Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

891. PHAN TẤN UẨN - NỐI DÕI TÔNG ĐƯỜNG.

                                                                            

NỐI DÕI TÔNG ĐƯỜNG

(Gia phả Việt, Family Tree Mỹ, và những lựa chọn

 thầm lặng giữa truyền thống và tự do.)

 

  Truyện ngắn : Phan Tấn Uẩn

**

 

Hình minh họa Cây Gia Phả theo kiểu Mỹ  (AI)

 Nối dõi tông đường là sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua nhiều thế hệ, buộc người con trai vào một khuôn khổ mang tên dòng họ, bàn thờ, gia phả, mồ mả… Những cam kết không cần ký tên, nhưng được truyền từ đời này sang đời khác. Gia phả không chỉ là nơi ghi tên, mà còn để lộ ra những khoảng trống.

Ở Việt Nam, những khoảng trống ấy thường được chấp nhận như một phần của trật tự truyền thống. Nhưng khi câu chuyện nối dõi được mang qua Mỹ, mọi thứ bắt đầu đi ngược hướng. Ông Lâm nhận ra điều đó khi nhìn mẫu giấy Family Tree của bé Khang và so sánh với cây gia phả Việt. Một bài tập không ai để ý ,bỗng đặt cậu bé trước sự ngược hướng của hai nền văn hóa.

Câu chuyện nối dõi tông đường bắt đầu từ đó…

 

Khang bước vào phòng, tay cầm tờ giấy, thấy ông Lâm đang ngồi ở bàn học. Em đưa mẫu giấy ra trước mặt ông.

“ Ba… bài tập cuối tuần . Family Tree.”

“ Family Tree là gì?” ông Lâm hỏi.

 

Mắt Khang sáng lên:

“ Là history của gia đình.”

 

Ông Lâm nhìn tờ giấy in mẫu cây gia đình : càng lên cao, càng xa tổ tiên. Mỗi người một ô, có thể ghi tên, ngày sinh, nghề nghiệp, dán sticker tùy thích. Ông hình dung những ô vuông nối với nhau thành các nhánh thế hệ.

Khang chỉ tay vào tờ giấy:

“Ba coi nè, nam nữ không phân biệt.”

“ Mẫu giấy của con là Cây Gia Đình tương tự như Cây Gia Phả Việt Nam..”

 

Ông đứng dậy, vào tủ thờ, lấy ra tập gia phả cũ, mở cho Khang xem cách trình bày. Cậu bé nhìn một lúc rồi nhanh trí hỏi:

“ Cây gia phả đâu?”

“ Cuốn này không có,” ông Lâm nói. “ Cây gia phả Việt Nam ghi ông bà ở trên, con cháu ở dưới, trọng nam khinh nữ. Kiểu Mỹ thì ghi ngược lại và ai cũng có chỗ riêng.”

 

Tập gia phả và tờ Family Tree nằm cạnh nhau, ông Lâm tưởng như  hai thế giới đối diện: một bên là quá khứ với gánh nặng đặt lên đời sau, một bên là hiện tại mở ra tương lai chưa định hình.

Khang nhún vai, cầm bút, lật tờ family tree:

“Ba coi nè, con sẽ vẽ thêm nhánh cho ông bà nội.”

“Được thôi,” ông Lâm mỉm cười.

 

Ánh nắng xuyên qua cửa sổ chiếu xuống bàn học, rọi lên tờ giấy trắng và cuốn gia phả ngả màu trong buổi sáng yên tĩnh ở Mỹ.

Trong gia phả, chữ Hán và chữ quốc ngữ đan xen ,tên tuổi nam giới được ghi trang trọng nhiều chi tiết hơn tên tuổi nử giới - thường đứng sau, hoặc đóng vai phụ cho chồng. Nhiều tên tuổi chỉ còn một dòng ngắn : ngày tháng năm sinh và năm mất. Nhìn kỹ, gia phả vừa là nơi lưu giữ danh tính vừa  là chỗ ghi dấu di sản của tiền nhân.

Lúc trẻ ông Lâm  nghe  nói  về  nối dõi tông đường, nhưng  không để ý đến sức nặng của nó. Ở Mỹ, quen với cảm giác chuyện gì cũng có thể bắt đầu trở lại,ông hiếm khi nghĩ về quá khứ. Bây giờ lật từng trang gia phả. Những tên tuổi ông đã nghe qua . Những tên tuổi lạ hoắc như thuộc về một dòng tộc khác. Một vài chỗ nét chữ mờ nhạt  khiến ông hình dung người viết dừng lại, suy nghĩ trước khi viết tiếp..

Đời ông nội, chỉ ghi tên và năm sinh. Không một chi tiết cho biết ông sống ra sao, đã nghĩ gì, đã để lại gì ngoài cái tên ấy.Trong ký ức ông Lâm ,ông nội thường ngồi ngoài hiên mỗi buổi chiều, lặng lẽ nhìn ra sân. Ông ít nói. Có lần ông Lâm hỏi vì sao ông nội không kể chuyện tổ tiên ông bà, ông tảng lờ như chưa từng nghe biết. Những điều ông Lâm không nghe biết ấy giống như những khoảng trống trong gia phả …

Ngồi trước bàn , nhìn tờ family tree trắng tinh đang chờ được điền tên, ông Lâm  hiểu ra không phải mọi ký ức đều được nhắc lại,cũng không phải mọi thế hệ đều được ghi nhớ.

Nghe Khang trở mình trong phòng ngủ, ông sực nghĩ, không biết ở trường,nó viết tên nó thế nào ? Phát âm tên họ ra sao ? Có viết tên lót không ?

