Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

902 .PHẠM VĂN NHÀN - Đọc Yellow mama và Hoàng Thị Bích Ti

                                                                                    


Đèn soi bóng nhớ 

đêm trầm bước lặng tìm ai

niềm vui không nói

kìa sao nỡ...

một chút riêng tôi

xé ruột thuở mong chờ

 Bốn câu thơ trên trong bài thơ “ một mình ” của nhà thơ Trần Nghi Hoàng đã gợi lên cho tôi phải làm một cái gì đó sau khi đọc xong tác phẩm của Hoàng Thị Bích Ti. Tác phẩm: Yellow Mama. Vâng, xin lỗi Hoàng Thị Bích Ti là: tôi không gọi tác giả bằng bà, bằng cô hay bằng hai chữ “ nhà văn , nhà thơ ” như nhiều người thích xưng tụng cho nhau ở vào thời buổi mà“ văn chương hạ giới rẻ như bèo ” này; mà tôi gọi Hoàng Thị Bích Ti bằng chị trong lối xưng hô để dễ viết về một: Hoàng Thi Bích Ti. 

Tác phẩm Yellow mama vừa đọc xong, tôi thấy: " niềm vui không nói, kìa sao nỡ...một chút riêng tôi, xé ruột thuở  mong chờ ".

Đúng vậy. Kìa sao nỡ.....để một tác phẩm hay phải nằm im trên giá sách của tôi? Kìa sao nỡ... để tôi ích kỷ đọc tác phẩm một mình. Và, chờ mong gì? Chẳng chờ mong gì hơn là khi đọc một tác phẩm “ hay ” theo “ cảm nhận ” của riêng tôi. Nhưng, cảm nhận đó còn tùy theo từng sở thích của mỗi người nữa. Có người thì cho tác phẩm đó ở vào loại trung bình hay hơn một chút. Có người thì vì lý do gì đó cho tác phẩm đó “ tệ ” nếu  có vấn đề với tác giả...Nhưng với tác giả thì khác, họ chấp nhận và đón nhận sự phê bình của đọc giả vì tác phẩm  đã được  “ trình làng ”. Còn tôi, khi đọc một tác phẩm hay là như bắt được một cái gì đó mà chính mình đã đánh mất tự bao năm ( tôi không khen chị đâu nhé, chị Hoàng Thị Bích Ti )  và, vì thế viết ngay trong nỗi thích thú của riêng mình ( viết theo lối cảm nhận, chứ không dám viết theo lối phê bình văn học ) . Ừ! Mà tại sao lại không viết khi đọc một tác phẩm hay? Niềm vui không nói ... câu thơ trong bài thơ của Trần Nghi Hoàng, tôi hỏi: tại sao không nói nhỉ? Đọc một tác phẩm hay là: Một niềm vui. Mà đã là niềm vui thì phải nói, nhiều khi thích quá còn phải la lên nữa là khác. Nói còn “ ít và nhỏ ”lắm. Tôi đang la đây. La là tiếng tán thán để giải quyết lòng mình trong: hĩ, nộ, ái, ố...mà tiếng la của tôi ở đây là” hĩ ”, là” ái ” khi đọc xong Yellow Mama của Hoàng Thị Bích Ti.   

Đâu cần phải quen tác giả mới cảm nhận một tác phẩm. Chỉ cần một tác phẩm hay là ta đã “ ngộ ” được với tác giả rồi. Vâng, đúng vậy, tôi chẳng biết Hoàng Thị Bích Ti là ai. Cuộc sống riêng tư của chị như thế nào? Người Nam hay Băc hay Trung? Cuộc sống bên Mỹ này, chị có bị Mỹ hoá không? ...Từ chỗ không biết cho nên không quen. Nhưng Yellow mama thì tôi quen, gần gũi, vì nó đang ở trước mặt tôi đây, trong gang tấc .

 

**

Bây giờ là mùa thu, lá bắt đầu vàng trên những nhánh cây. Chỉ vài ngày nữa thôi những nhánh, những cành sẽ trơ trụi khi đông về. Một rừng cây rụng lá. Một hàng cây rụng lá. Một cây rụng lá. Chỉ còn lại những nhánh cành khẳng khiu. Cho dù một rừng cây, hay một cây, khi nhìn tưởng cây sẽ chết vì lá không còn nữa để tiếp nhận ánh sáng mặt trời nuôi cây ( nhựa luyện ). Theo lối suy nghĩ của người Phương Đông sự lìa cành của lá ví như người sắp lìa đời. Nhưng không, lá có lìa cành thì lá vẫn  nuôi cây qua quá trình tiến hóa.  Cho nên khi đọc Yellow Mama , một tập truyện ngắn đi kèm với Những bài Thơ Riêng...( in chung ). Tôi đọc ngay những truyện ngắn gồm 10 truyện mà tác giả đã đưa tôi vào  thế giới “ Có/ Không ”. Cái “ Không ”  nhiệm mầu đó đã đưa tôi vào cái “ Có ” không lãng đãng như khói như sương, không che đậy bằng những gam màu để đánh lừa bàng quan thiên hạ,  mà thật  là “ thật ” để  tôi phải rung động theo từng con chữ mà Hoàng Thị Bích Ti đã trải dài ra trên mỗi trang giấy, qua 10 truyện ngắn, gồm khoảng 157 trang.

