Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026
827 . VŨ THẤT - ĐỜI THỦY THỦ (Tiếp theo từ chương 5 đến chương 10)
Đời
Thủy Thủ 3
(Chương
5 đến Chương 10)
Chương
5
Trục
Bắc Đảo – Hải Tặc
Võ Bằng
trao công điện cho Hạm phó Tiến vừa bước vào:
—
Anh định vị tọa độ, cho biết cách chiến hạm bao xa.
Tiến
bước nhanh đến bàn hải đồ, chăm chú đọc:
“Không
tuần cho biết có tàu khả nghi đang đánh cá vùng biển Bắc Đảo, tọa độ 10.45N –
104.03E. Yêu cầu quý chiến hạm đến vị trí trên sớm nhất. Tuần Duyên Đỉnh HQ 729
đang trên đường. Phối hợp khám xét và báo cáo kết quả.”
Anh
đánh dấu nhanh vị trí:
—
Thưa Hạm trưởng, khoảng cách 28 hải lý.
Võ Bằng
lẩm bẩm như nói với chính mình:
— Tối
đa cũng mất hai tiếng… Liệu còn kịp?
Rồi dứt khoát chọn tốc độ khẩn cấp:
—
Hai máy tiến full!
Lệnh
ban ra. Tiếng chuông truyền xuống hầm máy leng keng. Rồi tiếng động cơ rền rĩ,
thân tàu rung nhẹ, mũi tàu hất nước trắng xóa sang đôi bên.
Anh
quay qua Hạm phó:
— Kẻ
hải trình ngắn nhất. Xong, cho tôi xem.
Tiến
nhanh chóng thi hành. Hướng mới qua cạnh một vùng đá ngầm. Nhưng biển hôm nay
êm, gió nhẹ, không hải lưu – rủi ro có thể chấp nhận.
— Sĩ
quan đương phiên! Cho lái hướng mới.
Thiếu
úy Đức bước đến nhìn hải đồ:
— Nhận
rõ. Lái hướng 315.
Hạ
sĩ Lâm lặp lại khẩu lệnh, hai tay quay bánh lái. Mũi tàu dần quay qua trái.
Trên la bàn, các con số dịch chuyển. Khi đúng hướng, anh dõng dạc:
— Hướng
315.
—
Lái thẳng!
—
Lái thẳng, hướng 315!
— Tốt.
Võ Bằng
gật đầu, ra hiệu cho Hạm phó:
— Gọi
HQ 729 hỏi vị trí.
Tiến
nói qua PRC-46:
— Hải
Dương, Bắc Bình gọi.
Tiếng
rè rè trước tiếng đáp:
— Hải
Dương tôi nghe.
—
Anh đến đâu rồi?
— Mới
zulu!
— Nếu
tới trước, gặp tàu thì chờ. Nếu là ghe, cứ xét.
— Nhận
rõ, thẩm quyền.
Tiến
cúp máy rồi nhìn Hạm trưởng:
—
Tôi có linh cảm… đó là tàu tiếp tế cho Việt Cộng.
—
Tôi cũng nghĩ vậy.
—
Nhưng theo luật, lãnh hải là 12 hải lý từ bờ. Hai nước cách nhau dưới 24 thì
chia đôi. Tàu kia cách bờ Miên 8, cách Phú Quốc 6. Như vậy… chưa vi phạm.
Võ Bằng
mỉm cười:
—
Chuyện này các sĩ quan cần hiểu rõ. Hãy nhìn vào hải đồ, các anh thấy vùng biển
Bắc Đảo không hề có đường ranh. Nghĩa là, nếu phát hiện vũ khí hay hàng quốc cấm,
chúng ta có quyền hành động, bất kể ở đâu.
Tiến
do dự:
—
Trước kia, cựu Hạm trưởng cũng nói vậy, nhưng
không giải thích. Tôi muốn hỏi mà ngại.
— Với
tôi, ai có gì thắc mắc cứ nêu. Tôi không hứa trả lời được hết, nhưng sẽ cố gắng.
Tiến
ngập ngừng:
— Có
thể nào… nhà in hải đồ sơ suất?
—
Không thể. Hải đồ Mỹ chi tiết lắm. Đến cả đá ngầm, bãi cạn, xác tàu chìm cũng
đánh dấu, thì làm sao
lại quên đường biên?
—
Nhưng nếu Miên kiện, mình có bị
liên lụy?
Võ Bằng
nghiêm giọng:
—
Theo Công Pháp Quốc Tế, biên giới biển là đường kéo dài từ biên giới đất liền
ra khơi. Đường ấy cắt ngang Phú Quốc, phía bắc rộng gấp đôi phía nam. Nên, theo
lý, Phú Quốc là của Miên. Nhưng cũng theo Công Pháp, đảo này từ xưa có dân Việt
ở, là một đơn vị hành chánh của Việt Nam nên thuộc Việt Nam. Nhưng chủ quyền
hàng trăm đảo nhỏ quanh phía bắc thì vẫn còn tranh chấp.
Tiến
sốt ruột:
— Vậy
nên mới cần đường ranh giới biển!
—
Năm 1939, quan Toàn quyền Brévié vẽ một ranh giới gọi là đường Brévié, vòng
quanh hai phần ba Bắc Phú Quốc, cách bờ 3 hải lý. Đảo nào trong đường đó thuộc
Việt Nam, ngoài thì thuộc Cao Miên.
— Chỉ
ba hải lý? Thiệt thòi cho mình quá!
— Có
thể ông Brévié nhìn theo thực tế: Việt Nam giữ trọn Phú Quốc thì nên nhường
Miên phần biển rộng hơn. Nhưng VN không đồng ý. Cuối cùng, ông xác định rõ: đường
Brévié chỉ là ranh giới hành chánh, không phải biên giới quốc tế.
Tiến
trầm ngâm:
— Tại
sao không chia đôi theo đúng Công Pháp?
—
Miên không chấp nhận, nhất định đòi ranh giới hành chánh là hải giới. Đến nay vẫn
đang bàn cãi.
—
Bàn… suốt 30 năm chưa xong!
— Vì
chưa có đường ranh rõ ràng nên Miên thỉnh thoảng đổ quân chiếm các đảo như Kiến
Vàng, Kèo Ngựa, Thổ Chu. Và chúng ta phải hành quân giải tỏa. Đó là một trong
nhiều lý do cần chiến hạm tuần tiễu vùng
này.
Tiến
hỏi dồn:
—
Trường hợp gặp tàu chở quân Miên, mình phản ứng thế nào?
