Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

767 . TT-THÁI AN : BÚN RIÊU và CÁC MÓN RIÊU

                                                                                     


BÚN RIÊU VÀ CÁC MÓN RIÊU

TT-Thái An

 

“Mò cua bắt ốc” có lẽ là cụm từ hay ngạn ngữ có từ thời nước Việt Nam chỉ có từ biên giới Trung Hoa đến giữa tỉnh Quảng Bình.

Người dân miền biển có thể đánh bắt hải sản hằng ngày để ăn hay làm kế sinh nhai. Làng chài xuất hiện rải rác theo duyên hải.  Thời xa xưa, ngư dân chỉ có khả năng đóng những tàu buồm nhỏ nên không đi xa được, chỉ quẩn quanh gần bờ nhưng số lượng tôm, cua, cá, mực, ốc, sò đánh được mỗi ngày cũng đủ cho dân số quanh vùng biển tiêu dùng.  Ngày xưa, dân số còn ít, dân cư còn thưa thớt. 

Vì không có phương tiện giao thông bằng đường bộ nên hải sản không chuyên chở được đến vùng sâu, vùng xa biển. Vì thế, dân chúng những vùng này thâu nhặt chất đạm qua cua đồng, ốc ruộng, hay đậu phụ (đậu hũ). Tuy thịt gà, lợn, trâu, bò cung cấp nhiều chất đạm hơn, nhưng không phài ngày nào cũng có tiền để mua.

Dân chúng thời xưa đa phần sống nhờ nông nghiệp, vì chưa có thuốc rầy và phân bón hóa học, thêm phần rủi ro thiên tai, lũ lụt, mỗi năm thâu hoạch một hay hai mùa. Đến mùa thâu hoạch có đủ lúa gạo để ăn quanh năm đã là may mắn, có dư chút đỉnh thì đem trao đổi hàng hóa, lấy những thứ cần thiết như muối, đường, vải vóc, nồi niêu, lu vại, chén bát.

Mỗi năm, hình như chỉ vài lần người dân trong làng được ăn thịt. Đó là tết Nguyên Đán, giỗ chạp, nhà có đám cưới hay đám tang.  Tết thì vài nhà xúm nhau lại giết chung 1 con lợn rồi chia nhau để làm thịt kho, bánh chưng, giò thủ, giò lụa, chả quế, mọc, nem chua. Nhà có tiệc cưới hay đám tang thì chủ nhà phải mua lợn hay bò rồi cả làng xúm lại làm giúp.  Nhà có giỗ lớn thì cả họ xúm nhau góp phần, rồi mời những người quen thân đến dự, không phải mời cả làng.

Bởi thế, khi những con cua đồng sinh sôi đầy trong ruộng, những con ốc đầy ngoài đồng, các mẹ, các chị, hoặc trẻ con tự nảy ra ý kiến bắt chúng về ăn.  Nhưng ăn như thế nào khi con cua đồng bé tí, cái mai to bằng ngón chân cái, thịt thà chẳng có? Con ốc bưu to đen trông thấy sợ?

Đói thì phải nghĩ ra cách chế biến chúng thành món có thể ăn được.  Thế là con cua đồng được các mẹ, các chị giã nát ra, rồi cho vào thau hay nồi, đổ nhiều nước vào khuấy lên rồi cho vào rá lọc lại, bỏ xác cua đi, nước cua được cho vào nồi, bắc lên bếp đun lửa vừa cho đến khi nổi một lớp váng dầy trên mặt, gọi là Riêu Cua.  Ban đầu, họ dùng riêu cua này để nấu canh khoai sọ, rau muồng, rau rút (rau nhút), hay canh cua rau đay (loại rau nhiều nhớt hơn đậu bắp), hay canh cua nấu với mồng tơi và mướp.  Cả ba loại canh này chan với cơm ăn không biết no. Cả ba là món canh thường ngày trong các gia đình miền Bắc.

766 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI : TUYỂN TẬP TRUYỆN CỔ QUỐC TẾ Phần 1 từ bài 1 đến bài 10

                                                                                                         


A COLLECTION OF FOLKTALES FROM AFAR

 

…. o ….

