Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

925 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - NGÀY NÀO CHO MÁ

                                                                                      


NGÀY NÀO CHO MÁ

Tháng bảy lại về, không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất, lúc bấy giờ họ đem cả ông bà, cha mẹ, thầy tổ…ra đấu tố). Nói vô thần là ngày xưa chứ bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất. Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.

Không biết tự bao giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân văn của hiếu hội Vu Lan.

Hiếu nào chỉ một ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới, ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo của người và vật.

Người Việt là những cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những hình tượng to lớn kỹ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ ràng

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

924 . NGUYÊN CẨN - Hạt bụi trong đáy mắt

                                                                                                    



Buổi chiều ông Hòa ra phía trước hiên nhà ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế dựa. Ông ngả người nheo nheo cặp mắt. Những ngày này, dọc theo mấy cánh đồng xả lũ, thấy trắng xóa một màu mênh mông của nước. Nước tràn qua bờ ruộng, lấp lánh ánh mặt trời trong buổi ban mai, rồi chấp chới sắc vàng dìu dịu lúc chiều tà. Là người dành cả đời sống cùng mùa lũ, ông cảm nhận rõ nét nhất sự đổi thay của mẹ thiên nhiên.

Con sông Vàm Cỏ muôn đời vẫn thế, ít khi dâng lên dữ dội mà chỉ mấp mé bờ trong những ngày nước lớn. Con sông vòng tay ôm quanh xã Long Hựu từ bao lâu nay, thời chưa chia ra Đông – Tây như bây giờ. Long Hựu thuộc vùng hạ huyện Cần Đước là một xã vùng sâu, ngăn cách với thị trấn Cần Đước bởi kênh nước mặn, là xã cuối cùng của tỉnh Long An, nằm đối mặt với Biển Đông có đồn Rạch Cát. Địa hình khá bằng phẳng hơi nghiêng về phía biển Đông chia ra làm hai vùng thượng - hạ ranh giới là nơi kinh Xóm Bồ nối với Rạch Đào. Nơi ông ngồi hôm nay thuộc Long Hựu tây, phía bắc giáp xã Long Hựu Đông và Phước Đông. Các phía còn lại giáp tỉnh Tiền Giang.

Vùng đất này lúc xưa ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản nên người dân riết rồi quen với việc sống với cả hai phía. Nhiều gia đình có người phục vụ cả hai bên như gia đình ông Hòa. Ông nhớ thằng Bình, em ông, gương mặt điển trai, ánh mắt luôn đượm buồn không hiểu vì sao, hay nó đã tiên liệu số phận yểu mệnh của nó. Nó học giỏi hơn ông nên đậu tú tài xong bị ông già bắt đi lính quốc gia vì ổng sợ bị lão xã trưởng Khiêm dòm ngó. Gia đình có một thằng đi sĩ quan là an toàn hơn, trong khi mấy ông chú toàn người phía bên kia. Chú Năm Điệp người đã bày vẽ cho ông Hòa con đường đến với cách mạng, là một người người sống với lý tưởng cao đẹp, lúc nào ông cũng ngợi ca xã hội miền Bắc và những người sống ngoài đó, chừng như ông nằm trong gan ruột họ vậy! Hòa ngả dần theo lý tưởng ấy lúc nào không biết, anh giả vờ té trật chân, nằm nhà một thời gian và tránh đi lính vì là người con duy nhất còn lại trong gia đình khi thằng em đã là sĩ quan quân đội  Cộng hòa. Nhưng ban đêm anh đi xuồng vô trong những căn nhà mái lá núp trong những bụi cây bên kia sông, họp hành, nghe phổ biến nghị quyết. Ở đó anh đã gặp lại Loan, con bác Ba Tiết, bạn ông già. Loan mặt mày xinh xắn trắng trẻo, nụ cười như người ta hay nói như hoa hàm tiếu, liếc nhìn rồi khúc khích cười nên ông đặt cho nàng biệt danh “Loan lý lắc”, nhưng ban đêm Loan làm giao liên tích cực chuyển gạo thuốc vào vùng giải phóng cho bộ đội.

Ông nghĩ ông may mắn được sinh ra và lớn lên cùng mùa lũ. Hồi ấy, dân quê ít ai kêu “lũ”, họ chỉ quen với “mùa nước nổi”, hay chân chất nữa là “mùa nước lên”. Đời sống vật chất những năm đó còn thiếu thốn, nhưng mùa nước nổi thì vô cùng hào phóng. Thời điểm đó, người ta chỉ cần có gạo ăn là yên tâm sống qua mùa lũ, bởi cái thuật ngữ “chim trời, cá nước” còn đúng lắm. Trong ký ức của ông, bước sang đầu tháng 5 (âm lịch) thì con nước ngoài sông đã xuất hiện màu đỏ của phù sa. Khi đó, cá linh non xuất hiện ở chợ quê, trong tiếng lèo xèo cười nói của các bà, các mẹ. Ông không biết cá linh non thời điểm đó thành đặc sản hay chưa, nhưng với đám con nít quê thì nó là món ăn quen thuộc. Cứ thấy chảo cá linh kho ớt bốc khói thơm lừng trong mâm cơm chiều, là sà xuống mâm, chở cơm nóng. Những ngày ấy sao vui và hồn nhiên quá. Nếu không có chiến tranh! Than ôi chiến tranh đi qua để lại bao tang thương và trong lòng ông đầy những vết xước dù ông được phong anh hùng, dù ông đeo huy chương bao lần, ông vẫn không nuốt nổi nỗi buồn khi nghĩ đến cái chết của thằng Bình.

