Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026
818 . SONG THAO - KÝ ỨC SAIGON (3)
KÝ ỨC SÀI GÒN
(3)
*SONG THAO
Dân Sài Gòn rất
xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi
mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông Lãnh.
Hàng xóm là dân lao động rất dễ mến. Chỉ vài ngày là anh Hai, chị Ba, dì Tư với
nhau. Tên thiệt cất để dành trong khai sanh, không ai xài tới. Những anh Hai chị
Ba mới chân ướt chân ráo tới ngụ cư bỗng thấy mình Sài Gòn hẳn ra. Cũng hồn nhiên xé đôi tờ giấy bạc một đồng làm hai mảnh
5 cắc. Nhưng cũng có những người hỏi móc sao ngoài Bắc đã hòa bình độc lập mà
dzô Nam làm chi? Lũ trẻ vốn hồn nhiên, thấy mấy đứa Bắc kỳ nói giọng khác đã hè
nhau trêu chọc. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn kể lại chuyện trong lớp học: “Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa
nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc,
ăn hiếp hai đứa. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà
đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ
và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ
rang rảng: "Bắc kỳ ăn cá rô cây / Ăn nhằm
lựu đạn...chết cha Bắc kỳ”. Một thằng khác sẵn giọng phụ họa : "Có cái thằng nhỏ nó "đao“ làm
sao / Lỗ đ. nó dính cái cọng “rao” / Người ta ai mà kỳ như “dzậy“ ?”. Thế
là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào hai đứa rồi rống lên : "Thôi rồi ! Bắc kỳ,
Bắc kỳ !”. Bản nhạc “Khúc Nhạc Đồng Quê” của Thúc Đăng rất thịnh hành đã được chế
lời: “Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời
/ Bên bờ sông bên bờ ao...trồng rau muống!”
Dân Sài Gòn không ăn rau muống. Đó là thứ rau dành cho heo. Dân Bắc thì
lại rau muống làm chuẩn trong các bữa cơm. Vậy nên rau muống mới…phạm tội. Ông cha sở nhà thờ Vĩnh Hội trong bài
giảng vào thánh lễ ngày Chủ Nhật đã căn dặn bà con trong Nam hãy coi những di
dân như anh chị em cùng có một cha chung. Và ông mang chuyện rau muống ra…giảng.
Đại khái ông cho biết rau muống rất bổ, người Bắc ăn rau muống là khôn ngoan.
Dân Nam chê họ không nấu canh mà dùng nước rau muống làm canh, ông cha dễ
thương biện hộ là tinh túy của rau khi luộc nằm trong nước rau, người Bắc dùng
nước rau muống là biết tận dụng tất cả sự bổ béo của rau muống. Ông cha sở này
mặt mũi khó đăm đăm nhưng là dân Sài Gòn chính hiệu bà lang trọc. Hầu như ai tới
Sài Gòn cũng cảm thấy như được yêu mến như người nhà đi xa trở về.
Nhà văn Vương Hoài Uyên từ Quảng Ngãi
vào học Văn Khoa Sài Gòn là một người được Sài Gòn đón tiếp như con dân của Sài
Gòn hoa lệ: “Ðầu thập niên 70, tôi bước chân vào
giảng đường Đại Học. Từ miền Trung vào, Sàigòn đối với tôi như một miền đất hứa
vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ. Vào đến thành phố được mệnh danh là
Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến
những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô gái Sàigòn ăn mặc theo mốt Hippy,
rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…Một lần vào ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo –
Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện
Quốc Gia Hành Chánh, do mất bình tĩnh khi tránh một người đi bộ ngang qua
đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương rách da cằm. Mấy người
dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì ít, sợ thì nhiều, tôi
hoảng hốt chẳng biết phải làm gì. Hồi đó, đâu có điện thoại để gọi người thân
như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ tôi dậy. Anh bảo
tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe đạp ven đường
trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện may vết thương
ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này, mà không hề có
chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện. Vị bác sĩ vừa may
vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương này thì sẽ trở
thành một cái sẹo to đấy.” May xong vết thương, anh thanh niên tốt bụng kia lại
chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của tôi vẫn dựng bên
đường. Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và nghĩ sao Sàigòn
lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh niên kia có thể
thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết đâu mà tìm. Hình
ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với lòng cảm mến và
biết ơn sâu sắc. Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào Sàigòn đi ngang
qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm xưa,
tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể. Hai người thanh niên
tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, họ
đã là những ông già trên dưới 80 tuổi. Trong lòng tôi, họ mãi mãi vẫn là biểu
tượng cho một Sàigòn nhân hậu năm xưa”.