Tuyển dịch bởi Nguyên Giác

Selected & translated by Nguyên Giác

MỤC LỤC

Lời thưa

1. Vị Thần Cây

2. Vị Vua Đòi Một Đại Dương Sữa

3. Hoàng Tử Ếch xứ Lai Hka

4. Con Ngựa Được Trao Cho Bảy Năm

5. Con Mèo Giả Vờ Giữ Giới

6. Tảng Đá Yên Tĩnh

7. Những Viên Gạch Bạc

8. Công chúa Hase và Phước lành của Quan Âm

9. Công chúa Ánh Trăng

10. Cậu Bé Vẽ Mèo

11. Ông Cụ khiến cây cối đâm chồi nảy lộc

12. Bà cụ yêu thích làm bánh bao

13. Truyện Chin-chin Kobakama

14. Truyền thuyết về Malin Kundang

15. Jaka Tarub và nàng tiên

16. Câu chuyện về Yeonorang và Seonyeo 

17. Truyện nàng Shim Cheong

18. Truyện nàng Chunhyang

19. Công chúa ngủ trong rừng

20. Aladdin và Chiếc Đèn Thần

21. Mỹ Nhân và Quái vật

22. Bốn mươi tên trộm

23. Nàng Công Chúa Kiêu Ngạo

24. Cô gái yêu thương cá

25. Người vợ ngôi sao

26. Hoàng Tử và Bảy Pháp Sư

27. Visu và các phụ nữ cáo

28. Trong dòng chảy đời sống

29. Cuộc đời của sư Luang Phor Tuad

 

.... o ....

TABLE OF CONTENTS

Preface

1. The Spirit in the Tree

2. The King Who Wanted an Ocean of Milk

3. The Frog Prince of Lai Hka

4. The Horse Who Was Given Seven Years

5. The Cat Who Pretended to Keep the Precepts

6. The Rock of Tranquillity

7. The Silver Tiles

8. Princess Hase and the Blessing of Kwannon

9. Princess Moonlight

10. The Boy Who Drew Cats

11. The Old Man Who Made the Trees Bloom

12. The Old Woman Who Love to Make Dumplings

13. The Chin-chin Kobakama

14. The Legend of Malin Kundang

15. Jaka Tarub and the Heavenly Maiden

16. The Story of Yeonorang and Seonyeo

17. The Story of Shim Cheong

18. The Story of Chunhyang

19. Sleeping Beauty

20. Aladdin and the Wonderful Lamp

21. Beauty and the Beast

22. The Forty Thieves

23. The Haughty Princess

24. The Maiden Who Loved a Fish

25. The Star Wife

26. The Prince and the Seven Magicians

27. Visu and the Fox Women

28. In the flow of life

29. The Life of Luang Phor Tuad

.... o ....

LỜI THƯA

Các truyện trong sách này dựa vào Wikipedia và Project Gutenberg -- https://www.gutenberg.org/ -- nơi các tác phẩm không còn giữ bản quyền, và đã trở thành tài sản văn hóa chung của nhân loại. Các truyện cổ tích được chọn từ nhiều tác giả. Bởi vì văn phong dùng trong các truyện hầu hết là tiếng Anh của Vương Quốc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, nên nơi đây sẽ được chuyển sang tiếng Anh của Hoa Kỳ thời kỳ đương đại cho dễ hiểu. Một số truyện cũng sẽ được rút ngắn và viết lại, khi cần thiết. Các truyện sẽ dựa vào Google Translate để được dịch trực tiếp và dịch ngược để kiểm tra, rồi sẽ được người dịch hiệu đính bằng cảm nhận văn học tự nhiên. Bản song ngữ thực hiện bởi Nguyên Giác Phan Tấn Hải vì lợi ích cho giới trẻ. Người viết không giữ bản quyền. Bất kỳ ai cũng có quyền in ấn, phổ biến toàn phần hay một phần trong mọi phương tiện khả dụng.

.... o ....

PREFACE

The stories in this book are based on Wikipedia and the Project Gutenberg https://www.gutenberg.org/  —where works are no longer copyrighted and have become the shared cultural heritage of humanity. The fairy tales are selected from various authors. Because the writing style in most stories is early 20th-century British English, they will be translated into contemporary American English for easier understanding. Some stories will also be shortened and rewritten as needed. The stories will be translated directly and back-translated using Google Translate for verification and then edited by the translator using their natural literary sensibility. This bilingual edition has been prepared by Nguyên Giác Phan Tấn Hải for the benefit of the youth. The author claims no copyright. Anyone is free to print, share, or reproduce these stories, in whole or in part, through any available medium.