Từ ngày về hưu, mỗi chiều, ông ngồi nhìn ra bờ sông Vàm Cỏ, dõi mắt nhìn theo triền sông màu vàng rực bông điên điển. Theo những người dân miền Tây, điên điển ngày xưa là cây hoang dã, thuộc họ đậu thân gỗ nhỏ, dễ thích nghi với môi trường và có sức sống mãnh liệt ở vùng ngập nước theo mùa. Bông có màu vàng tươi, là thức ăn giàu dinh dưỡng cho hương vị thơm, giòn, bùi, béo. Từng chùm bông điên điển nở vàng rực khắp các bờ đê, ven sông. Mỗi mùa điên điển, nhìn người ta chống xuồng trong từng bờ rạch, bờ đê hái những chùm bông vàng rực để làm rau ăn trong mỗi bữa cơm. Chính cuộc sống khó khăn từ xa xưa đã tạo nên sự sáng tạo trong từng bữa cơm của người dân miền sông nước Nam Bộ mỗi mùa nước lũ tràn về trên khắp các cánh đồng. Cây điên điển mọc ở các đầm ao, hay trồng theo các bờ ranh hoặc đất trống. Cây phát triển rất nhanh, điều đặc biệt không cần chăm sóc, hay đầu tư phân thuốc mà vẫn cho bông rất sai, nhờ vậy đã giúp rất nhiều người dân nghèo ở vùng lũ tăng thêm thu nhập.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

923 . SONG THAO - CẢM “HẠ CÁNH CỬA ĐỜI NGỘ CÁI TÔI” CỦA LUÂN HOÁN

                                                                                              


 

Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi” là tập thơ mới nhất, nhưng được ông cho biết là tập thơ cuối cùng, của nhà thơ Luân Hoán. Tập thơ dày cộm tới 450 trang gồm 206 bài mới viết trong những năm gần đây đã được ông để ở trước lan can nhà tôi vào ngày 12/8 vừa qua. Ông này hình như thích hít thở không gian bạn bè sống. Tôi đã có lần kể chuyện  sáng mùng một tết, ông lái xe đi một vòng thành phố, ghé dán vài câu thơ chúc trên cửa nhà bạn bè. Chỉ vậy thôi. Không rung chuông, không gặp gỡ. Lần này cũng vậy, ông cho thơ nhưng không diện kiến. Về nhà, ông lại cho thơ :

 

chiều hè gió nhạt nắng sâu

ghé cửa nhà bạn, quay đầu về luôn

cuốn sách tặng để trước gương

cửa nhà bạn, nơi vẫn thường tới chơi

trong lòng cả đống không vui

vào lây cho bạn ngậm ngùi hay sao

thơ tặng, đã rất dật dờ

mang tâm "viếng mộ" sợ hồ đồ thêm

tuổi sương tuyết mỏng mảnh mềm

nghĩ linh tinh chuyện lênh đênh mây trời

quay về ngồi lại chỗ ngồi

còn chưa thể bỏ, bồi hồi buồn thêm

 

Chuyện không vui của ông là chuyện ông vừa tới viếng “mộ” ông.

 

định đi thăm lại "mộ" mình

bởi buồn một cách thình lình, chiều qua

mí mắt máy cứ như là

có chuyện chi đó xảy ra bất ngờ

đến cổng nghĩa trang không vào

tiện tay bấm vidéo lạnh lùng

hình ảnh quang cảnh lung tung

"mộ" đâu phải mộ, ôi khung kính buồn!

922 . NGUYỄN ĐỨC TÙNG - TƯỞNG NIỆM CUNG TÍCH BIỀN

                                                                                     


TƯỞNG NIỆM CUNG TÍCH BIỀN

Nguyễn Đức Tùng

Khi tôi đọc truyện Bạch Hóa của Cung Tích Biền lần đầu tiên, miền Nam vừa sụp đổ. Đó là mùa hè năm 1975. Tôi mua được cuốn Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, do Nguyễn Đông Ngạc biên tập, xuất bản năm 1974, trong chợ Cồn, một chợ trời nổi tiếng ở Đà Nẵng thời ấy. Trong tập có Cung Tích Biền bên cạnh bốn mươi bốn nhà văn khác của miền Nam, bắt đầu với Bình Nguyên Lộc và kết thúc với Vũ Khắc Khoan. Truyện do các tác giả tự chọn.

Cầm cuốn sách bìa cứng in rất đẹp trên tay, mua với giá rẻ mạt, tôi nghĩ đó là món quà của miền Nam tự do gửi lại.

Vào lúc ấy, thật khó khăn để nói về chiến tranh. Thật khó khăn để nói về cái chết. Khi một người đang ở trong chiến tranh, giữa những cái chết, những điều ấy lại là những điều khó nói nhất. Buồn bã, bất an, thương tiếc có mặt khắp mọi nơi. Có những con chó hoang, có những đường phố tan tác. Đà Nẵng, nơi tôi ở với chị tôi, vừa đi qua những ngày như thế. Giữa nỗi buồn còn quá mới ấy, từ một truyện ngắn bước ra những điều mà tôi chưa biết gọi tên: tội ác, sự phản bội, cái chết như một ảo tưởng, quyền lực của lý tưởng, ảo tưởng cách mạng, sự đánh mất khuôn mặt của mình, sự tan vỡ. Tất cả làm nên hình ảnh miền Nam thời ấy: thất bại, tủi nhục, buồn bã, mất phương hướng. Bạch Hóa ở lại trong tôi từ lần đọc đầu tiên. Và nó còn ở đó mãi.