 

“ Ba ơi,” nó gọi vọng ra, giọng ngái ngủ.

“ Gì vậy ? ”

“ Mai ba nhớ giúp con làm bài nha.”

“ Ừ.”

“ Chỉ cần viết tên  .”

 

Ông  khép lại cuốn gia phả, tắt đèn.

Sáng hôm sau,thứ bảy, Khang trải tờ family tree ra bàn học. Nó lấy bút chì, ngồi ngay ngắn, như chuẩn bị làm một bài toán.

“ Ba …đâu rồi ? ”

Ông Lâm đến ngồi cạnh .Nó viết tên nó vào ô trên cùng, chữ hơi nghiêng.

“Viết tên ba đây nè… Viết thế nào ?” Nó hỏi.

“ Con ghi Lam Pham.”

“ Sao vậy?”

“ Ở đây người ta làm vậy.”

 

Nó gật đầu, không thắc mắc thêm. Khi viết xong tên cha và mẹ , nó dừng lại, nhìn hàng ô trống phía dưới.

“ Ông bà có cần middle name không?”

“ Không cần.”

“ Sao không?”

“ Ngày xưa ít dùng.”

 

Nó suy nghĩ một lúc, rồi viết tiếp. Ông Lâm nhìn cách nó cẩn thận lấp đầy từng ô. Ông không nói gì về những người thân ruột không có ô dành riệng trên tờ giấy này. Không nói về những người chỉ tồn tại trong trí nhớ, hoặc không tồn tại ở đâu cả.

 

Buổi chiều,cảm thấy đầu óc trống trải, ông Lâm lại đọc gia phả.Ông lật chậm từng trang . Đến trang có tên người cha,  ông dừng lại. Ông nhớ lúc cha viết tên ông vào gia phả. cha không hỏi ông có muốn hay không,chỉ nói:

“ Đến lượt con.”

Lúc đó ông Lâm không hiểu “đến lượt con ” có nghĩa gì. Bây giờ ông hiểu, nhưng lại khó truyền đạt cho con.

Khang đang ngồi trên sàn phòng khách chăm chú xếp lego (*). Khi ngẩng lên thấy ông Lâm, nó hỏi :

“ Ba đang coi gì vậy ? ”

“ Ba đang coi lại danh sách những người trong gia đình, nhánh họ mình” ông trả lời.

“ Gia phả giống cái paper của con phải không ? “

“ Không giống.”

“ Vậy khác chỗ nào?”

Ông Lâm  im lặng. Nó bỏ việc xếp lego, đến gần ông.chờ nghe ông nói.

“ Viết gia phả không phải để nộp bài như làm bài tập ở nhà của con ” ông nói .

“ Không nộp thì viết cho ai?”

“ Không cho ai hết.” Ông trả lời cho qua chuyện.

“ Vậy khỏi làm cũng được mà,” Nói xong, nó quay lại xép lego.

 

Ông Lâm thấy vui. Lời nó nói, ông chợt nhận ra ở đây không ai đòi hỏi, nhắc nhở hay kiểm tra chuyện nối dõi.

Nó dựng xong một cái tháp trong trò chơi lego rồi gọi ông đến xem. Ông đứng nhìn, khen đẹp, rồi hỏi nếu tháp đổ thì có thể xây lại hay không. Nó gật đầu ngay, đầy tự tin. Ông hỏi thêm, liệu có thể lắp ghép liên tục, không cần tháo ra ráp lại từ đầu. Nó vẫn trả lời được. Trong ánh mắt đứa trẻ, mọi thứ đều có thể làm lại, miễn là còn kiên nhẫn và còn muốn tiếp tục. Nhưng với ông Lâm, một vài thứ ông mang theo từ bên kia nửa vòng trái đất qua đây không biết đặt vào đâu...

 

Cuối tuần, ông Lâm  gọi điện về Việt Nam. Người anh ruột bắt máy sau vài hồi chuông reo. Giọng ông anh chậm, đều như mọi khi.

“ Chú Lâm khỏe không?”

“ Khỏe…anh, 

“Thằng nhỏ sao rồi?”

“ Nó cũng khỏe.”

 

Im lặng một lúc,ông hỏi:

“ Nó học lớp mấy?”

“ Lớp Năm. ”

“ Nói tiếng Việt rành không ? ”

“ Tạm tạm thôi anh ơi !”

Ông anh ậm ự gì đó trong điện thoại không nghe rõ. Ông Lâm chỉ nghe tiếng gió quen thuộc ngoài hiên nhà ông.

“ Bên đó,” ông anh lại lên tiếng, “ tụi nhỏ chắc không biết gì về dòng họ.”

“ Đúng rồi, anh . ”

“ Cũng phải thôi.”

 

Ông Lâm chờ ông anh nói tiếp, nhưng không nghe gì.

“ Anh còn giữ gia phả không?” Ông hỏi người anh.

“ Còn.”

“ Có ai coi không? ”

“ Không.” Ông anh cười khẽ “Gia phả để đó,không ai coi thì nó vẫn còn đó.”

 

Buổi tối, ông Lâm cho Khang biết mình vừa nói chuyện với người bác ở Việt Nam.Nó tò mò hỏi khoảng cách bao xa, ông nói gần chín ngàn dặm. Khang ngạc nhiên trước con số đó, rồi hồn nhiên nghĩ đến một ngày nào đó được theo cha về thăm quê xa. Ông Lâm mỉm cười, hẹn với con một chuyến đi trong tương lai, gắn với một phần thưởng danh dự ở bậc trung học, như một cột mốc trưởng thành hơn là một lời hứa ràng buộc. Sau đó, hai cha con vẫn ngồi bên nhau, nói những câu chuyện lan man, không đầu không cuối, về trường lớp, về những điều nhỏ nhặt trong ngày.

