Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

765 . NGUYỄN VY KHANH : Nhà Văn TRẦN DOÃN NHO

                                                                                                  


Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại

Nhà văn TRẦN  DOÃN  NHO

 

Trần Doãn Nho, bút hiệu sử dụng khi sáng tác và ký Trần Hữu Thục tên thật, khi viết tiểu luận. Sinh ngày 25-7-1945 tại Huế. Tốt nghiệp ngành Triết. Trước 1975, phụ khảo môn Triết tại Đại học Văn Khoa Huế; sĩ quan quân đội VNCH và cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn. Sau 1975, ở tù “cải tạo” đến 1981. Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo Dục Thành Phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Tự Do, Văn, và các trang mạng.

Tác-phẩm đã xuất bản: các tập truyện ngắn Vết Xước Đầu Đời (Thanh Văn, 1995), Căn Phòng Thao Thức (Thanh Văn, 1997), Đi. Trong Một Buổi Sáng (Văn Học Press, 2021) - ký và tùy bút Loanh Quanh Những Nẻo Đường (Văn Mới, 2000), truyện dài Dặm Trường (Văn Mới, 2001; Thư Ấn Quán tb 2018) - các biên-khảo tiểu luận Viết và Đọc (Văn Học, 1999), Tác Giả Tác Phẩm và Sự Kiện (Văn Mới, 2005), Từ Ảo Đến Thực (2006), Ẩn Dụ Cuộc Phiêu Lưu của Chữ (Người Việt, 2015), …

*

Trần Doãn Nho giáo chức và đã khởi nghiệp văn-chương từ trước 1975, ông thực sự xuất bản từ khi định cư tại Hoa Kỳ. Là một cây bút trí thức, do đó khi sáng-tác ông cũng đã hơn một lần cho người đọc thấy ông nhiều suy : con chữ Trần Doãn Nho hoặc Trần Hữu Thục, nếu không có mục-đích thì cũng liên hệ đến tâm thức và ý nghĩa nào đó của hiện hữu, của con người và nhất là con người Việt Nam!

Trong Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu của Chữ, ông nghiên cứu về “ẩn dụ” trong văn học Đông Tây trãi qua các thời đại. Chương viết về “Chữ nghĩa: chữ và nghĩa”, ông cho biết:

Chữ: Nói đến chữ, ta thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ. Dưới hình thức chữ cái, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ “tách khỏi thế giới và trở thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ,” theo Arild Utaker, trong một bài viết bàn về Saussure. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành “một vấn nạn triết lý”: tương quan “giữa ngôn ngữ và thế giới” hay nói khác đi, tương quan “giữa chữ và sự vật.” Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là phản ảnh vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm thấy trong chữ. Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn … “Hoạt động ngôn ngữ” là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói”. “Ngôn ngữ” có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. “Lời nói” là sự sử dụng cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này, Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là toàn thể các ký hiệu. Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ viết khiến ta không thấy được điều đó...”.

Nghĩa: Dù là bằng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic), chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “đi”. Đi là động tác di chuyển bằng chân hướng về phía trước, nhưng có nhiều chữ đi lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi đêm, đi khách. Hay chữ “ăn”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng, ta có những chữ ăn khác như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”...”.

765 . Tranh NGUYỄN SÔNG BA.

 

tranh nguyễn sông ba

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

764. TT THÁI AN - BỎ LẠI SAU LƯNG

                                                                                 


                                 

Bỏ Lại Sau Lưng

TT-Thái An

 Khoảng cuối tháng 3, 1975.  Nhiều tỉnh ở miền Trung đang hấp hối hoặc đã thất thủ, dân chúng chạy vào Sài Gòn tị nạn khá nhiều.  Nhiều hè phố đã ngập người tị nạn.  Tình hình chiến sự chỉ có xấu, chứ không tốt cho miền Nam. 

Nhà ông bà Sùng có người bên xuôi gia chạy từ Kon Tum xuống ở nhờ báo cáo tình hình trên đó trước khi ông bỏ chạy.  Ông bảo thằng cán bộ cộng sản đến ngồi nhà ông để chờ ông về.  Khi ông về gần đến nhà, ông có linh tính nên len lén nhìn vào và bỏ đi luôn.