Ngày 30/4/1975, ngày tang tóc của Sài
Gòn. Thành phố đổi chủ, đổi tên, Sài Gòn vong thân không còn là Sài Gòn nhân
hậu của những tháng ngày cũ. Nhà thơ / nhà văn / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã
xót xa: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như
người đã mất tên / như giòng sông nước quẩn quanh buồn / như người đi cách mặt
xa lòng / ta nhủ thầm em có biết không?... Sài Gòn ơi! Ta mất người như người
đã mất tên / mất từng con phố đổi tên đường / khi hẹn nhau ta lạc lối tìm / ôi
tình buồn như đã sống thêm”. Ca khúc làm bâng khuâng người Sài Gòn này được
sáng tác trong tù vào cuối thập niên 1970. Thường nỗi nhớ của người xa Sài Gòn
mới là nỗi nhớ da diết nhưng dù sao đó cũng chỉ là nỗi nhớ hoài niệm từ xa. Ca khúc của Nguyễn
Đình Toàn là nỗi nhớ thiết tha day dứt của người vẫn sống trong lòng Sài Gòn, còn
trong cái mất. Vậy nên đây là ca khúc mang tính cách chứng từ của người mất Sài
Gòn ngay trong lòng Sài Gòn. Ca khúc bị nhốt tại Sài Gòn cho tới khi Hồ Trường
An được đi Pháp. Tại căn chung cư của Nguyễn Đình Toàn ở Cali, anh kể cho tôi
nghe đường đi ra hải ngoại của ca khúc bất hủ này. Anh cho biết anh đã cùng Hồ
Trường An ra bờ sông bên làng Báo Chí để hát cho An nghe và học thuộc lòng cả
nhạc lẫn lời. Hồ Trường An không biết nhạc nên khi anh qua Pháp, hát cho nhạc
sĩ ghi lại, ca khúc đã có vài điểm sai cả nhạc lẫn lời. Báo Quê Mẹ của Võ Văn
Ái đã phổ biến bản này dưới cái tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”, ca sĩ Jeannie
Mai là người đầu tiên trình bày bản nhạc này nhưng sức phổ biến chỉ hạn chế.
Khi Khánh Ly hát, bản nhạc mới gây sóng gió tại hải ngoại. Thời gian đó, tôi
còn kẹt ở Việt Nam nhưng đã được nghe qua đài VOA. Dân Việt còn ở trong nước đã
khóc thầm mỗi khi nghe bản này. Nguyễn Đình Toàn kể là không biết tại sao công
an lại nghi ngờ anh là tác giả và gọi anh lên làm việc khi anh còn ở trong tù. Anh
chối, dĩ nhiên. Lý do anh đưa ra là một nhà văn nhà thơ như anh đâu có thiếu
chữ mà phải đặt cái tên ngớ ngẩn “niềm nhớ không tên”. Anh thoát tội. Sau khi
qua Mỹ vào năm 1998, anh mới nhờ Khánh Ly hát lại bản đúng cả nhạc lẫn lời và
dùng cái tên nguyên thủy “Nước Mắt Cho Sài Gòn”!
Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026
817 . LÊ ĐỨC LUẬN - NGẪM CHUYỆN XƯA NAY.
Ngẫm
Chuyện Xưa Nay
Sau ngày 30-4-1975,
nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị
nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau
thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân,
rồi trả lời theo một trong hai ý.
Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa ?”
Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để
phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra
thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân
tình.
Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ
trong thời gian đầu — hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên
những chuyến bay vội vã của chiến dịch “ Gió lốc - Operation Frequent Wind” —
hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả
để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ. Người ta
gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).
Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã
phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử — mỗi bước chân ra đi, dù
bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được.
Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây” — kẻ
đến trước, coi thường người đến sau. Nôm
na là “ma cũ coi thường ma mới” — mặc dù cùng chung cảnh ngộ.
Cái tật: ai hơn mình thì ghét, ai kém
mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai.
Điều này thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu
hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.
Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy
ngẫm: “ Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không.
Khách hỏi lý do. Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên
gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ
được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị
con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”
Những chuyện khó quên về người tị nạn
Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường
chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng
chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới
tìm ra lối về nhà.
Một câu chuyện khác - mới nghe tưởng
đùa, mà có thật - được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái
gì cũng mới lạ - đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần
đầu ra tỉnh. Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi — hai bàn tay
vỗ vỗ vào lưng — rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!” Niên trưởng qua lâu
chưa? Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì
trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt
mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy. Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ
tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” — tiếng Anh gọi là “hug”.
Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim
30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào
cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em
chưa quên truyền thống Trường Mẹ — gọi tôi “niên trưởng” — làm tôi bồi hồi nhớ
lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi
chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.
Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương
kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ
chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo
quần (suspenders), trông rất sang. Hồi
đó chưa có điện thoại di động (cell phone) , anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ
bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái
gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận
tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng.
Chúng tôi đối với nhau rất chân tình -
điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc
cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện
tử.
Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp
với người bản xứ sao cho phải phép — trong đó có một chuyện nhớ đời — chuyện
đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong
trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo: trông cô
khoảng ba mươi — cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!
Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp
theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến
Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc,
nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp
được bà tiên…
Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra
rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại
những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.
Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người
Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng,
mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con
cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện. Câu hỏi
“anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.
Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác
cũng làm chạnh lòng người. Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học
ngành gì? Tốt nghiệp chưa?”
Người Việt mình có truyền thống hiếu học
nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác
sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh
diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững
vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.
Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người
Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau
nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là
thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như
Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc,
phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời
sống văn hóa phong phú.
Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ
lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham
gia các hoạt động cộng đồng.
Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo
cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành — học hành thành
đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa
Kỳ. Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ - hiện diện trong hầu hết mọi ngành
nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân
đội, truyền thông và cả chính trường…Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa
Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.
Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa
bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi
dự đám cưới. Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức
danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc
cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương
bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý
khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con
mình.
Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi
tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng — ra đi để tìm sự sống
trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định - con cái
cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương - viếng mồ mả cha ông, thăm gặp
bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình
yêu quê hương.
Là con người bình thường, ai cũng mong
đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết:
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và
đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ
muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức
tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang
mộ phần của cha ông.
Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa,
nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến
thành trò cười cho thiên hạ.
Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ
mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn — “tranh
nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và
cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố
thu nhỏ.
Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối
ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một
người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra
Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”.
Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một
phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang - tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung
vít…
Nhưng không phải “người Việt hải ngoại”
nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo,
nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách đối với quê hương đang nghèo
khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền
không ngờ: Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến
1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn
8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).
Mới ngày nào những con người trốn chui,
trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và
tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam
cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế
quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng - gọi họ
là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất
mùi là: “khúc ruột ngàn dặm”- làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành
người yêu nước.
Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở
tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi.
Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái
đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ
những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh
vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi - coi như chuyện nhỏ. Các ông
bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước.
Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải
thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ.
Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên
bàng quan đưa ra nhận xét như thế) làm
mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…
Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn
trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn
dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở
— dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.
Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi
trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán
tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần
giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự
miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm
trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã
chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn
thấy tương lai.
Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị
nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây
giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi
rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn
ý khoe khoang nữa.
Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục
dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu
tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn
thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất
nước Hoa Kỳ.
Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ
đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái
Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai,
nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy
chỉ là “Mỹ giấy”
Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu
trong lòng người viễn xứ.
LÊ
ĐỨC LUẬN
(Tháng 6-2026)
(1)
Nguồn: World Bank và Statista.
816 .NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI - Nhà thơ Simonova nổi tiếng ở Nhật với 600 bài thơ Haiku viết từ Ukraine
Phan Tấn Hải biên dịch
Nhà thơ nữ Vladislava
Simonova, 27 tuổi, nổi tiếng với thể thơ Haiku và được vinh danh tại Nhật Bản
nhưng gần như vô danh ngay trên chính quê hương Ukraine của cô. Bản tin AFP ghi
lời nhà thơ Simonova rằng trong nhiều năm, cô đã nghiên cứu các bậc thầy Nhật Bản
— Basho, Buson, Issa — và sáng tác hơn 600 bài thơ Haiku.
Một chiếc thang máy hay
"trở chứng" dẫn lối đến căn hộ chung cư ở miền trung Ukraine của một
nữ thi sĩ 27 tuổi — người được vinh danh tại Nhật Bản nhưng lại gần như vô danh
ngay trên chính quê hương mình. Với mái tóc màu hồng, chiếc áo len màu tím hoa
cà cùng đôi tất đồng màu, Vladislava Simonova kể lại câu chuyện về sự nghiệp
đang thăng hoa của mình tại một đất nước cách quê nhà cô 7.800 km (4.850 dặm) —
nơi mà cô chưa từng một lần đặt chân tới.
Thế nhưng, ngay tại
thành phố Poltava thuộc miền trung Ukraine này, cô lại sống gần một trạm xe điện
— vốn chỉ là một trong số những mục tiêu bị máy bay không người lái của Nga nhắm
tới; tiếng vo ve không ngớt của chúng luôn khiến cô sống trong tâm trạng căng
thẳng, bất an.
Đúng lúc cô vừa thốt lên
từ "tiếng nổ" để diễn tả nỗi kinh hoàng trước các đợt tấn công của
Nga, một chiếc máy bay không người lái bỗng vụt bay qua đầu cô rồi phát nổ ở
phía xa.
Ngay bên cạnh cô, trên một
chiếc kệ là 15 cuốn sách với phần gáy đầy màu sắc — một tuyển tập các tác phẩm
của những thi sĩ Ukraine đương đại — cùng hai chiếc ấm trà Nhật Bản, ba bức
tranh tôn giáo và một bức tượng nhỏ nhân vật Phoebe Buffay trong loạt phim truyền
hình "Friends".
"Tôi chưa bao giờ
nghĩ rằng mình sẽ viết về chiến tranh," cô chia sẻ với hãng tin AFP.
"Theo thời gian, tôi dần nhận ra rằng... những chi tiết nhỏ bé đôi khi lại
có thể truyền tải bi kịch của cuộc chiến vĩ đại này một cách sâu sắc hơn nhiều
so với hàng tá bản tin hay bài phóng sự," cô nói thêm.
Simonova là đại diện cho
cả một thế hệ nghệ sĩ đang làm chứng cho cuộc xâm lược đã tàn phá đời sống văn
hóa của Ukraine.
Simonova cho biết cô đã
tìm thấy niềm đam mê với thơ Haiku — thể loại thơ mà cô yêu thích nhất — vào
năm 2013, khi cô vẫn còn là một thiếu nữ.
Những bài thơ ba dòng
theo thể loại Haiku này, bao gồm 17 âm tiết được sắp xếp theo cấu trúc 5-7-5,
đã được định hình thành thể thức chuẩn mực từ thế kỷ 17 tại Nhật Bản nhằm ghi lại
vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống thường nhật và những khoảnh khắc thoáng qua một
cách đầy giản dị.
Trong suốt nhiều năm, cô
đã miệt mài nghiên cứu các bậc thầy thơ Haiku Nhật Bản — Basho, Buson, Issa —
và sáng tác hơn 600 bài thơ; theo lời cô kể, những bài thơ này dần dần trở nên
bớt "vụng về" hơn theo thời gian:
Bước đi thật kiêu hãnh,
Trên những cánh mai mềm,
Chú mèo nhỏ mũm mĩm này.