— Nếu
không có bằng chứng đổ quân, cứ theo dõi. Nếu xâm nhập trong 3 hải lý thì bắt,
đưa về An Thới. Nếu chống cự – đánh chìm.
Cả
đài chỉ huy im lặng. Mắt mọi người dõi về phía chân trời, như tìm tàu Miên đang
đổ quân…
***
Võ Bằng
chợt cau mày:
— Hạm
phó, đã bao lâu rồi tàu mình chưa thực tập tác xạ?
Tiến
lắc đầu:
—
Thưa, khoảng nửa năm.
—
Tôi muốn biết chắc các khẩu súng đều khiển
dụng.
Hạm
phó đáp vội:
— Để
tôi ra lệnh ngay.
— Tốt.
Cẩn tắc vô ưu. Cho bắn thử tất cả các ổ súng. Mục tiêu giả định cách 100 thước
và 200. Quan sát kỹ. Phải chắc chắn khu vực không ghe tàu.
Tiến
bảo sĩ quan đương phiên:
— Nhận
còi nhiệm sở tác chiến!
Tiếng
còi rú lên từng hồi, dội xuống lòng tàu, lan ra mũi, lái. Các nhân viên chạy vội
vào các ổ súng. Tiếng đạn nạp vào nòng khua vang. Các ổ súng báo cáo sẵn sàng.
Võ Bằng
đích thân chỉ thị tác xạ. Giọng anh mạnh, rõ ràng, dứt khoát:
— Đại
bác 40 mũi. Các đại liên hữu hạm. Mục tiêu hướng 2 giờ, tầm xa 100 mét. Bắn!
Một
loạt tiếng nổ giòn giã. Nước biển bắn tung tóe. Chớp sáng rạch qua không khí.
Hơi thuốc súng thoảng theo gió.
Võ Bằng
ra lệnh tiếp:
— 76
ly, đại liên tả hạm. Mục tiêu hướng 2 giờ. Cách 200 mét. Bắn.
Loạt
đạn thứ nhì rung rinh cả tàu. Khói thuốc súng nồng nặc. Từng cột nước bung cao.
Võ Bằng hài lòng và cảm thấy yên
tâm:
— Giải
tán nhiệm sở tác chiến.
Còi
vang lên. Mọi người rời vị trí, gương mặt hớn hở. Võ Bằng trở về ghế tựa. Đại
úy Cố vấn Mỹ đứng sẵn lúc nào:
—
Good afternoon, Cap!
Chào mọi người. What’s happening?
—
Chào Bill. Just gun test!
Anh
ra hiệu, cả hai cùng bước tới bàn hải đồ. Võ Bằng chỉ mục tiêu và mục đích đang
hướng đến. Có thể có đụng độ.
Cố vấn
gật đầu, vẻ quan tâm. Anh cúi xuống mở PRC 46, liên lạc nêu nhu cầu với Trung
tâm yểm trợ phi pháo Mỹ.
Võ Bằng
trở về ghế ngồi. Trong khi chờ kết quả, hai người trao đổi tâm tình. Cố vấn nói về gia đình: vợ và con
gái bốn tuổi. Võ Bằng nửa đùa nửa thật: chưa vợ nhưng có thể có con trai 5 tuổi.
Cả
hai đang cười thì máy PRC kêu “tách”. Cố vấn áp tai nghe rồi đưa ngón cái chỉ
thiên:
—
Phi pháo sẵn sàng. Dự trù 20 phút khi được yêu cầu.
— Tốt.
Có thể không dùng đến, nhưng sẵn sàng vẫn hơn.
Cố vấn
gật đầu, đứng bên hạm trưởng như một minh chứng đồng minh đáng tin cậy.
Biển
vẫn yên, sóng lặng nhưng Võ Bằng bỗng mang một linh cảm bất an. Chuyện gì sắp xảy
ra ở vùng biển phía trước?
***
Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026
826 . SONG THAO - Ký Ức Saigon (4 ).
KÝ ỨC SÀI GÒN
(4)
*SONG THAO
May mắn hơn là những nhân
viên của Đài Mẹ Việt Nam. Họ được di tản có bài bản. Nhà văn Ngô Thế Vinh kể
lại : “Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây
viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả
thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm tòa soạn
Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến ngồi chung với Vũ Hạnh; cũng là nơi
mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu
chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày
về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi
đứng dậy bước ra khỏi toà soạn. Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ
nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên
Linh, Tuý Hồng, Thanh Nam từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger
đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê
Tất Điều thấy Võ Phiến khóc”.
Vũ Khắc Khoan, Nghiêm
Xuân Hồng, Mặc Đỗ cùng hội tụ với nhóm Mẹ Việt Nam trên đảo Guam. Tôi chợt nhớ
tới câu ca dao : “Gió đưa cây cải về trời /
Rau răm ở lại chịu nhiểu đắng cay”. Chẳng biết có phải là một thứ “sấm” không? Những” rau răm” bị bầm nát chết trong tù có Hiếu Chân, Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn
Mạnh Côn, Phạm văn Sơn, Trần văn Tuyên, Trần Việt
Sơn, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường. Chết sau khi ra tù có Hồ
Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Sống xa rời cây viết có Dương Nghiễm Mậu làm sơn
mài, Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên lề đường, Trần Lê Nguyễn bán báo, Nguyễn
Mộng Giác làm mì sợi, Trần Hoài Thư bán cà-rem dạo.
Giới cầm bút xấc bấc xang
bang, dân Sài Gòn cũng cùng chung một quốc nạn. Từ ngày tháng
tư u tối đó, dân Sài Gòn tan tác như đàn gà con mất mẹ. Mỗi người đều chạy vạy
để có được một chỗ trên máy bay rời Sài Gòn. Chuyện không dễ gì. Vào những giây
phút cuối, trực thăng bay hốt những đoàn người cuối. Tác giả Nguyễn Viết Đĩnh
ghi lại giây phút tan hoang của Sài Gòn thoi thóp: “Trên bầu trời
Sài Gòn, từng đàn trực thăng võ trang của Thủy Quân Lục chiến Mỹ lượn vòng
không ngớt. Tiếng cánh quạt xé gió vang lên suốt ngày đêm, như một thứ âm thanh
báo tử. Chúng bay thấp, bay cao, đáp xuống các cao ốc, các địa điểm đã được chỉ
định từ trước. Người ta nói về những cuộc bốc người từ nóc tòa đại sứ, từ các
cao ốc lớn trong thành phố. Những chiếc thang dây buông xuống từ không trung,
người bám vào như bám vào sợi dây cuối cùng của sự sống. Mỗi lần nghe tiếng
trực thăng, tim tôi lại thắt lại. Không phải vì hy vọng, mà vì một cảm giác bị
bỏ lại. Chúng không đến cho tất cả. Chúng chỉ đến cho một số người đã được
chọn, đã có tên, đã có chỗ. Phần còn lại của thành phố chỉ đứng nhìn, ngước mắt
lên trời, bất lực”.
