

Ngẫu hứng về những bể
dâu trong lịch sử ...
Bể dâu ư
? Chẳng có bể dâu nào !
Đời vốn vô thường từ khi có mặt
Những con chữ rỉ buồn như cặn sắt
Rơi rụng dần qua cỗ máy buồn thiu
Từ big bang nhân loại cứ bơ vơ
Tìm lẽ sống trên hành tinh chật chội
Vác thập giá trên hai vai quá mỏi
Muốn ngả mình tìm lại giấc chiêm bao
Trên tháp cao thánh nhân đang bán rao
Lời thuyết giảng về ngày mai--công lý
Bên những tượng đài từ lâu yên nghỉ
Mặc muôn dân đánh vật với lầm than
Người lại nói về ngọn gió mùa xuân
Trong những hoàng hôn đông tàn hiu quạnh
Người gọi nắng mai về trong giá lạnh
Những cơn mơ đánh thuế đến hai lần
Vì ngông cuồng người thế chấp quê hương
Bán trái phiếu niềm tin vô kỳ hạn
Gởi lịch sử vào kho hàng phế phẩm
Hồn núi sông hóa thạch giữa đau thương
Bể dâu ư ? Không, Chỉ có vô thường !
Đang mong đợi ngày chiêm bao bốc cháy
Nghe dưới mồ bùng lên cơn gió đáy
Thổi tung đi oán hận đã ngàn năm
Đêm tan ra từng mảnh vỡ mù sương
Chợt thức giấc sau tiếng gà gáy vội …
Nguyên Cẩn
Có nghĩa gì?
Có
nghĩa gì một mai con thành đạt
Mẹ đã
về trời như bóng mây?
Đóa
hồng đau cắm ngập trái tim đầy
Những
kỷ niệm một thời lang bạt,
Có
nghĩa gì một mai con hạnh phúc
Mẹ lại
nhạt nhòa trong khói hương bay?
Khoảng
không nào trong ký ức hôm nay
Dành
cho Mẹ chỗ ngồi trân trọng nhứt
Có
nghĩa gì một ngàn ngày vinh hiển
Hay chỉ
là bọt biển giữa trùng dương?
Khi Mẹ
giờ xa khuất giữa mù sương
Nghe
quạnh vắng trước thiên đường đối diện
Có
nghĩa gì những chiều mưa thành phố
Bão xô
đời phiêu dạt lũ chim côi
Lối về
nhà nay bỗng quá xa xôi ,
Chiếc
giường nhỏ xưa Mẹ nằm cứ ngỡ
…
Có
nghĩa gì? Hoa trắng cài lên áo ,
Mẹ đi
rồi còn có nghĩa gì đâu?
Cuộc
đời này dài lắm những đêm thâu
Nghe
tiếng dép giật mình – con nhớ Mẹ!
Và sẽ hết…
Đi cho hết một hoàng hôn trên đất,
Sống cho hết một cuộc đời tất bật,
Nói cho hết những nghĩ suy rất thật,
Rồi sẽ về như một giọt sương mai,
Cười cho hết những niềm vui như Tết,
Thở cho hết tháng năm dài thấm mệt,
Khóc cho hết những thân tình đã chết,
Rồi thả lòng bay nhẹ giữa hư không,
Viết cho hết những trang đời diễm ảo,
Dốc cho vơi những tâm tình áo não,
Xét cho tận tấc lòng không lỗi đạo,
Rồi sẽ nằm thanh thản giữa hoang vu,
Uống cho cạn một hồ trường chất ngất,
Chơi cho trọn ván cờ tàn, dẫu mất,
Chôn cho sâu hận thù xưa trong đất ,
Rồi sẽ ngồi kể lể chuyện chiêm bao,
Đi cho hết một chiều xuân nắng lạ,
Một sớm hạ phượng hồng reo giục giã,
Một buổi trưa thu vùi đau dưới lá,
Rồi nhẹ nhàng bướm mộng khép đêm đông,
Và sẽ hết những ngày vàng trên đất,
Ngươi sang đò hoa rụng trắng bên sông…
Nguyên Cẩn
Lê
Chiều Giang
“Sao lòng ta bỗng rộn ràng
Như những toa tàu sắp chạy
Thăm những nhà ga sắp hồi sinh
Những nhà ga sắp thở…”
[Đinh Cường 1969]
Anh Đinh Cường gọi phone cho
tôi chỉ để hỏi:” Làm sao để thành ...Cá?”.
Cá bơi xuôi lội ngược, vẫy vùng
trong biển lớn, hay quanh quẩn trong hồ ao? Cá đẹp óng ánh bơi ngược dòng, hay
lừ đừ chịu trận trong lưới ngày, và ngay cả đang giãy dụa chết bởi những lưỡi
câu lờ lững?
Không phải, Anh muốn hỏi tôi về
cá khác. Cá Vàng.
Năm 1997, anh Trần Công Sung từ
Paris viết bài về chuyến ghé thăm một số bạn bè sống ở California và một vài tiểu
bang khác.
