Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

980 .NGÃ DU TỬ - Khi mùa thu trở giấc/ Trở lại đường mây/ giữ lấy mùa vui của sóng đời

                                                                                   


1.KHI MÙA THU TRỞ GIẤC.

   (Cho nàng thơ)

 

Khi mùa Thu trở giấc. Anh nhớ em.

Không phải Thanh Tịnh năm xưa: Tôi đi học

Nhớ cành Sen hồng lộng lẫy, em dành tặng tôi.

Vừa thanh khiết, vừa thơm mùi khó nhọc.

 

Tôi hiểu em với lòng lành và độ lượng

Trăng thi ca sáng tỏ một đêm rằm

Nụ cười hàm tiếu thanh cao như mùa thu chín

Tôi yêu em từ thuở hứng ánh rằm.

 

Mùa thu về trẻ con tựu trường lòng nô nức

Tôi nhớ nàng như dũng sĩ nhớ biên cương

Nhớ buổi xuân nào trên phố chạy khắp đường

Cho kịp gieo vào lòng mùa xuân nhớ.

 

Mùa Thu nay đất trời còn độ lượng

Cho em gửi cánh sen lộng lẫy ngọc ngà

Muôn đời tình yêu là bất tận

Dẫu hai đầu nỗi nhớ cách nhau xa.

 

 

2. TRỞ LẠI ĐƯỜNG MÂY

 

Khi trở lại đường mây thơm hương mới

Áo lãng du vẫn vương vấn bụi trần

Nghe thi tứ vừa xanh trên thềm biếc

Mùa hanh khô, cơn gió thổi mát lành.

 

Mơ một sớm sẽ cùng nhau tình tự

Có bài thơ đã rụng xuống cõi người

Phía dốc đứng người lặng nghe chết điếng

Những anh tài giấu kín nỗi chia phôi.

 

Văn thơ viết cho đời như muối mặn

Xót gừng cay, thiên hạ khuấy tan tành

Thôi, đành vậy. Ngồi yên nghe chơn tánh

Triều đang dâng. Cơn gió nỗi ngang tàn.

 

 

3 GIỮ LẤY MÙA VUI CỦA SÓNG ĐỜI

 

Có những mùa hoa trên tháp bút

Lạc loài đang độ tuổi vừa xuân

Nghìn sau cánh hạc hoài bay mãi

sao khóc một thời tuổi mới xanh?

 

Nắng đã vừa lên ươm sắc mộng

Gọi nghìn thương nhớ tuổi đôi mươi

Sức trẻ còn vươn vai sức sống

Có ai nhìn lại phía bên đời?

 

Em đã đi qua ngày tuổi trẻ

Nhớ gì thân thiết một đường bay

Tình đã lên màu thương nhớ cũ

Này em, non nước đã mùa thay.

 

Tiếc chi rằm nọ thuở trăng xưa

Sáng trưng trên lũng quê ngày ấy

Mời em, trăng sáng cùng chiêm ngưỡng

Cũng một mùa trăng, một cách say.

 

Thương tiếc ngày xuân thời mới lớn

Qua rồi, sao luyến nhớ khôn nguôi

Mỗi ngày một khác khung trời mới

Giữ lấy mùa vui giữa sóng đời.

 

Ngã Du Tử/ SG

979 . TRỊNH Y THƯ - Dịch và giới thiệu JAMES JOYCE- Những kiếp sống mòn.

 

Lời người dịch

 Trước khi vào sách

 

Tập truyện Dubliners là tập hợp mười lăm truyện ngắn của James Joyce, xuất bản lần đầu năm 1914. Hãy tưởng tượng một thành phố che phủ trong màn mưa và sự hối tiếc, nơi những giấc mơ đông lại thành nỗi thất vọng và cuộc sống vang vọng tiếng leng keng rỗng tuếch của biết bao tiềm năng chưa hoặc không được khai mở. Đó là thành phố Dublin, Ireland vào đầu thế kỷ XX, làm bối cảnh cho toàn bộ tập truyện, những câu chuyện miêu thuật cuộc sống thường ngày của cư dân thành phố và cho người đọc một bức chân dung sâu sắc và thường mang tính mỉa mai phê phán về xã hội, văn hóa và chính trị của thời đại đó. Mỗi câu chuyện là một cái nhìn thoáng qua về cuộc sống của những người dân Dublin bình thường, khắc họa những cuộc đấu tranh, mong muốn và khát vọng của họ, một bức tranh thu nhỏ nhưng phức tạp, ghi lại nỗi tuyệt  vọng  câm lặng  và  nỗi  thất vọng  âm ỉ  của cuộc sống  bị  mắc kẹt  trong  một vòng  xoay  trì  trệ,  dường như không lối thoát.

