Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

758 . THÀNH ĐỒNG NGUYỄN (TRỊNH CHU) - Tranh NGỰA -2026 Acrylic 79.5x59.5

 


757 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG : Nhạc phổ thơ BAN MÊ MÙ SƯƠNG Phổ từ thơ ĐOÀN VĂN KHÁNH

 



756. TIỂU LỤC THẦN PHONG . THƯA RẰNG SON SẮC XUÂN XANH.

                                                                                                    



Sáng nay vườn ta nở  những đóa thủy tiên đầu tiên, trời ơi cái màu vàng rực rỡ, màu trắng tinh khiết thanh tân. Đất trời đông giá mà sao thấy sắc xuân long lanh trên đầu ngọn cỏ. Những đóa thủy tiên nở sớm là dấu hiệu của mùa xuân đang đến.

Thưa rằng xuân xanh vẫn son sắc vĩnh hằng, có đi đến bao giờ! Nhựa xuân âm ỉ chảy trong từng thớ gỗ, mạch lá. Sắc xuân ngủ trong củ hoa chỉ đợi khi trời ấm thì bừng lên. Xuân không đi không đến. Xuân vẫn ngụ giữa trời đông, ẩn trong vô số nụ và chồi. Xuân có ngay giữa hạ với sắc lá xanh biếc. Xuân hòa trong muôn hồng nghìn tía của mùa thu. Xuân ở trong đất mẹ, vi vu cùng làn gió vô tận đất trời. Xuân ấm áp tia nắng và dĩ nhiên róc rách lưu chuyển trong dòng nước miên viễn kia. Xuân chan hòa khắp nhân gian, sáng rực rỡ dung thông ba cõi mười phương.

Mùa xuân đã không sanh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm…Cớ sao ta lại bảo xuân về? Thưa rằng cái tâm cảm em ơi! Vì chúng ta chấp vào cái tướng mà không thấy cái tánh ấy thôi. Phần nữa vì thế gian này là thế giới đối đãi, thế giới nhị nguyên. Vì chúng ta thô nên mới sanh tâm ra vậy.

Năm xưa Lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Cái tâm (soul, spirit, mind, thought…) khi không trụ vào bất cứ vật gì, việc gì… thì nó trở nên kỳ diệu vô cùng, diệu dụng không sao nói hết được! Hầu hết mọi người chúng ta tâm trụ vào tiền bạc của cải, nhan sắc sắc dục, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ chơi bời. Trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên tâm chúng ta không thể dụng được cái diệu. Tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần nên mới sanh tâm xấu – đẹp, đến – đi, tăng – giảm… và từ đó mới có xuân khứ, xuân lai, xuân đáo, xuân này hơn xuân kia…và dĩ nhiên không thể thấy đóa hoa mai ngoài sân trong đêm tối như ngài thiên sư Mãn Giác. Càng không thể “ngộ” đóa hoa sen như ngài Ca Diếp.

755 . NGƯỜI TÙ TRỞ VỀ Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

 



André Maurois, tác giả Pháp (1885-1967), để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý (Bernard Quesnay, Climats – có người dịch là m cnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng (Le peseur d’âmes – Người cân linh hn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng -). Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun (Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre (Lịch sử nước Anh), Histoire des Etats-Unis (Lịch sử Hoa Kỳ), Histoire de France (Lịch sử nước Pháp).

Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ (Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust), các chính trị gia (Disraeli, Lyautey), và cả nhà khoa học (Alexandre Flemming)

Truyện ngắn , bên cạnh những thể loại khác,  làm cho  sự nghiệp sáng tác của Ông thêm đa dạng phong phú. Ông không chọn những đề tài lớn mà chủ yếu chỉ là những vấn đề bình thường của cuộc sống hàng ngày, trình bày qua một giọng văn giản dị, tự nhiên, và lối phân tích nội tâm tinh tế, sâu sắc. 
          
Cùng với Hoa violet ngày thứ tư (Les violettes du mercredi), Khách sạn Thanatos (Thanatos Palace Hotel), Hoa từng mùa (Fleurs de saison)..., truyện Người tù trở về (Le retour du prisonnier) dưới đây góp phần khẳng định tài năng một nhà văn với bút lực sung mãn.