Tạp Chí Thế Kỷ 21 gửi xuống San
Diego bài viết của Trần Công Sung viết riêng cho Nghiêu Đề, chỉ bởi từ câu nói
đùa của anh:” Suốt bao năm, Giang ngắm nhìn tôi như thích một con Cá Vàng”.
Anh Trần Công Sung viết lời ngợi
ca, khen tặng tất cả những “Vợ hiền” trên trái đất. Dù có thấp thoáng, lao xao
với chút hồn thơ mộng, vẫn không dám chểnh mảng cái trách nhiệm khó khăn muôn đời
của “Hội Phụ Nữ” chúng tôi: Bằng mọi giá, phải luôn xây dựng, vun xới quyết liệt
cho một gia đình ấm êm, và hạnh phúc…
Anh Đinh cường thắc mắc hỏi tôi
làm thế nào mới ra Cá Vàng.
Cuối cùng, Anh Nghiêu Đề đau ốm
buông bỏ hết mọi thứ, rồi ra đi.
Và trước khi tôi bước những bước
dài theo một Nhân Duyên hoàn toàn mới. Trong những chuyến du lịch xa xôi, tôi
ghé Virginia thăm ngôi nhà thơ mộng của anh chị Đinh Cường.
Trên chiếc xe nhỏ mầu đỏ, Anh
chạy nhiều vòng qua mọi phố, loanh quanh cùng tôi xem những kiến trúc yêu kiều
của DC.
Nhớ nhất là lúc tôi ngồi dưới
bóng của một tàn cây xanh mát, kiên nhẫn chờ Anh viết cho xong bài thơ bên dòng
Potomac. Dòng sông với nước lung linh sáng trong ánh nắng gay gắt giữa trưa.
Đúng giờ Ngọ.
Nhìn bóng nước xôn xao, tôi chợt
tự hỏi có phải Anh đang nghĩ đến chiếc nhẫn anh đã quăng xuống hồ Tịnh Tâm? Ném
đi mất tăm mối tình đầu tan vỡ của anh, ngay giữa dòng nước hồ tịch lặng.
Chiếc nhẫn cũng như đáy hồ, nơi
chôn kín bao điều bí ẩn về mối tình xa xưa đó của anh…
Cũng toàn là chuyện tôi được
nghe kể lại. Chỉ có điều duy nhất mà tôi còn nhớ, sau 1975 lúc phải chới với, điên đầu trong
than lửa áo cơm nhọc nhằn, anh Nguyên Khai đã tiếc nuối hỏi đùa Đinh Cường :”
Mi ném nhẫn đó góc nào? để tau ra Huế, lặn tìm cho ra chiếc nhẫn vàng dưới đáy
hồ, sửa soạn một bữa tiệc linh đình, đãi anh em Hội Hoạ Sĩ Trẻ…Anh chỉ im lặng
cười phá lên cùng bè bạn.
Lái xe có khi lạc đường, quên lối,
nhưng chúng tôi chẳng mấy quan tâm. Anh ghé hai quán Cafe có trưng tranh, treo
bán nhiều tác phẩm rất nhỏ anh ký gửi. Tôi thú vị tìm ra cái hay hay của những
bố cục muốn vượt hẳn ra ngoài khung tranh, những nét vẽ miên man, bất tận trong
một không gian nhỏ hẹp. Rõ ràng tôi đã quen thưởng lãm tác phẩm Đinh Cường qua
những tấm canvas lớn. Bóng thiếu nữ dịu dàng đứng bên góc nhà thờ, thanh thoát
bay cùng tiếng chuông xa vời, trong những chiều thu im vắng.
Anh dặn dò: ” Hôm nay anh mời,
Giang phải uống rất nhiều, có thể uống trăm ly Cafe cho hết tiền của hai bức
tranh nhỏ vừa bán”. Tôi cũng hay Cafe sáng, trưa và chiều tối, có khi cả tỷ tỷ
ly trong những lúc chán đời, buồn bã từ ngày anh Nghiêu Đề đau ốm rồi ra đi.
Nhưng hôm nay, một ngày rất đẹp, rất vui ở DC, chắc tôi không thể không uống
như lời anh mời mọc.
Anh tiếp tục lái xe, cứ lạc lối
và cứ lạc đường, quyết để tìm mua những chai Red Wine, dưới trăm cái tên mà cả
anh và tôi đều chẳng biết rượu ngon hay dở. Anh muốn dùng cho hết tiền tranh vừa
mới có, không hết bởi Cafe, thì phải uống thêm rượu đỏ. Uống như sự đãi ngộ, phải
như một tưởng nhớ về người bạn thân vừa mới bỏ đời, ra đi...
Chiều nhạt nắng với ngàn lá
phong rơi rụng, con đường mòn phía sau nhà Anh trải đầy lá úa. Chúng tôi ngồi
Cafe, nhắc lại nhiều kỷ niệm từ những ngày còn Hội Họa Sĩ Trẻ, những ngày tôi
còn đi học, tôi còn bé xíu.