Thực ra, trước đó vài năm, tôi đã đọc Luống cải vàng của cùng tác giả, đăng nhiều kỳ trên báo Đời của Chu Tử. Đó là một truyện dài. Tôi còn nhớ nó, nhưng ký ức về nó đã trở nên mờ nhòe. Sau này, khi gặp nhà văn Cung Tích Biền ở California, tôi hỏi anh về truyện ấy, bởi tôi không tìm thấy tài liệu nào nhắc đến nó. Anh xác nhận rằng quả thật anh đã viết Luống cải vàng đăng trên báo Đời, nhưng tác phẩm chưa bao giờ được xuất bản thành sách. Nó thuộc về một nền văn học mà nhiều văn bản đã thất lạc.

Cung Tích Biền tên thật là Trần Ngọc Thao, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1936 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Anh viết từ sớm, nhưng bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện từ những năm 1960. Đó cũng là lúc chiến tranh bước vào giai đoạn khốc liệt. Đà Nẵng thay đổi với thủy quân lục chiến M ỹ. Cuộc sống đầy âu lo nhưng cũng sôi nổi, đẹp, rộn ràng. Những truyện ngắn của anh thời đó: Nỗi buồn thắp sáng, Ai tỉnh ai điên, Hòa bình nàng tình rỗng. Sau năm 1975, bẵng đi hơn mười năm, anh trở lại với Thằng Bắt Quỷ, Xứ Động Vật, Chim Cánh Cụt, Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử.

Cung Tích Biền không phải chỉ là một nhà văn viết về lịch sử. Anh viết về những gì lịch sử đã làm đối với con người. Quê hương còn đó nhưng con người sống trên quê hương mình có thể đã trở thành kẻ lưu vong. Cung Tích Biền không đứng ngoài lịch sử để quan sát và phán xét nó. Anh trôi nổi theo dòng chảy của lịch sử, sống chết với nó, vừa như một nạn nhân, vừa như một người quan sát. Theo chính ngôn ngữ của Cung Tích Biền, anh sống trong phòng đợi của lịch sử. Văn của Cung Tích Biền không cầu kỳ. Câu thường ngắn, giản dị, tiết kiệm. Anh không phải là nhà văn chủ tâm làm mới ngôn ngữ. Sức mạnh của anh nằm ở những ý tưởng bên dưới câu văn, ở khả năng chọn một tình huống, một hành vi, một chi tiết rất nhỏ để qua đó làm lộ ra sự phi lý của đời sống và chiến tranh. Sau hơn mười năm im tiếng, khi viết trở lại vào cuối những năm 1980, Cung Tích Biền vẫn là Cung Tích Biền, nhưng truyện của anh ngày càng mang tính ngụ ngôn và phi lý. Theo tôi, đó không hẳn là một phương pháp sáng tác được lựa chọn từ trước. Đó là sự phi lý của chính đời sống sau chiến tranh. Xứ Động Vật ra đời trong hoàn cảnh ấy. Con người sống trong một xã hội hòa bình nhưng tan nát, nơi các giá trị bị đảo lộn. Con người còn là con người đến đâu? Từ một nhà văn viết bên trong chiến tranh, Cung Tích Biền sống sót để thực hiện một thứ văn chương khác: văn chương hậu chiến của miền Nam, và sâu xa hơn, một nền văn chương hậu chấn thương.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

921 . BAN MAI - CUNG TÍCH BIỀN VÀ XỨ ĐỘNG VẬT MÀU HUYẾT DỤ

 



Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông.


Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.


Cung Tích Biền là nhà văn Miền Nam độc lập, ông thú nhận, sau năm 1975 “Tôi tự cô lập bằng cách sống ẩn mình,…đoạn tuyệt với những mối quan hệ không cần thiết, trong hòa đồng xã hội…giữ vị thế cô đơn để trọn vẹn cuộc Hành nghiệp”. Sau thời hậu chiến, ông lặng lẽ chiêm nghiệm, miệt mài sáng tác và hơn 30 năm sau, tự mình xuất bản chỉ để lưu lại cho đời Bộ Tổng Tập Văn chương gồm trên 10 quyển, non 7.000 trang sách.


Tôi gặp ông cũng thật bất ngờ, buổi chiều hôm ấy thật đông bạn bè. Đặng Hiền về thăm, có Lê Thánh Thư, Thận Nhiên, Lý Đợi, Inrasara, Đami… Đặng Hiền phone mời ông đến, tôi không thể nghĩ người đàn ông tóc bạc phơ, với khuôn mặt tươi trẻ, nụ cười rạng rỡ toát lên vẻ yêu đời, bên cạnh một cô gái cháy bỏng lại là ông. Một nhà văn ít xuất hiện trước đám đông, giọng văn cay độc, với cách nhìn đời lão luyện quá thâm sâu, tôi nghĩ phải là một nhà hiền triết, không thể là một “Lão ngoan đồng” như vậy. Nhưng tôi đã sai. Đúng là Văn và Người hoàn toàn tách biệt. Sau này, Trần Vũ kể ông thích khiêu vũ và nhảy rất điệu nghệ. Có lần Vũ và ông đi hộp đêm, Cung Tích Biền thuê cave quay valse và tango điêu luyện.


