Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

949 . PHẠM THÀNH CHÂU Truyện ngắn DUYÊN TIỀN ĐỊNH

 

Google photos
                                   

(Cô hàng cà phê Tân Định kể)         

Ai có cho rằng tôi mê tín dị đoan nhảm nhí mặc kệ, tôi vẫn tin rằng có duyên "tiền định" mới nên vợ chồng.

Chồng tôi người Việt nhưng quốc tịch Mỹ, lấy tên là Charles Lee, thường gọi là (Đít) Dick. Dick tốt nghiệp đại học Mỹ. Trong khi chờ ngày đi làm, bố chồng tôi có ý định đưa con trai về Việt Nam kiếm vợ. Anh ta học giỏi, đẹp trai, mặt mũi sáng láng nhưng khờ đặc trong việc giao tiếp với bạn bè. Ngay thời còn ở high-school, nhiều cô bạn cùng trường  đến làm quen, anh ta cứ thụt lùi mãi, khiến các cô phát nản.

Trước năm 1975, bố anh ta là hạ sĩ quan an ninh phi trường Tân Sơn Nhất, ông có người bạn đồng ngũ rất thân. Sau 1975, bố anh ta về quê, xoay xở đưa cả gia đình vượt biên, còn người bạn thì về nhà, kế nghiệp cha mẹ, làm chủø một tiệm hủ tiếu ở đường Hai Bà Trưng, trước chợ Tân Định. Người bạn nầy gốc Tàu, tính cần kiệm và kín đáo nên không bị đánh tư sản (bị tịch thu gia sản, đuổi đi kinh tế mới).

Ở Mỹ, bố anh chàng Dick thường thư từ cho người bạn bán hủ tiếu ở Tân Định. Khi biết ông ta có ý định về Việt Nam kiếm vợ cho con thì người bạn đồng ngũ nầy ngỏ ý muốn giới thiệu con gái của mình với anh Dick. Hai ông bạn trao đổi hình ảnh con của mình cho hai đứa nhỏ nghiên cứu, tìm hiểu nhau. Thấy hình cô gái cũng đẹp, chưng diện coi bộ còn thời trang hơn cả các cô gái Việt ở Mỹ nên Dick thích lắm, nhưng đỏ mặt, không có ý kiến. Thế là ông gọi cho người bạn, hẹn năm nay về ăn Tết, sẽ cho tiến hành lễ hỏi và lễ cưới cho hai đứa.

Hôm gia đình anh ta xuống phi trường Tân Sơn Nhất, cả nhà cô gái long trọng đón về. Vừa là bạn chí cốt, lại sắp thành thông gia nên hai gia đình rất vui vẻ, thân mật. Cô gái đẹp hơn cả trong hình, nên chàng Dick thích mê, nhưng mắc cỡ. Hễ đối diện với cô ta thì mặt đỏ  lên, miệng ấp úng, nói không nên lời. Hơn nữa, vì không rành tiếng Việt nên anh ta cứ ngập ngọng, nhưng nhờ cô gái đang học đại học, ban Anh văn nên cả hai không đến nỗi khó khăn khi chuyện trò. Cô ta rủ anh chàng đi chơi Sài Gòn, đi mua sắm, đôi khi còn chở Dick sau xe gắn máy, vi vút ra ngoại ô hóng gió, ăn uống ở các nhà hàng đồng quê. Được ngồi sau, ôm eo người đẹp, anh ta thích quá, nhất là khi được người đẹp ngồi bên cạnh tựa ngực vào người, giọng thủ thỉ, nũng nịu khiến anh chàng chết mê, chết mệt. Thế nên, trong một buổi cơm tối, cô cậu được hỏi ý kiến, có bằng lòng nhau không? Chàng ta trả lời "Dạ chịu!" Còn cô gái chỉ liếc anh ta và tủm tỉm cười. Thế là đám hỏi diễn ra ngay hôm sau.

Thời đại hỏa tiễn, gì cũng tốc hành cho nhanh gọn. Buổi sáng, nhà trai đi sắm nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, trang phục cô dâu, chú rể và các vật dụng cần thiết, ý là đám hỏi xong thì tiến hành đám cưới ngay. Buổi chiều hai họ kéo nhau ra nhà hàng nhậu nhẹt tưng bừng. Trong buổi tiệc gọi là tiệc đám hỏi đó, hai ông bạn nghéo tay nhau hẹn tuần sau nhà trai (từ dưới tỉnh) sẽ lên đón cô dâu về quê làm đám cưới cho xôm tụ. Nhà gái, dĩ nhiên phải o bế cho cô dâu thêm phần xinh đẹp để bà con dưới tỉnh rõ mặt gái Sài Gòn.