24.04.2015
Chẳng màng chi mưa gió,
Tôi run rẩy bước về nhà,
Cùng một cây thông non.
16.10.2014
‘Sự Giao cảm’
Vào năm 2018, Simonova
đã giành chiến thắng trong một cuộc thi do một tổ chức của Nhật Bản tổ chức.
Khi Nga phát động cuộc
xâm lược toàn diện vào tháng 2 năm 2022, cô đang sinh sống tại Kharkiv. Lực lượng
Nga đã tìm cách chiếm giữ thành phố nằm ở phía đông bắc này, và kể từ khi bị đẩy
lùi, họ vẫn liên tục nã pháo vào đây. Trong suốt ba tháng đầu tiên khi quân đội
Nga vừa vượt qua biên giới, cô đã sống sót nhờ trú ẩn trong một hầm ngầm.
Thay vì trận bão —
Những tiếng nổ ầm vang.
Mùa xuân đã tới.
14.05.2022
Ngôi nhà hoang tàn.
Qua lỗ thủng trên mái,
Các vì sao lấp lánh.
14.05.2022
Vào tháng 3 năm 2022, từ
nơi trú ẩn của mình, Simonova đã thực hiện một cuộc phỏng vấn qua văn bản với tờ
báo The Asahi Shimbun của Nhật Bản.
Vài tuần sau đó, nữ thi
sĩ danh tiếng Madoka Mayuzumi đã liên hệ với cô. Bà chia sẻ với hãng tin AFP rằng
cô Simonova có một "sự thấu hiểu sâu sắc" về bản chất của thơ haiku. "Ngay
cả giữa khói lửa chiến tranh, cô vẫn ngước nhìn trăng sao và thưởng ngoạn những
đóa hoa... những bài haiku của cô phản chiếu sự giao cảm với thiên nhiên,"
nhà thơ Mayuzumi nhận định. "Mặc dù mang những chủ đề có phần u buồn, các
tác phẩm của cô vẫn toát lên một tinh thần lạc quan," bà Mayuzumi nói
thêm.
Đàn ong vô tư
Còi hú báo động núp bom
Những cây đoan đang nở
hoa.
19.06.2022
Cùng với khoảng 10 người
khác, nhà thơ Mayuzumi đã hỗ trợ cô Simonova dịch và xuất bản tập sách đầu tay
của cô tại Nhật Bản vào năm 2023. Cuốn sách đã nhận được "những lời tán
dương nồng nhiệt", theo Mayuzumi cho biết.
Bà nói thêm rằng, xuyên
suốt chiều dài lịch sử Nhật Bản, người dân vẫn luôn sáng tác thơ haiku trong những
giai đoạn tăm tối, bao gồm cả sau các vụ ném bom nguyên tử năm 1945 và thảm họa
sóng thần năm 2011.
“Hoa anh đào”
Vào tháng 8 năm 2022, hầm
trú ẩn dưới lòng đất ở Kharkiv, nơi Simonova từng sống, đã bị một tên lửa Nga
phá hủy. Cô chuyển đến thị trấn Poltava. Cô xuất bản tập thơ thứ hai tại Nhật Bản
vào năm 2024, tiếp theo là một tập khác tại Đan Mạch vào đầu năm 2026. Cô mơ ước
được xuất bản một tập thơ ở Ukraine.
Trước chiến tranh, cô viết
bằng tiếng Nga. Sau đó, cô chuyển sang tiếng Ukraina. Việc dịch các bài thơ rất
phức tạp. Hai ngôn ngữ có liên quan này thường sử dụng các từ có độ dài khác
nhau — ví dụ, từ “umbrella” (cái dù, cái ô) chỉ có một âm tiết trong tiếng Nga,
nhưng lại có bốn âm tiết trong tiếng Ukraina.
Cô Simonova không đọc
văn xuôi, cô chỉ đọc thơ. Và đọc Kinh Thánh. Cô thuộc về cộng đồng Công giáo nhỏ
bé ở Poltava.
