Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

951 . THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu ĐÁNH CƯỢC - Truyện ngắn của nhà văn Nga ANTON PAVLOVICH CHEKHOV

 





ANTON PAVLOVICH CHEKHOV ( Анто́н Па́влович Че́хов; 1860-1904 ), nhà văn Nga. Xuất thân từ một gia đình lao động nghèo, Ông theo học Đại học Y và trở thành bác sĩ tại một bệnh viện ở ngoại ô từ năm 1884. Nghề nghiệp này không giúp Ông có cuộc sống khá giả hơn nhưng lại cho Ông chất liệu cuộc sống muôn màu muôn vẻ với tất cả tình đời và tình người để đưa vào các sáng tác văn học. Ông bắt đầu viết văn từ 1880, khởi đầu bằng những truyện ngắn đăng báo, ký nhiều bút danh khác nhau, và tiếp tục cho đến cuối đời với tổng số sáu trăm ba mươi truyện. Ông còn viết kịch, các vở nổi tiếng nhất là Ba chị em, Vườn anh đào, Hải âu, Cậu Vania, đến nay vẫn còn được dàn dựng. Ông mất năm 1904, trong thời gian nghỉ dưỡng, điều trị bệnh lao xương. 

    
Một đêm thu tối trời. Lão chủ ngân hàng đi tới đi lui trong văn phòng, hồi tưởng lại câu chuyện mười lăm năm trước, hôm lão đãi tiệc vào một buổi chiều mùa thu. Khách mời có nhiều bậc thức giả và câu chuyện thật thú vị. Trong những đề tài họ bàn thảo có vấn đề án tử hình. Hầu hết khách tham dự, trong đó có giới nhà báo và trí thức, tỏ ra không tán thành án tử hình. Họ cho là hình thức này đã lỗi thời, vô đạo đức và không phù hợp với những nhà nước Cơ đốc giáo. Vài người trong số đó cho rằng nên thay thế hình phạt tử hình bằng án tù chung thân. “Tôi không đồng ý với các vị”, người chủ ngân hàng chủ nhà lên tiếng, “ tôi chưa hề trải nghiệm án tử hình cũng như chung thân, nhưng theo suy luận thì tử hình vẫn đạo đức và nhân đạo hơn là chung thân. Tử hình giết một người ngay lập tức, trong khi cầm tù chung thân thì giết từ từ. Vậy thì kẻ đao phủ nào nhân đạo hơn, kẻ giết các ông trong vài phút hay kẻ lấy đi mạng sống của ông dần dà qua nhiều năm?”

“Cả hai đều vô đạo đức như nhau,” một vị khách nêu ý kiến, “vì cả hai đều cùng một mục đích – cướp đi mạng sống. Nhà nước không phải là Thượng đế. Nhà nước không có quyền lấy đi cái gì mà mình có muốn cũng không trả lại được.”
           
Trong số khách mời có một luật sư trẻ,một chàng trai tuổi khoảng hai mươi lăm. Khi được hỏi ý kiến, anh đáp:
           
“Hình phạt tử hình và chung thân đều vô đạo đức như nhau, nhưng nếu phải chọn giữa tử hình và chung thân thì chắc chắn tôi sẽ chọn hình phạt thứ hai. Được sống, dẫu sống thế nào đi nữa, cũng tốt hơn là không được sống.”
           
Một cuộc tranh luận hào hứng nổi lên. Ông chủ ngân hàng, dạo ấy trẻ hơn và nông nổi hơn, bỗng nhiên bị lôi cuốn; ông đấm mạnh tay xuống bàn và thét vào mặt chàng trai:
           
“Không đúng! Tôi cược với anh hai triệu là anh sẽ không chịu đựng được cảnh biệt giam trong năm năm.”
           
“Nếu ông nói nghiêm túc,” chàng trai đáp, “tôi sẽ chấp nhận đánh cược, nhưng tôi sẽ không ở chỉ năm năm mà là mười lăm năm.”
           
“Mười lăm? Được rồi!”, ông chủ ngân hàng kêu lên.” Này các ông, tôi đánh cược hai triệu!”
           
“Đồng ý! Ông bỏ ra hai triệu và tôi cược sự tự do của tôi!” chàng trai nói.

Thế là cuộc đánh cược điên rồ, vô nghĩa được ký kết! Ông chủ ngân hàng, kẻ đang có trong tay tiền triệu, hậm hực, bốc đồng, tỏ ra phấn khích về cuộc đánh cá. Trong bữa ăn tối, ông nói với chàng luật sư, giọng giễu cợt:
           
“Hãy suy nghĩ kỹ đi khi còn kịp thời gian, anh bạn trẻ ạ. Với tôi hai triệu chỉ là món tiền nhỏ, nhưng anh sẽ phí mất ba hay bốn năm đẹp nhất của đời mình. Tôi nói ba hay bốn, vì anh sẽ không chịu được lâu hơn. Mà anh cũng đừng quên, anh bạn khốn khổ ạ, rằng chịu đựng cảnh giam cầm tự nguyện thì khó khăn hơn nhiều lắm so với bị cưỡng bức. Chỉ việc nghĩ đến cái quyền được thoát ra cảnh tự do bất cứ lúc nào cũng đủ hủy hoại cuộc sống tù đày của anh. Tôi thật ái ngại cho anh.”

Giờ này đây, lão chủ ngân hàng đi tới đi lui, hồi tưởng lại tất cả những điều này, và tự hỏi: “ Mục đích của việc đánh cược đó là gì? Lợi ích gì mà anh ta phí mất mười lăm năm còn ta ném đi hai triệu? Phải chăng điều đó có thể chứng tỏ tử hình tốt hơn hay xấu hơn chung thân? Không, chắc chắn là không. Thật vô lý, vô nghĩa. Về phía ta, chỉ là sự bốc đồng của một người hợm hĩnh, còn anh ta thì đúng là thói tham tiền.”
           
