Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026
933 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG viết nhạc, NGUYỄN MINH NỮU viết lời, Tiếng hát Ngọc Huy
932. NP PHAN - NGƯỜI CON DÂU NHÀ HỌ PHAN
1.
Thuở nhỏ, tôi cứ đinh ninh họ Phan nhà
tôi toàn là người bên lương, không có ai và không có nhà nào theo đạo Thiên
chúa. Đối với tôi, những người bên đạo rất xa lạ bởi không cùng tín ngưỡng thờ
cúng ông bà tổ tiên như mình, mặc dù làng tôi rất gần hai giáo xứ lớn của tổng
Trung Châu, phủ Diên Khánh xưa: Giáo xứ Đại Điền và giáo xứ Cây Vông.
Vậy mà, có đôi lần, cha tôi đã dẫn tôi
đi thăm những người (bà con) bên đạo ở làng Đại Điền Nam, thuộc xã Diên Sơn,
nơi tọa lạc nhà thờ Cây Vông. Tôi chỉ còn nhớ hai người. Một người là một phụ
nữ lớn tuổi mà cha tôi gọi là cô Ba (tôi gọi là bà Ba) và một người đàn ông cao
lớn, mặt rỗ mà cha tôi gọi là anh Tư (tôi gọi là bác Tư). Bác Tư là một viên
chức cảnh sát của chính quyền VNCH, mà hình như cha tôi đang có việc nhờ che
chở. Ở cả hai nhà, tôi chỉ nhớ mang máng là có bàn thờ chúa Jesus rất trang
trọng.
Tôi chỉ nhớ có vậy, không hề nghĩ là có
mối liên hệ gì giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con ấy. Tuổi còn nhỏ, chỉ
lo học và chơi nên tôi chẳng quan tâm hay hỏi cha tôi về mối quan hệ này.
Bẵng đi hàng chục năm, tôi cũng quên đi
những chuyến viếng thăm của hai cha con tôi thuở nào.
Mãi hơn hai mươi năm sau ngày thống
nhất, qua lời kể của cha tôi và những câu chuyện góp nhặt từ những người lớn
tuổi, tôi mới biết được mối liên hệ giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con
bên đạo kia.
Họ vốn là những người cháu của bà cao tổ
(bà sơ) họ Phan nhà tôi, một tín đồ Thiên chúa giáo ngoan đạo.
931 . PHẠM VĂN NHÀN Đọc: Tưởng Chừng Đã Quên của Nguyên Minh
PHẠM VĂN NHÀN
Đọc: Tưởng Chừng Đã Quên của Nguyên Minh
( Thư An Quán in & tái bản- Hoa Kỳ
2004 )
Trần Hoài Thư viết :Lời Mở” cho tập truyện : Màu Thời Gian của tôi. Anh viết: “....được đọc một tác phẩm của một tác giả mà mình yêu mến là một niềm vui. Càng vui mừng hơn nữa khi tác giả ấy là một người cùng một thế hệ, cùng một lứa tuổi, trên vai mang cùng chung những thăng trầm của lịch sử...”. Đoạn văn ngắn mà anh Trần Hoài Thư viết trên có gì là “quá đáng ” không, khi anh viết về tôi? Tôi nghĩ là không. Không quá đáng và cũng không “ cường điệu ” gì cả trong câu viết ấy. Tôi nghĩ: anh đã trải lòng mình trên những trang giây để viết “ Lời Mở ” cho tập truyện của Tôi. Và, hôm nay, tôi cũng trải lòng mình khi đọc xong một tác phẩm của người bạn cũ. Tác phẩm Tưởng Chừng Đã Quên của nhà văn Nguyên Minh.
Đọc tác
phẩm của anh để thấy có tôi trong đó; mà đã bao nhiêu năm lầm lũi sống, trong
nước cũng như ra hải ngoại, tôi cứ ngỡ những cậu chuyện, những người bạn một
thời, như: Tưởng Chừng Đã Quên mất rồi.
Vâng!
Nhìn lại thời gian trước 1975, trong quãng đời quân ngũ rày đây mai đó của tôi.