 Khang vẫn chưa làm xong bài tập.Cuốn gia phả vẫn còn trên bàn.Ông Lâm lật đến trang cuối. Dòng cuối ghi tên ông. Có lẽ người cha đã dừng lại ngang đó, chờ ông viết tiếp. Nhưng ông không ghi gì thêm vào cuốn gia phả .

 

Ở Mỹ, nuôi một đứa trẻ nên người là một bài toán dài hạn mà nhiều gia đình không tìm ra đáp số. Đụng vào đâu cũng tiền với tiền… kéo dài không có điểm dừng. Ngồi trước xấp hóa đơn, ông Lâm mắc kẹt giữa những con số. Trong khi Khang lớn lên giữa trường lớp và những lựa chọn mở sẵn, ông vẫn đặt ra những chuẩn mực cũ cho nó. Khoảng cách thế hệ cứ lặng lẽ nới rộng…

Khi mọi cố gắng đều dồn vào chuyện nuôi con đứng vững trong một xã hội xa lạ, nối dõi tông đường không còn là mục tiêu. Không phải ai cũng quay lưng với dòng họ; đơn giản họ  không còn sức để nghĩ đến đời sau, khi đời trước và đời hiện tại đã ngốn gần hết sinh lực của họ.

Người anh ông Lâm ở lại Việt Nam, nối nghiệp gia đình, có con trai trưởng, có bàn thờ, có mồ mả tổ tiên để chăm sóc. Trong gia phả, nhánh ấy đã có người đứng tên, có kẻ nối nghiệp; mọi thứ đi đúng theo trật tự quen thuộc.

 

Ông Lâm nhận được lá thư người anh ruột gởi từ SaiGon…

 

Chú Lâm ,

Anh viết thư này không phải để trách gì em, chỉ để nhắc em nhớ mình từ đâu mà ra.

Ở làng, họ Nguyễn ta thuộc dòng họ lớn.Nền nếp ông bà để lại, anh em ta phải giữ gìn .

Mấy năm nay, anh em trong họ bàn nhau dựng lại nhà thờ họ cho xứng đáng với công lao tiền nhân. Đất có sẳn, người trông coi cũng sẳn sàng, chỉ thiếu kinh phí. Anh biết ở bên Mỹ em làm ăn phát đạt, cuộc sống ổn định hơn bên này rất nhiều. Chỉ cần gia đình em đóng góp, nhà thờ họ sẽ nhanh chóng thành hình. Con cháu nội ngoại có chỗ hương khói, biết rõ cội nguồn.

Anh cũng nói rõ để em hiểu:cháu Khang đã được ghi tên vào gia phả họ Nguyễn từ năm ngoái vào dịp giỗ tổ. Nó là cháu của nhánh mình ở nước ngoài. Tên đã nhập phả thì không còn là chuyện riêng của gia đình em nữa. Dòng họ đã nhận nó, thì  nó cũng có phần trách nhiệm với dòng họ, đó là lẽ thường từ xưa tới nay.

Em ở xa, không biết gì về giỗ chạp, mồ mã ông bà. Nhưng đi đâu thì cũng là con cháu trong họ. Bà con cứ hỏi tin em sao chẳng thấy gia đình em đóng góp gì . Sợ em mất gốc...

Em có con trai, đó là phúc phần của đại gia đình ta. Không chuẩn bị bây giờ, sau nầy ai đứng ra lo hương khói ? Nhà thờ họ là cội nguồn, gốc rễ. Không nghĩ đến chuyện nối dõi , không lo cho họ mạc , người ta sẽ xem thường . 

Anh mong em suy nghĩ. Việc này cần làm nhanh…

 

 

Mấy tháng sau, không thấy hồi đáp, người anh gọi điện.

“ Chú Lâm nhận được thư anh chưa?”

“ Nhận rồi.”

“ Sao không trả lời ?”

“ Vì không biết trả lời sao cho vừa ý anh.”

“ Chú nói vậy là sao?”

“ Vì em đọc thư anh, mà thấy như mình đang bị xét hỏi.”

 

Người anh im lặng vài giây, rồi giọng chùng xuống.

“ Anh chỉ nhắc chú nhớ bổn phận.”

“ Bổn phận của ai, anh?”

“ Của người mang họ Nguyễn. Của cha con chú .”

 

“ Em nói rõ cho anh nghe : phần của em, em sẽ đóng góp…”

“ Vậy sao mấy tháng nay không thấy chú nói gì ? “

“ Vì anh đã tính luôn phần của con em.”

 

“ Nó có tên trong gia phả  thì phải có bổn phận như con cháu trong họ.”.

“ Nhưng nó không sinh ra tại đó , anh ạ !”

 

“ Sinh ở đâu thì cũng mang dòng máu họ Nguyễn.”

 “ Ở Mỹ, máu huyêt không tự động biến thành bổn phận.”

“ Chú đừng nói kiểu đó. Gia phả còn đây, tổ tiên còn đây.”

“ Tổ tiên có trả tiền học, tiền bảo hiểm cho con em không ?”

 

“ Chú quá lời rồi đó.”

“ Em chỉ nói chuyện đang sống.”

“ Ở đây người ta xét đoán dữ lắm. Chú có gia đình mà không lo nối dõi, người ta coi thường.”

“ Người ta đó có nuôi con em không ? “

 

“ Danh dự dòng họ không phải chuyện riêng của chú.”

“ Nhưng đời sống của con em thì là chuyện riêng của nó.”

