Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

873. Tranh Đinh Cường: Phác thảo chân dung Lãm Thúy.

Phác thảo chân dung Lãm Thúy
Tranh Đinh Cường - 26.10.2014

872. LÃM THÚY (1952-2026): 5 BÀI THƠ

Phác thảo chân dung Lãm Thúy
Đinh Cường (26.12.2014)

MÙA ĐÔNG ĐẤT KHÁCH
 
Buổi sáng uống ly trà lạnh
Nghe mùa đông chợt dài hơn
Chiều về nghe chim vỗ cánh
Chạnh lòng ta nhớ cố hương
 
Chẳng biết xưa người lữ khách
Châm điếu thuốc buồn ra sao?
Chẳng biết xưa nơi đất Trích
Tráng sĩ sầu như thế nào?
 
Chỉ biết ta buồn quá đỗi
Ngó mây bay cũng nhớ nhà
Đêm nằm, lặng nghe gió thổi
Thương gì thương đến xót xa !
 
Nhiều khi thoáng nghe đâu đó
Mùi hương  nguyệt quế trong vườn
Nhiều khi trên từng lá cỏ
Chở đầy nỗi nhớ quê hương
 
Nhớ nhánh sông mùa nước lũ
Nhớ bờ lau sậy lưa thưa
Nhớ cây Bằng lăng vườn cũ
Mương bèo, rụng tím mùa hoa
 
Chiều lạnh, mùa đông đất khách
Thương cha, nhớ mẹ, nghẹn ngào
Chẳng biết chim nào chim Vịt
Kêu chiều, thảm não như nhau.
 
ĐÊM Ở SÀI GÒN QUÁN
Đêm ở Sài gòn Quán
Gặp gỡ người tài hoa
Nghe Đinh Cường khen tặng
Thơ Mẹ, tình thiết tha.
 
Cảm ơn Nguyễn Minh Nữu
Và Mai, cô vợ hiền
Nhắc chuyện mười năm cũ
Đọc câu thơ hồn nhiên ( 1 )
 
Nghe chuyện Kim Các Tự
Nhà sư trẻ đốt chùa
Cảm ơn anh Trương Vũ
Nói những điều sâu xa…
 
Xưa, thuở còn trẻ dại
Đọc.  Chẳng hiểu chi nhiều
Chỉ biết nhà sư ấy
Chà đạp người diễm kiều
 
Phải chăng vì quá yêu
Người ta muốn hy diệt
Để muôn đời mang theo
Sâu kín niềm tưởng tiếc?
 
Cảm ơn Phạm Cao Hoàng
Tiếng trầm như nốt nhạc
Thắp lên niềm hân hoan
Giữa miền sầu chất ngất.
 
Đọc mấy câu “Tàn Thu” ( 2 )
Hỏi người bao nhiêu tuổi?
Hăm mấy mà làm như
Hơn nửa đời tàn rụi!


Đêm ở Sài Gòn  Quán
Nói chuyện thơ, chuyện người
Với chị Sơn mới gặp
Mà như quen lâu rồi
 
Về một mình, đêm lạnh
Gió thu làm bâng khuâng
Nghe niềm vui chắp cánh
“Chắt chiu những ân cần”.
 
Maryland 17-11-2014
( 1 ) Thơ Lãm Thúy:
Sáng nay thức dậy hết hồn
Người xa ta vạn dặm đường, còn đâu.
( 2 ) Thơ Phạm Cao Hoàng:
Ngậm ngùi nghe gió mùa thu tạt.
Ngó lại đời ta đã nửa đời
 
THƯ CHO ÚT PHỦ


Từ lâu. Chị vẫn thường ấp ủ
Những mong nói với Út đôi lời
Anh chị bây giờ xa cách cả
Chuyện nhà, trông cậy Út mà thôi
 
Chị biết lắm khi em bực dọc
Thân trai tù túng việc tề gia
Em ơi! Hãy nhớ niềm lao nhọc
Một đời. Cha mẹ đã vì ta…
 
Em còn trẻ quá, cần bay nhảy
Nuôi người bệnh hoạn. Dễ gì đâu!
Khổ nỗi, nhà mình đơn chiếc vậy
Không nhờ em, còn biết làm sao?
 