 

.... o ....

 

1. Vị thần cây

Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.

Vị thần này biến hình thành hình dạng giống hệt người tiều phu – cùng khuôn mặt, cùng quần áo, cùng giọng nói. Lúc hoàng hôn, thần linh đến túp lều nhỏ của người tiều phu sâu trong rừng. Vợ người tiều phu đang nấu cơm, con nhỏ ngủ trong nôi treo, và con trai nhỏ đang cắt lá chuối. Bà chào đón người đàn ông mà bà tưởng là chồng mình, và họ cùng nhau dùng bữa tối giản dị. Mọi thứ dường như bình thường.

Nhưng sau đó vào đêm hôm đó, người tiều phu thật mới trở về nhà, gọi vọng từ bóng tối. Người vợ bước ra ngoài và nhìn thấy một người đàn ông khác – giống hệt nhau đến từng chi tiết – đang đi về phía mình. Khi cả hai người đàn ông đứng trong túp lều, bà không thể phân biệt được họ. Mỗi người đều tự nhận là chồng thật của bà. Ngay cả khi xem xét kỹ lưỡng, bà cũng thấy họ trông giống hệt nhau, kể cả những vết sẹo và dấu vết trên cơ thể. Bối rối và sợ hãi, bà đề nghị họ tìm đến sự giúp đỡ của Manoo, vị quan tòa thông thái nhất vương quốc.

Ba người họ đi xuyên qua khu rừng cho đến khi đến được tòa án của Manoo. Sau khi nghe câu chuyện của họ, vị quan tòa nhận ra rằng những phương pháp thông thường sẽ không giải quyết được bí ẩn này. Ngày hôm sau, ông đặt một bánh xe gỗ có một lỗ rất nhỏ ở giữa phòng xử án. Ông tuyên bố rằng bất cứ ai có thể chui qua lỗ đó sẽ được công nhận là người chồng thực sự.

Người tiều phu phản đối, vì biết rằng không một người nào có thể chui qua được khoảng trống nhỏ như vậy. Nhưng vị thần Nat, tự tin vào khả năng siêu nhiên của mình, bước tới. Thần dễ dàng chui qua lỗ, để lộ bản chất thật của mình. Manoo tuyên bố rằng ông đã nghi ngờ sự thật ngay từ đầu: vị khách không phải là người mà là một thần cây từ rừng.

Nat thừa nhận rằng thần đã rất tức giận khi người tiều phu chặt cây nơi anh cư mà không được phép. Manoo đồng ý rằng người tiều phu đã hành động sai trái, nhưng ông cũng nhắc nhở thần Nat rằng gây đau khổ cho những người vô tội không phải là giải pháp. Để giải quyết vấn đề, ông hướng dẫn cặp vợ chồng treo một vỏ dừa khô ở phía đẹp nhất của túp lều để thần Nat có thể sống ở đó một cách yên bình.

Vị thần chấp nhận sự sắp xếp này. Cặp vợ chồng trở về nhà, và từ đó trở đi, người dân ở Miến Điện bắt đầu treo dừa khô trong nhà để che chở cho các phi nhơn lang thang – một truyền thống vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.

Truyện này nói rằng vẫn đang có những chúng sinh đang sống bên cạnh và chung quanh chúng ta mà chúng ta không thấy bằng mắt thường.

.... o ....

 1. The Spirit in the Tree

In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.

The spirit transformed himself into the exact likeness of the woodcutter—same face, same clothes, same voice. At dusk, he arrived at the woodcutter’s small hut deep in the forest. The woodcutter’s wife was cooking rice, their baby slept in a hanging cradle, and their young son was cutting plantain leaves. She welcomed the man she believed to be her husband, and they shared a simple evening meal. Everything seemed ordinary.

But later that night, the real woodcutter returned home, calling out from the darkness. The wife stepped outside and saw another man—identical in every detail—walking toward her. When both men stood inside the hut, she could not tell them apart. Each claimed to be her true husband. Even when she examined them closely, they looked exactly the same, down to the same scars and marks on their bodies. Confused and frightened, she suggested they seek help from Manoo, the wisest judge in the kingdom.

