Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

819 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - THÁNG NĂM HOA TRÀN ĐỒNG

                                                                                                                  


THÁNG NĂM HOA TRÀN ĐỒNG

Tháng năm hoa nở tràn đồng, hoa vàng rực rỡ như màu nắng, hoa trồng bởi con người và hoa dại của thiên nhiên đồng khoe sắc hương. Những hạt giống ngủ trong đất từ mùa cũ hay vừa mới ươm gần đây đều bừng lên.

Tháng năm đất trời cao rộng, màu trời xanh miên viễn với mây trắng trùng trùng vô tận mặc cho cõi người ta thế sự thăng trầm đảo điên. Lòng người có loạn động thế nào thì hoa vẫn nở như đã từng từ thuở hồng hoang.

Thế sự loạn động không đến từ bên ngoài, không phải là ngẫu nhiên. Nó là hậu quả của nghiệp, là hiện tướng của tham – sân – si, nói gọn hơn nữa là vô minh. Nếu một người vô danh tiểu tốt thì tham – sân – si chỉ ảnh hưởng bản thân người ấy hay gia đinh người ấy thôi. Còn nếu là một người danh phận lớn như quốc chủ thì tham – sân – si của kẻ ấy ảnh hưởng xấu đến cả quốc gia, nếu là nước lớn thì còn ảnh hưởng đến cục diện cả thiên hạ.

Quốc chủ vô minh gây loạn động mà lại được một bộ phận dân chúng cuồng phò mê muội âu cũng là có nhân duyên với nhau. Nhà Nho nói “nhất ẩm nhất trác mạc phi tiền định” là vậy. Nhà Phật thì rõ ràng hơn, thông suốt hơn: “Cái quả hôm nay là do cái nhân từ quá khứ, cái nhân hôm nay sẽ là cái quả trong tương lai” (dục tri quá khứ nhân/kim sanh thọ giả thị/ dục tri lai thế quả/ kim sanh tác giả thị). Cực hữu da trắng, cực đoan Hồi giáo, cực tả cộng sản, cực ác phát xít…đều đem lại đau thương máu lệ cho con người. Ngay cả trong đạo cũng thế, một khi cực mê thì không thể nào giải thoát nổi. Đạo là con đường để đi đến giải thoát. Đạo là phương pháp tu hành, đạo là đức tin, là phương tiện đưa người rời bến mê…Một khi thiên lệch thì đạo sẽ lạc đường. Đức Phật đã trải qua nhiều phương pháp tu hành và cuối cùng ngài rút ra kinh nghiệm hành xác hay phóng túng đều không thể giải thoát. Kinh Chuyển Pháp Luân ghi rõ: “Này các tỳ kheo, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tranh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục lụy, phàm phu, không thanh thiện; hai là khổ hạnh cũng không thanh thiện, không lợi lạc lại khổ đau”. Nói cách khác thì cực đoan kiểu nào cũng đều không có lợi, thậm chí còn ràng buộc thêm.

Từ kinh nghiệm tu hành của mình, đức Phật phát kiến ra con đường trung đạo và thực tế cho thấy chỉ có con đường trung đạo mới có thể đi dến giải thoát. Trung đạo chính là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Người tu hành phải đi con đường này, chỉ con đường này mới có thể chuyển phàm thành thánh, chỉ có con đường này mới đi đến giải thoát. Trung đạo là phương pháp tu, là phương cách sống, lối sống không chỉ đem lại hiệu quả trong đạo mà còn cực kỳ tốt đẹp cho đời.

Chánh kiến là cái thấy biết đúng đắn, mọi vật mọi việc đều không ngoai khổ đau, vô thường, vô ngã, khổ không và Tứ Diệu Đế là căn bản…Chánh tư duy cũng trên cơ sở này, cho đến nói năng, hành động, cũng đều trên cơ sở này. Đấy chính là trung đạo trong nhà Phật, trung đạo là bát chánh đạo, là không nghiêng lệch qua hành xác hay phóng túng.