 

Mẹ tôi nghe lời khuyên của ông tôi nên đến trường nội trú của em trai rước nó về.  Hình như đã nhiều phụ huynh đến rước con về, trường cũng bắt đầu vắng vẻ. 

Về nhà thì em Nguyên lại hay đi đến nhà hai đứa bạn thân, hầu như mỗi ngày.

Thỉnh thoàng mẹ lại ghé nhà bà Sùng nghe ngóng tình hình, ai cũng lo Việt cộng sắp vào đến Sài Gòn rồi, phải tính cách nào, đi hay ở?

 

Bà Sùng và mẹ tôi đều quả quyết rằng không thế nào ở với Việt cộng được.  Mình đã bỏ miền Bắc năm 1954 cũng chỉ vì biết chúng nó độc ác thế nào, ăn không cho ăn, mặc không cho mặc, nói không cho nói. Đã thế nghe nói khi chúng chiếm được hết miền Nam, chúng sẽ đem người Bắc di cư ra xử tội.

Nhà bà Sùng có chị Thu là con gái thứ hai đã đi Mỹ khoảng cuối năm 1973.  Nghe phong phanh rằng chị lấy chồng Mỹ nên đi theo chồng. Nhưng nhà bà Sùng thì bảo là chị đi theo chương trình Caritas gì đó. 

 

Con gái lớn của bà Sùng là chị Hà, đi thầu cho Mỹ nhiều năm đến năm 1973 thì hết thầu vì Mỹ rút quân về nước.  Chị xoay ra thầu làm cơm sấy cho quân đội. 

 

Con gái thứ tư của bà Sùng là Hạnh, bạn tôi thì đang có người yêu gắn bó vô cùng.  Chàng hơn nó 11 tuổi, đang là sinh viên y khoa năm cuối.

Bà Sùng là người vô tư, ít khi nào thấy bà lo lắng.  Nhà con đàn mười một đứa.  Mọi việc tài chánh chi tiêu trong nhà đã có chị Hà cung cấp.  Ông Sùng làm công chức, lương chẳng thấm vào đâu.  Con trai lớn là anh Phi đã có vợ và hai con trai còn nhỏ.  Vợ anh Phi rất đẹp, nhìn hoài không chán. 

Nhưng lúc này đã thấy bà Sùng bắt đầu lo. Bà nói với mẹ tôi rằng:

-Nếu Việt cộng vào Sài Gòn thì tôi chịu chết, nhà đông con thế này làm sao đi hết?  Mà chả biết đi đâu nữa!

763 . PHAN TẤN UẨN : MALL OF AMERICA, Truyện ngắn : SUZANNE WANG Chuyển ngữ : Phan Tấn Uẩn

                                                                                                                    


LỜI NGƯỜI DỊCH

 

. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024.

Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là  OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.

Tuy nhiên, chính từ vị trí phi nhân tính ấy, AI lại trở thành kẻ chứng kiến những cô đơn, lạc lõng và tổn thương âm thầm của con người trong xã hội tiêu dùng hiện đại. Qua những cuộc đối thoại tưởng như chuyện mua sắm thông thường, đời sống riêng của các nhân vật dần dần hé lộ: một ông lão nhập cư nói tiếng Quan Thoại bị bỏ quên giữa trung tâm thương mại; những con người quay trở lại không hẳn để mua sắm, mà để được nghe một giọng nói đối đáp. Khi AI ngày càng “hiểu” con người sâu hơn, truyện nầy đặt ra một câu hỏi lớn: trong thế giới được vận hành bằng dữ liệu và thuật toán, đâu là ranh giới giữa con người và máy móc ?


Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

762 .NGUYỄN QUYẾT THẮNG : NGOÀI PHỐ , Thơ LÂM VĂN SANG (Lúc đó lấy bút hiệu là THÁI TRUNG)

 NGOÀI PHỐ - Thơ LÂM VĂN SANG nhạc NGUYỄN QUYẾT THẮNG

Bài này Thắng phổ nhạc năm 1971,  Năm Mươi Ba năm trước. 

Đăng lại để nhớ thương LÂM VĂN SANG vừa từ trần ở Bắc CALIFORNIA.  

Những bằng hữu hiếm hoi còn lại của hơn nửa thế kỷ trước là

 ĐOÀN VĂN KHÁNH, NGUYỄN QUYẾT THẮNG, NGUYỄN MINH NỮU  xót xa tiễn đưa người.