Tôi nhất định không muốn quên lời
khiếu nại trong lần đầu tiên tôi gặp anh,
anh theo dõi bức tranh của Nghiêu Đề. Bức tranh mà khi mang tới phòng
triển lãm của Hội Hoạ Sĩ Trẻ ở Alliance Francaise Gallery. Chân dung đẹp mơ
màng của tôi với khung tranh chỉ được anh Nghiêu Đề quấn rất vội vàng bằng những
sợi dây lạt. Với tôi, đó là một khung tranh khác lạ hay hay, và có thêm cả sự
chân tình, dễ thương. Nhưng ngay lập tức, anh Đinh Cường nói với tôi theo một ý
nghĩa khác:” Bằng mấy vòng giây lạt đó, “Nó” sẽ trói đời cô vào cái kiếp sống
lơ tơ mơ, sống vất vưởng trên cung trăng, sống lang thang bên ngoài trái đất …”
Và lời anh Đinh Cường nói đã
như một tiên tri, những sợi dây lạt tưởng như mong manh dễ rớt rơi đó, đã trói
buộc tôi với anh Nghiêu Đề, một họa sĩ tài hoa nhưng nghèo nhất nước. Chúng tôi đã sống chan hòa, sống cùng nhau
cho đến hết, và cho cả đến chết.
—---------------
Chị Đinh Cường mời thêm họa sĩ
Ngọc Dũng, người có nhà rất gần, một bạn thân mà như hàng xóm. Chiều tà với lá
tả tơi bay, lá rụng vàng theo gió sau hiên nhà. Chúng tôi ngồi với Cafe, và những
ly rượu đỏ.
“...Ngoài ta ai đón trăng huyền lặn
Mà dẫn đi qua khỏi cửu trùng?...”
[Trần Dần]
Anh Ngọc Dũng đọc thơ Trần Dần,
Hữu Loan. Tôi ngâm thơ Hoàng Cầm, Quang Dũng...
“...Vầng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?...”
[Quang Dũng]
Chúng tôi như đang sướt mướt, gọi
mời những hồn ma bóng quế trong Nhân Văn Giai Phẩm về đây, ngồi với.
“...Chồng em rách nát chiến bào
Vi vu gió thổi, bay vào Kinh Đô…”
[Hoàng Cầm]
Chút se sắt lạnh của chiều như
làm những lời thơ xưa, nửa hùng tráng nửa buồn hơn.
Tôi nhắc anh Đinh Cường bài thơ
mới bên dòng Potomac.
Anh tìm trong túi áo, anh ra
tìm ngoài xe… Bài thơ chưa thuộc, bài thơ biến mất.
Anh tiếc nuối những vần thơ vừa
mất tích.
Bài thơ anh viết bên dòng Potomac cũng đã thất
lạc, chôn sâu dưới dòng nước im lìm.
Nhớ nhớ quên quên, Anh thở những
hơi dài trong Pipe thuốc, đọc bài thơ mới làm sáng nay, với nhiều câu nhắc đến
chiếc nhẫn đã quăng giữa lòng hồ Tịnh Tâm. Nhìn khói haft & haft mơ màng
bay, nghe thơ mà tưởng như đang nghe anh kể lại những kỷ niệm xa vời...
Tránh đi chút nặng nề của quá
khứ, anh mời chúng tôi xuống basement, Studio với rất nhiều tranh sơn dầu. Hội
Hoạ Sĩ Trẻ chỉ có anh là người vẽ nhiều tranh nhất. Anh có nhã ý tặng bức nào
tôi muốn mang về california.
Tranh của anh tôi treo trong
phòng khách, vẫn rất mơ màng và u hoài như một bài thơ cổ.
---------
Chỉ một năm, sau lần chúng tôi
ngồi Cafe bên khu rừng phong rất đẹp ở nhà anh Đinh Cường. Từ nơi khác xa xôi,
tôi biết tin anh Ngọc Dũng ra đi.
Nghiêu Đề, Ngọc Dũng, và rồi
Đinh Cường. Những con Cá Vàng như lời ví von của một năm nào, rất cũ. Lần lượt
đã theo dòng nước trôi, rồi biến mất tăm, và sẽ quên lãng hết, ngay cả trong
lòng người.
Duy nhất anh Đinh Cường, người
ước ao biến thành “Cá Vàng”.
Cá vàng đã lững lờ lặn sâu xuống
dòng nước cũ, đã tìm cho ra dưới lòng hồ Tịnh Tâm, chiếc nhẫn nào đã ném đi từ
những năm xưa.
Trên chiếc cổ nho nhỏ, Cá Vàng
có mang thêm chiếc nhẫn.
Nhẫn vẫn đẹp rực rỡ và óng ánh
sáng như một chiếc kiềng vàng.
