Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026
881 . THÂN TRỌNG SƠN Dịch và giới thiệu:: HOA THEO MÙA Truyên ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967)

879 . LÊ ĐỨC LUẬN - ĐI COI MẮT VỢ
Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi.
Trời sinh ông Tư cái tật hay nói — không
được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước
mắm.
Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một
thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải
sống dưới chế độ cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho
đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi
lao động khổ sai mút mùa…thì đời tàn trong ngõ hẹp.
Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm
đường vượt biên sang Mỹ.
Khi được sống trong đất nước tự do, ông
tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ
tiến bộ quá nhanh - chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím
máy vi tính (computer) - Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi
“ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim
cổ.
Lời nói của ông Tư đâm ra thừa!
Nhưng nói là cái tật trời sinh — ông không
bỏ được…
Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự
chính trị.
Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà
bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo
đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ thiếu văn hóa — qua đó bộc
lộ tính “bát nháo” trong ngành truyền thông.
Dần dà, những lời nói trung thực và tâm
huyết của ông Tư hầu như lạc lõng giữa đám truyền thông “bát nháo” - dân ta coi
những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi…đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ
lắm, nói mãi…”
Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể
chuyện đời xưa.
Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026
878. ĐẶNG MAI LAN - Chiêm bao
877 . ĐINH TỪ BÍCH THÚY Nguyễn Đức Sơn, vòng quay sinh tử
(trong tập Đêm Nguyệt Động)
(trong tập Đêm Nguyệt Động)
880 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI - Ngô Thì Nhậm: Viết trong thời ly tán.
Đất nước Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ ly tán gay gắt, với nội chiến tàn khốc, như thời Trịnh-Nguyễn phân tranh của thế kỷ 17 và 18, như thời nhà Tây Sơn với quân đội Nguyễn Ánh của thế kỷ 18 và 19. Sau nội chiến là trả thù và truy sát tàn bạo.
Bây giờ, may mắn, chúng
ta đang sống trong thời hậu chiến, nhưng mắt nhìn lẫn nhau không chắc đã thân
thiện. Tuy rằng quê nhà đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn còn ly tán. Chữ nghĩa
có vẻ như là những quả thủy lôi đang thả lơ lửng trên dòng sông Bến Hải, nơi
chúng ta dễ dàng chạm tới là sẽ bị nổ tan xác. Chúng ta đã thấy trong mấy tuần
qua có một số nhà văn trong Hội Nhà Văn VN ở Hà Nội bị bắt vì một tác phẩm ca
ngợi lãnh tụ viết theo một văn phong giới trẻ, chỉ vì không giữ văn phong truyền
thống.
Trong thời kỳ như thế,
tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng là một xuất hiện rất hy hữu, chạm
vào những vết thương của rất nhiều người, gợi những ký ức mà phần lớn dân mình đôi
khi chỉ tạm quên đi và tránh nhắc tới. Hơn nửa thế kỷ qua đã có rất nhiều chiếc
ghe biến mất giữa biển. Hẳn là, sẽ có nhiều người nhìn về tác phẩm “Thuyền” từ
nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người nói sao viết mơ hồ quá, như trên mây, không
chạm được tới những đau đớn của những người đã từng ngồi trên các chiếc ghe liều
thân ra đi. Có người nói đây là văn phong thơ mộng, dòng ý thức. Và vân vân. Tôi
chưa đọc, xin thú thật, nhưng được nhà văn Nguyễn Đức Tùng dặn là cứ lên nói,
nghĩ gì nói đó. Do vậy, xin có vài lời. Bài viết này là những suy nghĩ rải rác
nhiều năm qua trong khi nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm, người cuối đời là Thiền sư
Hải Lượng, bây giờ xin gom lại.
Hãy nhìn về lịch sử quê
nhà. Trong các thời kỳ nội chiến hay sau nội chiến, rất nhiều tác phẩm văn học
không muốn nói tới lịch sử. Phần lớn, tôi nghĩ, tác giả thấy đau đớn quá. Bên
nào cũng có người thân. Thời phân tranh Trịnh-Nguyễn (1627–1775), và rồi thời kỳ
nội chiến giữa nhà Tây Sơn (trong đó có vua Quang Trung) và Nguyễn Ánh (sau là
vua Gia Long) các năm (1771–1802). Sau nội chiến là truy sát, những người sống
sót chạy vào thật xa ở Miền Nam, đổi tên họ và ẩn thân.