Dick về dưới quê nhưng đã bị cô gái hớp hồn rồi nên người cứ sững chừng, suốt ngày lơ ngơ, không nghe, không thấy gì chung quanh, rồi than buồn. Cha mẹ anh ta biết ngay là thằng con đã bị cô gái bắt mất vía nên gợi ý cho anh ta lên Sài Gòn, ở lại nhà cô vợ tương lai trước khi làm đám cưới. Biết con mình chánh hiệu con nai vàng ngơ ngác, nên ông bà dặn dò rất kỹ, nào là không được qua đường một mình (sợ xe tung), đi đâu phải có cô vợ tương lai bên cạnh để khỏi bị bọn bất lương lường gạt, cướp giật. Ở chơi đúng hai ngày sau thì về để chuẩn bị làm đám cưới.

Chiều hôm đó, Dick đón xe đò lên Sài Gòn. Về đến bến xe Miền Tây thì đã khuya, Dick là người lịch sự theo kiểu Âu Mỹ, không muốn làm phiền người khác nên anh chàng đến  khách sạn qua đêm.

948 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH - Hư Ảo Thu



HƯ ẢO THU

 

Dường như tôi nghe

Anh đang chờ mùa thu

Nhẹ như cơn gió thoảng

Anh đang chờ mùa thu

Âm man mác buồn

Vẽ ra trong nắng bỏng

ánh mắt im. xa vắng.

Chờ một người quen lâu lắm chưa về

 

Dường như đã lặng gió rồi, mùa cũ

Hôm nay ai đó quăng viên cuội xuống mặt hồ

Âm âm

Anh đang chờ mùa thu

Xuyến xao vòng nước

Hư huyễn lời thầm thì

Ảo ảnh một người. Có thể đã ngồi đấy. Và nói

Anh đang chờ mùa thu…

 

Có ai vừa gọi tôi

Mùa thu tràn dưới phố

Dường như tôi vừa ngoảnh lại

Mùa cúc quỳ hư ảo

Mầu vàng ngập hết chiêm bao

Ntkm

Mời nghe nhạc: Tâm chau Michelle thực hiện với Suno

https://www.youtube.com/watch?v=kvPGBCrKc8E&list=RDkvPGBCrKc8E&start_radio=1

 

 

 

ÂM VANG THU

*Về tiếng hát Thu Vàng, một âm vang thu trong tôi

 

Sao không ở cùng tôi thêm chút nữa, cơn mưa... để rót đầy tình tự mùa thu trên bờ úa nắng, để riêng che một cõi xưa đằm thắm theo về.

 

Hương ngai ngái của đất vừa chớm ướt, hat

mưa chỉ còn là nỗi run rẩy trên bàn tay bé nhỏ lá ơi, hãy chắt chiu đến tận cùng có thể, cho tôi nhìn sâu thẳm âm thanh là những hạt long lanh đến thế.

 

Chiều thu êm dòng sông xanh, tôi lắng mình hạt nước nhỏ vợi lòng theo tiếng hát ngọt lành, nghe niềm đau tìm về an ủi trong sóng yêu thương, hương cánh lá bất chợt vàng trên sông chiều xao động…

 

Gió phương tây thổi về rung rung vàng óng, cỏ xanh tơ mật nồng nàn không gian dịu như lòng đang xúc cảm. Nhẹ mùa thu dặt dìu tiếng hát cho tôi gửi vào bao la trái tim nhỏ bé vừa hôm nay gặp lại lòng mình.