[Tạp Chí Ngôn Ngữ. 1/2022]
Nguyễn Minh Nữu là tên thật, sinh ngày 6-1-1950 tại Hà
Nội. Di cư vào Nam năm 1954, nhập ngũ năm 1968 và giải ngũ năm 1975. Làm thơ viết văn từ 1970, truyện đầu
tiên “Một Thoáng Mây Phiêu Bạc” đăng trên Giai phẩm Văn
số mùa Xuân 1971. Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1995 và hiện sống tại Virginia. Sáng lập và thư ký tòa soạn
tạp-chí Văn Phong (Washington DC, 1999-2001) và chủ nhiệm tuần báo Văn
Nghệ (Washington DC, 1997-2014).
Tác-phẩm văn học đã xuất bản: Lời
Ghi Trên Đá (thơ; NXB Văn Nghệ Việt-Nam, 2006); Thương Quá Saigon Ngày
trở lại (bút ký và truyện; Văn Nghệ, 2017), Thuồng Luồng Mắt Biếc (truyện và ký; Nhân Ảnh, 2021); Đất Nhớ Người Thương (bút ký; Nhân Ảnh,
2022).
VĂN HÓA
VĂN LANG
“Hùng Vương đô ở Châu Phong,
Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang.
Đặt tên là nước Văn Lang,
Chia mười lăm bộ, bản chương cũng liền…”
Tại
sao tổ tiên người Việt lại đặt tên nước là Văn Lang? “Văn Lang” [文郎]
ngữ nghĩa là gì?
§ Về chữ Văn này [文] : theo chiết tự, bên trên là bộ Đầu [亠], chỉ sự nhất quán; nằm dưới là chữ Nghệ [乂], chỉ cho việc cai trị, sự an bình, người
tài năng…Nói trọn nghĩa, hàm nghĩa trong Văn 文,
được hiểu đã có sự thống nhất về kỹ năng tổ chức cai trị, ổn định trật tự, đem
đến sự an lành cho dân chung.
§ Về chữ Lang [郎] : Văn tự cổ xưa có hình dạng chữ Ấp 邑, và Lương [良]
làm phù âm 古字形從邑,良聲 sau đó, chữ Ấp 邑đổi thành bộ Phụ [阝]. Theo chiết tự hiện nay, bên trái chữ Lương
[良], nghĩa là hoàn thiện, hoàn
hảo; bên phải là bộ Phụ [阝],
trước kia thuộc Ấp, để chỉ cho một vùng đất đã khai hoang, vỡ hoá, đã thuần dưỡng
…Nói trọn nghĩa, Lang là vùng đất đã có thôn trang gia súc quanh nhà, có con
người canh tác đồng áng ruộng nương, có sự sinh hoạt xã hội, có tổ chức chính
trị… Nói rộng hơn, là một lãnh thổ đã có chủ quyền.
Trong lịch sử hình thành chữ viết, ban đầu
con người mượn, hoặc bắt chước hình dạng của muôn loài. Chẳng hạn hình dạng mặt
trời để trở thành chữ Nhật [日]
trong Nho tự, hoặc hình tượng mặt trăng để tạo thành chữ Nguyệt [月] …để khắc (trên khối đá), vẽ (trên vách tường),
thắt gút (dây, chỉ sợi)… mà chế tác ra chữ viết, để ghi nhận, chép lại các hoạt
động của sự sống chung quanh…
Đó cũng chính là ý nghĩa chữ Văn [文] nguyên thủy (là ký sự) khi hình thành chữ
“Văn”.
Như vậy Văn Lang ở đây được hiểu là vùng đất
đã có biên vực, có cư dân, có tổ chức cai trị với mục đích đem đến sự an bình
nuôi dưỡng sự phát triển năng lực, năng khiếu con người trong lãnh thổ ấy.
Đến đây không thể không đề cập ngữ nghĩa
vương hiệu triều đại thời lập quốc, tức quốc hiệu của một nước “Hùng Vương” [雄王].
§ Về chữ Vương [王]: theo chiết tự, hình dạng ba vạch ngang tượng
trưng Trời, Đất và Người, và nét sọc đứng thể hiện sự nối kết “tam tài” 三才 trong vũ trụ là “Thiên Địa Nhân” thành một
thể duy nhất, và theo quan điểm Nho gia, người làm được việc đó gọi là Vương.
Cho nên trong Thuyết Văn chỉ rằng: Khổng Tử từng nói: “Thiên Địa Nhân” 天地人, “Tam quán vi vương” 三貫為王 là vậy. Nếu tìm hiểu nghĩa gốc xưa, thì trên
Giáp cốt văn, hình dạng của chữ Vương là cái búa rìu - “phủ việt” (hối) 斧鉞🪓.
