KÝ ỨC SÀI GÒN
(4)
*SONG THAO
May mắn hơn là những nhân
viên của Đài Mẹ Việt Nam. Họ được di tản có bài bản. Nhà văn Ngô Thế Vinh kể
lại : “Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây
viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả
thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm tòa soạn
Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến ngồi chung với Vũ Hạnh; cũng là nơi
mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu
chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày
về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi
đứng dậy bước ra khỏi toà soạn. Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ
nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên
Linh, Tuý Hồng, Thanh Nam từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger
đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê
Tất Điều thấy Võ Phiến khóc”.
Vũ Khắc Khoan, Nghiêm
Xuân Hồng, Mặc Đỗ cùng hội tụ với nhóm Mẹ Việt Nam trên đảo Guam. Tôi chợt nhớ
tới câu ca dao : “Gió đưa cây cải về trời /
Rau răm ở lại chịu nhiểu đắng cay”. Chẳng biết có phải là một thứ “sấm” không? Những” rau răm” bị bầm nát chết trong tù có Hiếu Chân, Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn
Mạnh Côn, Phạm văn Sơn, Trần văn Tuyên, Trần Việt
Sơn, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường. Chết sau khi ra tù có Hồ
Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Sống xa rời cây viết có Dương Nghiễm Mậu làm sơn
mài, Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên lề đường, Trần Lê Nguyễn bán báo, Nguyễn
Mộng Giác làm mì sợi, Trần Hoài Thư bán cà-rem dạo.
Giới cầm bút xấc bấc xang
bang, dân Sài Gòn cũng cùng chung một quốc nạn. Từ ngày tháng
tư u tối đó, dân Sài Gòn tan tác như đàn gà con mất mẹ. Mỗi người đều chạy vạy
để có được một chỗ trên máy bay rời Sài Gòn. Chuyện không dễ gì. Vào những giây
phút cuối, trực thăng bay hốt những đoàn người cuối. Tác giả Nguyễn Viết Đĩnh
ghi lại giây phút tan hoang của Sài Gòn thoi thóp: “Trên bầu trời
Sài Gòn, từng đàn trực thăng võ trang của Thủy Quân Lục chiến Mỹ lượn vòng
không ngớt. Tiếng cánh quạt xé gió vang lên suốt ngày đêm, như một thứ âm thanh
báo tử. Chúng bay thấp, bay cao, đáp xuống các cao ốc, các địa điểm đã được chỉ
định từ trước. Người ta nói về những cuộc bốc người từ nóc tòa đại sứ, từ các
cao ốc lớn trong thành phố. Những chiếc thang dây buông xuống từ không trung,
người bám vào như bám vào sợi dây cuối cùng của sự sống. Mỗi lần nghe tiếng
trực thăng, tim tôi lại thắt lại. Không phải vì hy vọng, mà vì một cảm giác bị
bỏ lại. Chúng không đến cho tất cả. Chúng chỉ đến cho một số người đã được
chọn, đã có tên, đã có chỗ. Phần còn lại của thành phố chỉ đứng nhìn, ngước mắt
lên trời, bất lực”.
Những người chậm chân sau đó đã xô nhau vượt biên, vượt biển tìm tự do bất chấp những
nguy hiểm tới mạng sống kè kè trên mỗi bước đường trốn xa thành phố thân yêu. Theo
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), tổng số người vượt biển từ 1975 tới 1995
khoảng từ 800 ngàn tới 900 ngàn. Trong số đó tới được Mã Lai (255 ngàn), Hồng
Kông (143 ngàn), Indonesia (122 ngàn), Thái Lan (80 ngàn), Philippines (40
ngàn) và Singapore (30 ngàn). Tổng cộng 670 ngàn. Số tử vong ước tính khoảng từ
200 ngàn tới 400 ngàn vì chết đuối, bão tố, thiếu nước , đói, bệnh hoặc do cướp
biển. Khoảng 10 ngàn phụ nữ và trẻ em gái bị bạo hành tình dục hoặc bị bắt cóc.
Vượt biên là tự phát. Dân lén lút dùng những tàu đánh cá ra biển. Có thể
họ đi chui nhưng cũng có những vụ mua bãi có công an lấy vàng tiếp tay cho rời
bến an toàn. Nhà nước thấy làm ăn được nên nâng chuyện cướp vàng của những
người muốn vượt biên thành…chính sách. Nhân vụ muốn đẩy người Hoa ra khỏi nước,
nhà nước đứng ra tổ chức những chuyến đi mà dân ta hồi đó gọi là đi “bán chính thức”. Nhà nước
gọi là “Phương Án II”. Tại sao có
con số 2? Có ba phương án giải quyết việc ra đi của người Hoa: theo con đường
Liên Hiệp Quốc HCR (gọi tắt là Phương Án I); cho ra nước ngoài làm ăn (Phương
Án II) và cho về các địa phương sản xuất theo khả năng (Phương Án III).
