Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

860 . ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên) - UỐNG RƯỢU CÙNG CHÀNG NGỐC

 

1.

UỐNG RƯỢU CÙNG CHÀNG NGỐC!

Bạn ta than kinh khủng. Kinh khủng
Đời sao mà giống cái vườn hoang
Thối tha cỏ độc đua chen mọc
Âm u. Rờn rợn. Tiếng sói lang.

Nghe bạn. Ta bật cười khục khục
Bạn tôi ơi! Đây rượu! Uống đi
Trời ơi sao hệt như Hăm lét
Trong kịch cùng tên của Sếc pia!

Đời là thế! Tấn trò! Muôn thủa
Nhân gian vậy cả! Thế, thế thôi!
Điên đảo, đảo điên và điên đảo
Khóc cười, cười khóc lại khóc cười.

Sống? Không sống? Hỏi ai? Ai đáp?
Lòng rỗng không. Trời đất hư vô
Hỏi làm chi cho thêm mắc mệt
Nhìn! Thu chết! Vạn vạn lá khô.

Bạn ta than! Đúng là thời mạt
Cạn trơ tận đáy chỉ có tiền
Chiếm ngôi cao! Nghênh ngang ngạo nghễ
Lấn lướt thánh thần phật cùng tiên!

Nghe than! Ta lại cười khục khục
Than chi cho mệt! Uống đi nào
"Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch!"
Thần tiên rồi cũng sẽ lộn nhào!

Tin ta đi! Bạn hiền sầu não
Bạn đang mơ dùng gậy chống trời!
Này hỡi chàng mặt buồn hiệp sĩ
Thiên hạ chừng mê lú cả rồi!

Nhìn mặt bạn sầu bi ảm đạm
Từ cổ thư  chàng ngốc bước ra
Tâm phật khẩu xà ngơ ngẩn sống
Ta cười khục khục. Dạ xót xa.

Nào! Dốc chén! Uống đi ông bạn
Thử làm ẩm giả! Thử một lần
Học Lí Bạch khều trăng cùng uống
Thây kệ đời xem tựa cục phân!

Thành bụi hóa bùn! Tan biến hết!
Lưu kì danh! Cũng chuyện hão huyền
Nào dốc ngược! Dốc ngược! Dốc ngược...
Mây trắng đầu! Còn được mấy niên?

Bạn uống rượu hay rượu uống bạn?
Đêm tháng Giêng trăng lạnh như băng
Thăm thẳm trời cùng thăm thẳm mắt
Dòng lệ lăn dài! Sáng long lanh...

2.

TÚY THI
[Tự nhiên thấy Lý Bạch rất gần Baudelaire]
---

Độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm
Uống như trâu như bò
Uống như rồng như rắn
Uống như sát thủ như đạo tặc
Như tiên ông như thi sĩ như gã khùng
Như một nông phu vai u thịt bắp
Như gã trai lông má lún phún ngực chưa kịp nở bụng chưa kịp thon
Trời quay tròn!
Đất điên đảo
Biển xô sóng dạt
Núi lở suối gào
Tung tóe mặt trời
Vụn vỡ vạn vì sao
Tái xanh trăng xuân lạnh giá
Hoa bay hoa bay bay theo gió
Rượu bay rượu bay bay theo mây
Dốc bình
Dốc ngược cả càn khôn thiên địa
Núi và rừng và suối và sông và biển chếnh choáng say...

Chân trời vần vũ
Ùng oàng sấm ran
Giêng hai ba chờ
Tháng Ba đợi
Ếch và rắn cùng say
Hổ và lợn cùng say
Ông lão và trẻ thơ cùng ngất ngây
Đợi mùa hè buốt giá
Nào ta mời sông sâu một chén
Núi uy nghiêm một bình
Đất thênh thang một vò
Thăm thẳm rừng tưới mưa làm rượu
Nào ta mời bạn bầu một thủa
Ngàn chén chưa đủ
Ngàn chén chưa say
Nào uống cùng gió uống cùng mây
Để quên
Để nhớ

Nào say
Say một lần
Lần đầu cũng có thể là cuối
Say cùng chất ngất núi
Đá điệp trùng
Mưa giăng tràn trề bốn phía
Nào nước
Nào rượu cuốn đi cuốn đi tất cả
Rác rến bẩn nhơ
Trôi đi
Trôi đi
Thác lũ tràn bờ
Đất đai cỗi cằn
Người cỗi cằn
Thơ cỗi cằn
Cuốn đi
Tiếc làm chi
Than khóc làm chi...

Nào say đi!
Lưu danh cần chi!

3.

CUỒNG THI
[Chợt nhớ CUỒNG VÂN TẬP từng đọc thủa nào...]
------

Cuồng vân tập! Cuồng vân tập! Cuồng vân...
Mây lành, mây dữ, mây hồng, mây xám, mây trắng, mây xanh
Cuồn cuộn, dữ dằn, lửng lơ, êm ả
Trôi nhanh, trôi nhanh
Lững lờ, quần tụ
Biến ảo khôn lường
Hình thần, hình phật, hình triết gia, hình thi gia, hình chú chó xồm
Nhanh hơn ngựa qua khe cửa
Nhanh hơn vệt nắng bên thềm
Nhanh hơn đất bằng nổi sóng
Nhanh hơn thương hải biến vi tang điền
Cuồng vân phi thường
Cuồng vân...