Với ngòi bút sắc, gọn. Với cái nhìn trực diện vào sự việc một cách khúc chiết, chị đã đem đến cho người đọc một thích thú ngay lúc vào truyện. Thẳng thắn và phải nói là “ trung thực ” của người cầm bút. Người ta nói “ nhà văn ” phải phản ánh được  thực trạng của xã hội đương thời. Đừng bẻ cong ngòi bút mà hướng dẫn lệch lạc để người đọc  không thấy được vấn đề của xã hội lúc ấy. Như trong: Người Bán Chiêm Bao, chị viết:

...." Trò chơi buôn người rồi cũng có hồi kết thúc. Cách mạng lật lừa, bán đứng quê hương. Chánh phủ vô tâm quịt luôn canh bạc cuối cùng để mặc cho các con bài ngơ ngơ ngáo ngáo. Thế là thổ phỉ vùng lên tranh dành lấn đất. Những tên cướp rừng lên làm lãnh tụ. Bố hắn chết trên đường chạy loạn. Như bừng tỉnh sau một giấc ngủ mê man, hắn trở hành một người trôi nổi, tha phương; vô gia đình, vô quê hương, vô chính phủ...”

( trang 15 ). Để rồi cuối cùng Hắn, nhân vật trong truyện cũng trở thành giấc mơ. Giâc mơ viết nên lời. Có lần, nhân vật Hắn mà Hoàng Thị Bích Ti đã cho lời đối thoại với chủ báo:

..." Tôi là con người chân thật. Chữ nghĩa của tôi chỉ để nói lên những lời chân thật...”...” Tôi làm văn chương chứ không làm nghề bán chữ! Đời sống không chỉ có cơm và áo. Nó còn có những cái cao đẹp khác như ước mơ và lý tưởng. Người không có ước mơ, lý tưởng thì có khác gì một con vật đần độn...”( trang 17 ) . 

Hắn, trong truyện: Người bán chiêm bao, tôi không nghĩ phản ánh nhân vật qua tác giả mà thường là như vậy để tác giả gởi gắm mình vào nhân vật trong truyện ( dù là truyện ngắn ). Có thể lắm! Có thể Hắn là chị, là tôi, là những người cầm bút chân chính. Nếu quả đúng như thế, nhà văn phải chân thật với chữ nghĩa và với mình. Chưa một lần biết chị, phải không? Nhưng như thế tôi lại chịu với lối viết thẳng. Mong Hắn trong truyện cũng như Hắn ngoài đời, của chị. 

 

Chữ nghĩa của Hoàng Thị Bích Ti  dùng không như sương như khói, lãng đãng để ru người đọc vào chốn “ mê cung ”. Mà chị nhìn qua sự việc một cách “ chính diện ” không che đậy dưới một lăng kính nhiều màu sắc. Nhiều lúc, nhiều đoạn người đọc nghe đến “ não lòng ”. Nhưng lại lôi cuốn đọc giả một cách lạ kỳ. Như:

..." Đứa con gái im bặt khi thấy ông Dân ngồi từ bao giờ bên cái bàn con gập ghềnh, lỏng chỏng. Tấm màn vàng tơi sau lưng ông rũ xuống rách bươm, ngăn căn nhà ra làm hai ô nhỏ. Phía trên của ông già, phiá bếp là của đứa con gái. Đôi nạng gỗ nằm sóng soãi trên nền xi măng thô cứng. Cái quần ngắn cũ xì phơi đôi chân đứt lìa ngang đầu gối, chằng chịt những đường may trên lớp da non đỏ bóng như hai đòn giò mới chưa kịp cắt chỉ, treo tòng teng trong xe bánh mì ngoài đầu ngõ...” ( cục xà phòng, trang 127 )

901 . NGUYỄN ĐÔNG A - Đọc thơ Hoàng Kim Oanh

                                                                                                   


MƯA SÀI GÒN.