876 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG phổ thơ NGUYỄN MINH NỮU - HÁT RONG GIỮA ĐỜI
874 . LÃNG THANH - MẪU TỬ TÌNH THÂM.
Thời gian nhuộm mái tóc má, giờ trắng phơ như mây trời. Tháng năm xóa đi sự tươi trẻ, làn da nay in đậm những dấu ấn nhăn nheo. Đôi mắt má không còn trong như lúc thanh xuân mà đã mờ nhạt màu mây. Mình đau xương nhức, đi đứng liêu xiêu…
Mỗi làn nói chuyện
với má, ánh mắt má xa xăm diệu vợi như lạc vào cõi hư vô. Giờ má nói chuyện như
một cái máy thâu sẵn, nhớ đâu nói đó, chuyện nọ xọ chuyện kia. Căn bệnh mất trí
nhớ của người già đã làm cho má không còn ý thức được nội dung câu chuyện. Má
chỉ nói theo ký ức còn lưu giữ trong tâm thức. Dường như tất cả những người già
đều sống nhiều với dĩ vãng hơn là hiện tại. Má cũng thế, kể cũng lạ, chuyện trước
mắt thì không nhớ mà chuyện từ xa xăm lại không quên. Điều này chứng tỏ bệnh lú
lẫn của người già không thể xóa hết những ký ức cũ, ký ức cũ chính là “chủng tử”
lưu trong A lại da thức. A Lại Da thức còn được gọi là hàm tàng thức, nghĩa là
cái kho cất giữ lưu chứa tất cả những niệm của con người, có thể là niệm của một
đời, niệm nhiều đời. Cái kho ấy chứa tất cả những hạt giống thiện, ác, trung tính
của mỗi con người.
Khoa học nói:
“Năng lượng không tự sinh ra và cũng không mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này
sang dạng khác”. Ví như điện có trong than đá, dầu lửa, nước, gió…Con người chế
ra những máy móc để “bắt” được nguồn điện và dùng điện vào sản xuất hay sinh hoạt
của đời sống. Dòng điện khi được xài thì nó sẽ chuyển thành nhiệt năng, cơ
năng… chứ nó đâu có mất đi. Con người ta cũng thế, khi thân xác này tan hoại
nhưng những ký ức từ A lại da thức đâu có mất đi, nó sẽ chuyển biến từ dạng thức
sống này sang dạng tức sống khác, hình tướng khác…cũng như dòng điện chuyển từ
dạng này snag dạng khác. Dòng điện vốn không có sẵn nhưng vẫn hiện hữu trong
gió, nước, than đá. Sự sống sanh ra nhưng thật là không sanh, sự sống mất đi
nhưng thật chẳng mất mà chỉ chuyển từ thân này thành thân khác. Cơ chế hoạt động
của tâm thức rất vi diệu, khoa học hiện đại cũng không làm sao biết được cho dù
có dùng đến những phương tiện máy học hiện đại như điện não đồ hay các loại máy
móc tinh vi nhất. Khoa học chỉ có thể nói mất trí nhớ là do những tế bào thần
kinh chết đi mà những tế bào mới sanh ra không bù đắp được. Không thể biết trước
khi về già ai sẽ minh mẫn đến phút cuối hay ai sẽ bị bệnh mất trí nhớ.
Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026
872. LÃM THÚY (1952-2026): 5 BÀI THƠ
MÙA ĐÔNG ĐẤT KHÁCH
Buổi sáng uống ly trà
lạnh
Nghe mùa đông chợt dài
hơn
Chiều về nghe chim vỗ
cánh
Chạnh lòng ta nhớ cố
hương
Chẳng biết xưa người lữ
khách
Châm điếu thuốc buồn ra
sao?
Chẳng biết xưa nơi đất
Trích
Tráng sĩ sầu như thế
nào?
Chỉ biết ta buồn quá đỗi
Ngó mây bay cũng nhớ nhà
Đêm nằm, lặng nghe gió
thổi
Thương gì thương đến xót
xa !