Ngàn năm trước đã từng
Ngàn năm sau vẫn thế
Diễm lệ trong những biến ảo
Từng khoảnh khắc qua mau
Cuồng vân vẫy gọi
Ngôn từ ta rượt đuổi
Ngôn từ ta hòa trộn cùng sắc mây vàng, xanh, trắng, đỏ
Ngôn từ ta như gió trời lồng lộng
Ngôn từ ta hiền hòa và dữ dội
Làm nên một trận cuồng ngôn
Thơ ta viết tung tỏa muôn phương
Vụn vỡ muôn vạn mảnh
Lấp lánh và sù sì và trơ lì và sắc lẻm
Khóc và cười và ủ dột và sầu bi và kiêu hãnh
Lả lướt và vững chãi phím đàn và nhát búa
Cười vang đầm đìa nước mắt
Khóc thầm và lặng câm như đá
Thờ ơ mệt mỏi buông xuôi
Ngôn từ ta như mây ngàn gió núi
Biến ảo khôn lường
Thi sĩ và gã ăn mày
Cuộc dong chơi nghiêm trang suồng sã
Cuộc ra đi miên man
Cuộc trở về nghẹn lối...

Ơi địa ngục tươi đẹp vô cùng sáng láng!
Và những thiên đường u mê những thiên đường mù!
Cuồng thi cuồng vân vời vợi đôi bờ... 

859 -VÕ PHÚ - ĐỌC TÙY BÚT LÃNG ĐÃNG THÁNG NGÀY của LÃNG THANH

 


VÕ PHÚ  Đọc tùy bút của Lãng Thanh “LÃNG ĐÃNG THÁNG NGÀY”

 

Khoảng hai tuần trước, tôi nhận được email của người bạn văn, anh Hiền, người thường ký tên với những bút danh như Tiểu Lục Thần Phong, Lãng Thanh... Mở đầu email, anh viết một câu rất dí dỏm: “Tới công chuyện nữa rồi...”

Ðọc câu viết ấy vừa quen thuộc vừa vui, bởi tôi hiểu ngay rằng anh lại muốn nhờ tôi một việc; trình bày và in ấn tác phẩm mới của anh. Tập tùy bút Lãng Đãng Tháng Ngày.

Thật ra, thời gian của tôi khá hạn hẹp. Công việc ở phòng thí nghiệm, gia đình, các tạp chí tôi cộng tác và tạp chí Văn Bút Miền Ðông do tôi làm chủ nhiệm, sách vở của các văn thi hữu và nhiều việc khác luôn chiếm hết những khoảng thời gian rảnh rỗi. Thế nhưng, không hiểu vì một nhân duyên nào đó, mỗi khi nhận được bản thảo từ anh Hiền, tôi lại tự nhiên muốn gác bớt những công việc khác để bắt tay vào làm. Có lẽ bởi giữa chúng tôi có một sự đồng cảm đặc biệt.

Chúng tôi sinh hoạt chung trên nhiều diễn đàn văn học, cùng chia sẻ những câu chuyện về chữ nghĩa, nhưng chưa một lần gặp mặt ngoài đời. Vậy mà qua những trang viết, những trao đổi về sách vở, chúng tôi lại cảm thấy gần gũi như những người bạn quen từ lâu.

Trong thời gian này, cũng có một vài văn thi hữu nhờ tôi trình bày và in sách. Có người vì quá gấp gáp đã đề nghị trả một khoản thù lao rất lớn để tôi giúp hoàn thành bản thảo trong thời gian ngắn. Nhưng tôi vẫn từ chối, không phải vì công việc ấy khó, mà đơn giản vì tôi chỉ muốn nhận làm những cuốn sách mà mình thật sự có sự đồng cảm và hứng thú. Với Lãng Đãng Tháng Ngày cũng vậy.

Tôi làm sách cho anh không có cảm giác đang hoàn thành một công việc. Nó giống như một niềm vui, một cuộc trò chuyện thầm lặng giữa người viết và người làm sách.

Văn của Lãng Thanh rất tự nhiên. Anh viết liền một mạch, như dòng hồi tưởng đang tuôn chảy. Trong lúc trình bày sách, tôi vừa đọc vừa chỉnh sửa một vài lỗi đánh máy nhỏ, đôi khi phải sửa những mẩu tự “n” và “m” bị lẫn lộn. Nhưng những điều ấy không làm tôi thấy phiền, bởi đằng sau những dòng chữ chưa hoàn chỉnh ấy là một tâm hồn đang muốn chia sẻ những câu chuyện của đời mình.

Anh cũng là người rất dễ tính với những "đứa con tinh thần" (có thể là do sanh liền tù tì) chăng?  Chỉ gửi bản thảo, kèm theo một số hình ảnh do anh sưu tầm hoặc xin phép từ các họa sĩ, rồi giao toàn quyền cho tôi tự thiết kế, sắp xếp. Ở bản thảo này, anh ghi: "Khi nào thấy rảnh thì làm chứ không cần phải nhanh chi cho mệt nghen Phú! Dùng cái hình aberrant realities làm bìa nghen Phú…” Sau khi tôi hoàn tất, gửi bản mẫu để anh xem qua, câu trả lời của anh thường rất đơn giản: “Cho in liền luôn đi Phú.”

Sự tin tưởng ấy khiến tôi cảm thấy thoải mái và càng thêm yêu quý công việc mình đang làm.

Chỉ trong chưa đầy hai tuần, tập tùy bút Lãng Đãng Tháng Ngày đã hoàn thành.