Ngoài đời cũng có thể áp dụng trung đạo, nói năng, hành động không nghiêng tả hay lệch hữu. mọi lời nói và hành động theo đúng giá trị tự do – dân chủ - nhân quyền. Tiếc thay, thế gian này khó mà áp dụng được vì lòng người vốn thiên lệch đã lâu, tâm ý con người thường tự tư tự lợi. Người nào cũng muốn lợi cho mình mà mặc kệ người khác. Quốc gia nào cũng tranh lợi về mình mà chẳng cần biết đến quốc gia khác, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ…chính vì thiếu trung đạo mà thế gian này luôn loạn động, luôn bất an, chiến tranh liên miên không dứt. Trong đạo ngoài đời đều hiếm thấy áp dụng trung đạo. Thế gian có nhiều đạo nhưng hầu như chỉ có Phật giáo mới tu trung đạo. Thế gian có nhiều quốc gia nhưng chẳng có chính phủ nào áp dụng trung đạo vào việc quản trị và giao hảo. Hễ không hữu cũng tả hay cực phái. Thế gian này có một bộ phận dân chúng sống tương đối giâu có, tự do, dân chủ, nhân quyền như các nước Bắc Âu, Tây Âu…Tất cả những gì con người đang thọ hưởng sung sướng hay khổ đau đều là hậu quả của nghiệp cũ. Từng cá nhân thì là biệt nghiệp cả tập thể thì là cộng nghiệp. Trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Điều này dễ dàng thấy được trong đời sống hàng ngày. Ví như trong một gia đình giàu vẫn có những người con khánh tận, bệnh tật và trong một gia đình nghèo hèn vẫn có người con tuấn tú, thông minh và phát triển đi lên. Trong một tập thể như một quốc gia giàu mạnh, vẫn có những người bần cùng và trong một tập thể bần cùng vẫn có những kẻ giàu sang.

824 .NGÃ DU TỬ - YÊU LẮM ĐỜI VĂN , LƯƠNG DUYÊN CÙNG HƯƠNG SEN.

                                                                        

YÊU LẮM ĐỜI VĂN

Ngần ấy đủ dài theo giấc mộng
Đếm thời gian theo góc nhớ vui buồn
Năm tháng qua vèo như cơn lũ
Còn nhớ gì không những dốc truông?

Này em, sông núi vô tình lắm
Hãy đến cùng ta chuyện gió mưa
Sông Văn vẫn chảy theo thuyền mộng
Thương nhớ còn vương ngọn cỏ đùa

Lỡ yêu con chữ từ muôn hướng
Mạnh bước đi trong mưa bão dập dồn
Trang văn còn đó theo ngày lớn
Có em về trong bóng núi hoàng hôn

Là em trang sách hồng mong đợi
Ký tự xanh rờn giữa nhân gian
Yêu em như buổi trăng vừa chín
Ánh sáng từ em gọi đại ngàn

Tháng năm nhìn lại màu mắt ấy
Thương nhớ một thời cuộc thế gian
Văn bút một đời say chữ nghĩa
Chắp cánh bay như đôi cánh chim ngàn.

LƯƠNG DUYÊN CÙNG HƯƠNG SEN

Cắm vài đóa sen hồng trong mùa Phật đản
Hương thoảng thơm ấm áp cả ngôi nhà
Nhẹ cõi lòng trước nhịp sống ngân nga
Nghe thiền vị rung lên từng nhịp thở

Mùa chay tịnh tháng tư về trước ngõ
Tâm chơn như khoác vội một cung rằm
Cả đời thường khiêm nhẫn sóng nhân tâm
Ngan ngát vọng hương từ bi phổ độ

Suốt một thời ruổi rong từng con lộ
Bàn chân hoang dạo khắp chốn nhân tình
Vẹt gót mòn nần nợ cuộc mưu sinh
Xin thâm tạ qua bao mùa giông bão

Tháng tư này, bình nhiên mùa xiêm áo
Lần suy tư, chiêm nghiệm đoạn đường đời
Mỗi đời người hiển hiện một lần thôi
Trân trọng giữ trái tim từng thời thay đổi

Và em nhé, hương dịu dàng sen nhẹ
Sẽ bình yên trước cơn sóng vô thường
Nhẹ lòng mình trước bước sóng yêu thương
Mùa Phật đản dọn lòng mình thanh khiết



Ngã Du Tử/ SG


 

823 . NGUYÊN CẨN - THẦY SÁU

                                                                                                          


Thầy Sáu

Cậu biết không?Mình phải trở thành cái mà người ta muốn mình là chứ không phải cái mà mình thực sự là.

Thầy nói gì con không hiểu hết trơn. Phức tạp quá!