 

“ Nếu ai cũng nghĩ như chú thì dòng họ này tan rã từ lâu rồi.”

“ Nếu ai cũng nghĩ như anh thì em đâu có qua Mỹ.”

 

“ Coi chừng mất gốc đó.”

“ Anh giữ gốc, nhưng rồi con anh cũng sẽ muốn rời gốc mà đi thôi.”

 

Người anh khựng lại.

  Chú đừng lôi chuyện con anh ra.”

“ Em không lôi . Tụi nhỏ ở đâu cũng vậy. Chúng sống trong một thế giới khác.”

“ Nếu thằng Khang không nối dõi thì sao?”

“ Thì đó là đời nó.”

 

“ Chú nói nghe đơn giản quá.”

“ Không đơn giản.Vì anh không phải là người trả giá cho cuộc đời nó.”

 

“ Vậy dòng họ rồi sẽ đi về đâu? “

“ Dòng họ không cần đi đâu hết. Chỉ cần dừng lại đúng chỗ.”

 

“ Chú nghĩ mình đúng hết sao ?”

“ Không. Nhưng em biết chắc một điều: em không dùng dòng họ để buộc con em sống thay cho nỗi lo của người lớn.”

Giọng người anh gắt lên:

“ Đàn ông không giữ được tông đường thì còn gì là đàn ông!

 

Ông Lâm im lặng vài giây, rồi nói chậm, từng chữ một:

“ Ở Mỹ, đàn ông là người không trút gánh nặng của mình lên đời con.”

 

Đầu dây bên kia im tiếng rất lâu..

“ Còn nói gì nữa không ?”

“ Dạ. Hết rồi.”

 

Cuộc gọi kết thúc. Không ai chào ai.

Trong căn nhà yên tĩnh, trước mắt ông Lâm bây giờ chỉ có một đứa trẻ đang lớn lên, và một người cha không muốn trói con mình vào những câu hỏi không thuộc về đời nó.

 

 Sáng hôm sau, chủ nhật, nhìn cuốn gia phả đặt cạnh tờ family tree của con, ông Lâm nhận ra cả hai đều nói về cùng một dòng họ, nhưng bằng hai ngôn ngữ khác nhau. Một bên là thứ ngôn ngữ của trật tự, kế thừa và bổn phận; bên kia là ngôn ngữ của lựa chọn, lắp ghép và tự do. Ông muốn biết con trai mình đang đứng ở đâu trong khoảng giao thoa ấy.

 

Khang đang chạy chơi ngoài sân. Ông gọi nó lại.

“ Ba muốn nói với con chuyện này…”

Nó ngừng chơi, nhìn ông.

“ Chuyện gì, ba?”

“ Về gia đình mình.”

“ Gia đình… giống cái giấy family tree đó hả ?”

“ Ừ, nhưng khác hơn.”

Ông dẫn Khang vào nhà. Hai cha con ngồi đối diện. Ông chậm rãi tìm lời, như người đang dò đường trên một vùng đất vừa quen vừa lạ.

“ Con biết không, những người trong gia phả… có người đang sống, có người đã mất. Nhưng họ chỉ thực sự tồn tại khi còn có người nhớ đến họ. Khi không còn ai nhớ, họ coi như mất dấu.”

“ Như ma hả  ba ? ”

 

Ông khẽ mỉm cười.

“ Không hẳn… nhưng cũng gần như vậy.”

 

Khang nhíu mày, rõ ràng nó vẫn chưa hiểu. Ông đổi cách nói.

“ Ông bà nội, ông bà ngoại, ông cố bà cố… họ muốn mình ghi nhớ họ. Nhưng không phải để bắt con phải làm việc gì . Chỉ để con biết con là ai, và con từ đâu ra.”

“ Nhưng con có cần nối dõi không ?”

“ Tùy…”

“ Tùy là sao ?”

“ Muốn hay không, là quyền của con. Không ai có quyền bắt con phải nối dõi.”

 

Khang ngồi im. Ông Lâm suy ngẫm… Nó được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất mà mọi thứ đều có thể tháo rời, lắp ráp, dựng lại từ đầu. Thế hệ của nó được dạy cách tìm kiếm, lựa chọn và tự định nghĩa gốc rễ của mình, chứ không phải mang sẵn một gốc rễ đã được đúc khuôn bằng chữ nghĩa và áp lực.

Một cảm giác lạ dâng lên trong ông. Nếu ông ghi tên con vào cuốn gia phả kia, liệu đó có phải ông đang trói nó vào một quá khứ mà nó chưa từng biết, chưa từng lựa chọn ? Liệu đó có phải là món nợ của cha ông, được chuyển giao âm thầm qua một đứa trẻ vô can, chỉ vì nó là kẻ hậu sinh ?

Đêm đó, ông nằm thao thức. Nhưng khác với những đêm trước, ông không còn cảm giác nặng nề vì ý nghĩ mình có thể là “dòng cuối cùng”. Thay vào đó, một sự an nhiên từ từ lan tỏa. Ông nhận ra, nối dõi không chỉ có một con đường duy nhất là ghi thêm một cái tên vào gia phả riêng của dòng họ.

Còn nhiều cách “nối dõi” khác có ý nghĩa rộng lớn,nhưng thầm lặng hơn. Bằng ký ức sống. Bằng việc giữ gìn tiếng Việt trong ngôi nhà nhỏ của mình. Bằng những câu chuyện về con sông cũ, mái đình làng, mùi hoa ngâu trước sân ông bà ,những điều thuộc về một thời đã qua nhưng vẫn còn xuất hiện đây đó. Những năm tháng ấy không phải để hoài niệm, mà để nhớ về quá khứ. Ông dạy con biết trân trọng nguồn cội, nhưng không biến nguồn cội thành gánh nặng. Ông để quá khứ hiện diện như một lời kể, không như một mệnh lệnh.Ông không buông bỏ những gì thuộc về mình; ông chỉ chuyển hóa nó thành món quà tặng cho con thay vì giao cho con trách nhiệm nặng nề.

