Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

915 . THÂN TRỌNG SƠN- NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH tác giả Hans Christian Andersen ( 1805 - 1875 )

                                                                                              


Hans Christian Andersen, sinh tại Đan Mạch , gần như là người phát minh ra thể loại eventyr – tức truyện cổ tích phiêu lưu hay truyện kỳ ảo. Dù ông viết nhiều thể loại khác nhau như kịch, bút ký du hành, tiểu thuyết và thơ, chính những truyện cổ tích của ông mới trở thành biểu tượng văn hóa trong thế giới phương Tây. Các câu chuyện của Andersen vượt qua mọi rào cản tuổi tác, biên giới quốc gia và văn hóa, và đã được dịch ra hơn 125 ngôn ngữ. Các câu chuyện của ông đã truyền cảm hứng cho vô số vở kịch, ballet và phim điện ảnh. Ai mà chưa từng đọc hoặc xem một bộ phim hoạt hình chuyển thể từ Cô bé Thumbelina (1835), Bộ quần áo mới của hoàng đế (1837), Nàng tiên cá (1836) hay Công chúa và hạt đậu (1835)?

 

Andersen cũng để lại cho nhân loại một trong những câu chuyện Giáng Sinh buồn nhưng cảm động và đẹp đẽ nhất mọi thời đại – Cô bé n diêm.

Andersen còn có nhiều truyện xuất sắc ít được biết đến, rất đáng để bạn chú ý và đều có sẵn trên trang AmericanLiterature.com. Hãy khám phá những truyện thú vị sau:

Người lính chì dũng cảm

Giấc mơ cuối cùng của cây sồi già

Cổ áo sơ mi

Đôi hài may mắn (1838)

Cậu bé hỗn xược (1835)

Mũ ngủ của ông già độc thân

Anh chàng chăn heo (1841)

Người bạn đồng hành (1835)

Vào năm 1847, trong chuyến thăm đầu tiên đến Anh, Andersen đã gặp Charles Dickens. Ông viết trong nhật ký: Chúng tôi đi ra hiên nhà, tôi thật hạnh phúc khi được gặp và trò chuyện với nhà văn đang sống của nước Anh – người mà tôi yêu mến nhất.” (Hcandersen-homepage.dk. 2001-12-30). Cả hai tác giả đều tập trung viết về người nghèo và những người kém may mắn, với những câu chuyện về sự vượt lên nhờ nỗ lực, can đảm và may mắn.

Các truyện của Andersen đã đặt nền móng cho nhiều tác phẩm thiếu nhi kinh điển khác như Gió qua đồng nội ca Kenneth Grahame hay Gấu Pooh của A.A. Milne. Có thể nói, Andersen như một nhà văn Disney được tiền định”, với sở trường thổi hồn vào những đồ vật vô tri như đồ chơi, khiến chúng sống dậy và trải qua những cuộc phiêu lưu cuốn hút người đọc ở mọi lứa tuổi – ông đã tạo ra một loạt các tác phẩm vượt thời gian. Andersen là một bậc thầy viết truyện, người mà tác phẩm và chủ đề đã được noi theo qua nhiều thế hệ và trên nhiều nền tảng.

Andersen qua đời ngày 4 tháng 8 năm 1875 tại Copenhagen, sau khi không bao

giờ hồi phục hoàn toàn từ một chấn thương do ngã khỏi giường hai năm trước đó.

 

Hans Christian Andersen là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của văn học thiếu nhi thế giới, người đã vượt khỏi khuôn khổ của những câu chuyện thần thoại cổ điển để thổi vào chúng hơi thở nhân văn, triết lý và cảm xúc. Người bạn đồng hành” là một truyện ngắn mang màu sắc cổ tích rõ nét nhưng lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu xa về đạo đức, lòng nhân hậu, sự trả ơn, và chiến thắng của điều thiện trước cái ác.

Ngay từ đầu truyện, nhân vật John được giới thiệu như một chàng trai tốt bụng, hiếu thảo với cha và không màng đến của cải. Chi tiết John dùng hết số tiền ít ỏi để lo tang lễ tử tế cho một người chết bị người đời khinh miệt là tình tiết mở đầu rất quan trọng. Hành động ấy không chỉ thể hiện bản chất lương thiện, mà còn là hạt giống cho phần thưởng lớn về sau.

Trong thế giới cổ tích, những hành động tốt lành thường không bị lãng quên, mà sẽ được đền đáp một cách kỳ diệu. Nhưng ở đây, Andersen không chỉ đơn thuần mô tả phần thưởng như một món quà từ “phép mầu ”, mà làm nổi bật logic nhân quả về đạo đức – người tốt sẽ gặp người tốt, người giúp người khác trong lúc khó khăn sẽ được giúp lại khi cần.

Người bạn đồng hành – hiện thân của lòng biết ơn và phép màu nhân đạo

Hình ảnh người bạn đồng hành bí ẩn trong truyện không chỉ đóng vai trò như một người trợ giúp thần kỳ, mà còn là biểu tượng cho sự đền đáp và bảo vệ của những linh hồn thiện lương. Sau này, khi người bạn tiết lộ rằng anh chính là người quá cố mà John đã giúp chôn cất, ta nhận ra rằng những hành động tử tế dù âm thầm vẫn có thể tạo ra phép màu.