Rồi lão còn nhớ đến chuyện tiếp theo buổi chiều hôm đó. Hai bên quyết định rằng trong suốt thời gian giam giữ,chàng trai sẽ phải bị canh chừng nghiêm ngặt tại một trong những căn nhà trong vườn ông chủ ngân hàng. Theo thỏa thuận, trong vòng mười lăm năm, anh chàng không được phép bước qua ngưỡng cửa căn nhà, không gặp, không nói chuyện với ai, không nhận thư từ báo chí. Anh được quyền có một nhạc cụ, được viết thư, uống rượu, hút thuốc. Cũng theo thỏa thuận, mối liên lạc duy nhất của anh với thế giới bên ngoài chỉ thực hiện qua một cửa sổ nhỏ được trổ riêng cho mục đích này. Anh có thể nhận các thứ mình yêu cầu – sách, nhạc, rượu, v.v. nhiều mấy cũng được, bằng cách viết phiếu, và chỉ nhận được qua đường cửa sổ. Hợp đồng đã tính đến những chi tiết nhỏ nhất để chàng trai phải chịu cảnh giam cầm cô đơn chặt chẽ và buộc anh ta phải lưu lại đấy đúng mười lăm năm, tính từ mười hai giờ trưa ngày 14 tháng mười một năm 1870 cho đến mười hai giờ trưa ngày 14 tháng mười một năm 1885. Toan tính nhỏ nhất để vi phạm các điều kiện này về phía chàng trai, dù chỉ là hai phút trước thời hạn, sẽ khiến cho ông chủ ngân hàng thoát khỏi ràng buộc phải trả hai triệu.

Trong năm đầu tiên bị cầm tù, nếu căn cứ vào những phiếu ghi của anh ta thì anh tù nhân chịu cảnh cô đơn tuyệt vọng khủng khiếp. Suốt ngày đêm tiếng đàn dương cầm luôn vọng ra từ căn nhà giam. Anh ta từ chối rượu và thuốc lá. Anh viết là rượu kích thích ham muốn và ham muốn là kẻ thù của tù nhân, ngoài ra, không có gì bi thảm hơn là uống rượu ngon mà không giao tiếp với ai. Còn thuốc lá thì làm ô nhiễm gian phòng. Trong năm đầu, sách anh yêu cầu chỉ có tính cách nhẹ nhàng, tiểu thuyết tình cảm éo le, truyện ngắn giật gân, quái dị, vân vân.
           
Đến năm thứ hai, không còn nghe tiếng dương cầm nữa, chàng tù nhân chỉ yêu cầu nhạc cổ điển. Sang năm thứ năm, lại nghe tiếng nhạc và chàng trai đòi rượu. Những người có dịp quan sát anh qua cửa sổ nói rằng suốt năm đó anh chẳng làm gì khác hơn là ăn, uống, nằm dài trên giường, ngáp liên tục và giận dữ độc thọai. Anh ta chẳng đọc sách. Thỉnh thoảng, ban đêm anh ngồi viết, viết hàng giờ và sáng hôm sau xé hết những gì đã viết. Hơn một lần người ta nghe thấy tiếng anh khóc.
           
Nửa sau năm thứ sáu, người tù bắt đầu hăng hái học ngôn ngữ, triết học và lịch sử. Anh ta nhiệt tình lao vào những môn học này khiến ông chủ ngân hàng phải vất vả cung cấp đủ số sách anh yêu cầu. Trong vòng bốn năm, khoảng sáu trăm tác phẩm đã được mang đến theo đòi hỏi của anh. Chính trong thời gian này, ông chủ ngân hàng nhận được lá thư sau đây từ người tù:
           
“ Ông cai ngục thân mến, tôi viết cho ông những dòng này bằng sáu thứ tiếng. Ông hãy đưa chúng cho những người rành ngôn ngữ và để cho họ đọc. Nếu họ không thấy lỗi nào, tôi xin ông cho bắn một phát súng ở sau vườn. Tiếng súng giúp tôi hiểu rằng nỗ lực bấy lâu của tôi không uổng phí. Người tài giỏi ở mọi thời đại và mọi quốc gia nói nhiều thứ tiếng khác nhau, nhưng tất cả đều bùng cháy cùng một ngọn lửa. Ôi, nếu ông biết được giờ này tôi hạnh phúc xiết bao khi đã có thể hiểu được họ!” Nguyện vọng của người tù đã được thực hiện. Ông chủ ngân hàng cho bắn hai phát súng sau vườn.
           
Thế rồi sau năm thứ mười, người tù ngồi bất động nơi bàn và không đọc gì khác ngoài sách Phúc âm. Ông chủ ngân hàng lấy làm ngạc nhiên rằng một người trong bốn năm đã nắm vững sáu trăm tác phẩm uyên thâm giờ này lại bỏ ra gần một năm cho một tập sách mỏng và dễ hiểu. Sau sách Phúc âm là các sách về thần học và lịch sử..
           
Hai năm cuối cùng của thời gian giam hãm, người tù đọc một khối lượng sách khổng lồ, không phân lọai. Có khi anh bận rộn với khoa học tự nhiên, xong rồi lại yêu cầu tác phẩm của Byron và Shakespeare. Có những phiếu anh đòi cùng một lúc sách hóa học, sách giáo khoa y học, tiểu thuyết, chuyên luận về triết học hay thần học. Anh đọc như người bơi ngoài biển giữa đám mảnh vụn của chiếc tàu, muốn thoát nạn cứ tham lam bám víu vào trụ này rồi trụ khác.
         
Lão chủ ngân hàng nhớ lại hết những chuyện này, lão suy nghĩ:
           
“Mười hai giờ trưa mai hắn ta sẽ được tự do. Theo thỏa thuận, ta sẽ trả cho hắn hai triệu. Nếu ta phải trả cho hắn thật, mọi chuyện với ta thế là kết thúc: ta hoàn toàn phá sản.”
           