The three of them traveled through the forest until they reached Manoo’s court. After hearing their story, the judge realized that ordinary methods would not solve this mystery. The next day, he placed a wooden wheel with a very small opening in the center of the courtroom. He announced that whoever could pass through the hole would be recognized as the real husband.

The woodcutter protested, knowing no human could fit through such a tiny space. But the Nat, confident in his supernatural abilities, stepped forward. He slipped through the hole easily, revealing his true nature. Manoo declared that he had suspected the truth all along: the visitor was not a man but a spirit from the forest.

The Nat admitted that he had been angered when the woodcutter destroyed his tree without permission. Manoo agreed that the woodcutter had acted wrongly, but he also reminded the Nāt that causing suffering to innocent people was not the answer. As a solution, he instructed the couple to hang a dried coconut shell on the best side of their hut so the Nāt could live there peacefully.

The spirit accepted this arrangement. The couple returned home, and from that time on, people in Burma began hanging dried coconuts in their houses to offer shelter to wandering spirits—a tradition that continues even today.

This story suggests that there are still living beings beside and around us that we cannot see with our naked eyes.

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

765 . NGUYỄN VY KHANH : Nhà Văn TRẦN DOÃN NHO

                                                                                                  


Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại

Nhà văn TRẦN  DOÃN  NHO

 

Trần Doãn Nho, bút hiệu sử dụng khi sáng tác và ký Trần Hữu Thục tên thật, khi viết tiểu luận. Sinh ngày 25-7-1945 tại Huế. Tốt nghiệp ngành Triết. Trước 1975, phụ khảo môn Triết tại Đại học Văn Khoa Huế; sĩ quan quân đội VNCH và cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn. Sau 1975, ở tù “cải tạo” đến 1981. Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo Dục Thành Phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Tự Do, Văn, và các trang mạng.

Tác-phẩm đã xuất bản: các tập truyện ngắn Vết Xước Đầu Đời (Thanh Văn, 1995), Căn Phòng Thao Thức (Thanh Văn, 1997), Đi. Trong Một Buổi Sáng (Văn Học Press, 2021) - ký và tùy bút Loanh Quanh Những Nẻo Đường (Văn Mới, 2000), truyện dài Dặm Trường (Văn Mới, 2001; Thư Ấn Quán tb 2018) - các biên-khảo tiểu luận Viết và Đọc (Văn Học, 1999), Tác Giả Tác Phẩm và Sự Kiện (Văn Mới, 2005), Từ Ảo Đến Thực (2006), Ẩn Dụ Cuộc Phiêu Lưu của Chữ (Người Việt, 2015), …

*

Trần Doãn Nho giáo chức và đã khởi nghiệp văn-chương từ trước 1975, ông thực sự xuất bản từ khi định cư tại Hoa Kỳ. Là một cây bút trí thức, do đó khi sáng-tác ông cũng đã hơn một lần cho người đọc thấy ông nhiều suy : con chữ Trần Doãn Nho hoặc Trần Hữu Thục, nếu không có mục-đích thì cũng liên hệ đến tâm thức và ý nghĩa nào đó của hiện hữu, của con người và nhất là con người Việt Nam!

Trong Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu của Chữ, ông nghiên cứu về “ẩn dụ” trong văn học Đông Tây trãi qua các thời đại. Chương viết về “Chữ nghĩa: chữ và nghĩa”, ông cho biết:

Chữ: Nói đến chữ, ta thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ. Dưới hình thức chữ cái, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ “tách khỏi thế giới và trở thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ,” theo Arild Utaker, trong một bài viết bàn về Saussure. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành “một vấn nạn triết lý”: tương quan “giữa ngôn ngữ và thế giới” hay nói khác đi, tương quan “giữa chữ và sự vật.” Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là phản ảnh vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm thấy trong chữ. Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn … “Hoạt động ngôn ngữ” là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói”. “Ngôn ngữ” có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. “Lời nói” là sự sử dụng cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này, Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là toàn thể các ký hiệu. Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ viết khiến ta không thấy được điều đó...”.