Tôi không gặp lại anh: kể từ khi anh rời khỏi khu phố cổ ngắn và đầy bóng râm
trên con đường Nguyễn Thái Học, Phan Rang - ngôi nhà mang số 11- để vào Sài Gòn
lo cho nhà in và tiếp tục làm tờ Ý Thức. Hình như cuối năm 1969 (?). Và sau đó
đời lính của tôi cũng rời khỏi nơi đóng quân ở Tháp Chàm, để đi đến một nơi
khác, cho mãi đến tháng 4 năm 1975. Ngay cả những bạn bè lúc ấy, nơi thành phố
nhỏ bé Phan Rang tôi cũng không gặp lại kể từ năm ấy. Ai nhỉ, nào: Trân Hoài
Thư, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Ngy Hữu, Chu Trầm Nguyên Minh, Tô Đình
Sự...Cũng vì bao nỗi thăng trầm của lịch sử... nói to lớn cho vui vậy thôi, chứ
thật ra, đời lính thú mà, họ sai đâu thì đi đó. Cũng vì sai đâu đi đó, mà bạn
bè khó gặp lại...Trước 1975, nghe đâu, Trần Hoài Thư đổi vào Nam, thỉnh thoảng
có “dù ” về Sài Gòn gặp Nguyên Minh nơi tòa soạn Ý Thức. Và, cũng từ chỗ này,
Thư còn gặp nhiều anh em khác nữa. Còn tôi thì biệt tăm cá nhạn.
Để rồi,
vào tháng tư năm 1975, bạn bè lại mỗi người mỗi ngã, tan tác. Gặp nhau rất khó.
Tôi thì “chôn chân” tại một thành phố biển nhỏ bé như trong lòng bàn tay. Phan
Thiết. Âm thầm mà sống. Nào ngờ! Đúng quá Nguyên Minh ạ. Tác phẩm của anh Tưởng Chừng Đã Quên. ( Bốn chữ này tôi phải viết hoa và đồ lại cho
đậm nét). Vâng! Với tôi, tôi tưởng tôi quên hết rồi. Ngay như vào cuối năm 1982
được lịnh cho về trong nỗi cơ hàn của một “ bần sĩ ” chánh hiệu . Ngồi bên lề
quốc lộ 1, thành phố Tuy Hòa để đón chuyến xe đò xuôi Nam tìm lại vợ con. Hôm
ấy, lòng buồn não nuột. Tuy Hòa cũng có những người bạn một thời trân quý. Ngồi
giữa lòng thành phố Tuy Hòa nhưng nghe sao rất xa với bạn bè, anh em thuở nào.
Nào: Nguyễn Lệ Uyên , Mang Viên Long, Phạm Ngọc Lư , Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình
Huy Quang và anh Trần Huiền Ân...không biết có còn ở nơi đây không. Hay trở về
quê cũ? Nhớ như in trong trí nhớ, gần
trong khu não bộ, mà sao thấy xa quá. Như NLU, tôi cứ ngỡ bạn ta còn đứng nơi
bục giảng ở đâu miệt sông nước Hậu Giang. Nào ngờ bạn ta cũng đã trở về cày sâu
cuốc bẩm nơi quê nhà Phú Yên. Phải chi biết được NLU ở đó, chắc ngày về của tôi
cũng “ râm rang ” chuyện trò suốt đêm với vài ba ly rượu đế.
Để rồi,
với thời còn bao cấp, đi đứng khó khăn của một người trở về từ một nơi chẳng
được “ lành lặn ” cho mấy. Đành vậy:
Tưởng chừng đã quên. Ấy thế mà hôm nay, chính anh ( Nguyên Minh ) đã đưa tôi về
với bạn bè, với những địa danh nơi tôi đã đi qua, đã một thời “ lăn lộn ”. Tập
truyện ngắn Tưởng Chừng Đã Quên của anh, anh viết cho anh, cho những bạn bè của
anh, và cho cả tình yêu ban đầu của anh nữa, mà sao như anh viết cho chính
tôi...vậy.