Mười lăm năm trước, trong tay lão lúc nào cũng có bạc triệu, còn giờ này đây, lão lo sợ nghĩ thầm không biết của cải và nợ nần của mình, thứ nào nhiều hơn. Liều lĩnh đánh bạc ở thị trường chứng khoán, đầu cơ bừa bãi và tính dễ bị kích động không bỏ được ngay khi tuổi đã cao, những thứ đó đã từng bước dẫn đến việc toàn bộ cơ nghiệp sụp đổ  hẳn, và từ một ông triệu phú kiêu hãnh, tự tin, không hề biết sợ, lão trở thành một chủ ngân hàng bậc trung, hoang mang trước mỗi lần trồi sụt bất ngờ của vốn liếng đầu tư. “ Cuộc đánh cược chết tiệt!”, lão càu nhàu, ôm đầu tuyệt vọng. . “ Mà sao hắn không chết đi nhỉ? Hắn chỉ mới bốn mươi. Hắn sẽ lấy của ta đến đồng xu cuối cùng, sẽ lấy vợ, vui hưởng cuộc sống, sẽ đánh bạc ở thị trường chứng khoán; trong khi ta sẽ nhìn hắn thèm thuồng như một tên hành khất, rồi ngày nào cũng nghe cái câu: Hạnh phúc cuộc sống tôi có hôm nay là nhờ ông, để tôi giúp ông! Không, quá lắm rồi! Chỉ một cách thoát khỏi phá sản và nhục nhã là tên đó phải chết!”
       
Đồng hồ điểm ba giờ, lão chủ ngân hàng lắng tai nghe. Trong nhà mọi người đều ngủ yên, bên ngoài hoàn toàn im ắng, chỉ có tiếng xào xạc của hàng cây lạnh lẽo. Cố không gây tiếng động, lão lấy từ chiếc két chịu lửa chiếc chìa khoá của cánh cửa đã mười lăm năm không hề mở, khoác áo choàng rồi bước ra khỏi nhà.
           
Ngoài vườn trời tối đen, lạnh giá. Mưa đang rơi. Một cơn gió ẩm ướt, như cắt da rít lên trong vườn, lay động mọi cây cối. Lão chủ ngân hàng căng mắt nhìn, nhưng không thấy rõ được mặt đất, các pho tượng trắng, căn nhà canh và cũng chẳng thấy cây cối gì cả. Đến gần căn nhà , lão lên tiếng gọi người gác hai lần. Không có tiếng trả lời. Chắc là anh ta đang kiếm chỗ ẩn náu tránh cái thời tiết này và đang ngon giấc đâu đó, trong nhà bếp hay nhà kính.
           
“Nếu ta có can đảm thực hiện ý đồ,” lão nghĩ, “ mọi nghi ngờ sẽ dồn trước nhất vào người gác .”
           
Trong bóng đêm lão lần theo các bậc cấp, đến cánh cửa rồi đến lối vào căn nhà . Lão mò mẫm đi vào một đường mòn nhỏ hẹp và bật một que diêm. Chẳng có bóng người nào ở đây. Có chiếc khung giường, bên trên không có chăn nệm gì, trong góc là chiếc bếp lò bằng gang xám xịt. Các dấu niêm phong trên cánh cửa dẫn đến phòng người tù vẫn còn nguyên vẹn.
           
Khi que diêm cháy hết, lão run lên, hồi hộp, ghé mắt nhìn qua khung cửa sổ nhỏ. Một ngọn nến đang cháy leo lét trong phòng người tù. Anh ta đang ngồi nơi bàn. Chỉ nhìn thấy cái lưng, đầu tóc và hai bàn tay. Nhiếu cuốn sách để mở nằm la liệt trên bàn, trên hai ghế bành, và trên tấm thảm cạnh bàn.
           
Năm phút trôi qua, chàng trai vẫn không cựa quậy. Mười lăm năm giam hãm đã tập cho anh ta ngồi bất động. Lão chủ ngân hàng gõ vào cửa sổ, chàng trai không hề có chút phản ứng nào. Lão cẩn thận gỡ niêm phong và đút chìa khóa vào ổ. Chiếc khóa rỉ sét rít lên ken két và cánh cửa kêu kẽo kẹt. Lão chủ ngân hàng tưởng sẽ nghe bước chân đi và một tiếng la ngạc nhiên, nhưng qua ba phút, tất cả đều lặng như tờ trong cả gian phòng. Lão quyết định bước vào.
             
Chàng trai ngồi bất động nơi bàn, không giống người bình thường. Chỉ là một bộ xương với lớp da nhăn nhúm, với mớ tóc quăn dài như tóc phụ nữ, râu ria xốm xoàm. Khuôn mặt vàng, da như màu đất, má trũng, lưng dài và hẹp, và cái bàn tay đang chống đỡ cái đầu tóc bờm xờm thì gầy gò, khẳng khiu, nhìn vào thấy rợn người.Tóc anh đã bạc nhiều, và nhìn vào gương mặt hốc hác, già nua đó, khó ai nghĩ rằng anh mới chỉ bốn mươi. Anh ta đang ngủ… Trên bàn, phía trước cái đầu đang cúi gục xuống kia có một tờ giấy trên đó có viết những dòng chữ nhỏ.
           
“Thật tôi nghiệp!” lão chủ ngân hàng nghĩ, “hắn đang ngủ và hẳn là đang mơ tưởng đến món tiền triệu. Và ta chỉ việc tóm lấy cái tên dở sống dở chết này, ném hắn lên giường, lấy cái gối chèn nhẹ cho ngạt thở, thì dù cho khám xét cẩn thận đến mấy cũng không thể phát hiện dấu vết của trường hợp bất đắc kỳ tử. Nhưng để xem hắn viết cái gì đây đã…”

“Mười hai giờ trưa mai tôi sẽ được tự do, sẽ có quyền giao tiếp với mọi người, nhưng trước khi rời bỏ căn phòng này và nhìn ánh mặt trời, tôi nghĩ là cần nói với ông vài lời. Với tinh thần tỉnh táo, như đứng trước Chúa đang nhìn thấy tôi đây, tôi cho ông biết rằng tôi khinh thường tự do, cuộc sống, sức khỏe và tất cả những gì sách vở của ông cho là báu vật trên thế giới.
           