Những người chậm chân sau đó đã xô nhau vượt biên, vượt biển tìm tự do bất chấp những
nguy hiểm tới mạng sống kè kè trên mỗi bước đường trốn xa thành phố thân yêu. Theo
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), tổng số người vượt biển từ 1975 tới 1995
khoảng từ 800 ngàn tới 900 ngàn. Trong số đó tới được Mã Lai (255 ngàn), Hồng
Kông (143 ngàn), Indonesia (122 ngàn), Thái Lan (80 ngàn), Philippines (40
ngàn) và Singapore (30 ngàn). Tổng cộng 670 ngàn. Số tử vong ước tính khoảng từ
200 ngàn tới 400 ngàn vì chết đuối, bão tố, thiếu nước , đói, bệnh hoặc do cướp
biển. Khoảng 10 ngàn phụ nữ và trẻ em gái bị bạo hành tình dục hoặc bị bắt cóc.
Vượt biên là tự phát. Dân lén lút dùng những tàu đánh cá ra biển. Có thể
họ đi chui nhưng cũng có những vụ mua bãi có công an lấy vàng tiếp tay cho rời
bến an toàn. Nhà nước thấy làm ăn được nên nâng chuyện cướp vàng của những
người muốn vượt biên thành…chính sách. Nhân vụ muốn đẩy người Hoa ra khỏi nước,
nhà nước đứng ra tổ chức những chuyến đi mà dân ta hồi đó gọi là đi “bán chính thức”. Nhà nước
gọi là “Phương Án II”. Tại sao có
con số 2? Có ba phương án giải quyết việc ra đi của người Hoa: theo con đường
Liên Hiệp Quốc HCR (gọi tắt là Phương Án I); cho ra nước ngoài làm ăn (Phương
Án II) và cho về các địa phương sản xuất theo khả năng (Phương Án III).
Trong cuốn « Bên Thắng Cuộc », tác giả Huy Đức đã ghi
lại : “Phương án II là một kế hoạch được “phổ biến miệng để giữ bí
mật”, theo đó: Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền
cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do
ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được
giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”. Việc triển khai Phương Án này được
làm trong bí mật. Ngay Phó Bí Thư Thường Trực Sài Gòn Trần Quốc Hương cũng
không được biết. Trung Ương lập ra Ban 69 để theo dõi hoạt động thi hành Phương
Án II. Trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” ghi lại kết quả cuộc kiểm tra như sau: “Kết quả kiểm tra của Ban 69 cho thấy có một sự khác biệt rất lớn
giữa báo cáo của Bộ Nội vụ và thực tế thực hiện Phương án II. Báo cáo của Bộ Nội vụ
nói rằng: “Từ tháng 8-78 đến 6-79, mười lăm tỉnh, thành đã cho người Hoa đi nước
ngoài bằng tàu, thuyền gồm 156 chuyến với số người là 59.329 người, đã thu
5.612 kg vàng, năm triệu đồng Việt Nam, năm mươi bảy ngàn đô la Mỹ, 235 ô tô,
1.749 nhà và gian nhà”. Nhưng, số liệu sau khi Ban 69 kiểm tra cho thấy: “Số
tàu đã cho đi: 533; Số người đã đi: 134.322; Thu vàng: 16.181kg; Ngoại tệ:
164.505 đô la; Tiền ngân hàng VN: 34.548.138 đồng; Một số tài sản khác: 538 ô
tô, xe du lịch; 4.145 nhà và gian nhà”. Tuy đối tượng cần đưa đi ở các tỉnh trước
hết là Thành phố HCM chưa giải quyết hết yêu cầu, việc phối hợp đưa 70 ngàn người
Hoa ở Thành Phố HCM trong tổng số gần 140 ngàn người Hoa đã đi là một thành
tích lớn. Việc thu vàng và tài sản của Phương Án 2 cũng là một thành tích rất lớn”.
Trước
con số lợi lộc lớn lao như vậy, các cán bộ thi hành không bỏ lỡ cơ hội tham ô bỏ túi. Người Việt
lợi dụng lối vượt thoát khá an toàn này nên đóng vàng cho công an để ngụy trang
thành người Hoa trà trộn vào đoàn người Hoa ra đi. Tại Sài Gòn, nhiều tổ chức
móc nối người Việt. Có người đi được, có người tiền mất tật mang. Tôi là một
trong số nhiều người đã bị lừa. Số vàng tôi mất cho gia đình 4 người trên chục
lượng. Sau khi thỏa thuận với người môi giới, gia đình tôi được họ cung cấp cho
giấy Chứng Minh Nhân Dân và Thẻ Cử Tri với tên Hoa. Mỗi người phải học thuộc
tên mình. Chuyện khá khó khăn nhất là với hai đứa con còn nhỏ của tôi. Cả nhà
hy vọng ngồi chờ ngày ra đi. Ngày đó chẳng bao giờ tới.
Có
những người không màng chuyện ra đi mà nguyện sống mãi mãi với thành phố thân
yêu. Họ tự hủy thân xác trong thành phố để được sống với Sài Gòn dấu yêu. Có
rất nhiều người đã chọn bước đường cùng như vậy. Nổi bật nhất là cái chết của
Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn văn Long và Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh.