 

Đường phố bên ngoài vẫn quen thuộc dưới ánh đèn sáng rõ . Nhưng trong lòng ông Lâm đã nhóm lên ngọn lửa nhỏ.Đó là hơi ấm của tình thương không kèm điều kiện dành cho thế hệ sau. Gia phả như vậy đã vượt khỏi trang giấy. Nó tồn tại trong những câu chuyện được kể lại, qua hình bóng của cha ông truyền lại .Dòng chảy thế hệ cứ thế tiếp diễn …

 

Trong xã hội Mỹ, khái niệm “nối dõi” chưa bao giờ được đặt lên vai cá nhân như một nghĩa vụ đạo đức. Các nhà xã hội học như Talcott Parsons từng chỉ ra rằng gia đình hiện đại ở Mỹ vận hành như một đơn vị “hạt nhân”, nơi chức năng chính không phải là duy trì dòng họ, mà là nuôi dưỡng cá nhân đủ năng lực sống độc lập. Huyết thống vì thế không mang tính mệnh lệnh, mà chỉ là một trong nhiều lớp quan hệ. David Schneider, khi nghiên cứu về thân tộc Mỹ, cũng nhận thấy rằng gia đình ở đây không được định nghĩa bằng máu mủ thuần túy, mà bằng sự lựa chọn và cam kết tình cảm. Người ta có thể gắn bó, có thể rời đi, có thể nhớ, hoặc có thể không—không ai bị xem là thất bại vì không còn vang tiếng. Trong trật tự ấy, sinh con không nhằm nối một cái tên, mà để mở ra một đời sống mới ; nhớ về tổ tiên không phải để tiếp tục gánh trách nhiệm thay thế họ, mà để hiểu mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy rộng hơn của xã hội. Bởi vậy, xã hội Mỹ không hỏi một người đàn ông rằng anh đã nối được tông đường hay chưa. Câu hỏi, nếu có, luôn hướng về hiện tại và tương lai: anh đã sống đời mình ra sao, và anh có đủ can đảm để cho con mình quyền được chọn một con đường khác hay không. Chính tại điểm này, “tiếp nối” không còn là việc kéo dài quá khứ, nhưng là khả năng không áp đặt nó lên thế hệ sau.

Và ở một nơi không còn ai buộc phải nối dõi, dòng chảy vẫn tiếp tục, theo cách lặng lẽ của riêng nó.

 

Phan Tấn Uẩn

Gainesville tháng 1/2026

 

890 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH: LÊ LẠC GIAO – VÀ TÁC PHẨM TỔ QUỐC TRĂM NĂM

 


NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

LÊ LẠC GIAO – VÀ TÁC PHẨM TỔ QUỐC TRĂM NĂM

https://www.barnesandnoble.com/w/to-quoc-tram-nam-lac-giao-le/1150960191?ean=9798904526740 

  Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.

 Cảm nhận của tôi sau đây là từ các chương: chương 1, chương 7, 8, 14,15,16 ,17 và Lời mở đầu, của hồi ký tiểu thuyết Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao, là những chương để lại cho tôi cảm xúc sâu đậm.

Thoạt đầu cứ tưởng Tổ Quốc Trăm Năm là một cuốn sách viết về những năm tháng tù và chốn lưu đày của bên thua cuộc sau biến cố tháng Tư 1975, nhưng càng đọc, tôi càng thấy tác giả không chỉ kể hành trình tù đày, ông đang kể một câu chuyện lớn hơn, sâu sắc hơn: thân phận con người trước vật đổi sao dời của lịch sử, cùng những hệ lụy của vấn đề ý thức hệ chính trị.

 Ngay trong lời mở đầu, nhà văn Lê Lạc Giao đã xác định vị trí tư cách của người viết, “Tôi kể hoặc trình bày lại cuộc chiến tranh trong vai trò nạn nhân và nhân chứng của mình."

Và sau đó ông mở rộng: "Tôi thiết nghĩ những ai liên hệ đến cuộc chiến đều không ở bên ngoài hai phạm trù này."

 Thay vì nhìn cuộc chiến qua tâm cảnh thắng-thua, ông nhìn nó bằng lăng kính nhân chứng và nạn nhân- nghĩa là Con Người. Đây là sắc thái nhân bản và nhân văn trong nhân sinh quan của tiểu thuyết gia Lê Lạc Giao.

Cũng ở lời mở đầu, ông nói "Tôi mong quyển sách là một chia sẻ hay hơn nữa một đóng góp cho dù nhỏ nhoi thông tin lịch sử của đất nước mình."

Ông không viết chỉ để kể nỗi khổ của riêng mình. Ông muốn lưu giữ một ký ức tập thể, chống lại sự lãng quên, để gửi lại cho những thế hệ sau thông tin lịch sử của đất nước, Một thái độ khách quan, công bằng và trung thực.

Những cảm nhận mà tôi có được là do cảm xúc từ tâm trạng và cách chịu đựng của tù nhân hơn là từ những sự kiện. Và, không chỉ là nỗi buồn về một giai đoạn lịch sử, mà còn có niềm tin như tác giả, rằng, phẩm giá con người có thể bị tổn thương, nhưng không dễ bị hủy diệt.