Trong vòng mười lăm năm tôi đã chú tâm học hỏi cuộc sống trần gian. Thực ra thì tôi đã không được nhìn thấy trái đất và con người, nhưng nhờ vào sách vở của ông, tôi đã nếm được rượu thơm, đã được ca hát, đã săn hươu nai và lợn lòi trong rừng, đã yêu thương phụ nữ… Những mỹ nhân, thanh thoát như mây trời, tạo ra bởi phép màu của các bậc thi nhân và thiên tài của ông, đêm đêm đã đến thăm tôi và đã thủ thỉ bên tai tôi những câu chuyện tuyệt vời làm lòng tôi say đắm. Nhờ sách vở của ông, tôi đã trèo lên tới đỉnh các núi Elburz và Mont Blanc, từ đấy, tôi đã ngắm nhìn ánh bình minh, đã chiêm ngưỡng lúc chiều tà cảnh bầu trời, đại dương, đỉnh núi nhuộm sắc vàng hay đỏ thắm. Từ những nơi đấy tôi đã có dịp ngắm tia chớp loé qua đầu, rạch xé những đám mây. Tôi đã nhìn thấy rừng xanh, cánh đồng, sông hồ, thành thị. Tôi đã được nghe những nàng tiên cá hát ca, nghe những chú mục đồng thổi sáo; tôi đã chạm vào đôi cánh của ma quỷ dễ thương bay xuống trò chuyện về Chúa . Trong sách vở của ông, tôi đã có dịp nhào xuống những vực sâu không đáy, đã thực hiện bao phép mầu, đã chém giết, đã đốt cháy các thành phố, đã thuyết giảng những tôn giáo mới, đã chinh phục nhiều vương quốc…
           
Sách vở của ông đã mang lại cho tôi sự khôn ngoan. Tất cả những gì mà tư tưởng luôn biến chuyển của loài người đã tạo ra qua nhiều thời đại nay được nén lại thành một khoanh nhỏ trong não bộ tôi. Tôi biết bây giờ tôi uyên thâm hơn tất cả các ông.
           
Và bây giờ tôi khinh thường sách của ông, khinh thường sự hiểu biết và hạnh phúc ở đời. Tất cả đều vô nghĩa, phù du, hão huyền, lừa dối, chỉ như là ảo ảnh thôi.  Các ông có thể kiêu hãnh, khôn ngoan, tinh tế, nhưng rồi cái chết sẽ quét các ông khỏi mặt đất, các ông chẳng khác nào những con chuột chui rúc dưới nền nhà, và rồi hậu thế các ông, lịch sử của các ông, những thiên tài bất tử của các ông sẽ bị đốt cháy hay tan rã cùng với quả địa cầu thôi.
           
“Các ông đã mất trí, đã lầm đường. Các ông đã lấy dối trá làm cái Chân, lấy xấu xa làm cái Mỹ. Các ông có thể kinh ngạc nếu như, nhờ một hiện tượng kỳ quái nào đó,  cây cam cây táo sinh ra cóc nhái thằn lằn thay vì ra quả, hoặc giả, hoa hồng lại có mùi như mồ hôi của loài ngựa; còn tôi lại kinh ngạc vì các ông đã đổi trời lấy đất. Tôi không muốn hiểu các ông.
           
Để chứng tỏ bằng hành động thiết thực rằng tôi khinh thường biết bao những thứ mà các ông dựa vào để sống, tôi từ bỏ số tiền hai triệu mà trước đây tôi mơ ước như một thiên đường và giờ này tôi khinh thường. Để tự tước bỏ cái quyền được thụ hưởng số tiền đó, tôi sẽ rời bỏ nơi này năm tiếng đồng hồ trước thời hạn quy định, và vi phạm hợp đồng…”
        
Khi lão chủ ngân hàng đọc hết những dòng này, lão để tờ giấy lại trên bàn, hôn lên đầu người đàn ông kỳ lạ kia, bước ra khỏi nhà canh, và  khóc. Chưa bao giờ trong đời, kể cả lúc thất bại nặng nề ở thị trường chứng khoán, lão thấy tự khinh mình như thế. Về đến nhà, lão nằm lên giường nhưng nước mắt và cơn xúc động khiến rất lâu sau lão vẫn không sao ngủ được.
           
Sáng hôm sau, những người gác chạy vào, mặt tái mét, và báo với lão là họ thấy người sống trong căn nhà trèo  cửa sổ vào vườn, chạy đến cổng và biến mất. Ngay sau đó lão chủ ngân hàng cùng người nhà đi đến căn nhà giam để xác minh việc bỏ trốn của người tù. Để tránh những tin đồn không cần thiết, lão lấy tờ giấy nói rõ việc từ chối hai triệu và khi về nhà cất trong két sắt khóa kỹ.

Thân Trọng Sơn
Dịch từ bản tiếng Anh ( The bet )

950 . NGUYỄN MINH NỮU Khánh Trường, nhìn từ xa.

 

NGUYỄN MINH NỮU Khánh Trường, nhìn từ xa.

Nhà văn/Họa sĩ Khánh Trường

 

Ngày 18 tháng 10 năm 2022. Tạp chí Ngôn Ngữ số 22, số viết về tác giả Khánh Trường, một nhà văn, họa sĩ, nhà báo, người biên tập văn học đã phát hành. Chắc là khi dự trù công việc này, Ban Biên Tập Ngôn Ngữ đã kín đáo không báo cho Khánh Trường biết, nên khi  nhận được tạp chí, Khánh Trường đã ghi trên facebook lời  cám ơn ngạc nhiện :

-Trời đất! Bạn zàng Luân Hoán và bằng hữu gần xa định "tế sống" tôi hay sao mà mần một số NN đặc biệt về tôi?

Nói đùa để che dấu cảm động đang dâng trào trong lòng. Phải, tôi cảm động lắm, không ngờ một tên bán trời không mời thiên lôi là tôi lại được các bạn rộng lòng ưu ái.

Cảm ơn, bằng hữu gần xa, nhiều bằng hữu thân gần tôi đã gặp, có người chỉ quen trên fb chưa từng diện kiến, có người "văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình", cảm ơn, cảm ơn.