TẢN MẠN BÊN TÁCH CÀ PHÊ CÙNG NGUYỄN XUÂN THIỆP

 

mưa. mưa ở đây.

tôi ngồi đây. căn phòng. ngọn đèn.

laptop vẫn mở. cuốn sổ tay. lấp dần từng trang trắng.

tôi lấp dần tôi.

Sài Gòn. mưa thu. giăng giăng

bên này và bên kia biển rộng*

mưa. mưa ở đây.

tôi ngồi đọc tôi cùng gió mùa*

tôi ngồi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp

tôi ngồi đọc tản mạn bên tách cà phê*

nhà thơ Nguyễn Thanh Châu chuyển từ mùa đại dịch

những ngày coronavirus wuhan. no time. no space.

mở. đóng. mở.

đêm trôi...

 

mưa. mưa ở đây

Sài Gòn. mưa thu. giăng giăng

bên này và bên kia biển rộng

Ôi sao quá nhiều điều quen thuộc như tôi từng đâu đó

khi Nguyễn Xuân Thiệp nhìn những mùa thu đi hơn 60 năm trước

khi Nguyễn Xuân Thiệp làm tôi rưng rưng hát trong trí nhớ

tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà, giàn thiên lý đã xa. đã rời xa

và đất trời Atlanta.

Tara. Tara.

Gone With The Wind

thức dậy. ngọt ngào.

miền nhớ.

miền yêu.

 

mưa. mưa ở đây

bên này và bên kia biển rộng

tôi chìm đau trong "The House Of The Rising Sun". The Animals. não nùng giọng khê đặc. ngươi ca sĩ thét gào. gió rít ngoài song cửa.

New Orleans.

ngôi nhà của mặt trời mọc

ngôi nhà tội ác lưu đầy. những đứa trẻ không bao giờ thấy mặt trời của tương lai số phận

Oh mother, tell your children

Not to do what I have done

Don't spend your life in sin and misery

In the House of the Rising Sun

New Orleans.

thành phố cổ kính khai sinh nhạc jazz.

tiếng kèn đồng. lung linh giấc mơ hội hè. đủ màu sắc tộc.

ước một lần café chiều tím. một lần đắm chìm trong jazz New Orleans.

chờ tôi

chờ tôi

New Orleans.

chờ tôi

Scarlett O’ Hara

‘After all, Tomorrow is another day”

mùa dịch rồi sẽ qua!

mùa dịch rồi sẽ qua!

 

mưa. mưa ở đây.

bên này và bên kia biển rộng

tôi thấy các anh Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Cường, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Minh Diễm, Trịnh Công Sơn, Kim Tuấn ngồi ở quán cafe ngon nhất vùng Vịnh San Francisco

(hôm nay Cali cháy rừng bụi mù mịt đêm giữa ban ngày

San Jose. anh Lữ Quỳnh vừa chụp từ cửa sổ. gửi qua messenger)

tro bụi phủ kín.

San Jose. Santa Ana. San Francisco…

ôi những cái tên đâu chỉ là những địa danh vô tri vô giác trên tấm bản đồ.

nơi gần lắm tim tôi.

những khuôn mặt thân thương làm nên một phần quá khứ và hiện tại tôi yêu dấu

đêm qua. cô học trò chat trên facebook

- mấy năm nay Cali không mưa. em quên mất rồi cả tiếng mưa rơi...

 

mưa. mưa ở đây.

tôi ngồi ở Sài Gòn

bên này và bên kia biển rộng*

trăng trong vịnh Frisco còn ấm nồng giọng ngâm Cao Đông Khánh

có giới hạn nào. dư ba động vỡ của bi kịch người.*

đường bạch dương chiều không quán trọ*

câu chuyện trên bờ biển. một chiều nhìn mây trôi*

cây bàng mùa đông & tiếng dương cầm trong ngôi nhà cổ*

ôi những bông hướng dương

những góc phố hẹn hò

đóa phù dung không bao giờ tàn úa

trong anh.

mưa. mưa ở đây

tôi ngồi ở Sài Gòn

laptop không ngủ. ngọn đèn. cuốn sổ tay.

ly cafe đêm vừa khuấy.

nghe gió mùa Dallas gào trên phím chữ

nghe sóng cuộn trên dòng sông Mississippi

tôi ngồi ở Sài Gòn

tản mạn bên tách cà phê cùng nguyễn xuân thiệp

trong đêm

những con phố khuya phương Nam giờ này nồng nàn hoa lan, hoa lý. hoa lài. không ai trồng hoa sữa

trăng Pleiku, Dalat, Thanh Chương

trăng Virginia, trăng Garland...