Nghĩa: Dù là bằng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic), chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “đi”. Đi là động tác di chuyển bằng chân hướng về phía trước, nhưng có nhiều chữ đi lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi đêm, đi khách. Hay chữ “ăn”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng, ta có những chữ ăn khác như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”...”.

765 . Tranh NGUYỄN SÔNG BA.

 

tranh nguyễn sông ba

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

764. TT THÁI AN - BỎ LẠI SAU LƯNG

                                                                                 


                                 

Bỏ Lại Sau Lưng

TT-Thái An

 Khoảng cuối tháng 3, 1975.  Nhiều tỉnh ở miền Trung đang hấp hối hoặc đã thất thủ, dân chúng chạy vào Sài Gòn tị nạn khá nhiều.  Nhiều hè phố đã ngập người tị nạn.  Tình hình chiến sự chỉ có xấu, chứ không tốt cho miền Nam. 

Nhà ông bà Sùng có người bên xuôi gia chạy từ Kon Tum xuống ở nhờ báo cáo tình hình trên đó trước khi ông bỏ chạy.  Ông bảo thằng cán bộ cộng sản đến ngồi nhà ông để chờ ông về.  Khi ông về gần đến nhà, ông có linh tính nên len lén nhìn vào và bỏ đi luôn.

 

Mẹ tôi nghe lời khuyên của ông tôi nên đến trường nội trú của em trai rước nó về.  Hình như đã nhiều phụ huynh đến rước con về, trường cũng bắt đầu vắng vẻ. 

Về nhà thì em Nguyên lại hay đi đến nhà hai đứa bạn thân, hầu như mỗi ngày.

Thỉnh thoàng mẹ lại ghé nhà bà Sùng nghe ngóng tình hình, ai cũng lo Việt cộng sắp vào đến Sài Gòn rồi, phải tính cách nào, đi hay ở?

 

Bà Sùng và mẹ tôi đều quả quyết rằng không thế nào ở với Việt cộng được.  Mình đã bỏ miền Bắc năm 1954 cũng chỉ vì biết chúng nó độc ác thế nào, ăn không cho ăn, mặc không cho mặc, nói không cho nói. Đã thế nghe nói khi chúng chiếm được hết miền Nam, chúng sẽ đem người Bắc di cư ra xử tội.

Nhà bà Sùng có chị Thu là con gái thứ hai đã đi Mỹ khoảng cuối năm 1973.  Nghe phong phanh rằng chị lấy chồng Mỹ nên đi theo chồng. Nhưng nhà bà Sùng thì bảo là chị đi theo chương trình Caritas gì đó. 

 

Con gái lớn của bà Sùng là chị Hà, đi thầu cho Mỹ nhiều năm đến năm 1973 thì hết thầu vì Mỹ rút quân về nước.  Chị xoay ra thầu làm cơm sấy cho quân đội. 

 

Con gái thứ tư của bà Sùng là Hạnh, bạn tôi thì đang có người yêu gắn bó vô cùng.  Chàng hơn nó 11 tuổi, đang là sinh viên y khoa năm cuối.

Bà Sùng là người vô tư, ít khi nào thấy bà lo lắng.  Nhà con đàn mười một đứa.  Mọi việc tài chánh chi tiêu trong nhà đã có chị Hà cung cấp.  Ông Sùng làm công chức, lương chẳng thấm vào đâu.  Con trai lớn là anh Phi đã có vợ và hai con trai còn nhỏ.  Vợ anh Phi rất đẹp, nhìn hoài không chán. 

Nhưng lúc này đã thấy bà Sùng bắt đầu lo. Bà nói với mẹ tôi rằng:

-Nếu Việt cộng vào Sài Gòn thì tôi chịu chết, nhà đông con thế này làm sao đi hết?  Mà chả biết đi đâu nữa!

763 . PHAN TẤN UẨN : MALL OF AMERICA, Truyện ngắn : SUZANNE WANG Chuyển ngữ : Phan Tấn Uẩn

                                                                                                                    


LỜI NGƯỜI DỊCH

 

. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024.

Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là  OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.