 

Yêu đến vô bờ những vì sao mờ tỏ thắp trời khuya, ai thấy được trong lung linh bờ cỏ một vì sao vừa rụng xuống đêm nay, riêng trong tôi cũng lâu rồi ấp ủ một ánh nhìn như nước mắt sao đêm…

 

Mở cánh gió bừng bừng hạnh phúc bước rộn ràng trên mái nhà đang yên giấc, chiếc lá khô giòn reo bập bùng trên tàng cây khuya khoắt, gió gió thế mà vi vu khó tả, ru ngon nhịp võng ngày thơ tôi thiếp ngủ nồng nàn tiếng hát thu ơi…

 

Thánh thót vàng thu lãng đãng thời gian, chỉ một nhịp khẽ rơi vào tim mà bồi hồi không dứt, mong manh ơi sẽ là bất tận trong thương yêu ký ức chở che, cho tôi run run mỗi lúc tìm về âm vang tiếng hát thu reo mừng hoài niệm…




ntkm

947 . THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu: HỒI ỨC VỀ MỘT TIỆM SÁCH Truyện ngắn GEORGE ORWELL (1903-1950)

 

George Orwell (1903-1950)

   GEORGE ORWELL, tên thật là Eric Arthur Blair, sinh ngày 25/6/1903 tại Motihari, Bengal ( tên hiện nay là Bihar ) khi Ấn độ còn là thuộc địa của đế chế Anh. Cha ông  khi đó là nhân viên của Ty Nha phiến, thuộc Sở Dân sự. Ông là con thứ hai trong gia đình. Mẹ ông xuất thân trong một nhà lái buôn chè. Mới lên 1 tuổi, ông được đưa về chính quốc, được gửi vào một trường nhỏ thuộc giáo phái Anh, nơi đây chị gái ông từng theo học.

   Hai năm sau ông được tiến cử với hiệu trưởng của một trong những trường dự bị thành công nhất của Anh vào thời đó ( Trường St. Cyprian’s School, Eastbourne, Sussex ). Tại đây, ông được cấp một nửa học bổng. Kết quả học tập khá tốt, ông tốt nghiệp được ở trường chất lượng cao vốn chỉ dành cho con nhà khá giả. Năm 1922, không đủ tiền vào đại học, Blair gia nhập Indian Imperial Police, phục vụ tại Miến Điện. Những điều tai nghe mắt thấy ở vùng thuộc địa Nam Á này đã khiến ông chán ghét chủ nghĩa đế quốc. Quay trở lại Anh, ông từ bỏ cuộc đời công chức để dồn sức phấn đấu trở thành nhà văn. Từ năm 1923, ông bắt đầu công bố những “ sáng tác người lớn “ của mình. Ông bắt đầu lăn lộn với các tầng lớp dưới, tìm hiểu những cảnh đời ngang trái và lầm than ở cả Anh lẫn Pháp. Từ năm 1935, ông bắt đầu sử dụng bút danh George Orwell vì không muốn cha mẹ biết về những trải nghiệm bần cùng của mình. Về giai đoạn sống và chiến đấu ở Tây Ban Nha, ông đã viết tiểu thuyết tư liệu Kỷ niệm Catalonia ( 1926 ), và Ký ức chiến tranh ở Tây Ban Nha ( 1943 ).

   Khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ, Orwell mặc dù tuyên bố rằng chính thể ở Anh còn tồi tệ hơn ở nước Đức phát xít nhưng vẫn xung phong ra mặt trận, tuy nhiên ông bị từ chối vì vết thương trong chiến tranh Tây Ban Nha. Ông về hậu phương, làm phóng viên trên Đài Phát thanh BBC, dẫn các chương trình chống phát xít. Trong thời gian này, ông viết tiểu thuyết Trại Súc Vật ( Animal Farm ) , ám chỉ rõ nét Liên Xô, khi hoàn thành bị từ chối in cả ở Anh lẫn Mỹ. Phải chờ đến năm 1945, Trại Súc Vật mới được công bố và trở thành vũ khí của những lực lượng chống cộng ở phương Tây.

Ông mất năm 1950 vì bệnh lao. Orwell được đánh giá là một nhà văn mang nhiều mâu thuẫn trong mình, một người theo chủ nghĩa cá nhân và tuyệt đối chính trị.

Orwell chỉ sống tới tuổi 46 nhưng đã để lại nhiều xét đoán khác biệt. Tác phẩm của ông không phải ở đâu cũng được đón nhận thuận chiều. 