Trong chuyến thăm của
AFP, cô đề nghị đi đến công viên, cô chào tạm biệt chồng — người chồng ở lại
nhà — trước khi vội vã xuống cầu thang của khu chung cư thời Liên Xô. Thang máy
không hoạt động. Đó là một ngày Chủ nhật mùa xuân lạnh lẽo và công viên gần như
vắng bóng người. Cô ngồi trên cành cây gần ao, mặc một chiếc áo khoác phồng nhiều
màu.
Từ thơ ấu, Simonova đã mắc
bệnh tim nghiêm trọng khiến cô luôn trong tình trạng kiệt sức. Cô phát hiện ra
thơ haiku trong một bệnh viện, trong một tuyển tập cũng có cả “thơ Ba Tư”
(“Persian poems”).
Khi gió đang thổi, cô đứng
dậy và đọc to lần đầu tiên nơi công cộng, đọc mỗi bài thơ hai lần.
Bài thứ nhất cô đọc cho
những người bạn không còn hiện diện.
Họ tan tác bay đi,
Như hoa anh đào trong
gió
Những người tôi trân
quý.
Bài thứ hai là ký ức về Kharkiv.
Tôi siết trong lòng bàn
tay
Vài mảnh vỡ tên lửa
Cơn đau không rời tôi.
Cô lật giở tập thơ bìa hồng
của cô, rồi chọn ra bài thơ cuối cùng.
Bầu trời tuyệt diệu
Vậy mà từ bầu trời
Mưa tên lửa rơi trên
chúng tôi.
Bạn cũng có thể xem video
của đài NHK Television dài 6:10 phút về nhà thơ nữ Vladislava Simonova:
https://www.youtube.com/watch?v=xd3h816Inw0
Chú ý: video có thể chuyển
sang phụ đề tiếng Việt hay tiếng Anh bằng cách chọn cc: rồi điều chỉnh bằng nút
răng cưa.
PHOTO 1:
Nhà thơ Vladislava
Simonova ngồi trước hình ảnh Ukraine đổ nát vì bom, dòng chữ tiếng Anh là bài
thơ haiku của cô: “Với giới nghiêm, mất điện / Chưa bao giờ trong đời tôi / Đã
thấy nhiều ngôi sao như thế.” (Hình: YouTube NHK)
PHOTO 2:
Nhà thơ Vladislava
Simonova (Hình: YouTube NHK)
Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026
815. NHẬT CHIÊU- CHÙM THƠ THÁNG SÁU
NẺO THƯƠNG MỘT CÕI
Nẻo thương một cõi em về
mà nghe nẻo tưởng
vai kề vai đi
Nẻo buồn lá rụng khuê ly
nẻo mê ta bỗng
ôm ghì một ta
Nẻo nào mây trắng đường xa
nẻo thơm mỗi bước
em là hoa bay
1.6.2026
TA VỀ HỌC LÁ ĐỀ THƠ
Ôi lá dâu tằm lá bạc hà
và bao nhiêu lá thả xanh ra
Bạc đầu lại thấy ta thơ dại
xanh mắt thì em hãy cứ hoa
Mùa vui lại đến khổ qua
thương người mộng mị thương ta mê mờ
Ta về học lá đề thơ
trên tàn phai cũ dựng mùa mới xanh
3.6.2026
TA CHÀO BÌNH YÊN
Nửa tôi trong cõi người ta
nửa tôi trong cõi
mùa hoa nội đồng
Ta về trú xứ bên trong
lắng nghe một chiếc
lá hồng đang bay
Ở chung với núi cùng mây
ở riêng trong giấc
mộng dài với em
Hương tình thơm nức hoa thiêng
chúa tiên đến với
người hiền hay sao
Nửa ta trong cõi ba đào
mà nghe một cõi
ta chào bình yên
5.6.2026
RẠNG TRƯỚC BÌNH MINH
Tim ta là một vũ đài
em lên điệu múa
vần xoay lạ lùng
Tim ta là vịnh bao dung
em dong thuyền ghé
hát cùng sóng reo
Tim ta là cõi dấu yêu
em thiêm thiếp ngủ
ta chiều lặng yên
Tim ta là trú xứ huyền
để em lạc lối
vào thiên thu tình
Tim ta rạng trước bình minh
7.6.2026
Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026
814. ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên)- NĂM BÀI THƠ
NHỚ
Tự nhiên nhớ bánh - vẽ - chế - lan - viên
Hay chế - lan - viên - bánh - vẽ
Nhà thơ chiêm bái ngưỡng mộ bánh vẽ
Nhà thơ kính cẩn xưng tụng tung hô bánh vẽ
Nhà thơ lan truyền, lan tỏa bánh vẽ
Tên tuổi nhà thơ lấp lánh rộn ràng bánh vẽ
Thơ ca bánh vẽ réo rắt bổng trầm thâm nghiêm trí tuệ sâu sắc triết lí triết luận rạo rực say mê giang tay đấm ngực ân hận khóc than rưng rưng nước mắt...
