Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

847 . HOÀNG XUÂN SƠN - RƠI TRÊN GỐI- thơ.

                                                                                              



 

Ngã nhào không chiến tuyến

Đường cắt nắn nét màu*

Những que diêm thời phục hưng lụi tàn trong bể ải

 

 

Chiếc gạt đời khô lâu rồi những mấu đất

Ai nâng máu xương lên hàng phẩm vật

Hiến tế đêm nay

Cả phật phần tro cốt

 

 

Áo lụy đường di

Ai nào chép thơ cho đời sạm

Tư vãn

Xám não trời buồn

Giọt mùa [âm]

 

Âm âm từng cội ấm

                                                 nâu già

Níu lỏng tràng xanh khuya

 

 

Câu đắm hồn quả tú

Đăm đắm kẽ trời

Mắt sen

 

 

Từng bó ôm vào lòng

Địu sơn hành an tịnh

Thức

Đêm hương

Nùi tàn diêm sinh trên gối

 

 

Đọc một chút thanh bình

Từ giấc sen vua.

Và trôi

Như hồng bụi

 

 

)(

hoàng xuân sơn

25.12.21

* nắn nét, chữ Gió-O

 

846 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - HOẠN NƯƠNG GHEN VÀ SỰ TRẢ THÙ TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

                                                                                                             


Truyện Kiều còn có tên là Đoạn Trường Tân Thanh,  đây là tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng và phổ biến sâu rộng nhất ở Viêt Nam. Có lẽ không ai là không biết, cho dù đó là trí thức hàn lâm hay bình dân lao động, ngay cả những người không biết chữ cũng biết và thuộc dăm ba câu thơ Kiều, thậm chí nhiều người thuộc làu làu nhiều đoạn hoặc thuộc lòng cả tác phẩm.

Truyện Kiều là tác phẩm phóng tác, chuyển thể từ tác phẩm Vương Thúy Kiều của nhà văn Trung Hoa, Thanh Tâm tài nhân (còn gọi là tài tử). Cái tài tình của cụ Nguyễn Du là sử dụng ngôn ngữ một cách nhuần nhuyễn, điêu luyện, mượt mà…để chuyển thể một tác phẩm văn xuôi thành thơ, đưa thể thơ lục bát lên đến độ phát triển hoàn thiện nhất. Truyện Kiều in sâu vào tâm thức của bao thế hệ người Việt yêu văn chương, thơ ca. Nội dung truyện Kiều có lẽ ai cũng biết nên không cần phải nói làm gì. Trong phạm vi bài viết này chỉ tản mạn chút về cái ghen của người đàn bà. Cơn ghen của nhân vật Hoạn Thư trong Truyện Kiều như thể đã là hình tượng tiêu biểu cho máu ghen của đàn bà: “Nổi máu Hoạn Thư”.

Hoạn Thư và hình ảnh “sư tử Hà Đông” là điển cố văn học, là biểu tượng cho cái sự ghen tuông của người đàn bà. Thật sự thì cái ghen của Hoạn Thư khác hẳn với cái ghen của phần đông đàn bà ở thế gian này. Cái ghen của Hoạn Thư nó “văn hóa” hơn, “cao cấp” hơn và cũng “nghệ thuật” hơn hẳn cái ghen của hầu hết nhi nữ thường tình. Những người đàn bà ở thế gian này hễ thấy hay nghi ngờ chồng mình quen, cặp bồ hay ăn ở với người khác là lập tức lồng lộn lên, làm ầm ĩ, đánh ghen và làm bao nhiêu việc khác. Chuyện đó rất bình thường, bởi vậy mà Hoạn Thư cũng từng nói: “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” hoặc là “Chồng chung đâu dễ ai chìu cho ai”. Đọc truyện Kiều ta thấy cái ghen của Hoạn Thư khác hẳn với cái lối ghen tuông thường tình kia, không dễ gì có người đàn bà thứ hai nào ghen một cách “thượng đẳng” như thế. Có lẽ do sự giáo dục trong gia đình, do hấp thụ văn hóa trong môi trường của nhà quan lại bộ thượng thư, một dòng dõi trâm anh thế phiệt. Hoạn Thư ghen nhưng không hề lồng lộn, la mắng, chửi rủa, đánh ghen ồn ào…Hoạn Thư tuyệt nhiên im lặng, biết rõ chân tơ kẽ tóc nhưng giả tảng như không có gì (mặc dù trong lòng như lửa đốt), thậm chí còn bịt kín mọi tin tức về cuộc tình vụng trộm của chồng. Khi có kẻ mách tin để lập công. Hoạn Thư lập tức:

“Vội vàng xuống lệnh ra uy

Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”

Thât bản lãnh cao tay, không dễ có người đàn bà thứ hai nào có thể làm được. Hoạn Thư biết rõ  từng cử chỉ hành vi của cuộc tình Thúc Sinh và Thúy Kiều nhưng vẫn đóng vai người vợ thủ phận an thường, không hay biết việc gì. Khi Hoạn Thư ra tay thì vượt lên trên lẽ thường tình, cứ như thể một tay trùm chính trị ra tay với đối thủ của mình. Hoạn Thư cho tay chân bộ hạ bắt cóc Thúy Kiều về dinh và sung vào đội ngũ thị tỳ. Đợi đến khi Thúc Sinh về thăm nhà mới sai Kiều ra hầu rượu, hầu đàn “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt dâng tận mặt, bắt mời tận tay”, bắt khoan bắt nhặt đủ điều khiến cho Thúc Sinh tan nát cõi lòng, Thúy Kiều cũng chết dở sống dở, cả hai nhìn nhau mà không dám nhận nhau, không thể thốt nên lời. Hoạn Thư như thể một tay phù thủy còn Thúc Sinh và Thúy Kiều như hai con rối, mặc sức điều khiển, hành hạ cho bõ công ghen tức âm thầm bấy lâu nay. Hoạn Thư ngồi thưởng thức vở bi hài kịch do chính mình dựng nên. Hoạn Thư hả dạ để cho thỏa nỗi đau ngầm xưa nay, quả thật một tay cao thủ vượt lên trên sự ghen tuông, đánh ghen thông thường của đàn bà. Hoạn Thư dùng thuật tâm công, đánh vào lòng, đánh cho đau đớn vật vã mà nạn nhân không thể thốt nên lời, không sao chống đỡ được. Hoạn Thư chơi trò mèo vờn chuột, không giết nó, không ăn nó, chỉ vờn cho nó sống không được, chết không xong.

845 . THÂN TRỌNG SƠN : dich và giới thiệu CHIẾC CHUÔNG của Hans Christian Andersen

                                                                                                                                                                





Hans Christian Andersen sinh ngày 2 tháng 4 năm 1805 tại Odense, Đan Mạch, trong một gia đình nghèo khó. Cha ông là một người thợ đóng giày, người đã nuôi dưỡng trí tưởng tượng của con trai bằng những câu chuyện dân gian và tự làm cho ông một sân khấu đồ chơi. Mẹ ông là một người giặt thuê.

Khi cha qua đời vào năm 1816, cậu bé Hans Christian mới 11 tuổi gần như phải tự lập. Năm 14 tuổi, cậu bé cao lớn, vụng về ấy một mình đến Copenhagen, quyết tâm trở nên nổi tiếng — với tư cách là diễn viên, ca sĩ hoặc vũ công. Ông thử giọng tại Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch nhưng bị từ chối.

Tài năng thô sơ của Andersen đã thu hút sự chú ý của Jonas Collin, một giám đốc của Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch, người sau này trở thành ân nhân suốt đời của ông. Collin sắp xếp để Andersen trẻ tuổi được học tại trường ngữ pháp ở Slagelse và sau đó là Helsingør.