Trong cuốn « Bên Thắng Cuộc », tác giả Huy Đức đã ghi
lại : “Phương án II là một kế hoạch được “phổ biến miệng để giữ bí
mật”, theo đó: Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền
cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do
ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được
giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”. Việc triển khai Phương Án này được
làm trong bí mật. Ngay Phó Bí Thư Thường Trực Sài Gòn Trần Quốc Hương cũng
không được biết. Trung Ương lập ra Ban 69 để theo dõi hoạt động thi hành Phương
Án II. Trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” ghi lại kết quả cuộc kiểm tra như sau: “Kết quả kiểm tra của Ban 69 cho thấy có một sự khác biệt rất lớn
giữa báo cáo của Bộ Nội vụ và thực tế thực hiện Phương án II. Báo cáo của Bộ Nội vụ
nói rằng: “Từ tháng 8-78 đến 6-79, mười lăm tỉnh, thành đã cho người Hoa đi nước
ngoài bằng tàu, thuyền gồm 156 chuyến với số người là 59.329 người, đã thu
5.612 kg vàng, năm triệu đồng Việt Nam, năm mươi bảy ngàn đô la Mỹ, 235 ô tô,
1.749 nhà và gian nhà”. Nhưng, số liệu sau khi Ban 69 kiểm tra cho thấy: “Số
tàu đã cho đi: 533; Số người đã đi: 134.322; Thu vàng: 16.181kg; Ngoại tệ:
164.505 đô la; Tiền ngân hàng VN: 34.548.138 đồng; Một số tài sản khác: 538 ô
tô, xe du lịch; 4.145 nhà và gian nhà”. Tuy đối tượng cần đưa đi ở các tỉnh trước
hết là Thành phố HCM chưa giải quyết hết yêu cầu, việc phối hợp đưa 70 ngàn người
Hoa ở Thành Phố HCM trong tổng số gần 140 ngàn người Hoa đã đi là một thành
tích lớn. Việc thu vàng và tài sản của Phương Án 2 cũng là một thành tích rất lớn”.
Trước
con số lợi lộc lớn lao như vậy, các cán bộ thi hành không bỏ lỡ cơ hội tham ô bỏ túi. Người Việt
lợi dụng lối vượt thoát khá an toàn này nên đóng vàng cho công an để ngụy trang
thành người Hoa trà trộn vào đoàn người Hoa ra đi. Tại Sài Gòn, nhiều tổ chức
móc nối người Việt. Có người đi được, có người tiền mất tật mang. Tôi là một
trong số nhiều người đã bị lừa. Số vàng tôi mất cho gia đình 4 người trên chục
lượng. Sau khi thỏa thuận với người môi giới, gia đình tôi được họ cung cấp cho
giấy Chứng Minh Nhân Dân và Thẻ Cử Tri với tên Hoa. Mỗi người phải học thuộc
tên mình. Chuyện khá khó khăn nhất là với hai đứa con còn nhỏ của tôi. Cả nhà
hy vọng ngồi chờ ngày ra đi. Ngày đó chẳng bao giờ tới.
Có
những người không màng chuyện ra đi mà nguyện sống mãi mãi với thành phố thân
yêu. Họ tự hủy thân xác trong thành phố để được sống với Sài Gòn dấu yêu. Có
rất nhiều người đã chọn bước đường cùng như vậy. Nổi bật nhất là cái chết của
Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn văn Long và Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh.