Ôi! Bánh vẽ nhà thơ nhà thơ bánh vẽ
Con gà - Quả trứng
Quả trứng - Con gà
Trước - Sau
Sau - Trước
Câu hỏi hư vô
Câu hỏi siêu hình
Câu hỏi hiện thực
Câu hỏi siêu thực
Nến cháy và nến tắt
Đẹp như vẽ một thủa vương giả chi lan nơi vườn thượng uyển yên tĩnh cùng náo loạn...
Bánh vẽ từ đâu?
Nhà thơ biết
Nhà thơ thành thuộc lòng tay
Ngất ngây
Tận hiến ngôn từ rưng rưng ngôn từ hướng thượng
Chàng Từ Thức lạc chân nơi thượng giới
Thượng giới nhân tạo ngôn từ
Chàng Từ Thức không có phép màu cổ tích
Cũng ngẩn ngơ già
Giật mình muộn
Theo vết trượt tiếp tục giả vờ
Triết lí triết luận triết học bơ vơ ốc mượn hồn dập dềnh sóng nước
Bãi cát dài mắc cạn
Hoá bơ vơ
Bánh vẽ nhà thơ
Bánh vẽ thơ
Hết mùa
Xác xơ hoa tàn tạ hoa
Vườn giả
Người làm vườn cùng những hạt giống chằng nảy mầm.
CÓ GÌ ĐÓ Ở PHÍA SAU SỰ KIỆN
Có gì đó như hoang vu ngớ ngẩn
Như mủn mòn mục rữa rã rời
Như trống rỗng hoang liêu trì độn
Không tài nào hiểu nổi! Tôi ơi!
"Không tin được dù đó là sự thật"(*)
Cái câu thơ nổi tiếng của một thời
Giờ nhan nhản phơi ra - hình hài khác
Xấu hổ tận cùng! Tôi của tôi ơi!
Như huyễn tưởng! Cứ như trò hí lộng
Chúa ở trên cao nổi hứng đặt bày
Đám con của Người thông minh như cũ
Xôm tụ diễn trò ngớ ngẩn! Tuyệt hay.
Những rổn rảng ba hoa gào ông ổng
Những cờ đèn kèn trống cứ ứ tràn
Những ngạo nghễ tưng bưng mùi trống rỗng
Những tấn phong nhếch nhác tựa bọt tan.
Tấn kịch hề nhôm nhoam tuồng tích cũ
Nhờ truyền thông tỏ rõ mặt ươn ao
Hớn hở. Ngây ngô. Láu tôm láu cá
Tôi cứ cố mà không hiểu vì sao.
Ừ có lẽ do mùa hè nắng xối
Ung ung khắp xứ - địa ngục mùa
Loạn óc loạn hồn - ngả nghiêng bật gốc
Oái oăm phi lí ma dẫn quỷ đưa.
Có gì đó ở phía sau...! Kinh hãi
Muốn gào lên. Muốn đập phá...Rã rời
Muốn cấm khẩu. Ngoác miệng cười hoang dại
Mắt như vô hồn! Tôi của tôi ơi!