   Đoản văn giới thiệu dưới đây có tên là Bookshop Memories, Hồi ức về một tiệm sách, đúng hơn là những hồi ức của một người bán sách cũ. Tác giả viết truyện này năm 1936, kể về thời gian ông làm việc như một nhân viên bán sách bán thời gian tại  tiệm bán sách cũ  Booklover’ s Corner toạ lạc ngay góc phố Pond Street và South End Green, thành phố London, nước Anh. Hiện nay tiệm này không còn nữa mà biến thành nhà hàng pizza, tuy nhiên ở đó còn gắn tấm biển ghi rằng: Gworge Orwell, nhà văn, từng sống và làm việc trong một tiệm sách ngay vị trí này.

Những người mê sách cũ hẳn sẽ tìm thấy nhiều đồng cảm khi đọc những chi tiết về mua, bán sách cũ. Và những ai đã có dịp đến thủ đô Paris của nước Pháp chắc sẽ không quên những tiệm sách cũ dọc bờ sông Seine. Từ năm 1859, Hội đồng thành phố Paris quyết định dành một dãy đất bên bờ sông Seine giúp những người bán sách cũ được  “ định cư “ cố định để bán sách cũ từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn.

Năm 1932, bờ kè sông Seine với những người bán sách cũ được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới và cũng từ đó, sông Seine được đặt biệt danh là “ dòng sông duy nhất trên thế giới trôi giữa những kệ sách “.

   Ernest Hemingway, nhà văn lừng danh của Mỹ, và nhiều tác giả khác, đã từng lang thang tại khu vực cầu cảng này, lật từng trang sách cũ và thậm chí tìm những tác phẩm của chính mình được trưng bày trong các kệ sách đặt sát nhau. Ước tính  có trên 300000 cuốn sách được bày bán dọc theo con đường bán sách cũ bên bờ sông Seine. Nơi tập trung đông nhất là lối dẫn vào Khu phố La tinh ( Quartier Latin ), nơi có Trường Đại học Sorbonne nổi tiếng.

   Đừng tưởng chỉ có Anh, Pháp mới có tiệm bán sách cũ. Ngay tại Saigon cũng không thiếu. Bạn thử tìm tới Nhà sách Khải Vinh, 43 Trần Nhân Tôn, Quận 5. Nơi đây có bán sách báo cũ và mới. Một vài địa chỉ khác để bạn tham khảo:

Trung Tâm Sách Cũ, 50, Võ Thị Sáu, Tân Định, Quận 1.

Một địa chỉ khác, rộng rãi hơn là Đường Sách Thành phố, dọc theo đường Nguyễn Văn Bình, Bến Nghé, Quận 1. 

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

946 . NGUYÊN CẨN - KHÓI VẪN CÒN VƯƠNG

 

Khói Vẫn Còn Vương

 Uống đến chai thứ ba, Sử bâng khuâng nhìn ra bờ sông Sài Gòn. Chiều xuống dần. Mặt trời lấp lóa yếu ớt ném chút  ánh nắng  tàn  xuống mặt sông, quẫy đạp loang loáng. Quay sang tôi, Sử bỗng dưng chùng giọng xuống: “Này ông có thích nghe chuyện buồn không? Chuyện khá “romantic” và nếu ông không chê sến, tôi kể ông nghe”. Bật cười, tôi nói: “ Sao hôm nay ngài có vẻ long trọng đại thế! Bình thường ông vẫn tếu táo xem mọi chuyện trên đời, nhất là chuyện tình yêu, là phù phiếm, là cải lương, là ‘sến sủa’ kia mà!”.

 “Không, ông à, anh em mình già rồi, ngẫm lại mọi chuyện cũng phải chừng mực, khách quan chứ !” 

 Tôi ngạc nhiên, một gã bất cần đời thấm nhuần triết lý Tây phương, coi nhẹ mọi chuyện như Sử mà có lúc cũng đắn đo vậy sao? Sử xuất thân con nhà nền nếp, khoa bảng, bản thân học khoa Ngoại ngữ, tiếng Pháp, cùng đại học với tôi. Hắn đàn hay, hát giỏi, khá đẹp trai, lại  để bộ ria mép, thường được gọi là Sử Sĩ Phú vì hắn hát bài “Cô láng giềng” rất hay, nhái đúng giọng và phong cách Sĩ Phú khi trình diễn. Khi ra trường, Sử cùng đi với tôi ra Phú Khánh, nhưng hắn phải về Tuy Hòa, còn tôi ở Nha Trang. Cũng may ngôi trường hắn được bổ nhiệm khá lớn nhưng ngặt nỗi không có học sinh tiếng Pháp nên người ta dự kiến chuyển hắn xuống cấp 2 dạy tiếng Anh. May sao ông Hiệu trưởng thấy hắn cũng dễ mến nên giữ hắn lại dạy tiếng Anh, mà trình độ sinh viên sư phạm ngày ấy, nhất là dân trường Tây như hắn thì đủ sức dạy cả hai thứ tiếng. Bẵng đi rất lâu mất liên lạc, nhất là khi tôi chuyển về Sài Gòn trước hắn mấy năm. Gần đây nhờ facebook bạn bè mới gặp lại nhau.