Trong những ngày Sài Gòn vừa thất thủ, dân Sài Gòn đã bàng hoàng trước tấm hình TrungTá Nguyễn văn Long nằm chết trong bộ quân phục. Tấm hình do một ký giả Pháp chụp và phổ biến trên báo Paris Match. Nhà văn Giao Chỉ ở San Jose viết trong bài “Câu Chuyện Về Cái Chết Của Trung Tá Nguyên Văn Long. Cái Chết Của Cha Tôi”: “Bức hình chụp được phổ biến cho thấy ông nằm nghiêm chỉnh dưới bức tượng xung phong của thủy quân lục chiến trước tòa nhà quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Có nhiều người chứng kiến nhưng không ai là nhân chứng kể lại giây phút cuối cùng. Dường như có người đã sắp xếp lại di hài vị anh hùng mang cấp bậc trung tá cảnh sát. Hai tay để ngay ngắn trên bụng. Nón trước ngực. Tấm hình chụp thật rõ ràng. Ai đã sắp xếp lại? Đồng bào miền Nam hay anh phóng viên chụp hình cho tờ báo Pháp. Bức hình của người sĩ quan bại trận nằm yên nghỉ nhưng hết sức lẫm liệt”. Trung Tá Long sanh tại Phú Hội, Huế, ngày 1/6/1919, tuẫn tiết tại Sài Gòn năm 1975, lúc đó 56 tuổi. Ông có 13 người con, 6 trai 7 gái. Tên các con trai thể hiện giấc mơ của cha : Phụng, Hoàng, Minh, Tiến, Quang, Hội. Tất cả đều gia nhập quân đội, trừ cậu út mới 13 tuổi, chưa đủ tuổi đi lính. Tên các con gái như hình ảnh dịu hiền của mẹ : Đào, Tâm, Thiện, Hòa, Hảo, Hiền, Huê. Ông làm việc tại Đà Nẵng, di tản vào Sài Gòn. Bà Tâm, con gái thứ ba của ông kể lại : “Lúc đó vào cuối tháng 3/75 ở Đà Nẵng. Ba vẫn làm việc trong trại, không về nhà. Hai cậu em không quân, một ở Đà Nẵng, một ở Biên Hòa. Một cậu đưa cả nhà vào sân bay Đà Nẵng chờ di tản. Nhưng rồi cũng không đi được. Vào ngày cuối người cha về nhà không thấy gia đình. Ông nghĩ rằng vợ con có thể đã đi thoát trong phi trường. Ông xuống bãi và ra đi bằng tàu. Vào đến Saigon đã có cô con gái lớn đón cha về ở tạm. Lúc đó mới biết vợ con còn kẹt ở Đà Nẵng. Cha tôi lại vào trình diện Tổng Nha Cảnh Sát để làm việc”. Trưa 30/4/75 khi radio phát thanh lời Tổng Thống đầu hàng thì một phát súng đơn độc nổ bên thái dương, Trung Tá Long ngã xuống. Ông buông cây súng nhỏ theo lệnh Tổng Thống, cây súng tùy thân ông vẫn mang theo từ Huế, Đà Nẵng vào đến Sài Gòn. Thân xác ông được đưa vào bệnh viện Grall. Trong bộ quân phục của ông có mảnh giấy ghi địa chỉ của gia đình nên vào cuối tháng 5/1975 có người từ nhà thương Grall liên lạc về Đà Nẵng. Hai vợ chồng bà Tâm từ Đà Nẵng vào hợp cùng chị và em ở Sài Gòn tới nhà xác bệnh viện. Khi nhân viên nhà xác mở ngăn lạnh chứa xác, xác ông vẫn còn nguyên vẹn trong quân phục có đeo cấp hiệu và mũ Cảnh Sát. Nhân viên nhà xác cho biết được lệnh bảo quản vì đây là thi hài của một anh hùng, chờ gia đình tổ chức mai táng chu đáo. Gia đình đã chôn cất Trung Tá Long tại nghĩa trang Bà Quẹo.
Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh không tự tử một mình. Ông đã giúp cả gia đình gồm vợ và bảy người con thoát khỏi kiếp sống dưới chế độ Cộng sản trước khi quay súng bắn vào đầu tự tử. Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh, khi đó mới 11 tuổi, là hàng xóm của gia đình Trung Tá Vĩnh, còn nhớ như in quang cảnh ngày oan nghiệt đó trong hồi ký “Chín Nén Nhang Cho Gia Đình Cố Trung tá Đặng Sĩ Vĩnh”: “Ngày 30/4/1975, lời tuyên bố đầu hàng đã truyền đi. Lá cờ tai họa đã bay trên Dinh Độc Lập. Bố tôi từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị về nhà. Mắt ông đỏ tia máu. Trước nhà tôi, những người lính cởi trần ngồi lề đường khóc. Họ chửi rủa rằng họ bị phản bội, bị bỏ rơi. Họ nói đến chuyện tự tử để không thẹn với hồn thiêng sông núi. Có cái gì đó khủng khiếp khi những người đàn ông khóc. Hàng xóm xúm lại an ủi họ. Trời chang chang nắng đổ. Súng ống quân phục đầy đường từ Ngã Tư Bẩy Hiền vào Lê Văn Duyệt. Tiếng súng do bọn thanh thiếu niên hoang loạn bắn từ vũ khí vương vãi trên hè phố nổ rền suốt mấy giờ liền. Đến khoảng 2 giờ chiều chỉ còn lác đác tiếng súng ở xa. Nỗi hoang mang tiếp tục gia tăng khi người ta bắt đầu nhìn thấy những người lính miền Bắc đeo ba-lô, đi dép râu, mặt mũi lơ láo, lạ lẫm bắt đầu đi vào con đường hẻm. Bất thình lình, trong cái oi bức, ngột ngạt của không gian, trong cái căng thẳng kinh hoàng của đầu óc, có những tiếng súng nhỏ vang lên trong một căn nhà. Những tiếng súng ấy nhỏ và không vội vã như người ta bắn qua lại khi giao tranh. Những tiếng súng ấy bình tĩnh, cách nhau đều đặn. Chúng vang lên một cách chắc chắn, chắc chắn như quyết định của người nổ súng. Đó chính là tiếng súng mà Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh đã nổ để kết liễu mạng sống của cả gia đình gồm vợ với bảy người con và chính bản thân ông”.