Andersen cho thấy thế giới tâm linh trong truyện cổ tích không chỉ là cõi xa vời, mà tồn tại song song với đời sống con người. Người bạn đồng hành không giáng thế như một vị thần toàn năng, mà sánh bước bên John, giúp đỡ nhưng vẫn để nhân vật chính phải tự vượt qua thử thách. Điều này hàm ý rằng, dù có sự giúp đỡ, con người vẫn cần chủ động lựa chn con đường thiện lương và dũng cảm đối mặt với thử thách.

Phần giữa và cuối truyện đưa ta đến thử thách chính của John: chinh phục trái tim của một công chúa kiêu kỳ, thực chất là nạn nhân của một lời nguyền ma thuật. Công chúa và tên pháp sư phản diện là biểu tượng điển hình của cái ác trá hình – cái đẹp bên ngoài nhưng ẩn chứa sự hiểm độc, lạnh lẽo, và quyền lực tà thuật.

Tuy nhiên, Andersen không vẽ nên một câu chuyện tình lãng mạn ngây thơ, mà là hành trình giải thoát. John không chỉ tìm cách cưới được công chúa, mà còn cứu vớt cô khỏi sự chi phối của ma thuật hắc ám. Chi tiết tắm nước với lông thiên nga và ba lần nhúng xuống bồn nước là nghi thức thanh tẩy – không chỉ rửa sạch tà thuật mà còn là sự tái sinh của tâm hồn công chúa. Điều này mang ý nghĩa sâu sắc: tình yêu chân chính phải dựa trên sự cảm hóa, không thể ép buộc hay chỉ dựa vào bề ngoài.

Andersen đề cao sức mạnh của niềm tin và lòng kiên định. John không bao giờ hoài nghi người bạn đồng hành, không từ chối thử thách dù đối mặt với cái chết, và cũng không yêu cầu phần thưởng trước khi cứu công chúa khỏi bùa phép. Đây là những phẩm chất mà Andersen coi là thiết yếu để con người vượt qua cái ác và đạt được hạnh phúc thực sự.

Cái kết có hậu – John cưới được công chúa, vua cha sống lâu để chơi đùa cùng các cháu, và John trở thành vị vua tốt – là phần thưởng xứng đáng cho cả hành trình thiện lương. Nhưng Andersen không quên để người bạn đồng hành ra đi một cách nhẹ nhàng, như một thiên sứ hoàn thành sứ mệnh. Sự chia ly ấy đọng lại cảm xúc sâu sắc: cái thiện không khoe khoang, không đòi hỏi công lao, chỉ lặng lẽ gieo những điều tốt đẹp rồi tan vào không gian.

Người bạn đồng hành” là một truyện cổ tích cảm động, kết hợp hài hòa yếu tố kỳ ảo với thông điệp nhân văn. Andersen đã dùng những hình ảnh đơn sơ mà đầy biểu tượng để nói về những giá trị vĩnh cửu: lòng tốt, sự biết ơn, tình bạn, tình yêu, và niềm tin vào điều thiện. Tác phẩm này không chỉ dành cho trẻ em, mà còn khiến người lớn suy ngẫm về cách sống, cách cư xử, và cách tin vào điều tốt đẹp trong cuộc đời.

 

 

914 . DUYÊN - Tranh và Thơ

 


hạt từ tâm

acrylic vẽ trên vải. 8x10

tranh duyên. 9. 11. 21.

                         để tưởng nhớ em Nguyễn Thu Hương

 

Hương

 



ai cũng có một lần đi

vội vàng chi

em ra đi… trong giấc mơ nào, Hương nhỉ

rồi em không về nữa…

 

giấc mơ em

những ngày xanh. xanh quá!

nơi ngôi nhà có hàng hiên thoáng rộng

mình xếp ghế bố, nằm cạnh nhau những lần chị được qua chơi

đêm. thi thầm. to nhỏ

dưới ánh trăng, mắt em ngời sáng. như sao

mình hạnh phúc trong khu vườn xinh xinh

một làng quê yên ả

cô em nhỏ

môi luôn điểm nụ cười

mắt đen lay láy…

tim đập nhịp dịu dàng, lần đầu chị gặp em…

mình thành bạn

năm em mới mười lăm

chị vừa mười bẩy tuổi.

 

để thắt chặt thân tình

một ngày kia em dẫn chị, Nguyệt đến chơi

cũng ngộ nghĩnh dễ thương không kém

tính Nguyệt thẳng thắn, một chút ba gai

con nhà giầu… thêm

giầu tình, giầu nghĩa…

mình chia nhau bao nhiêu kỷ niệm một thời rất đẹp

vài năm sau

đám cưới Nguyệt, chị về

đám cưới em, chị không về được

bận phù dâu cho Vân, cô bạn thân

sau này nhắc lại, chị em mình cứ tiếc hoài

chuyện cũ đã xa…

 

cuộc đời dâu bể

mình mất dấu nhau

mãi đến sau này, gần mười năm. có

tìm được em. chị mừng quá đỗi

nối lại tình thân, như chưa hề cách… xa.