Trong lời cám ơn chung này, Khánh Trường nói tới những người viết về Ông mà chưa từng diện kiến, chỉ làm bạn trên facebook, “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” thì đây,  tôi là một người như thế , và bài viết này là một bài như thế.  Xin gửi lên đây để cám ơn anh Luân Hoán và BBT Ngôn Ngữ đăng bài, và gửi tới anh Khánh Trường một người tôi quý trọng mà chưa một lần trò chuyện. Thân quý.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

949 . PHẠM THÀNH CHÂU Truyện ngắn DUYÊN TIỀN ĐỊNH

 

Google photos
                                   

(Cô hàng cà phê Tân Định kể)         

Ai có cho rằng tôi mê tín dị đoan nhảm nhí mặc kệ, tôi vẫn tin rằng có duyên "tiền định" mới nên vợ chồng.

Chồng tôi người Việt nhưng quốc tịch Mỹ, lấy tên là Charles Lee, thường gọi là (Đít) Dick. Dick tốt nghiệp đại học Mỹ. Trong khi chờ ngày đi làm, bố chồng tôi có ý định đưa con trai về Việt Nam kiếm vợ. Anh ta học giỏi, đẹp trai, mặt mũi sáng láng nhưng khờ đặc trong việc giao tiếp với bạn bè. Ngay thời còn ở high-school, nhiều cô bạn cùng trường  đến làm quen, anh ta cứ thụt lùi mãi, khiến các cô phát nản.

Trước năm 1975, bố anh ta là hạ sĩ quan an ninh phi trường Tân Sơn Nhất, ông có người bạn đồng ngũ rất thân. Sau 1975, bố anh ta về quê, xoay xở đưa cả gia đình vượt biên, còn người bạn thì về nhà, kế nghiệp cha mẹ, làm chủø một tiệm hủ tiếu ở đường Hai Bà Trưng, trước chợ Tân Định. Người bạn nầy gốc Tàu, tính cần kiệm và kín đáo nên không bị đánh tư sản (bị tịch thu gia sản, đuổi đi kinh tế mới).

Ở Mỹ, bố anh chàng Dick thường thư từ cho người bạn bán hủ tiếu ở Tân Định. Khi biết ông ta có ý định về Việt Nam kiếm vợ cho con thì người bạn đồng ngũ nầy ngỏ ý muốn giới thiệu con gái của mình với anh Dick. Hai ông bạn trao đổi hình ảnh con của mình cho hai đứa nhỏ nghiên cứu, tìm hiểu nhau. Thấy hình cô gái cũng đẹp, chưng diện coi bộ còn thời trang hơn cả các cô gái Việt ở Mỹ nên Dick thích lắm, nhưng đỏ mặt, không có ý kiến. Thế là ông gọi cho người bạn, hẹn năm nay về ăn Tết, sẽ cho tiến hành lễ hỏi và lễ cưới cho hai đứa.

Hôm gia đình anh ta xuống phi trường Tân Sơn Nhất, cả nhà cô gái long trọng đón về. Vừa là bạn chí cốt, lại sắp thành thông gia nên hai gia đình rất vui vẻ, thân mật. Cô gái đẹp hơn cả trong hình, nên chàng Dick thích mê, nhưng mắc cỡ. Hễ đối diện với cô ta thì mặt đỏ  lên, miệng ấp úng, nói không nên lời. Hơn nữa, vì không rành tiếng Việt nên anh ta cứ ngập ngọng, nhưng nhờ cô gái đang học đại học, ban Anh văn nên cả hai không đến nỗi khó khăn khi chuyện trò. Cô ta rủ anh chàng đi chơi Sài Gòn, đi mua sắm, đôi khi còn chở Dick sau xe gắn máy, vi vút ra ngoại ô hóng gió, ăn uống ở các nhà hàng đồng quê. Được ngồi sau, ôm eo người đẹp, anh ta thích quá, nhất là khi được người đẹp ngồi bên cạnh tựa ngực vào người, giọng thủ thỉ, nũng nịu khiến anh chàng chết mê, chết mệt. Thế nên, trong một buổi cơm tối, cô cậu được hỏi ý kiến, có bằng lòng nhau không? Chàng ta trả lời "Dạ chịu!" Còn cô gái chỉ liếc anh ta và tủm tỉm cười. Thế là đám hỏi diễn ra ngay hôm sau.

Thời đại hỏa tiễn, gì cũng tốc hành cho nhanh gọn. Buổi sáng, nhà trai đi sắm nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, trang phục cô dâu, chú rể và các vật dụng cần thiết, ý là đám hỏi xong thì tiến hành đám cưới ngay. Buổi chiều hai họ kéo nhau ra nhà hàng nhậu nhẹt tưng bừng. Trong buổi tiệc gọi là tiệc đám hỏi đó, hai ông bạn nghéo tay nhau hẹn tuần sau nhà trai (từ dưới tỉnh) sẽ lên đón cô dâu về quê làm đám cưới cho xôm tụ. Nhà gái, dĩ nhiên phải o bế cho cô dâu thêm phần xinh đẹp để bà con dưới tỉnh rõ mặt gái Sài Gòn.

Dick về dưới quê nhưng đã bị cô gái hớp hồn rồi nên người cứ sững chừng, suốt ngày lơ ngơ, không nghe, không thấy gì chung quanh, rồi than buồn. Cha mẹ anh ta biết ngay là thằng con đã bị cô gái bắt mất vía nên gợi ý cho anh ta lên Sài Gòn, ở lại nhà cô vợ tương lai trước khi làm đám cưới. Biết con mình chánh hiệu con nai vàng ngơ ngác, nên ông bà dặn dò rất kỹ, nào là không được qua đường một mình (sợ xe tung), đi đâu phải có cô vợ tương lai bên cạnh để khỏi bị bọn bất lương lường gạt, cướp giật. Ở chơi đúng hai ngày sau thì về để chuẩn bị làm đám cưới.

Chiều hôm đó, Dick đón xe đò lên Sài Gòn. Về đến bến xe Miền Tây thì đã khuya, Dick là người lịch sự theo kiểu Âu Mỹ, không muốn làm phiền người khác nên anh chàng đến  khách sạn qua đêm.

948 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH - Hư Ảo Thu



HƯ ẢO THU

 

Dường như tôi nghe

Anh đang chờ mùa thu

Nhẹ như cơn gió thoảng

Anh đang chờ mùa thu

Âm man mác buồn

Vẽ ra trong nắng bỏng

ánh mắt im. xa vắng.