Đó là một trải nghiệm nhục nhã đối với một thiếu niên khi phải học cùng những học sinh nhỏ tuổi hơn nhiều. Ông chịu đựng sự bắt nạt và một hiệu trưởng nổi tiếng khắc nghiệt. Dù trải qua những khó khăn ấy, Andersen vẫn kiên trì và vào Đại học Copenhagen năm 1828, mặc dù trước đó ông đã bắt đầu xuất bản thơ và văn xuôi.

Andersen gần như là người đã tạo ra cách viết eventyr — tức truyện cổ tích phiêu lưu hay truyện kỳ ảo — bằng cách phá vỡ mạnh mẽ truyền thống văn học thời đó.

Trong khi anh em nhà Grimm sưu tầm và kể lại những truyện dân gian có sẵn, Andersen sáng tạo ra những câu chuyện cổ tích văn học hoàn toàn mới, được viết bằng ngôn ngữ đời thường, giống như giọng kể của một người kể chuyện đang trò chuyện với trẻ em.

Đây là một cuộc cách mạng: trước đó, chưa có một tác giả nghiêm túc nào viết cho trẻ em bằng ngôn ngữ gần gũi, hằng ngày như vậy. Những truyện cổ tích đầu tiên của ông xuất hiện vào năm 1835 gồm: Hộp quẹt” (The Tinder-Box), Cô bé Tí hon” (Thumbelina), Công chúa và hạt đậu” (The Princess and the Pea), và “Claus lớn và Claus nhỏ” (Little Claus and Big Claus).

Trong bốn thập kỷ tiếp theo, ông viết khoảng 156 truyện cổ tích, được dịch ra hơn 125 ngôn ngữ, khiến ông trở thành một trong những tác giả được dịch nhiều nhất trong lịch sử.

Những câu chuyện nổi tiếng nhất của Andersen vẫn là những tác phẩm nền tảng của văn học thế giới.

Nàng tiên cá” (The Little Mermaid, 1837) — một câu chuyện buồn về sự hy sinh và tình yêu đơn phương — đã truyền cảm hứng cho nhiều vở ba lê, phim ảnh và bức tượng đồng nổi tiếng ở Copenhagen.
Vịt con xấu xí” (The Ugly Duckling, 1843) — thường được xem là câu chuyện mang tính tự truyện — biến những đau khổ thời thơ ấu thành một bài học phổ quát về việc khám phá bản thân.

Nữ hoàng băng giá” (The Snow Queen, 1844) — truyện cổ tích dài nhất và tham vọng nhất của ông — sau này trở thành nguồn cảm hứng cho bộ phim Frozen của Disney.

Bộ quần áo mới của Hoàng đế” (The Emperors New Clothes, 1837) đã tạo ra một ẩn dụ lâu dài về sự tự lừa dối của cả tập thể.

Còn Cô bé n diêm” (The Little Match Girl, 1845) vẫn là một trong những câu chuyện Giáng sinh cảm động nhất từng được viết.

Những truyện được yêu thích khác gồm: “Đôi giày đỏ” (The Red Shoes, 1845), Chim họa mi” (The Nightingale, 1843), Chú lính chì dũng cảm” (The Steadfast Tin Soldier, 1838), Bầy thiên nga hoang dã” (The Wild Swans, 1838), và “Cây thông Noel” (The Fir-Tree, 1844).

Thiên tài ca Andersen nằm ở việc sử dụng sự mỉa mai, hài hước, cách trò chuyện trực tiếp với người đọc, cũng như khả năng đặc biệt trong việc trao tiếng nói cho những vật vô tri — đồ chơi, hoa cỏ, vật dụng trong nhà — biến chúng thành nhân vật chính trong những câu chuyện có sức lay động với độc giả mọi lứa tuổi.

Truyện cổ tích của ông bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa về xã hội, sự châm biếm và những cảm xúc phức tạp.

