Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

940 . VÕ PHÚ - NGÀY KHAI GIẢNG VÀ NHỮNG TIẾNG CƯỜI TRONG LỚP VIỆT NGỮ

 

Chủ Nhật vừa qua, Trường Việt Ngữ Huệ Quang chính thức khai giảng năm học mới. Mỗi lần nghe hai chữ “khai giảng”, người ta thường hình dung đến một sân trường đông vui, học sinh ríu rít, phụ huynh đưa đón, tiếng trống trường vang lên báo hiệu một năm học mới bắt đầu. Còn lớp Việt Ngữ của chúng tôi thì… khiêm tốn hơn rất nhiều. Năm nay, lớp chỉ có bốn em học sinh. Nhưng, điều đáng mừng là trong bốn em ấy, có đến hai em là học sinh mới. Hai em cũ trở lại trường sau một mùa hè dài. Nhìn các em bước vào lớp, tôi vừa vui vừa có cảm giác như gặp lại những người bạn nhỏ quen thuộc. 

Một mùa hè trôi qua, các em đã lớn thêm một chút, cao thêm một chút, và dĩ nhiên… (tôi) cũng hy vọng rằng tiếng Việt của các em đừng quên (hay bớt?) đi chút nào. Hai em mới thì mỗi em mang đến lớp một câu chuyện rất riêng. Một em từ một tiểu bang khác vừa dọn về. Em này mới định cư tại Hoa Kỳ được khoảng hai năm, tiếng Việt khá trôi chảy. Điều này làm tôi rất vui, bởi giữa môi trường mà tiếng Anh hiện diện ở khắp mọi nơi, một em nhỏ vẫn giữ được tiếng Việt, nói chuyện tự nhiên với thầy cô và bạn bè, quả là một điều đáng quý. 

Em còn lại là một học sinh trung học (lớp 11) đến từ quận Fairfax, cách trường chúng tôi khoảng hai giờ lái xe. Nghe đến “hai giờ lái xe”, tôi đã thấy phục cả em lẫn cha mẹ em. Hai giờ đi và hai giờ về cho một buổi học Việt ngữ vào ngày Chủ Nhật quả thật, đó không chỉ là sự cố gắng của một học sinh mà còn là cả một tấm lòng của gia đình. Tôi nói với em rằng tôi rất cảm ơn em, và cũng xin cảm ơn cha mẹ em đã không ngại thời gian, đường sá và khoảng cách địa lý để đưa em đến Trường Việt Ngữ Huệ Quang. 

Bởi lẽ, ngay tại Fairfax, nơi có cộng đồng người Việt khá đông và cũng có nhiều trường Việt Ngữ, gia đình em vẫn chọn đưa em vượt một quãng đường xa để đến đây học. Điều đó khiến tôi càng trân trọng em hơn. Tôi đùa với em rằng: “Đi học Việt ngữ mà phải lái xe hai tiếng thì bài học đầu tiên của em chắc chắn không phải là chính tả hay văn phạm, mà là… bài học về lòng kiên nhẫn!” Nhưng đằng sau câu nói đùa ấy là một niềm vui rất thật. Bởi trong cuộc sống bận rộn nơi xứ người, khi một gia đình vẫn dành thời gian và công sức để đưa con mình đi học tiếng Việt, đó là một cách rất đẹp để gìn giữ tiếng mẹ đẻ và những giá trị văn hóa của gia đình. 

Tôi tự nhủ; với một học sinh phải vượt qua quãng đường xa như vậy để học tiếng Việt, mình nhất định không thể để em cảm thấy hai giờ lái xe ấy là vô ích. Vì thế, ngày đầu tiên nhập học, thay vì lập tức mở sách, mở bài, viết bảng rồi bắt đầu giảng bài như các thầy cô khác, tôi quyết định… không dạy theo sách vở. Tôi chỉ trò chuyện với các em. Tôi hỏi bằng tiếng Việt:

 “Các em hè vừa rồi đi đâu chơi?” 

“Có vui không?”

 “Năm học mới có gì mới?”

 “Các em thích môn học nào nhất?” 

Ban đầu, các em hơi dè dặt. Có em trả lời rất ngắn. Có em nhìn tôi rồi nhìn bạn, như thể đang suy nghĩ xem nên trả lời bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Tôi cứ kiên nhẫn chờ. Thỉnh thoảng, nếu thấy các em thật sự không hiểu, tôi nói thêm vài câu tiếng Anh. Nhưng nguyên tắc của tôi trong ngày đầu tiên rất đơn giản: cứ nói tiếng Việt được bao nhiêu thì nói. Những câu nói không cần phải thật đúng ngữ pháp, từng chữ cũng không cần thật rõ ràng, các em cũng chẳng cần phải nói như người lớn. Điều quan trọng nhất là các em dám nói, chịu nói và cố gắng nói bằng tiếng Việt. 

Chỉ cần các em mở lời, dù còn vụng về, dù đôi lúc phải ngập ngừng tìm chữ, thì đó cũng đã là một bước tiến đáng quý. Bởi nếu các em sợ sai, các em sẽ không dám nói. Mà không dám nói thì làm sao có thể giỏi tiếng Việt? Dần dần, không khí trong lớp trở nên thoải mái hơn. Các em bắt đầu nói nhiều hơn. Có em còn tranh nhau, dơ tay xin được nói (kể chuyện), từ nói vài câu, các em nói thành đoạn. Từ trả lời câu hỏi của thầy, các em bắt đầu hỏi ngược lại thầy… Một trong những điều tôi kể cho các em nghe trong buổi học đầu tiên là câu chuyện về người bạn Trần Khải Hoài và bác sĩ Dan Moore.

 Hai câu chuyện khác nhau nhưng cùng cho thấy rằng học một ngôn ngữ mới cần niềm yêu thích, sự cố gắng và lòng kiên trì. Tôi kể các em nghe về người bạn Trần Khải Hoài, một người có mẹ là người Mỹ da trắng, sinh ra và lớn lên trong môi trường Mỹ, nơi tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Thế nhưng, vì tình yêu tiếng Việt và mong muốn tìm hiểu cội nguồn, văn hóa và căn tính của mình, Khải Hoài đã kiên trì học tiếng Việt. Anh không chỉ nói tiếng Việt thành thạo mà còn trở về Việt Nam, dùng chính tiếng Việt để giảng dạy lịch sử Việt Nam cho người Việt. Tôi nói với các em: “Các em thấy không? Một người lớn lên trong môi trường Mỹ mà vẫn có thể học tiếng Việt thật giỏi. Vậy các em, những người có cha mẹ hoặc ông bà là người Việt, lại càng có nhiều cơ hội để giữ gìn tiếng mẹ đẻ của mình. Đừng để lợi thế ấy mất đi chỉ vì chúng ta ngại học!”

939 . SONG THAO - CHUYỆN CŨ GIỜ MỚI KỂ

                                                                                                   



Có lẽ ít người biết tới nhạc sĩ Trần văn Nhơn. Ông là người sanh ra và lớn lên tại Cầu Kho, Sài Gòn nhưng lại lưu lạc ra sống ở Hà Nội từ năm 1948 tới 1952. Sống cùng thời với các nhạc sĩ Trần văn Lý, Võ Đức Thu, Lê Thương nhưng cái tên Trần văn Nhơn đã rơi vào quên lãng mặc dù có thời gian ông là trưởng ban Việt Nhạc của Đài Phát Thanh Hà Nội. Ông là tác giả của hai bản nhạc nổi tiếng Hà Nội 49 và Sài Gòn Xa Hoa.

Không hiểu sao tới bây giờ tôi vẫn nhớ được ít câu trong bài Sài Gòn Xa Hoa mà tôi hay nghêu ngao những ngày còn nhỏ. Có lẽ vì nét nhạc bắt được nhịp sống xô bồ của thành phố sống về đêm. Ngày đó, tôi còn bé tí sống ở Hà Nội đâu có biết Sài Gòn là chốn nao. Tôi vào tìm trong mạng lời của bản Sài Gòn Xa Hoa nhưng không thấy, ngay cả thứ tinh thông như trí tuệ nhân tạo cũng chịu thua. Không có lời của bản nhạc nhưng tôi lại tìm thấy đĩa hát bài này của “tài tử Ngọc Bảo”. Chịu khó nghe, tôi ghi lại được một đoạn: “Sài Gòn là viên ngọc trân châu của Á Đông, Sài Gòn là nơi người viễn khách thường lui tới, tửu điếm, trà đình, Đại Thế Giới, Kim Chung, nơi vùi chôn xác con người đảo điên. Sài Gòn nơi tưng bừng với lối sống xa hoa, là chốn người xót xa với kim tiền”. Có lẽ nhạc điệu lả lướt, dồn dập, nhộn nhịp trong điệu valse dập dìu khiến tôi say mê nên nhớ tới bây giờ.