Đây không phải là một tác phẩm với những biến cố dữ dội hay những câu chuyện đầy kịch tính. Lãng Thanh không cố tạo ra những cao trào để thu hút người đọc. Anh chọn một cách viết khác; lặng lẽ ghi lại những "tháng ngày quay quanh, lãng đãng của bản thân" như trong lời tựa (anh mượn lời của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn): “Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại...” viết những ký ức, những cảm xúc nhỏ bé nhưng chân thật trong hành trình đi qua năm tháng… Đó có thể là một buổi chiều mưa gợi nhớ quê nhà; Đó có thể là một cuộc gặp gỡ bất ngờ với người quen cũ; Đó có thể là những đổi thay của cuộc sống nơi đất khách quê người. Hay đơn giản chỉ là những vui buồn, mất còn mà mỗi chúng ta đều từng trải qua trong cuộc đời.

Một trong những điều để lại nhiều dư âm trong tôi khi đọc tập tùy bút này chính là cách Lãng Thanh ghi lại những trải nghiệm rất đời thường nhưng lại chứa đựng nhiều suy ngẫm. Một ngày đi làm nơi xứ người, một va chạm trong công việc, một phút giây nóng giận, một lần đứng trước sự lựa chọn giữa hành động theo bản năng hay giữ gìn sự tỉnh thức… tất cả đều trở thành những câu chuyện để nhìn lại chính mình.

Có những lúc trong công việc, anh phải đối diện với sự bất công và áp lực. Là người có kinh nghiệm, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng lại nhiều lần bị người quản lý trách móc, giao những phần việc khó khăn, thậm chí cảm thấy bị đối xử không công bằng. Cơn giận bùng lên, ý nghĩ trả đũa xuất hiện. Ở vị trí của mình, anh hoàn toàn có khả năng làm tổn thất cho công ty mà không ai hay biết, nhưng rồi anh dừng lại.

Không phải vì sợ hãi, mà vì nhận ra rằng sự trả thù trước hết sẽ làm tổn thương chính tâm mình. Những món linh kiện, máy móc vô tri không có lỗi trong những bất công mà anh phải chịu đựng. Nếu cố tình phá hoại, anh không làm mất đi sự bất công ấy mà chỉ tự tạo thêm một nghiệp xấu cho chính mình.

Lãng Thanh cũng kể về cuộc sống của một người Việt giữa môi trường đa văn hóa, nơi anh làm việc cùng những con người khác màu da, khác tôn giáo, khác nguồn gốc. Có lúc anh từng giấu đi thân phận và niềm tin của mình, nhưng rồi anh nhận ra rằng không có lý do gì phải che giấu một phần căn tính đáng trân trọng ấy. Khi người khác tự hào về quê hương và đức tin của họ, anh cũng học cách tự hào mình là một Phật tử Việt Nam.

Những câu chuyện như vậy làm nên nét riêng của Lãng Đãng Tháng Ngày. Tác giả không cố đưa ra những bài học đạo lý khô cứng, cũng không đứng ở vị trí của người giảng giải. Anh chỉ kể lại những gì mình đã trải qua bằng một giọng văn chân thành, gần gũi. Từ những va chạm rất nhỏ trong đời sống, anh nhìn thấy những vấn đề lớn hơn: cách con người đối diện với giận dữ, với bất công, với bản thân và với những người chung quanh.

Có lẽ chính sự chân thật ấy làm cho những trang viết của Lãng Thanh có sức lay động. Bởi trong những câu chuyện tưởng như rất riêng của anh, người đọc lại bắt gặp chính mình; những phút nóng giận, những lần yếu lòng, những khi đứng trước lựa chọn giữa cái tôi và sự tỉnh thức.

Lãng Đãng Tháng Ngày vì thế không chỉ là những dòng hồi ký của một người đi qua năm tháng. Đó còn là hành trình nhìn lại chính mình giữa những bộn bề của cuộc sống. Một hành trình không ồn ào, không phô trương, nhưng đầy những suy tư về con người, về quê hương, về thân phận và về cách sống sao cho bình an hơn giữa cuộc đời nhiều biến động.

Giọng văn nhẹ nhàng, giản dị và giàu cảm xúc, Lãng Thanh đưa người đọc trở về với những miền ký ức tưởng như rất riêng nhưng lại mang nhiều điểm chung của những người Việt xa quê. Trong văn học Việt Nam hải ngoại, có những tác phẩm ghi lại những biến cố lịch sử lớn lao, có những tác phẩm thiên về nghiên cứu hay suy tưởng. Riêng Lãng Đãng Tháng Ngày chọn một hướng đi nhẹ nhàng hơn đó là ghi lại những rung động nhỏ bé của đời sống thường nhật. Nhưng chính những điều nhỏ bé ấy lại làm nên giá trị của cuốn sách. Bởi cuộc đời mỗi con người không chỉ được tạo nên từ những khoảnh khắc lớn lao. Đời sống còn được kết thành từ vô số điều bình dị: một buổi sáng yên tĩnh, một người bạn lâu ngày gặp lại, một con đường quen thuộc, một mái nhà đã xa, hay một ký ức bất chợt trở về trong một chiều muộn.

Đọc Lãng Đãng Tháng Ngày, người đọc có thể bắt gặp chính mình trong những trang hồi tưởng ấy. Có đoạn khiến ta mỉm cười. Có đoạn khiến ta lặng im suy nghĩ. Có đoạn lại đánh thức những kỷ niệm tưởng đã ngủ quên trong góc sâu của tâm hồn.

Cuốn sách giống như một cuộc đi bộ chậm rãi trên con đường ký ức. Không vội vàng. Không ồn ào. Chỉ là những bước chân thong thả nhìn lại tháng năm đã qua để hiểu hơn giá trị của hiện tại. Và, (có lẽ) đó cũng là điều đẹp nhất mà Lãng Đãng Tháng Ngày mang lại.