 

em độ lượng, em từ bi

em thánh thiện…

một nhân cách tuyệt vời

bên chồng con, em hạnh phúc

biết buông xả, giữ thân tâm yên lành

gặp lại em, chị tìm thấy bình an

em dậy chị lạy Phật, nấu các món chay

giữ tâm an vui, lòng thanh thản…

 

mới đây thôi

sao tim em bối rối?

đập ngập ngừng, không  chịu thở cùng em

9.11. em đi êm… một ngày. cả nước buồn

mai, Rằm Trung Thu em hoá thân cùng cát bụi…

em về với Phật Trời, biển bao la chờ đón

riêng chị. rất buồn…

thêm một lần, ngày trọng đại trong đời

chị không đến được

bên em…

 

RIP Hương♥️

duyên



Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Nhà văn Cung Tích Biền rời cõi tạm.


Nhận được tin buồn, Nhà văn CUNG TÍCH BIỀN 
 vừa từ trần ngày 09/09/2026 tại California - HOA KỲ,
Tạp chí Văn Phong chân thành chia buồn cùng Tang quyến
và cầu nguyện Nhà Văn CUNG TÍCH BIỀN siêu thăng Phật quốc.
  

913. NGUYỄN VY KHANH Cung Tích Biền, những năm 2000.

Cung Tích Biền,công dân của miền Nam với thân phận đigiữa hai lằn đạn - ông có hai người anh, một “anh là Cộng sản chết không mồ,em là Quốc gia chết không tìm ra xác” (người tập kết, người bị tù “cải tạo”,hai cái chết đều do Cộng sản Hà-Nội gây ra!). Trước 1975, ông từng bịnghi ngờ nếu không vì xuất thân từ vùng kháng chiến chống Pháp thì cũng vì giađình ông, cũng như nhiều người khác có anh em ở chiến tuyến đối nghịch; đời sĩquan của ông không hanh thông, từng bị chỉ định nơi cư trú và giải ngũ sớm. Nạnnhân cả sau biến cố 30-4-1975, ông đã phải chịu đựng và câm lặng hơn 30 năm.Nhưng dù muốn dù không, Cung Tích Biền cũng đã chứng kiến nhiều cảnh bạo lực, “nhântình éo le” và chướng tai gai mắt. Tình cảnh nạn nhân và chứng nhân đó đã đượcông đưa vào sáng tác, đã là nguồn, là chất liệu làm nền cho văn-chương CungTích Biền. Trong các sáng tác khi có thể và không nhiều, ngọn bút của ông mangnặng tính nhân bản và không pha hận thù, nếu có chăng là suy tư, hài hước tìnhđời, là nhắc nhở để tránh, để khỏi... Dùng ẩn dụ, ví von xa xôi, xa xưa vàkhông gian khác, lạ lẫm thay vì hiện thực dễ dàng thấy sao nói vậy. Đề tài thờinhiễu loạn, “gió chướng”, do đó không hề thiếu, quan điểm và phê phán ông cũngkhông thiếu, nhưng biến thành con-chữ và đến được với người đọc là vấn nạn màmột nhà văn có bản lãnh như Cung Tích Biền không thể không đắn đo. Đó có lẽ làlý do khiến những sáng tác hiếm hoi của ông sau 1975 khi còn ở lại trong nướckhá cô đọng, kiệm lời, không thừa chữ, không phải lý lẽ cho ra lẽ, nhưng từ khiông định cư ở Hoa-Kỳ, hết “kiểm duyệt”, hết phải “sống trong phòng đợi”, thìngòi bút ông như ngựa mất cương, tha thiết hơn, dài hơi hơn và phê phán triệtđể hơn. Người đọc sẽ thấy diễn biến đó từ những truyện trong Thằng Bắt Quỷ (Tân Thư, 1993) đến Xứ Động Vật (“tântruyện”; Nhân Ảnh, 2018) và gầnđây, Mùa Xuân Cô Mơ Bay (CA:Thao Thao, 2019).

Kinh nghiệm sống cũng như các biến cố lịch sử cận đại đã được và tiếp tụchiện hữu, “sống-còn” trong các sáng tác của Cung Tích Biền, và ông xác tín trong một phỏng vấn của Đặng Thơ Thơ rằng“viết là một cách tự cứu rỗi, cũng là cách tôi an tử dần dà. Đó là Mệnh”.Vì theo ông, “Một văn chương hoàn chỉnh chính là Một Nạn Nhân./ MộtHoàn chỉnh Văn chương là tật nguyền ráp lại./ Một thường-trực-trả-lời, tronghoàn cảnh Việt Nam hôm nay, phải là một trung-thực-chịu-nạn./ Văn chương có thểhuyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không hề là một hư ảo”(Trích từ CungTích Biền nói chuyện với Đặng Thơ Thơ”,24-3-2008: https://damau.org/17335/ctb-noi-chuyen-voi-dang-tho-tho).