Cậu hiểu không? Đó là định nghĩa triết học về bản ngã và dự phóng. Cái hình ảnh của mình về mình bị bóp méo trong lăng kính người khác, nên mình sống không thực lòng ,sống theo cái nhìn của người khác . nên ông Jean Paul Sartre ổng mới nói:” Tha nhân là địa ngục ( L’enfer, c’est les autres.)

Chà thầy nói cao siêu quá ,biết chừng nào con mới hiểu được những điều thầy nói dù con có học qua triết lớp 12 rồi.

Tôi nhìn thầy Sáu, thán phục . Một người trí thức, một ông giáo tiểu học nhưng sao uyên bác dữ , cái gì hỏi cũng biết , nói năng rạch ròi .Thầy mới về xóm được hơn 2 năm mà ai cũng nể . Người thầy gầy, cao khẳng khiu, đeo cặp kính rất dầy, nghe đâu 7,8 độ gì đó . Ẩn sau lớp kính ấy là một cặp mắt có cái nhìn khá khó chịu đến nổi  tôi phải tránh nhìn thằng vào mắt thầy vì nó sắc sảo một cách kỳ lạ!   Một người thoạt nhìn biết ngay là người có học, nghiêm trang , đạo mạo, chỉn chu.  Sáng nào nghe tiếng xe mobylette của thầy rồ máy là tôi biết đúng 6 giờ . Trăm bữa như một trừ chủ nhật.

Ở một xóm lao động, bạn có thể nghe âm thanh đủ mọi loại, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng nói chuyện tụm năm tụm ba nhậu nhẹt , hát hò  , hòa với tiếng chửi bới nhau ầm ĩ trong nhà ngoài  ngõ . Tất cả tạo nên đặc trưng của khu Bàn Cờ, hay rộng hơn của Sài Gòn , thành phố không bao giờ ngủ.  Nhưng gia đình thầy Sáu chung vách nhà tôi gần như là ngoại lệ. Ba đứa con, một gái hai trai luôn ở trong nhà, không la  cà , giao du với ai. Chúng như những chiếc bóng. Hai cậu trai chỉ thấy đi và về trên chiếc xe đạp “cuộc“6 líp thì phải ? Cô con gái lớn, khá xinh  , gương mặt thanh tú , cặp mắt rất sắc , không thua gì thầy Sáu , sáng chiều xuất hiện trên chiếc Honda dame ngày ấy . Họ không bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai trong xóm, nhất là cậu trai lớn, khuôn mặt có cái nhìn hơi khinh khỉnh, hay cậu coi thường xóm nghèo chăng ? Nhưng bà Sáu thì rất hiền. Bà béo người, thấp và gương mặt vui vẻ , dù bà cũng ít nói.Năm thì mười họa , bà đi chợ về nói dăm ba câu với mấy người ở gần nhà . Vậy thôi! Nhưng nom bà dễ gần nhất nhà đó.Rồi bỗng dưng họ đưa về một chàng bác sĩ quân y khá đạp trai đeo lon trung úy . Hỏi ra mới biết là rể. Còn đám cưới lúc nào, ở đâu chằng ai được mời hay thông báo . Đó là chuyện lạ ở xóm này- nơi họ có thể chửi nhau , thậm chí đánh nhau nhưng có tiệc là mời , dù là đám thôi nôi, đầy tháng, cúng 49 hay 100 ngày  … huống chi là đám cưới . Nhà này sát vách nhà kia, nhìn thẳng sang nhà nọ, có chi là bí mật mà giấu ? Nhưng nhà thầy Sáu thiệt ngộ. Một thế giới riêng! Thậm chí đến khi họ có cháu , một thằng cháu ngoại ra đời , đầy tháng thôi nôi vẫn không có tiệc tùng gì hay ít ra mọi người nghĩ thế !Phần có lẽ vì thằng bé quặt quẹo , nay ốm mai đau , trông như con mèo con , lúc nào cũng xanh mướt , thễu mễu ,dặt dẹo…

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

822 .TÁC PHẨM MỚI của TẠP CHÍ NGÔN NGỮ : Tác giả TIỂU LỤC THẦN PHONG

 


Thư đầu sách của Nhà Thơ Luân Hoán đã giới thiệu tác phẩm này  là  tuyển tập thứ 15 trong hệ thống các tuyển tập Tác giả và Tác phẩm do Tạp chí Ngôn Ngữ đã thực hiện mấy năm vừa qua  (14 tác giả trước  mà Ngôn Thữ đã thực hiện là :  Song Thao, Nguyễn Vy Khanh, Hồ Đình Nghiêm, Khánh Trường, Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Trịnh Y Thư, Trần Hoài Thư, Phạm Cao Hoàng, Trương Vũ, Nguyễn Thị Khánh Minh, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Minh Nữu, Bùi Vĩnh Phúc).