 

Sự quan sát tinh tế và phong cách kể chuyện sống động của Joyce đã nắm bắt được những sắc thái của trải nghiệm con người, phản ánh các chủ đề như sự tê liệt, sự thức tỉnh và tính phức tạp trong các mối quan hệ của con người.

 

Những nhân vật trong các truyện đều có chung một định mệnh nghiệt ngã. Ông Kernan, một người đàn ông từng là người kiêu hãnh, bị dìm xuống bởi chứng nghiện rượu và sự khinh miệt của xã hội. Cô Eveline, một cô gái trẻ đứng chênh vênh trên bờ vực, dù trong lòng rất muốn trốn thoát khỏi cuộc sống giam hãm tù túng bởi bổn phận và truyền thống, nhưng không thoát ra được vì xích xiềng của các điều đó trì kéo cô lại. Little Chandler, một người đàn ông khao khát đam mê nghệ thuật, chỉ tìm thấy đống tro tàn nguội lạnh của một cuộc hôn nhân không tình yêu. Và rất nhiều các nhân vật khác điển hình như vậy trong tập sách. Mỗi nhân vật, được Joyce tinh tế tạo dựng, trở thành một hợp âm buồn thảm trong bản giao hưởng về sự vỡ mộng của thành phố Dublin.

 

Những câu chuyện dẫn dắt người đọc đi quanh co qua những con phố lát đá cuội và những quán rượu mịt mù khói thuốc, cho thấy sự kềm kẹp ngột ngạt của những ràng buộc xã hội, giáo điều tôn giáo và khó khăn kinh tế. Tham vọng cùng hoài bão của biết bao con người cứ thế héo mòn dần trong không khí ẩm ướt của sương mù và những trận mưa, thay vào đó là sự chấp  nhận  cái  tầm  thường  một  cách  đầy  cam  chịu. Tiếng cười, khi xuất hiện, nhuốm màu sắc mỉa mai, che giấu sự bất mãn gặm nhấm âm ỉ bên dưới bề mặt.

 

Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.

 

Dubliners không phải là một cuốn sách mang đến sự thoải mái êm ái hay những giải pháp ấm lòng cho người đọc. Nó là tấm gương phản chiếu một xã hội đang trong tình trạng trì trệ, buộc ta phải đối mặt với những hạn chế của cuộc sống và những lựa chọn mà ta đưa ra. Nó là bức chân dung hôn ám về khát vọng, sự thất vọng và nỗi đau cay đắng ngọt bùi của những kiếp sống vô vị, không trọn vẹn.

 

Người đọc có thể không tìm thấy câu trả lời dễ dàng cho những vấn nạn nhân sinh mà Joyce đưa ra trong tập truyện, nhưng trong bản giao hưởng đan kết những nỗi buồn của kiếp sống, người đọc vẫn có thể nghe thấy văng vẳng vài nốt nhạc xanh yếu ớt của hy vọng, một giai điệu thì thầm vươn lên len lỏi trong nỗi tuyệt vọng dày đặc của kiếp người.

 

Tập truyện này của Joyce được giới phê bình văn học đánh giá như là sự đổi mới trong văn học, với việc Joyce sử dụng các kỹ thuật hiện đại và phong cách tự sự đặc biệt mà sau này trở thành dấu ấn trong các tác phẩm văn học khác của ông. Xuyên qua việc khám phá những điều tầm thường lẫn phi thường trong cuộc sống của người dân Dublin, Joyce đưa ra một bình luận sâu sắc về thân phận con người. Với một văn phong gợi cảm và cái nhìn xuyên thấu tâm lý con người đã biến Dubliners trở thành một tác phẩm văn học kinh điển được ca ngợi và có sức sống trường tồn trong nền văn học Tây phương.

 

Đôi dòng tiểu sử James Joyce

 

James Joyce là một nhà văn được xem là tiên phong của chủ nghĩa Hiện đại. Những cách tân của ông trong phong cách tự sự, đặc biệt là kỹ thuật “dòng ý thức”, đã đưa ông trở thành một trong những tác giả tầm vóc đặc biệt, có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.