Bài này chúng tôighi lại vài nhận xét về hai tác phẩm mới nhất của Cung Tích Biền: Xứ ĐộngVật Mùa Xuân Cô Mơ Bay là những sáng tác độc đáo mang tính CungTích Biền những năm 2000. Thật vậy, các truyện của tập Thằng Bắt Quỷ, dùviết sau 1975 vẫn được Cung Tích Biền viết cẩn trọng hình thức, chữ dùng. Bútpháp ẩn dụ hoặc chạm đến dị thường, huyễn hoặc, nhưng trung dung trong bày tỏcũng như tâm trạng và còn cho thấy niềm tin mang tính nhân bản và hữu-thần, thùhận, hằn học có chăng cũng vẫn mang tính văn hóa phổ quát, tức đã bắt đầu rờibỏ văn hiện-thực của những tác phẩm viết trước năm 1975. Với Xứ Động VậtMùa Xuân Cô Mơ Bay, Cung Tích Biền đã nhất quyết rời xa “nền” vănchương dẫu sao cũng còn “lịch sự” của Thằng Bắt Quỷ. Hai tập sau, ôngviết với sự chân thành của nạn nhân trí thức, nhưng nay toàn trí toàntâm, viết như không còn gì để mất. Xứ Động Vật được ghi là “tân truyện” gồm 3 liên-tiểu-truyện XứĐộng Vật, 2 liên-tiểu-truyện khác vàmột truyện ngắn, viết về xã hội Việt Nam thời hậu-1975 và “hội nhập”, “mở cửa”dưới ngòi bút sắc sảo và rất nhân bản. Mùa Xuân Cô Mơ Bay lànhững mảnh rời đời sống và tư duy củangười Việt đôi bờ.

Hai tập truyện nàyđược viết ra khi còn ở trong nước – mà Cung Tích Biền cho là “bị rất nhiềurủi ro, thiệt thòi mọi mặt trong đời sống, nhưng trong vị thế một người Cầmbút, Tác giả lại được hưởng nhiều may mắn, về phần “thu gom thực tế”“ (LờiThưa của Tác Giả, MXCMB, tr. 9) và cập nhật chỉnh sửa sau này ở ngoài, CungTích Biền đã đưa người đọc đến một thế giới văn chương khác, dị thường và quỉquái và nói chung dễ khiến người đọc có cảm tưởng choáng ngợp rùngmình. Cung Tích Biền đã sử dụng người chết, ma quỷ để nói chuyệnngười sống và cảm nhận hiện thực. Cái Chết ở Cung Tích Biền trở nên siêu thực,mang mặt nạ “lãng mạn”, “văn chương” cho cái bi đát, cùng khổ hôm nay. CungTích Biền thường xuyên chiêm nghiệm về nỗi chết và những cái chết cùng những “kiểu”chết. Ông nói đến như thân thiết với cái Chết mà ông xem như là một tất yếu, mộtxác-thực lớn nhất mà từ đó, trên đó, con người có thể dựa vào để dựng xây cuộcđời, tức là cuộc sống đem ý nghĩa đến cho cái Chết hay nói khác, vì cái Chết màcuộc sống có ý nghĩa.

Conngười sống và kiếm tìm tâm linh nhiều hơn, hay cái Chết là một lối thoát đángđược chuẩn bị hơn? Trang Tử chủ trương vui cái sống gắn liền với cái Chết. Ngoạithiên Chí Lạc chép truyện Trang Tử gõ bồn, theo đó sống chết cùng một thể, thếnên cứ vui sống cái sống gắn liền với cái Chết. Cái Chết hiện hình trong chiếcđầu lâu khô-khốc bên đường của cái sống. Cái Chết kề bên như trời che đất chở,và cái sống kề bên cái Chết, đầu lâu nói với Trang Tử trong mộng: chết còn vuisướng hơn sống nữa. Và thế là quên hẳn cả cái sống cùng cái Chết. Đó là đạt đượcthuật chí lạc đạt tới Đạo và quên hẳn cái sống và cái Chết. Nhưng dĩ nhiên khácvới thân phận người Việt.

Xứ Động Vật: Sau 1975, miền Nam bị kẻ Ác cưỡng chiếm, đã trở thành “Xứ độngvật”, “Xứ toàn-chuồng” đầy ác thú: “Cuộc sống đã được cái lưới thép an ninhthắt chặt, bủa vây từng ly hiện hữu vật chất, lẫn một sợi mơ tưởng trong tâm hồnmỗi con người. Cuộc sống đã là toàn bộ trần truồng. Bày ra trước đám đông cảcái lỗ chân lông riêng tư. Phải làm sao mọi người hiểu rằng trong đầu của anhlà cái khuôn đúc cài sẵn, tư tưởng được phát đều chỗ công cộng” (tr. 93). Mộtđại-úy cộng-hòa trốn trại tù tìm gặp Hiền, người yêu cũ và Tảo, đứa con tám tuổi,đã bị hàng xóm nay được ác thú chỉnh huấn, trở thành “đàn quỷ dữ” lùng bắt: “Trongcái nền gọi rằng “công lý” đỏ tươi dưới ánh trăng úa bạc quê nhà về sáng, nó nhờnhờ ma cỏ, như đâu trong một phiên tòa chốn địa ngục (...) Một giọng nói lanh lảnh,đanh như thép: “Phải đập nó một trận thôi bà con ơi. Thằng ngụy này da thịt bằngsắt như vỏ xe tăng Mỹ.”