André Maurois, (1885-1967)
     
Câu chuyện tôi kể đây là chuyện thật, xảy ra vào năm 1945 trong một làng ở nước Pháp mà chúng tôi gọi là Chardeuil, dù nó không phải tên của làng, tên thật chúng tôi không nói ra vì những lý do hiển nhiên ai cũng hiểu. Chuyện bắt đầu trên chuyến tàu lửa đưa những người tù Pháp từ nước Đức trở về. Cả thảy có mười hai người trên toa tàu thường chỉ chở mười hành khách, chật chội khủng khiếp, mệt mỏi nhọc nhằn, nhưng phấn khích và sung sướng, vì cuối cùng họ đều biết rằng, sau 5 năm xa cách, nay họ sắp được trở về với quê hương, nhà cửa, gia đình.

Đối với hầu hết mọi người, hình ảnh luôn ngự trị trong tâm trí của họ suốt cuộc hành trình là hình ảnh người phụ nữ. Tất cả nghĩ đến người đó với thương yêu, hy vọng, có người lại lo lắng. Người họ sẽ gặp lại có thuỷ chung không? Người đó đã gặp ai, đã làm gì trong suốt thời gian dài đằng đẵng sống một mình? Những người đã có con đỡ phần lo lắng hơn. Vợ của họ đã phải bận rộn chăm sóc con cái, và có chúng với niềm vui con trẻ ắt sẽ làm cho những ngày đầu chung sống trở lại dễ dàng hơn. 

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

754 . BÙI HỮU ANH HUY : LOANH QUANH CÙNG TRỊNH CÔNG SƠN TRONG "MỘT CÕI ĐI VỀ"

                                                                                                  


Vào cuối năm 1974, Trịnh Công Sơn – lúc đó đã là một nhạc sĩ nổi tiếng – sáng tác một bài hát với tên "Một Cõi Đi Về". Trong thời cuộc những tháng năm sau đó, bài hát này rơi vào quên lãng cho đến khi ca sĩ Khánh Ly trình bày lần đầu tiên ở hải ngoại vào năm 1977.

Bây giờ thì Trịnh Công Sơn đã ra đi. Suốt một phần tư thế kỷ, chúng ta không còn người nhạc sĩ từng ghi nhật ký cho trái tim Việt Nam qua những ca khúc của mình.

Và tôi, sau một đời đã đi loanh quanh, đã mỏi mệt, một hôm chợt tìm lại lời hát của Một Cõi Đi Về, và xin được ghi lại một vài cảm xúc của mình.

Lời ca của Trịnh Công Sơn luôn mang chất thơ và triết lý gói trọn trong những ca từ mờ ảo. Có thể nói rằng nghe nhạc Trịnh cũng như xem một bức tranh trừu tượng; người nghe cũng như người xem, được mời gọi để hiểu theo một cách rất riêng. Những gì chia sẻ ở đây cũng chỉ là cảm nhận cá nhân.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt

Trịnh Công Sơn nhận xét kiếp nhân sinh là cứ đi loanh quanh, không đi tới.  Tôi liên tưởng đến một con vật bị buộc dây ngoài sân: tưởng rằng chạy rất xa nhưng thực ra chỉ quay quanh một vòng tròn. Nhân sinh chúng ta dường như cũng vậy, bị ràng buộc bởi những sợi dây vô hình của tham – sân – si hay cơm áo gạo tiền, đi mãi rồi lại trở về chốn cũ, và cuối cùng chỉ còn lại sự mỏi mệt.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

753 . NGUYỄN VY KHANH : NGUYỄN VĂN SÂM, NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC MIỀN NAM

                                                

            NVS, Lâm Văn Bé và NVK, 3 thành viên trang mạng namkyluctinh

 

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm sanh năm 1940 tại Sài-Gòn, trước 1975 là giáo-sư Việt văn và Triết ở các trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu (Mỹ Tho), Petrus Ký và các trường Ðại Học Văn Khoa (Sài-Gòn, về Chữ Nôm), Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hoà Hảo, Cần Thơ. Ông khởi đầu sự nghiệp với những công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn-học sử. Các biên khảo của ông đều lấy chủ đề là văn học miền Nam: Văn Học Nam Hà: văn-học xứ Đàng Trong (Lửa Thiêng, 1971, tb 1973. 442 tr.), Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (Tựa Thẩm Thệ Hà, Kỷ Nguyên, 1969. 466 tr.) và Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp 1945-1950 (luận án Cao học Văn-chương Việt-Nam; Lửa Thiêng, 1972. 295 tr.; Xuân Thu tb, 1988) - đã là những đóng góp độc đáo cho mảng văn học thường không được đánh giá đúng mức này. Không được đánh giá đúng mức, vì sau 1954 ở miền Nam, “kháng chiến” thành kiêng kị, “hồn ma”, rồi xuất hiện con cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông đã đi xa hơn hai cuốn Văn Học Miền Nam của Phạm Việt Tuyền và Đông Hồ và đã đưa vào văn học sử mảng văn học yêu nước và kháng chiến của miền Nam, phần nào "chính danh" lại cho những văn nghệ sĩ miền Nam vốn vẫn bị đảng Cộng sản sử-dụng cho các chiêu bài "yêu nước" và "dân tộc" của họ!