Cha mẹ già thường sinh cáu gắt
Cũng đừng hờn giận. Chị xin em
Mỗi ngọn lửa hờn em dập tắt
Là một hồng ân trên phước duyên.
 
Người bảo: Hai vai ta dẫu cõng
Mẹ cha đi khắp cả tinh cầu
Cũng chưa đền được ơn sâu nặng
Huống gì nhịn nhục một đôi câu…
 
Em còn được ở bên cha mẹ
Là phước ngàn đời. Em biết không?
Lỡ khi ngày tắt, chiêu dương xế
Đời ta. Bóng tối sẽ vô cùng!
 
Ai không được ở gần cha mẹ
Là mất đi suối mật, rừng hương
Là nỗi thiệt thòi không xiết kể
Là niềm bất hạnh, là tai ương!
 
Chị vốn không may: đời bạc phước
Tự năm mười tuổi đã xa nhà
Tuổi thơ thiếu mẹ sầu như nước
Bao chiều ngồi khóc, ngó về xa…
 
Thảm cảnh. Làm sao em hiểu được
(Một đời bên gối mẹ nâng niu!)
Có đâu như chị mười năm ngót
Thiếu vắng vòng tay mẹ sớm chiều…
 
Thuở ấy, mỗi năm về hai bận
Hè đi. Đợi mãi tận sang xuân
Ngày vui bên mẹ sao mà ngắn
Mỗi lần đi, đứt ruột một lần!
 
Những sớm còn vương hơi ấm mẹ
Còi xa. Tàu dã giục lên đường
Hành trang trĩu nặng vai thơ trẻ
Ngập ngừng chân bước, lệ tuôn tuôn…
 
Những cuộc chia ly về sáng ấy
Buồn không thể tả. Buồn vô biên.
Ba mươi năm. Giòng đời trôi chảy
Niềm rưng rưng ấy vẫn còn nguyên
 
Đời chị có bao lần chia biệt
Đã trăm lần tiễn, vạn lần đi
Nhưng hồi còi cũ buồn thê thiết
Của chuyến tàu khuya còn khắc ghi.
 
Đời.  Qua bằng những lần ly biệt
Kéo dài như thế suốt mười năm
Trở về bên mẹ. Vui chưa hết
Lại lấy chồng. .Xa đến mấy lần!
 
Mười năm, cũng bởi đời dâu bể
Được về nương náu với từ thân
Mười năm. Chị nuốt bao nhiêu lệ
Bởi đời cay đắng, bởi thăng trầm!
 
Rồi lại thêm lần chia biệt nữa
Ngày đi. Ôm mẹ, chẳng đành buông
Cứ xa thêm mãi, giờ xa quá
Tính lại đường bay, chợt hết hồn!
 
Đã muôn trùng vậy, làm sao gặp?
Nửa vòng trái đất_ mấy trùng dương…
Nhớ nhà, ra đứng trông trời đất
Đâu biết phương nào vọng cố hương!
 
Anh chị mỗi người đi mỗi chỗ
Nhọc nhằn phụng dưỡng để mình em
Ơn ấy ngàn đời xin ghi nhớ
Chưa biết làm sao để đáp đền.
 
Chị biết:  em là người hiếu đạo
Không nề khó nhọc, chẳng than van
Nói đây, không phải lời khuyên bảo
Tự dưng tâm sự bỗng tuôn tràn
 
Có lẽ chiều nay trời trở lạnh
Xui lòng nhớ quá nắng chiều quê
Xót Út chốn quê mùa quanh quẩn
Trách nhiệm hai vai gánh nặng nề
 
Út à. Giờ cha già mẹ yếu
Chuyện nhà phó thác một tay em
Nhân sinh hữu hạn, mong em hiểu
Gắng giữ giùm nghe, những ngọn đèn!
 
TỪ NAY THẾ GIỚI VẮNG ĐINH CƯỜNG


Chị Ý báo tin buồn. Thứ bảy
Lặng người không nói . Nói gì hơn?
Anh không ở nữa thì thôi vậy
Từ nay thế giới vắng Đinh Cường!
 