  Sử rót đầy ly, uống một hơi, và kể …

…Những ngày  đầu về Tuy Hòa, Sử cảm thấy ngột ngạt vì không  quen nếp sinh hoạt của một ngôi trường cấp 3. Toàn là đi họp và lên lớp, suốt ngày, hết làm chủ nhiệm rồi họp Chi đoàn, Công đoàn, Tổ Bộ môn, quay cuồng soạn giáo án đã mệt lử rồi. Huống chi dân Pháp Văn nhảy sang Anh văn cũng phải mất thời gian tập phát âm cho “dẻo” miệng vì quen accent tiếng Pháp bấy lâu. Lại không được mở đài nước ngoài nghe vì sợ mang tiếng nghe “đài địch”. Cũng may học sinh khá hiền, và chúng  nó cũng không biết tiếng Anh thật sự đọc thế nào vì có tiếp xúc với người nước ngoài bao giờ đâu. Ông thầy luôn là thần tượng về mặt tri thức. Những thầy cô lâu năm thì ‘năm thì mười họa’ mới dự giờ vì ai cũng bận bịu. Rủi nghe thầy phát âm hơi cứng thì cũng thông cảm. Thầy vốn xuất thân dân Pháp văn, dạy được thế là tốt rồi. Sử lại không bon chen, không hề có ý niệm “phải tiên tiến” hay “đạt điểm thi đua”. Lớp Sử chủ nhiệm luôn đứng hạng chót toàn  khối. Thao giảng thì Sử cũng không cần đánh giá tốt, cho trung bình cũng được! Sử an nhiên sống theo “hạnh an nhi” ấy, như một đứa trẻ, bỏ ngoài tai mọi lời dèm pha, phê bình. Nhưng bù lại chàng đàn rất hay, hát rất ngọt, nên các cô giáo rất thích. Hội diễn văn nghệ nào cũng kéo chàng tham dự, thay mặt cho tổ, cho trường… Những đêm hội trại, chàng ôm đàn hát đến khuya, cô nào cũng thích mon men đến nghe, dù không tránh khỏi phê bình “hay hát nhạc vàng. Cần củng cố quan điểm văn nghệ quần chúng”.