Bản nhạc nhắc tới hai chốn ăn chơi khét tiếng là Kim Chung và Đại Thế Giới. Khi tôi di cư vô Sài Gòn thì hai nơi này thuộc quyền kiểm soát của Bình Xuyên. Thực ra có tới ba nơi lận. Nơi thứ ba của hệ thống cơ sở ăn chơi của Bình Xuyên là khu Bình Khang trên đường Vĩnh Viễn.

Trong bài tùy bút của Nguyễn Đông A “Sài Gòn-Chợ Lớn: Sòng Bạc, Sông Nước và Những Người Đã Đi” trên trang mạng Thế Kỷ Mới có đoạn viết về Đại Thế Giới: “Rồi má kể về sòng bài Đại Thế Giới. Giọng bà khi đó trở nên khác, cũng không hẳn là ngưỡng mộ, mà là cái giọng của người đã sống đủ gần với một điều gì đó nguy hiểm để hiểu nó, nhưng đủ xa để không bị nó cuốn đi. Sòng bạc Đại Thế Giới được lập ra năm 1937, do tay trùm cờ bạc Ma Cao tên Lâm Giống đứng ra điều hành, dưới sự bảo trợ ngầm của người Pháp. Nằm ở góc đường Võ Văn Kiệt – Nguyễn Tri Phương, Quận 5, nơi đây nhanh chóng trở thành “thỏi nam châm” hút hết các tay máu me đỏ đen từ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và cả miền Tây. Mỗi ngày, hàng triệu đồng Đông Dương đổ vào đây như nước lũ. Chính quyền bảo hộ chỉ việc thu thuế; mọi điều hành nằm trong tay dân anh chị. Bên trong sòng bạc, không chỉ có bài bạc, còn có vũ trường, nhà hàng, phòng trà ca nhạc. Những ca nữ xinh đẹp trong bộ sườn xám thướt tha, cầm quạt che nửa mặt, cười khúc khích sau những bàn xí ngầu. Má tôi gọi họ là “xẩm hồ ly”, một danh xưng nửa đùa nửa thật của dân Sài Gòn dành cho những cô gái làng chơi lai Tàu sang trọng. Nghe cái tên thôi đã thấy trong đó vừa có sự hấp dẫn, vừa có cái gì như mùi nguy hiểm lảng vảng không tan. Mỗi ngày, tiền thuế của Đại Thế Giới đóng cho chính phủ không dưới 500.000 đồng Đông Dương. Chưa kể các khoản chi ngầm cho quan chức, cảnh sát, và những tay anh chị hoạt động trong bóng tối. Đó là thứ quyền lực không cần tuyên ngôn, không cần nghi lễ, chỉ cần tiền và súng. Khi Bảy Viễn là thủ lĩnh Bình Xuyên, ông nhìn ra miếng bánh béo bở này, nên không chần chừ mà tìm cách nắm ngay lấy nó. Dưới thời Bảo Đại, Bảy Viễn dâng sòng bạc cho Quốc trưởng, đổi lấy quyền kiểm soát cảnh sát và quân đội miền Nam. Một số năm, Đại Thế Giới trở thành địa bàn bất khả xâm phạm của Bình Xuyên. Không một thế lực nào có thể chen chân vào và cũng không ai dám thử. Thời hoàng kim ấy không kéo dài. Khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, Bình Xuyên bị đánh bật khỏi Sài Gòn, sòng bạc Đại Thế Giới bị dẹp bỏ.

Bình Xuyên bị đánh dạt ra khỏi Sài Gòn vào tháng 4 năm 1955. Năm đó tôi đang học tại trường Chu văn An chuyển từ Hà Nội vào. Trường không có trụ sở, phải học nhờ tại trường Petrus Ký vào buổi chiều. Trường Petrus Ký có một khu nhà lầu dùng làm lưu xá cho học sinh đã bị lính Bình Xuyên trưng dụng làm trại lính. Sau khi Bình Xuyên rút lui ra khỏi Sài Gòn, ngôi nhà lầu được cấp cho trường Chu văn An làm trụ sở. Đám học sinh di cư chúng tôi được hưởng thành quả từ đại bại của đám Bình Xuyên. Bất chiến tự nhiên thành!

Các cơ sở làm ăn của Bảy Viễn bị Tổng Thống Diệm dẹp hết. Sòng bạc Kim Chung sau này sớm trở thành khu chợ Dân Sinh. Tác giả Nguyễn Đông A nói về khu Đại Thế Giới ngày nay. “Ngày nay, khu Đại Thế Giới nằm im lìm bên đường Võ Văn Kiệt, hoang phế như một kẻ già nua bị người đời quên lãng. Sau một thời gian làm công viên nước, hoạt động từ năm 1999 đến tháng 1 năm 2020,  nơi này bỏ hoang đã hơn năm năm. Cây cỏ um tùm phủ kín lối đi, tường vôi nứt nẻ, hồ bơi từng sầm uất giờ chỉ còn một vũng nước đen sì bốc mùi ẩm mốc. Khu sân khấu nổi, từng vang tiếng ca múa mỗi chiều Chủ nhật, nay cột bê tông bong tróc, cỏ dại mọc lấn từng tấc. Cái công viên rộng 4.000 mét vuông ấy, từng gắn bó với bao thế hệ người thành phố, giờ trở thành một vùng đất không ai muốn nhận”.

Khu Bình Khang lại là một chuyện khác. Đây là nơi từng chôn vùi bao nhiêu cuộc đời thanh xuân của biết bao nhiêu thiếu nữ. Ngày đó nơi đây dập dìu khách làng chơi suốt ngày đêm đèn không bao giờ tắt. Tác giả Lê Bá Vận kể lại trên Việt Nam Thời Báo: “Khu Bình Khang mặt tiền có trổ cổng lớn ra vào, có lính Bình Xuyên mũ bê rê xanh ngồi và đứng canh nghiêm chỉnh, không gây sợ hãi mà còn có cảm giác tin tưởng. Bên cạnh là một quầy bán vé (ticket), mỗi ticket giá 100 đồng. Cơ sở bán dâm, có bán vé vào cửa, thật độc đáo! Trong suốt thập niên 1950 giá cả sinh hoạt ổn định. 100 đồng lúc bấy giờ là một số tiền lớn đối với dân lao động nghèo. Giá một bữa cơm là 4-5 đồng ở hàng quán ăn bình thường. Tiền ăn ở trọ cho học sinh (sinh viên) là 400 đến 500 mỗi tháng tùy nhà cửa rộng hẹp. Đi học xa nhà, ăn ở trọ nhiều nơi như Sài Gòn hay Hà Nội thì tôi tất biết. Có ticket cầm tay, khách vào cổng đi thẳng, chẳng ai gọi khám xét, hoặc trình giấy tờ. Qua một sân nhỏ bước vào ngôi nhà ngay chính giữa. Có nhiều cô gái trong căn phòng lớn. Năm sáu cô thấy khách chạy ùa đến tíu tít, khách vừa ngồi xuống ghế thì các cô kẻ níu tay, người quàng vai, mời mọc, khó thoái thác. Các cô trông đều trẻ, đều trang điểm đẹp đẽ sàn sàn ngang nhau, mỗi người một vẻ. Nhưng dù có người đẹp hơn hẳn, tài mạo song toàn cỡ cô Kiều, đàn ca múa hát đều giỏi thì ở đây cũng vô dụng. ‘Cá đối bằng đầu’ giá cả đồng hạng, là ticket 100 đồng. Gặp lúc đông khách thì dám hết chọn? Vớ được một cô, khỏi chờ đợi là tốt rồi! Trao ticket cho một cô vừa ý, khách đi cùng nàng đến một dãy nhà kế cận, vào một căn phòng còn trống. Mở cửa thấy phòng khá rộng, ước độ 9-10 mét vuông, trang nhã, tươm tất, dù bày biện khá đơn sơ. Một giường đôi, có nệm gối vải trắng tinh, ngay ngắn, kê sát tường và có gắn gương soi chạy dọc. Ngoài ra, trong phòng còn có một tủ gỗ thấp; có nhiều hộc chứa bao gối, khăn trải giường và một bồn lavabo rửa tay có đặt giỏ rác ở dưới. Thời lượng ngầm của ticket là nửa giờ. Khu Bình Khang này thấy mở cửa suốt đêm ngày. Tấp nập nhất là từ chiều tối và ngày lễ. Ngoài bán dâm ở đây không mở dịch vụ nào khác (ca nhạc, ăn uống…). Khách vào chơi an tâm được pháp luật che chở, nhà cửa, phòng ốc đàng hoàng và kẻ bán hoa được bảo đảm không ai quấy rầy. Trùm du đãng, băng đảng giang hồ nào dám đụng chạm vuốt râu hùm lính cảnh sát an ninh Bình Xuyên, dữ như cọp! Khu Bình Khang được Chính phủ Tổng Thống Diệm ra lệnh chính thức đóng cửa ngày 1/12/1955, tính ra đã hoạt động chưa trọn ba năm. Khu Bình Khang cũ bây giờ ra sao, còn dấu tích gi? Tiếc thay tôi không có dịp viếng lại nơi xưa”.