Có nghĩa là không còn nét vẽ
Những người thiếu nữ dáng như mơ
Những người thiếu nữ xanh như liễu
Rất mỏng manh và rất đỗi Thơ!
 
Có nghiã từ đây Sài Gòn Quán
Sẽ trống đi thêm một chỗ ngồi
Gặp nhau , dù có bao nhiêu bận
Không ai còn có thể nào vui!
 
Sẽ nhớ , dù sức tàn , lực kiệt
Cũng gom tàn lực để mà đi
Cố đến cùng bạn bè thân thiết
Chua xót nhìn nhau biết nói gì?
 
Có nghiã lần sau ra mắt sách
Không còn ai viết tặng bài thơ
Nét vẽ vội vàng trong khoảnh khắc
Gói lòng trân quý có ai ngờ!
 
Có nghiã từ đây trên kệ sách
Những người thiên cổ đã tương phùng
Chỉ có riêng mình ta thống trách
Giận rằng không gặp lúc lâm chung!
 
Giận không gửi bài thơ viết sẵn
Bây giờ còn biết gửi cho ai ?
Bảo biết lâu rồi đời ngắn lắm
Vậy mà để muộn mãi không hay!
 
Đêm nay gió lạnh nhiều , Anh ạ
Mở cửa ra nhìn bông tuyết bay
Chợt nhớ , lòng sao sầu thảm quá
Chỗ ấy đêm nay chắc lạnh đầy!
 
Cõi ấy , một mình đêm buốt giá
Từ nay sẽ lạnh đến thiên thu
Nhưng niềm thương tiếc bao la quá
Mong ấm lòng Anh cuộc viễn du.
           
January 12, 2016
 
MẸ ƠI, VĨNH BIỆT


Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!
 
Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!
 
Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…
 
Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!
 
Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!
 
Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!
 
Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!
 
Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!
 
Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!
 
Lãm Thúy 

                           

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

TIN BUỒN: NHÀ THƠ LÃM THÚY ĐÃ ĐI XA,

                      Nhà thơ LÃM THÚY  ( 1952-2026)

TIN BUỒN.

Tin mới nhận, Nhà thơ Lãm Thúy, một tác giả rất quen thuộc với giới cầm bút Hoa Kỳ vừa đột ngột rời xa chúng ta ngày hôm qua. Bản tin ngắn do Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ vừa thông báo ngắn rằng:

"Vô cùng đau buồn thông báo đến tất cả anh chị em trong GIA ĐÌNH VBVNHN VÙNG ĐÔNG BẮC HK:

Thủ quỹ LÃM THÚY một hội viên tài năng, dễ thương, hiền hòa thân yêu của chúng ta đã ra người thiên cổ. LÃM THÚY đã đột ngột bỏ chúng ta ra đi một cách bất ngờ. Tuy LÃM THÚY bỉ bệnh đã lâu nhưng vẫn OK KHÔNG CÓ DẤU HIỆU GÌ ĐỂ CÓ THỂ NGHĨ LÀ LÃM THÚY SẼ BỎ CHÚNG TA RA ĐI NHANH CHÓNG , BẤT NGỜ NHƯ VẬY.

Xin các anh chị cầu nguyện cho LÃM THÚY được về cõi niết bàn. Có CÁO PHÓ hoặc tin tức gì thêm HT sẽ xin thông báo tiếp.Thân mến

Hồng Thủy".

 Chúng tôi đang chờ tin tức cụ thể và cáo phó của gia đình.

Chân Thành chia buồn cùng tang quyến và thương tiếc tiễn đưa một bạn văn thân thiết vừa rời xa chúng ta .


Nhà thơ Lãm Thúy
Photo by PCH - New Jersey, tháng 5.2017

                                                MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA 
                           Nhà thơ LÃM THÚY  ( 1952-2026)


871. TRÚC TIÊN ( PARIS) Ngồi quán cà phê Paris,

                                                            


                 

Ngồi quán cà phê Paris, 

người ta có thể một mình mà không cô độc.” 

– Jean-Paul Sartre. 

