Văn-học
Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại
Nhà văn TRẦN DOÃN
NHO
Trần Doãn Nho, bút hiệu sử dụng khi sáng tác và
ký Trần Hữu Thục tên thật, khi viết tiểu luận. Sinh ngày 25-7-1945 tại Huế. Tốt
nghiệp ngành Triết. Trước 1975, phụ
khảo môn Triết tại
Đại
học
Văn Khoa Huế; sĩ quan quân đội VNCH và cộng tác với các tạp chí văn học Sài
Gòn. Sau 1975, ở tù “cải tạo” đến 1981. Định cư ở Hoa Kỳ
1993, làm việc cho Sở Giáo Dục Thành Phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng
tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn
Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Tự Do, Văn,
và các trang mạng.
Tác-phẩm đã xuất bản: các tập truyện ngắn Vết Xước Đầu Đời (Thanh Văn, 1995), Căn Phòng Thao Thức (Thanh
Văn, 1997), Đi. Trong Một Buổi Sáng (Văn Học Press, 2021) - ký và tùy bút Loanh Quanh
Những Nẻo Đường (Văn
Mới, 2000), truyện
dài Dặm Trường (Văn Mới, 2001; Thư Ấn Quán tb 2018) - các biên-khảo tiểu luận Viết và Đọc (Văn
Học, 1999), Tác Giả Tác Phẩm và Sự Kiện (Văn Mới, 2005), Từ Ảo Đến
Thực (2006), Ẩn Dụ Cuộc Phiêu Lưu của Chữ (Người Việt, 2015), …
*
Trần
Doãn Nho giáo chức và đã khởi nghiệp văn-chương từ trước 1975, ông thực sự xuất
bản từ khi định cư tại Hoa Kỳ. Là một
cây bút trí thức, do đó khi sáng-tác ông cũng đã hơn một lần cho người đọc thấy
ông nhiều suy tư:
con chữ Trần Doãn Nho hoặc
Trần Hữu Thục, nếu không có mục-đích thì cũng liên hệ đến tâm thức và ý nghĩa
nào đó của hiện hữu, của con người và nhất là con người Việt Nam!
Trong Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu của Chữ, ông nghiên cứu về “ẩn
dụ” trong văn học Đông Tây trãi qua các thời đại. Chương viết về “Chữ nghĩa:
chữ và nghĩa”, ông cho biết:
“Chữ: Nói đến chữ, ta
thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn
ngữ. Dưới hình thức chữ cái, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự
khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ “tách khỏi thế giới và trở
thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ,” theo Arild Utaker,
trong một bài viết bàn về Saussure. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ
viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành
“một vấn nạn triết lý”: tương quan “giữa ngôn ngữ và thế giới” hay nói khác đi,
tương quan “giữa chữ và sự vật.” Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng
cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể
hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời
là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là
phản ảnh vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm
thấy trong chữ. Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn … “Hoạt động ngôn ngữ”
là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng
này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình
thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký
hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng
Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói”.
“Ngôn ngữ” có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. “Lời nói” là sự sử dụng
cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau.
Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này,
Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là
toàn thể các ký hiệu. Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ
thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên
hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là
tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt
chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có
một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ
viết khiến ta không thấy được điều đó...”.
“Nghĩa: Dù là bằng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic),
chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là
chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà
thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa
đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa
là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều
trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi
đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “đi”. Đi là động tác di chuyển bằng chân hướng
về phía trước, nhưng có nhiều chữ đi lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi
đêm, đi khách. Hay chữ “ăn”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng,
ta có những chữ ăn khác như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng
dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”...”.