Trong những ngày Sài Gòn vừa thất thủ, dân Sài Gòn đã bàng hoàng trước tấm hình TrungTá Nguyễn văn Long nằm chết trong bộ quân phục. Tấm hình do một ký giả Pháp chụp và phổ biến trên báo Paris Match. Nhà văn Giao Chỉ ở San Jose viết trong bài “Câu Chuyện Về Cái Chết Của Trung Tá Nguyên Văn Long. Cái Chết Của Cha Tôi”: “Bức hình chụp được phổ biến cho thấy ông nằm nghiêm chỉnh dưới bức tượng xung phong của thủy quân lục chiến trước tòa nhà quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Có nhiều người chứng kiến nhưng không ai là nhân chứng kể lại giây phút cuối cùng. Dường như có người đã sắp xếp lại di hài vị anh hùng mang cấp bậc trung tá cảnh sát. Hai tay để ngay ngắn trên bụng. Nón trước ngực. Tấm hình chụp thật rõ ràng. Ai đã sắp xếp lại? Đồng bào miền Nam hay anh phóng viên chụp hình cho tờ báo Pháp. Bức hình của người sĩ quan bại trận nằm yên nghỉ nhưng hết sức lẫm liệt”. Trung Tá Long sanh tại Phú Hội, Huế, ngày 1/6/1919, tuẫn tiết tại Sài Gòn năm 1975, lúc đó 56 tuổi. Ông có 13 người con, 6 trai 7 gái. Tên các con trai thể hiện giấc mơ của cha : Phụng, Hoàng, Minh, Tiến, Quang, Hội. Tất cả đều gia nhập quân đội, trừ cậu út mới 13 tuổi, chưa đủ tuổi đi lính. Tên các con gái như hình ảnh dịu hiền của mẹ : Đào, Tâm, Thiện, Hòa, Hảo, Hiền, Huê. Ông làm việc tại Đà Nẵng, di tản vào Sài Gòn. Bà Tâm, con gái thứ ba của ông kể lại : “Lúc đó vào cuối tháng 3/75 ở Đà Nẵng. Ba vẫn làm việc trong trại, không về nhà. Hai cậu em không quân, một ở Đà Nẵng, một ở Biên Hòa. Một cậu đưa cả nhà vào sân bay Đà Nẵng chờ di tản. Nhưng rồi cũng không đi được. Vào ngày cuối người cha về nhà không thấy gia đình. Ông nghĩ rằng vợ con có thể đã đi thoát trong phi trường. Ông xuống bãi và ra đi bằng tàu. Vào đến Saigon đã có cô con gái lớn đón cha về ở tạm. Lúc đó mới biết vợ con còn kẹt ở Đà Nẵng. Cha tôi lại vào trình diện Tổng Nha Cảnh Sát để làm việc”. Trưa 30/4/75 khi radio phát thanh lời Tổng Thống đầu hàng thì một phát súng đơn độc nổ bên thái dương, Trung Tá Long ngã xuống. Ông buông cây súng nhỏ theo lệnh Tổng Thống, cây súng tùy thân ông vẫn mang theo từ Huế, Đà Nẵng vào đến Sài Gòn. Thân xác ông được đưa vào bệnh viện Grall. Trong bộ quân phục của ông có mảnh giấy ghi địa chỉ của gia đình nên vào cuối tháng 5/1975 có người từ nhà thương Grall liên lạc về Đà Nẵng. Hai vợ chồng bà Tâm từ Đà Nẵng vào hợp cùng chị và em ở Sài Gòn tới nhà xác bệnh viện. Khi nhân viên nhà xác mở ngăn lạnh chứa xác, xác ông vẫn còn nguyên vẹn trong quân phục có đeo cấp hiệu và mũ Cảnh Sát. Nhân viên nhà xác cho biết được lệnh bảo quản vì đây là thi hài của một anh hùng, chờ gia đình tổ chức mai táng chu đáo. Gia đình đã chôn cất Trung Tá Long tại nghĩa trang Bà Quẹo.
Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh không tự tử một mình. Ông đã giúp cả gia đình gồm vợ và bảy người con thoát khỏi kiếp sống dưới chế độ Cộng sản trước khi quay súng bắn vào đầu tự tử. Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh, khi đó mới 11 tuổi, là hàng xóm của gia đình Trung Tá Vĩnh, còn nhớ như in quang cảnh ngày oan nghiệt đó trong hồi ký “Chín Nén Nhang Cho Gia Đình Cố Trung tá Đặng Sĩ Vĩnh”: “Ngày 30/4/1975, lời tuyên bố đầu hàng đã truyền đi. Lá cờ tai họa đã bay trên Dinh Độc Lập. Bố tôi từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị về nhà. Mắt ông đỏ tia máu. Trước nhà tôi, những người lính cởi trần ngồi lề đường khóc. Họ chửi rủa rằng họ bị phản bội, bị bỏ rơi. Họ nói đến chuyện tự tử để không thẹn với hồn thiêng sông núi. Có cái gì đó khủng khiếp khi những người đàn ông khóc. Hàng xóm xúm lại an ủi họ. Trời chang chang nắng đổ. Súng ống quân phục đầy đường từ Ngã Tư Bẩy Hiền vào Lê Văn Duyệt. Tiếng súng do bọn thanh thiếu niên hoang loạn bắn từ vũ khí vương vãi trên hè phố nổ rền suốt mấy giờ liền. Đến khoảng 2 giờ chiều chỉ còn lác đác tiếng súng ở xa. Nỗi hoang mang tiếp tục gia tăng khi người ta bắt đầu nhìn thấy những người lính miền Bắc đeo ba-lô, đi dép râu, mặt mũi lơ láo, lạ lẫm bắt đầu đi vào con đường hẻm. Bất thình lình, trong cái oi bức, ngột ngạt của không gian, trong cái căng thẳng kinh hoàng của đầu óc, có những tiếng súng nhỏ vang lên trong một căn nhà. Những tiếng súng ấy nhỏ và không vội vã như người ta bắn qua lại khi giao tranh. Những tiếng súng ấy bình tĩnh, cách nhau đều đặn. Chúng vang lên một cách chắc chắn, chắc chắn như quyết định của người nổ súng. Đó chính là tiếng súng mà Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh đã nổ để kết liễu mạng sống của cả gia đình gồm vợ với bảy người con và chính bản thân ông”.
Ngôi
nhà màu xanh lá cây, cổng gạch trắng, không có chỗ đậu xe hơi, mang số 98/39
Phạm Hồng Thái, ấp Hòa Bình, quận Tân Bình, Gia Định. Con hẻm này thuộc Khu Ông
Tạ, được dân chúng gọi nôm na là Hẻm Con Mắt. Xe ông thường mang để nhờ trong
sân nhà kịch sĩ Năm Châu ở xế cửa nhà ông. Bà Vĩnh tên Trần Ánh Nguyệt, là chị
vợ của nhà thơ Hà Thượng Nhân. Nhà thơ cho biết ông anh cột chèo này rất hiền
lành, nhân hậu, chẳng bao giờ cau có, cãi cọ với ai. Hai ông bà có bảy người
con. Anh con cả là Đặng Trần Vinh, sanh năm 1948. Hai cô út là một cặp sinh đôi
khi đó khoảng 15 tuổi. Ông tốt nghiệp Khóa 3 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào
năm 1953, tùng sự tại Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Từ cuối thập niên 1960, ông
được biệt phái qua Tổng Nha Cảnh sát.