Mặc. Sử sống phớt đời. Người phê bình chàng nặng nhất là cô Thu, phụ trách Đoàn Thanh niên, nói chàng không  làm gương cho học sinh, hay đàn đúm, thiếu tác phong sư phạm, la cà quán xá, lề mề… Có lần chàng hỏi gặng Thu: “Sao, cô muốn tôi thành người máy hả? Tôi phải sống như một con người”. Thu quắc mắt nhìn chàng “Tôi sẽ đưa anh ra kiểm điểm trong Đoàn và Chi bộ sẽ có ý kiến với anh vì tác phong “tiểu tư sản” miền Nam chưa gột rửa được!”. Nói vậy thôi chứ trường đang cần giáo viên có khả năng văn nghệ mà Sử thì lại rất tài hoa. Ngoài âm nhạc, chàng còn biết trang trí và vẽ bằng phấn những tiêu đề rất đẹp cho trường trong những ngày lễ. Thầy hiệu trưởng có lần phải vỗ về cô Thu “Con ngựa chứng thường có tài em à! Thôi kệ cứ từ từ uốn nắn hắn. Văn hóa mới cần có thời gian thẩm thấu. Cô Thu hạ quyết tâm “chuyển hóa” chàng. Nhưng Sử có cần biết cái gì là văn hóa mới đâu? Chàng vẫn ôm đàn trong những đêm sinh hoạt chung mà hát “Bay đi cánh chim biển” hay “Em còn nhớ hay em đã quên” trong sự ngưỡng vọng của đám học trò mới lớn. Trong lớp chàng kể cho các em nghe những bi kịch của Shakespeare, Corneille, những tác phẩm của Victor Hugo, Balzac, những câu chuyện kể của  Alexandre Dumas  hay  Georges Sand… Chúng nghe mê mẩn vì cảm thấy chàng đã mở cả một bầu trời bao la cho tuổi trẻ như những cánh chim non bay vào… Chàng dịch những bài thơ lãng mạn Anh như của John Keats, Byron.., Pháp như của Chateaubriand,  Lamartine,  Alfred de Musset,… rồi đọc cho học sinh nghe. Khi chàng kể hay đọc, các em như thấy cơn mưa rào sau những cơn nắng hạn với nền văn học mà các em đang học trong nhà trường. Cứ như thế dù bị công kích, phê phán về thói lề mề trong sổ sách, lè phè trong sinh hoạt thì chàng tỏ ra “vô hại” cho mọi người, nếu không muốn nói chỉ mang tới sự sảng khoái và niềm vui qua tiếng hát, qua những câu chuyện duyên dáng… Từ một thầy giáo tiếng Anh tay ngang, chỉ sau 3 năm chàng được đưa lên dạy thế cho một cô giào nghỉ hộ sản ở lớp 12. Và chàng đã gặp Châu, cô bé lớp phó học tập, lanh lẹ, nghiêm nghị, cặp mắt to, tròn, như hai viên bi. Châu có nhìn xoáy vào người đối diện, nửa như dò xét, nửa như bỡ ngỡ nên người ta vừa sợ vừa mến. Châu học rất giỏi, nhưng Châu ít khi khi hài lòng với những gì đã học trên lớp, luôn tìm tòi và đặt câu hỏi trong giờ học, sau giờ học. Chàng lại được giao chủ nhiệm lớp Châu. Mẹ Châu có sạp ở chợ, nên kinh tế gia đình tương đối khá giả. Một lần bà đến trường gặp chàng và nói thẳng: “Tôi nghe cháu Châu khen thầy giỏi lắm. Năm nay là năm thi của cháu, tôi muốn thỉnh thầy về nhà dạy thêm cho cháu được không?”. Sử trả lời ngay “Nhà trường có mở lớp phụ đạo cho mấy em yếu, Châu thuộc loại giỏi, chắc khỏi cần học thêm”.

 Bà khẳng khái nói luôn “Giỏi là giỏi trong lớp thôi. Tôi muốn nhờ thầy làm một công hai chuyện, dạy cho cháu giỏi để thi tú tài và vào đại học, sau này nếu có đi nước ngoài thì tiếng Anh cũng phải khá mới học tiếp được. Thầy đừng ngại vấn đề thù lao. Nhà tôi rộng. Cháu có phòng học riêng, yên tĩnh. Tôi chỉ có hai đứa con thôi. Châu là con gái lớn”.

945 . NP PHAN - Khúc Từ Ly - Biến khúc Tiêu Cầm.

                                                                                                 


khúc từ ly

 

 

con sông tuổi thơ vẫn cứ xuôi dòng
gợn sóng nhỏ vỗ lên bờ ký ức
nơi chân trời màu hoàng hôn đỏ rực
có cánh chim bay về phía quê nhà

 

phía sau cơn mưa là ánh mắt của cha

trong nắng trưa có nụ cười của mẹ

cả một đời đi cùng mưa nguồn chớp bể

đôi vai mẹ cha nặng gánh dãi dầu

 

trái tim con nghiêng về cánh đồng sâu

nơi mồ hôi mẹ cha đổ xuống từng gốc rạ

manh áo, miếng cơm một đời vất vả

nuôi cho con khôn lớn thành người

 

mấy mươi năm giông bão cuộc đời

cha mẹ vẫn dõi theo con từng bước

nước mắt chảy xuôi, đời không khác được

giữa vô cùng là trời đất vô biên

 

nén nhang này con thắp bằng lửa trái tim

giữa đồng chiều, mắt con nhoà lệ

xin một lạy nơi mẹ cha yên nghỉ

và một lạy này, xin lạy tạ quê hương

                                       