930 . HOÀNG XUÂN SƠN - Đứng - Ta còn đứng
ĐỨNG
Anh vẫn đứng. và đứng mãi như thế
Đợi trời trồng thêm một cột tang thương
Áo đã bụi sao còn long lanh chớp
Mắt choáng nâu từ cảnh thổ hoang đường
Sẽ thấy anh sừng sững chiếc trụ đồng
Vững muôn đời không bao giờ gục ngã
Cho dù có hàng trăm vạn lời nguyền
Tình yêu linh thiêng không hề mặc cả
Chỉ một mình em làm anh lu câm
Một lần quay mặt cột đồng rơi lệ
Màu teng xanh loang rã đến âm thầm
Ăn hết màu từng kỷ niệm hoang phế
Và cổ tích mở đầu chương sách cổ
Giấy đã toan xé duyên nợ hồng trần
Nếu thấy dây thắt vòng treo lơ lửng
Là sợi buồn tình thắt cổ hồi âm
•
h o à n g x u â n s ơ n
21. Aout.2026
TA CÒN ĐỨNG
_______________
Mây vàng cuốn hút không gian
Nơi ta còn đứng giữa hang hốc mình
Tuổi đời
Thân nhục vô minh
Sơn hà đến độ
Rụng hình bóng nhau
Bạc xám tóc tơ loạn màu
Ta không còn biết về đâu trạm chờ
Em còn nhớ chuyện bài thơ?
Sao mây
Và dải huyền cơ rộn tình
Ta biết nỗi về rung rinh
Hốt nhiên cơn địa chấn
Thình lình
Ngưng
Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026
929 . HOÀNG KIM OANH - Ta buồn như đá- lạnh ngàn năm
TA BUỒN NHƯ ĐÁ- LẠNH NGÀN NĂM…
(Đọc tập thơ Mênh
mông chiều của Lê Thị Ái Niệm)
Xao
xuyến vì ai những đêm rằm
Những
bước chân xa không dừng lại
Ta
buồn như đá – lạnh ngàn năm…
(Bài
thơ tặng ngày sinh nhật)
Đá vốn là một vật thể cứng rắn vô tri. Nhưng thẳm sâu trong cội nguồn thần thoại của đá,
“linh hồn con người và đá có một mối liên quan chặt chẽ (...) Đá không phải là
những khối vô hồn; những tảng đá sống rơi từ trên trời xuống, sau khi rơi xuống
chúng vẫn là những vật sống (...) Đá và người đại diện cho sự vận động theo hai chiều: đi
lên và đi xuống”[i]… Những hòn đá thô là biểu tượng của tự do, trăm năm ngàn
năm lặng lẽ giữa đất trời ấy, hấp thụ mọi tinh khí của vũ trụ, đã biến thành một
vật thiêng. Ví nỗi buồn như “đá” khiến nỗi buồn của chủ thể “ta” lồng lộng lạ
thường, nhưng
cũng là nỗi câm lặng cô đơn tột cùng tuyệt nhiên không thể chia sẻ, giãi bày.
Tác giả còn nhấn mạnh tiếp
ở vế sau: “lạnh ngàn năm”. Cái số nhiều không xác định, không đo đếm được ấy thực sự đã gợi lên một cái gì vừa
lớn lao sâu đậm, vừa vĩnh cửu, vĩnh hằng.
Phải chăng đó cũng là nỗi buồn trót “mang nặng kiếp người” được thức nhận trong
cái vô cùng của vũ trụ mênh mông?
928 . NGUYỄN VY KHANH - Văn Học Hải Ngoại gia đoạn hình thành 1980-1986
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]
[Ghi chú: Các biên khảo, tuyển tập văn-chương,… xuất bản từ
năm 1980 đến 2025, sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương sau-Một số Nội dung
và Thể loại văn-chương]
GIAI-ĐOẠN TỊ-NẠN CHÍNH-TRỊ
(giai đoạn hình thành, 1980-1986)
Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở
ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Năm 1980 đánh đấu sự
tham gia sinh hoạt văn-nghệ, báo-chí của đợt thuyền nhân/boat people từ đầu năm
1979, chính-trị rõ hơn với kinh nghiệm sống với cộng-sản Hà-nội của người miền
Nam và một phần người miền Bắc (đa số là “bộ-nhân” sang Trung-quốc và Hương
Cảng) và sự xuất hiện tích cực một thời của các Mặt Trận chống Cộng và đấu
tranh nhắm lật đổ chế độ cộng-sản trong nước. Nhà văn GS Đặng Phùng Quân nói về
giai đoạn văn học này như sau: “… văn học lưu vong đã thực sự hình thành; lúc
bấy giờ tôi gọi nó là một văn chương thời thế bởi nhà văn không còn là một hiện
tượng đơn độc mà thể hiện qua một tập thể đông đảo tạo thành một sinh mệnh, một
thế lực văn chương đặc biệt. Tôi coi nó đã mang nguyên vẹn cơ sở văn học từ
trong nước ra bên ngoài. Ðiều này không những là một thách đố mà còn là một
thái độ xóa bỏ cái văn chương bị chỉ đạo ở trong nước, cái văn chương của tập
đoàn văn nghệ chỉ huy và những kẻ cầm bút ăn lương biên chế. Quan điểm này hẳn
làm phiền lòng những người ấy, nhưng đó là một thực tại chứng thực kinh qua sự
tồn tại và phát triển của nó trong một phần tư thế kỷ nay. (Tẩu Khúc Văn
Chương/Triết Lý)
Cộng đồng nhà văn Việt-Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn.
Đặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm
với cộng sản, và đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Đã vậy họ bị cấm viết,
bị cầm tù vì hoặc với "tư cách" là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi
lính cho chế độ Cộng hoà. Nay vượt biên, “đi chui”, hoặc đoàn tụ gia đình (bắt
đầu từ năm 1979, 1980 tùy quốc-gia), tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận
văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại nhờ đó sung tích và đa dạng hơn nữa.
Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn
chính trị, từ tâm thức bị phản bội vào thời 30-4-1975, nay người Việt hải-ngoại
nhận chân chính-nghĩa luôn ở về phía người tị nạn, lưu vong. Viết về chiến
tranh, đa phần vẫn là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng
cay của các trại “cải tạo” và của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí
chống cộng sản độc tài, những trì trệ không “giải phóng” được đất nước khỏi
nghèo đói và chậm tiến, điều này đưa đến khuynh-hướng phục quốc trong
văn-chương đã đành mà còn thực sự song hành với những phản kháng, nổi dậy chống
cộng-sản ở trong nước.
Hơn nữa, trên bình diện thế giới, “chiến-tranh lạnh” vẫn
còn đó, mạnh hơn trước với những “bật mí” về các thủ đoạn tuyên truyền của tập
thể khối cộng-sản cùng đám trí thức thiên tả Âu Mỹ trong chiến-tranh Việt-Nam
cũng như nhiều nơi khác, và sẽ đi vào thời kỳ chót năm 1989.
Giai đoạn này có thêm những nhà văn thơ thuyền nhân và có
những nhà văn viết vì phẫn nộ. Thuyền nhân tị nạn là một bộ mặt khác của
chiến-tranh và sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào
lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những
kẻ thua trận không đặc sắc. Người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc
thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc.
Cũng là thời của những cây viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn, Cung
Vũ, Võ Kỳ Điền, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Trần Long Hồ, Nguyễn Ý Thuần,
Thế Giang (Trần Hưng, 1958 -), Vĩnh Hảo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vũ
Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong,
Võ Hoàng,... bên cạnh những nhà văn tị nạn đã từng hoạt động trước 1975 ở quê
nhà như Nhật Tiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An, … Các tờ Hồn Việt,
Đất Mới, Văn Học Nghệ Thuật, Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Đen, Người Việt,
Việt-Nam Hải Ngoại,… ở Hoa-Kỳ và Làng Văn, Dân Quyền ở Canada và Quê Mẹ ở Pháp
đã là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới và chống Cộng.
Giai đoạn hai, tạp-chí văn-chương Văn Học Nghệ Thuật tiếp
tục với bộ mới, 5-1985 và đổi thành Văn Học “tạp chí sáng tác nhận định văn
nghệ” từ tháng 2-1986, Mai Thảo tục bản tạp chí Văn (7-1982), cũng như xuất
hiện Làng Văn (1984) thu hút được nhiều cây bút mới bên cạnh những nhà văn đã
nổi tiếng,…
Không khí chiến tranh thường trực, không quốc-cộng thì nội
bộ hải ngoại, làm như Việt-Nam là một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa
qua và cái độc “di tản” phần nào ra ngoài nước. Các nhà văn khai thác chủ đề
chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu,
tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu
không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.
Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết
vì phẫn nộ như Nhật Tiến: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của
người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh
cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể
hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ
đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những
đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (6)
Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo,
Nguyễn Mộng Giác, v.v. Ngoài sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh
thức phần nào lương tâm nhân loại và hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của
thế giới cộng sản và thiên tả đã chỉ có giá trị giai đoạn, khi hoả mù chiến
tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới
văn hoá Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Todd, v.v.
Tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực do tuần báo Văn Nghệ Tiền
Phong xuất-bản lần đầu năm 1980 với tựa Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam
“192 bài thơ bi hùng” - ghi Khuyết Danh, theo thông tin khả tín là của Nguyễn
Chí Thiện lúc đó còn ở trong nước, đã thành công ném tập thơ vào sân tòa đại sứ
Anh ở Hà-Nội, được xuất bản như một tiếng sét khác đánh động lương tâm con
người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ấn bản ghi là do
Ủy-ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính-trị tại Việt-Nam, tiếp đó VIVO tức Tổ chức
Người Việt Thiện Chí tái-bản năm 1981 nguyên văn bản đầu, rồi sau đó văn bản và
tựa bị sửa (7).
Nguyễn Chí Thiện từ ngục tối, khi nghe tin miền Nam rơi vào
tay quỷ đã than:
"Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
Cả nước đã quay về một mối
- Một mối hận thù, một mối đau thương !
Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Đảng tới là tan nát cả!
Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa
Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?
Đau đớn này không chỉ riêng ta
Mà tất cả!
Cả những kẻ đã nằm trong mả
Và những bào thai trong bụng mẹ chót sinh ra
Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha
Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ
(...) Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác
Đến bao giờ lấy lại được giang san!
Chế độ này trâu ngựa sống không an
Sài lang đã dựng xong nền thống trị
Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ?
Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn
Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!"
(Vì Ấu Trĩ)
927 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH - ĐẶNG THƠ THƠ- RONG CHƠI NGOÀI THỜI GIAN, CÕI VẠN HOA CỦA SÁNG TẠO
Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của
một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi
trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới
bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc
cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp.
Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác
tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy
như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc
mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một
quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm
biết. Nó lại rơi vào khái niệm thời gian phi tuyến tính mà triết gia John
William Dunne đề cập đến trong một nghiên cứu của ông và kết luận rằng, “Giấc
Mơ là một minh chứng cho quan điểm trục thời gian đa chiều đồng hiện diện.” Tôi
cảm thấy tôi có cái gì đó hơi khác -cái khác mơ hồ- rằng ở tôi, giấc mơ là khởi
đầu vụ mùa, ở J.W.Dunne giấc mơ là thu hoạch, dù ngẫu nhiên cả hai đều minh chứng
cho sự không trật tự cùng xuất hiện của thời gian. Tôi thấy mình rất dễ để lọt
vào và rất ổn thỏa sống trong cái lộn xộn đó.
Cũng tâm thái ấy, tôi có được khi đọc Phòng Triển
Lãm Mùa Đông của nhà văn Đặng Thơ Thơ, và sau đó là xoay sở cho lọt vào những
con chữ mang đầy ý nghĩa bức phá hiện thực của tập truyện này.
Tôi đọc lần này, cách lần trước 15 năm. Vẫn cảm được
cái huyễn ảo, huyền ảo của phong khí* ấy, nhưng khác trước, lần này không những
tôi Đọc, mà tôi Sống cùng thảy những tầng lớp ngữ nghĩa, ngữ cảnh của nhà văn.
Một lần tôi chủ động, một lần tôi bị động.
Chủ động cảm xúc của mình tiếp nhận một cách chủ
quan.
Bị động vì sự quyến rũ của những cánh cửa suy tưởng
của nhà văn mở ra thách thức. Bị động nên mất phương hướng trong miệt mài tìm
kiếm, và tôi bị lạc trong cái quy ước tâm linh của chính tôi. Hóa ra trong cái
chập chùng tôi tưởng là phi trình tự vẫn theo một xoay chuyển có lập trình của
vô thức. Cõi giấc mơ hiện ra trong sự không định vị Không gian và Thời gian, ở Đặng
Thơ Thơ, ngoài vai minh chứng cho cái phi tuyến tính của thời gian- còn cho cả cái
linh hoạt của không gian. Ngữ cảnh Thơ Thơ xoay chuyển mọi ngõ ngách. ký ức của
quá khứ, ký ức của hiện tại và ký ức của tương lai, nó đồng loạt sống dậy, khi
nhà văn cần đến, lội ngược dòng cái nhìn cố hữu, giải mã ổn thỏa phi thực- thực,
đem lại hiệu quả tái cấu trúc hiện thực với những tầng lớp không- thời- gian
trong từng cung bậc của cảm nhận tương ứng.