Sau khi khép lại trang sách cuối cùng, điều còn đọng lại không phải là một câu chuyện cụ thể, mà là một cảm giác nhẹ nhàng và ấm áp. Ấm áp bởi tình người. Ấm áp bởi tình quê. Ấm áp bởi những ký ức đẹp của một đời người.

Lãng Đãng Tháng Ngày không phải là cuốn sách để đọc thật nhanh rồi đặt xuống. Lãng Đãng Tháng Ngày là một tập tùy bút cần được đọc chậm, để người đọc có thể dừng lại ở một câu văn, một hình ảnh, một kỷ niệm và bất chợt nhớ về những tháng ngày của chính mình.

Với những ai yêu thích thể loại tùy bút, yêu những trang văn giàu cảm xúc và những câu chuyện mang hơi thở hoài niệm, Lãng Đãng Tháng Ngày là một tác phẩm để đọc. Bởi suy cho cùng, trong cuộc đời mỗi người, ai rồi cũng có những tháng ngày lãng đãng như thế với những tháng ngày tưởng đã trôi xa nhưng thật ra vẫn âm thầm ở lại trong ký ức.

Võ Phú


Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

857. PHẠM THÀNH CHÂU Cà phê cà pháo

 

Ly cà phê bốc khói - Google images

Một buổi sáng nào đó, mấy ông bạn gọi nhau đi uống cà phê. Tiệm cà phê có mấy cái bàn đặt ngoài hiên, trên lề đường, kiểu cà phê vỉa hè ở Việt Nam hay cà phê Starbucks ở Mỹ thì càng quý. Ngồi đó cả ngày cũng chẳng ai đuổi mà chuyện trò cũng thoải mái. Ở Âu Mỹ mình nói tiếng Việt. Thỉnh thoảng cười với nhau thì họ biết ngay là mình đang nói chuyện vui. Không bao giờ tôi thấy người Âu Mỹ uống cà phê mà cười. Chuyện họ nói thường là thời tiết, thời sự. Họ không biết cái thú trò chuyện bên ly cà phê của người Việt mình. Họ thường ngồi một mình đọc báo, đọc sách. Nhiều ông cũng làm như ta đã là dân Tây, mũi hết tẹt, da hết vàng, cũng cầm quyển sách ngồi chăm chú đọc, ra vẻ “ta đây” trí thức (trừ những ông nghiên cứu thực). Lớn tuổi, đọc sách, báo (không phải nghiên cứu) phải nằm ườn trên giường hoặc trên ghế xa lông, trên võng…, dang tay, dang chân… rồi ngủ quên. Hạnh phúc vô cùng!

Ra tiệm ngồi uống cà phê một mình là có tâm sự nào đó. Ngồi gặm nhấm nỗi buồn, có khi thở dài hoặc chết lặng, không biết làm sao cho hết buồn? Cũng có ông, thích ngồi một mình, chả suy tư, ngẫm nghĩ gì. Ở Sài Gòn, đầu hẻm thường có quán cà phê, nhiều ông, bà ra gọi một ly, ngồi “chò hỏ” (hai chân trên ghế, bó gối), chẳng nói năng, nhìn ra đường, thỉnh thoảng, đổ cà phê ra dĩa, bưng húp (cho bớt nóng). Bây giờ ở Việt Nam, uống cà phê vỉa hè mà nhìn thiên hạ chạy xe ngoài đường, đông như kiến, khói mù trời, còi bóp inh ỏi… một lát là chóng mặt. Trước 1975, thời còn sinh viên, sáng Chủ Nhật ra Thanh Bạch (Sài Gòn) tôi với vài người bạn kêu bò kho bánh mì, uống ly sữa tươi. Tuổi đó, tụi tôi không biết uống cà phê, hút thuốc, chỉ sau nầy, đi làm mới sinh tật thuốc lá, cà phê cho ra vẻ người lớn, phong trần.