§ Về chữ Hùng [雄] : theo chiết tự, bên trái là bộ Hoằng [厷], (được viết giản lược từ chữ 宏) biểu
thị sự to lớn, rộng rãi; bên phải là chữ Chuy [隹]
chỉ tên chung giống chim có đuôi ngắn. Nói trọn nghĩa thì Hùng là lãnh thổ của
cư dân lấy giống chim ấy làm vật tổ (totem). Nếu tìm đến nghĩa gốc xưa, thì
trên Giáp cốt văn, hình tượng của chữ
Hùng là cánh tay - “thủ tý” 手臂💪.
Còn theo nghĩa thông thường để giải thích ngữ
nghĩa Hùng, Hùng (với nghĩa đen) là vua các loài thú - “ thú trung chi hùng” [獸中之雄].
Tựu chung, với hai thích nghĩa trên, Hùng
Vương có thể hiểu theo nghĩa là người đứng đầu lãnh đạo tộc Việt, của lãnh thổ
Văn Lang.
Xem vậy, nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có
một nền văn hoá thậm chí có văn hiến, bởi trải qua 18 đời vua Hùng Vương theo
truyền thuyết (?) nên mới thể hiện được Quốc hiệu và Vương hiệu như thế. Có thể
nói, Việt tộc lúc bấy giờ đã tiềm ẩn tính VĂN trong đời sống, đã dùng VĂN để
giáo hoá con người. Văn Lang đã hội đủ các yếu tố phát triển tiến bước tới văn
minh, như đoạn mở đầu của “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” từng nhắc đến:
“Nghìn thu gặp hội thăng bình,
Sao khuê sáng vẻ Văn minh giữa trời
Lan đài dừng bút thảnh thơi,
Vâng đem quốc ngữ diễn lời sử xanh”…
Vậy mở rộng nghĩa ra ở đây, Văn nó như thế
nào, và Hoá là gì!?
§ Về chữ Văn [文]
: theo Đào Duy Anh, Văn còn có nghĩa là Người có học vấn, lời văn, là lễ pháp
(nghi lễ, phép tắc), là văn vẻ, dáng vẻ bề ngoài … vì bộ Nghệ [乂] trong chữ Văn [文] có hình dạng nét phẩy, nét phiệt giao thoa
lẫn nhau, hình thành biểu tượng của nét đẹp, biểu trưng sự cung kính của hai
cánh tay chắp vào nhau…
§ Về chữ Hoá [化]:
Hình dạng trên Giáp cốt văn, vẽ ra hình 2 người, một trước một sau, một trên một
dưới đảo ngược nhau, tượng trưng trong quá trình biến đổi từ trạng thái này
sang trạng thái khác, thuộc chữ hội ý. Theo chiết tự, bên trái là bộ Nhân đứng
[亻], chỉ người đã trưởng
thành; bên phải là chữ Chuỷ [匕],
biểu thị cái thìa, cái muỗng, dao găm,
lưỡi kiếm, mũi tên. Nói rộng ra, Hoá là vũ khí của con người để điều chỉnh cuộc
sống chung quanh theo lẽ tự nhiên. Cảm hoá có hai cách: nhẹ nhàng, ngọt ngào
(biểu tượng là củ cà rốt), hoặc là trừng phạt (biểu tượng là vũ khí). Ví như,
dùng chính trị mà cảm gọi là “Phong hoá” 風化,
dùng ân nghĩa mà cảm gọi là “Đức hoá” 德化,
dùng lễ giáo mà cảm gọi là “Văn hoá” [文化].
(ngữ nghĩa văn hoá ở đây được diễn giải theo tinh thần phương Đông, chứ không
theo ngữ nghĩa “Culture” theo tinh thần phương Tây).
Tóm lại, Văn hoá là biểu trưng của ân nghĩa,
lễ nghi, đạo đức, tư tưởng, tín ngưỡng, văn tự, ngôn ngữ, câu hò điệu hát, đàn
ca vũ nghệ …(thuộc tinh thần); y phục, trang sức, nhạc cụ, nhà cửa, cầu cống,
công trình kiến trúc, phương tiện đi lại…( thuộc vật chất) trong một xã hội có
tổ chức hẳn hoi.
Từ đó, Văn theo nghĩa là người có dáng văn vẻ
mẫu mực, có học vấn, có cống hiến lợi ích, là người có giá trị cho xã hội…, đó
là theo quan niệm Á Đông ngày xưa. Do đó, gần như ai cũng qúy trọng người có học
(dù chỉ biết đôi dăm ba kinh sử), thường gọi là “văn nhân” 文人. và không chỉ có ngần ấy thôi, thông thường
người có học đều đặt tên với những mỹ từ bằng chữ Văn. Ghế cho văn nhân ngồi được
gọi là “văn kỷ” 文几.
Giày cho văn nhân mang được gọi là “văn
hài” 文鞋. Tập
hợp các trước tác của văn nhân gọi là “văn uyển” 文苑.
Giấy mực, bút nghiên của văn nhân sử dụng gọi là “văn phòng tứ bửu” [文房四寶].
Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam cũng đã có
câu bày tỏ ước muốn kết thân với văn nhân qua câu ca dao:
Chẳng tham ruộng cá ao liền,
Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ.