Khu Bình Khang bây giờ là một tòa nhà cao tầng kiên cố, trụ sở của trường Đại Học Hành Chính Quốc Gia. Cơ sở này đã được khởi công xây dựng từ năm 1968, vốn là cơ ngơi của Trường Công Tác Xã Hội.

Khoảng năm 1967, cơ quan UNICEF (United Nations Children’s Fund) của Liên Hiệp Quốc dành một ngân khoản 2 triệu Mỹ kim viện trợ cho Bộ Xã Hội xây cất một trường đào tạo nhân viên và cán bộ xã hội. Bộ Xã Hội quyết định chọn khu đất Bình Khang cũ hiện do Bộ quản lý để tiến hành công tác xây cất. Nghe được tin này, một nhân vật cũ của Bình Xuyên là Ba Đức đã nộp đơn khiếu nại chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trước đây đã “cưỡng chiếm” khu đất này một cách trái phép. Một cuộc họp Liên Bộ được Tòa Đô Chánh triệu tập để giải quyết vấn đề này.

Khi đó tôi đang phụ trách về pháp chế, kế hoạch và ngoại viện của Bộ Xã Hội, được cử đại diện Bộ tham dự phiên họp này. Không hiểu sao ông Ba Đức biết được tin này, đã nhiều lần tới văn phòng của tôi kêu oan và hỏi địa chỉ tư gia của tôi. Tôi nhấn mạnh tôi chỉ làm việc tại văn  phòng. Để sửa soạn cho buổi họp, tôi truy tìm hồ sơ vụ này. Chuyện khá phức tạp vì hồi đó chưa có Bộ Xã Hội mà chỉ có Tổng Nha Xã Hội đặt trụ sở tại địa điểm khác. Phòng Văn Khố của Bộ không tìm thấy hồ sơ nào dính líu tới vụ này. Tôi nhấn mạnh hồ sơ từ Tổng Nha thời Đệ Nhất Cộng Hòa, họ cho biết có thể trong phòng lưu trữ đã từ lâu không ai đụng tới. Tôi cho một số nhân viên cùng tôi xuống tìm. Khi mở cửa phòng, mùi ẩm mốc xông lên, bụi bám đầy cả núi hồ sơ. Phải mất vài ngày chịu đựng khung cảnh thiếu vệ sinh này, nhân viên của tôi mới tìm được tập hồ sơ mỏng lét gồm tờ trình và một tờ giấy học trò do chính ông Ba Đức viết tay và ký tên đồng ý giao khu đất cho chính phủ sau khi được xóa bỏ khoản thuế khổng lồ tồn đọng trong thời gian dài cùng một số đền bù khác.

Khi tôi tới phòng họp tại tòa Đô Chánh thì Ba Đức đã ngồi trước cửa phòng. Chủ tọa cuộc họp là đại diện tòa Đô Chánh phát biểu đầu tiên nhấn mạnh vào lẽ công bằng, yêu cầu Bộ Xã Hội không nên ép buộc đương sự. Các đại diện các bộ và cơ quan khác phát biểu tiếp theo, cùng một luận điệu. Có lẽ họ đã được ông Ba Đức tìm gặp. Tôi là người trình bày cuối cùng, đưa cho mọi người coi tờ giấy do chính ông Ba Đức ký để chứng minh ông ta đã giao quyền sở hữu khu đất cho chính phủ sau khi được đền bù thỏa đáng. Trước chứng cớ này, các đại diện đã phải công nhận là chuyện đã được giải quyết từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi vội ra về trước ánh mắt trừng trừng của ông này. Sau đó tôi đã phải hàng ngày thay đổi lộ trình và giờ giấc tới sở.

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất trường Công Tác Xã Hội diễn ra vào ngày 5/9/1968 do Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa. Sau 2 năm thi công, lễ Khánh Thành trường được cử hành vào ngày 24/11/1970 do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa.

Trường được xây rất kiên cố với tòa nhà hành chánh, các giảng đường rộng lớn, thư viện chuyên ngành xã hội để các khóa sinh tham khảo. Khu vực thực hành có các phòng mô phỏng các trung tâm xã hội, phòng tư vấn tâm lý và khu huấn luyện kỹ năng phát triển cộng đồng.

Các khóa sinh được tuyển chọn khắt khe qua các kỳ thi tuyển. Trường đã đào tạo được nhiều Kiểm Sự Xã Hội và Phó Kiểm Sự Xã Hội được bổ dụng làm việc tại các ty xã hội và các cơ sở như cô nhi viện, viện dưỡng lão, trung tâm cộng đồng. Ngoài việc học lý thuyết về xã hội học, tâm lý học, kỹ thuật công tác xã hội, các học viên còn phải đi thực tế, viết báo cáo thực tập, nghiên cứu và thực hiện các kỹ thuật chuyên ngành.

Giám Đốc đầu tiên của trường là Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh, tốt nghiệp Xã Hội Học tại Mỹ và Philippines. Bà Oanh còn có thời gian làm Giám Đốc Cư Xá Thanh Quan dành cho nữ sinh viên trên đường Hiền Vương mà các thanh niên nhiều người thường lui tới. Bộ Xã Hội cũng đã cử các nhân viên trẻ du học về công tác xã hội và phát triển cộng đồng tại Mỹ và Philippines . Sau khi tốt nghiệp văn bằng Master, họ đã về tham gia giảng dậy và giữ các chức vụ điều hành trường.

Từ khi có trường Công tác Xã Hội, các hoạt động của bộ Xã Hội được tiêu chuẩn hóa, không chỉ còn là cứu trợ và từ thiện mà đã được nâng cấp thành một hoạt động có bài bản, mang lại lợi ích không nhỏ cho các thành phần dân chúng cần sự giúp đỡ và chăm sóc của chính phủ.

Cũng vui khi một nơi của tệ nạn xã hội trở thành một nơi của những người có chức năng cải tạo xã hội. Chỉ tiếc một điều là sau 1975, nơi này biến thành Trung Tâm Hành Chánh Quốc Gia chứ không còn dính dáng chi tới cải tạo xã hội nữa.

 

                                                                                                  08/2026

                                                                               Website: www.songthao.com

938 . TRỊNH Y THƯ - NGỌN LỬA THIÊNG

                                                                                                   


 (Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.)

 Kính thưa quý vị và các bạn,

 Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương.

 Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men saylửa cháy, của đam mêcô độc, của cõi thếtâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh.

 Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật.

 Năm mươi năm sau ngày ông rời cõi thế, chúng ta không chỉ tưởng nhớ một thi sĩ. Chúng ta tưởng nhớ một nhân cách nghệ sĩ, một người đã sống trọn vẹn với thơ, với nghệ thuật, với nỗi đau và niềm kiêu hãnh của dân tộc. Di sản của ông không nằm trong những trang sách cũ, mà trong cách chúng ta tiếp tục đọc, tiếp tục lắng nghe, tiếp tục để thơ ông soi sáng những vùng sâu thẳm của tâm hồn.

 Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Vũ Hoàng Chương không phải là một dấu chấm hết. Nó là dịp để chúng ta cùng nhìn lại trang sử bi thương của dân tộc, và qua đó, biết đâu chúng ta học được bài học lịch sử một cách thấu đáo, trọn vẹn hơn.

 Nhìn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử Việt Nam, số phận của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau năm 1975, ta không chỉ thấy một trường hợp cá nhân bị đàn áp, mà còn thấy đó là một nhát chém lên lịch sử-văn hóa Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi tăm tối đầy chấn động. Như chúng ta được biết, ông bị bắt giam vào khám Chí Hòa trong những điều kiện sức khỏe suy sụp trầm trọng, bị bắt không hẳn chỉ vì vài câu thơ châm biếm thời cuộc, mà vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam vượt lên trên ý thức hệ, điều mà bối cảnh chính trị lúc đó không thể dung nạp.

 Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đại diện cho một dòng chảy văn hóa độc lập, ông thuộc thế hệ thi sĩ tiền chiến – thế hệ đã đưa thơ Việt bước vào thời hiện đại bằng tinh thần tự do khai phóng đầy cá tính, và sự kết hợp hài hòa tuyệt hảo giữa truyền thống thâm thúy Đông phương và cảm thức lãng mạn Tây phương. Trong văn hóa Việt Nam, thế hệ này được xem như những người gìn giữ phẩm giá tinh thần, đặt nghệ thuật lên trên mọi mục tiêu chính trị.

 Sau 1975, chính quyền mới muốn thiết lập một hệ chuẩn văn hóa duy nhất: văn nghệ phải phục vụ cách mạng, phục vụ tuyên truyền chính trị. Trong bối cảnh ấy, một thi sĩ như Vũ Hoàng Chương – người chủ trương “thơ là tiếng nói của tự do nội tâm” – trở thành biểu tượng của một truyền thống văn hóa không nằm trong hệ thống cai trị độc tài toàn trị.

 Những nhà văn, nhà thơ như Vũ Hoàng Chương thường bị nhà nước nhìn bằng con mắt nghi kỵ. Ông không hoạt động chính trị, nhưng trong lịch sử Cộng sản Việt Nam, trí thức độc lập thường bị xem là nguy hiểm hơn những người chống đối công khai, vì họ có ảnh hưởng tinh thần sâu rộng.

 Lịch sử Việt Nam cho thấy: mỗi khi xã hội biến động, văn chương trở thành nơi lưu giữ ký ức và lương tri. Thời Lê-Nguyễn, nhiều nhà Nho bị lưu đày vì dám viết những điều trái ý triều đình phong kiến. Thời Pháp thuộc, văn chương trở thành nơi nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Sau 1975, văn chương lại đứng trước yêu cầu phải phục vụ một hệ tư tưởng mới. Trong dòng cuồng lưu ấy, Vũ Hoàng Chương là kẻ đứng ngoài nắng, không phải trong bóng mát: một thi sĩ trung thành với tự do tinh thần, và vì thế ông bị cuốn vào vòng xoáy của lịch sử, bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

 Trong văn hóa Việt Nam, nhà văn-nhà thơ không chỉ là người sáng tác, mà còn là người giữ gìn lịch sử tinh thần và ký ức dân tộc, luôn coi trọng “tự do trong tâm tưởng”. Một chế độ muốn kiểm soát xã hội phải kiểm soát ký ức, và vì thế phải kiểm soát nội tâm người viết. Đối với họ, tự do nội tâm dẫn đến tự do tư tưởng, mà họ quy chụp là phản động.

 Đó là lý do vì sao, sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, nhà nước Cộng sản đã bắt bớ, giam cầm, tù đày, hành hạ hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo thuộc chế độ cũ. Nhiều người chết trong tù. Có người chỉ được thả về trong cơn hấp hối, về đến nhà thì tắt thở.

 Nhà văn Nhã Ca, trong một chương trình phỏng vấn, đã cho chúng ta biết như sau về số phận của cả một tập thể trí thức văn nghệ sĩ Miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó như sau. Bà nói:

 Trong chiến dịch tiêu diệt văn hóa, văn nghệ sĩ miền Nam tháng Tư năm 1976, Vũ Hoàng Chương, vị thi hào Việt Nam thế kỷ thứ 20, là người đầu tiên bị giết. Chiến dịch tàn khốc này đã kéo dài cả chục năm.  Hàng trăm văn nghệ sĩ bị bắt đi tù đầy, nhiều người không bao giờ trở về […] như học giả Hồ Hữu Tường, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường...”

 Xem thế, số phận của Vũ Hoàng Chương không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ, mà là bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang. Ông bị bắt vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam lâu đời: tôn trọng tự do tinh thần, giữ gìn đạo lý, và dùng ngôn ngữ để soi sáng nhân tâm.

 Trong lịch sử Việt Nam, những giá trị ấy luôn tồn tại – dù có lúc bị chèn ép, có lúc bị lãng quên. Nhắc đến Vũ Hoàng Chương hôm nay là nhắc lại một phần của bản sắc văn hóa dân tộc: văn chương Việt Nam không bao giờ hoàn toàn khuất phục trước bạo lực.

 Tại sao chúng ta không nên lãng quên cái chết của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và những người cầm bút Việt Nam khác, những người có cái chết tương tự như ông?

 Nhớ đến cái chết của ông, trước hết, là nhớ đến một thời kỳ mà văn chương bị buộc phải im tiếng, và những giá trị tinh thần bị đẩy vào bóng tối.

 Thứ hai, số phận của ông phản ánh bi kịch của trí thức Việt Nam trong thế kỷ XX. Thế kỷ XX của Việt Nam là thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và những biến động chính trị tác động mạnh lên dòng sinh mệnh dân tộc. Trong những biến động ấy, giới trí thức – đặc biệt là những người giữ tinh thần độc lập – thường trở thành nạn nhân của lịch sử. Cái chết của Vũ Hoàng Chương nhắc nhở chúng ta rằng trí thức Việt Nam đã phải trả giá rất đắt cho việc giữ gìn phẩm giá tinh thần, và rằng tự do tư tưởng chưa bao giờ là điều hiển nhiên có sẵn cho chúng ta hưởng thụ.

 Thứ ba, ông đại diện cho truyền thống “văn dĩ tải đạo” – tiếng nói lương tri của người Việt. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đến Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, văn chương Việt Nam luôn gắn với đạo lý, với tiếng nói của lương tri. Vũ Hoàng Chương tiếp nối truyền thống ấy: thơ ông không chỉ đẹp mà còn chất chứa nỗi đau, sự khắc khoải và những suy tư về thân phận con người. Cái chết của ông là lời nhắc nhở rằng khi tiếng nói đạo lý bị bóp nghẹt, văn hóa dân tộc cũng bị tổn thương.

 Thứ tư, cái chết của ông là minh chứng cho việc văn chương có thể bị bức hại, nhưng không thể bị tiêu diệt. Dù nhà thơ bị giam giữ, dù bị xem là “phản động”, thơ Vũ Hoàng Chương vẫn sống. Nó sống trong trí nhớ của người đọc, trong những câu thơ truyền miệng, trong sự kính trọng của giới văn nghệ sĩ và mọi người dân khác. Nhắc đến cái chết của ông là khẳng định rằng bạo quyền có thể cầm tù, bức tử một thi sĩ, nhưng không thể xóa bỏ linh hồn của thơ. Câu thơ “Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu” có thể xem là lời tiên tri của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

 Nhắc đến Vũ Hoàng Chương là nhắc nhở rằng văn chương, khi chân thật và đẹp đẽ, có thể vượt qua thời gian. Và hôm nay, khi chúng ta nhắc lại tên ông, đọc lại những câu thơ ông để lại, chúng ta đang tiếp tục hành trình mà ông đã khởi đầu, hành trình đi tìm cái đẹp trong một thế giới tàn bạo vô nhân tính.

 Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Xin tri ân những gì ông đã để lại cho văn học Việt Nam. Và xin giữ cho ngọn lửa thơ ông tiếp tục cháy trong lòng mỗi chúng ta. Xin trân trọng cảm ơn quý vị.