giữa cuộc bạo hành, cơn sốt dữ*

đóa bluebonnet nào xanh ngát lại lòng anh

thảo nguyên vẫn trăm năm ngàn năm

cồn cào đi về hướng gió

gió vẫn thổi, như tự nghìn năm, ngược nẻo đường xưa.*

Và như thế, đã có những cơn gió thổi trên lịch sử, trên kiếp người. *

thổi qua hồn anh.

thổi qua hồn tôi. *

từ chái bếp nghèo của mẹ. những câu chuyện cổ tích thần tiên. mười bảy tuổi con hòa với trái tim yêu thương Andersen thành tác phẩm đầu đời. cùng Nguyên Minh Đám tang đa đa. Nàng Lai Mưa qua thành phố. Võ Tấn Khanh Chim bay về đâu…

ôi mẹ xa xôi...

còn có bao giờ con trở lại

con dế buồn khóc lạc giữa đêm mưa

 

mưa. mưa ở đây.

Sài Gòn trong đêm mưa.

lặng lẽ như chưa bao giờ lặng lẽ thế.

tôi ngồi đọc tản mạn bên tách cà phê. thơ. gió mùa. hôm qua. hôm nay. khóc cười buồn vui dào dạt phủ kín 721 trang pdf

đi suốt hành trình từ người đọc đầu tiên ngỡ ngàng mê hoặc bởi dòng thác hình ảnh-âm vang hư hư thực thực cuồn cuộn băng băng qua mấy trăm câu thơ như thác hoàng hà, nguồn sống dân tộc đông phương và tây học, tạo ra vòm ánh sáng vừa kỳ diệu vừa duy lý.**

đến bất chợt Nguyễn Thị Khánh Minh.

bản giao hưởng Nguyễn Lương Vỵ.

xương rồng nở hoa Du Tử Lê.

Qua góc nhìn Phan Xuân Sinh. Hồ Đình Nghiêm. những đợt sóng ngầm uất kết dồn nén vô biên Nguyễn Mạnh Trinh. ánh trăng- bút ký đời người Trần Doãn Nho.

Qua nỗi trăn trở nhân sinh Trần Hữu Thục và từ Châu Liêm đến Nguyễn Xuân Thiệp của Hoàng Lâm Nguyễn Thanh Châu.

và tôi.

chưa phải người đọc cuối cùng.

ôi sao quá nhiều điều quen thuộc như tôi từng đâu đó

những trang viết quá nhiều ký ức. tôi từng biết. từng nghe. từng nhớ. từng yêu. từng nhói lòng đau đáu…

đẹp và buồn.

ôi một thời tóc bồng lãng mạn chỉ trao yêu và không biết hận thù

đi qua những cơn giông bão sấm rền tử sinh. mất nhiều hơn được

người thi sỹ không nhận mọi thứ danh xưng phù phiếm đời trao, dõng dạc, thiêng liêng, kiêu hãnh mà đơn giản vô cùng: tôi là người làm thơ, viết văn. tôi yêu đời sống và những gì có liên quan đến đời sống…***

người thi sỹ tài hoa nặng lòng yêu thương. một đời phiêu bồng lãng tử

vẫn từng ngày. từng ngày. cây bàng. con dế. tiếng ve. ánh trăng… dĩ vãng trìu trĩu nỗi niềm nostalgia…

bên này và bên kia biển rộng*

chỉ còn nỗi khát khao một ngày nào nhặt bông khuynh diệp vàng khô rụng đâu đó trên một góc phố gió mùa

đem đốt cho hương quê nhà ấm từng khuôn mặt bạn bè

bên kia

địa cầu thương nhớ

ấm lại trái tim mong manh

 

mưa. mưa ở đây.

Sài Gòn mưa thu đang giăng giăng

bên này và bên kia biển rộng

laptop. cuốn sổ tay. lấp dần từng trang trắng.

tôi lấp dần tôi.

 

Le poète troyen est mort... La parole est au poète grec ****

không. không. Fraisse Luc.

những thi sỹ thành Troy vẫn cất cao tiếng hát

giữa bạo tàn. nước mắt. phân ly.

chúng tôi vẫn còn đây. mãi mãi.

we are here. forever and forever.

yêu từng nhịp đời bên nớ bên ni

cho dẫu mưa không bao giờ đưa anh trở lại dòng sông cũ

cho dẫu quê hương nghìn trùng chỉ còn đẹp trong nước mắt

 

đêm nghe quạ kêu*

Lenore trở về?

Edgar Poe một trăm bảy mốt năm thức dậy từ nấm mồ Baltimore huyền thoại.