Tuy nhiên, chính từ vị trí phi nhân tính ấy, AI lại trở thành kẻ chứng kiến những cô đơn, lạc lõng và tổn thương âm thầm của con người trong xã hội tiêu dùng hiện đại. Qua những cuộc đối thoại tưởng như chuyện mua sắm thông thường, đời sống riêng của các nhân vật dần dần hé lộ: một ông lão nhập cư nói tiếng Quan Thoại bị bỏ quên giữa trung tâm thương mại; những con người quay trở lại không hẳn để mua sắm, mà để được nghe một giọng nói đối đáp. Khi AI ngày càng “hiểu” con người sâu hơn, truyện nầy đặt ra một câu hỏi lớn: trong thế giới được vận hành bằng dữ liệu và thuật toán, đâu là ranh giới giữa con người và máy móc ?


Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

762 .NGUYỄN QUYẾT THẮNG : NGOÀI PHỐ , Thơ LÂM VĂN SANG (Lúc đó lấy bút hiệu là THÁI TRUNG)

 NGOÀI PHỐ - Thơ LÂM VĂN SANG nhạc NGUYỄN QUYẾT THẮNG

Bài này Thắng phổ nhạc năm 1971,  Năm Mươi Ba năm trước. 

Đăng lại để nhớ thương LÂM VĂN SANG vừa từ trần ở Bắc CALIFORNIA.  

Những bằng hữu hiếm hoi còn lại của hơn nửa thế kỷ trước là

 ĐOÀN VĂN KHÁNH, NGUYỄN QUYẾT THẮNG, NGUYỄN MINH NỮU  xót xa tiễn đưa người.






761 NP PHAN - Trang thơ LẶNG LẼ, NỖI BUỒN CHƯA ĐƯỢC CHỈNH TRANG, THƠ TÌNH THÁNG BA.

                                                                                         


lặng lẽ

 

 

lặng lẽ một dòng sông

đâm nhánh về phía biển - mặt - trời

mùa lặng thinh chới với

lặng lẽ buồn vui rong chơi

lặng lẽ bức tường xám vô vi

 

có một góc tự do nhỏ nhoi

đang nhảy múa một hình hài

trong sự lặng lẽ đa cảm

giọt nước mắt yếu ớt

sớm giã từ bờ mi khỏa thân

khép mở cõi vô cùng

 

lặng lẽ hài xanh âm âm thái dương

em gọi mùa trở giấc

con nước bàng hoàng quẫy đạp cửa sông

chối từ lặng lẽ

 

lặng lẽ em

ngọn lửa

lặng lẽ ngôn từ

cháy lời yêu

                 

760 - GIÓ O HẢI NGOẠI - TƯỞNG NHỚ LÂM VĂN SANG (1950-2026) Vừa Qua Đời Tại San Jose, California

                                                                                       
 NGUYỄN CHÍ THIỆN và LÂM VĂN SANG (Mặc áo Xanh)
 

Đặng lại toàn bộ bài viết trên GIÓ O HẢI NGOẠI 

với sự cho phép của Chủ Biên Gió-O

TƯỞNG NHỚ LÂM VĂN SANG (1950-2026)

Vừa Qua Đời Tại San Jose, California.

Anh là chỗ thân hữu văn nghệ ở San Jose lâu năm.

Từng ở trong nhóm khởi xướng tờ Nhân Văn, của Lôi Tam, Thượng Văn, Tưởng Năng Tiến, Võ Hoàng, Lâm Văn Sang

Từng ở trong nhóm Viet Mercurry News với Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Việt Cường, Trần Đệ, Lâm Văn Sang

Người đàn ông im im, cười cười, ly dị, có vài cuộc tình lộ và không lộ với vài người phụ nữ cũng hơi nổi nổi ở San Jose

Kỷ niệm đáng nhớ với Gió O là lần giáo sư nhà văn Triết Đặng Phùng Quân về ra mắt sách Triết ở San Jose vào năm 2007, bạn của Đặng Phùng Quân là một ông Triết khác lên phát biểu sao đó, Lâm Văn Sang về viết bài cà khịa, Sau đó ông Triết Đào Trung Đạo cũng cà khịa lại, gửi bài kêu tôi đăng lên Gió O. Tôi phải ốp hai ông đàn anh này lại ngay lập tức.

Vụ hai bên cà khịa xảy ra trên Gió O trước đây giữa một ông nổi tiếng trong nước là nhà văn Trần Mạnh Hảo với một ông to mồm ở Hải Ngoại là Trần Nghi Hoàng. Cả hai sau đó giựn Gió O và đi luôn. Không sao.