 Nhà thơ Luân Hoàn viết:

“ Một loại sách rất cần cho việc lưu trữ tài liệu, giúp các nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật sau này, khi cần tìm hiểu và đánh giá về một giai đoạn sinh hoạt, hoạt động của một nền văn học. Trong mỗi số đặc biệt như thế này, tư tưởng, văn phong của mỗi tác giả qua sáng tác của họ, được trung thực gói gọn, gìn giữ. Với 14 tác phẩm đã được xuất bản trước đây, những tác giả đều là những cây bút kỳ cựu, thành danh từ thời Việt Nam Cộng Hòa và họ đã tiếp tục cầm bút sau khi bị thay đổi hoàn cảnh lẫn vị trí địa lý sinh hoạt, nhưng đều đoạt được thành quả khả quan trong sự nghiệp lẫn sứ mệnh bảo tồn, phát huy văn hóa ngôn ngữ Việt thân yêu.

Trong lần giới thiệu này, chúng tôi hân hạnh trình diện cùng bạn đọc bốn phương một tác giả còn trẻ tuổi, khởi nghiệp văn sau khi định cư tại hải ngoại. Tuy là trẻ nhưng thời gian "đứng cùng nghề" của anh cũng đã khá lâu. Ngoài nhiều diễn đàn khác, anh, nhà văn Tiểu Lục Thần Phong, đã góp tay cùng tạp chí Ngôn Ngữ của chúng tôi ngay từ số đầu và hiện diện tiếp tục qua nhiều kỳ báo. Bên cạnh đó, Tiểu Lục Thần Phong cũng sở hữu nhiều đầu sách được Nhà xuất bản Nhân Ảnh cho trình làng rộng rãi.”

 Tạp Chí Văn Phong cũng là nơi được nhà văn Tiểu Lục Thần Phong thường xuyên cộng tác bài vở từ khi thực hiện Tạp Chí Online.

Với văn phong mạnh mẽ, sôi động và trẻ trung, Tiểu Lục Thân Phong đã đem vào văn học những điều mới lạ về đời sống Người Việt Trẻ trên đất Mỹ nhìn thấy chung quang, nhìn lại quê nhà nhìn ra thế giới. Cái nhìn phóng túng, hồn nhiên nhưng lại rất sâu sắc của anh tạo nên không gian Mới, Lạ, Chân thực và đầy diễm tuyệt.

Muốn có tác phẩm này, xin liên lạc: freedomsteven_01.@yahoo.com

 



823. NP PHAN . ÁM THỊ XANH

                                                                                         


ám thị xanh

 

1.
ngọn đèn đường thức thâu đêm
đang canh chừng
những giấc mơ đào thoát

 

2.
đàn chuột nhởn nhơ
vẫn đang mon men tiến về
chiếc nắp cống hào hoa

 

3.
đã tắt từ lâu rồi
tiếng vọng từ bên kia ngọn núi
sợi khói bay lên

 

4.
ý tưởng gầy guộc
từng bị bỏ quên trong xó nhà
một hôm rực sáng

 

5.
con tàu lao đi
xé đôi màn đêm u uất
tiếng còi tàu ở lại

 

6.
những mảnh kính vỡ
trong một dạ tiệc phù hoa
đã có thế giới riêng

 

7.
vết xe đổ phía trước
không phải là lời cảnh báo
cho sự liều lĩnh

 

8.
sự thức tỉnh muộn màng
đã bị bỏ lại phía sau
ám thị xanh

 

9.
đường dài hun hút
những cánh chim không ngoái lại
cơn giông

 

10.
mặt trời mùa đông
giấu nỗi buồn sau làn mây xám
chiếc bóng trầm tư

 

NP phan

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

821 . THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu HAN KANG Nhà văn Hàn Quốc Giải Nobel Văn Học 2024.