 

– Trịnh Y Thư

937 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - ĐIỂM SÁNG GIỮA MỜ MỊT MÀN SƯƠNG

                                                                         

ĐIỂM SÁNG GIỮA MỜ MỊT MÀN SƯƠNG

Mấy nay tôi đọc lại những quyển sách của nhà văn Võ Phú và dự định viết chút gì đó nhưng lòng ngần ngại sợ thiên hạ bảo “áo thụng vái nhau”. Bởi thế, thời gian cứ thấm thoát trôi qua mà chẳng làm được, thế rồi hôm nay nhận được bộ sách Viết Trên Quê Người, tự dưng tôi “mạnh mẽ bất chợt” và quyết định ngồi xuống viết mà không còn e ngại gì.

Chỉ mới đọc thoáng qua thôi nhưng quả thật hết sức thán phục cây bút này. Võ Phú đã đọc nhiều, đọc rất nhiều sách của các tác giả hải ngoại để rồi viết nên bộ sách này, sức đọc của anh, sức viết của anh, ý chí và tâm huyết của anh khó có ai sánh nổi, nhất là trong thời buổi này. Bộ sách Viết Trên Quê Người dày gần hai ngàn trang giấy. Bộ sách nặng ký cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Võ Phú tóm lược hành trình sáng tác và tác phẩm của sáu mươi tư thi sĩ và văn sĩ thuộc Văn Bút Viêt Nam Hải Ngoại. Võ Phú có mối quan hệ rộng rãi, quen biết rất nhiều những cây đa cây đề lẫn mần non của dân văn chương chữ nghĩa hải ngoại. Anh đã đọc rất nhiều những gì họ viết ra để rồi khái quát những nét chính của từng tác giả. Anh nắm bắt được cái thần khí và phong cách của từng cây bút. Mỗi tác giả anh có một câu nhận định ngắn gọn nhưng nói lên được hành trạng và sự nghiệp văn chương của họ. Bộ sách Viết Trên Quê Người có thể xem như là một “từ điển” tác giả văn chương thuộc Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, lại vừa là một bộ điểm sách, tuy khái lược nhưng rất đầy đủ. Với mỗi tác giả, Võ Phú chọn ra vài tác phẩm có thể nói là xuất sắc nhất của họ để phân tích và giới thiệu. Với câu nhận định về từng tác giả, ta có thể hình dung ra tác giả ấy như thế nào: Nghề nghiệp, sức sáng tác, quá trình sáng tác, hành trình hay là cái duyên đến với nghiệp chữ…Ta thử xem vài câu nhận định đặc trưng trong bộ sách này.
Với tác giả Cao Minh Nguyệt: Một đời chữ nghĩa đi qua bão giông và yêu thương. Với Cung Thị Lan: Người giữ lửa văn chương Việt nơi xứ người. Với Diễm Châu (Cát Đơn Sa): Người giữ gìn hồn Việt qua ca, văn, thi, họa. Với Kim Loan: Người kể chuyện cộng đồng tỵ nạn qua thơ văn. Đình Duy Phương: Chữ nghĩa, thân phận và niềm tin trên quê người. Văn Duy Tùng: Ngòi bút giữ gìn đức tin, quê hương và những giá trị nhân bản. …Cứ như thế, sáu mươi bốn tác giả là sáu mươi tư mảnh ghép lại thành một cộng đồng văn thơ bên ngoài biên giới quốc gia. Mỗi một tác giả, Võ Phú dành tặng cho một câu thôi nhưng đủ để hiển lộ cái thần của con người ấy. Võ Phú làm được cái việc mà hiện nay ít ai làm nếu không muốn nói là chẳng ai làm.

Với Viết Trên Quê Người, Võ Phú giúp độc giả nhận biết từng tác giả qua bài điểm sách, biết được quá trình sáng tác, số lượng tác phẩm, nội dung chính của những tác phẩm. Ta có thể điểm qua những tác giả nổi tiếng như: Cao Minh Hưng, Cung Thị Lan, Cao Mỵ Nhân, Kim Loan, Diễm Châu (Cát Đơn Sa), Nguyễn Minh Nữu, Đào Hiếu Thảo…Để viết được một bài điểm sách về một tác phẩm đã là khó, đằng này một bài điểm sách nhưng về nhiều tác phẩm của một tác giả đòi hỏi phải đọc nhiều, đọc kỹ và có cái nhìn sâu sắc để nắm bắt được cái phong cách của tác giả ấy. Võ Phú đã làm một cách trọn vẹn, muốn có vạch lá tìm sâu cũng chẳng có điểm nào để chê.

Văn Học Việt Nam Hải ngoại hiện nay có thể nói là đã chết lâm sàng. Người viết dần dần mất hút. Những cây bút kỳ cựu vì tuổi tác mà lần lượt ra đi hoặc gác bút. Lớp trẻ kế thừa thì không có. Người Việt hải ngoại không đọc sách, tầng lớp trí thức chỉ đọc tài liệu tiếng Anh có liên quan đến chuyên môn của nghề nghiệp, giới lao động phổ thông thì chẳng đọc bất cứ thứ gì dù là tiếng anh hay tiếng Việt. Thời đại công nghệ điện toán – công nghệ thông tin bùng nổ, con người chúi mũi vào Iphone, Ipad, laptop mà đu theo trào lưu mạng xã hội, chẳng còn ai đọc sách báo, tình hình chung là thế! Tuy nhiên với người Việt hải ngoại thì còn nghiệt ngã hơn, hầu như người mình cố tình quên đi nguồn cội, cố che giấu thân phận nhược tiểu, cố Tây hóa, Mỹ hóa cho sang chảnh…ngay cả tiếng Việt họ cũng không muốn nói (nói tiếng Anh cho sang) thì nói gì đến chuyện đọc sách báo tiếng Việt. Văn học Việt Nam hải ngoại đã qua rồi cái thời “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Văn học Việt Nam hải ngoại ngày nay không khác gì cảnh chợ chiều hiu hắt. Người ngoài cuộc đã đành, ngay cả người trong cuộc cũng thờ ơ, rất may, trong cái hoàn cảnh đáng buồn như thế thì chúng ta lại có được những người như Võ Phú.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

936. NGUYỄN MINH NỮU Truyện ngắn CON TRAI CỦA THỦY THẦN

 



Dựa vào truyền thuyết dân gian về nguồn gốc sông Cửu Long và phong cảnh thiên nhiên ở vùng rừng núi Thất Sơn (An Giang), Nguyễn Minh Nữu viết truyện CON TRAI CỦA THỦY THẦN. Truyện ca ngợi tình yêu, lòng chung thủy, và đạo làm người. (PCH)

 
Thất Sơn là tên gọi chung bảy ngọn núi huyền thoại ở tỉnh An Giang gồm: núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn), núi Dài Nhỏ hay núi Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn) và núi Nước (Thủy Đài Sơn).


1
Ông Tư Thời năm nay có lẽ đã trên 80. Ông sinh ra và sống bám vào vùng đất này từ thời thơ ấu đến nay. Ngồi bên tách trà nhâm nhi nhìn mưa gió tối trời tối đất của tháng chin trên vùng núi non hùng vĩ của Thất Sơn,  bỗng sinh lòng hoài cổ cảm khái kể lại như thế này.

Vào một năm lâu lắm rồi, lúc đó vùng Thất Sơn còn rất hoang tịch, dân cư thưa thớt, giao thông vẫn còn trông cậy vào xe ngựa ở trên bờ, và thuyền ghe dưới bến, sâu vào phía sau núi Ông Két, có một ông già sống đìu hiu một mình bên cạnh một mô đất lớn. Ông Tám nhấn mạnh,   “Mà ông già đó còn già hơn ông nội tao nữa nghen bây” . Nhờ vào những nén hưong thắp mỗi buổi chiều tàn, người ta mới hiểu đó là một ngôi mộ, nhưng là một ngôi mộ khá lớn so với kích thước bình thường. Ông già đó sống ở đó từ hồi nào và bao lâu rồi thì ông nội tao cũng không biết rõ.  Người ta thường gọi ông là  Thầy Tám Rắn, vì ông rất giỏi về thuốc trị rắn. Dân địa phưong và các vùng lân cận nếu ai bị rắn cắn, miễn là còn sống cho tới khi gặp thầy Tám là coi như người đó sống. Cách chữa trị của ông cũng lạ kỳ, có ngừoi bị rắn cắn hấp hối, khi gặp thầy Tám chữa trị xong, sống lại rồi kể lại:  khi khiêng bệnh nhân tới, thầy Tám kêu để trên bộ ngựa  giữa nhà rồi đuổi thân nhân ra ngoài hết, sau đó, thầy Tám đưa tay ra vuốt ngay chỗ rắn cắn, từ trong vết thưong rỉ ra một vệt nước đen đặc sánh chảy ra tay thầy, người bệnh cảm thấy nhẹ nhàng liền, chút  xíu sau là các vết sưng xẹp xuống, và  sinh hoạt bình thường.