Tác
giả Nguyễn Hà Tường Anh nhớ lại: “Trong
ký ức tuổi thơ của tôi, ông Vĩnh lúc ấy 56 tuổi mà còn phong độ. Gặp bố tôi,
ông trao đổi một vài câu chuyện với giọng thật hiền hòa, thân thiện. Anh Vinh,
con ông lúc ấy 27 tuổi. Hai cô em gái sinh đôi của anh thường đùa nghịch cười
rúc rích. Họ đồng tuổi với chị Trang của tôi. Da trắng, tóc dài, đen nhánh,
buộc bằng nơ đỏ và xanh dương. Âm thanh và hình ảnh của gia đình Trung Tá Đặng
Sĩ Vĩnh, nếu chỉ có thể trong tôi, đã không trở thành ký ức kinh hoàng. Ký ức
đó chỉ một thời gian ngắn sau, đã bằng những tiếng súng chuyển thành kinh
hoàng. Bố tôi nói buổi trưa ngày 30/4/1975, khi nghe tiếng súng:“Chắc bác Vĩnh
tự tử rồi!”. Mắt ông vẫn đỏ tia máu. Tôi dư biết ông có khẩu súng lục và một
trái lựu đạn trong ngăn kéo trên lầu. Bố tôi không nói gì nữa. Ông ngồi đó mà
không ăn trưa, hai mắt lừ lừ. Tôi không tin lời bố tôi nói. Một đứa 11 tuổi
chưa đủ khả năng để lượng định những áp lực tinh thần đang đè nặng trên vai kẻ
sĩ trong lúc đất nước rơi vào tay giặc. Thật sự, dù có tin, tôi cũng không nghĩ
đến cái chết của người khác vào lúc đó. Nhưng tôi sợ cái chết của bác Vĩnh và
cả nhà sẽ khiến bố tôi quyết định cùng gia đình chọn cái chết hơn là sống với
chế độ Cộng Sản. Mẹ tôi lo ngại, lén lấy súng lục và lựu đạn của bố gói trong
bao vải ném xuống kinh Nhiêu Lộc. Mẹ tôi chỉ nói ngắn gọn với bố: “Anh muốn làm
gì cũng phải bàn với cả nhà, nhất là với mẹ, người sinh ra anh trên đời này”.
Bà tôi thấy vậy cũng sợ, bắt chúng tôi bốn đứa âm thầm thay phiên nhau canh
chừng bố. May thay sau đó bố tôi đã thoát được những ám ảnh từ gia đình bác
Vĩnh”
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026
819 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - THÁNG NĂM HOA TRÀN ĐỒNG
THÁNG NĂM HOA TRÀN ĐỒNG
Tháng năm hoa nở
tràn đồng, hoa vàng rực rỡ như màu nắng, hoa trồng bởi con người và hoa dại của
thiên nhiên đồng khoe sắc hương. Những hạt giống ngủ trong đất từ mùa cũ hay vừa
mới ươm gần đây đều bừng lên.
Tháng năm đất trời
cao rộng, màu trời xanh miên viễn với mây trắng trùng trùng vô tận mặc cho cõi
người ta thế sự thăng trầm đảo điên. Lòng người có loạn động thế nào thì hoa vẫn
nở như đã từng từ thuở hồng hoang.
Thế sự loạn động
không đến từ bên ngoài, không phải là ngẫu nhiên. Nó là hậu quả của nghiệp, là
hiện tướng của tham – sân – si, nói gọn hơn nữa là vô minh. Nếu một người vô
danh tiểu tốt thì tham – sân – si chỉ ảnh hưởng bản thân người ấy hay gia đinh
người ấy thôi. Còn nếu là một người danh phận lớn như quốc chủ thì tham – sân –
si của kẻ ấy ảnh hưởng xấu đến cả quốc gia, nếu là nước lớn thì còn ảnh hưởng đến
cục diện cả thiên hạ.
Quốc chủ vô minh
gây loạn động mà lại được một bộ phận dân chúng cuồng phò mê muội âu cũng là có
nhân duyên với nhau. Nhà Nho nói “nhất ẩm nhất trác mạc phi tiền định” là vậy.
Nhà Phật thì rõ ràng hơn, thông suốt hơn: “Cái quả hôm nay là do cái nhân từ
quá khứ, cái nhân hôm nay sẽ là cái quả trong tương lai” (dục tri quá khứ
nhân/kim sanh thọ giả thị/ dục tri lai thế quả/ kim sanh tác giả thị). Cực hữu
da trắng, cực đoan Hồi giáo, cực tả cộng sản, cực ác phát xít…đều đem lại đau
thương máu lệ cho con người. Ngay cả trong đạo cũng thế, một khi cực mê thì
không thể nào giải thoát nổi. Đạo là con đường để đi đến giải thoát. Đạo là
phương pháp tu hành, đạo là đức tin, là phương tiện đưa người rời bến mê…Một
khi thiên lệch thì đạo sẽ lạc đường. Đức Phật đã trải qua nhiều phương pháp tu hành
và cuối cùng ngài rút ra kinh nghiệm hành xác hay phóng túng đều không thể giải
thoát. Kinh Chuyển Pháp Luân ghi rõ: “Này các tỳ kheo, có hai cực đoan mà bậc
xuất gia phải tranh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục lụy, phàm phu, không
thanh thiện; hai là khổ hạnh cũng không thanh thiện, không lợi lạc lại khổ
đau”. Nói cách khác thì cực đoan kiểu nào cũng đều không có lợi, thậm chí còn
ràng buộc thêm.
Từ kinh nghiệm tu hành
của mình, đức Phật phát kiến ra con đường trung đạo và thực tế cho thấy chỉ có
con đường trung đạo mới có thể đi dến giải thoát. Trung đạo chính là: chánh kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh
định. Người tu hành phải đi con đường này, chỉ con đường này mới có thể chuyển
phàm thành thánh, chỉ có con đường này mới đi đến giải thoát. Trung đạo là phương
pháp tu, là phương cách sống, lối sống không chỉ đem lại hiệu quả trong đạo mà
còn cực kỳ tốt đẹp cho đời.
Chánh kiến là cái
thấy biết đúng đắn, mọi vật mọi việc đều không ngoai khổ đau, vô thường, vô
ngã, khổ không và Tứ Diệu Đế là căn bản…Chánh tư duy cũng trên cơ sở này, cho đến
nói năng, hành động, cũng đều trên cơ sở này. Đấy chính là trung đạo trong nhà Phật,
trung đạo là bát chánh đạo, là không nghiêng lệch qua hành xác hay phóng túng.