Chỉmột lời hô hoán khích động bất ngờ là biển bão trở nên sóng thần. Một lúc thôikhông ai nhận ra anh. Chỉ loáng, người yêu xưa của Hiền, thần tượng một thời bỗnghóa màu. Con người khốn khổ như một bức tượng sáp bôi kín máu là máu (...) Nhữngphần da thịt anh vỡ ra dính lại trên tay, trên mặt đám người thực hiện “công lýcủa nhân dân”. Bọn này hóa Đỏ bởi máu người ... “.

Ngườiphụ nữ đau khổ tận cùng: “Hiền ôm lấy xác người. Những dây thừng quấn quanhanh nhuộm đỏ. Tóc đỏ. Áo quần đỏ bầy nhầy thịt nát. Mà làm sao thế này? Làm saolúc đầu chỉ một đôi mắt sáng, rất buồn, cũng rất hờn căm; nó cô đơn nhìn một rừngmắt cũng rực hờn căm. Mà làm sao? Một mái đầu trung niên sớm bạc trắng vì laotù trong núi trời phương Bắc, giờ đây phải chịu đựng nghìn xỉa xói chửi bới. Bỗngcái làn tóc sương ấy, từ đôi mắt rực lửa hận cô đơn ấy thét lên: “Chúng mày giếttao đi. Chúng mày mới chính là thú. Giết tao đi. Tao không bao giờ đội trờichung với chúng mày”.

Màchao ôi, những bão bùng là thoi đấm, chân đạp tập thể; rồi ai xui chúng dùngcán cuốc lưỡi sắt; từ quằn quại với một ít máu bầm chuyển qua máu vọt thànhvòi. Thay vì thấy thịt nát đã chùng tay, chúng lại cuồng máu say thù, bằm thêmcho nát, cho vụn cái khúc ruột không đâu xa nghìn dặm, mà ngay đây, cái đống đồngbào đã máu nát thịt tan...” (tr. 93, 96, 97, 98).

Liên-tiểu-truyện Xứ Động Vật MưaHồng dùng hai anh em sinh đôi Tảo và Jim đểkể chuyện khốn cùng của sinh linh đất Việt. Song sinh nhưng chiến tranh khiếnđôi ngã chia ly, người rơi rớt làm con nuôi khó nghèo trong nước, kẻ bị / đượcném lên tàu vượt biên. Số phần Tảo không may, được những người mẹ nuôi rồi bàngoại nuôi nhưng tất cả đều đã chết, Tảo phải sống lây lất, ăn mày, ăn xin, làmma đói giữa một Sài Gòn đã đổi chủ: “Trong đêm Sàigòn, Đô thành xưa, hôm nayngập mưa, từng đoàn người ma ốm o, đầu đội nón lá, trong lớp áo mưa mỏng, cònglưng trên xe đạp chở những bao tải ni lông vụn, đồ ve chai. Gió thổi ngược đánhbật cả nón bay, đến xiêu vẹo người. Bọn ma đói này là dân nhập cư từ Bắc vàoNam, từ những miền quê đói khó, không công ăn việc làm, không phải là quân cóchức quyền, lận lưng con dấu đỏ thủ trưởng rất mau chóng giàu có. Bọn ma đóinày dai sức đến khiếp. Muốn có dăm đô la trong một ngày đêm hai-mươi-bốn-tiếng-đồng-hồlàm việc chết bỏ, bọn ma sống phải vượt trên năm mươi cây số trên chiếc xe đạpcà tàng, đến bến cảng Sàigòn phía nam thàng phố, chờ chực tranh nhau mua/lượmcác loại phế liệu mang về giao cho các lò ve chai tận phía bắc thành phố, miệtHốc Môn Củ Chi.

ĐènĐa Kao mờ tối một lúc. Rồi điện cúp luôn. Tảo ngủ vùi trên băng ghế trạm xebuýt chỗ lề đường. Bỗng hắn nghe một câu chửi thề: “Đù mẹ thằng thầy chùa ngũ sắctí hon này nhường cái băng đá cho tao ngủ chút coi.” Tảo chưa kịp phản ứng đã bịthằng to bự đá văng xuống nền mưa lạnh nhơm nhớp bùn đất. Thằng to bự vật ngaymột đứa con gái đi cùng xuống cái băng đá, lột quần. Rồi hắn đút cái gì ấy vàocửa khẩu con nhỏ. Con nhỏ cười trong đêm ma” (tr. 114).