926 . THÙNG RƯỢU AMONTILLADO Truyện ngắn Edgar Allan Poe ( 1809 - 1849 ) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu
Edgar Allan Poe là một nhà văn nổi tiếng người Mỹ, xuất sắc trong thơ, truyện, tiểu thuyết, tiểu luận, báo chí lãng mạn và phê bình. Tác phẩm của ông nổi bật so với phần còn lại của văn học thời đó do bầu không khí tối tăm và kỳ dị của nó.
Edgar Poe họ tên đầy đủ là Edgar Allan Poe sinh ngày 19.1.1809 tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts trong một gia đình nghệ sĩ. Người cha, David Poe, mất khi cậu con trai Edgar chưa chào đời, còn người mẹ Eliza cũng từ trần lúc Edgar Poe mới tròn ba tuổi.
Cậu
bé mồ
côi được John Allan, một nhà buôn thuốc lá giàu có nhận về nuôi. Rồi
Poe ghi danh vào Đại học Virginia, nhưng chỉ theo học được năm đầu và quyết định
xung vào quân
đội. Đó là khoảng giữa năm 1827, cũng là thời điểm xuất hiện cuốn sách đầu tiên
của Poe.
Sau khi giải ngũ với quân hàm trung sĩ vào đầu năm 1829, Edgar Poe cho ấn hành đầu sách thứ hai có tựa đề Al Aaraf gây tiếng vang lớn. Kế tiếp Poe thi đậu vào Học viện Quân sự West Point và lại… bỏ dở để “dốc lòng” theo nghiệp văn chương.
Cuộc
đời đầy những mất mát của Poe đã
để lại một dấu ấn đậm nét
trong những sáng tác của ông, tạo nên một không khí u uẩn và bi thương.
Trong
suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với
những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố, mẹ, anh trai, mẹ nuôi, đặc
biệt là người vợ trẻ Virginia.
Sau
một thời gian dài đấu tranh với bệnh lao, người vợ của Edgar đã ra đi khi tuổi
còn quá trẻ vào năm 1847. Một lần nữa,
một người phụ nữ yêu dấu đã rời bỏ Edgar mà đi. Một lần nữa, Edgar lại
chìm trong đau đớn.
Điều này có thể đã để lại những vết thương tâm lý và tình cảm sâu sắc nơi ông,
lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết.
Cái
chết của người vợ yêu dấu đẩy Edgar
Poe tới chỗ kiệt quệ, sức khoẻ suy sụp, bởi
Virginia luôn là nguồn sáng tạo mạnh mẽ của Poe, khiến Poe cảm thấy được những ấm áp mà từ
nhỏ ông đã không thể có được.
Chỉ 2 năm sau, ngày 7.10.1849, người ta tìm thấy Edgar Poe trong một quán rượu tại Baltimore, quần áo tả tơi, mê sảng, không biết mình ở đâu. Nhà văn được đưa vào bệnh viện và qua đời 4 ngày sau đó, hưởng dương 40 tuổi.
Cái chết của ông cũng mang nhiều bí ẩn như chính những tác phẩm của ông. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.
Truyện ngắn
giới thiệu dưới đây được đăng tải lần đầu tiên trong số tháng 11 năm 1846 của tạp
chí Godey’s Lady Book.
Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026
925 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - NGÀY NÀO CHO MÁ
NGÀY NÀO CHO MÁ
Tháng bảy lại về,
không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về
chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan
là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm
thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu
là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung
cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng
biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất, lúc bấy
giờ họ đem cả ông bà, cha mẹ, thầy tổ…ra đấu tố). Nói vô thần là ngày xưa chứ
bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất.
Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng
mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.
Không biết tự bao
giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo
cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những
sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền
hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân
văn của hiếu hội Vu Lan.
Hiếu nào chỉ một
ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết
chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới,
ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên
ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha
mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới
có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật
chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều
con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích
chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ
trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự
sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo
của người và vật.
