Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm.
Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông
viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng…
Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện.
Ông hy vọng Chúa nhân từ thấu lòng nhân thế mà xót thương
và tha thứ cho người nữ tu đã khấn trọn đời dâng hiến, nhưng trong giây phút
yếu lòng đã để tình cảm lứa đôi lay động tâm hồn. Và biết đâu một mai Chúa sẽ
cho hai kẻ yêu nhau với mối tình đầu cao thượng được gặp lại ở chốn Thiên
đàng?
Chiều nay, ngồi trên ghế đá công viên nơi đất khách, ông Lân đang thả hồn theo những chiếc lá vàng chao trong gió…Bỗng xuất hiện đôi thiếu niên nam nữ âu yếm nắm tay nhau, thong thả dạo bước dưới bóng mát của những cây phong cổ thụ nơi góc vắng công viên, gợi cho ông nhớ lại những lần dạo chơi cùng cô gái bắc kỳ di cư nho nhỏ, xinh xinh dưới những hàng keo già nơi xóm đạo…
Giờ đây, nỗi nhớ không thể chạm đến và niềm thương không thể gọi thành tên - lòng ông xao xuyến nhớ về…
Nắng chiều buông xuống - chỉ còn đậu lại trên đọt những cây phong già ánh vàng le lói. Ông vẫn ngồi bất động trên ghế đá công viên nhìn lá vàng rơi. Bỗng ký ức trỗi dậy! Rồi bao kỷ niệm hiện ra trong trí nhớ như đoạn phim quay chậm: từ thuở thiếu thời cho đến lúc trưởng thành.
Ông Lân được sinh ra và lớn lên ở một làng quê cách thị xã Tuy Hòa chừng bốn cây số. Trong chín năm kháng chiến (1945-1954), quê hương ông nằm trong vùng Việt Minh kiểm soát. Ông nhớ dưới thời Việt Minh, người lớn trong làng gọi đám nhóc tì như ông là nhi đồng. Nhi đồng thời ấy có những thú vui là đêm đêm đốt lửa trại, đánh trống ếch: bùm… bum… rồi đốt đuốc đi quanh làng hô khẩu hiệu vang trời. Đến Tết Trung Thu, Hội Phụ Nữ (là các bà mẹ) nấu nồi chè đậu đen to tướng, phát cho mỗi đứa một chén, thêm vài cái bánh ít lá gai - vừa ăn, vừa hát đồng ca bài “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”. Thế là vui!
Còn chuyện học hành chữ nghĩa thời ấy thì “được chăng hay chớ”- việc học hành chỉ để thoát qua cái nạn mù chữ. Hầu hết già trẻ gái trai trong làng ban đêm đều học lớp “Bình dân học vụ”. Đám thiếu niên, nhi đồng được đến trường, nhưng thường học qua bậc tiểu học rồi thôi và ở nhà giúp cha mẹ trong công việc đồng áng. Rất ít đứa học lên cao (vì học lên cao phải đi xa nhà - rất tốn kém). Trường học thời đó, có thể là đình làng, hay căn nhà tranh cất đơn sơ núp dưới những tàn cây cổ thụ để máy bay Pháp khó phát hiện. Đặc biệt, chung quanh trường có những hầm tròn, sâu gần một mét. Khi nghe tiếng máy từ xa, đứa học trò ngồi gác bên ngoài đánh kẻng báo động… học trò vội vã chạy ra khỏi lớp, nhảy xuống hầm tròn. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, ông Lân vẫn còn nổi da gà khi nhớ lại: dưới các hầm tròn thường có những con rắn trun, rắn hổ mang nằm dưới đó.