Rủ nhau đi uống cà phê, càng đông càng vui. Bước chân ra cửa là đã vui rồi. Háo hức như thời trẻ, đi gặp người yêu. Trẻ có bạn. Lớn có gia đình, vợ con. Già… lại có bạn. Ông nào không có bạn cà phê tại vì mình bẩn tính, thích chê bai, trách móc người nầy người kia, hoặc tự khoe khoang, mình đã làm việc nầy việc nọ. Tệ nhất là giành nói, không chịu lắng nghe người khác. Vị nào được mời đi uống cà phê vài lần rồi bạn bè làm lơ vì mình thô lỗ, ăn nói cục cằn. Họ đáng được mời đi nhậu để có dịp gây lộn, đánh chửi nhau. Mấy ông già, cứ thui thủi trong nhà suốt ngày, con cái đã lớn, đã như chim rời tổ, chỉ còn lại mụ dzợ già, thấy hoài phát ngán, lại thêm tính lẩm cẩm, lầu bầu suốt ngày, nhăn như khỉ ăn ớt.…Chỉ gặp bạn là vui, càng “nói bậy” càng vui. Mấy bà cũng rứa, nhưng phải thật thân, mới dám nói chuyện bậy bạ mỗi khi tụ tập ăn uống riêng với nhau, đối đáp trên điện thoại hoặc đi chung xe (không có đàn ông) với nhau. Các ông thì thân, sơ gì cũng xổ “tiếu lâm”. Uống cà phê thì không nên nói chính trị, không nói đến chuyên môn, nghề nghiệp. (Xong buổi cà phê, tan hàng, bàn chuyện làm ăn sau. Lúc đó thì nước trà hoặc bia rượu, nước ngọt gì cũng được, đó không phải là “Hội Cà Phê”. Ông chủ ga-ra không nói chuyện sửa xe. Các ông văn, thi sĩ không nói chuyện văn chương. Họa sĩ không nói chuyện tranh. Nhà báo không nói chuyện báo chí.… Họ tối kỵ đem những chuyện đó vào bàn cà phê. Bình luận văn thơ hoặc “mặc áo thụng vái nhau” trên bàn cà phê chỉ làm người khác mất vui. Bạn cà phê thường nói chuyện tào lao để tâm trí thoải mái, vui vẻ với nhau. “Trà Ðạo” quy định những kiểu cọ quá rắc rối. Bưng chung trà đưa lên mồm cũng bày đặt nầy nọ. Trà Ðạo chỉ cốt đánh lừa, dụ dỗ những ông bà ảo tưởng là mình quý phái. Người Nhật, gì cũng đạo, giết người cũng là đạo. “Kiếm đạo, Nhu đạo, Không thủ đạo”.…Trà Ðạo là để đọc cho vui thôi chứ chả ai theo, trong khi dân cà phê, chỉ vài ba người, tâm đầu ý hợp, đã thành “Hội Cà Phê”. Uống cà phê với nhau phải vui, không nghiêm trang, long trọng như “Trà Ðạo”. Thông thường, câu chuyện mở màn, (trong khi chờ cà phê đem ra) là tự chế giễu mình, người khác thêm thắt vào cho thêm rôm rả. Mấy ông lớn tuổi thích “khoe” bịnh của mình một cách bình thản. Bịnh nầy, bịnh kia. Coi như chuyện đương nhiên. Chẳng ông nào sợ chết. Với tuổi già, họ bất lực, không hy vọng thoát khỏi tay tử thần nên chả thèm nghĩ đến. Sống lâu thêm chật đất. Càng già càng lú lẫn, càng yếu đuối, lại thêm bịnh tật, chỉ làm khổ người khác.…Ai cũng cầu mong được ngủ một giấc và không thức dậy “Tu mười kiếp mới được như vậy”. Dĩ nhiên có bịnh thì chữa, như ra trận phải cẩn thận trước kẻ thù. Giỡn mặt tử thần đâu có được!

Ra tiệm cà phê với bạn, đôi khi còn thú vị hơn trước kia hẹn hò với người tình. Khi tan hàng (cà phê) tâm trí sảng khoái, yêu đời, yêu người, yêu chung quanh. Gặp ai cũng sẵn nụ cười chào hỏi. Ðáng tiếc là quý bà, ít người biết được cái thú nầy. Tôi nói chung chung về chuyện uống cà phê với mấy ông bạn già chúng tôi chứ mấy cậu sồn sồn ở Mỹ đến tiệm cà phê là để xem football, cá độ và để ngắm các em bưng cà phê. Ở Cali., nhiều tiệm cà phê có các em “áo hai dây, quần một ống” được quảng cáo trên internet, khách đến chật tiệm, đa số là thanh niên chứ mấy ông già, chân tay rũ liệt, đến đấy làm gì. Ðôi khi muốn giải trí, các cậu đến mấy tiệm “vũ xét xi” xem mấy em “không mảnh vải che thân!” nhảy múa. Nhớ cách nay vài chục năm, khi chúng tôi (còn ở tuổi trung niên) mới qua Mỹ, tiểu bang Virginia, có nhà thơ Hoàng Trùng Dương (qua trước) đưa năm bảy người chúng tôi đi xem “vũ xét xi” trên Washington DC.

Chúng tôi ngồi một bàn, mỗi người một chai bia, trước mặt là dãy sân khấu có năm cây cột kim loại sáng bóng. Mỗi em một cây cột. Thật tội nghiệp! Chẳng em nào có áo quần. Các em cứ ôm cây cột mà trèo lên tụt xuống, đánh đu, vặn vẹo, uốn éo quanh cây cột trông rất vui và tức cười chứ chẳng thấy kích thích, ham muốn gì. Ông bạn nhà thơ đưa cho mỗi đứa mấy tờ đô la (chúng tôi mới qua Mỹ, chẳng có xu nào) rồi ông ta làm trước, chúng tôi lần lượt làm theo (mấy khán giả khác cũng làm như vậy), nghĩa là cầm tờ đô la trên hai tay, để trước ngực, đến đứng sát mép sân khấu. Em vũ nữ cười tình rất dễ thương, uốn éo đến gần, thò tay lấy tờ bạc rồi hếch chân lên trước mặt người đó một cái. Chỉ tích tắc thôi. Vậy là xong. Phải về chỗ ngồi cho người khác lên “nạp tiền”. Luật “Cấm sờ vào hiện vật” được áp dụng nghiêm ngặt. Ông nào lạng quạng sẽ bị một tên cô hồn, to như con dã nhân, nắm cổ vất ra đường. Không chỉ các ông đi xem mà các cô, các bà cũng đến uống bia ngắm người đẹp nhảy múa. Các cô quá đẹp! Cao cỡ thước bảy, chân dài, ngực đùi sạch sẽ, thanh cao, nhất là gương mặt, đẹp một cách trong sáng, thánh thiện như thiên thần. Nghe nói (trừ những cô chuyên nghiệp) những cô đó là sinh viên làm thêm để kiếm tiền chi dụng. Xem “vũ xét xi”, đúng nghĩa là ngắm thân thể cô vũ nữ, xem cô múa và tìm thấy niềm vui, chứ chẳng ai có một chút ý nghĩ dung tục nào. Các cô mới đúng là thần vệ nữ. Quý bà chỉ khoe áo quần chứ làm gì có thân hình đẹp như vậy cho thiên hạ chiêm ngưỡng. Tôi thấy, cuối dãy, có sân khấu riêng cho các cô Ả Rập nhảy múa cho các ông Ả Rập xem. Ai nấy râu ria tùm lum!