Ngoài đời cũng có
thể áp dụng trung đạo, nói năng, hành động không nghiêng tả hay lệch hữu. mọi lời
nói và hành động theo đúng giá trị tự do – dân chủ - nhân quyền. Tiếc thay, thế
gian này khó mà áp dụng được vì lòng người vốn thiên lệch đã lâu, tâm ý con người
thường tự tư tự lợi. Người nào cũng muốn lợi cho mình mà mặc kệ người khác. Quốc
gia nào cũng tranh lợi về mình mà chẳng cần biết đến quốc gia khác, mạnh hiếp yếu,
lớn hiếp nhỏ…chính vì thiếu trung đạo mà thế gian này luôn loạn động, luôn bất
an, chiến tranh liên miên không dứt. Trong đạo ngoài đời đều hiếm thấy áp dụng
trung đạo. Thế gian có nhiều đạo nhưng hầu như chỉ có Phật giáo mới tu trung đạo.
Thế gian có nhiều quốc gia nhưng chẳng có chính phủ nào áp dụng trung đạo vào
việc quản trị và giao hảo. Hễ không hữu cũng tả hay cực phái. Thế gian này có một
bộ phận dân chúng sống tương đối giâu có, tự do, dân chủ, nhân quyền như các nước
Bắc Âu, Tây Âu…Tất cả những gì con người đang thọ hưởng sung sướng hay khổ đau
đều là hậu quả của nghiệp cũ. Từng cá nhân thì là biệt nghiệp cả tập thể thì là
cộng nghiệp. Trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Điều này dễ dàng thấy được trong
đời sống hàng ngày. Ví như trong một gia đình giàu vẫn có những người con khánh
tận, bệnh tật và trong một gia đình nghèo hèn vẫn có người con tuấn tú, thông
minh và phát triển đi lên. Trong một tập thể như một quốc gia giàu mạnh, vẫn có
những người bần cùng và trong một tập thể bần cùng vẫn có những kẻ giàu sang.
825 .NGÃ DU TỬ - YÊU LẮM ĐỜI VĂN , LƯƠNG DUYÊN CÙNG HƯƠNG SEN.
YÊU LẮM
ĐỜI VĂN
Ngần ấy đủ dài theo giấc mộng
Đếm thời gian theo góc nhớ vui buồn
Năm tháng qua vèo như cơn lũ
Còn nhớ gì không những dốc truông?
Này em, sông núi vô tình lắm
Hãy đến cùng ta chuyện gió mưa
Sông Văn vẫn chảy theo thuyền mộng
Thương nhớ còn vương ngọn cỏ đùa
Lỡ yêu con chữ từ muôn hướng
Mạnh bước đi trong mưa bão dập dồn
Trang văn còn đó theo ngày lớn
Có em về trong bóng núi hoàng hôn
Là em trang sách hồng mong đợi
Ký tự xanh rờn giữa nhân gian
Yêu em như buổi trăng vừa chín
Ánh sáng từ em gọi đại ngàn
Tháng năm nhìn lại màu mắt ấy
Thương nhớ một thời cuộc thế gian
Văn bút một đời say chữ nghĩa
Chắp cánh bay như đôi cánh chim ngàn.
LƯƠNG DUYÊN CÙNG HƯƠNG SEN
Cắm vài đóa sen hồng trong mùa Phật đản
Hương thoảng thơm ấm áp cả ngôi nhà
Nhẹ cõi lòng trước nhịp sống ngân nga
Nghe thiền vị rung lên từng nhịp thở
Mùa chay tịnh tháng tư về trước ngõ
Tâm chơn như khoác vội một cung rằm
Cả đời thường khiêm nhẫn sóng nhân tâm
Ngan ngát vọng hương từ bi phổ độ
Suốt một thời ruổi rong từng con lộ
Bàn chân hoang dạo khắp chốn nhân tình
Vẹt gót mòn nần nợ cuộc mưu sinh
Xin thâm tạ qua bao mùa giông bão
Tháng tư này, bình nhiên mùa xiêm áo
Lần suy tư, chiêm nghiệm đoạn đường đời
Mỗi đời người hiển hiện một lần thôi
Trân trọng giữ trái tim từng thời thay đổi
Và em nhé, hương dịu dàng sen nhẹ
Sẽ bình yên trước cơn sóng vô thường
Nhẹ lòng mình trước bước sóng yêu thương
Mùa Phật đản dọn lòng mình thanh khiết
Ngã Du Tử/ SG
824 . NGUYÊN CẨN - THẦY SÁU
Thầy
Sáu
Cậu biết không?Mình phải trở thành cái
mà người ta muốn mình là chứ không phải cái mà mình thực sự là.
Thầy nói gì con không hiểu hết trơn. Phức
tạp quá!
Cậu hiểu không? Đó là định nghĩa triết học
về bản ngã và dự phóng. Cái hình ảnh của mình về mình bị bóp méo trong lăng
kính người khác, nên mình sống không thực lòng ,sống theo cái nhìn của người
khác . nên ông Jean Paul Sartre ổng mới nói:” Tha nhân là địa ngục ( L’enfer,
c’est les autres.)
Chà thầy nói cao siêu quá ,biết chừng
nào con mới hiểu được những điều thầy nói dù con có học qua triết lớp 12 rồi.
Tôi nhìn thầy Sáu, thán phục . Một người
trí thức, một ông giáo tiểu học nhưng sao uyên bác dữ , cái gì hỏi cũng biết ,
nói năng rạch ròi .Thầy mới về xóm được hơn 2 năm mà ai cũng nể . Người thầy gầy,
cao khẳng khiu, đeo cặp kính rất dầy, nghe đâu 7,8 độ gì đó . Ẩn sau lớp kính ấy
là một cặp mắt có cái nhìn khá khó chịu đến nổi
tôi phải tránh nhìn thằng vào mắt thầy vì nó sắc sảo một cách kỳ lạ! Một người thoạt nhìn biết ngay là người có học,
nghiêm trang , đạo mạo, chỉn chu. Sáng
nào nghe tiếng xe mobylette của thầy rồ máy là tôi biết đúng 6 giờ . Trăm bữa
như một trừ chủ nhật.