Cái bút cái nghiên của anh đồ đã thể hiện
tính VĂN trong đời sống của người Việt, dù trong thời bình hay thời chiến. Khi
binh lửa xảy ra, cây bút của Văn nhân không phải là không góp phần trong cuộc
chiến, những văn nhân cũng sẵn sàng khoác áo chinh nhân xông vào khói lửa như hình ảnh chàng tuổi trẻ
trong “Chinh Phụ Ngâm”:
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung…
Nếu
nói về cuộc chiến chống ngoại xâm lần đầu tiên của nước Văn Lang, thì chính là
cuộc chiến với giặc Ân phương Bắc vào thời Hùng Vương thứ 6. Theo “Đại Việt Sử
Ký Toàn Thư” [大越史記全書], Kỷ
Hồng Bàng Thị :Có chuyện Phù Đổng Thiên Vương rất oai hùng. Đời sau
Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền
thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng). “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” mặc dù
không nói đầy đủ như “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, nhưng cũng thể hiện tính truyền
VĂN cho đời sau:
Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài
Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ
trơ
Những ngờ oan trái bao giờ
Nào hay thần tướng đợi chờ phong
vân
“Nghe” vua cầu tướng ra quân
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần
khích ngang …
Chỉ cần “Nghe” vua cầu tướng ra quân, cậu bé
bỗng nói được, bừng lớn dậy, sẵn sàng xin ra trận. Như thiên tướng, chàng trai
Phù Đổng ngày ấy cùng với giáp sắt, ngựa sắt ra uy sấm sét, nhổ tre đằng ngà
quét đánh binh tướng giặc Ân. Đến nửa chiều, giặc giẫm đạp lên nhau mà chạy. Bấy
giờ “Cậu bé phi ngựa lên trời mà đi (!?).
Không cần truy sát sinh linh.
Không cần đón nhận công trạng.
Không cần ban thưởng tung hô.
Không cần NGHE những lời xưng tụng của người
đời sau…
Nghe
- nghe - nghe… Việt Nho có hai chữ là Văn 聞
và Thính 聽 để
diễn đạt chữ Nghe.
§ Về chữ Văn [聞]
: nguyên nghĩa là nghe thấy, ngửi thấy, nghe được âm thanh, thuộc chữ hội ý, biểu
thị điều nghe mà biết, lời truyền đạt, tiếng động, nổi tiếng nổi danh…Trên Giáp
cốt văn có hình dạng một người dùng tay
kéo
một bên trái Tai xuống để lắng nghe. Văn 聞
: theo chiết tự, bao quanh bên ngoài là chữ Môn [門],
chỉ nhà có 2 cánh Cửa (khác với chữ Hộ [戶], chỉ nhà có một cánh Cửa khép mở); bên
trong là chữ Nhĩ [耳],
nghĩa là cái Tai 👂.
Đây là cái tai được nghe từ nội tâm con người, cái nghe trọn vẹn trong nhà
(theo nghĩa hẹp). Hàm nghĩa: Cái nghe được truyền đi từ cửa nhà này sang cửa
nhà khác, từ nơi này đến nơi khác, rồi đi ra khắp nơi… Nói rộng hơn nữa, Lịch
duyệt hoặc Hiểu biết của con người đều nhờ Tai (nghe), và Mắt (thấy) với tư duy
mà có. Ví như
-Nghe nhiều sẽ hiểu rộng - “Bác học đa văn” 博學多聞
-Nghe ít sẽ nông cạn - “Cô lậu quả văn” 孤陋寡聞.
-Tiếng nghe động tới cửa trời - “Thanh văn vũ
thiên” 聲聞于天
-Ngửi
thấy mùi hương rồi. “Văn kiến hương vị liễu” 聞見香味了
§ Văn 聞
với nghĩa “truyền văn”傳聞,
lời truyền đạt…lời nghe đồn. “Dự văn” 預聞,
đích thân đến tận nơi để nghe. “Lệnh văn” 令聞,
gọi là tiếng khen tốt. “Phong văn” 風聞,
là những mảng văn được nghe nói tới.
§ Văn [聞
với nghĩa là tiếng tăm, danh vọng, nổi tiếng nổi danh…Ví như, chỉ nghe qua danh tiếng mà chưa thấy được người,
hoặc nghe tiếng mà không thấy hình dáng
Đời
Tấn (Nam Bắc Triều), Trong Trang Tử, Thiên Vận,天運
Ngoại thiên, Quách Tượng chú giải:
“Thính chi bất văn kỳ thanh” 聽之不聞其聲
“Thị chi bất kiến kỳ hình”. 視之不見其形
Trong
“Xuất Sư Biểu” của Gia Cát Lượng thời Tam quốc (Nguỵ, Thục, Ngô) có câu: Chẳng
cần tiếng tăm truyền đến các nước chư hầu. - Bất cầu văn đạt vu chư hầu. 不求聞達于諸侯. Ở đây, cách hành xử của Thừa tướng nhà
Thục Hán (Khổng Minh) gặp được tính Văn 聞
của Phù Đổng Thiên Vương Việt tộc trong việc: Không cần đón nhận công trạng,
không cần Nghe lời xưng tụng của người đời sau…
§Văn
là pháp môn tu của Phật giáo trong Tam Vô Lậu Học; Văn, Tư, Tu: Nghe, suy ngẫm,
thực hành. Đức Phật thật công bằng và từ bi , Ngài luôn khuyến khích các môn đồ
hãy nghe và suy nghiệm cẩn thận bất cứ điều gì kể cả những gì Phật dạy, sau đó
tự thân thấy đúng thì mới làm theo, niềm tin mù quáng chỉ đem lại phiền não mà
thôi.