(*) Câu thơ nổi tiếng một thời!
813 . HOÀNG XUÂN SƠN - HOA LÊ .
HOA LÊ
Tôi dừng lại mà hoa lê
bước
Trắng cả khung trời
trắng cả xuân
Chúng ta đuổi theo nhau
không kịp
Chấp chới dương quang
ngất lịm hồng
Trắng thơm em ơi
Gùi thảo dã
Hương tự nhiên tôi và em
Đắm chìm
Bạn xưa viết, tình yêu
in tuồng thế
Hình như hình như hai
đứa mình *
Những chiếc cầu không
gian mưa bụi
Ta kháo đời nhau trên lá
nõn chồi
Nụ biếc nụ biếc.
ôi
Biếc nụ
Tưởng như mình vừa mới
yêu nhau
Mái tóc em níu thời gian
đen tuyền
Trên đầu anh hoa lê vội
vã
Thương vai nồng tấm áo
còn nguyên
Triệu triệu năm sau hồn
đất đá
•
h o à n g x u â n s ơ
n
812. PHAN TẤN UẨN - VIẾT CHO VUI
Viết
Cho Vui có thể coi là một hình thức của nghệ thuật vị nghệ thuật (Art for Art’s
Sake).Trong thể loại nầy, văn chương không cần phải có chức năng giáo dục,
chính trị hay đạo đức. Giá trị văn chương nằm ở cái đẹp nội tại của nó, ở sự
tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, kỹ thuật và nghệ thuật. Sáng tạo nhưng không
quan tâm tác động của nó đến xã hội hay người đọc, không bắt buộc phải phục vụ
nhân sinh. Người viết có thể tìm kiếm tự do tuyệt đối trong sáng tạo, tập trung
vào cái đẹp, sự mới lạ và cảm xúc thẩm mỹ.
Với
nhiều người, viết là công cụ để chinh phục đỉnh cao danh tiếng hay phê phán xã
hội, nhưng đối với tôi, việc cầm bút lúc nầy không phải để tìm kiếm sự công nhận
hay truyền tải thông điệp gì. Tôi viết, đơn giản vì niềm vui. Vào những năm cuối
đời, khi áp lực của tuổi trẻ và sự nghiệp không còn, việc viết văn có thể mang
đến cho tôi cảm giác thư giãn, bình yên và làm sống lại những cảm xúc, kỷ niệm
quý.Nó giúp cho sức khỏe tinh thần vững vàng để duy trì trí nhớ, giúp tôi cảm
thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn …
Trong
ba năm gần đây (2021-2024) ,tôi viết hai truyện dài thuộc loại Viết Cho Vui đã
đăng trên internet và giới thiệu trên báo. Đó là “Chuyện Viễn Mơ Thời Chiến” (gần
400 trang, sau đổi tựa là Dật Sự ) và “ Hình Bóng Biển Trời” (***).
Tôi viết
hai truyện dài chỉ để tự vui với mình, không có bất cứ mục tiêu hay sứ mệnh nào
như đã nói trên. Thật ra, tôi cũng muốn thử xem mình có thể viết được truyện dài hay không, vì tôi thấy phần lớn
tác giả hiện giờ chỉ tập trung viết truyện
ngắn và làm thơ. Họ không có khả năng viết truyện dài ? Với tinh thần đó, việc
viết hai truyện dài như một cuộc phiêu lưu nhỏ.
Nếu bạn có hứng thú, hãy dành chút thời gian đọc qua. Nếu không, cũng không sao . Tôi không kỳ vọng chúng sẽ làm thay đổi điều gì, chỉ hy vọng rằng, ai đó trong số các nhà văn kia có thể tìm thấy chút cảm hứng để thử sức với một câu chuyện dài hơi thay vì cứ mãi viết truyện ngắn ! Biết đâu, hai truyện dài Viết “Cho Vui” có thể đem lại điều gì đó mới mẻ hơn những gì nhàm chán hiện nay !.