                                                        




                                    

THỂ TRUNG GIAN

Han Kang

( 1970 -  )

Nhà văn Hàn Quốc

Giải Nobel Văn học 2024

 Han Kang là con gái tiểu thuyết gia Han Seung-won. Cô sinh ở Kwangjiu và lúc lên 10 tuổi chuyển đến Suyuri (về việc này cô  đã trình bày một cách trìu mến trong tiểu thuyết Greek Lessons) ở Seoul. Cô học văn học Hàn Quốc ở Đại học Yonsei.  Anh trai của cô Han Dong Rim cũng là một nhà văn. Cô bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình khi một trong những bài thơ của cô đã được đăng nổi bật trong ẩn bản mùa đông của tạp chí hàng quý Văn học và Xã hội . Cô xuất hiện lần đầu trong văn đàn trong năm sau khi truyện ngắn của cô "The Scarlet Anchor" là tác phẩm giành giải trong cuộc thi văn học mùa xuân của nhật báo "Seoul Shinmun". Kể từ đó, cô đã giành giải của Giải văn học Yi Sang  (2005), Giải thưởng Nghệ sĩ trẻ đương đại, và Giải thưởng tiểu thuyết văn học Hàn Quốc. Tại thời điểm mùa hè năm 2013, Han dạy viết văn tại Viện Nghệ thuật Seoul trong khi viết truyện và tiểu thuyết, hiện đang làm việc trên cuốn tiểu thuyết thứ sáu của mình.

Sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Yonsei, Han Kang đăng đàn năm 1993 trên báo Văn học và Xã hội với tư cách một nhà thơ. Năm 1994, bà ra mắt tập truyện ngắn Mỏ neo đỏ, giành giải sáng tác cho tác giả trẻ của báo Seoul Shinmun, đánh dấu mở đầu sự nghiệp văn chương chuyên nghiệp.Suốt ba mươi năm gắn bó với văn chương, Han Kang là chủ nhân của ba tập truyện ngắn, gần 10 tiểu thuyết và 1 tập thơ. Bà được tôn vinh một trong những nhà văn quan trọng nhất của văn học Hàn Quốc hiện đại. Năm 2016, Han Kang giành giải Booker quốc tế nhờ tác phẩm The Vegetarian (Người ăn chay ). Năm 2018, bà tiếp tục lọt vào danh sách đề cử của giải thưởng này với tiểu thuyết giàu tính tự thuật Trắng.

Han Kang cũng nổi tiếng với một số tác phẩm như Love of Yeosu ( Tình yêuYeosu), tiểu thuyết Your cold hands ( Tay người thì lạnh)...
Nhà vă
n Han Kang từng chia sẻ bà thích sự riêng tư và sớm trở lại cuộc sống bình thường sau khi nhận giải thưởng văn học danh giá m 2016. Bà Han Kang là giáo sư chuyên ngành viết sáng tạo tại Học viện Nghệ thuật Seoul.
Han Kang được trao giải Nobel Văn học năm 2024 do có
văn xuôi đầy chất thơ mãnh liệt đối mặt với những tổn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của đời người”.    Sinh ra ở Gwangju, Hàn Quốc, cô chuyển đến Seoul năm 10 tuổi. Cô học văn học Hàn Quốc tại Đại học Yonsei. Bài viết của cô đã giành được Giải thưởng Văn học Yi Sang, Giải thưởng Nghệ sĩ Trẻ Ngày nay và Giải thưởng Tiểu thuyết Văn học Hàn Quốc. The Vegetarian, cuốn tiểu thuyết đầu tiên được dịch sang tiếng Anh của cô, được Portobello Books xuất bản vào năm 2015 và đã giành được Giải thưởng Quốc tế Man Booker năm 2016. Cô cũng là tác giả của Human Acts (Portobello, 2016) và The White Book (Portobello, 2017).
Trước chiến thắng lớn, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol bày tỏ đâ
y là một thành tựu to lớn trong lịch sử văn học Hàn Quốc và mang lại niềm vui cho toàn thể người dân, theo The Korea Times. Trang CWN đưa tin ngay sau khi Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố Han Kang chiến thắng, hơn 60.000 bản sách được bán tại hệ thống nhà sách nổi tiếng Kyobo, hơn 70.000 bản tại sàn thương mại điện tử Yes24. Sàn thương mại trực tuyến Coupang thông báo cháy hàng” các cuốn sách của Han Kang.
Người dân Hàn Quốc ăn mừng thành tích của Han Kang, nhưng tác giả từ chối tổ chức họp báo và không ăn mừng sau khi nhận giải Nobel Văn họ
c. Cha của Han Kang - tiểu thuyết gia nổi tiếng Han Seung Won (85 tuổi) - chia sẻ với truyền thông Hàn Quốc: Han Kang nói với tôi rằng, trên thế giới có nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, nhiều người dân thiệt mạng, làm sao chúng ta có thể ăn mừng. Quan điểm của Han Kang đã thay đổi từ một nhà văn sống ở Hàn Quốc sang ý thức của một nhà văn toàn cầu”.