Chờ một người quen lâu lắm chưa về

 

Dường như đã lặng gió rồi, mùa cũ

Hôm nay ai đó quăng viên cuội xuống mặt hồ

Âm âm

Anh đang chờ mùa thu

Xuyến xao vòng nước

Hư huyễn lời thầm thì

Ảo ảnh một người. Có thể đã ngồi đấy. Và nói

Anh đang chờ mùa thu…

 

Có ai vừa gọi tôi

Mùa thu tràn dưới phố

Dường như tôi vừa ngoảnh lại

Mùa cúc quỳ hư ảo

Mầu vàng ngập hết chiêm bao

Ntkm

Mời nghe nhạc: Tâm chau Michelle thực hiện với Suno

https://www.youtube.com/watch?v=kvPGBCrKc8E&list=RDkvPGBCrKc8E&start_radio=1

 

 

 

ÂM VANG THU

*Về tiếng hát Thu Vàng, một âm vang thu trong tôi

 

Sao không ở cùng tôi thêm chút nữa, cơn mưa... để rót đầy tình tự mùa thu trên bờ úa nắng, để riêng che một cõi xưa đằm thắm theo về.

 

Hương ngai ngái của đất vừa chớm ướt, hat

mưa chỉ còn là nỗi run rẩy trên bàn tay bé nhỏ lá ơi, hãy chắt chiu đến tận cùng có thể, cho tôi nhìn sâu thẳm âm thanh là những hạt long lanh đến thế.

 

Chiều thu êm dòng sông xanh, tôi lắng mình hạt nước nhỏ vợi lòng theo tiếng hát ngọt lành, nghe niềm đau tìm về an ủi trong sóng yêu thương, hương cánh lá bất chợt vàng trên sông chiều xao động…

 

Gió phương tây thổi về rung rung vàng óng, cỏ xanh tơ mật nồng nàn không gian dịu như lòng đang xúc cảm. Nhẹ mùa thu dặt dìu tiếng hát cho tôi gửi vào bao la trái tim nhỏ bé vừa hôm nay gặp lại lòng mình.

 

Yêu đến vô bờ những vì sao mờ tỏ thắp trời khuya, ai thấy được trong lung linh bờ cỏ một vì sao vừa rụng xuống đêm nay, riêng trong tôi cũng lâu rồi ấp ủ một ánh nhìn như nước mắt sao đêm…

 

Mở cánh gió bừng bừng hạnh phúc bước rộn ràng trên mái nhà đang yên giấc, chiếc lá khô giòn reo bập bùng trên tàng cây khuya khoắt, gió gió thế mà vi vu khó tả, ru ngon nhịp võng ngày thơ tôi thiếp ngủ nồng nàn tiếng hát thu ơi…

 

Thánh thót vàng thu lãng đãng thời gian, chỉ một nhịp khẽ rơi vào tim mà bồi hồi không dứt, mong manh ơi sẽ là bất tận trong thương yêu ký ức chở che, cho tôi run run mỗi lúc tìm về âm vang tiếng hát thu reo mừng hoài niệm…




ntkm

947 . THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu: HỒI ỨC VỀ MỘT TIỆM SÁCH Truyện ngắn GEORGE ORWELL (1903-1950)

 

George Orwell (1903-1950)

   GEORGE ORWELL, tên thật là Eric Arthur Blair, sinh ngày 25/6/1903 tại Motihari, Bengal ( tên hiện nay là Bihar ) khi Ấn độ còn là thuộc địa của đế chế Anh. Cha ông  khi đó là nhân viên của Ty Nha phiến, thuộc Sở Dân sự. Ông là con thứ hai trong gia đình. Mẹ ông xuất thân trong một nhà lái buôn chè. Mới lên 1 tuổi, ông được đưa về chính quốc, được gửi vào một trường nhỏ thuộc giáo phái Anh, nơi đây chị gái ông từng theo học.

   Hai năm sau ông được tiến cử với hiệu trưởng của một trong những trường dự bị thành công nhất của Anh vào thời đó ( Trường St. Cyprian’s School, Eastbourne, Sussex ). Tại đây, ông được cấp một nửa học bổng. Kết quả học tập khá tốt, ông tốt nghiệp được ở trường chất lượng cao vốn chỉ dành cho con nhà khá giả. Năm 1922, không đủ tiền vào đại học, Blair gia nhập Indian Imperial Police, phục vụ tại Miến Điện. Những điều tai nghe mắt thấy ở vùng thuộc địa Nam Á này đã khiến ông chán ghét chủ nghĩa đế quốc. Quay trở lại Anh, ông từ bỏ cuộc đời công chức để dồn sức phấn đấu trở thành nhà văn. Từ năm 1923, ông bắt đầu công bố những “ sáng tác người lớn “ của mình. Ông bắt đầu lăn lộn với các tầng lớp dưới, tìm hiểu những cảnh đời ngang trái và lầm than ở cả Anh lẫn Pháp. Từ năm 1935, ông bắt đầu sử dụng bút danh George Orwell vì không muốn cha mẹ biết về những trải nghiệm bần cùng của mình. Về giai đoạn sống và chiến đấu ở Tây Ban Nha, ông đã viết tiểu thuyết tư liệu Kỷ niệm Catalonia ( 1926 ), và Ký ức chiến tranh ở Tây Ban Nha ( 1943 ).

   Khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ, Orwell mặc dù tuyên bố rằng chính thể ở Anh còn tồi tệ hơn ở nước Đức phát xít nhưng vẫn xung phong ra mặt trận, tuy nhiên ông bị từ chối vì vết thương trong chiến tranh Tây Ban Nha. Ông về hậu phương, làm phóng viên trên Đài Phát thanh BBC, dẫn các chương trình chống phát xít. Trong thời gian này, ông viết tiểu thuyết Trại Súc Vật ( Animal Farm ) , ám chỉ rõ nét Liên Xô, khi hoàn thành bị từ chối in cả ở Anh lẫn Mỹ. Phải chờ đến năm 1945, Trại Súc Vật mới được công bố và trở thành vũ khí của những lực lượng chống cộng ở phương Tây.