Ngôi
nhà màu xanh lá cây, cổng gạch trắng, không có chỗ đậu xe hơi, mang số 98/39
Phạm Hồng Thái, ấp Hòa Bình, quận Tân Bình, Gia Định. Con hẻm này thuộc Khu Ông
Tạ, được dân chúng gọi nôm na là Hẻm Con Mắt. Xe ông thường mang để nhờ trong
sân nhà kịch sĩ Năm Châu ở xế cửa nhà ông. Bà Vĩnh tên Trần Ánh Nguyệt, là chị
vợ của nhà thơ Hà Thượng Nhân. Nhà thơ cho biết ông anh cột chèo này rất hiền
lành, nhân hậu, chẳng bao giờ cau có, cãi cọ với ai. Hai ông bà có bảy người
con. Anh con cả là Đặng Trần Vinh, sanh năm 1948. Hai cô út là một cặp sinh đôi
khi đó khoảng 15 tuổi. Ông tốt nghiệp Khóa 3 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào
năm 1953, tùng sự tại Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Từ cuối thập niên 1960, ông
được biệt phái qua Tổng Nha Cảnh sát.
Tác
giả Nguyễn Hà Tường Anh nhớ lại: “Trong
ký ức tuổi thơ của tôi, ông Vĩnh lúc ấy 56 tuổi mà còn phong độ. Gặp bố tôi,
ông trao đổi một vài câu chuyện với giọng thật hiền hòa, thân thiện. Anh Vinh,
con ông lúc ấy 27 tuổi. Hai cô em gái sinh đôi của anh thường đùa nghịch cười
rúc rích. Họ đồng tuổi với chị Trang của tôi. Da trắng, tóc dài, đen nhánh,
buộc bằng nơ đỏ và xanh dương. Âm thanh và hình ảnh của gia đình Trung Tá Đặng
Sĩ Vĩnh, nếu chỉ có thể trong tôi, đã không trở thành ký ức kinh hoàng. Ký ức
đó chỉ một thời gian ngắn sau, đã bằng những tiếng súng chuyển thành kinh
hoàng. Bố tôi nói buổi trưa ngày 30/4/1975, khi nghe tiếng súng:“Chắc bác Vĩnh
tự tử rồi!”. Mắt ông vẫn đỏ tia máu. Tôi dư biết ông có khẩu súng lục và một
trái lựu đạn trong ngăn kéo trên lầu. Bố tôi không nói gì nữa. Ông ngồi đó mà
không ăn trưa, hai mắt lừ lừ. Tôi không tin lời bố tôi nói. Một đứa 11 tuổi
chưa đủ khả năng để lượng định những áp lực tinh thần đang đè nặng trên vai kẻ
sĩ trong lúc đất nước rơi vào tay giặc. Thật sự, dù có tin, tôi cũng không nghĩ
đến cái chết của người khác vào lúc đó. Nhưng tôi sợ cái chết của bác Vĩnh và
cả nhà sẽ khiến bố tôi quyết định cùng gia đình chọn cái chết hơn là sống với
chế độ Cộng Sản. Mẹ tôi lo ngại, lén lấy súng lục và lựu đạn của bố gói trong
bao vải ném xuống kinh Nhiêu Lộc. Mẹ tôi chỉ nói ngắn gọn với bố: “Anh muốn làm
gì cũng phải bàn với cả nhà, nhất là với mẹ, người sinh ra anh trên đời này”.
Bà tôi thấy vậy cũng sợ, bắt chúng tôi bốn đứa âm thầm thay phiên nhau canh
chừng bố. May thay sau đó bố tôi đã thoát được những ám ảnh từ gia đình bác
Vĩnh”