Ở tuổi 53, bà trở thành nữ nhà văn Hàn Quốc đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học, đồng thời là nữ nhà văn thứ 18 trong tổng số 121 nhà văn đoạt giải thưởng danh giá này cho đến nay. Bên cạnh sự nghiệp văn chương, Han Kang còn là một nhạc sĩ và có niềm đam mê với nghệ thuật thị giác (visual art).

 

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Han Kang là “The Vegetarian” (Người Ăn Chay), xuất bản tại Nam Hàn năm 2007, và được dịch sang tiếng Anh lần đầu tiên năm 2015. Cuốn tiểu thuyết này giành giải Man Booker International năm 2016, được trao cho cả tác giả Han Kang và dịch giả Deborah Smith.

 

Vào thời điểm đó, bản dịch của Smith đã gây ra nhiều tranh cãi về độ chính xác. Nhưng dịch thuật trong văn chương không chỉ là đem từng chữ dịch cho thật sát nghĩa, mà còn là một quá trình bay bổng với trí tưởng tượng và óc sáng tạo của dịch giả, để truyền tải được trọn vẹn nhất tinh thần của tác phẩm gốc. Han Kang đã tin tưởng và bảo vệ dịch giả của mình về vấn đề này.

 

Tính đến nay, Han Kang đã xuất bản sáu tác phẩm bằng tiếng Anh. The Vegetarian” là tác phẩm giúp bà nổi tiếng trên thế giới. Tiếp theo là các tác phẩm như “Human Acts,” “The White Book,” “Europa” và “Greek Lessons.” Tác phẩm ngắn Convalescence” được xuất bản vào năm 2013, là một ấn bản song ngữ.

 

Tiểu thuyết mới nhất của bà là “We Do Not Part,” xoay quanh một nhà văn đang nghiên cứu về cuộc nổi dậy Jeju 1948-1949 (chống lại sự chia cắt bán đảo Triều Tiên do ảnh hưởng của Chiến tranh Lạnh), cũng như kể về những tác động của sự kiện này đến gia đình một người bạn của nhà văn. Tác phẩm dự kiến sẽ được xuất bản vào năm 2025.

820 . NGUYỄN SÔNG BA . DALAT THANG NĂM sơn dầu 60x90cm trên bố

 


818 . SONG THAO - KÝ ỨC SAIGON (3)

                                                                               


KÝ ỨC SÀI GÒN (3)

*SONG THAO

Dân Sài Gòn rất xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông Lãnh. Hàng xóm là dân lao động rất dễ mến. Chỉ vài ngày là anh Hai, chị Ba, dì Tư với nhau. Tên thiệt cất để dành trong khai sanh, không ai xài tới. Những anh Hai chị Ba mới chân ướt chân ráo tới ngụ cư bỗng thấy mình Sài Gòn hẳn ra. Cũng hồn  nhiên xé đôi tờ giấy bạc một đồng làm hai mảnh 5 cắc. Nhưng cũng có những người hỏi móc sao ngoài Bắc đã hòa bình độc lập mà dzô Nam làm chi? Lũ trẻ vốn hồn nhiên, thấy mấy đứa Bắc kỳ nói giọng khác đã hè nhau trêu chọc. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn kể lại chuyện trong lớp học: “Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng: "Bắc kỳ ăn cá rô cây / Ăn nhằm lựu đạn...chết cha Bắc kỳ”. Một thằng khác sẵn giọng phụ họa : "Có cái thằng nhỏ nó "đao“ làm sao / Lỗ đ. nó dính cái cọng “rao” / Người ta ai mà kỳ như “dzậy“ ?”. Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào hai đứa rồi rống lên : "Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”. Bản nhạc “Khúc Nhạc Đồng Quê” của Thúc Đăng rất thịnh hành đã được chế lời: “Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời / Bên bờ sông bên bờ ao...trồng rau muống!”