Khác với truyện của anh em nhà Grimm, nơi kẻ xấu thường bị trừng phạt và người tốt chiến thắng, truyện của Andersen thường kết thúc bằng sự mơ hồ hoặc nỗi buồn.

Nàng tiên cá tan biến thành bọt biển; cô bé n diêm chết cóng; cây thông bị đốt cháy. Những kết thúc vừa ngọt ngào vừa cay đắng này phản ánh chính những đấu tranh của Andersen với sự cô đơn, địa vị xã hội và những khát khao không được đáp lại.

Andersen chưa từng kết hôn và cũng không có con. Ông từng trải qua một vài mối tình mãnh liệt nhưng không được đáp lại, và những trải nghiệm ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm của ông.

Ông có một tình cảm gắn bó sâu sắc với Edvard Collin, con trai của ân nhân Jonas Collin, và từng say mê Jenny Lind, nữ ca sĩ nổi tiếng được mệnh danh là “Chim họa mi Thụy Điển” (Swedish Nightingale), người xem ông như một người anh trai.

Những cuốn nhật ký và thư từ của ông cho thấy một con người giàu cảm xúc, luôn phải đấu tranh với sự cô đơn trong suốt cuộc đời.

Năm 1847, trong chuyến thăm Anh lần đầu tiên, Andersen gp Charles Dickens.

Ông viết trong nhật ký: Chúng tôi đã bước ra hiên nhà, tôi vô cùng hạnh phúc khi được nhìn thấy và trò chuyện với nhà văn còn sống của nước Anh mà tôi yêu quý nhất.”

Cả hai tác giả đều lên tiếng bảo vệ những người nghèo khó và những người bị thiệt thòi, sáng tác những câu chuyện về sự vượt qua nghịch cảnh nhờ nỗ lực, lòng tốt và may mắn.

Tuy nhiên, tình bạn của họ sau đó trở nên không còn tốt đẹp khi Andersen ở lại nhà Dickens, Gads Hill Place, trong chuyến thăm năm 1857 lâu tới năm tuần — khiến Dickens phải để lại một tờ giấy trong phòng khách ghi rằng:

Hans Andersen đã ngủ trong căn phòng này suốt năm tuần, khoảng thời gian dường như dài bằng cả một thời đại đối với gia đình.”

Những câu chuyện của Andersen đã truyền cảm hứng cho vô số vở kịch, opera, ba lê và phim ảnh — nổi bật nhất là các bộ phim của Disney như “Nàng tiên cá” (The Little Mermaid, 1989, 2023) và “Frozen” (2013).

Những câu chuyện của ông vượt qua ranh giới về tuổi tác và văn hóa, vẫn giữ nguyên sức sống cho đến ngày nay như khi chúng lần đầu được kể lại.

Giải thưởng quốc tế Hans Christian Andersen, do Hội đồng Quốc tế về Sách dành cho Thanh thiếu niên (IBBY) thành lập, là danh hiệu quốc tế cao quý nhất dành cho các tác giả và họa sĩ minh họa sách thiếu nhi.

Ngày sinh của ông, ngày 2 tháng 4, được kỷ niệm trên toàn thế giới là Ngày Sách Thiếu nhi Quốc tế.

Andersen qua đời vào ngày 4 tháng 8 năm 1875 tại Copenhagen, hưởng thọ 70 tuổi. Ông chưa bao giờ hoàn toàn hồi phục sau một chấn thương xảy ra do bị ngã khỏi giường hai năm trước đó. Ông được an táng tại Nghĩa trang Assistens (Assistens Cemetery) ở Copenhagen.
Hans Christian Andersen là một trong những nhà văn cổ tích nổi tiếng nhất thế giới, với nhiều tác phẩm không chỉ dành cho trẻ em mà còn chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc sống. Truyện ngắn Chiếc chuông “ là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện quan niệm ca Andersen về khát vọng hướng tới cái đẹp, sự thật và những giá trị tinh thần cao quý. Qua hình ảnh một chiếc chuông bí ẩn vang lên giữa thiên nhiên, tác giả gửi gắm nhiều thông điệp về hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của con người.