 *

Tôi bị ám ảnh bởi hình ảnh những chuyến xe đêm âm thầm rời thành phố trong chương mở đầu. Những con người ấy ra đi mà không biết nơi đến, cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Trong họ hai trạng thái tình cảm có sức công phá tâm tư ngang nhau: đó là sợ hãi và lặng im. Một sợ hãi của tay trắng, một im lặng của thúc thủ, của nghi vấn, về số phận, về cuộc sống, trước tấm lưới của tù ngục đang bổ xuống.

Qua các chương 1, chương 7, chương 8, chương 17 của Tổ Quốc Trăm Năm, tôi đã có được những yếu tố để trả lời cho câu hỏi ban đầu, làm sao tù nhân sống sót qua cuộc sinh tử ấy:

 1-Họ sống sót nhờ giữ được đời sống tinh thần và sở thích riêng tư:

 Để chịu đựng những khắc nghiệt của đói khát, lao động cật lực và sợ hãi, các nhân vật như Tuệ, viết nhạc ghi vào trí nhớ để mong lúc nào đó nó được hát lên, Cương dạy tiếng Pháp cho bạn tù, một nhóm đánh cờ tướng (không biết có nhắc nhở, chạnh lòng đến vai trò chốt thí trong bàn cờ quê hương?), người khác hát tình ca, một nhóm chơi đá dế. Tôi thực sự chấn động bởi hình ảnh một người trưởng thành, như Thạc, trong cảnh tù, vẫn hồn nhiên khoe bắt được con dế, dấu nó trong lon sữa bò, chờ mở cuộc đá dế, thoạt nghe tưởng là những chi tiết rất nhỏ, nhưng thực ra chúng cực kỳ quan trọng. Đó là những khoảnh khắc họ đang cố giữ lại phần người của mình. Nói cách khác, họ không để nhà tù đóng ấn, định nghĩa, con người của họ, họ khẳng định mình qua những hoạt động tinh thần ấy. Với những người có trình độ văn hóa giáo dục từ trước, họ có thêm vũ khí là ký ức văn hóa khiến họ sống sót và soay sở với tuyệt vọng, họ nói về truyện Kiều, họ đọc thơ Chiều của Hồ Dzếnh, Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương… Thử hỏi không có ký ức văn hóa ấy, thì cơm tù, luật tù đã vùi nát nhân phẩm của họ xuống bùn đen rồi, bởi những thứ đó không là một thú thưởng ngoạn, nó là nơi trú ẩn tinh thần cho những thân xác bị giam hãm.

Tôi nhớ ý câu của nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn khi viết về Gulag: có những lúc một bài thơ thuộc lòng quý hơn một ổ bánh mì, bởi bánh mì nuôi thân xác một ngày, còn thơ giữ cho tâm hồn khỏi sụp đổ. Ở nhân vật Hảo, Tuệ… tôi thấy điều tương tự.

 2. Họ sống sót nhờ tình bạn:

 Chính nhờ những hoạt động âm thầm trên đã nuôi nấng nên tình bạn. Họ sống sót nhờ dưỡng khí tình bạn. Quanh Hảo thường xuyên có những: Kỳ, Tuệ, Thạc, Nhượng, Tánh, Chánh, Cương... họ tồn tại một nhóm nhỏ khép kín, nhưng là một ván thuyền đỡ họ trong sóng của nghi kỵ, dòm ngó, hình phạt. Trong tình bạn ấy họ chia sẻ được cho nhau tuyệt vọng, để nhen nhúm hy vọng.

 

3. Họ sống sót nhờ vào khả năng suy tư:

 Từ nhận xét 1, tôi đi đến yếu tố này, và điển hình là nhân vật Hảo. Anh liên tục đặt câu hỏi: Thân phận mình là gì? Lịch sử là gì? Quê hương là gì? Tổ quốc là gì? Và anh đi qua được năm tháng đằng đẵng của tù ngục. Nhà văn Lê Lạc Giao đã bộc lộ sự tin tưởng, con người có thể bị cầm tù thân xác nhưng vẫn giữ được tự do nội tâm nếu còn khả năng tư duy, và vì thế, ông đã đưa vào rất nhiều đoạn triết luận về lịch sử và định mệnh. Như nhân vật Hảo, anh phân biệt "quê hương" với "chế độ". Anh có thể bị chia ly với gia đình xã hội, mất quyền lực, địa vị, công việc, tương lai, bời sự đổi thay chế độ, nhưng anh vẫn giữ được tình yêu đối với quê hương. Điều đó giúp anh không bị hủy diệt bởi hận thù. Và, Hảo đau vì đất nước hơn là đau vì số phận cá nhân, đây là nội lực mạnh nhất giúp anh trong cuộc sống còn.

 4. Họ sống sót vì còn giữ được ý nghĩa cho sự tồn tại của mình:

 Ngay từ đầu nhà văn viết: "thời gian tù tội trong cuộc đời một người, tự nó có ý nghĩa hay giá trị nhất định".

Ông không xem quãng đời tù như một hình phạt đơn thuần, ông chia sẻ nó với tư cách nạn nhân-chứng nhân.

 Với tư cách nạn nhân ông hiểu nó hơn ai hết, tư cách bị động của số phận bên thất thế, và nhẫn nại chịu đựng đau đớn thể xác lẫn tinh thần để -bảo vệ phẩm giá – để chờ ngày trở về với gia đình- để không bỏ cuộc – một khi sự đau khổ được gắn với ý nghĩa nó cho người ta thêm sức mạnh,

Nhà tâm lý học và cựu tù nhân trại tập trung Đức Quốc Xã là Viktor Frankl cho rằng con người có thể chịu đựng những hoàn cảnh tưởng như không thể chịu đựng được nếu họ còn nhìn thấy một ý nghĩa nào đó cho sự tồn tại của mình.