761 NP PHAN - Trang thơ LẶNG LẼ, NỖI BUỒN CHƯA ĐƯỢC CHỈNH TRANG, THƠ TÌNH THÁNG BA.

                                                                                         


lặng lẽ

 

 

lặng lẽ một dòng sông

đâm nhánh về phía biển - mặt - trời

mùa lặng thinh chới với

lặng lẽ buồn vui rong chơi

lặng lẽ bức tường xám vô vi

 

có một góc tự do nhỏ nhoi

đang nhảy múa một hình hài

trong sự lặng lẽ đa cảm

giọt nước mắt yếu ớt

sớm giã từ bờ mi khỏa thân

khép mở cõi vô cùng

 

lặng lẽ hài xanh âm âm thái dương

em gọi mùa trở giấc

con nước bàng hoàng quẫy đạp cửa sông

chối từ lặng lẽ

 

lặng lẽ em

ngọn lửa

lặng lẽ ngôn từ

cháy lời yêu

                 

760 - GIÓ O HẢI NGOẠI - TƯỞNG NHỚ LÂM VĂN SANG (1950-2026) Vừa Qua Đời Tại San Jose, California

                                                                                       
 NGUYỄN CHÍ THIỆN và LÂM VĂN SANG (Mặc áo Xanh)
 

Đặng lại toàn bộ bài viết trên GIÓ O HẢI NGOẠI 

với sự cho phép của Chủ Biên Gió-O

TƯỞNG NHỚ LÂM VĂN SANG (1950-2026)

Vừa Qua Đời Tại San Jose, California.

Anh là chỗ thân hữu văn nghệ ở San Jose lâu năm.

Từng ở trong nhóm khởi xướng tờ Nhân Văn, của Lôi Tam, Thượng Văn, Tưởng Năng Tiến, Võ Hoàng, Lâm Văn Sang

Từng ở trong nhóm Viet Mercurry News với Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Việt Cường, Trần Đệ, Lâm Văn Sang

Người đàn ông im im, cười cười, ly dị, có vài cuộc tình lộ và không lộ với vài người phụ nữ cũng hơi nổi nổi ở San Jose

Kỷ niệm đáng nhớ với Gió O là lần giáo sư nhà văn Triết Đặng Phùng Quân về ra mắt sách Triết ở San Jose vào năm 2007, bạn của Đặng Phùng Quân là một ông Triết khác lên phát biểu sao đó, Lâm Văn Sang về viết bài cà khịa, Sau đó ông Triết Đào Trung Đạo cũng cà khịa lại, gửi bài kêu tôi đăng lên Gió O. Tôi phải ốp hai ông đàn anh này lại ngay lập tức.

Vụ hai bên cà khịa xảy ra trên Gió O trước đây giữa một ông nổi tiếng trong nước là nhà văn Trần Mạnh Hảo với một ông to mồm ở Hải Ngoại là Trần Nghi Hoàng. Cả hai sau đó giựn Gió O và đi luôn. Không sao.

Lâm Văn Sang nghe nói bị bệnh lẫn và vào nhà dưỡng lão của ông bạn bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi lưu trú mấy năm qua.

Nay nghe tin Lâm Văn Sang vừa qua đời . Bằng hữu văn nghệ ở San Jose chia buồn cùng gia đình anh.

Nguyện cầu hương hồn anh ra đi thanh thản về miền vĩnh phúc!

.

Đưa một bài viết của Lâm Văn Sang lên đây để tưởng nhớ anh,


Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

759 , LÊ ĐỨC LUẬN . NỖI LÒNG CHƯA TỎ

                                                                                                



         Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm.   

Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng…  

 Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện. 

Ông hy vọng Chúa nhân từ thấu lòng nhân thế mà xót thương và tha thứ cho người nữ tu đã khấn trọn đời dâng hiến, nhưng trong giây phút yếu lòng đã để tình cảm lứa đôi lay động tâm hồn. Và biết đâu một mai Chúa sẽ cho hai kẻ yêu nhau với mối tình đầu cao thượng được gặp lại ở chốn Thiên đàng? 