Ở miền Nam, Thế Phong là nhà biên-khảo đầu tiên đã giới thiệu giai đoạn văn học kháng chiến này trong Nhà Văn Kháng Chiến Miền Nam 1945-1950 - tập 3 của bộ Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam xuất bản vào năm 1963 sau khi đã đăng trên tạp chí Văn Hóa Á Châu, nhưng Nguyễn Văn Sâm mới là nhà nghiên cứu đánh giá đúng mức tinh thần yêu nước và sự đóng góp cụ-thể và đáng kể của các nhà văn miền Nam thời kháng chiến, với tập Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam và tập luận án cao học về Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp 1945-1950 tiếp theo. Hai tác-phẩm này là một công trình nghiên cứu dồi dào văn bản, tài liệu và tham khảo [Mã Giang Lân trong giáo trình Văn-học Việt Nam 1945-1954 đã đánh giá là "quyển sách có nhiều tư liệu quý, hiếm và có những nhận định thỏa đáng" (tr. 142). Ngoài ra công trình đã được các tác-giả tập Địa Chí Văn Hóa Thành Phố HCM dùng lại khi trích dẫn các tác-phẩm xuất-bản vào thời văn-học này].

752 . TRƯƠNG VŨ : CUNG GIŨ NGUYÊN : TAC GIẢ và TÁC PHẨM

TRƯƠNG VŨ Cung Giũ Nguyên: tác giả và tác phẩm




(Bài viết sau đây nguyên là bài thuyết trình của Trương Vũ đọc trong buổi ra mắt tác phẩm Le Boujoum. Buổi ra mắt do các học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên tổ chức tại giảng đường đại học George Mason, Virginia vào tháng 11, 2003.)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên (1909-2008)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên sinh năm 1909 tại Huế. Lấy tên thật làm bút danh. Cựu học sinh trường Quốc Học Huế. Trước 1954, làm phóng viên và biên tập viên nhiều nhật báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng Pháp. Chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie (Á Châu Buổi Chiều) (1940-1941) và nhật báo La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Ðông Thời Báo) vào 1954. Từ 1947, dạy Pháp văn ở trung học và sau đó làm hiệu trưởng trường trung học Lê Quý Ðôn ở Nha Trang. Từ 1972 đến 1975, giáo sư và chủ nhiệm ban Pháp văn tại Ðại học Duyên hải Nha Trang. Từ 1989 đến 1999, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Pháp tại trường Cao đẳng Sư phạm Nha trang. Ông là thầy của rất nhiều thế hệ học sinh và sinh viên Nha Trang, kể cả thế hệ đầu tiên, bước chân vào trường trung học Võ Tánh năm 1947, lúc đó còn mang tên Collège de Nha Trang.

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

751 .VÕ PHÚ - Phỏng vấn NGUYỄN MINH NỮU-NGƯỜI GHI DẤU VĂN CHƯƠNG BÊN DÒNG POTOMAC

                                                                               


TRẢ LỜI PHỎNG VẤN của Tạp Chí Văn Bút Miền Đông

Nguyễn Minh Nữu – Người Ghi Dấu Văn Chương Bên  Dòng Potomac

Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, văn học Việt Nam Hải Ngoại đã trở thành một dòng chảy đầy màu sắc; nơi những ngòi bút kỳ cựu tiếp tục miệt mài sáng tác, và những cây bút trẻ âm thầm nối bước, dù còn đó không ít thử thách. Giữa dòng chảy ấy, nhà văn, nhà báo Nguyễn Minh Nữu hiện lên như một người lặng thầm nhưng bền bỉ; một “người ghi chép” tận tụy với văn chương, một “người kết nối” giữa thế hệ, và một “người gìn giữ” hồn dân tộc qua từng con chữ.