Nhiều khi thoáng nghe
đâu đó
Mùi hương nguyệt
quế trong vườn
Nhiều khi trên từng lá
cỏ
Chở đầy nỗi nhớ quê
hương
Nhớ nhánh sông mùa nước
lũ
Nhớ bờ lau sậy lưa thưa
Nhớ cây Bằng lăng vườn
cũ
Mương bèo, rụng tím mùa
hoa
Chiều lạnh, mùa đông đất
khách
Thương cha, nhớ mẹ,
nghẹn ngào
Chẳng biết chim nào chim
Vịt
Kêu chiều, thảm não như
nhau.
ĐÊM Ở SÀI GÒN QUÁN
Đêm ở Sài gòn Quán
Gặp gỡ người tài hoa
Nghe Đinh Cường khen
tặng
Thơ Mẹ, tình thiết tha.
Cảm ơn Nguyễn Minh Nữu
Và Mai, cô vợ hiền
Nhắc chuyện mười năm cũ
Đọc câu thơ hồn nhiên (
1 )
Nghe chuyện Kim Các Tự
Nhà sư trẻ đốt chùa
Cảm ơn anh Trương Vũ
Nói những điều sâu xa…
Xưa, thuở còn trẻ dại
Đọc. Chẳng hiểu
chi nhiều
Chỉ biết nhà sư ấy
Chà đạp người diễm kiều
Phải chăng vì quá yêu
Người ta muốn hủy diệt
Để muôn đời mang theo
Sâu kín niềm tưởng tiếc?
Cảm ơn Phạm Cao Hoàng
Tiếng trầm như nốt nhạc
Thắp lên niềm hân hoan
Giữa miền sầu chất ngất.
Đọc mấy câu “Tàn
Thu” ( 2 )
Hỏi người bao nhiêu
tuổi?
Hăm mấy mà làm như
Hơn nửa đời tàn rụi!
Đêm ở Sài Gòn Quán
Nói chuyện thơ, chuyện
người
Với chị Sơn mới gặp
Mà như quen lâu rồi
Về một mình, đêm lạnh
Gió thu làm bâng khuâng
Nghe niềm vui chắp cánh
“Chắt chiu những ân
cần”.
Maryland 17-11-2014
( 1 ) Thơ Lãm Thúy:
Sáng nay thức dậy hết hồn
Người xa ta vạn dặm đường, còn đâu.
( 2 ) Thơ Phạm Cao Hoàng:
Ngậm ngùi nghe gió mùa thu
tạt.
Ngó lại đời ta đã nửa đời
THƯ CHO ÚT PHỦ
Từ lâu. Chị vẫn thường
ấp ủ
Những mong nói với Út
đôi lời
Anh chị bây giờ xa cách
cả
Chuyện nhà, trông cậy Út
mà thôi
Chị biết lắm khi em bực
dọc
Thân trai tù túng việc
tề gia
Em ơi! Hãy nhớ niềm lao
nhọc
Một đời. Cha mẹ đã vì
ta…
Em còn trẻ quá, cần bay
nhảy
Nuôi người bệnh hoạn. Dễ
gì đâu!
Khổ nỗi, nhà mình đơn
chiếc vậy
Không nhờ em, còn biết
làm sao?
Cha mẹ già thường sinh
cáu gắt
Cũng đừng hờn giận. Chị
xin em
Mỗi ngọn lửa hờn em dập
tắt
Là một hồng ân trên
phước duyên.
Người bảo: Hai vai ta
dẫu cõng
Mẹ cha đi khắp cả tinh
cầu
Cũng chưa đền được ơn
sâu nặng
Huống gì nhịn nhục một
đôi câu…
Em còn được ở bên cha mẹ
Là phước ngàn đời. Em
biết không?
Lỡ khi ngày tắt, chiêu
dương xế
Đời ta. Bóng tối sẽ vô
cùng!
Ai không được ở gần cha
mẹ
Là mất đi suối mật, rừng
hương
Là nỗi thiệt thòi không
xiết kể
Là niềm bất hạnh, là tai
ương!