 

Với tư cách chứng nhân ông ghi lại nó, biến nó thành chứng từ của một biến cố lịch sử, nhưng đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không có cảm giác mình đang đọc một bản cáo trạng, mà thấy như mình đang lắng nghe lời kể của một nhân chứng cố gắng giữ lại những ký ức có thể bị thời gian cuốn mất. Và trong những ký ức ấy, điều còn lại sau cùng không phải là hận thù, mà là câu hỏi về ý nghĩa của đời người trước những thăng trầm của lịch sử. Với tư cách này nhà văn Lê Lạc Giao đã thể hiện được sự khách quan cần thiết.

 *

Qua 3 chương 14, 15, 16, điều làm tôi suy nghĩ không phải những tranh luận về thắng bại hay những lý giải chính trị của một cuộc chiến đã lùi xa nửa thế kỷ. Điều còn ở lại là những câu hỏi lớn hơn: con người là ai giữa những biến động lịch sử? Điều gì còn lại khi một ý thức hệ thất bại, một chế độ sụp đổ, một đời người bị cuốn vào vòng xoáy phi lý của chiến tranh? Và liệu lòng yêu nước có thể tồn tại bên ngoài mọi chủ nghĩa, mọi định kiến chính trị hay không?

Tác giả xoáy theo câu hỏi, ý thức hệ đã dẫn dắt chủ trương, hành động con người như thế nào. Khi quyền lực nắm công cụ ý thức hệ chính trị, xem nó là phương hướng thì con người bị nhìn như một phương tiện thay vì mục đích. Lúc ấy người ta không còn thấy một cá nhân tên Hảo, hay Tuệ, hay Thạc…mà chỉ còn thấy: đồng chí, địch, phản động, cách mạng, thắng cuộc, thua cuộc.

Nhà văn Lê Lạc Giao đã hóa giải cái nhìn ấy theo nhận xét rất nhân bản. Người lính miền Nam, người lính miền Bắc, người cán bộ, người tù cải tạo, người dân, mỗi người đều hành động trong những khuôn khổ tư tưởng, niềm tin và hoàn cảnh mà họ được sinh ra. Nhận xét như vậy, không có nghĩa xóa bỏ những hệ lụy của ý thức hệ, mà khiến người ta nhìn mọi điều xảy ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt một cách cảm thông hơn. Tôi cho rằng đó là mấu chốt quan trọng để hai bên nhìn thấu nhau, đưa đến có thể, chuyện hội nhập.

Đây cũng là những nét mở rộng trọng tâm của tác giả ở 3 chương 14,15,16

 1-Cảnh tù không phải là chính yếu, mà ở sự nhận thức của tù nhân về thân phận mình.

 Nhân vật Hảo nhìn lại cuộc đời tù đày như một phần của một bi kịch lớn hơn, câu nói làm ta suy gẫm: "Quá trình chấp nhận đớn đau để rồi yêu thương này là bi kịch bản thân, hay bi kịch dân tộc?"

Phải chăng đây là một trong những câu hỏi cốt lõi của toàn bộ tác phẩm. Nếu chỉ là hồi ký tù cải tạo, câu hỏi sẽ là: "Tại sao tôi phải chịu cảnh này?"

Nhưng Hảo hỏi: "Đây là bi kịch của riêng tôi hay của cả dân tộc?"  Câu hỏi ấy đưa tác phẩm vượt khỏi phạm vi một hồi ký tù nhân.

 2- Tác giả đang tìm kiếm "con người" phía sau ý thức hệ:

 Có chi tiết thú vị trong chương 14, 15. Trong cuộc đối thoại với Phạm Văn Nhân, Hảo không thỏa mãn với những giải thích thuần túy chính trị: tổ chức đảng, viện trợ Mỹ, chiến lược quân sự, và còn nhìn thấy sự giới hạn của chính phía mình. Hảo không chỉ trách người chiến thắng, anh cũng chất vấn phe mình, tại sao miền Nam thất bại, điều gì đã thiếu sót, điều gì đã không hiểu được đối phương. Một thái độ trung thực, không nhằm biện hộ, kết án, chỉ cốt để hiểu, đó không phải là biểu hiện sâu sắc của tinh thần nhân bản hay sao?

Anh kéo cuộc trò chuyện với Phạm văn Nhân với câu hỏi:

"Sao anh không chút suy nghĩ đến bản chất con người Việt Nam chúng ta?" - Một câu hỏi văn học hơn là chính trị-. Bởi vì cuối cùng, chế độ được tạo ra bởi con người; ý thức hệ được vận hành bởi con người; chiến tranh được tiến hành bởi con người. Nếu không hiểu con người, thì mọi giải thích lịch sử đều thiếu sót và không trung thực.

3. Khái niệm "Tổ Quốc Trăm Năm" bắt đầu hiện rõ:

 Nhất là ở chương 14, linh hồn của tư tưởng tác giả, khẳng định qua câu nói của nhân vật Hảo:  "Lòng yêu nước của một tổ quốc trăm năm hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc chủ nghĩa hay ý thức hệ."

Đây là tư tưởng mà tôi, và tôi tin cũng của nhiều người, trân trọng. Nhân vật Hảo luôn dằn vặt, tìm lại ý nghĩa của quê hương, của tự do, của nhân phẩm, và cuối cùng là của chính sự hiện hữu, và thái độ Hảo chọn -tách quê hương ra khỏi những biến động chính trị của một giai đoạn lịch sử-. Theo Hảo, tổ quốc lớn hơn chủ nghĩa, chế độ. Đó là lý do ông viết:

  -"Anh chỉ có một Tổ Quốc."