856 . Thơ Phạm Cao Hoàng; Mây khói quê nhà.

 

 Thơ Phạm Cao Hoàng; Mây khói quê nhà.



hôm ấy con về thăm Phú Thứ
gặp lại mùi hương của ruộng đồng
gặp lại những năm và tháng cũ
mây khói quê nhà nhẹ bước chân 

mùi hương của đất làm con nhớ
những giọt mồ hôi những nhọc nhằn
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh
 

mùi hương của đất làm con tiếc
những ngày hoa mộng thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùa lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền
 

ngày mai con lại ra đi nữa
cứ đi hoài mà chẳng đến nơi
ước mơ ngày ấy giờ chưa đạt
mà bóng thời gian đã muộn rồi
 

Phạm Cao Hoàng

Tuy Hòa, tháng 11.1999


Bài thơ đã được nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ thành ca khúc với tiếng hát Ngọc Quy.


Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

855. HỘI CHỢ NEUILLY Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch & giới thiệu

VU À LA FOIRE DE NEUILLY - Tranh Max Ernst (1970)

Tên thật là  Émile Salomon Wilhelm Herzog, lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm 1918. Bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm 1938.

 

André Maurois để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – có người dịch là Tâm cảnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hồn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - . Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de lamour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était laction – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de lAngleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch sử Hoa Kỳ ), Histoire de France ( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ ( Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia ( Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )

 

Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm Thư gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình yêu, tín ngưỡng…


Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với nhan đề Tu seras un homme, mon fils.

 

Truyện ngắn của André Maurois là một bộ phận có vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Ông. Đó là những tác phẩm văn chương có giá trị, mang đầy đủ, trọn vẹn tính đa dạng và phong cách, khuynh hướng của nhà văn. André Maurois thường đơn giản hoá những vấn đề éo le, phức tạp, được kể với giọng văn giản dị, tự nhiên. Kiểu kết thúc câu truyện cũng rất độc đáo với một tình huống bất ngờ, thường trái với sự chờ đợi của người đọc.

 

Một số truyện nổi tiếng của Ông là Người tù trở về ( Le retour du prisonnier ), Hoa violet ngày thứ tư ( Les violettes du mercredi ) rất được tán thưởng.

  

FAIR AT NEUILLY, FRANCE
Tranh Christopher Wood (1901-1930)
  

Bonnivet hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi gì đó, Maufras nói, nhưng con đường sự nghiệp của ông ta chói lọi và nhanh chóng đến nỗi lúc nào tôi cũng xem ông như  ông chủ hơn là bạn. Tôi chịu ơn ông nhiều lắm. Chính ông đã gọi tôi đến làm việc tại văn phòng của ông lúc ông lên làm bộ trưởng Bộ Công chánh, rồi, khi bộ này giải thể,  cũng chính ông ta đã khéo léo “xếp “ tôi vào Toà Thị chính.

 

Khi trở lại chính quyền, ông nắm Bộ Thuộc Địa, lúc này tôi đang có một nhiệm sở dễ chịu ở Paris nên xin ông cứ để tôi yên ở lại đó. Quan hệ giữa hai chúng tôi vẫn thân thiết và hai gia đình vẫn thường mời nhau đến nhà ăn cơm.Bà Nelly Bonnivet là một phụ nữ trạc tứ tuần, còn xinh đẹp, được chồng cưng chiều, tỏ ra là một phu nhân bộ trưởng hoàn hảo. Còn tôi cũng đã lập gia đình mười năm rồi và sống hạnh phúc với Madeleine.

 

Vào đầu tháng sáu, vợ chồng Bonnivet mời chúng tôi ăn tối tại một nhà hàng trong “ Rừng “ (2). Chúng tôi có sáu người, buổi tối thật vui vẻ, đến nửa đêm vẫn chưa muốn chia tay. Bonnivet, người đã lâng lâng, ngỏ ý muốn đi Hội chợ Neuilly. Khi còn nắm quyền, ông thích đóng vai quốc trưởng Haroun- al - Raschid (3) để được nghe mọi người trầm trồ khi ông ấy đi qua : “ Kìa, ngài Bonnivet đấy! “

 

Ba cặp vợ chồng đã quá xuân cố tìm mà không ra cái hương vị trẻ trung trong những trò chơi con trẻ, thật ra chẳng vui vẻ gì. Chúng tôi chơi nhiều trò xổ số và trúng giải những chiếc bánh, những con thuyền bằng thuỷ tinh và những con vật nặn từ bột mì. Ba người đàn ông đã bắn trúng những con tàu quay, những vỏ trứng trôi lờ đờ trên mặt nước. Sau đó chúng tôi đi tới chỗ chiếc tàu hoả chạy vòng tròn, có lúc lộ ra ngoài trời, có lúc chui vào trong tấm bạt như chui vào đường hầm. Nelly Bonnivet đề nghị lên tàu chơi. Madeleine có vẻ như thấy trò chơi chẳng hào hứng gì và những chiếc đệm ghế không mấy sạch sẽ, nhưng không muốn mọi người mất vui, thế là chúng tôi đến mua vé. Trong lúc chen chúc để lên tàu, nhóm chúng tôi bị cắt làm hai. Chỉ có mình tôi cùng toa với Nelly Bonnivet.