Dân Sài Gòn không ăn rau muống. Đó là thứ rau dành cho heo. Dân Bắc thì lại rau muống làm chuẩn trong các bữa cơm. Vậy nên rau muống mới…phạm tội. Ông cha sở nhà thờ Vĩnh Hội trong bài giảng vào thánh lễ ngày Chủ Nhật đã căn dặn bà con trong Nam hãy coi những di dân như anh chị em cùng có một cha chung. Và ông mang chuyện rau muống ra…giảng. Đại khái ông cho biết rau muống rất bổ, người Bắc ăn rau muống là khôn ngoan. Dân Nam chê họ không nấu canh mà dùng nước rau muống làm canh, ông cha dễ thương biện hộ là tinh túy của rau khi luộc nằm trong nước rau, người Bắc dùng nước rau muống là biết tận dụng tất cả sự bổ béo của rau muống. Ông cha sở này mặt mũi khó đăm đăm nhưng là dân Sài Gòn chính hiệu bà lang trọc. Hầu như ai tới Sài Gòn cũng cảm thấy như được yêu mến như người nhà đi xa trở về.

Nhà văn Vương Hoài Uyên từ Quảng Ngãi vào học Văn Khoa Sài Gòn là một người được Sài Gòn đón tiếp như con dân của Sài Gòn hoa lệ: “Ðầu thập niên 70, tôi bước chân vào giảng đường Đại Học. Từ miền Trung vào, Sàigòn đối với tôi như một miền đất hứa vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ. Vào đến thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô gái Sàigòn ăn mặc theo mốt Hippy, rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…Một lần vào ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo – Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, do mất bình tĩnh khi tránh một người đi bộ ngang qua đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương rách da cằm. Mấy người dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì ít, sợ thì nhiều, tôi hoảng hốt chẳng biết phải làm gì. Hồi đó, đâu có điện thoại để gọi người thân như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ tôi dậy. Anh bảo tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe đạp ven đường trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện may vết thương ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này, mà không hề có chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện. Vị bác sĩ vừa may vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương này thì sẽ trở thành một cái sẹo to đấy.” May xong vết thương, anh thanh niên tốt bụng kia lại chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của tôi vẫn dựng bên đường. Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và nghĩ sao Sàigòn lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh niên kia có thể thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết đâu mà tìm. Hình ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với lòng cảm mến và biết ơn sâu sắc. Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào Sàigòn đi ngang qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm xưa, tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể. Hai người thanh niên tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, họ đã là những ông già trên dưới 80 tuổi. Trong lòng tôi, họ mãi mãi vẫn là biểu tượng cho một Sàigòn nhân hậu năm xưa”.

Ngày 30/4/1975, ngày tang tóc của Sài Gòn. Thành phố đổi chủ, đổi tên, Sài Gòn vong thân không còn là Sài Gòn nhân hậu của những tháng ngày cũ. Nhà thơ / nhà văn / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã xót xa: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / như giòng sông nước quẩn quanh buồn / như người đi cách mặt xa lòng / ta nhủ thầm em có biết không?... Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / mất từng con phố đổi tên đường / khi hẹn nhau ta lạc lối tìm / ôi tình buồn như đã sống thêm”. Ca khúc làm bâng khuâng người Sài Gòn này được sáng tác trong tù vào cuối thập niên 1970. Thường nỗi nhớ của người xa Sài Gòn mới là nỗi nhớ da diết nhưng dù sao đó cũng chỉ là  nỗi nhớ hoài niệm từ xa. Ca khúc của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ thiết tha day dứt của người vẫn sống trong lòng Sài Gòn, còn trong cái mất. Vậy nên đây là ca khúc mang tính cách chứng từ của người mất Sài Gòn ngay trong lòng Sài Gòn. Ca khúc bị nhốt tại Sài Gòn cho tới khi Hồ Trường An được đi Pháp. Tại căn chung cư của Nguyễn Đình Toàn ở Cali, anh kể cho tôi nghe đường đi ra hải ngoại của ca khúc bất hủ này. Anh cho biết anh đã cùng Hồ Trường An ra bờ sông bên làng Báo Chí để hát cho An nghe và học thuộc lòng cả nhạc lẫn lời. Hồ Trường An không biết nhạc nên khi anh qua Pháp, hát cho nhạc sĩ ghi lại, ca khúc đã có vài điểm sai cả nhạc lẫn lời. Báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái đã phổ biến bản này dưới cái tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”, ca sĩ Jeannie Mai là người đầu tiên trình bày bản nhạc này nhưng sức phổ biến chỉ hạn chế. Khi Khánh Ly hát, bản nhạc mới gây sóng gió tại hải ngoại. Thời gian đó, tôi còn kẹt ở Việt Nam nhưng đã được nghe qua đài VOA. Dân Việt còn ở trong nước đã khóc thầm mỗi khi nghe bản này. Nguyễn Đình Toàn kể là không biết tại sao công an lại nghi ngờ anh là tác giả và gọi anh lên làm việc khi anh còn ở trong tù. Anh chối, dĩ nhiên. Lý do anh đưa ra là một nhà văn nhà thơ như anh đâu có thiếu chữ mà phải đặt cái tên ngớ ngẩn “niềm nhớ không tên”. Anh thoát tội. Sau khi qua Mỹ vào năm 1998, anh mới nhờ Khánh Ly hát lại bản đúng cả nhạc lẫn lời và dùng cái tên nguyên thủy “Nước Mắt Cho Sài Gòn”!