Sinh năm 1950 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1995, ông không chỉ là người cầm bút mà còn là một người khởi xướng và tạo không gian văn hóa chữ nghĩa đến với văn học và độc giả. Từ Tuần báo Văn Nghệ Washington DC đến Tạp chí Văn Phong, từ Lời Ghi Trên Đá đến bộ sách đồ sộ Viết Bên Dòng Potomac (tập 1 và 2)... mọi dấu ấn mà ông để lại đều thấm đẫm tình yêu với văn học, với quê hương, và với di sản văn hóa Việt.

Đặc biệt, hai tập sách Viết Bên Dòng Potomac, vừa mới xuất bản và ra mắt độc giả, quy tụ hơn 98 tác giả và hơn 800 trang viết, không chỉ là tuyển tập văn chương quy mô lớn, mà còn là một kho tư liệu sống động, phản ánh tâm thức của người Việt xa xứ: những hoài niệm về quê nhà, những trăn trở về ngôn ngữ và bản sắc, và cả những đối thoại thầm lặng với thời cuộc.

Với tất cả những đóng góp sâu rộng và không mệt mỏi đó, chúng tôi, Tạp chí Văn Bút Miền Ðông, xin trân trọng gửi tới quý độc giả một cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Minh Nữu. Đây là những câu hỏi không chỉ xoay quanh tác phẩm, mà còn chạm đến hành trình sống, trải nghiệm sáng tác, và niềm tin vào sứ mệnh văn chương mà ông đã theo đuổi suốt hơn nửa thế kỷ.

Tạp chí Văn Bút Miền Đông (VBMÐ):

1.   Trước hết xin ông cho biết về tiểu sử của ông và quá trình cầm bút từ năm 1970; điều gì đã thôi thúc ông chọn văn chương?

 

NMN: Năm 1965 là năm nở rộ sinh hoạt Thi văn đoàn ở miến nam Việt Nam. Lúc đó, từ  các nhật báo đều dành ra một phần cho sáng tác thiếu nhi, và rất nhiều tờ báo dành cho thanh thiếu niên ra đời với đông đảo đọc giả, có thể nhớ như Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông… Niềm vui của tuổi mới lớn đó không có TiVi, không có internet má chỉ có sách báo và trò chơi thiên nhiên. Tôi cũng như nhiều bạn đồng trang lứa lập các Thi Văn Đoàn rồi làm thơ viết văn gửi đăng  báo …là niềm vui lớn nhất. Các bạn đó, bây giờ, vẫn còn cầm bút như Linh Phương  (tác giả Kỷ vật Cho Em) Trịnh Y Thư ( Có thời làm Chủ Nhiệm Tạp Chí Văn Học Cali) …Tôi cũng vậy. Đó là một thời thật đẹp của thời thiếu nên. Sau đó , đến tuổi trưởng thành, nhập ngũ  vẫn theo đuổi những ham thích đó cho các tạp chí lớn hơn…Cho tới năm 1971, tôi mới có truyện được đăng tải trên Tạp Chí Văn thơi do Nguyễn Xuân Hoàng làm thư ký tòa soạn.

2.   Là người sáng lập và điều hành Tuần báo Văn Nghệ và Tạp chí Văn Phong  ông nhìn nhận vai trò của báo chí văn học Việt tại hải ngoại như thế nào?

NMN: Vì nhu cầu kiếm sống bằng những gì mình biết trên xứ người , tuần báo Văn Nghệ ra đời. Vì thỏa mãn đam mê chữ nghĩa và nhu cầu kết giao với bạn tri âm cùng niềm yêu thich, Tạp chí Văn phong ra đời. Vai trò của báo chí văn học hải ngoại vượt quá tầm suy nghĩ của tôi.

750 . ĐINH TRƯỜNG GIANG - Tranh Mùa Xuân

 


749. TT-THÁI AN - BA ÔNG THẦY ĐẶC BIỆT

                                                                                                   


                                                                                              


 

Hè năm 1968, khi đến chơi nhà người chị họ, tôi thấy quyển truyện “Đời Phi Công” của Toàn Phong thì mở ra xem. Chị họ bảo sách do chú Á tặng chị.  Trong bụng tôi nghĩ thầm có lẽ vì chú Á là phi công, một sỹ quan không quân nên mua sách này tặng chị đây. Đọc qua vài trang, tôi thấy lôi cuốn nên định bụng cuối tuần sẽ ra Khai Trí tìm mua.

