họ nói thật to
Họ cười thật lớn
Mĩ tửu như suối ê hề...

Ta nhớ
Người ca nữ khi ấy còn rất trẻ
Cầm cây đàn so dây cực kì khoan thai không vội vã
Tiếng đàn vang lên
Lẻ loi
Đơn độc
Giữa nơi tiệc tùng ồn ã
Ta may mắn được sinh ra từ nơi một thời đài các trâm anh
Thành ra nghe được những gì ẩn sau tiếng đàn của nàng
Rằng...
Những mê lầm thường khi vẫn đến với bọn người huyênh hoang đắc thắng
Những kẻ đắc thời thường dễ quên lớp băng mỏng dưới chân
Lòng tham lam vô độ
Những lời xưng tụng của lũ nịnh thần
Như mây mù che mắt
Mù lòa không thấy đường đi
Những con ngựa non hung hăng rồi sẽ kiệt sức gục ngã
Ôi! Tiếng đàn như lời nguyền
Đám quan mới dường như tai trâu ngáo ngơ cả lượt
Vinh thân phì gia là tuyệt đích
Cũng là tuyệt lộ đang chờ...

Lần này
Long Thành ta qua
Nàng ca nữ năm xưa đã tóc bạc
Ngón đàn hình như cũng khác
Phiêu du hơn, u ẩn ơn, trống rỗng bội phần
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Đám tân quan ngày ấy
Như đàn chim tan tác
Mũ cao áo dài càng thêm nặng tấm thân
Sơn hào hải vị không cứu được
Ngọc quý vàng dòng đội nón ra đi
Tiếng đàn người ca nữ già
Không than tiếc
Như hư vô nụ cười gió mây
Nhân gian dường như vẫn mù lòa điếc đặc

Long Thành!
Long Thành!
Long Thành!
Như một lời nguyền
Ai sẽ bước qua?
Ai từng sập bẫy?
Cơ nghiệp tiêu tan đã mấy lần?
Hỏi ai đã thấy?

PHẢN - THƠ

Tháng Giêng chầm chậm trôi
Ỳ ạch thời gian
Nhúc nhắc già nua lơ đãng
Tháng Giêng dở như trời nồm
Tháng Giêng ẩm mốc mùi vị bánh chưng chán ngấy
Tháng Giêng lê thê và nhảm như những văn vần cưỡng bức
Ồ tháng Giêng mùa Xuân xứ Bắc
Ngứa ngáy và khó chịu
Giặc Nguyên Mông rã rời
Tháo chạy
Chối chết và chết
Giặc Thanh chìm sông Hồng cả loạt nghẽn dòng
Ngọc Hồi tơi bời hỏa công
Xác chất chồng thành gò thành đống
Oan hồn chấp chới tro tàn vàng mã...

Tháng Giêng xứ Bắc
Buồn mưa dằng dai
Nặng mùi ẩm mục lịch sử không chịu sang trang
Bánh chưng vuông trời đất hết giao hòa
Ngũ quả hết chức năng biểu đạt ngũ hành ngũ phúc ngũ thường
Hoa đào tàn rụng cạn kiệt tin xuân
Không còn én đưa thoi
Cỏ nhân tạo nhôm nhoam màu chất dẻo
Nam thanh nữ tú ầm ào xe phân khối lớn
Thúy Kiều Kim Trọng online
Mất tiêu kì ngộ

KHƯỚC TỪ

1.

Đi.
Không cần biết nơi đến.
Chỉ biết nơi phải bỏ.
Như con chim sổ lồng
không ngoái đầu
dù một lần.
Kẻ nhốt nó
sống để dạ
chết mang theo.
Con chim bay đi.
Có thể chết trên biển bắc.
Có thể rã cánh phía trời nam.
Nó không hối tiếc.
Không oán trời
không rủa nguyền số phận.
Nó mang theo ký ức
về lồng son —
một hình thức khác của tàn ác.
Đi.
Không ruồng bỏ cố hương.
Không ruồng bỏ bạn bè.
Chỉ từ chối
cúi đầu.
Từ chối sống chung
với cái ác.
Từ chối
một hang ổ
biết gọi tên nhau
bằng thỏa hiệp.
Đi.
Dù có thể chết trên biển bắc.
Dù có thể gục phía trời nam.
Không mang theo mùi vị cố hương.
Chỉ mang theo
ký ức u buồn
của một chốn lưu đày
ẩm mốc
đến buồn nôn.
Nước lũ tràn bờ.
Mênh mông nước.
Nhấn chìm
những ao
những hồ
những bể.
Đàn cá
quen quẩn
giữa xanh và đỏ,
lười bơi,
chờ kết cục.
Chết.
Không để lại
vết nước.

2.

Từ khước.
Không thỏa hiệp.
Đám đông ồn ã.
Những mái đầu bạc
đạo mạo.
Ngôn từ cũ
mốc lên từ cổ họng,
được gọi là
khiêm cung,
nhẹ nhàng,
tế nhị.
Nổ tung ngôn từ.
Cuộc chơi nổi đóa.
Huyết áp tăng.
Càng vui.
Tiễn đưa
không trống kèn,
không cầu nguyện.
Những lão già lạc điệu
sẽ tự biến mất
trong chính
cuộc chơi chữ nghĩa
thứ vẫn được gọi là
thơ.

HỎI

Người trẻ họ đang nghĩ  những gì?
Ta hình như không biết
Hay ta vô tình không biết?
Hay ta cố tình không biết?
Ta cười nhạt hững hờ
Ta nghiêng ngó thờ ơ
Ta phẩy tay ý chừng từ khước
Ta giả bộ đăm chiêu
Ra chiều độ lượng
Và ta dặn dò và ta căn vặn đủ điều
Và ta lắc đầu hoài nghi và ta thở dài chép miệng
Ô! Người trẻ họ đang nghĩ những gì?
Hình như ta không biết

Cách xa
Khoảng trống vô hình mênh mông
Cách xa
Vực thẳm hun hút sâu
Cách xa
Sừng sững núi
Hình như ta chưa từng một lần làm cho hẹp lại
Hình như ta chưa từng một lần nỗ lực vượt qua
Hình như ta chôn chân đứng ở phía bên này và tin vào duy nhất
Tin vào những bất di bất dịch
Và ta hóa thạch
Và ta đông cứng
Ngôn từ
Ánh mắt
Ta đông cứng tự bao giờ
Hình như chính ta không hề biết...

Những người trẻ cứ ồn ào sống
Ồn ao nói
Ồn ào cười
Ồn ào vui
Buồn cũng ồn ào
Những người trẻ hình như không có ý định
Làm vừa lòng ai
Và hình như không mong đợi lời khen
Hình như chẳng mấy bận lòng trước những thất thường cha chú
Chẳng mấy bận lòng những ngày xửa ngày xưa
Những thước ngọc khuôn vàng
Những điển phạm thiêng liêng lạnh lẽo
Những tế nhị di truyền
Không mấy bận lòng
Và chọn đứng đàng xa
Ngại ngần
Hình như thế.

Chính ta cũng thảng thốt giật mình
Người trẻ họ đang nghĩ những gì?
Tránh xa?
Khước từ?
Làm ngơ?
Lật đổ?