Ông mất năm 1950 vì bệnh lao. Orwell được đánh giá là một nhà văn mang nhiều mâu thuẫn trong mình, một người theo chủ nghĩa cá nhân và tuyệt đối chính trị.

Orwell chỉ sống tới tuổi 46 nhưng đã để lại nhiều xét đoán khác biệt. Tác phẩm của ông không phải ở đâu cũng được đón nhận thuận chiều. 

   Đoản văn giới thiệu dưới đây có tên là Bookshop Memories, Hồi ức về một tiệm sách, đúng hơn là những hồi ức của một người bán sách cũ. Tác giả viết truyện này năm 1936, kể về thời gian ông làm việc như một nhân viên bán sách bán thời gian tại  tiệm bán sách cũ  Booklover’ s Corner toạ lạc ngay góc phố Pond Street và South End Green, thành phố London, nước Anh. Hiện nay tiệm này không còn nữa mà biến thành nhà hàng pizza, tuy nhiên ở đó còn gắn tấm biển ghi rằng: Gworge Orwell, nhà văn, từng sống và làm việc trong một tiệm sách ngay vị trí này.

Những người mê sách cũ hẳn sẽ tìm thấy nhiều đồng cảm khi đọc những chi tiết về mua, bán sách cũ. Và những ai đã có dịp đến thủ đô Paris của nước Pháp chắc sẽ không quên những tiệm sách cũ dọc bờ sông Seine. Từ năm 1859, Hội đồng thành phố Paris quyết định dành một dãy đất bên bờ sông Seine giúp những người bán sách cũ được  “ định cư “ cố định để bán sách cũ từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn.

Năm 1932, bờ kè sông Seine với những người bán sách cũ được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới và cũng từ đó, sông Seine được đặt biệt danh là “ dòng sông duy nhất trên thế giới trôi giữa những kệ sách “.

   Ernest Hemingway, nhà văn lừng danh của Mỹ, và nhiều tác giả khác, đã từng lang thang tại khu vực cầu cảng này, lật từng trang sách cũ và thậm chí tìm những tác phẩm của chính mình được trưng bày trong các kệ sách đặt sát nhau. Ước tính  có trên 300000 cuốn sách được bày bán dọc theo con đường bán sách cũ bên bờ sông Seine. Nơi tập trung đông nhất là lối dẫn vào Khu phố La tinh ( Quartier Latin ), nơi có Trường Đại học Sorbonne nổi tiếng.

   Đừng tưởng chỉ có Anh, Pháp mới có tiệm bán sách cũ. Ngay tại Saigon cũng không thiếu. Bạn thử tìm tới Nhà sách Khải Vinh, 43 Trần Nhân Tôn, Quận 5. Nơi đây có bán sách báo cũ và mới. Một vài địa chỉ khác để bạn tham khảo:

Trung Tâm Sách Cũ, 50, Võ Thị Sáu, Tân Định, Quận 1.

Một địa chỉ khác, rộng rãi hơn là Đường Sách Thành phố, dọc theo đường Nguyễn Văn Bình, Bến Nghé, Quận 1. 

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

946 . NGUYÊN CẨN - KHÓI VẪN CÒN VƯƠNG

 

Khói Vẫn Còn Vương

 Uống đến chai thứ ba, Sử bâng khuâng nhìn ra bờ sông Sài Gòn. Chiều xuống dần. Mặt trời lấp lóa yếu ớt ném chút  ánh nắng  tàn  xuống mặt sông, quẫy đạp loang loáng. Quay sang tôi, Sử bỗng dưng chùng giọng xuống: “Này ông có thích nghe chuyện buồn không? Chuyện khá “romantic” và nếu ông không chê sến, tôi kể ông nghe”. Bật cười, tôi nói: “ Sao hôm nay ngài có vẻ long trọng đại thế! Bình thường ông vẫn tếu táo xem mọi chuyện trên đời, nhất là chuyện tình yêu, là phù phiếm, là cải lương, là ‘sến sủa’ kia mà!”.

 “Không, ông à, anh em mình già rồi, ngẫm lại mọi chuyện cũng phải chừng mực, khách quan chứ !” 

 Tôi ngạc nhiên, một gã bất cần đời thấm nhuần triết lý Tây phương, coi nhẹ mọi chuyện như Sử mà có lúc cũng đắn đo vậy sao? Sử xuất thân con nhà nền nếp, khoa bảng, bản thân học khoa Ngoại ngữ, tiếng Pháp, cùng đại học với tôi. Hắn đàn hay, hát giỏi, khá đẹp trai, lại  để bộ ria mép, thường được gọi là Sử Sĩ Phú vì hắn hát bài “Cô láng giềng” rất hay, nhái đúng giọng và phong cách Sĩ Phú khi trình diễn. Khi ra trường, Sử cùng đi với tôi ra Phú Khánh, nhưng hắn phải về Tuy Hòa, còn tôi ở Nha Trang. Cũng may ngôi trường hắn được bổ nhiệm khá lớn nhưng ngặt nỗi không có học sinh tiếng Pháp nên người ta dự kiến chuyển hắn xuống cấp 2 dạy tiếng Anh. May sao ông Hiệu trưởng thấy hắn cũng dễ mến nên giữ hắn lại dạy tiếng Anh, mà trình độ sinh viên sư phạm ngày ấy, nhất là dân trường Tây như hắn thì đủ sức dạy cả hai thứ tiếng. Bẵng đi rất lâu mất liên lạc, nhất là khi tôi chuyển về Sài Gòn trước hắn mấy năm. Gần đây nhờ facebook bạn bè mới gặp lại nhau.