“Ông nội tao hồi còn thanh niên bị rắn cắn, cũng đã được thầy Tám cứu, vậy mà khi tao lớn lên, thành thanh niên mười bảy mười tám tuổi  cũng còn thấy mặt thầy Tám …thì tao cũng không biết ổng già cỡ nào”

"Lúc đó lóng chừng khoảng giữa tháng 10, trời mưa hoài, mà lại giữa mùa nước lớn…, một bữa vào buổi chiều, trời cũng đang chạng vạng tao vừa ngoài ruộng về , bỗng thấy sấm chớp sao quá lớn, nhất là sét đánh gì đâu mà tứ tung , khắp trời như sao xẹt…Tao hoảng hồn kiếm chỗ núp sao mà bất ngờ chạy tới ụ rơm  kề ngay ngoài vườn nhà thầy Tám, và tao  hoảng hồn khi  thấy sao nhà thầy Tám đông người quá, mà người nào người nấy bận đồ như hình mấy ông Hộ Pháp trong chùa, có hai người quay mặt ra ngoài nên tao thấy rõ họ chỉ là những chàng thanh niên cỡ chừng hai chục tuổi, khuôn mặt sáng láng, họ đang nói chuyện bàn  bạc gì đó chung quanh thầy Tám. Còn thầy Tám thì nằm trên bộ  ngựa…không biết bệnh gì và còn sống hay không.  Thiệt tình thì tao cũng muốn chạy vô thăm hỏi, nhưng sợ sấm sét inh trời mà sao như nhiều tia chớp như phát ra từ trong căn nhà đó nên chưa biết tính sao. Chợt tiếng sấm thiệt lớn  nổ như ngay trên đầu mình, tao té lăn bất tỉnh, tới chừng tỉnh dậy cũng đã nửa đêm,  dòm ra thì  căn lều thầy Tám cũng không còn, chỉ thấy trên đó là một ụ đất lớn như ngọn đồi, mà bây giờ tụi  bây thấy đó, hai ngọn đồi nằm song song bên núi ông Két".

935 . NGUYỄN THỊ HOÀNG BẮC - viết về Thầy THẠCH TRUNG GIẢ


 

THẠCH TRUNG GIÃ

Tôi muốn mượn tên thầy để trang trọng đặt tựa đề này cho bài viết. Tôi muốn dùng những dòng chữ này để tưởng niệm một người thầy đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất, nỗi xúc động sâu xa nhất, và lòng thương nhớ lâu bền nhất trong quãng đời đi học của tôi. Dù ngày nay thầy không còn trên quãng đời này nữa...

Tôi vốn không phải là học sinh ròng của Võ Tánh. Vốn dốt Toán, thi vào Võ Tánh hai lần không đậu, tôi học ở Bồ Đề, và sau đó Lê Quý Đôn.

Nhưng tôi có duyên được học với những thầy giáo dạy Việt Văn tiếng tăm nhất thời đó ở Nhatrang. Bồ Đề với thầy Võ Dự, đệ thất, sau đó, thầy Võ Hồng, đệ lục, và ở Lê Quí Đôn, đệ ngũ với thầy Thạch Trung Giã, và kể từ đó, đệ tứ,đệ tam, đệ nhị Võ Tánh đều vẫn học với thầy Giả. Trong một bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í đăng ở Bách Khoa trước 75, nhà thơ Sao Trên Rừng, tức là anh học trò Võ Tánh Nguyễn Đức Sơn có đoạn trả lời: “... Ở Nha Trang tôi đã có những giờ học kỳ thú với giáo sư Thạch Trung Giã.” Tôi cho là chữ “kỳ thú”của anh Sơn dùng đã chính xác nhất để nói về những giờ học của thầy. Tôi cũng thế, là đàn em lớp sau của anh Sơn, tôi đã có những giờ học kỳ thú và khó quên với thầy Thạch Trung Giả.

Trường Lê Quí Đôn lúc ấy chỉ là một dãy nhà tôn lụp xụp, cất vội vã để đón đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 54, sau khi mọi người đã được định cư, cơ sở được sử dụng làm trường. Những buổi chiều, mặt trời sắp ngả bóng chiếu những tia nắng quái vàng rực chiếu lên mấy dãy nhà tôn, nhà lá, xóm bãi cát bên kia hàng rào, tôi ngồi ở gần của sổ lớp ngó ra, nghe các bạn trong lớp ồn ào, “kia kìa, coi bắc kỳ di cư thui thịt chó kìa…(!)”, tôi nhìn, nghe, nhưng chẳng thấy gì. Đầu óc mãi còn váng vất, ngây ngất, choáng váng vì bài giảng “Chiếc thuyền lơ lửng bên sông” của thầy về Nguyễn Trãi. Mãi về sau lâu lắm, với kinh nghiệm đi học và dạy học, tôi vẫn đồ chừng, có lẽ chưa có ai thấm thía nỗi cô đơn, và giảng được nỗi cô đơn bằng thầy Thạch Trung Giã. Mười lăm tuổi, chưa mường tượng được hết nỗi cô đơn của một kiếp người, nhưng tôi đã thực sự xúc động. Tôi ngây ngất nhìn nắng quái bên kia rào, và rồi hình ảnh của một chiếc thuyền, một ông lái, và phải chăng, một kiếp người cô đơn ám ảnh…Tôi bắt đầu làm thơ, bài thơ đầu tiên của tôi về một chiếc thuyền:

“như chiếc thuyền trôi lạc bến bờ

tôi tìm an ủi ở vần thơ

tôi nghe gió lộng trong thơ ấy

và sống thần tiên những phút mơ...”

Bài thơ lúc đó, được ký tên là Lam Kiều, và đăng trong tập báo Tết đặc biệt của Tam C Võ Tánh năm học 1959, năm thầy Phạm Quang Linh dạy Anh văn làm giáo sư hướng dẫn,thầy Thạch Trung Giã dạy Việt Văn, thầy Cung Giũ Nguyên dạy Pháp văn... Tôi nói đặc biệt vì tờ báo của lớp chúng tôi lúc ấy không trình bày như một tờ báo tường mà chúng tôi bỏ công làm dưới dạng tạp chí, tập san đàng hoảng, đóng thành tập, tất cả làm bằng tay, và dĩ nhiên chỉ có một bản duy nhất, độc bản!

Có hình bìa trước, bìa sau, do các “chú điệu” đang tu học tại chùa Phật học Nha Trang là Nguyễn Hữu Lợi (bây giờ là nhà nghiên cứu và dịch thuật Phật giáo Hạnh Cơ), Nguyễn Huệ Khai...rồng bay phượng múa viết chữ Hán bằng bút lông đen trên nền vàng bài thơ thiền “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Tiền đình tạc dạ nhất chi mai”, với toàn tập là công trình viết tay của biên tập viên Nguyễn Hữu Đàm nắn nót!

Bao nhiêu là nước đã chảy qua cầu...

Bây giờ thỉnh thoảng làm thơ, nhưng dẫu sao bài thơ vụng dại nhưng thơ mộng chân tình nhất về một chiếc thuyền gợi lên từ trong những giờ học Văn với thầy Thạch Trung Giã vẫn là bài thơ khó quên nhất của tôi.