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

817 . LÊ ĐỨC LUẬN - NGẪM CHUYỆN XƯA NAY.


 

Ngẫm Chuyện Xưa Nay

   Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý.

     Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa ?”

     Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.

      Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ trong thời gian đầu — hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên những chuyến bay vội vã của chiến dịch “ Gió lốc - Operation Frequent Wind” — hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ. Người ta gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).

      Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử — mỗi bước chân ra đi, dù bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được.

      Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây” — kẻ đến trước, coi thường người đến sau.  Nôm na là “ma cũ coi thường ma mới” — mặc dù cùng chung cảnh ngộ.

      Cái tật: ai hơn mình thì ghét, ai kém mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai. Điều này thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.

      Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy ngẫm: “ Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không. Khách hỏi lý do. Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”

     

       Những chuyện khó quên về người tị nạn Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới tìm ra lối về nhà.

       Một câu chuyện khác - mới nghe tưởng đùa, mà có thật - được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái gì cũng mới lạ - đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh. Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi — hai bàn tay vỗ vỗ vào lưng — rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!” Niên trưởng qua lâu chưa? Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy. Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” — tiếng Anh gọi là “hug”.

      Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim 30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em chưa quên truyền thống Trường Mẹ — gọi tôi “niên trưởng” — làm tôi bồi hồi nhớ lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.

     Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo quần (suspenders), trông rất sang.  Hồi đó chưa có điện thoại di động (cell phone) , anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng. 

     Chúng tôi đối với nhau rất chân tình - điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện tử. 

     Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp với người bản xứ sao cho phải phép — trong đó có một chuyện nhớ đời — chuyện đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo: trông cô khoảng ba mươi — cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!

     Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc, nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp được bà tiên…

     Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.

 

    Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng, mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện. Câu hỏi “anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.

     Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác cũng làm chạnh lòng người. Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học ngành gì? Tốt nghiệp chưa?”

      Người Việt mình có truyền thống hiếu học nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.

      Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc, phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời sống văn hóa phong phú.

     Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng.

     Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành — học hành thành đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ. Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ - hiện diện trong hầu hết mọi ngành nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân đội, truyền thông và cả chính trường…Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.

      Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi dự đám cưới. Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con mình.

      Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng — ra đi để tìm sự sống trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định - con cái cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương - viếng mồ mả cha ông, thăm gặp bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình yêu quê hương.

      Là con người bình thường, ai cũng mong đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang mộ phần của cha ông.

      Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa, nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến thành trò cười cho thiên hạ.

      Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn — “tranh nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố thu nhỏ.

     Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”.

       Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang - tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung vít…

       Nhưng không phải “người Việt hải ngoại” nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo, nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách đối với quê hương đang nghèo khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền không ngờ: Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến 1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn 8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).

      Mới ngày nào những con người trốn chui, trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng - gọi họ là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất mùi là: “khúc ruột ngàn dặm”- làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành người yêu nước.

      Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi. Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi - coi như chuyện nhỏ. Các ông bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước. Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ. Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên bàng quan đưa ra nhận xét như thế)  làm mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…

 

      Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở — dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.

      Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn thấy tương lai.

 

     Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn ý khoe khoang nữa.

     Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất nước Hoa Kỳ.

    

      Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai, nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy chỉ là “Mỹ giấy”

      Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu trong lòng người viễn xứ.

       

LÊ ĐỨC LUẬN      

   (Tháng 6-2026)

(1) Nguồn: World Bank và Statista.