Ngườiem Việt-kiều Jim trở về tìm máu mủ, khi sắp gặp lại thì Tảo đã vừa bị bọn gianghồ giết, cũng vì giành nhau kiếm ăn và chỗ ngủ. “Xưa kia, ở vùng C., thằng bé Tảo từng chứng kiến một bọn người mắng mộtcon người là thú; rồi cùng nhau giết người bị mắng nhục không nương tay. Hômnay một đứa có tiền án giết người cướp của, đồng lõa với một tập thể cùng khắpthượng tầng, đã hạ thủ một người dám mắng chúng: “Mày là thú trong lũ thú”“ (tr.123).

Chuyệnđã được viết ra, nhưng vẫn có những sự thật bên kia bờ mà ở bên này chưa chắcđã rõ, ngay cả văn chương cũng khó lột tả hết sự thật. Theo Cung Tích Biền, “Vănchương, khó thể lột tả tận ngọn nguồn, dẫn tới. Chỉ ra chỗ di căn của hoạn nạn,hố thẳm của đọa đày trong kiếp con người, như tiểu thuyết phô bày, dù dưới ngòibút của một nhà văn đầy tài năng. Chữ nghĩa cổ kim chỉ mô tả cái vỏ của từng sốphận con người. Lắm khi tô màu một cách vô tội vạ lịch sử, chỉ làm con người mủilòng, khóc đau chốc lát, hoặc kiêu hãnh trong ngu mê dại muội, mà thôi. Mỗi việcriêng của thằng điên Tảo, hậu trường chưa muốn khép. Nó mở dần, mở dần nhữnghang động” (tr. 98, 99).

Trongliên-tiểu-truyện Xứ Động Vật Vào Ngôi, thời đảo điên “Xãhội trong hầm chuột hun khói. Nhân ảnh dị dạng. Mọi thứ bậc đổi ngôi. Cái gì lạlùng quái gở nhất cũng có thể thường trực xảy ra (...) Không có gì phải đaulòng, là đáng ngạc nhiên cả. Đó là chuyện thường ngày trên một xứ Rồng Tiên mọisinh họat xã hội đang bình thường lật ngửa, bỗng nhiên nhào đầu, lật úp cái rụp.Bộ não đang dạng tươi, bỗng một chiều được sấy khô giống nhau, trong cái lò bátquái. Một người bị nhức đau hàm dưới, nha sĩ - từng có hơn ba cái bằng tuyêndương chống Mỹ - nhổ một lúc sáu cái răng hàm trên, cả răng cấm. Bệnh nhân trợnngược mắt trắng, giãy đành đạch bất tỉnh, giống con cá lóc bị đập đầu trước khihy sinh cho bàn nhậu...” (tr. 139).

Qua cái Chết và những con người chết, Cung Tích Biền muốn mổ xẻ lịchsử cận và hiện đại. Khúc,một kiến trúc sư nay ngoài 30 tuổi, vào năm lên tám, từng “tình cờ thấy một ngườiđàn ông nhàn nhã giết vợ mình”, mà lại có những nạn nhân kỳ lạ: “Người bị giếtchừng như sẵn sàng, âm thầm thụ hưởng, như được ban một chung nước thánh”,làm như “để thoát khỏi Xứ-Toàn-Chuồng, con người có một phản ứng tuyệt vọng,như một hội chứng, rất mực phản kháng cái gọi rằng Khí-hậu-động-vật”. Người tadùng chính sinh mạng thân ái để giải quyết, chung chi cho một rủi may lúc hỗnmang” (tr. 133-4). Một “người đàn ông khởi đầu cuộc tháo rời một con người”- một người chồng muốn “tháo lồng tử sinh” cho vợ mình mà ông “từng ôm nựnghôn hít làm tình” (tr. 151). Người đàn ông sau đó bỏ các phân mảnh ngườivào bao bố “nhân ái” rồi “cất công” đi bỏ phân tán mỗi góc phố xa cách nhau mộtphân mảnh. “Nhản hiệu chính là Máu. Nỗi đau, cái Nhục phải được nhân gian nhậndiện, không lập lờ. Ông định lấy viết ghi tên trên mỗi chiếc bao:

“Phải có tiếng nói. / Không hề vô danh.
Không thể không tháng ngày.
Cuộc tự xử này không mang tính huyền thoại.
Nó là có thật trên một quê hương có thật,
đựợc tác dựng bởi một hành sự mang tính gội rửa, tháo gỡ.”
“Sống nơi này Sống cách nào cũng là một cách Chết”
(tr. 158).

Giếtvợ xong ông mới nhìn thấy đứa nhỏ 8 tuổi nhưng không nỡ giết - “Không. Nó phảiSống và phải Đợi chờ”. Ông rời nhà, bỏ Khúc lại, dặn tìm người nhàkhác; Cung Tích Biền đặt tựa cho câuchuyện là Hành Trình Minh Triết.