Chị vốn không may: đời
bạc phước
Tự năm mười tuổi đã xa
nhà
Tuổi thơ thiếu mẹ sầu
như nước
Bao chiều ngồi khóc, ngó
về xa…
Thảm cảnh. Làm sao em
hiểu được
(Một đời bên gối mẹ nâng
niu!)
Có đâu như chị mười năm
ngót
Thiếu vắng vòng tay mẹ
sớm chiều…
Thuở ấy, mỗi năm về hai
bận
Hè đi. Đợi mãi tận sang
xuân
Ngày vui bên mẹ sao mà
ngắn
Mỗi lần đi, đứt ruột một
lần!
Những sớm còn vương hơi
ấm mẹ
Còi xa. Tàu dã giục lên
đường
Hành trang trĩu nặng vai
thơ trẻ
Ngập ngừng chân bước, lệ
tuôn tuôn…
Những cuộc chia ly về
sáng ấy
Buồn không thể tả. Buồn
vô biên.
Ba mươi năm. Giòng đời
trôi chảy
Niềm rưng rưng ấy vẫn
còn nguyên
Đời chị có bao lần chia
biệt
Đã trăm lần tiễn, vạn
lần đi
Nhưng hồi còi cũ buồn
thê thiết
Của chuyến tàu khuya còn
khắc ghi.
Đời. Qua bằng
những lần ly biệt
Kéo dài như thế suốt
mười năm
Trở về bên mẹ. Vui chưa
hết
Lại lấy chồng. .Xa đến
mấy lần!
Mười năm, cũng bởi đời
dâu bể
Được về nương náu với từ
thân
Mười năm. Chị nuốt bao
nhiêu lệ
Bởi đời cay đắng, bởi
thăng trầm!
Rồi lại thêm lần chia
biệt nữa
Ngày đi. Ôm mẹ, chẳng
đành buông
Cứ xa thêm mãi, giờ xa
quá
Tính lại đường bay, chợt
hết hồn!
Đã muôn trùng vậy, làm
sao gặp?
Nửa vòng trái đất_ mấy
trùng dương…
Nhớ nhà, ra đứng trông
trời đất
Đâu biết phương nào vọng
cố hương!
Anh chị mỗi người đi mỗi
chỗ
Nhọc nhằn phụng dưỡng để
mình em
Ơn ấy ngàn đời xin ghi
nhớ
Chưa biết làm sao để đáp
đền.
Chị biết: em là
người hiếu đạo
Không nề khó nhọc, chẳng
than van
Nói đây, không phải lời
khuyên bảo
Tự dưng tâm sự bỗng tuôn
tràn
Có lẽ chiều nay trời trở
lạnh
Xui lòng nhớ quá nắng
chiều quê
Xót Út chốn quê mùa
quanh quẩn
Trách nhiệm hai vai gánh
nặng nề
Út
à. Giờ cha già mẹ yếu
Chuyện
nhà phó thác một tay em
Nhân sinh hữu hạn, mong
em hiểu
Gắng giữ giùm nghe,
những ngọn đèn!
TỪ NAY THẾ GIỚI VẮNG ĐINH CƯỜNG
Chị Ý báo tin buồn. Thứ bảy
Lặng người không nói . Nói gì hơn?
Anh không ở nữa thì thôi vậy
Từ nay thế giới vắng Đinh Cường!
Có nghĩa là không còn nét vẽ
Những người thiếu nữ dáng như mơ
Những người thiếu nữ xanh như liễu
Rất mỏng manh và rất đỗi Thơ!
Có nghiã từ đây Sài Gòn Quán
Sẽ trống đi thêm một chỗ ngồi
Gặp nhau , dù có bao nhiêu bận
Không ai còn có thể nào vui!
Sẽ nhớ , dù sức tàn , lực kiệt
Cũng gom tàn lực để mà đi
Cố đến cùng bạn bè thân thiết
Chua xót nhìn nhau biết nói gì?
Có nghiã lần sau ra mắt sách
Không còn ai viết tặng bài thơ
Nét vẽ vội vàng trong khoảnh khắc
Gói lòng trân quý có ai ngờ!