Lâm Văn Sang nghe nói bị bệnh lẫn và vào nhà dưỡng lão của ông bạn bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi lưu trú mấy năm qua.

Nay nghe tin Lâm Văn Sang vừa qua đời . Bằng hữu văn nghệ ở San Jose chia buồn cùng gia đình anh.

Nguyện cầu hương hồn anh ra đi thanh thản về miền vĩnh phúc!

.

Đưa một bài viết của Lâm Văn Sang lên đây để tưởng nhớ anh,


Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

759 , LÊ ĐỨC LUẬN . NỖI LÒNG CHƯA TỎ

                                                                                                



         Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm.   

Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng…  

 Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện. 

Ông hy vọng Chúa nhân từ thấu lòng nhân thế mà xót thương và tha thứ cho người nữ tu đã khấn trọn đời dâng hiến, nhưng trong giây phút yếu lòng đã để tình cảm lứa đôi lay động tâm hồn. Và biết đâu một mai Chúa sẽ cho hai kẻ yêu nhau với mối tình đầu cao thượng được gặp lại ở chốn Thiên đàng? 

 

Chiều nay, ngồi trên ghế đá công viên nơi đất khách, ông Lân đang thả hồn theo những chiếc lá vàng chao trong gió…Bỗng xuất hiện đôi thiếu niên nam nữ âu yếm nắm tay nhau, thong thả dạo bước dưới bóng mát của những cây phong cổ thụ nơi góc vắng công viên, gợi cho ông nhớ lại những lần dạo chơi cùng cô gái bắc kỳ di cư nho nhỏ, xinh xinh dưới những hàng keo già nơi xóm đạo… 

Giờ đây, nỗi nhớ không thể chạm đến và niềm thương không thể gọi thành tên - lòng ông xao xuyến nhớ về…  

Nắng chiều buông xuống - chỉ còn đậu lại trên đọt những cây phong già ánh vàng le lói. Ông vẫn ngồi bất động trên ghế đá công viên nhìn lá vàng rơi. Bỗng ký ức trỗi dậy! Rồi bao kỷ niệm hiện ra trong trí nhớ như đoạn phim quay chậm: từ thuở thiếu thời cho đến lúc trưởng thành.  

Ông Lân được sinh ra và lớn lên ở một làng quê cách thị xã Tuy Hòa chừng bốn cây số. Trong chín năm kháng chiến (1945-1954), quê hương ông nằm trong vùng Việt Minh kiểm soát. Ông nhớ dưới thời Việt Minh, người lớn trong làng gọi đám nhóc tì như ông là nhi đồng. Nhi đồng thời ấy có những thú vui là đêm đêm đốt lửa trại, đánh trống ếch: bùm… bum… rồi đốt đuốc đi quanh làng hô khẩu hiệu vang trời. Đến Tết Trung Thu, Hội Phụ Nữ (là các bà mẹ) nấu nồi chè đậu đen to tướng, phát cho mỗi đứa một chén, thêm vài cái bánh ít lá gai - vừa ăn, vừa hát đồng ca bài “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”. Thế là vui!  

Còn chuyện học hành chữ nghĩa thời ấy thì “được chăng hay chớ”- việc học hành chỉ để thoát qua cái nạn mù chữ. Hầu hết già trẻ gái trai trong làng ban đêm đều học lớp “Bình dân học vụ”. Đám thiếu niên, nhi đồng được đến trường, nhưng thường học qua bậc tiểu học rồi thôi và ở nhà giúp cha mẹ trong công việc đồng áng. Rất ít đứa học lên cao (vì học lên cao phải đi xa nhà - rất tốn kém). Trường học thời đó, có thể là đình làng, hay căn nhà tranh cất đơn sơ núp dưới những tàn cây cổ thụ để máy bay Pháp khó phát hiện. Đặc biệt, chung quanh trường có những hầm tròn, sâu gần một mét. Khi nghe tiếng máy từ xa, đứa học trò ngồi gác bên ngoài đánh kẻng báo động… học trò vội vã chạy ra khỏi lớp, nhảy xuống hầm tròn. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, ông Lân vẫn còn nổi da gà khi nhớ lại: dưới các hầm tròn thường có những con rắn trun, rắn hổ mang nằm dưới đó.