Sau vài ly rượu, Lê Thánh Thư cao hứng ký họa ngay trên bàn rượu hình ảnh của Cung Tích Biền, Thận Nhiên và tôi…Đặng Hiền đòi giữ bản quyền cho HL khi có bài in. Không biết bây giờ có còn không? Nhìn là vậy, nhưng ông chỉ mỉm cười ngồi nghe mấy kẻ hậu sinh tranh nhau luận bàn, tôi ngồi im nhìn ông. Và tò mò nhìn cô gái cùng đi rất điệu nghệ chăm sóc ông chu đáo. Ông nói sẽ gửi cho tôi các tập sách đang in và đã giữ lời hứa. Một năm sau, tôi nhận được 5 tập sách ông gửi. Tập hợp hầu hết những trước tác của đời ông. Sách in đẹp, với lời đề từ trang trọng. Ông tự in ấn, với phần ghi chú rỏ ràng, khẳng định quyền xuất bản của nhà văn không cần ai kiểm duyệt. “NXB Một mình. Có mục đích bảo lưu tác phẩm và tác quyền của tác giả. Việc phổ biến có giới hạn, không lệ thuộc vào bất cứ điều luật nào hạn chế việc Tự do phổ biến Tác phẩm”.

920 . LÊ ĐỨC LUẬN - BUỔI CHIỀU TRÊN BÃI BIỂN NHA TRANG

                                                                      


     

        Ngồi trên bãi biển Nha Trang khi thủy triều xuống cuốn nước xa bờ để lại vạt cát dài màu trắng mịn, nắng chiều chiếu xiên trên mặt biển gợn sóng lăn tăn… trông như dải lụa dát vàng lung linh đến tận các hải đảo xa mờ mây nước, khách nhàn du mê mẩn với sắc màu kỳ diệu của buổi chiều tà mà quên hết cảnh huyên náo chung quanh. 

        Bãi biển Nha Trang được thiên nhiên ưu đãi với các hòn đảo bao quanh như Hòn Tre, Hòn Én, Hòn Mun…v…v… che chắn các trận cuồng phong từ ngoài khơi thổi vào, nên ít khi có sóng lớn - dù lúc triều dâng, mặt biển cũng chỉ gợn lên làn sóng nhẹ.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

        Nha Trang không rõ nét thời tiết bốn mùa mà chỉ có mùa khô từ tháng Giêng đến tháng Chín, nhiệt độ trung bình 27 độ C; sang mùa mưa từ tháng Chín đến tháng Mười Hai, nhiệt độ trung bình 24 đến 25 độ C. Cho nên du khách có thể đến Nha Trang quanh năm - thoải mái với vùng nhiệt đới ảnh hưởng khí hậu đại dương ôn hòa.

       Do đó, du khách trong và ngoài nước đã đến Nha Trang mỗi ngày một đông và được ca ngợi là vùng biển nghỉ dưỡng lý tưởng cho người cao tuổi. 

       Quả là như vậy! Buổi sáng tinh mơ, ra bãi biển, đi chân trần trên cát mịn, nơi bọt sóng trắng vừa vỗ vào bờ, ta nghe như biển mặn thấm vào da… Rồi chờ mặt trời nhô lên mặt biển - rực rỡ ánh bình minh! Bấy giờ, gió nam non hiu hiu thổi, vừa đủ cho mái tóc bồng bềnh - cứ thế ta đi cho đến lúc nắng mai tỏa khắp làm mồ hôi rìn rịn…ta trầm mình xuống biển. Rồi chiều về, dưới chiếc dù cắm sẵn, ngả lưng trên chiếc ghế dài ngắm các cô gái mặc bikini hai mảnh - lồ lộ tấm thân trần ngà ngọc…Ngọn gió nồm mát rượi từ biển thổi vào mơn trớn làn da làm lòng ta rạo rực… 

Ôi! Có tìm lên Thiên đàng tắm biển cũng hấp dẫn đến thế là cùng… 

                                                                                                                                                                                                                                                                       

       Mùa hè năm rồi, ông bà Frank đã chọn phố biển Nha Trang làm nơi nghỉ dưỡng. 

       Bà Frank chọn Nha Trang là do tình cờ đọc được quảng cáo về các “Tour Du Lịch Sinh Thái” ở Việt Nam, còn ông Frank chọn Nha Trang là vì ông muốn tìm lại những kỷ niệm của mối tình đầu dang dở gần năm mươi năm về trước.  

        Năm 1972, ông Frank sang Việt Nam làm việc trong Trung tâm huấn luyện không quân Nha Trang. Nơi đây ông gặp một người con gái trong đêm dạ vũ - nàng có vẻ đẹp liêu trai với làn tóc mượt mà, óng ả xõa ngang vai làm ông say đắm… ông theo đuổi… Nhưng không dễ chút nào, vì nàng con nhà lễ giáo, cha nàng là một sĩ quan cao cấp của trung tâm huấn luyện và rất nghiêm khắc. Vậy mà, tiếng sét ái tình đã đem đến cho họ một mối tình rất lãng mạn.

        Gần một năm đằm thắm trôi qua, đợi một lễ cưới trang trọng theo ý muốn của cha nàng. Nhưng cuối năm 1974, tình hình chính trị ở Việt Nam biến chuyển, Frank được lệnh rời khỏi Việt Nam gấp rút. Họ đành chia tay trong nỗi ngậm ngùi.

        Trước đêm chia tay, họ trao cho nhau tất cả ân tình… và hẹn ngày tái ngộ. Không ngờ một lần ân ái, Frank đã để lại giọt máu của mình trong thân thể người đàn bà. 

         Rồi biến cố ngày 30-4-1975 đã cắt đứt mọi mối dây liên lạc. Từ đó, hai mảnh đời son trẻ rẽ ra hai hướng.

        Frank về Mỹ, mấy năm đầu sống trong sự nhớ thương ray rứt… chàng tìm đủ mọi cách để trở lại Việt Nam tìm người yêu, nhưng không được vì lúc đó Mỹ đang cấm vận Việt Nam. 

        Thất vọng, chán chường! Ba năm sau, Frank lập gia đình với người bạn gái học cùng trường thời High School.