 Tiếng nói của một người đã đi qua tù ngục, qua sâu thẳm nhất của các trải nghiệm, để nhận ra tình yêu quê hương vượt lên mọi ý thức hệ, để từ đó đi tìm một căn cước con người hơn là căn cước chính trị.

Càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng nhận ra rằng điều cứu rỗi con người không phải là thắng hay thua trong cuộc chiến, mà là khả năng giữ được lòng yêu thương, sự thấu hiểu và phẩm giá của mình giữa những biến động. Đó là chiến thắng thầm lặng nhất. Và cũng là phần nhân văn, nhân bản nhất của cuốn sách.

Khi người tù không còn chỉ hỏi "ai đúng ai sai", mà hỏi "làm thế nào để vẫn yêu được đất nước này sau tất cả những gì đã xảy ra?".  Đây không chỉ là câu hỏi của Hảo. Không chỉ là câu hỏi của Lê Lạc Giao. Mà còn là câu hỏi của rất nhiều người Việt thuộc những thế hệ đã đi qua chiến tranh, chia cắt, lưu đày, cải tạo, vượt biển, tha hương. Một câu hỏi khiến Tổ Quốc Trăm Năm vượt khỏi phạm vi của một cuốn hồi ký tù nhân, để chạm đến những suy tư rộng lớn hơn về Tổ Quốc, Lịch Sử Và Con Người.

 *

Có khi nhiều năm sau, người ta quên những tên trại, quên những mốc thời gian, quên những chi tiết của câu chuyện. Nhưng người ta vẫn nhớ hình ảnh người tù đọc Truyện Kiều trong đêm, giây phút Hảo và ông Linh nói chuyện thơ Đường, Thạc và con dế than, Tuệ miệt mài viết nhạc trong thầm lặng, hai người tù ngồi nhìn nắng trên tàng cây bạch đàn trong ngày Tết thứ sáu ở tù, Hảo nghe tiếng mưa và nghĩ đến khả năng thanh lọc những nỗi đau. Mảng trời xanh nhỏ -mà bao la- từ khung cửa ngục, những câu thơ chống lưng, những tiếng nhạc thay cho hơi thở nặng, nắng vô tư trên tàng cây, tiếng mưa rơi vô nhiễm, những điều ấy chẳng phải là đáng giá hơn các học thuyết, khẩu hiệu chính trị sao?

Chính những điều ấy mà tác phẩm này cũng để lại trong tôi lòng trắc ẩn buồn bã về những số phận đã đi qua chúng, là niềm tin vào nhân phẩm, là hình ảnh một Tổ Quốc Trăm Năm đau đáu trong tâm tư suy tưởng của nhà văn:

 -"Quê hương chưa bao giờ phản bội, khước từ anh."

-"Anh biết mình có quyền lựa chọn nhiều quê hương trong cuộc đời, nhưng chắc chắn một điều anh chỉ có một Tổ Quốc."

 Đây là hạt nhân tư tưởng của tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm, có sức mạnh của một thông điệp.

 Cũng là điều cuối, tôi muốn nói với người đọc: Khi bạn đọc Tổ Quốc Trăm Năm, bạn đang ở trong cuộc gặp gỡ, một bên là Tổ Quốc Trăm Năm, một bên là bạn.

- Cuốn sách giới thiệu tác giả với hai tư cách nạn nhân và chứng nhân, để kể lại, để giải thích một cách trung thực về biến cố lịch sử, về ngục tù, về thân phận con người trước thời cuộc, và cũng mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về ý thức hệ.

- Bạn mang đến sự quan tâm về mặt nhân văn, nhân bản trong văn chương, của sự được truyền tải về thân phận con người, của sự được chia sẻ tình cảm trong trẻo về quê hương, và cái nhìn cao đẹp về tổ quốc.

Nơi hai dòng chảy ấy gặp nhau, là nơi tác phẩm này ở lại trong lòng bạn.

 Ntkm, Upland, tháng 6, 2024

*Tôi đọc Tổ Quốc Trăm Năm ở giai đoạn lúc chưa phát hành, nên những câu ghi chú không ghi rõ số trang, mà chỉ ghi chương sách.

  SƠ LƯỚC TIỂU SỬ NHÀ VĂN LÊ LẠC GIAO:

Bút hiệu: Lê Lạc Giao -Tên thật : Lê Tấn Hà. Sinh năm 1951 tại Khánh Hòa Việt Nam

Đại học Văn Khoa ban Triết 1970-1974

Công chức chế độ cũ, sau 30-4-1975 đi tù cải tạo 8 năm

Sang định cư Hoa Kỳ tháng 3/1993

Chuyên viên Dữ Liệu công ty Boeing 22 năm

Về hưu 2017

Cư trú tại Orange County California

Các bút hiệu khác: Hồ Lạc Hồng, Lê Diên Thủy

Sách đã xuất bản:

  • Một Thời Điêu Linh (tập truyện/2013)
  • Nửa Vầng Trăng Ký Ức (tập truyện/2015)
  • Có Một Thời Nhân Chứng (truyện dài/2018)
  • Nụ Cười Buồn Mùa Hè (tập truyện/2020)
  • Mùa Địa Ngục (tập truyện 2022)
  • Dòng Đời (truyện dài 2023)
  • Tổ Quốc Trăm Năm (hồi ký tiểu thuyết 2026)

 

 

 

 

 

 

 

.