§ Về chữ Thính [聽] : theo chiết tự, bên trái kết hợp với hai bộ
Nhĩ [耳] và Vương [王] ; bên phải có bộ Nhất [一 ], bộ Tâm [心];
nằm dưới là chữ Thập [十]và
chữ Mãnh [皿 ].
Như vậy, Thính là nghe, nhưng dùng tai để nghe trực tiếp người đối thoại bằng sự
cảm nhận, chăm chú, tập trung từ đó đưa ra phán đoán đúng đắn: nên đồng tình
hay không. Thí dụ:
-
Nghe sách là Thính thư [聽書].
-
Thuận theo, vâng theo là Thính giáo [聽教];
-
Nghe theo lời nói và kế sách (của họ) - “Ngôn thính kế tùng” [言聽計從].
-Nơi
nghe hoà nhạc là Thính phòng [聽房].
-Nơi
toà xử kiện là Thính sự [聽事].
Phép xử kiện đời nhà Chu trải qua ba lần thẩm: sơ thẩm, tái thẩm và chung thẩm
gọi là Tam thính [三聽].
-Không
vâng theo, mặc cho tự nhiên.- “Thính kỳ tự nhiên”
聽其自然.
-Mặc
kệ, đi đâu thì đi - “Thính kỳ sờ chi”. [聽其所之].
§ Với
Thính theo nghĩa là Tai mắt. Tuân Tử có câu: Người nhân cái trị một nước mười dặm vuông, thì sẽ có con mắt đạt thấu tới trăm dặm. -
“Thả nhân nhân chi dụng thập lý chi quốc, tắc tương hữu bách lý chi thính”. [且仁人之用十里之國則將有百里之聽].
§ Với
Thính theo nghĩa nghe bằng cảm nhận, bằng tiếng lòng…Ví như, chỉ cần nghe tiếng
đàn đã biết được chí hướng của người. - “Thính huyền thanh tri nhã ý” [聽弦聲知雅意]. Xưa kia, Chung Tử Kỳ chỉ nghe qua tiếng
đàn của Bá Nha đã thấu suốt tiếng lòng Bá Nha. Cái nghe của Tử Kỳ đã đưa hai
người thành đôi bạn tri âm tri kỷ.
Như vậy, Văn và Thính đều có nghĩa là Nghe,
nhưng nghe với hai cách thế khác nhau. Thính là Nghe trong không gian hẹp, tiếp
nhận bằng sự chọn lọc, còn Văn là Nghe với không gian rộng, thu nhận mọi thông
tin. Tuy nhiên, Văn và Thính về sau, đều được kết hợp, sử dụng hài hoà với tính
VĂN trong đời sống.
Khởi đầu thời kỳ Xuân Thu, Quản Trọng một
chính trị gia phò tá Tề Hoàn Công chấn hưng thiên hạ, trong Tứ Duy, dùng Lễ
Nghĩa Liêm Sỉ [禮義廉恥]
là 4 thứ đạo đức để truyền Văn (hóa) cho người đời sau. Riêng về Liêm Sỉ, dường
như thời đại này, ít thấy ai xem trọng. Có lẽ người đời nay chưa kết hợp sử dụng
hài hoà giữa Liêm và Sỉ trong Thính 聽
và Văn 聞. Cho nên, Liêm và Sỉ đã thiếu
tính Văn [文]
trong đời sống.
Giữa thời kỳ Xuân Thu, Khổng Tử một nhà giáo
dục để vãn hồi trật tự xã hội trong bối cảnh trăm nhà trăm tư tưởng đã chủ
trương và chú trọng đến Lễ nhạc, Phép tắc, Văn hóa, lòng Nhân. Nhờ đó, tính Văn
của Nhân Lễ Nghĩa Lễ Tín Trí [仁禮義信智]
tự nó vẫn còn sức sống, vẫn chưa mai một hẳn cho tới tận hiện nay.