        Còn nàng rời khỏi Nha Trang, lên Buôn Mê Thuột, sau khi nhà cửa ở Nha Trang bị tịch thu và người cha bị đưa vào trại cải tạo.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

917. VŨ NGUYỄN - Cung Tích Biền - một người anh, một người viết

Cung Tích Biền – một người anh, một người viết

V.N.


Có những người ta biết từ lâu mà vẫn tưởng như còn có thể gặp lại vào một sáng Chúa nhật nào đó. Vẫn là quán cà phê quen thuộc, vẫn những khuôn mặt quen thuộc, vẫn những câu chuyện văn chương không đầu không cuối. Người ấy có thể hôm nay vắng mặt vì bận việc, vì đau chân, vì đi chơi xa, hay chỉ vì ngại ra đường. Ta không nghĩ rằng đó là lần cuối cùng.

Đó là anh Cung Tích Biền của tôi.

Theo thông tin của gia đình, anh sinh năm Bính Tý 1936, cùng tuổi với giáo sư Trần Huy Bích. Tuy nhiên trong những buổi họp mặt, có khi anh khai sinh năm 1938 bằng anh Phạm Phú Minh, hay thậm chí 1940. Có lẽ anh không muốn làm ra vẻ mình cao tuổi nhất trong bàn. Hai người đều là những bậc đàn anh mà tôi kính trọng, nhưng mỗi người một vẻ. Nếu anh Bích là người của chữ nghĩa Hán học, của thư tịch, của khảo cứu và những cuộc chuyện trò có thể kéo dài từ một chữ trong câu thơ đến cả một thời đại văn học, thì Cung Tích Biền lại là người của văn chương trải qua nhiều dâu bể của thời cuộc, một nhà văn đã sống, đã viết, đã im lặng, rồi lại viết, và sau cùng vẫn đứng đó như một chứng nhân của một thời đại nhiều biến động.

Anh đã có một vị trí riêng trong văn đàn Việt Nam từ trước năm 1975. Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện từ năm 1966 trên tuần báo Nghệ Thuật, rồi những truyện của anh lần lượt xuất hiện trên nhiều báo và tạp chí văn học ở miền Nam. Sau những năm dài gần như gác bút, anh trở lại với văn chương, và tiếp tục viết trong nhiều thập niên. Người đọc ở trong nước cũng như ở hải ngoại đều biết đến tên tuổi anh.

Nhưng đối với tôi, Cung Tích Biền trước hết không phải là một cái tên trong lịch sử văn học. Anh là một người anh. Và có lẽ vì vậy mà tin anh ra đi đến với tôi trong một hoàn cảnh lạ lùng đến nỗi tôi cứ thấy lòng mình ngẩn ngơ.

… Một ngày “trùng cửu”


Ngày 9 tháng 9 vừa rồi, chúng tôi vẫn đùa nhau gọi là ngày “trùng cửu”. Cũng là ngày sinh nhật nhà thơ Thành Tôn. Anh em văn nghệ chúng tôi làm một cuộc họp mặt nho nhỏ tại Phở Gà Dakao vào buổi trưa, vừa ăn vừa chúc mừng sinh nhật anh Thành Tôn, rồi lại như thường lệ, nói đủ chuyện trên trời dưới đất: sách vở, văn chương, những người quen cũ, những chuyện ngày xưa mà nói mãi vẫn chưa hết.

Theo lịch trình, hôm ấy anh Cung Tích Biền và chị Hoàng Kim đang đi cruise nên chúng tôi không mời. Chẳng ai nghĩ gì khác. Người đang đi chơi thì cứ để người ta đi chơi. Anh em gặp nhau hôm nào chẳng được.

Nào ngờ, trong lúc chúng tôi đang vui vẻ tán gẫu thì anh đã ra đi, vào lúc 12 giờ 25 phút. Chỉ cách chúng tôi một khoảng thời gian ngắn, mà bỗng nhiên xa nhau cả một đời.

Tôi không biết phải gọi đó là sự trùng hợp, hay một thứ nghịch lý nào của đời người. Chúng tôi ngồi bên nhau, nói cười giữa một buổi trưa bình thường. Còn một người anh thân tình thì lặng lẽ đi qua một cánh cửa mà không ai trong chúng tôi hay biết.

Nếu biết trước, có lẽ tôi đã mời anh. Nếu biết trước, có lẽ tôi đã nói với anh vài câu. Nhưng đời sống không bao giờ cho người ta biết trước những cuộc chia tay.

Bởi vậy, điều còn lại không phải là những lời chưa kịp nói, mà là những câu chuyện đã nói từ lâu, những buổi sáng đã qua, những bữa cơm đã ăn, những lần gặp gỡ tưởng như rất bình thường mà nay bỗng trở thành kỷ niệm.

… Những sáng Chúa nhật ở Coffee Factory


Tôi vẫn nhớ những buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory.

Ngày ấy anh em văn nghệ tụ họp khá đông. Có khi bàn này nối sang bàn khác, người đến trước ngồi chờ người đến sau, cà phê hết ly này đến ly khác mà câu chuyện thì chẳng bao giờ hết.

Anh Cung Tích Biền thường ngồi đó, hòa nhã, từ tốn. Anh không phải kiểu người nói chuyện ồn ào để mọi người phải nghe mình. Anh nói với người này dăm ba câu, với người kia vài câu. Có khi một câu chuyện tưởng đã xong rồi, anh lại góp thêm một ý nhỏ, nghe tưởng như vu vơ mà ngẫm lại mới thấy có cái gì đáng nhớ.

Biết tôi thích cổ văn và Hán Nôm, anh thỉnh thoảng lại kéo tôi vào một câu chuyện chữ nghĩa.