 

Chiều nay, ngồi trên ghế đá công viên nơi đất khách, ông Lân đang thả hồn theo những chiếc lá vàng chao trong gió…Bỗng xuất hiện đôi thiếu niên nam nữ âu yếm nắm tay nhau, thong thả dạo bước dưới bóng mát của những cây phong cổ thụ nơi góc vắng công viên, gợi cho ông nhớ lại những lần dạo chơi cùng cô gái bắc kỳ di cư nho nhỏ, xinh xinh dưới những hàng keo già nơi xóm đạo… 

Giờ đây, nỗi nhớ không thể chạm đến và niềm thương không thể gọi thành tên - lòng ông xao xuyến nhớ về…  

Nắng chiều buông xuống - chỉ còn đậu lại trên đọt những cây phong già ánh vàng le lói. Ông vẫn ngồi bất động trên ghế đá công viên nhìn lá vàng rơi. Bỗng ký ức trỗi dậy! Rồi bao kỷ niệm hiện ra trong trí nhớ như đoạn phim quay chậm: từ thuở thiếu thời cho đến lúc trưởng thành.  

Ông Lân được sinh ra và lớn lên ở một làng quê cách thị xã Tuy Hòa chừng bốn cây số. Trong chín năm kháng chiến (1945-1954), quê hương ông nằm trong vùng Việt Minh kiểm soát. Ông nhớ dưới thời Việt Minh, người lớn trong làng gọi đám nhóc tì như ông là nhi đồng. Nhi đồng thời ấy có những thú vui là đêm đêm đốt lửa trại, đánh trống ếch: bùm… bum… rồi đốt đuốc đi quanh làng hô khẩu hiệu vang trời. Đến Tết Trung Thu, Hội Phụ Nữ (là các bà mẹ) nấu nồi chè đậu đen to tướng, phát cho mỗi đứa một chén, thêm vài cái bánh ít lá gai - vừa ăn, vừa hát đồng ca bài “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”. Thế là vui!  

Còn chuyện học hành chữ nghĩa thời ấy thì “được chăng hay chớ”- việc học hành chỉ để thoát qua cái nạn mù chữ. Hầu hết già trẻ gái trai trong làng ban đêm đều học lớp “Bình dân học vụ”. Đám thiếu niên, nhi đồng được đến trường, nhưng thường học qua bậc tiểu học rồi thôi và ở nhà giúp cha mẹ trong công việc đồng áng. Rất ít đứa học lên cao (vì học lên cao phải đi xa nhà - rất tốn kém). Trường học thời đó, có thể là đình làng, hay căn nhà tranh cất đơn sơ núp dưới những tàn cây cổ thụ để máy bay Pháp khó phát hiện. Đặc biệt, chung quanh trường có những hầm tròn, sâu gần một mét. Khi nghe tiếng máy từ xa, đứa học trò ngồi gác bên ngoài đánh kẻng báo động… học trò vội vã chạy ra khỏi lớp, nhảy xuống hầm tròn. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, ông Lân vẫn còn nổi da gà khi nhớ lại: dưới các hầm tròn thường có những con rắn trun, rắn hổ mang nằm dưới đó.  

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

758 . THÀNH ĐỒNG NGUYỄN (TRỊNH CHU) - Tranh NGỰA -2026 Acrylic 79.5x59.5

 


757 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG : Nhạc phổ thơ BAN MÊ MÙ SƯƠNG Phổ từ thơ ĐOÀN VĂN KHÁNH

 



756. TIỂU LỤC THẦN PHONG . THƯA RẰNG SON SẮC XUÂN XANH.

                                                                                                    



Sáng nay vườn ta nở  những đóa thủy tiên đầu tiên, trời ơi cái màu vàng rực rỡ, màu trắng tinh khiết thanh tân. Đất trời đông giá mà sao thấy sắc xuân long lanh trên đầu ngọn cỏ. Những đóa thủy tiên nở sớm là dấu hiệu của mùa xuân đang đến.

Thưa rằng xuân xanh vẫn son sắc vĩnh hằng, có đi đến bao giờ! Nhựa xuân âm ỉ chảy trong từng thớ gỗ, mạch lá. Sắc xuân ngủ trong củ hoa chỉ đợi khi trời ấm thì bừng lên. Xuân không đi không đến. Xuân vẫn ngụ giữa trời đông, ẩn trong vô số nụ và chồi. Xuân có ngay giữa hạ với sắc lá xanh biếc. Xuân hòa trong muôn hồng nghìn tía của mùa thu. Xuân ở trong đất mẹ, vi vu cùng làn gió vô tận đất trời. Xuân ấm áp tia nắng và dĩ nhiên róc rách lưu chuyển trong dòng nước miên viễn kia. Xuân chan hòa khắp nhân gian, sáng rực rỡ dung thông ba cõi mười phương.