Lenore.

Nevermore!

Nevermore!

 

Sài Gòn,

14.9.2020

hoangkimoanh

...

Chú thích

*những dòng in nghiêng trích nguyên văn tựa và lời một số bài của tác giả Nguyễn Xuân Thiệp trong 3 tập “tôi cùng gió mùa” “Thơ Nguyễn Xuân Thiệp” và “Tản mạn bên tách cà phê”

** Đặng Tiến, 2008. Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Vũ trụ thơ II. Trang 246, 248

*** Nguyễn Xuân Thiệp trả lời trong buổi truyền hình trực tiếp trên đài SBTN-DC 6.1.2013

**** Thi sỹ thành Troy đã chết. Lời bây giờ thuộc về các thi sĩ Hy Lạp.

Nguồn: Fraisse Luc, Poétique, 2014/1 (n° 175), p. 47-57. DOI: 10.3917/poeti.175.0047.  https://www.cairn-int.info/revue-poetique-2014-1-page-47.htm

Bài đã đăng trong tập san Quán Văn chuyên đề Tôi cùng gió mùa, giới thiệu chân dung nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, số 75, tháng 9.2020.

900 . NGUYỄN VY KHANH : 50 NĂM BÁO CHÍ HẢI NGOẠI




50 NĂM BÁO CHÍ HẢI NGOẠI

tiếp theo 2 phần đã đưa lên FB các ngày 9 và 27-7-2026.

[Văn Học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại. Q. Thượng-Tổng Quan. “Chương IV: Báo chí, nhà xuất-bản và vài nhóm tiêu biểu”. Toronto: Nguyễn, 2025, tr. 645-690. Sách do lulu.com phát hành online]

III- TỪ SAU BIẾN CỐ BỨC TƯỜNG BÁ-LINH ĐẾN NĂM 2000

Bức tường Bá Linh sụp đổ từ ngày 9-11-1989 đã kéo theo sự biến dạng của chủ nghĩa Cộng-sản ở nhiều quốc-gia làm nức lòng hy vọng nơi người Việt hải-ngoại. Nhiều nỗ lực chính-trị và cộng đồng đã được các tổ chức và cá nhân tham gia, nhưng thiếu sức, thiếu đồng thuận, đoàn kết, đã phải thay đổi chiến lược, chiến thuật nhiều lần với nhân sự ngày thêm lão hoá. Chính quyền trong nước cũng đã phải sử dụng nhiều chiến thuật khác (bá đạo cũng có mà tiền cũng có) để đương đầu với những chống đối của cộng đồng người Việt hải-ngoại.

Thế Kỷ 21 của công ty Người Việt Inc ở Quận Cam California; số 1 ra tháng 5-1989, số cuối cùng 233 tháng 9-2008. Trong số đầu tiên với chủ đề “Năm lưu vong thứ 15 nghĩ về quê-hương, đất nước, con người”, Thế Kỷ 21 cho biết:“Thế kỷ trước mắt đang được mệnh danh ‘Thế kỷ Thái Bình Dương’. Đất nước quê hương gấm vóc ‘hình chữ S’ truyền lại từ bao đời cha ông, vẫn được mệnh danh là ‘Bao lơn Thái Bình Dương’. Không gian ấy, thời gian này, không thể nào còn đắm đuối trong vòng đói nghèo, bạo lực, suy đồi, tự diệt mãi. Góp lòng góp ý đưa vào cuộc chuyển đổi sinh tử cho hơn 60 triệu con người Việt ngẩng đầu lên, cùng thế giới đi vào thiên niên kỷ thứ ba đầy triển vọng xứng đáng cho con em là mục tiêu, là bầu khí, là hy vọng và là cuộc dấn thân, cuộc lên đường mà tạp chí Thế Kỷ 21 trân trọng đề nghị với quý vị” (tr. 4).

Chủ biên Vương Hữu Bột (ĐQT từ Canada, 1989-2001), Phạm Phú Minh (2001-8). Chủ nhiệm: Đỗ Ngọc Yến (1989-91), Lê Đình Điểu (1991-96), Phạm Phú Minh (1997-2001), Hoàng Ngọc Tuệ (2001-2004), Đỗ Việt Anh (2005-2008). Nhiều số đặc-biệt về các nhà báo và nhà văn thơ Hồ Hữu Tường (170), Võ Phiến, Thạch Lam, Phạm Quỳnh, Tự Lực Văn Đoàn,... hoặc chủ đề Nhớ Sài-Gòn, v.v. Đình bản sau số 233 tháng 9-2008.