Ngườiđàn ông vào tù chung thân, nay thành một ông lão tâm thần, suốt ngày “vớihàm răng rụng sạch, chỉ còn hai cái lợi hôi hám, màu thịt tim tím, lão già ra sứcgặm một cục đá to bằng nắm tay. Lão thè lưỡi liếm đá. Nụ cười trắng, lão nói nướcchảy đá mòn mà con ... ‘cha liếm đá cho mòn, cho nhỏ nhỏ nỗi đau’ “. Khúcthăm nuôi, được ông xác nhận làm đúng năm xưa: “Ta đã nói rồi, ta chỉ thanhlý cái Đã-Bị-Giết. Những Công dân Xác chết. Ta không chịu được quanh ta đầy hơithở một nhung nhúc thây người. Lạy Cha, con không là thần tiên (...) Conơi tao là cha mày. Tao từng ngồi nhẵn ghế nhà trường, đã ung vữa đôi mắt vì chữnghĩa thánh hiền.Tao hiểu cái đời hạ ngươn này từ khi các hiện tượng càn khônthoạt nảy sinh từ phôi. (...) Cũng như mày không thể nào hiểu vì sao mộtkẻ sát nhân, sát từng bộ phận, giết từng con vi khuẩn trong xác người thân yêunhư tao, hãy còn vừa đang thở lại vừa đã chết trên cái Xứ-Toàn-Chuồng này. (...)Vì bọn khát máu giết triệu người chỉ xem như một rủi may lịch sử. Nó giết chụctriệu người không hề bị quy tội sát nhân. Tao giết một người, dù không thể cònmột giải pháp nào khác, cũng đã đủ sức nặng rơi tõm xuống địa ngục. Nhưng số mệnhđểu cáng không cho tao vé tàu. Chúng bỏ tao lại trên một cõi đất vừa trơ trụi vừarợn người này. Chúng hiểu rõ là tao sẽ bị băm vằm dưới nhiều hình thái vi diệukhác, lâu dài và hờ hững dưới bóng trời nghi hoặc này. Cái ngày Hôm qua, Hômnay, và mãi ngày Hôm kia sẽ đến, chúng đốt lửa người...” (tr. 161-162) –Ông sẽ chết, “tắt thở vì một cục đá tròn trĩnh chẹn ngay ở cổ họng. Thay vìnghẹn cơm ông ta nghẹn đá”!

ỞHàn Chính Khúc phát triển thuyết lý “minh biện” về Mùi: “Có phải vì mùi màcó những cái chết kia không? Có phải vì thương yêu mà kẻ thân yêu bị tàn sát?Và muốn trọn vẹn nên phải nhai nuốt cái đau thương mang hình hài kia không?”.Nhân vật “tôi” thì nghĩ rằng: “Như thế, “không đành lòng” thì phải giết ngườisao? Tôi đồng ý rằng khác mùi thì khó thể hòa đồng, mùi vô sản hay tư bản? Tôihiểu, tôi chia xẻ cái tang chế bất khả tư nghị của người cha giết vợ. Nhưngluân lý đã đóng đinh lên thuờng hằng, rắng anh có quyền tự hủy nhưng không cóquyền hủy một con người. Cái quan điểm xem con người là phương tiện, hay giảipháp e rằng không nhân văn tí nào. Cứ lùa người vào chỗ chết hàng loạt, cứ cứucánh biện minh cho phương tiện, cái đó chúng ta hình dung ra sức mạnh của một bọndã thú” (tr. 164).

TheoCung Tích Biền, “Nỗi đau đã biến thành Mùi”: “Mùi Mậu thân tre trúc che chắn.Nhưng chiếc mành thời gian không lọc được mùi. Tàn tật có thể hàn gắn. Chết chóccó thể giải thích. Mùi, nó nghìn thu”. Và Mùi Tự do bị thiêu cháy” gâyhoang mang “Tự do bị thiêu cháy. Nó là ánh-sáng-mùi tệ hại nhất trong vạnmùi. Nó ở mãi với bao la” (tr. 165, 167). Miền Nam đã trở thành “cái lồngcu ngột ngạt” và cuối chuyện thêm một xác người phân mảnh, được xem như một “cuộctrở về – không là tái sinh - của Nàng khá ly kỳ. Cái đầu, chỗ công viên, về trước.Hai cánh tay thiếu bàn tay về sau một chút. Một ngày rưỡi sau Nàng về tạm đủnhưng còn thiếu quả tim. Hai bàn chân về sau cùng. Nàng chậm chạp và khiếm khuyếtnhư Lịch sử. Cái được gọi là Lịch sử giống nòi tôi luôn là một bất toàn cho bấtcứ ai, và luôn là một Mong Đợi Hạnh phúc cho tới giờ nhắm mắt mỗi đời người...”(tr. 180).