Anh có cái thú của người đọc nhiều: gặp một điển tích cũ thì nhắc lại, gặp một thành ngữ nhiều người hiểu sai thì sửa lại cho vui. Không phải lúc nào anh cũng giảng giải dài dòng. Nhiều khi chỉ một câu nói tếu mà làm cho người nghe nhớ cả đời.

Có lần anh nói về thành ngữ “loan phụng hòa minh”. Anh giải thích chữ minh  ở đây là tiếng hót, tiếng gáy của chim; “loan” và “phụng” cùng cất tiếng hòa nhau, chứ không phải chữ minh  là sáng. Rồi anh lại pha một câu đùa rằng có người còn hiểu thành chữ , thế là từ “minh” thành ra… dốt!

Anh nói tỉnh bơ, làm tôi bật cười.

Những câu chuyện như thế có thể không phải là những điều lớn lao. Nhưng đời sống của một người đôi khi lại được làm nên bởi chính những điều nhỏ bé như vậy. Một câu chuyện bên ly cà phê, một chữ Hán được giải thích, một tiếng cười giữa những người cùng yêu chữ nghĩa – rồi đến một ngày, người kể câu chuyện ấy không còn ngồi ở chiếc bàn quen thuộc nữa.

Ta mới hiểu mình đã mất đi một điều gì.

 

… Cái chủ quan đáng yêu của một bậc trưởng thượng

Anh là người hòa nhã, nhưng dĩ nhiên, như mọi bậc đàn anh, anh cũng có cái chủ quan của… bậc trưởng thượng.

Tôi nhớ một lần trong buổi ra mắt sách của anh Bùi Vĩnh Phúc. Tôi chỉ cho anh xem bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và bản dịch tiếng Anh trong sách. Bản dịch mà anh Bùi Vĩnh Phúc đưa ra trong sách khá ngô nghê, và cái ngô nghê ấy lại được anh ghi nhận một cách hóm hỉnh. Tôi bật cười.

Anh Cung Tích Biền liền nói đại ý: “Bài ấy đã có bản dịch rất hay của Witter Bynner rồi. Dịch lại làm chi.”

Tôi không tiện phản đối một bậc đàn anh. Nhưng trong bụng tôi nghĩ: chuyện văn chương đâu phải lúc nào cũng đơn giản như thế.

Một bài thơ hay không phải chỉ có một bản dịch hay. Ngay trong tiếng Việt, riêng bài Hoàng Hạc Lâu đã có biết bao bản dịch của Ngô Tất Tố, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Khương Hữu Dụng, Bùi Khánh Đản, Vũ Hoàng Chương… rồi không biết bao nhiêu bản khác nữa, kể cả những bản phiếm dịch, ngẫu dịch, dịch chơi cho vui.

Vậy thì tại sao người ta lại dịch lại?

Bởi vì người dịch không chỉ dịch bài thơ. Nhiều khi người ta dịch chính mình.

Một bài thơ đọc ở tuổi hai mươi không giống bài thơ ấy đọc ở tuổi năm mươi. Một câu thơ khi còn trẻ có thể chỉ là câu thơ; đến lúc tóc đã bạc, nó bỗng có thêm một tầng nghĩa của chia lìa, của thời gian, của những người đã mất.

Ngay chính tôi, thỉnh thoảng cũng dịch lại, hoặc viết phiếm luận về Hoàng Hạc Lâu. Tôi nghĩ anh cũng hiểu điều đó. Người ta viết lại một bài thơ cũ đôi khi không phải để người khác đọc. Mà để nhìn lại mình.

Có lẽ vì thế mà những bài thơ nổi tiếng nhất của nhân loại vẫn tiếp tục được dịch, được đọc, được giảng, được viết lại. Mỗi thế hệ có một cách nhìn; mỗi tuổi đời có một cách hiểu.

Và mỗi người đọc, sau cùng, lại tìm thấy mình trong một câu thơ của người xưa.

… Một câu chuyện rất đời


Tôi cũng nhớ những bữa cơm gia đình khi anh chị ghé nhà tôi cùng một số thân hữu.

Chị Hoàng Kim kể chuyện quá trình học ở Cal State Fullerton. Anh ngồi bên cạnh, có lúc ghé tai tôi nói nhỏ:

“Hồi ở Việt Nam, chị mày lấy xe gắn máy chở tao đi uống cà phê.”

Tôi bật cười.

Chẳng phải chuyện văn chương gì cả.

Chỉ là một mẩu chuyện của đời sống.

Nhưng nó làm hiện ra cả một quãng đời khác: Việt Nam ngày trước, những con đường cũ, chiếc xe gắn máy, những quán cà phê, những người hàng xóm, những bạn bè văn nghệ. Khi ấy anh chị là hàng xóm của chị Ý Nhi.

Có những người cả đời viết hàng ngàn trang sách, nhưng đôi khi một câu nói rất ngắn về chiếc xe gắn máy năm nào lại khiến người nghe hình dung được cả một thời.

Có lẽ đó cũng là cái duyên của một người viết: sống qua những chuyện rất bình thường, nhưng trong trí nhớ lại giữ được cái bóng của một thời đã mất.

 

… Những cuốn sách chưa số hóa

Khoảng năm 2010, anh có lần ngỏ ý nhờ tôi giúp số hóa sách vở của anh ngày xưa.

Thời ấy các chương trình OCR còn rất sơ khai. Những bản sách in typo cũ, giấy xấu, chữ nhòe, scan lại có độ phân giải thấp – máy đọc chữ gần như chịu thua. Muốn làm cho ra hồn thì phải sửa từng trang, từng chữ.