Người Việt là những
cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự
gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của
người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những
hình tượng to lớn kỹ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ
ràng
Công cha như núi
Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra
924 . NGUYÊN CẨN - Hạt bụi trong đáy mắt
Buổi
chiều ông Hòa ra phía trước hiên nhà ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế dựa. Ông ngả
người nheo nheo cặp mắt. Những ngày này, dọc theo mấy cánh đồng xả lũ, thấy
trắng xóa một màu mênh mông của nước. Nước tràn qua bờ ruộng, lấp lánh ánh mặt
trời trong buổi ban mai, rồi chấp chới sắc vàng dìu dịu lúc chiều tà. Là người
dành cả đời sống cùng mùa lũ, ông cảm nhận rõ nét nhất sự đổi thay của mẹ thiên
nhiên.
Con
sông Vàm Cỏ muôn đời vẫn thế, ít khi dâng lên dữ dội mà chỉ mấp mé bờ trong
những ngày nước lớn. Con sông vòng tay ôm quanh xã Long Hựu từ bao lâu nay,
thời chưa chia ra Đông – Tây như bây giờ. Long Hựu thuộc vùng hạ huyện Cần Đước
là một xã vùng sâu, ngăn cách với thị trấn Cần Đước bởi kênh nước mặn, là xã
cuối cùng của tỉnh Long An, nằm đối mặt với Biển Đông có đồn Rạch Cát. Địa hình
khá bằng phẳng hơi nghiêng về phía biển Đông chia ra làm hai vùng thượng - hạ
ranh giới là nơi kinh Xóm Bồ nối với Rạch Đào. Nơi ông ngồi hôm nay thuộc Long
Hựu tây, phía bắc giáp xã Long Hựu Đông và Phước Đông. Các phía còn lại giáp
tỉnh Tiền Giang.
Vùng
đất này lúc xưa ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản nên người dân riết rồi quen
với việc sống với cả hai phía. Nhiều gia đình có người phục vụ cả hai bên như
gia đình ông Hòa. Ông nhớ thằng Bình, em ông, gương mặt điển trai, ánh mắt luôn
đượm buồn không hiểu vì sao, hay nó đã tiên liệu số phận yểu mệnh của nó. Nó
học giỏi hơn ông nên đậu tú tài xong bị ông già bắt đi lính quốc gia vì ổng sợ
bị lão xã trưởng Khiêm dòm ngó. Gia đình có một thằng đi sĩ quan là an toàn
hơn, trong khi mấy ông chú toàn người phía bên kia. Chú Năm Điệp người đã bày
vẽ cho ông Hòa con đường đến với cách mạng, là một người người sống với lý
tưởng cao đẹp, lúc nào ông cũng ngợi ca xã hội miền Bắc và những người sống
ngoài đó, chừng như ông nằm trong gan ruột họ vậy! Hòa ngả dần theo lý tưởng ấy
lúc nào không biết, anh giả vờ té trật chân, nằm nhà một thời gian và tránh đi
lính vì là người con duy nhất còn lại trong gia đình khi thằng em đã là sĩ quan
quân đội Cộng hòa. Nhưng ban đêm anh đi
xuồng vô trong những căn nhà mái lá núp trong những bụi cây bên kia sông, họp
hành, nghe phổ biến nghị quyết. Ở đó anh đã gặp lại Loan, con bác Ba Tiết, bạn
ông già. Loan mặt mày xinh xắn trắng trẻo, nụ cười như người ta hay nói như hoa
hàm tiếu, liếc nhìn rồi khúc khích cười nên ông đặt cho nàng biệt danh “Loan lý
lắc”, nhưng ban đêm Loan làm giao liên tích cực chuyển gạo thuốc vào vùng giải
phóng cho bộ đội.
Ông
nghĩ ông may mắn được sinh ra và lớn lên cùng mùa lũ. Hồi ấy, dân quê ít ai kêu
“lũ”, họ chỉ quen với “mùa nước nổi”, hay chân chất nữa là “mùa nước lên”. Đời
sống vật chất những năm đó còn thiếu thốn, nhưng mùa nước nổi thì vô cùng hào
phóng. Thời điểm đó, người ta chỉ cần có gạo ăn là yên tâm sống qua mùa lũ, bởi
cái thuật ngữ “chim trời, cá nước” còn đúng lắm. Trong ký ức của ông, bước sang
đầu tháng 5 (âm lịch) thì con nước ngoài sông đã xuất hiện màu đỏ của phù sa.