 

Chiếc tàu nhỏ quay rất nhanh và vòng quay thiết kế làm sao mà hành khách trên toa cứ ngã nhào vào nhau. Ngay khúc cua đầu tiên, bà Bonnivet đã suýt ngã vào lòng tôi. Đúng vào lúc này, tấm bạt đã dìm chúng tôi vào bóng tối và tôi hoàn toàn không thể giải thích với anh chuyện gì đã xảy ra trong vài giây sau đó. Đôi khi người ta có những hành động mà ý thức không kiểm soát được. Tôi chỉ có thể nói được rằng Nelly gần như nằm dài trên đùi tôi và tôi đã vuốt ve bà ấy như một anh lính mới hai mươi vuốt ve cô gái mà anh đã dẫn đi hội chợ. Vẫn không ý thức được mình đang làm gì, tôi tìm đôi môi bà ấy, và không bị cưỡng lại, hai đôi môi gặp nhau, nhằm lúc con tàu chui ra vùng ánh sáng. Như có sự thoả hiệp, chúng tôi vội buông nhau ra ngay và nhìn nhau, choáng váng, sững sờ.

 

Tôi còn nhớ là lúc đó tôi đã cố tìm hiểu xem khuôn mặt bà Nelly Bonnivet biểu lộ điều gì. Bà vuốt lại mái tóc, chăm chú nhìn tôi không nói gì. Cái giây phút ngượng ngùng đó trôi qua nhanh thôi. Tàu dừng lại, chúng tôi gặp lại trên sân Bonnivet, Madeleine, và hai người cùng đi kia.

 

-   Trò chơi này quá trẻ con đối với chúng ta, Bonnivet mệt mỏi nói, thôi đã đến giờ chúng ta về đi ngủ.


Madeleine tán thành và chúng tôi quay lại Cửa Maillot (4) và từ biệt nhau. Khi hôn tay bà Nelly, tôi nhìn vào mắt bà, bà vẫn nói cười vui vẻ với Madeleine, không để lộ một dấu hiệu nào.

 

Tôi không thể nào ngủ được. Sự việc bất ngờ xảy đến làm xáo động cuộc sống bình lặng lâu nay của tôi. Tôi chưa bao giờ là kẻ hay theo đuổi phụ nữ, từ khi lấy vợ lại càng không. Tôi rất mực yêu thương Madeleine và chúng tôi hoàn toàn tin tưởng nhau. Còn đối với Bonnivet thì tôi vẫn yêu quý và biết ơn. Vậy mà ma quỷ xui khiến sao mà tôi cứ nôn nóng muốn gặp lại Nelly, muốn biết cái nhìn của bà ấy khi chúng tôi rời nhau có ý nghĩa gì. Sửng sốt? Hận thù? Anh biết đấy, con người dù khiêm tốn nhất cũng giấu trong lòng đôi chút kiêu ngạo. Tôi tưởng tượng một ham muốn kín đáo bỗng trỗi dậy trong giờ khắc ngẫu nhiên. Nằm trên giường sát cạnh giường tôi, Madeleine vẫn thở đều một cách nhẹ nhõm.

 

854 . TRƯƠNG VŨ Mưa ướt Vị Thành

 

Trương Vũ
MƯA ƯỚT VỊ THÀNH

Chân dung Trương Vũ, tranh Trương Thị Thịnh, sơn dầu trên bố, 24” x 30”, 1986

Cách đây hơn 20 năm, tôi bắt đầu tham dự khá thường xuyên vào các sinh hoạt văn học ở hải ngoại, trong suốt một thời gian khá dài kể cả lúc còn làm việc toàn thời gian ở NASA trước khi về hưu. Hợp tác với Wayne Karlin để thực hiện tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven, hợp tác với giáo sư Huỳnh Sanh Thông của đại học Yale cho tập san Việt Học The Vietnam Review, viết bài và hợp tác với một số tạp chí văn học Việt Nam ở hải ngoại, thuyết trình ở một số hội thảo về văn học, v.v... Sự tham dự tương đối năng động vào những sinh hoạt đó có vẻ như bất bình thường, vì văn học là một lãnh vực tôi không hề được đào tạo ở trình độ cao. Mà, ngay cả ở trung học, bạn bè đều biết tôi là một đứa học trò rất tầm thường về môn văn. Từ bé tới lớn, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nhà văn hay một giáo sư văn chương.

Một hôm, trong một hội thảo hè dành cho các nhà văn trẻ tổ chức ở đại học St. Mary thuộc tiểu bang Maryland, một nhà văn trao đổi với tôi về trường hợp của cô. Cô mê văn chương, viết rất nhiều truyện ngắn, đang vật lộn với đời sống và phấn đấu với chính mình để xem có nên tiếp tục sống toàn phần cho văn chương và bán phần cho sinh kế, hay ngược lại. Cô muốn tôi lấy kinh nghiệm cá nhân để giúp cô ý kiến. Rất tiếc, hôm đó tôi chẳng giúp gì được vì chẳng có kinh nghiệm nào về chuyện này. Câu trả lời của tôi khá mông lung. Văn chương có giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống của tôi thật nhưng không phải để tôi trở thành nhà văn, mặc dầu đôi khi, do những gì đã viết ra, nhiều người trong văn giới gọi tôi là nhà văn. Tuy nhiên, nhân câu chuyện trên, tôi thấy cần viết một bài về đề tài này, về cái vị trí của văn chương trong đời sống của mình, để từ kinh nghiệm riêng chia sẻ được gì với người khác. Đặc biệt, tôi muốn chia sẻ với những bạn trẻ giống như tôi trước đây, không được đào luyện tốt về văn chương ở trường ốc và sống với những ngành nghề gần như trái ngược. Tôi xin viết một cách tản mạn, và tản mạn từ những chuyện rất riêng tư.