Nếu chỉ nói riêng về địa hạt văn hoá y phục,
trang sức, ẩm thực không thôi, với khởi nguyên đời nhà Chu từ công lao cải cách
đầu tiên của Chu Công Đán đề ra những điều căn bản, thì Quản Trọng là người có
công giữ gìn được nếp y quan (phục), văn vật .Tập quán phục sức (ăn mặc) đặc
trưng này, từng được Khổng Tử nhắc lại trong Luận Ngữ, thiên Hiến Vấn, rằng: Nếu
không có Quản Trọng, có lẽ chúng ta đã xoã tóc và cài vạt áo bên trái (như người
man di) mất rồi. - “Vi Quản Trọng, ngô kỳ bị phát tả nhậm hỹ” [微管仲吾其被髪左衽矣].
Như vậy, tính Văn trong đời sống, không những
ghi nhận Văn là người có học vấn, là lời văn, là văn vẻ nơi dáng người, là điều
nghe biết, lời truyền đạt, sự cảm nhận…, mà còn ghi nhận sự kiện, truyền đạt
thông tin bằng phán đoán, bằng chọn lọc… Văn chính là cái dấu vết do đạo đức lễ
nhạc giáo hoá mà có, nó mang vẻ đẹp rực rỡ của văn hoá tiến đến văn minh.
Tuy nhiên, mặc dầu Ca dao Việt Nam có câu ví
von đề cao “cái bút cái nghiên anh đồ”, nhưng bên cạnh lại cũng có câu khác cân
bằng hai mặt của một sự việc, thể hiện tính Văn trong đời sống:
“ Ai ơi đừng lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”.
Nhưng nói cho cùng, Văn luôn luôn là biểu tượng
của cái Đẹp. Những chữ Văn khác, tuy
không cùng tự dạng với Văn 文
và Văn 聞 bên trên, thì cũng nói lên
cái Đẹp, thuộc về thế giới tự nhiên, thế giới vật thể…:
-Chữ Văn [文]
vốn thông với chữ Văn [紋] này, chỉ những nét vân trên sự vật, ví như
những đường vân trên gấm lụa, vải vóc. Với bạc nén có vân trên mặt gọi là Ngân
văn [銀紋]. Với đá có nổi nét vân gọi
là Thạch vân [石紋]. Với
vân sóng nước lăn tăn gọi là Ba văn [波紋].
-Chữ Văn [彣]
: Nghĩa là màu sắc rực rỡ, xanh đỏ lẫn lộn. Điều này nhắc nhở, trong nguyên lý
3 màu: Đỏ, xanh (lá cây), xanh (da trời) tạo nên muôn sắc màu khác tuỳ theo tỷ
lệ ít hay nhiều của trong 3 màu pha trộn lẫn nhau, theo chứng minh từ Scottish
physicist and mathematician James Clerk Maxwell (1831-1879).
-Chữ Văn [雯]
: Nghĩa là những đám mây có hình hoa văn.
Cho
nên cái đẹp trong Văn chương, mức cảm thụ Chân thiện mỹ của Văn chương không thể
thiếu tính Văn trong đời sống. Văn học là khoa học nghiên cứu về Văn chương,
như vậy Văn học không thể không mang tính Văn. Do đó, con người dùng Văn làm
phương thức biểu đạt nhân tính và thế giới nội tâm. Văn cũng chính là biểu
trưng cho người là vậy.
Trong Kinh Dịch, quẻ Sơn Hoả Bí nói: Thiên
văn (văn vẻ của trời) và Nhân văn (văn vẻ của người). Thiên văn là chỉ quy luật
vận hành tự nhiên biến đổi. Nhân văn là chỉ Thi Thư Lễ Nhạc … giáo hoá đạo đức.
Cho nên có câu: Quán hồ thiên văn dĩ sát thời biến; Quán hồ nhân văn dĩ hoá
thành thiên hạ - [觀乎天文以察時變;
觀乎人文以化天下].
Nói chung, người Tây phương cũng đã có cùng
góc nhìn về chữ Văn 文
, về tính Văn trong đời sống, như Johanson người Anh từng nói:
-Văn
học là ánh sáng lý trí, nó giống như mặt trời, đôi khi có thể làm cho chúng ta
nhìn thấy những thứ mà chúng ta không thích. (Literature is the light of
reason, sometimes, can be able to make us see things we do not like).
Huxley, một người Anh khác cũng đã có
câu:
-Văn
học có thể giống như ánh sáng, chỉ cần mọi người sử dụng một cách thích hợp, nó
có thể hiểu thấu mọi thứ. (Literature can be as the light just like people used
appropriately, it can penetrate everything).
Đông phương và Tây phương tuy có hai nền văn
hoá khác nhau nhưng Tính Văn thì không khác: đó là vẻ đẹp muôn màu muốn vẻ của
đời sống từ thể chất lẫn tinh thần. Thế
giới này càng thăng tiến theo chiều hướng
thiện mỹ nếu con người hiểu biết duy trì Tính Văn cùng lúc với việc phát
triển khoa học kỹ thuật. Chính điều này
may ra mới có thể cứu vãn và hồi phục lại một thế giới hòa bình.
Lâm Minh Anh