Mùa xuân đã không sanh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm…Cớ sao ta lại bảo xuân về? Thưa rằng cái tâm cảm em ơi! Vì chúng ta chấp vào cái tướng mà không thấy cái tánh ấy thôi. Phần nữa vì thế gian này là thế giới đối đãi, thế giới nhị nguyên. Vì chúng ta thô nên mới sanh tâm ra vậy.

Năm xưa Lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Cái tâm (soul, spirit, mind, thought…) khi không trụ vào bất cứ vật gì, việc gì… thì nó trở nên kỳ diệu vô cùng, diệu dụng không sao nói hết được! Hầu hết mọi người chúng ta tâm trụ vào tiền bạc của cải, nhan sắc sắc dục, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ chơi bời. Trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên tâm chúng ta không thể dụng được cái diệu. Tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần nên mới sanh tâm xấu – đẹp, đến – đi, tăng – giảm… và từ đó mới có xuân khứ, xuân lai, xuân đáo, xuân này hơn xuân kia…và dĩ nhiên không thể thấy đóa hoa mai ngoài sân trong đêm tối như ngài thiên sư Mãn Giác. Càng không thể “ngộ” đóa hoa sen như ngài Ca Diếp.

755 . NGƯỜI TÙ TRỞ VỀ Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

 



André Maurois, tác giả Pháp (1885-1967), để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý (Bernard Quesnay, Climats – có người dịch là m cnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng (Le peseur d’âmes – Người cân linh hn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng -). Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun (Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre (Lịch sử nước Anh), Histoire des Etats-Unis (Lịch sử Hoa Kỳ), Histoire de France (Lịch sử nước Pháp).

Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ (Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust), các chính trị gia (Disraeli, Lyautey), và cả nhà khoa học (Alexandre Flemming)

Truyện ngắn , bên cạnh những thể loại khác,  làm cho  sự nghiệp sáng tác của Ông thêm đa dạng phong phú. Ông không chọn những đề tài lớn mà chủ yếu chỉ là những vấn đề bình thường của cuộc sống hàng ngày, trình bày qua một giọng văn giản dị, tự nhiên, và lối phân tích nội tâm tinh tế, sâu sắc. 
          
Cùng với Hoa violet ngày thứ tư (Les violettes du mercredi), Khách sạn Thanatos (Thanatos Palace Hotel), Hoa từng mùa (Fleurs de saison)..., truyện Người tù trở về (Le retour du prisonnier) dưới đây góp phần khẳng định tài năng một nhà văn với bút lực sung mãn.

André Maurois, (1885-1967)
     
Câu chuyện tôi kể đây là chuyện thật, xảy ra vào năm 1945 trong một làng ở nước Pháp mà chúng tôi gọi là Chardeuil, dù nó không phải tên của làng, tên thật chúng tôi không nói ra vì những lý do hiển nhiên ai cũng hiểu. Chuyện bắt đầu trên chuyến tàu lửa đưa những người tù Pháp từ nước Đức trở về. Cả thảy có mười hai người trên toa tàu thường chỉ chở mười hành khách, chật chội khủng khiếp, mệt mỏi nhọc nhằn, nhưng phấn khích và sung sướng, vì cuối cùng họ đều biết rằng, sau 5 năm xa cách, nay họ sắp được trở về với quê hương, nhà cửa, gia đình.

Đối với hầu hết mọi người, hình ảnh luôn ngự trị trong tâm trí của họ suốt cuộc hành trình là hình ảnh người phụ nữ. Tất cả nghĩ đến người đó với thương yêu, hy vọng, có người lại lo lắng. Người họ sẽ gặp lại có thuỷ chung không? Người đó đã gặp ai, đã làm gì trong suốt thời gian dài đằng đẵng sống một mình? Những người đã có con đỡ phần lo lắng hơn. Vợ của họ đã phải bận rộn chăm sóc con cái, và có chúng với niềm vui con trẻ ắt sẽ làm cho những ngày đầu chung sống trở lại dễ dàng hơn.