Có nghiã từ đây trên kệ sách
Những người thiên cổ đã tương phùng
Chỉ có riêng mình ta thống trách
Giận rằng không gặp lúc lâm chung!
Giận không gửi bài thơ viết sẵn
Bây giờ còn biết gửi cho ai ?
Bảo biết lâu rồi đời ngắn lắm
Vậy mà để muộn mãi không hay!
Đêm nay gió lạnh nhiều , Anh ạ
Mở cửa ra nhìn bông tuyết bay
Chợt nhớ , lòng sao sầu thảm quá
Chỗ ấy đêm nay chắc lạnh đầy!
Cõi ấy , một mình đêm buốt giá
Từ nay sẽ lạnh đến thiên thu
Nhưng niềm thương tiếc bao la quá
Mong ấm lòng Anh cuộc viễn du.
January 12, 2016
MẸ ƠI, VĨNH BIỆT
Mẹ
ơi, con về không kịp
Giấc
dài mẹ đã hôn mê
Đôi
mắt thân yêu đã khép
Mẹ
đâu hay biết con về!
Con
đi đầu non, cuối bể
Mấy
mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ
sao lạnh lùng quá thể
Gọi
hoài, mẹ vẫn trơ trơ!
Mẹ
ơi, lòng đau như cắt
Chuyến
phà đêm chở xác về
Có
một tinh cầu vừa tắt
Lạnh
lùng sông chảy dòng khuya…
Sáng
nay, người ta khâm liệm
Áo
quan đóng nắp lại rồi
Từ
đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu
còn thấy nữa, Mẹ ơi!
Thân
xác vùi trong lòng đất
Mẹ
nằm giữa một đồi hoa
Mẹ
ơi, mộ vừa mới lấp
Từ
đây đất lạnh là nhà!
Từ
đây tuyệt vô hy vọng
Quê
hương mất dấu thiên đường
Mẹ
mang theo niềm vui sống
Lấp
cùng dưới đáy mồ chôn!
Mẹ
ơi, xác thân yêu dấu
Vùi
trong đất lạnh đời đời
Hồn
con không nơi nương náu
Biết
tìm đâu nữa, Mẹ ơi!
Lặng
nhìn bàn thờ nghi ngút
Di
ảnh mờ trong khói hương
Thấm
nỗi đau buồn tang tóc
Còn
gì mà tiếc, mà thương!
Mẹ
ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên
thu
Nghĩa là muôn đời, muôn
kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!
Lãm Thúy
Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026
TIN BUỒN: NHÀ THƠ LÃM THÚY ĐÃ ĐI XA,
Nhà thơ LÃM THÚY ( 1952-2026)
TIN BUỒN.
Tin mới nhận, Nhà thơ Lãm
Thúy, một tác giả rất quen thuộc với giới cầm bút Hoa Kỳ vừa đột ngột rời xa
chúng ta ngày hôm qua. Bản tin ngắn do Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Miền
Đông Hoa Kỳ vừa thông báo ngắn rằng:
"Vô cùng đau buồn thông báo đến tất cả
anh chị em trong GIA ĐÌNH VBVNHN VÙNG ĐÔNG BẮC HK:
Thủ quỹ LÃM THÚY một hội viên tài năng, dễ
thương, hiền hòa thân yêu của chúng ta đã ra người thiên cổ. LÃM THÚY đã đột
ngột bỏ chúng ta ra đi một cách bất ngờ. Tuy LÃM THÚY bỉ bệnh đã lâu nhưng vẫn
OK KHÔNG CÓ DẤU HIỆU GÌ ĐỂ CÓ THỂ NGHĨ LÀ LÃM THÚY SẼ BỎ CHÚNG TA RA ĐI NHANH
CHÓNG , BẤT NGỜ NHƯ VẬY.
Xin các anh chị cầu nguyện cho LÃM THÚY
được về cõi niết bàn. Có CÁO PHÓ hoặc tin tức gì thêm HT sẽ xin thông báo
tiếp.Thân mến
Hồng Thủy".
Chúng tôi đang chờ tin tức cụ thể và cáo phó của gia đình.
Chân Thành chia buồn cùng tang quyến và
thương tiếc tiễn đưa một bạn văn thân thiết vừa rời xa chúng ta .