  Sử rót đầy ly, uống một hơi, và kể …

…Những ngày  đầu về Tuy Hòa, Sử cảm thấy ngột ngạt vì không  quen nếp sinh hoạt của một ngôi trường cấp 3. Toàn là đi họp và lên lớp, suốt ngày, hết làm chủ nhiệm rồi họp Chi đoàn, Công đoàn, Tổ Bộ môn, quay cuồng soạn giáo án đã mệt lử rồi. Huống chi dân Pháp Văn nhảy sang Anh văn cũng phải mất thời gian tập phát âm cho “dẻo” miệng vì quen accent tiếng Pháp bấy lâu. Lại không được mở đài nước ngoài nghe vì sợ mang tiếng nghe “đài địch”. Cũng may học sinh khá hiền, và chúng  nó cũng không biết tiếng Anh thật sự đọc thế nào vì có tiếp xúc với người nước ngoài bao giờ đâu. Ông thầy luôn là thần tượng về mặt tri thức. Những thầy cô lâu năm thì ‘năm thì mười họa’ mới dự giờ vì ai cũng bận bịu. Rủi nghe thầy phát âm hơi cứng thì cũng thông cảm. Thầy vốn xuất thân dân Pháp văn, dạy được thế là tốt rồi. Sử lại không bon chen, không hề có ý niệm “phải tiên tiến” hay “đạt điểm thi đua”. Lớp Sử chủ nhiệm luôn đứng hạng chót toàn  khối. Thao giảng thì Sử cũng không cần đánh giá tốt, cho trung bình cũng được! Sử an nhiên sống theo “hạnh an nhi” ấy, như một đứa trẻ, bỏ ngoài tai mọi lời dèm pha, phê bình. Nhưng bù lại chàng đàn rất hay, hát rất ngọt, nên các cô giáo rất thích. Hội diễn văn nghệ nào cũng kéo chàng tham dự, thay mặt cho tổ, cho trường… Những đêm hội trại, chàng ôm đàn hát đến khuya, cô nào cũng thích mon men đến nghe, dù không tránh khỏi phê bình “hay hát nhạc vàng. Cần củng cố quan điểm văn nghệ quần chúng”.

Mặc. Sử sống phớt đời. Người phê bình chàng nặng nhất là cô Thu, phụ trách Đoàn Thanh niên, nói chàng không  làm gương cho học sinh, hay đàn đúm, thiếu tác phong sư phạm, la cà quán xá, lề mề… Có lần chàng hỏi gặng Thu: “Sao, cô muốn tôi thành người máy hả? Tôi phải sống như một con người”. Thu quắc mắt nhìn chàng “Tôi sẽ đưa anh ra kiểm điểm trong Đoàn và Chi bộ sẽ có ý kiến với anh vì tác phong “tiểu tư sản” miền Nam chưa gột rửa được!”. Nói vậy thôi chứ trường đang cần giáo viên có khả năng văn nghệ mà Sử thì lại rất tài hoa. Ngoài âm nhạc, chàng còn biết trang trí và vẽ bằng phấn những tiêu đề rất đẹp cho trường trong những ngày lễ. Thầy hiệu trưởng có lần phải vỗ về cô Thu “Con ngựa chứng thường có tài em à! Thôi kệ cứ từ từ uốn nắn hắn. Văn hóa mới cần có thời gian thẩm thấu. Cô Thu hạ quyết tâm “chuyển hóa” chàng. Nhưng Sử có cần biết cái gì là văn hóa mới đâu? Chàng vẫn ôm đàn trong những đêm sinh hoạt chung mà hát “Bay đi cánh chim biển” hay “Em còn nhớ hay em đã quên” trong sự ngưỡng vọng của đám học trò mới lớn. Trong lớp chàng kể cho các em nghe những bi kịch của Shakespeare, Corneille, những tác phẩm của Victor Hugo, Balzac, những câu chuyện kể của  Alexandre Dumas  hay  Georges Sand… Chúng nghe mê mẩn vì cảm thấy chàng đã mở cả một bầu trời bao la cho tuổi trẻ như những cánh chim non bay vào… Chàng dịch những bài thơ lãng mạn Anh như của John Keats, Byron.., Pháp như của Chateaubriand,  Lamartine,  Alfred de Musset,… rồi đọc cho học sinh nghe. Khi chàng kể hay đọc, các em như thấy cơn mưa rào sau những cơn nắng hạn với nền văn học mà các em đang học trong nhà trường. Cứ như thế dù bị công kích, phê phán về thói lề mề trong sổ sách, lè phè trong sinh hoạt thì chàng tỏ ra “vô hại” cho mọi người, nếu không muốn nói chỉ mang tới sự sảng khoái và niềm vui qua tiếng hát, qua những câu chuyện duyên dáng… Từ một thầy giáo tiếng Anh tay ngang, chỉ sau 3 năm chàng được đưa lên dạy thế cho một cô giào nghỉ hộ sản ở lớp 12. Và chàng đã gặp Châu, cô bé lớp phó học tập, lanh lẹ, nghiêm nghị, cặp mắt to, tròn, như hai viên bi. Châu có nhìn xoáy vào người đối diện, nửa như dò xét, nửa như bỡ ngỡ nên người ta vừa sợ vừa mến. Châu học rất giỏi, nhưng Châu ít khi khi hài lòng với những gì đã học trên lớp, luôn tìm tòi và đặt câu hỏi trong giờ học, sau giờ học. Chàng lại được giao chủ nhiệm lớp Châu. Mẹ Châu có sạp ở chợ, nên kinh tế gia đình tương đối khá giả. Một lần bà đến trường gặp chàng và nói thẳng: “Tôi nghe cháu Châu khen thầy giỏi lắm. Năm nay là năm thi của cháu, tôi muốn thỉnh thầy về nhà dạy thêm cho cháu được không?”. Sử trả lời ngay “Nhà trường có mở lớp phụ đạo cho mấy em yếu, Châu thuộc loại giỏi, chắc khỏi cần học thêm”.

 Bà khẳng khái nói luôn “Giỏi là giỏi trong lớp thôi. Tôi muốn nhờ thầy làm một công hai chuyện, dạy cho cháu giỏi để thi tú tài và vào đại học, sau này nếu có đi nước ngoài thì tiếng Anh cũng phải khá mới học tiếp được. Thầy đừng ngại vấn đề thù lao. Nhà tôi rộng. Cháu có phòng học riêng, yên tĩnh. Tôi chỉ có hai đứa con thôi. Châu là con gái lớn”.