 NP phan

 

biến khúc tiêu cầm

rồi cũng đến cái ngày ta gác kiếm
muốn học đòi theo gã Lệnh Hồ
tiêu cầm nọ tha hồ mà tung tẩy
ở trong lòng chỉ có mỗi Thánh Cô

mà nghĩ lại: cầm thì ta chẳng thạo
tiêu thì em chưa đụng tới bao giờ
khúc tiếu ngạo thôi đành đợi đó
quanh quẩn chỉ còn dăm bảy vần thơ

ta chẳng thể học đòi Trương Vô Kỵ
mãi đắm chìm trong đôi mắt mỹ nhân
bao bí kiếp cũng đành xếp xó
minh chủ võ lâm gã cũng chẳng cần

ta không thể nào đêm đêm ngước mặt
sao ở trên trời không dễ đếm đâu
nhịp tim ta, ta còn không đếm được
đếm làm sao triệu triệu tinh cầu

 

ta chỉ muốn nhẹ nhàng buông bỏ
mặc kệ thế gian mắt trắng môi chì
chén rượu này rồi thêm chén nữa
mỗi chén là mỗi cuộc thiên di

thì thôi vậy, cuộc đời vẫn thế
một sáng mai hồng tiếp nối một hoàng hôn
mưa rồi nắng, đất với trời vẫn thế
đâu phải mình ta giữa cõi vô thường


biến khúc tiêu cầm

rồi cũng đến cái ngày ta gác kiếm
muốn học đòi theo gã Lệnh Hồ
tiêu cầm nọ tha hồ mà tung tẩy
ở trong lòng chỉ có mỗi Thánh Cô

mà nghĩ lại: cầm thì ta chẳng thạo
tiêu thì em chưa đụng tới bao giờ
khúc tiếu ngạo thôi đành đợi đó
quanh quẩn chỉ còn dăm bảy vần thơ

ta chẳng thể học đòi Trương Vô Kỵ
mãi đắm chìm trong đôi mắt mỹ nhân
bao bí kiếp cũng đành xếp xó
minh chủ võ lâm gã cũng chẳng cần

ta không thể nào đêm đêm ngước mặt
sao ở trên trời không dễ đếm đâu
nhịp tim ta, ta còn không đếm được
đếm làm sao triệu triệu tinh cầu

 

ta chỉ muốn nhẹ nhàng buông bỏ
mặc kệ thế gian mắt trắng môi chì
chén rượu này rồi thêm chén nữa
mỗi chén là mỗi cuộc thiên di

thì thôi vậy, cuộc đời vẫn thế
một sáng mai hồng tiếp nối một hoàng hôn
mưa rồi nắng, đất với trời vẫn thế
đâu phải mình ta giữa cõi vô thường

 

                        NP phan


biến khúc tiêu cầm

rồi cũng đến cái ngày ta gác kiếm
muốn học đòi theo gã Lệnh Hồ
tiêu cầm nọ tha hồ mà tung tẩy
ở trong lòng chỉ có mỗi Thánh Cô

mà nghĩ lại: cầm thì ta chẳng thạo
tiêu thì em chưa đụng tới bao giờ
khúc tiếu ngạo thôi đành đợi đó
quanh quẩn chỉ còn dăm bảy vần thơ

ta chẳng thể học đòi Trương Vô Kỵ
mãi đắm chìm trong đôi mắt mỹ nhân
bao bí kiếp cũng đành xếp xó
minh chủ võ lâm gã cũng chẳng cần

ta không thể nào đêm đêm ngước mặt
sao ở trên trời không dễ đếm đâu
nhịp tim ta, ta còn không đếm được
đếm làm sao triệu triệu tinh cầu

 

ta chỉ muốn nhẹ nhàng buông bỏ
mặc kệ thế gian mắt trắng môi chì
chén rượu này rồi thêm chén nữa
mỗi chén là mỗi cuộc thiên di

thì thôi vậy, cuộc đời vẫn thế
một sáng mai hồng tiếp nối một hoàng hôn
mưa rồi nắng, đất với trời vẫn thế
đâu phải mình ta giữa cõi vô thường

 

                        NP phan

 

                        NP phan

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

944 HÁT CHO QUÊ HƯƠNG -Nguyễn Quyết Thắng DC-Thiện Vũ giới thiệu-Nam Minh diễn đọc-StudioProduce Tô An