Có một chuyện vui vui nhưng đã làm điên đảo tôi thuở ấy, một đứa học trò nhỏ, mười lăm tuổi, nhút nhát, ít bạn bè, ít nói (chứ không phải lắm lời và lắm bạn như tôi tùm lum hiện nay!!!) Một buổi chiều ở lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn, những bạn nào cùng học với tôi có thể cũng còn nhớ, anh trưởng lớp bảo mọi người ở lại để họp lớp, trưởng lớp tên là LMT, tôi nhắc lại để biết việc đó mấy chục năm sau vẫn như còn hiển hiện trước mắt. Cả lớp họp để tố cáo và làm kiến nghị gửi lên thầy hiệu trưởng Cung Giũ Nguyên là thầy Thạch Trung Giã không biết dạy Văn và một tội trạng nữa của thầy là đã quá thiên vị Hoàng Bắc, nghĩa là bất công với cả lớp… Chuyện kiến nghị của bọn trẻ con cũng là một hình thức tập tành dân chủ, rất tiến bộ của tinh thần học sinh miền nam thời ấy, nhưng lúc đó, đã làm tôi sợ điếng hồn, mất ăn mất ngủ suốt cả tuần, cả tháng, thậm chí thấy ai trong lớp cũng sợ, gặp mặt trưởng lớp chỉ muốn lủi trốn. Tôi lại còn đau lòng, và khóc, và lo lắng cho cả thầy nữa! Có lẽ thuở ấy nhìn bọn nhóc làm dân chủ không chừng thầy còn thấy vui vui nữa là khác. Vậy mà tôi hốc hác vì lo cho thầy! Nhưng chỉ là lo lấy một mình mà thôi,tôi nào có biết ăn nói thế nào để gọi là bày tỏ hay chia sẻ gì với thầy đâu!

Tôi sau đó được đổi trường, từ trường Bán công chuyển thẳng vào Đệ Tam C trường Công lập Võ Tánh, một môi trường mới, lại được học lại với thầy. Lúc xếp hàng chờ vào lớp, thấy thầy đang đứng chờ ở cửa, lòng tôi mở rộng reo vui! Chương trình Tam Giáo ở Tam C với thầy, tôi bắt đầu hiểu đạo Phật, theo thầy, ngoài việc là một tôn giáo, còn là một triết lý sống, một khơi nguồn cho những cảm hứng vô biên cho hai nền văn học Lý Trần vĩ đại của văn học Việt. Sau đó là Nhị C Võ Tánh, không hiểu sao thầy Giã thôi không dạy chúng tôi một dạo, và thay vào đó, thầy Nguyễn Tri Tài. (Sau này tôi gặp lại thầy khi học Dự Bị ở Văn Khoa Saigon, thầy Tài dạy Triết ở Dự Bị.) Nhưng tôi chỉ thích học với thầy Giã thôi, tất nhiên, bằng cảm tính, tôi không thích thầy Tài. Cũng là chuyện trẻ con thời ấy, tôi và bạn thân học cùng lớp Lan Xuân, đã “sáng tác chung” một bài thơ... giễu thầy, ngay tại bãi biển Nhatrang, trong lúc hai đứa chúng tôi đi tắm biển:

“nhatrang có Tri Tài

cứng cứng lại dai dai

cái chân hình như... cụt

khi nói miệng đến tai!”

Xin lỗi thầy Tài, nếu vô phước thầy đọc phải những dòng này! Chúng tôi cố phác họa hình ảnh thầy đứng trên bục giảng như chúng tôi thấy: khi giảng bài, thầy luôn luôn đứng sau bàn giáo sư, hai tay chống trên bàn, một chân đứng thẳng, một chân đu đưa, và miệng thì nói liên tục, rồi lâu lâu thầy ngừng hơi, chép miệng, nuốt nước miếng, rồi như nhai nhai cái gì đó trong miệng. Và quả tình khi thầy cười thì miệng rộng... vô song. Nếu thầy có vô phước mà đọc phải những dòng này thì cũng xin thầy rộng lượng tha thứ cho những trò đùa nghịch ngợm của bọn con nít học trò.

Thương thầy Giã nhiều quá, tôi đâm ra “bất công” với những thầy/cô khác cũng là chuyện thường tình. Và cũng có thể, thương tôi nhiều quá, thầy đã có thể bất công với nhiều bạn khác của lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn thời đó. Tôi nhớ thầy nói oang oang trước lớp, “…bảo tôi bênh Hoàng Bắc cũng như trách Khổng tử sao lại bênh Nhan Hồi, Socrates bênh Platon v.v…” Thầy nói chi mà cao xa với một lũ trẻ chỉ 13, 15 tuổi!?

Số phận lại đưa đẩy tôi lại học Sư Phạm ở Saigon rồi trở về Nhatrang làm cô giáo dạy Văn, cũng ở Võ Tánh như thầy. Thuở đó có lệ ở Đại Học Sư Phạm Saigon, sinh viên ra trường được nêu 3 nhiệm sở ưu tiên của mình, tất nhiên là tôi chọn Nhatrang ưu tiên một. Ai cũng biết Nhatrang là nhiệm sở dành cho các bạn ở Đại Học Sư Phạm Huế, không mấy hy vọng cho tôi, nhưng tôi tha thiết với Nhatrang nên cứ ghi vào. Tất nhiên là không được! Nhiệm sở đầu tiên của tôi cũng là một tỉnh miền Trung như yêu cầu nguyện vọng thứ hai, rất gần Saigon, đó là trường Phan Bội Châu Phan Thiết. Cũng là nơi tập tành dạy dỗ đầu đời của mình, với những kinh nghiệm thơ ngây và non nớt. Nhiệm sở thứ hai là hoàn đổi với 1 đồng nghiệp về TH Diên Khánh và cuối cùng là Võ Tánh, là nhiệm sở cuối cho đến 1975 nó đổi tên thành Lý Tự Trọng. Tôi dạy gọi là lưu dung ở đó gần hai năm, rồi vượt biên bị bắt, và tất nhiên bị sa thải v.v…

Sau một chuyến vượt biển cuối thành công, tôi đến Mỹ, và sau đó tình cờ gặp thầy Từ Mẫn tức là ông Võ Thắng Tiết, người chủ trương Nhà Xuất Bản Lá Bối,Saigon và sau này NXB Văn Nghệ ở California,ông Tiết cho biết thầy Thạch Trung Giã đang giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh Saigon thì xảy ra biến cố 75, thầy đã tự vẫn bằng độc dược…Tôi đã sững sờ thương tiếc…

Ở Mỹ, tôi đã hai lần đăng báo tìm kiếm các con của thầy, hy vọng nối lại chút liên lạc với gia đình thầy, nếu được đến thắp nén hương bái biết lần cuối với thầy…nhưng mãi vẫn chưa có tăm hơi. Tôi nhớ tên thật của thầy là Hoàng Ngọc Lộc, và tên cậu con trai lớn của thầy là Hoàng Sơn Mộc. Sơn Mộc ở đâu, xin liên lạc với người học trò cũ của thầy, vì không lẽ, gặp nhau chỉ một lần trong đời rồi không bao giờ còn cơ hội gặp lại để nói lời bái biệt tạ ơn THẦY một lần hay sao?

Tôi vẫn không quên đã học hỏi được sự nhiệt tình, say mê, và lối giảng dạy như đang trò chuyện với học sinh của thầy. Tôi đã có được những giờ học như là với một người bạn lớn tuổi có cùng niềm say mê văn chương to lớn và muốn chia sẻ hạnh phúc này với những người bạn nhỏ tuổi hơn của mình. Trong những giờ học của thầy, tôi tưởng thầy đang “rút ruột” ra để truyền“bí kíp văn chương” cho chúng tôi hơn là đang giảng dạy cho học sinh. Có lẽ lối giảng của thầy không đúng với cái gọi là “phương pháp sư phạm” theo cái nghĩa chật hẹp cứng nhắc nhất của nó, như tôi đã được học sau đó, và có lẽ lối dạy của thầy thích hợp với cách dạy sinh viên ở đại học hơnlà áp dụng cho học sinh ở trung học. Nhưng những ai sớm biết say mê văn chương học thuật, nếu có cơ duyên được học với thầy, những giờ học kỳ thú với thầy sẽ là niềm khơi dậy, sự đánh thức nỗi say mê văn chương đang tiềm ẩn trong mỗi con người. Chẳng trách những người học trò xuất sắc môn Văn ở trung học của thầy sau này đã trở thành những văn nhân, thi sĩ tiếng tăm.Những tên tuổi Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng... tất cả đều đã từng là môn đệ một thời của Thạch Trung Giã