Văn Xã số 1 ra tháng 1-1990, Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa chủ trương, đình bản sau số 3 tháng 7-1990. Trong bài mở đầu số 1, chủ biên cho biết : “ 'xã' ở đây là xã-hội, khu vực. Rộng hơn nữa, là căn cứ, là tổ chức, là đoàn thể. Trong khi làng văn là văn giới, thì văn xã là một tổ-chức của văn giới, qui tụ những người chung lý tưởng, chủ trương dùng văn-chương để phụng sự tổ quốc và dân-tộc... Làng Văn mang yếu tính đại chúng, Văn Xã đào sâu chuyên môn ... chú trọng về nghiên cứu, phê-bình...” (tr. 2-3). Số 2 đặc biệt về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, số 3 đặc biệt 15 năm Văn-học lưu vong, với những tổng kết hoặc ghi nhận về văn-học lưu vong và / hoặc hải-ngoại, về thơ, về xuất-bản và phát hành sách báo ở hải-ngoại, ở Úc châu, báo Việt ở Âu châu, báo-chí ở Gia-nã-đại, phỏng vấn một số văn-nghệ sĩ Việt-Nam tại hải-ngoại, v.v.

Nhóm Tin Nhà (Nouvelles du pays/News from Home, 1990, Antony, Paris) và nhà xuất bản Tin: lúc đầu báo 3 tháng ra 1 số, song ngữ Pháp-Việt, sau dần chỉ tiếng Việt. Ban biên tập gồm Đỗ Mạnh Tri, Lê Thị Bạch Nhựt, Hồ Đỉnh, Nguyễn-Hữu Tấn-Đức, Phạm Đán Bình và Nguyễn Văn Tánh. Lúc mới ra cốt hổ trợ cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan và Lm. Chân Tín bị cộng-sản quản thúc, phổ biến thông tin tin tức trong nước rất cập nhật nhất là về tôn giáo (Công giáo và Phật Giáo) cũng như về chính trị, kèm những bài bình luận, phỏng vấn và đăng bài những nhân vật đối kháng trong nước như Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ngọc Lan, Lữ Phương, ... cũng như làm sáng tỏ những khúc mắc Nguyễn Văn Trung, Phật giáo-Công giáo, ...



Nhóm Văn-hóa Pháp-Việt xuất-bản tờ Văn-Hóa (France-Vietnam Culture) ở miền Bắc nước Pháp từ thập niên 1990, Võ Đức Trung tức Võ Phước Hiếu chủ nhân NXB Lửa Thiêng trước 1975, chủ trương và chủ biên, một tạp-chí song ngữ Pháp-Việt, và cũng là nhà xuất-bản các tuyển tập truyện và thơ như Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt-Nam Hải Ngoại 1975-2000 (8 tập, 2003 – 2008), hai tuyển tập thi ca lưu vong Ba Mươi Năm Niềm Đau Còn Đó 1975-2005 (2006), Tình Lính Duyên Thơ (2008), cùng các tuyển tập hoài niệm Phi Vân, Nỗi Buồn Hoài Niệm (2009), Hiếu Đệ Lão Ngoan Đồng (2010) và An Khê Nguyễn Bính Thinh (2013) cùng với các tác-phẩm của Võ Đức Trung/ Võ Phước Hiếu như Thắp Sáng Hoàng Hôn (1989), Le Chemin vers la mer (1988), Coeur de mère (1989), Les Sentiers de l'Exil (Editions Feu Sacré, 2009), cũng như của Hiếu Đệ (Lưu Xứ U Minh) và vài tác giả khác.

Chân Nguyên “tạp-chí văn-nghệ và tư tưởng triết học Tây Đông” của Trung tâm Chân Nguyên ở Monterey Park CA, đường hướng mới từ năm 1990 (vốn xuất bản từ 10-1985), chủ-nhiệm Thích Viên Lý, chủ-bút Phạm Công Thiện, phụ tá chủ-bút Vĩnh Hảo, với sự cộng tác của Nghiêm Xuân Hồng, Mai Thảo, Du Tử Lê, Cao Đông Khánh, Phan Tấn Hải, Nguyễn Tất Nhiên, Cao Xuân Huy, v.v.

Khuông Việt do Hội Phật Tử Âu Châu chủ biên.

Tờ Người Dân của Mặt-Trận Dân-tộc Dân-chủ Việt-Nam xuất bản ở Santa Ana CA, số 1 (1-1990), lúc đầu báo giấy, sau thêm báo mạng. Theo Thư ngỏ thì “tạp-chí Người Dân ra đời với mục-đích tạo phương-tiện cho những người dân bình thường nói lên sự suy nghĩa của mình về nhựng mong ước, ưu tư đối với bản thân, đất nước”.