 

Có lẽ vì thế mà nhiều người rời Paris rồi vẫn nhớ những quán cà phê của thành phố này. Không phải vì ly “café noir” nhỏ trên bàn, mà vì cảm giác được ngồi thật lâu giữa đời sống đang trôi qua trước mắt mình. Một người ngồi xoay nhẹ tách cà phê trong tay. Một ông lão im lặng bên tờ báo sáng. Những chiếc ghế quay ra vỉa hè như thể điều quan trọng nhất không nằm trong quán, mà là thành phố ở phía trước mặt.

Và có lẽ, chính trong những khoảnh khắc rất bình thường ấy, người ta hiểu Paris nhiều hơn bất kỳ cuốn sách hướng dẫn du lịch nào.




“Nếu tuổi trẻ của bạn từng thuộc về Paris, thì suốt phần đời còn lại, Paris sẽ luôn ở trong bạn”. Ernest Hemingway                

Những chiếc ghế luôn quay ra đường

Buổi sáng ở Paris bắt đầu khá chậm. Khoảng tám giờ, các quán cà phê quanh boulevard Saint-Germain bắt đầu đông dần. Người phục vụ kéo ghế ra ngoài terrasse, lau những chiếc bàn tròn còn lạnh hơi sương đêm. Một ông lão mang theo cuốn tiểu thuyết còn gấp dở dưới cánh tay. Một cô sinh viên đặt máy tính xuống bàn rồi gọi café crème. Một người đàn ông mặc vest đứng uống nhanh ly espresso ở quầy rồi đi mất.

Cà phê Kléber – place Trocadéro

Nhưng cũng có những người ngồi lại rất lâu. Điều đặc biệt ở các quán cà phê Paris là cách người ta nhìn ra phố. Những hàng ghế ngoài terrasse gần như luôn hướng về phía dòng người qua lại, nơi tiếng xe buýt, tiếng giày trên vỉa hè và những cuộc trò chuyện nhỏ hòa lẫn vào nhau. Thành phố trở thành một phần của quán cà phê – hay có lẽ, quán cà phê chỉ là một cách khác để ngồi giữa thành phố.

Những chiếc ghế luôn quay ra đường…

Một tách cà phê kéo dài cả buổi sáng

Paris không hẳn có cà phê ngon nhất thế giới. Người Ý có thể phản đối. Người Việt Nam chắc cũng không đồng ý. Nhưng điều Paris có, là nghệ thuật ngồi với ly cà phê của mình. Một tách espresso nhỏ có thể nằm trên bàn suốt cả tiếng đồng hồ. Người phục vụ không thúc giục. Không ai nhìn người khác khó chịu vì ngồi quá lâu. Dường như ở đây, thời gian được kéo dài ra thêm một chút.

Café Central – 40 rue Cler – Paris 7

Có lần tôi ngồi gần hai tiếng ở một quán nhỏ gần Café de Flore. Bàn bên cạnh là một cô gái trẻ đang đọc tiểu thuyết. Cô gần như không gọi thêm gì ngoài một ly cappuccino đã nguội từ lâu. Thỉnh thoảng cô ngẩng đầu nhìn dòng người ngoài phố vài giây rồi lại cúi xuống đọc tiếp. Không ai làm phiền cô. Không ai hỏi vì sao cô ngồi lâu đến thế. Ở nhiều thành phố khác, việc ngồi lâu như vậy dễ khiến người ta cảm thấy áy náy. Nhưng ở Paris, đó gần như là chuyện bình thường.

“Paris lúc nào cũng là một ý tưởng đẹp” – Audrey Hepburn

Những quán cà phê và giới văn nghệ sĩ

Từ rất lâu, quán cà phê ở Paris không chỉ là nơi để uống cà phê, mà còn là nơi để viết, để tranh luận và trao đổi ý tưởng. Có những bài báo, bản thảo văn chương, thậm chí cả tư tưởng chính trị đã từng được bàn luận quanh những chiếc bàn nhỏ ngoài vỉa hè, giữa tiếng muỗng chạm vào thành tách và dòng người qua lại ngoài phố.

Cà phê Flore lúc 10g sáng

Café de Flore – nơi người ta ngồi để suy nghĩ: Café de Flore ra đời từ cuối thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là một quán cà phê nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés. Nhưng theo thời gian, quán dần trở thành điểm hẹn của giới văn nghệ sĩ và trí thức Pháp. Sau Thế chiến thứ hai, Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường ngồi ở đây hàng giờ để viết, tranh luận và nhìn dòng người qua lại ngoài phố.