Ở một xóm lao động, bạn có thể nghe âm
thanh đủ mọi loại, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng nói chuyện tụm năm tụm ba nhậu
nhẹt , hát hò , hòa với tiếng chửi bới
nhau ầm ĩ trong nhà ngoài ngõ . Tất cả tạo
nên đặc trưng của khu Bàn Cờ, hay rộng hơn của Sài Gòn , thành phố không bao giờ
ngủ. Nhưng gia đình thầy Sáu chung vách
nhà tôi gần như là ngoại lệ. Ba đứa con, một gái hai trai luôn ở trong nhà,
không la cà , giao du với ai. Chúng như
những chiếc bóng. Hai cậu trai chỉ thấy đi và về trên chiếc xe đạp “cuộc“6 líp
thì phải ? Cô con gái lớn, khá xinh ,
gương mặt thanh tú , cặp mắt rất sắc , không thua gì thầy Sáu , sáng chiều xuất
hiện trên chiếc Honda dame ngày ấy . Họ không bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai
trong xóm, nhất là cậu trai lớn, khuôn mặt có cái nhìn hơi khinh khỉnh, hay cậu
coi thường xóm nghèo chăng ? Nhưng bà Sáu thì rất hiền. Bà béo người, thấp và
gương mặt vui vẻ , dù bà cũng ít nói.Năm thì mười họa , bà đi chợ về nói dăm ba
câu với mấy người ở gần nhà . Vậy thôi! Nhưng nom bà dễ gần nhất nhà đó.Rồi bỗng
dưng họ đưa về một chàng bác sĩ quân y khá đạp trai đeo lon trung úy . Hỏi ra mới
biết là rể. Còn đám cưới lúc nào, ở đâu chằng ai được mời hay thông báo . Đó là
chuyện lạ ở xóm này- nơi họ có thể chửi nhau , thậm chí đánh nhau nhưng có tiệc
là mời , dù là đám thôi nôi, đầy tháng, cúng 49 hay 100 ngày … huống chi là đám cưới . Nhà này sát vách
nhà kia, nhìn thẳng sang nhà nọ, có chi là bí mật mà giấu ? Nhưng nhà thầy Sáu
thiệt ngộ. Một thế giới riêng! Thậm chí đến khi họ có cháu , một thằng cháu ngoại
ra đời , đầy tháng thôi nôi vẫn không có tiệc tùng gì hay ít ra mọi người nghĩ
thế !Phần có lẽ vì thằng bé quặt quẹo , nay ốm mai đau , trông như con mèo con
, lúc nào cũng xanh mướt , thễu mễu ,dặt dẹo…
Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026
822 .TÁC PHẨM MỚI của TẠP CHÍ NGÔN NGỮ : Tác giả TIỂU LỤC THẦN PHONG
Thư đầu sách của Nhà Thơ Luân Hoán đã giới thiệu tác phẩm này là tuyển tập thứ 15 trong hệ thống các tuyển tập Tác giả và Tác phẩm do Tạp chí Ngôn Ngữ đã thực hiện mấy năm vừa qua (14 tác giả trước mà Ngôn Thữ đã thực hiện là : Song Thao, Nguyễn Vy Khanh, Hồ Đình Nghiêm, Khánh Trường, Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Trịnh Y Thư, Trần Hoài Thư, Phạm Cao Hoàng, Trương Vũ, Nguyễn Thị Khánh Minh, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Minh Nữu, Bùi Vĩnh Phúc).
Nhà thơ Luân Hoàn viết:
“ Một loại sách rất cần cho việc lưu trữ tài liệu, giúp các nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật sau này, khi cần tìm hiểu và đánh giá về một giai đoạn sinh hoạt, hoạt động của một nền văn học. Trong mỗi số đặc biệt như thế này, tư tưởng, văn phong của mỗi tác giả qua sáng tác của họ, được trung thực gói gọn, gìn giữ. Với 14 tác phẩm đã được xuất bản trước đây, những tác giả đều là những cây bút kỳ cựu, thành danh từ thời Việt Nam Cộng Hòa và họ đã tiếp tục cầm bút sau khi bị thay đổi hoàn cảnh lẫn vị trí địa lý sinh hoạt, nhưng đều đoạt được thành quả khả quan trong sự nghiệp lẫn sứ mệnh bảo tồn, phát huy văn hóa ngôn ngữ Việt thân yêu.
Trong lần giới
thiệu này, chúng tôi hân hạnh trình diện cùng bạn đọc bốn phương một tác giả
còn trẻ tuổi, khởi nghiệp văn sau khi định cư tại hải ngoại. Tuy là trẻ nhưng
thời gian "đứng cùng nghề" của anh cũng đã khá lâu. Ngoài nhiều diễn
đàn khác, anh, nhà văn Tiểu Lục Thần Phong, đã góp tay cùng tạp chí Ngôn Ngữ của
chúng tôi ngay từ số đầu và hiện diện tiếp tục qua nhiều kỳ báo. Bên cạnh đó,
Tiểu Lục Thần Phong cũng sở hữu nhiều đầu sách được Nhà xuất bản Nhân Ảnh cho
trình làng rộng rãi.”
Tạp Chí Văn Phong cũng là nơi được nhà văn Tiểu Lục Thần Phong thường xuyên cộng tác bài vở từ khi thực hiện Tạp Chí Online.
Với văn phong mạnh mẽ, sôi động và trẻ
trung, Tiểu Lục Thân Phong đã đem vào văn học những điều mới lạ về đời sống Người
Việt Trẻ trên đất Mỹ nhìn thấy chung quang, nhìn lại quê nhà nhìn ra thế giới. Cái nhìn phóng túng, hồn nhiên nhưng lại rất sâu sắc của
anh tạo nên không gian Mới, Lạ, Chân thực và đầy diễm tuyệt.
Muốn có tác phẩm
này, xin liên lạc: freedomsteven_01.@yahoo.com
823. NP PHAN . ÁM THỊ XANH
ám thị
xanh
1.
ngọn đèn đường thức thâu đêm
đang canh chừng
những giấc mơ đào thoát
2.
đàn chuột nhởn nhơ
vẫn đang mon men tiến về
chiếc nắp cống hào hoa
3.
đã tắt từ lâu rồi
tiếng vọng từ bên kia ngọn núi
sợi khói bay lên
4.
ý tưởng gầy guộc
từng bị bỏ quên trong xó nhà
một hôm rực sáng
5.
con tàu lao đi
xé đôi màn đêm u uất
tiếng còi tàu ở lại
6.
những mảnh kính vỡ
trong một dạ tiệc phù hoa
đã có thế giới riêng
7.
vết xe đổ phía trước
không phải là lời cảnh báo
cho sự liều lĩnh
8.
sự thức tỉnh muộn màng
đã bị bỏ lại phía sau
ám thị xanh
9.