899 . LÊ ĐỨC LUẬN - Chưa tìm được câu trả lời.

                                                        

       Mấy hôm nay, người ta bàn ra, tán vào… bình luận, khen chê về phim “Mưa Đỏ” đang chiếu ở trong nước. Sự đời lắm nỗi thị phi - đó là chuyện thường tình! Cho nên tôi lắng nghe từ mọi phía. 

 

Bố cục, kỹ thuật quay phim và cách diễn xuất của các tài tử làm cho khán giả cảm thấy hay hay dở là do cảm nhận của mỗi người. Xin miễn bàn!

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

898. NGUYỄN MINH NỮU Lãm Thúy, người sống hết lòng với thi ca



Nhà thơ Lãm Thúy
(Ảnh Nhất Hùng – October 2014)

Tháng 10.2014 vừa qua, nhà thơ Lãm Thúy tổ chức ra mắt sách và giới thiệu tới người đọc hai tập thơ khá dày. Tập Từ Mẫu  (432 trang với 203 bài thơ) , và tập Thâm Tình (284 trang với 148 bài thơ).

Đây là lần thứ hai ra mắt thơ của Lãm Thúy. Lần trước cách đây 10 năm, Lãm Thúy đã giới thiệu tác phẩm đầu tay "Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi".  Ở lần thứ hai này, mọi người đều có cảm giác  choáng và ngợp trước sức làm việc, lòng yêu thơ  của Lãm Thúy. Cho đến nay, Lãm Thúy đã viết trên năm trăm bài thơ!

Khi tập thơ đầu tiên " Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi"  xuất bản, nhà văn Phạm văn Nhàn đã viết về thơ Lãm Thúy trên trang web Vanchuongviet.org :

"Ở trang sau của bìa sách, tác giả ghi vài dòng tiểu sử thật giản dị nhưng cũng đủ để cho người đọc biết được một phần đời của tác giả.

Sinh tại Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Cần thơ. Định cư tại Mỹ năm 1992. Biết được một ít thông tin về thân thế của nhà thơ nữ này, đọc tiếp nơi trang Lời ngỏ tác gỉ ghi: “ Lãm Thúy làm thơ, tức là dàn tri tâm hồn mình, diễn tả những cảm xúc, những rung động với cái buồn, cái đẹp, nỗi yêu đương bằng chính những gì thành thực trong trái tim và thường là nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi, không trau chuốt; vì thế chắc là thiếu phần tinh xảo và đặc sắc...”

Đó là những gì tôi đọc được trong “ lời ngỏ” của thi tập. Nhưng, càng đi sâu vào những trang thơ của tập thơ, có lẽ đây cũng chỉ là những lời “ khiêm tốn” đáng trân trọng của một nhà thơ nữ , có lẽ mới in tập thơ đầu tay này?

Thơ hay, dễ làm cho đọc giả dễ nhớ hơn là những bài thơ d. Điều này, rõ ràng như  một quy luật dành cho người đọc thơ và thích thơ. Nhưng với tập thơ “ Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi” của Lãm Thúy thì chưa có bài thơ nào làm tôi chán, khi đọc.

Với 124 bài thơ nằm gọn trong 153 trang. Có bài dài hai trang. Nhưng số nhiều, những bài thơ chỉ “ gói trọn” trong một trang. Ngắn. Dễ đọc. Đúng như những gì nhà thơ Lãm Thúy đã viết trong “lời ngỏ”: nghĩ sao viết vậy, không sữa đổi, không trau chuốt.. Nhưng xuyên suốt 124 bài thơ tôi đọc, ít ra cũng “gây một cảm xúc mạnh” đối với người đọc khó tính, khi đọc thơ Lãm Thúy. "

10 năm trước, khi đọc tập thơ "Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi" tôi đã có được cái cảm giác giống như Phạm Văn Nhàn  là những lời ngỏ của tác giả chỉ là những lời nói khiêm tốn. Thực ra thơ Lãm Thúy không phải là  những lời "..nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi, không trau chuốt; vì thế chắc là thiếu phần tinh xảo và đặc sắc...” mà ngược lại, chính cái nghĩ sao viết vậy không sửa đổi không trau chuốt lại là yếu tố làm cho câu thơ tinh xảo và đặc sắc.