Khi đó, cá linh non xuất hiện ở chợ quê, trong tiếng lèo xèo cười nói của các
bà, các mẹ. Ông không biết cá linh non thời điểm đó thành đặc sản hay chưa,
nhưng với đám con nít quê thì nó là món ăn quen thuộc. Cứ thấy chảo cá linh kho
ớt bốc khói thơm lừng trong mâm cơm chiều, là sà xuống mâm, chở cơm nóng. Những
ngày ấy sao vui và hồn nhiên quá. Nếu không có chiến tranh! Than ôi chiến tranh
đi qua để lại bao tang thương và trong lòng ông đầy những vết xước dù ông được
phong anh hùng, dù ông đeo huy chương bao lần, ông vẫn không nuốt nổi nỗi buồn
khi nghĩ đến cái chết của thằng Bình.
Từ
ngày về hưu, mỗi chiều, ông ngồi nhìn ra bờ sông Vàm Cỏ, dõi mắt nhìn theo
triền sông màu vàng rực bông điên điển. Theo những người dân miền Tây, điên
điển ngày xưa là cây hoang dã, thuộc họ đậu thân gỗ nhỏ, dễ thích nghi với môi
trường và có sức sống mãnh liệt ở vùng ngập nước theo mùa. Bông có màu vàng
tươi, là thức ăn giàu dinh dưỡng cho hương vị thơm, giòn, bùi, béo. Từng chùm
bông điên điển nở vàng rực khắp các bờ đê, ven sông. Mỗi mùa điên điển, nhìn
người ta chống xuồng trong từng bờ rạch, bờ đê hái những chùm bông vàng rực để
làm rau ăn trong mỗi bữa cơm. Chính cuộc sống khó khăn từ xa xưa đã tạo nên sự
sáng tạo trong từng bữa cơm của người dân miền sông nước Nam Bộ mỗi mùa nước lũ
tràn về trên khắp các cánh đồng. Cây điên điển mọc ở các đầm ao, hay trồng theo
các bờ ranh hoặc đất trống. Cây phát triển rất nhanh, điều đặc biệt không cần
chăm sóc, hay đầu tư phân thuốc mà vẫn cho bông rất sai, nhờ vậy đã giúp rất
nhiều người dân nghèo ở vùng lũ tăng thêm thu nhập.
Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026
923 . SONG THAO - CẢM “HẠ CÁNH CỬA ĐỜI NGỘ CÁI TÔI” CỦA LUÂN HOÁN
“Hạ Cánh Cửa
Đời Ngộ Cái Tôi” là tập thơ
mới nhất, nhưng được ông cho biết là tập thơ cuối cùng, của nhà thơ
Luân Hoán. Tập thơ dày cộm tới 450 trang gồm 206 bài mới viết trong những năm
gần đây đã được ông để ở trước lan can nhà tôi vào ngày 12/8 vừa qua. Ông này
hình như thích hít thở không gian bạn bè sống. Tôi đã có lần kể chuyện sáng mùng một tết, ông lái xe đi một vòng
thành phố, ghé dán vài câu thơ chúc trên cửa nhà bạn bè. Chỉ vậy thôi. Không
rung chuông, không gặp gỡ. Lần này cũng vậy, ông cho thơ nhưng không diện kiến.
Về nhà, ông lại cho thơ :
chiều hè gió
nhạt nắng sâu
ghé cửa nhà bạn,
quay đầu về luôn
cuốn sách
tặng để trước gương
cửa nhà bạn,
nơi vẫn thường tới chơi
trong lòng cả
đống không vui
vào lây cho
bạn ngậm ngùi hay sao
thơ tặng, đã
rất dật dờ
mang tâm
"viếng mộ" sợ hồ đồ thêm
tuổi sương
tuyết mỏng mảnh mềm
nghĩ linh
tinh chuyện lênh đênh mây trời
quay về ngồi
lại chỗ ngồi
còn chưa thể
bỏ, bồi hồi buồn thêm
Chuyện không vui của ông là chuyện ông vừa tới
viếng “mộ” ông.
định đi thăm
lại "mộ" mình
bởi buồn một
cách thình lình, chiều qua
mí mắt máy cứ
như là
có chuyện chi
đó xảy ra bất ngờ
đến cổng
nghĩa trang không vào
tiện tay bấm
vidéo lạnh lùng
hình ảnh
quang cảnh lung tung
"mộ"
đâu phải mộ, ôi khung kính buồn!