ỞCung Tích Biền, văn-chương về cái Chết là một thứ văn không yên ổn, vì con ngườibị bứng ra khỏi đất, từ một thế giới chuyển qua thế giới khác, cõi sống/cõi chết,từ một hiện hữu bình thường đổi sang một thể-trạng không thể định nghĩa, từ “tobe” sang “not to be” (“đổi sang từ trần”). Cái Chết nói chung xưa nay vẫn là mốikinh hoàng, là nỗi sợ chính của con người : sợ cõi lạ, cõi hư vô không thể biếtvì không thể có kinh nghiệm khi sống, khi còn ở một trạng thái trước, khác. Tuytừng được xem là một cấm-kỵ, nhưng tabou cái Chết không là một đối tượng, mà làmột thứ trực giác, cảm nghiệm cá nhân. Cái Chết là một biểu tượng, là một chấmdứt; nhưng vì không phải là mục-đích tự thân, cái Chết không phải là hết, là kếtthúc một cuộc đời hay cái gì, mà là một bắt đầu khác, một sự sống khác tùy theocách cắt nghĩa của các tín ngưỡng, tin tưởng (Thiên đàng, Vương quốc trí tuệ,Trí huệ, Cõi sống đích thực!).

CáiChết nặng nề và thường trực với Cung Tích Biền; cái Chết luôn có mặt ở đó, nhưmột chứng cứ không thể bác được về những tàn độc của một loại người và sự philý của cuộc sống, của một cuộc chiến. Cái Chết và những cách/kiểu chết là nhómchủ-đề mà Cung Tích Biền đã đưa đến cho sáng tác văn-chương của ông cái nhạy-cảmrất hiện đại và một trực giác hiện sinh, thực hữu: cái Chết có mặt trong cáctruyện, trong dàn dựng hình thức, nội dung cũng như tâm lý các nhân-vật chủ chốt.

Liên-tiểu-truyện Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ ba phần chuyệnlão Kiên, như một giải thích phân tâm về cái Chết oan trái của tha-nhân, ngườikhác. Cái Chết trở thành một đối đầu bi thảm, một thất bại, một bất công tuyệtđối, nhưng đồng thời cái Chết khiến cho cuộc sống có ý nghĩa, giá trị và cuốicùng, sự khẩn thiết phải sống và hiện hữu! Không phải vì chết mà Cung Tích Biềnnghĩ đến cái Chết, chính ra là để vượt qua cái Chết và sống! Ông đã nói đến cáiChết như là quên lãng của thân xác và có những cái Chết khiến cho cuộc sống cóý nghĩa.

Conma đàn bà tên Bóng sẽ quấy rầy lão suốt hành trình tàu đường sắt xuyên Việt, “CáiBóng đen hóa thực. Vẫn ngồi đây. Một trực diện. Mà mâu thuẫn đồng hành”. Lãodù thức, ngủ đều khó khăn nhận ra chân, hư và “ác mộng là của riêng mình, làbạn lữ, là bệnh, là thường trực cái bóng đen lơ lửng, to lớn. Nó huyễn hoặc. Nólẫn pha giữa cái thực và ảo giác. Nỗi đau nhức không rời trên sân khấu tồn tại.Lão phải thường trực đánh vật với ranh giới thực, mộng. (...) Làm saolão có thể tự khấu trừ những trò hư ảo tàn phá, ăn sâu át-xít vào những thángnăm xương máu có thực, đời lão. Khấu hao xong những trò vong mạng phung phí, đờilão chẳng còn gì. Một cục cứt trôi sông. Mà con sông lịch sử chẳng hiền hòachi. Nó đánh tan tác không còn một-đơn-vị-cứt-nào-được-riêng-cục-hòn. Tất cảhòa thành bãi rộng bùn hôi. Tập thể. Tăm tắp. Tất cả là một mênh mông hư huyễn”(tr. 188, 189).

Hóa ra “Kiên đã ngụy trang, đã trung hòa nỗi nhục riêng tư, vợ ngoại tình, vào mộtnỗi nhục lớn hơn. Ông đã bỏ một con sâu nhỏ vào cái môi trường nghìn triệu sâubọ, rồi phong kín, tô vẽ và tôn xưng nhãn hiệu. Cái lý tưởng nào vĩ đại đủ chebóng, hào nhoáng cho lớp sâu trùng đen. Cái lăng tẩm tổ tiên vua chúa nào rựchào quang trang nghiêm để cứu chữa, rửa sạch ung thư cho những thế hệ bị lừa.Những thế hệ lừa đã biến thành sói, cực hung hăng trong hoang mạc đồng loạiToàn-Chuồng”. Ông tự hối với con ma Bóng: “Bây giờ có thể chồng bà đã hiểura là có những nỗi nhục gấp nghìn lần cái nhục bị vợ cắm sừng. Con mụ vợ đưa đồcho thằng khác xài là chuyện nhỏ. Cả một dân tộc này bị lôi lên giường gian dâmvới những tên đồ tể, bị hôn mê bởi những lời dụ dỗ, bị chủ thuyết hôn ám ma đưalối quỷ dẫn đường. Nhục thời thế chẳng hạn. Nhục mình hát ru, tự lừa phỉnh đểtiêu pha vô nghĩa cả sinh mệnh riêng mình chẳng hạn” (tr. 192).