Điều đặc biệt ở Café de Flore không chỉ nằm ở lịch sử hay những tên tuổi từng ngồi ở đó, mà ở cảm giác quán gần như không thay đổi giữa một Paris luôn chuyển động. Mái hiên đỏ, những hàng ghế sát boulevard Saint-Germain, ánh đèn vàng bên trong – tất cả vẫn giữ lại không khí của một Paris trí thức và văn chương xưa cũ.

Người ta đến Café de Flore không hẳn để tìm một ly cà phê ngon nhất Paris, mà để ngồi giữa một nơi từng chứng kiến biết bao cuộc trò chuyện, bản thảo và suy nghĩ đã đi qua thế kỷ XX.

Les Deux Magots là hiện thân của một Paris văn chương và quán cà phê. Mở cửa từ năm 1885

Les Deux Magots – quán cà phê của văn chương: Chỉ cách Café de Flore vài bước chân là Les Deux Magots. Tên quán nghe lạ. “Deux Magots” nghĩa là “Hai pho tượng Trung Hoa”, vì bên trong quán từng có hai pho tượng trang trí từ thời nơi này còn là một cửa hàng bán lụa phương Đông. Nhưng theo thời gian, cái tên kỳ lạ ấy lại trở thành một phần lịch sử văn học Pháp.

Trước chiến tranh, nhiều nhà văn và nghệ sĩ đã chọn nơi này làm điểm hẹn: Ernest Hemingway, Pablo Picasso, Albert Camus… Khác với Café de Flore có vẻ trí thức và chính trị hơn, Les Deux Magots mang không khí văn chương rõ hơn. Người ta đến đó để viết, để đọc, để ngồi nhìn mưa rơi trên Saint-Germain trong nhiều giờ liền.

Đến nay, quán vẫn trao giải văn học Prix des Deux Magots hằng năm – như một cách giữ lại mối liên hệ giữa quán cà phê và văn chương Paris.

Hai pho tượng Trung Hoa ở Les deux Margots

La Closerie des Lilas – nơi Ernest Hemingway từng viết: Nếu Saint-Germain là khu của những triết gia và trí thức Pháp, thì La Closerie des Lilas lại thuộc về các nhà văn Mỹ lưu vong đầu thế kỷ XX”.

Nằm gần Montparnasse, quán từ lâu đã là điểm hẹn của nhiều nhà văn và nghệ sĩ thế giới. Người ta vẫn còn giữ nguyên chiếc bàn Hemingway từng ngồi viết, với một tấm bảng đồng nhỏ khắc tên ông trên mặt gỗ sẫm màu.

Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở chiếc bàn ấy, mà ở ý nghĩ rằng giữa một quán cà phê rất bình thường của Paris, một phần văn học thế kỷ XX đã từng được viết ra trong mùi cà phê nóng và khói thuốc lá.

Closerie des lilas 1900 và ngày nay

Le Procope – quán cà phê lâu đời nhất Paris: Ra đời từ năm 1686, Le Procope thường được xem là quán cà phê lâu đời nhất Paris. Vào thế kỷ XVIII, khi cà phê còn là một thức uống mới lạ ở châu Âu, Le Procope đã trở thành nơi gặp gỡ của giới triết gia thời Khai sáng.

Voltaire, Jean-Jacques Rousseau hay Denis Diderot từng ngồi ở đây tranh luận về tự do, lý trí và xã hội. Có một chi tiết rất Paris: nhiều ý tưởng về Cách mạng Pháp đã từng được nói ra trong các quán cà phê trước khi xuất hiện ngoài quảng trường. Ở Paris, quán cà phê không chỉ là nơi nghỉ chân. Nó từng là nơi người ta nghĩ về cách thay đổi thế giới.



Le procope đầu thế kỷ 19

Ở khu Montparnasse, Le Dôme Café từng là điểm hẹn quen thuộc của giới họa sĩ và nghệ sĩ nhập cư đầu thế kỷ XX. Amedeo Modigliani, Marc Chagall hay nhiều họa sĩ trẻ nghèo thời ấy thường ngồi ở đây suốt nhiều giờ với rất ít tiền trong túi. Paris khi ấy không chỉ là thành phố của ánh sáng, mà còn là nơi người ta mang theo giấc mơ nghệ thuật của mình để sống, dù nghèo đến đâu.