Tôi tin mỗi người trong chúng ta đều mang trong tim mình những dấu ấn, những tì vết gây ra từ một biến cố trong đời, một chấn động mạnh hay có thể chỉ là một hình ảnh đến rất nhanh, như một nụ cười, một giọt nước mắt, … Để rồi, sau đó, vào một lúc rất bất chợt, con tim nhói lên, cái cách vui buồn thương ghét trong cuộc đời bỗng thay đổi. Một bài thơ, một cuốn sách đã đọc vào một lúc nào đó cũng có thể làm nên chuyện như vậy.

Tôi xuất thân là một thầy giáo toán, được gọi nhập ngũ khi có lệnh tổng động viên lúc chiến tranh ở miền Nam trở nên tàn khốc. Sau hơn hai năm, được biệt phái trở về dạy học lại. Cách sống của tôi thay đổi hẳn. Đời sống trong quân ngũ có làm tôi thay đổi thật, nhưng ảnh hưởng lớn nhất thật ra là từ một bài thơ, của một nhà thơ sống cách đây hơn ngàn năm ở một nơi xa lắm.
Cách đây gần 50 năm, sau khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đi trình diện đơn vị ở một hải đảo xa. Tôi nhớ, đó là một buổi sáng mưa nhẹ hột. Trên đường đi đến đơn vị, tôi và một người bạn cùng khóa mang ba-lô đi bộ lên một ngọn đồi, trên đó có một quán ăn nhỏ. Chúng tôi vào quán uống cà phê. Ngồi khá lâu vì mưa bắt đầu nặng hột. Đơn vị ở cách đó không xa nhưng qua mưa không nhìn thấy. Cả hai châm thuốc hút, rồi bỗng nhiên, tôi nhớ tới một bài thơ của Vương Duy. Tôi đọc lên. Bạn tôi chỉ mỉm cười, im lặng, phà khói thuốc, rồi lãng đãng nhìn những giọt mưa rơi từ mái tôn xuống bậc thềm. Năm đó, dù đã dạy học một thời gian trước khi động viên, tôi chỉ mới vừa qua tuổi 26. Bạn tôi, cũng cùng tuổi và cả hai đều đã có gia đình. Tôi nhớ rất rõ bản tiếng Hán, Vị Thành Khúc (), của Vương Duy:

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
西Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

Và, cả bản dịch của Ngô Tất Tố:

Trời mai mưa ướt Vị Thành
Xanh xanh trước quán mấy nhành liễu non
Khuyên chàng hãy cạn chén son
Dương Quan đến đó không còn ai quen 
             
Đây chắc không phải là bài thơ hay nhất của Vương Duy và càng không phải là bài thơ hay nhất của Đường Thi. Chắc cũng không có bao nhiêu bạn đọc cảm xúc gì nhiều khi đọc bài này. Nhưng, với tôi, khi đọc lên tôi xúc động. Tôi biết tôi đã đọc nó lần đầu tiên từ cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, lâu lắm rồi, khi còn ở trung học, trong căn nhà cũ gần bờ biển Nha Trang, nơi tôi đã sống suốt tuổi thơ. Bài thơ đó, thời gian đó, không gian đó, với những xúc cảm của lúc đó, tưởng quên đi, nhưng không. Cũng từ đó, tôi đọc nhiều sáng tác văn học hơn mỗi khi rảnh và nhớ lại nhiều bài thơ đã học và đã quên.

Ở hải đảo có một thời gian tôi làm sĩ quan tuần tra. Tôi nhớ, một buổi tối, mưa tầm tã, khi hết phiên trực, tôi ghé vào lều của một ông thượng sĩ già, xin cà phê uống. Ở đó, người sĩ quan trực kế tiếp, MDT, cũng đang ngồi uống cà phê. MDT trước khi động viên dạy Pháp văn ở Huế. Trong khi trò chuyện, bỗng nhiên T. nói về những tiểu thuyết Pháp đang ăn khách như Bonjour Tristesse, Un Certain Sourire,… của Françoise Sagan, rồi quay trở lại nói về những tác phẩm học ở thời trung học, những tác phẩm của Alphonse Daudet hay Anatole France, rồi Nguyễn Du của ngày xưa, rồi Bùi Giáng của ngày nay, rồi quay sang nói về Sartre, về Camus, v.v… Chúng tôi nói say sưa, ông thượng sĩ già châm thêm cà phê, lặng lẽ nghe và thỉnh thoảng nở nụ cười độ lượng. Trước khi chia tay và bắt đầu phiên trực của mình, T. nói với tôi: “Tụi mình… à la recherche de la jeunesse perdue!” Tôi cũng thấy mình già đi thật. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, thấy… tếu tếu. Tuy nhiên, những câu chuyện theo kiểu câu chuyện trong lều của ông thượng sĩ già đó, đã giúp tôi rất nhiều để những ngày tháng nơi hải đảo bớt đi cái nhớ nhà, cái lo sợ, cái nhàm chán. Và, dù hễ mở miệng là thích nói về cái tuổi trẻ đã mất, nhưng chính vào thời gian đó, từ những câu chuyện văn chương đó, tôi thấy cái tuổi trẻ thật sự của mình bắt đầu bừng lên một sức sống mãnh liệt. Tôi nghĩ đến những ngày tháng tới, khi không còn chinh chiến, hay khi được trở về với đời sống thường dân, tôi sẽ sống khác, nhìn cuộc đời cách khác. Và, quả thật, khi về lại, tôi vẫn tiếp tục dạy toán, nhưng tôi có khác.