Có nhiều kỷ niệm vui buồn với nhiều học sinh của tôi. Có biết bao thế hệ học sinh đã học Văn với tôi trong khoảng thời gian hơn 10 năm đi dạy học? Có bao nhiêu học sinh đã thương yêu tôi như tôi đã đặc biệt thương quý thầy Thạch Trung Giã? Chắc là không bao nhiêu, may ra, có thể có vài em đã rắn mắt làm thơ giễu tôi, như tôi đã từng làm thơ giễu thầy Tài… Nếu có nghe được, biết được, tôi cũng chỉ cười thôi, vì tuổi trẻ làm gì cũng đáng yêu và đáng được tha thứ. Thậm chí, lắm khi ôn lại cuộc đời đi dạy của mình, dù là vô tình hay cố ý, tôi cũng đã phạm nhiều sai lầm đối với các em học sinh của tôi. Mong tất cả các em, nếu có thể, tha lỗi cho tôi. Cuộc đời đi dạy của tôi không cách gì có thể so sánh được với cuộc đời đi dạy của thầy Thạch Trung Giã, nếu tôi dám mạo muội so sánh! Nhiều lắm thì cũng chỉ là như “con giun ngước lên trời, yêu trăng xa vời vợi…” (Phạm Duy)

Hôm nay tôi đang nhớ Thầy. Những buổi chiều vàng Nhatrang. Và nắng quái.

Virginia, tháng 6 năm 2022

 

 

 

 

 

 

 

 

 

934 . TRƯƠNG VŨ Cau chuyện bên một dòng sông.

Sông Potomac - Nguồn ảnh: Pinterest

Sông Potomac dài 383 dặm chạy dọc theo biên giới các bang Maryland, Virginia, West Virginia và thủ đô Washington, D.C.. Trong nội chiến Hoa Kỳ 1861-1865, nó là ranh giới của hai phe Bắc Nam và đã chứng kiến bao thảm kịch kinh hoàng khi quân đội hai bên cố vượt qua vượt lại con sông này. Nhưng, điều đáng nói nhất, đó là một con sông dài và đẹp.

Gần một trăm năm sau, một cuộc nội chiến tàn bạo nổi ra ở Việt Nam. Sau khi chấm dứt, nó đã đẩy rất nhiều đứa con của Việt Nam đến con sông này. Có khác, với họ, trên con sông Potomac hay dọc hai bên bờ của nó, không có thảm kịch. Sông Potomac dài và đẹp.

Giữa thập niên 1990, một nhà văn Việt Nam, Nguyễn Minh Nữu, đến cư ngụ ở vùng Potomac. Nguyễn Minh Nữu là con trai út cụ Phó bảng Nông Sơn Nguyễn Can Mộng (1880 - 1954), một nhà nho, nhà thơ, nhà giáo khả kính. Rời Việt Nam đến vùng Potomac, Nguyễn Minh Nữu mang theo một hành trang tinh thần khá phức tạp, đầy dấu vết của cuộc chiến trên quê nhà, pha lẫn với truyền thống nho gia của gia đình, và một đời sống cá nhân nhiều năng động. Năng động khi là một quân nhân, một du ca, một huynh trưởng Phật tử, một nhà văn, và đặc biệt, một lãng tử. Với một quá khứ như thế, bây giờ, ở một vùng đất hoàn toàn mới lạ, vào cái tuổi trên 40, phải làm lại từ đầu với đầy trở lực, mọi sự không dễ. Không dễ như ngắm cái đẹp của một dòng sông. Tuy nhiên, không bắt đầu bằng sức lao động bình thường như rất nhiều người đồng hương khác, Nguyễn Minh Nữu chọn một con đường khó. Nữu quyết định làm một tờ báo tiếng Việt cho cộng đồng Việt Nam. Một tờ báo sống nhờ quảng cáo thương mại nhưng lại mang nội dung văn nghệ, tên là Tuần báo VĂN NGHỆ. “Khi định cư tại Hoa Kỳ, niềm mơ ước đầu tiên và lớn nhất của mình là được cầm bút trở lại. Không thể sống toàn thời gian bằng ngòi bút như khao khát, nên tôi tìm kiếm việc làm từ ngành báo chí.” (Viết Bên Dòng Potomac, Phần 1).  “Khi chưa có khả năng làm về văn học, thì hãy làm văn nghệ trước đã.” (Viết Bên Dòng Potomac, Phần 2). Ngoài Tuần báo VĂN NGHỆ, Nguyễn Minh Nữu còn chủ biên Tạp chí Văn học nghệ thuật VĂN PHONG. Tạp chí xuất bản hàng tháng này ra được 18 số thì đình bản.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

933 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG viết nhạc, NGUYỄN MINH NỮU viết lời, Tiếng hát Ngọc Huy

<p>  
 Lời Tỏ Tình Chưa Nói 
 
Nhạc : Nguyễn Quyết Thắng 
Lời : Nguyễn Minh Nữu 
 Tiếng hát Ngọc Huy 

 Muốn nói nhưng ngại gió
 xôn xao lá rung cây 
 Muốn nói nhưng chiều nay 
vai run tay ngại ngần 

 Còn nguyên tình anh đấy,
 đượm thơm hồn thơ ngây 
 Hòa theo làn mây bay, ngất ngây 
 Đồi vắng còn dấu chân 
 Nguyệt sáng niềm ái ân 
 Đừng phí hoài tuổi xuân chóng tàn
 Lời anh chưa nói lên câu,
 mà trong đôi mắt sâu 
 Ngàn sao như thắp trong nhau nỗi niềm

 Này là mây trắng dịu êm
 Này là hoa thắm bên thềm 
 Này là môi hát tình ca tiếng hát thiết tha 
 Hãy lắng nghe trong hồn ta 
 Vang tiếng du dương chan hòa
 Lời yêu, ấm áp kiếp con người 

 Trao lời ca dâng tiếng đàn 
 Rung động đời phiêu lãng 
xin được làm tia nắng 
 Ghé vai em sớm mai, 
lời trao em đắm say 
 Nói một lời ước nguyện 
 Viết vào lòng hứa hẹn
 Muôn đời sẽ không tàn phai 
 Muôn đời sẽ không nhạt phai.

932. NP PHAN - NGƯỜI CON DÂU NHÀ HỌ PHAN

 

1.

Thuở nhỏ, tôi cứ đinh ninh họ Phan nhà tôi toàn là người bên lương, không có ai và không có nhà nào theo đạo Thiên chúa. Đối với tôi, những người bên đạo rất xa lạ bởi không cùng tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên như mình, mặc dù làng tôi rất gần hai giáo xứ lớn của tổng Trung Châu, phủ Diên Khánh xưa: Giáo xứ Đại Điền và giáo xứ Cây Vông.

Vậy mà, có đôi lần, cha tôi đã dẫn tôi đi thăm những người (bà con) bên đạo ở làng Đại Điền Nam, thuộc xã Diên Sơn, nơi tọa lạc nhà thờ Cây Vông. Tôi chỉ còn nhớ hai người. Một người là một phụ nữ lớn tuổi mà cha tôi gọi là cô Ba (tôi gọi là bà Ba) và một người đàn ông cao lớn, mặt rỗ mà cha tôi gọi là anh Tư (tôi gọi là bác Tư). Bác Tư là một viên chức cảnh sát của chính quyền VNCH, mà hình như cha tôi đang có việc nhờ che chở. Ở cả hai nhà, tôi chỉ nhớ mang máng là có bàn thờ chúa Jesus rất trang trọng.

Tôi chỉ nhớ có vậy, không hề nghĩ là có mối liên hệ gì giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con ấy. Tuổi còn nhỏ, chỉ lo học và chơi nên tôi chẳng quan tâm hay hỏi cha tôi về mối quan hệ này.

Bẵng đi hàng chục năm, tôi cũng quên đi những chuyến viếng thăm của hai cha con tôi thuở nào.

Mãi hơn hai mươi năm sau ngày thống nhất, qua lời kể của cha tôi và những câu chuyện góp nhặt từ những người lớn tuổi, tôi mới biết được mối liên hệ giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con bên đạo kia.

Họ vốn là những người cháu của bà cao tổ (bà sơ) họ Phan nhà tôi, một tín đồ Thiên chúa giáo ngoan đạo.