Le Dome 2026

Còn La Rotonde, với những hàng ghế đỏ đặc trưng ở boulevard du Montparnasse, từ lâu đã gắn với không khí bohemian của Paris đầu thế kỷ XX. Người ta kể rằng chủ quán từng cho các họa sĩ nghèo ngồi lì hàng giờ chỉ với một ly café, thậm chí cho họ ký nợ bằng tranh vẽ. Nhiều bức tranh ngày ấy về sau lại trở thành tác phẩm có giá trị lớn.

Le Dome 1928

Dọc theo bờ Seine, những quán cà phê nhỏ nối tiếp nhau dưới hàng cây. Vào cuối buổi chiều, khi ánh sáng bắt đầu đổi màu trên mặt nước, người ta ngồi ở đó rất lâu – trước một ly vang, một tách espresso hay chỉ để nhìn những chiếc bateau-mouche chậm rãi đi qua.

Café La Rotonde – Paris 6

Ở khu Saint-Michel hay gần Ile de la Cité, nhiều terrasse mở thẳng ra phía sông. Từ đó có thể nhìn thấy những nhịp cầu đá, những quầy sách cũ màu xanh của các bouquinistes dọc bờ Seine, và phía xa là bóng Notre-Dame hiện lên giữa trời chiều.

Amedeo Modigliani, Pablo Picasso và André Salmon trước quán cà phê La Rotonde năm 1916

Paris có một từ rất đặc biệt: flâner. Khó tìm một từ tiếng Việt thật tương đương. Nó không hẳn là đi dạo, cũng không phải lang thang. Đó là cách bước chậm lại để nhìn, để quan sát, để thành phố tự hiện ra trước mắt mình mà không cần một mục đích rõ ràng. Những quán cà phê Paris dường như sinh ra cho điều đó. Người ta có thể flâner ngay cả khi chỉ ngồi yên trước một tách cà phê và nhìn phố xá trôi qua.

Bouquiniste paris 1900

Thành phố như một sân khấu nhỏ

Ngồi ở terrasse một quán cà phê Paris vào cuối buổi chiều, người ta bắt đầu hiểu vì sao thành phố này sinh ra nhiều nhà văn đến thế.

Ngoài kia, đời sống đi qua liên tục như một bộ phim không có kịch bản. Một người phụ nữ ôm baguette bước nhanh dưới hàng cây. Một ông lão dắt chó đi dạo. Một người kéo violin ở góc đường. Một đôi tình nhân cãi nhau rất khẽ rồi im lặng nhìn nhau.



Bouquinistes paris 1934

Người ngồi ở quán không cần tham gia vào tất cả những điều đó. Chỉ cần nhìn. Có lẽ chính từ những khoảnh khắc rất nhỏ ấy mà văn chương Paris được tạo ra.

Nghệ thuật ở một mình giữa đám đông

Có một điều rất Paris: người ta có thể một mình mà không cô độc. Trong những quán cà phê ngoài vỉa hè, giữa dòng người đi ngang và tiếng phố chậm rãi trôi qua, mỗi người dường như vẫn giữ được cho mình một khoảng riêng rất yên tĩnh.

“Cà phê làm thơm mọi khoảnh khắc của cuộc đời” – Honoré de Balzac

Ở nhiều thành phố hiện đại, con người luôn bị thúc phải bận rộn và đi nhanh hơn. Nhưng ở Paris, người ta vẫn cho phép mình có một khoảng thời gian “vô ích” – chỉ để ngồi xuống, nhìn thời gian trôi qua và nghe thành phố thở quanh mình.

Có lẽ đó chính là điều làm nên vẻ lãng mạn thật sự của Paris. Có những thành phố khiến người ta muốn đi nhanh hơn. Paris, đôi khi, chỉ khiến người ta muốn ngồi xuống.

La Javelle nằm cách công viên Parc André Citroen chỉ vài bước chân, Paris 15.

 

Trúc Tiên ( Tác giả )

Paris, ngày 26 tháng 5 năm 2026