Trước hết, hình tượng chiếc chuông là biểu tượng trung tâm của tác phẩm. Ban đầu, tiếng chuông vang lên từ một nơi xa xôi, khiến nhiều người tò mò và muốn tìm kiếm nguồn gốc của nó. Tuy nhiên, không ai biết chính xác chiếc chuông nằm ở đâu, bởi âm thanh của nó dường như vừa gần gũi vừa khó nắm bắt. Chiếc chuông không chỉ là một vật thể thông thường mà trở thành biểu tượng cho những điều cao đẹp mà con người luôn khao khát: chân lý, vẻ đẹp, sự hoàn thiện và lý tưởng sống. Nó đại diện cho tiếng gọi của tâm hồn, thúc đẩy con người vượt qua giới hạn của bản thân để đi tìm những giá trị lớn lao hơn.

Bên cạnh đó, hành trình tìm kiếm chiếc chuông thể hiện khát vọng khám phá và vươn lên của con người. Những người tìm kiếm chiếc chuông xuất phát từ nhiều tầng lớp khác nhau, mỗi người có một cách cảm nhận riêng về âm thanh ấy. Có người tìm kiếm vì tò mò, có người vì mong muốn chứng minh bản thân, nhưng cũng có những người thực sự bị dẫn dắt bởi một niềm tin vào cái đẹp. Andersen cho thấy rằng con người chỉ có thể chạm tới những giá trị cao quý khi họ có sự kiên trì, lòng chân thành và một tâm hồn nhạy cảm.

Một ý nghĩa quan trọng khác của tác phẩm là sự đối lập giữa vẻ đẹp bên ngoài và giá trị bên trong. Nhiều người trong truyện bị hấp dẫn bởi những thứ dễ nhìn thấy, dễ đạt được, nhưng chiếc chuông thật sự lại gắn với một trải nghiệm tinh thần sâu sắc. Qua đó, Andersen phê phán thói quen đánh giá mọi thứ bằng vẻ bề ngoài và nhấn mạnh rằng những điều quý giá nhất thường không dễ dàng nhận ra. Con người cần biết lắng nghe bằng trái tim thay vì chỉ bằng giác quan.

Ngoài ra, Chiếc chuông ” còn thể hiện tư tưởng nhân văn của Andersen về sự trưởng thành. Hành trình đi tìm tiếng chuông cũng là hành trình con người khám phá chính mình. Khi vượt qua khó khăn, họ không chỉ đến gần hơn với mục tiêu mà còn trở nên tốt đẹp hơn. Chiếc chuông vì thế không chỉ nằm ở một nơi cụ thể mà còn tồn tại trong tâm hồn mỗi người, như một lời nhắc nhở về việc luôn hướng tới điều thiện và cái đẹp.

Về nghệ thuật, Andersen sử dụng lối kể chuyện giàu tính biểu tượng và chất thơ. Tiếng chuông trong truyện vừa có tính hiện thực vừa mang màu sắc huyền ảo, tạo nên không khí đặc trưng của truyện cổ tích. Cách xây dựng hình ảnh biểu tượng giúp tác phẩm vượt ra ngoài một câu chuyện đơn giản để trở thành một bài học về đời sống tinh thần.

Tóm lại, Chiếc chuông ” của Andersen là câu chuyện về hành trình con người đi tìm cái đẹp và ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Chiếc chuông không chỉ là một âm thanh bí ẩn mà là biểu tượng của lý tưởng, niềm tin và khát vọng hoàn thiện bản thân. Qua tác phẩm, Andersen nhắn gửi rằng những giá trị cao quý không phải lúc nào cũng hiện hữu trước mắt; chúng chỉ được tìm thấy bởi những người có lòng kiên trì, sự trong sáng và khả năng cảm nhận bằng tâm hồn.