đường dài hun hút
những cánh chim không ngoái lại
cơn giông
10.
mặt trời mùa đông
giấu nỗi buồn sau làn mây xám
chiếc bóng trầm tư
NP phan
Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026
821 . THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu HAN KANG Nhà văn Hàn Quốc Giải Nobel Văn Học 2024.
THỂ TRUNG GIAN
Han Kang
( 1970 - )
Nhà văn Hàn Quốc
Giải Nobel Văn học 2024
Sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Yonsei, Han Kang đăng đàn
năm 1993 trên báo Văn học và Xã hội với tư cách một nhà thơ. Năm 1994, bà ra mắt
tập truyện ngắn Mỏ neo đỏ, giành giải sáng tác cho tác giả trẻ của báo Seoul
Shinmun, đánh dấu mở đầu sự nghiệp văn chương
chuyên nghiệp.Suốt ba mươi năm gắn bó với văn chương, Han Kang là chủ nhân của ba tập truyện ngắn, gần 10 tiểu thuyết và 1 tập
thơ. Bà được tôn vinh một trong những nhà văn quan trọng nhất của văn học Hàn
Quốc hiện đại. Năm 2016, Han Kang giành giải Booker quốc tế nhờ tác phẩm The Vegetarian (Người ăn chay ). Năm 2018, bà tiếp tục lọt vào danh sách đề cử của giải thưởng
này với tiểu thuyết giàu tính tự thuật Trắng.
Han Kang cũng nổi tiếng với một số tác phẩm như Love of Yeosu (
Tình yêuYeosu), tiểu thuyết Your cold hands ( Tay người thì lạnh)...
Nhà văn Han Kang
từng chia sẻ bà thích sự riêng tư và sớm trở lại cuộc sống
bình thường sau khi nhận giải thưởng văn học danh giá năm 2016. Bà Han Kang là giáo sư chuyên ngành viết
sáng tạo tại Học viện Nghệ thuật Seoul.
Han Kang được trao giải Nobel Văn học năm 2024 do có “văn xuôi đầy
chất thơ mãnh liệt đối mặt với những tổn thương lịch sử và phơi bày sự mong
manh của đời người”. Sinh ra ở
Gwangju, Hàn Quốc, cô chuyển đến Seoul năm 10 tuổi. Cô học văn học Hàn Quốc tại
Đại học Yonsei.
Bài viết của cô đã giành được Giải thưởng Văn học Yi Sang, Giải
thưởng Nghệ sĩ Trẻ Ngày nay và Giải thưởng Tiểu thuyết Văn học Hàn Quốc. The
Vegetarian, cuốn tiểu thuyết đầu tiên được dịch sang tiếng Anh của cô, được Portobello Books xuất bản vào năm 2015 và đã giành được Giải thưởng Quốc
tế Man Booker năm
2016. Cô cũng là tác giả của Human Acts (Portobello, 2016) và The White Book (Portobello, 2017).
Trước chiến thắng lớn, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol bày tỏ đây là một thành tựu to lớn trong lịch sử văn học Hàn Quốc và mang lại
niềm vui cho toàn thể người dân, theo The Korea Times. Trang CWN đưa tin ngay
sau khi Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố Han Kang chiến thắng, hơn 60.000 bản
sách được bán tại hệ thống nhà sách nổi tiếng
Kyobo, hơn 70.000 bản tại sàn thương mại điện tử Yes24. Sàn thương mại trực tuyến
Coupang thông báo “cháy hàng” các cuốn sách của Han Kang.
Người dân Hàn Quốc ăn mừng thành tích của Han Kang, nhưng tác giả từ chối tổ chức
họp báo và không ăn mừng sau khi nhận giải Nobel Văn học. Cha của Han Kang - tiểu thuyết gia nổi tiếng Han Seung Won (85 tuổi)
- chia sẻ với truyền thông Hàn Quốc: “Han Kang nói với tôi rằng, trên thế giới có nhiều
cuộc chiến tranh khốc liệt, nhiều người dân thiệt mạng, làm sao chúng ta có thể
ăn mừng. Quan điểm của Han Kang đã thay đổi từ một nhà văn sống
ở Hàn Quốc sang ý thức của một nhà văn toàn cầu”.
Ở tuổi 53, bà trở thành nữ nhà văn Hàn Quốc
đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học, đồng thời là nữ nhà văn thứ 18 trong tổng số 121
nhà văn đoạt giải thưởng danh giá này cho đến nay. Bên cạnh
sự nghiệp văn chương, Han Kang còn là một nhạc sĩ và có niềm
đam mê với nghệ thuật thị giác (visual art).
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Han Kang là “The Vegetarian” (Người Ăn Chay), xuất bản tại Nam Hàn năm
2007, và được dịch sang tiếng Anh lần đầu tiên năm 2015. Cuốn tiểu thuyết này giành giải Man Booker International năm
2016, được trao cho cả tác giả Han Kang và dịch
giả Deborah Smith.
Vào thời điểm đó, bản dịch của Smith đã gây
ra nhiều tranh cãi về độ chính xác. Nhưng dịch thuật trong văn chương không chỉ là
đem từng chữ dịch cho thật sát nghĩa, mà còn là một quá trình
bay bổng với trí tưởng tượng và óc sáng tạo của dịch
giả, để truyền tải được trọn vẹn nhất tinh thần của tác phẩm gốc. Han Kang đã tin
tưởng và bảo vệ dịch giả của mình về vấn đề này.
Tính đến nay, Han Kang đã xuất bản sáu tác
phẩm bằng tiếng Anh. “The Vegetarian” là tác phẩm giúp bà nổi tiếng trên thế giới. Tiếp
theo là các tác phẩm như “Human Acts,” “The White Book,” “Europa” và
“Greek Lessons.” Tác phẩm ngắn “Convalescence” được xuất bản vào năm 2013, là một ấn bản song ngữ.
Tiểu thuyết mới nhất của bà là “We Do Not
Part,” xoay quanh một nhà văn đang nghiên cứu về cuộc nổi dậy Jeju 1948-1949
(chống lại sự chia
cắt bán đảo Triều Tiên do ảnh hưởng
của Chiến tranh Lạnh), cũng như kể về những tác động của sự kiện này đến gia đình
một người bạn của nhà văn. Tác phẩm dự kiến sẽ được xuất bản vào năm 2025.