Chị họ bảo rằng chú Á kể cho chị nghe Toàn Phong là bút hiệu thôi. Tên thật của tác giả là Nguyễn Xuân Vinh, từng là Tư Lệnh Không Quân của VNCH từ nằm 1958-1962.  Sau đó ông từ chức và qua Mỹ du học.  Năm 1968 ông Nguyễn Xuân Vinh đã có bằng Tiến Sỹ Không Gian và là giáo sư tại Đại Học bên Mỹ.  Nghe thế, tôi càng háo hức mua cho được quyển truyện này.  “Đời Phi Công” được xuất bản lần đầu năm 1959, sau đó tái bản 6 lần, và đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.

Rồi tôi cũng mua được quyển Đời Phi Công của Toàn Phong. Năm đó tôi còn nhỏ, khoảng 14 thôi, chưa mơ mộng lãng mạn như bà chị họ nhưng đọc xong thì tôi thấy bà chị yêu chú Á cũng phải.

Thời gian trôi nhanh. Bỗng chốc đến tháng 4, 1975.  Miền Nam VNCH tan hàng, triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong đó có gia đình tôi.  Người ta vượt thoát bằng mọi cách, đi mọi nơi trên thế giới.  Gia đình tôi đã đến được trại tị nạn Bushan của Đại Hàn nhưng sau đó cha tôi lại bắt vợ con theo đến Đài Loan.

Ở Đài Loan hơn 3 năm, cha tôi lại giắt vợ con qua Bolivia, tôi cũng từng đi theo gần 3 tháng rồi bỏ về Đài Loan.

Ở Đài Loan từ 1975 đến cuối hè năm 1982 thì được anh Chăn, một người Việt Nam đang dạy học ở một trường đại học cộng đồng ở thành phố Tân Trúc báo tin có giáo sư Nguyễn Xuân Vinh từ Mỹ qua dạy ở Đại Học Tinh Hoa, một đại học lớn có danh của Đài Loan.  Anh Chăn mời được gia đình giáo sư Vinh đến nhà dùng cơm, tiện thể gặp gỡ các anh em Việt Nam bên đó.

Thế là còn khoảng chục anh em Việt Nam quanh vùng Đài Bắc, họ là những sinh viên từ miền Nam Việt Nam được học bổng của chánh phủ Đài Loan trước 1975, giờ thì đã ra trường và đã có việc làm ổn định, cùng nhau đến nhà anh chị Chăn dưới Tân Trúc để gặp gỡ giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Vì đám sinh viên Việt Nam qua Đài Loan khoảng năm 1970-1975 là những người đã từng nghe tên tuổi của Tư Lệnh Không Quân Nguyễn Xuân Vinh, cũng là nhà văn Toàn Phong.

Chồng tôi là một trong những sinh viên du học Đài Loan trước 1975 nên tôi bế con đi theo chồng đến nhà anh chị Chăn để gặp giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.  Đối với tôi và tất cả anh em Việt Nam còn sót lại ở Đài Loan là một niềm hạnh phúc “tha hương ngộ cố nhân” dù ông chẳng biết chúng tôi là ai.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là một người thấp bé so với kích thước trung bình của đàn ông Việt Nam. Tôi cứ tưởng là phi công thì phải cao trên trung bình nên tôi hơi ngạc nhiên khi vừa trông thấy ông.  Ông có cái mũi mà người ta thường gọi là mũi lân, nghĩa là đầu mũi to tròn, và đầu mũi của ông có nhiều đường gân máu màu đỏ nổi dưới lớp da thấy rõ. Có lẽ người ta bảo đó là tướng làm lớn.  Ông mặc cái áo sơ mi trắng ngắn tay và cái quần tây màu đen.

748 . HỒ ĐÌNH NGHIÊM - NHỮNG LINH HỒN LẠC LỐI

                                                                                                     


 

Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi.

 

Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích. 

Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

747 . NGUYỄN SÔNG BA : VỀ NHÀ THÔI.

 VỀ NHÀ THÔI

(Hậu chuyện tình Lang Biang thời nay)
Sơn dầu 90x120 trên bố
Tranh: Nguyễn Sông Ba