Tôi lúc ấy còn bận chuyện mưu sinh. Mà công việc thì quả thật… khó quá. Đành phải từ chối anh.

Tôi đề nghị anh nhờ anh bác sĩ Hoàng Hưng hoặc nhờ bạn bè bên Việt Nam đánh máy lại. Tôi nghĩ cách ấy vừa nhanh hơn vừa đỡ tốn kém. Anh nghe lời và anh đã làm. Rồi từ đó, hết cuốn này đến cuốn khác, những tác phẩm cũ của anh được đánh máy, sửa chữa, tái bản. Một đời viết tưởng như nằm yên trong những chồng sách cũ lại được đưa trở về với người đọc.

Mỗi khi tái bản được dăm ba đầu sách, anh chị lại tổ chức một buổi ra mắt ở Coffee Factory.

Tôi nhớ những buổi như thế.

Anh ký tặng sách cho thân hữu. Người ta đến không chỉ để mua sách, mà còn để gặp anh, gặp bạn bè và nghe chuyện văn chương. Chị Hoàng Kim lại trổ tài nấu nướng, thế là một buổi ra mắt sách nhiều khi trở thành một buổi họp mặt gia đình lớn.

Có người mua một cuốn. Có người mua vài cuốn. Có người mua để đọc, có người mua để làm kỷ niệm. Nhưng tôi nghĩ sâu xa hơn, người ta mua sách của anh vì muốn giữ lại một phần đời văn chương ấy trong tủ sách gia đình.

Sách, trong trường hợp này, không chỉ là sách.

Nó là ký ức.

 

… Một đời đứng giữa những biến động


Cung Tích Biền là một trường hợp đặc biệt trong văn học Việt Nam hiện đại.

Ông trưởng thành trong chiến tranh, từng sống ở những phía khác nhau của lịch sử, từng khoác áo lính, từng mang lon đại úy trước khi giải ngũ năm 1973, từng giảng dạy, từng viết văn trong một thời kỳ mà văn chương miền Nam phát triển mạnh mẽ. Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, có một thời gian dài gần như gác bút, rồi trở lại với văn chương vào những năm sau đó…

Những năm tháng ấy không phải chỉ là những mốc trong tiểu sử. Chúng là những năm tháng đã đi vào văn chương của ông.

Bởi vậy, đọc Cung Tích Biền không thể chỉ đọc câu chữ. Phải đọc cả cái bóng của lịch sử đứng phía sau câu chữ.

Có những nhà văn được thời đại nâng lên. Có những nhà văn bị thời đại vùi xuống. Có những người may mắn được lịch sử đối xử nhẹ tay. Và cũng có những người phải sống rất lâu với những câu hỏi mà thời đại để lại.

Cung Tích Biền thuộc về thế hệ đã đi qua một trong những đoạn lịch sử khốc liệt nhất của đất nước. Nhưng điều đáng kể là sau tất cả những biến động ấy, ông vẫn còn giữ được một thứ mà người viết cần nhất: tiếng nói riêng của mình.

Ông không chỉ viết để kể chuyện. Ông viết để đối thoại với đời sống. Và đôi khi, để đối thoại với chính mình. Có lẽ vì thế mà văn chương của Cung Tích Biền vẫn còn người đọc sau nhiều chục năm. Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với một nhân vật, một ý tưởng, một cách nhìn của ông. Nhưng khó thể phủ nhận rằng đó là tiếng nói của một người đã sống rất sâu trong thời đại mình.

 

… Một người anh vừa đi xa


Tôi vẫn nghĩ về buổi trưa ngày 9 tháng 9. Chúng tôi ngồi ở Phở Gà Dakao, chúc mừng sinh nhật Thành Tôn, nói cười và tán gẫu. Nếu lúc ấy có ai nói với tôi rằng chỉ ít phút sau anh Cung Tích Biền sẽ ra đi, chắc tôi không thể tin được.

Con người ta thường tưởng rằng những người mình quen biết vẫn còn đó. Anh Cung Tích Biền vẫn còn đó trong ký ức tôi: một buổi sáng Chúa nhật ở Coffee Factory; một câu chuyện về chữ ; một câu nói tếu về chữ “minh”; một cuộc tranh luận về chuyện dịch Hoàng Hạc Lâu; một bữa cơm gia đình; một lần anh nhờ số hóa sách; những buổi ra mắt sách ở Coffee Factory; những cuốn sách được chuyền tay nhau; và giọng nói từ tốn của một người anh.

Có những người để lại cho đời một thư mục tác phẩm. Có những người để lại một thư mục ký ức.

Cung Tích Biền để lại cả hai.

Và đối với tôi, có lẽ thư mục ký ức ấy mới là điều khó mở ra nhất, bởi mỗi lần mở lại, tôi lại thấy một người anh đang ngồi đâu đó, bình thản nói chuyện với người này vài câu, người kia vài câu; rồi bất chợt quay sang tôi, nhắc một chữ Hán, một điển tích, một thành ngữ mà thiên hạ vẫn hiểu lầm.

Tôi sẽ còn nhớ câu chuyện về “loan phụng hòa minh”. Bởi từ nay, chữ  ấy đối với tôi không chỉ còn là tiếng chim hót. Nó còn là tiếng nói của một người anh. Một tiếng nói đã từng vang lên giữa những buổi sáng cà phê, giữa những cuộc chuyện trò văn chương, giữa một cộng đồng những người cầm bút xa quê.