Tôi không còn nhớ trọn bài thơ này, nhưng hai câu đầu bài thơ này làm tôi cảm thấy thú vị một cách bất ngờ:

"Sáng nay thức dậy hết hồn..
Người xa ta vạn dặm  đường còn đâu"

Trong hai câu thơ này, cái bàng hoàng đầu tiên là cái bàng hoàng  của tác giả, cảm xúc bất ngờ hụt hẫng đã thốt ra lời tự thán, đơn giản  "Nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi không trau chuốt" và cái bàng hoàng thứ hai là cái bàng hoàng của người đọc, một câu nói thảng thốt bình dị mà ai cũng có thể từng nghe từ người miền Nam , thế mà khi vào trong thơ nó lại long lanh như hạt ngọc. Cảm giác đó làm tôi yêu thích và gần gũi với thơ Lãm Thúy cho tới bây giờ.

Tập thơ đầu, dường như Lãm Thúy làm cho tình yêu và nỗi thương nhớ vô bờ về một vùng đất đã rời xa, hai tập sau này viết về gia đình và bạn bè

Khi dự buổi ra mắt tập thơ của Lãm Thúy, họa sĩ Đinh Cường đã xúc động viết:

"Với tôi ai yêu thương Mẹ là anh hùng
chiều với Từ Mẫu , nhà thơ Lãm Thúy
là anh hùng thôi, cô con gái út  lên giới
thiệu Mẹ thật là hay, Cảm động thấy nhà
thơ đứng bên hai cháu ngoại nay đã lớn
từ ngày người con gái đầu mất.
...
Cảm ơn mái tóc còn xỏa dài mượt mà
của người thi sĩ vẫn luôn yêu mầu tím
tôi nhìn cả ra con sông Tiền , Sông Hậu
Những chuyến phà qua, lục bình trôi..."

Còn nhà thơ Phạm Cao Hoàng thì cho rằng  MẸ ƠI VĨNH BIỆT  của Lãm Thúy là một trong số những bài thơ hay nhất  viết về mẹ.  Và câu thơ Phạm Cao Hoàng đặc biệt chú ý lại chính là một câu thơ viết chân chất nhất, viết lại những gì chính mắt nhìn thấy  "Nghĩ sao viết vậy, không sửa đổi không trau chuốt" :

Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp   
Từ đây đất lạnh là nhà

Thơ Lãm Thúy hay và lạ.

Hay vì ý thơ chân thành, lời thơ tha thiết, nhạc thơ dìu dặt...  Hãy đọc nho nhỏ một bài thơ của Lãm Thúy :

Cây buồn từ thủa chim bay
Rừng buồn thủa lá rụng đầy sườn non
Cha buồn theo nắng hoàng hôn
Mẹ buồn từ thủa lũ con chia bầy
Hoa buồn từ thủa hương phai
Con buồn từ thủa cha gầy mẹ đau
Con buồn từ thủa xa nhau
Chân trời góc bể địa cầu chia hai...

Nỗi buồn của Lãm Thúy theo dòng thơ đã đưa phong cảnh cô tịch, qua con người cô liêu, về tới suy nghiệm cô đơn  và về dần tới cô độc...

Lạ là ở chỗ những đề tài Lãm Thúy viết  là những đề tài quen thuộc, Tình mẹ với con, tình con với mẹ, tình cha, tình anh chị em, tình bằng hữu, tình vợ chồng...,  thế mà những dòng thơ viết xuống lại là những cảm nhận sâu xa ghi chú từ những tình huống bất ngờ, cái nhìn về một sự kiện giản đơn, bỗng long lanh thơ  hóa:

Bây giờ mẹ đã không còn
Con về bến cũ nghe hồn nát tan
Bến sông, một cõi thiên đàng
Lê chân viễn xứ hồn quan san về....

hay

Mẹ không hề biết đêm hôm ấy
Trăng ở nơi đâu lúc mẹ về
Chỉ biết, sau này, ngồi nhớ lại
Trăng tròn mười sáu, lúc con đi....

Thơ của Lãm Thúy, từ thi tập đầu "Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi" hay sau này hai tập thơ nữa là Từ MẫuThâm Tình  đều mang chung một nét chí tình.  Thiết tha với nỗi nhớ thương, sâu sắc với lòng yêu mến và tinh chất mộc mạc có vẻ như nghĩ gì viết thế mà thật ra là chắt lọc từng lời , chọn lựa từng ý để đưa thơ mình vào rung cảm người đọc người nghe.

Nghĩ suy tưởng của Lãm Thúy về cuộc đời, về tình yêu là những khám phá sâu lắng từ trong một tâm hồn nhạy cảm, khát khao yêu đời sống và yêu con người. Những khám phá đó được Lãm Thúy đưa vào thơ, và Lãm Thúy đã thành công vì   Lãm Thúy đã chuyển được cảm xúc của mình  vào lòng người đọc.

Nguyễn Minh Nữu

November 30, 2014