Rồi một ngày, tiếng nói ấy bỗng im. Nhưng văn chương thì không im. Những trang sách vẫn còn đó. Những cuốn sách anh đã nhọc công cho tái bản vẫn còn đó. Những câu chuyện anh kể vẫn còn đó. Và những người từng ngồi bên anh, như tôi, sẽ còn kể lại. Để một người viết không chỉ được nhớ vì những gì anh đã viết, mà còn được nhớ vì anh đã từng sống giữa chúng ta như thế nào.

Anh Cung Tích Biền đã đi rồi.

Nhưng trong một buổi sáng Chúa nhật nào đó, nếu tôi lại ngồi ở Coffee Factory, tôi biết mình vẫn sẽ vô thức nhìn sang chiếc ghế quen thuộc, như chờ một người anh đến trễ.

Và có lẽ trong một lúc nào đó, giữa câu chuyện của bạn bè, tôi sẽ lại nghe như có tiếng anh từ đâu đó:

“Chữ ấy là , không phải  đâu!”

Rồi tôi sẽ cười.

Và nhớ anh.

V.N

 

918 . NGÔ THẾ VINH: CON ĐƯỜNG SÁCH SÀI GÒN VÀ CÂU CHUYỆN ĐỐT SÁCH

 



CON ĐƯỜNG SÁCH LỊCH SỬ

Khởi từ ý tưởng của báo Tuổi Trẻ, ngày 15.10.2015, Sở Thông Tin và Truyền Thông Thành phố đã khởi công xây dựng con Đường Sách trên đường Nguyễn Văn Bình [là tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình] phường Bến Nghé, Quận I TP. HCM. Đây là một con đường nhỏ nằm bên hông Bưu điện Thành phố, nối liền Nhà Thờ Đức Bà và đường Hai Bà Trưng nhưng có ưu điểm là nằm ngay trong khu vực trung tâm thành phố, đây không chỉ là một không gian sinh hoạt văn hóa mà còn là một tụ điểm du lịch, là nơi thường xuyên có nhiều du khách ghé qua.

Sau gần 3 tháng thi công, Đường Sách chính thức được khai trương ngày 09.01.2016. Chỉ với con đường nhỏ chiều dài 144 m, lòng đường 8 m, hai bên vỉa hè rộng 6 m, với thiết kế một bên là 20 gian hàng sách, một bên là café sách và khu triển lãm. Hai đầu Đường Sách là hai bức tượng điêu khắc Cô gái bên trang sáchSuy ngẫm - hai tác phẩm được tuyển chọn từ Trại điêu khắc quốc tế TP.HCM.

Hình 1: Trên Đường Sách, cũng là đường mang tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình (1910-1995), bên hông Bưu Điện, chạy dài từ Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng, như một tụ điểm sinh hoạt văn hóa và du lịch, đang rộn rã không khí Giáng Sinh 2017 với ban nhạc Santa Claus có lẫn cả một ông Tây béo mập cao ngồng thổi kèn, vây quanh là tấp nập khách đi xem, chụp hình, ngồi tụ tập trong các quán cà phê sách, và một số thì tìm mua sách. Đường Sách Nguyễn Văn Bình ngày nay là hình ảnh một mini-đường sách Lê Lợi của hơn 40 năm trước. [Photo tư liệu Ngô Thế Vinh] 

Ông Lê Hoàng khi còn làm Giám đốc Nxb Trẻ đã mơ ước có một không gian chỉ có sách và sách và ông là một trong những người đã đứng ra vận động cho việc hình thành con Đường Sách và sau đó trở thành giám đốc Công ty Đường Sách Thành phố. Đường Sách đã trở thành một không gian khá lý tưởng để các nhà xuất bản, nhà kinh doanh sách có cơ hội học hỏi chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp, và cả tiếp cận với giới bạn đọc. Đường Sách trở thành một không gian biểu tượng của văn hóa đọc, nơi gặp gỡ của những người yêu sách, cũng là điểm hẹn lý tưởng cho những người bạn trong và cả ngoài nước.
  
Hình 2a: Từ hướng Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng,
bên trái là 20 gian hàng sách; phải, với bạn trẻ ngồi đọc sách ngoài trời.
[photo by Ngô Thế Vinh]

Hình 2b: Mấy tụ điểm để du khách chụp hình; trái, bức tượng đồng "Hai bé ngồi chống lưng đọc sách", phải, cô gái ngồi đàn guitare live trong một khu đọc sách ngoài trời. [Photo by Ngô Thế Vinh] 

Hình 3a: Bên phải Đường Sách là các cửa hàng café sách, các khu triển lãm; Phương Nam Book Café đẹp khang trang lúc nào cũng đông khách; phải, do thiếu diện tích mặt bằng, có thêm mấy Kiosk sách bên lề phải Đường Sách phía ngã ba Hai Bà Trưng - Nguyễn Văn Bình, anh chị Long đôi vợ chồng rất yêu sách, gốc người Sài Gòn cũ, chị gốc nhà giáo rồi làm công chức Nha Quân pháp trước 1975, nay sống bằng nghề buôn sách cũ. [photo by Ngô Thế Vinh] 

Hình 3b: trái, thiếu diện tích mặt bằng, cả trên lòng đường cũng được tận dụng cho những Kiosk sách di động trên Đường Sách, với các bạn trẻ đứng ngồi tĩnh lặng say mê đọc sách, gợi lại hình ảnh thật đẹp của Sài Gòn trước 1975 với đường sách Lê Lợi, nhà sách Khai Trí thuở nào; phải: Quán Sách Mùa Thu với thêm dòng chữ "về lại chốn thư hiên", nơi có thể tìm hoặc đặt mua những cuốn sách cũ "tàn dư văn hóa Mỹ Ngụy" nay trở thành quý hiếm. [Photo by Ngô Thế Vinh]