 

Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1882 tại Rathgar, Dublin, là người con cả trong một gia đình Công giáo đông con và gặp nhiều khó khăn về tài chính. Ông theo học tại trường Clongowes Wood, trường Belvedere, và sau đó là Đại học Dublin (University College Dublin), nơi ông theo học chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại.

 

Năm   1904,   Joyce   rời   Ireland   cùng   vợ    là  Nora Barnacle, bắt đầu một cuộc sống lưu vong tự nguyện tại lục địa châu Âu. Ông đã sống tại Pola, Trieste, Zurich và Paris, chủ yếu tự nuôi sống bản thân bằng nghề dạy tiếng Anh. Trong những năm tháng này, ông đã sáng tác và xuất bản những tác phẩm định hình cho nền Văn học Hiện đại Tây phương.

 

Văn phong của Joyce định hình hình thức tự sự xuyên qua kỹ thuật độc thoại nội tâm, các cấu trúc biểu tượng và những thử nghiệm táo bạo về ngôn ngữ. Các tác phẩm chính của ông bao gồm:

 

·         Dubliners (1914): Tập truyện ngắn khắc họa sự trì trệ, bế tắc trong đời sống tại Dublin.

·         Portrait of the Artist as a Young Man (1916): Tiểu thuyết mang tính bán tự truyện, theo dấu quá trình trưởng thành và phát triển của nhân vật Stephen Dedalus.

·         Ulysses (1922): Thiên sử thi Hiện đại mang tính đột phá của ông, tái hiện hành trình tương tự như trường thi Odyssey của Homer nhưng diễn ra chỉ trong vỏn vẹn một ngày tại Dublin.

·         Finnegans Wake (1939): Tác phẩm mang tính thử nghiệm cao, là một câu chuyện kể về giấc mơ được thể hiện qua sự pha trộn của nhiều ngôn ngữ khác nhau.

 

Trong Thế Chiến thứ nhất, Joyce dành phần lớn thời gian sinh sống tại Zurich, sau đó chuyển đến Paris và sống tại đó cho đến năm 1940.  Ông qua đời tại  Zurich vào ngày 13  tháng  1  năm 1941  sau một ca phẫu thuật điều trị chứng loét dạ dày.

 

Joyce  được  tôn  vinh  là  một  trong  những nhà văn quan trọng nhất của trường phái Hiện đại trong văn học, được ngưỡng mộ nhờ những kỹ thuật tự sự mang tính cách tân đột phá, cùng chiều sâu tâm lý và sự sáng tạo vô biên trong ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông vẫn tiếp tục định hình nền văn học, lý luận phê bình và thực hành nghệ thuật trên phạm vi toàn cầu.

  

Dịch Dubliners

 Tại sao dịch Dubliners? Câu trả lời là tại sao không? Một tác phẩm kinh điển được cả thế giới ngưỡng mộ và dịch, rất xứng đáng được đọc và dịch (thực ra, dịch là đọc một cách kỹ lưỡng hơn).


Tập truyện Dubliners có đặc tính là đằng sau những hành động, những tự sự miêu thuật bình thường, thậm chí tẻ nhạt, là tiềm năng diễn giải phong phú của câu chuyện, một câu chuyện luôn liên quan đến cuộc sống. Đối tượng của văn học ở đây luôn là con người. Một trong những dấu ấn của Joyce trong văn chương là không bao giờ để lộ một chủ ý rõ rệt nào mà luôn “mở” cho người đọc tùy nghi và tùy tiện diễn dịch hoặc phỏng đoán. (Một giai thoại không rõ có đúng không là: Có người hỏi tại sao ông viết cuốn tiểu thuyết Ulysses khó hiểu như vậy, để làm gì, thì ông trả lời, “Để các nhà phê bình biên khảo bận rộn đọc trong suốt 300 năm tới.”)

 

Dù dễ đọc hơn các tác phẩm sau này của Joyce, dịch Dubliners sang tiếng Việt, đối với tôi, vẫn là một thách thức lớn.

 Thách thức lớn nhất trong việc dịch Dubliners sang một ngôn ngữ khác đến từ sự chính xác tuyệt đối của Joyce. Thêm nữa, các thành ngữ, phương ngữ, cú điệu, tham chiếu văn hóa, và nhất là cái “ý tại ngôn ngoại” của Joyce khó có thể chuyển tải một cách suôn sẻ sang bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào khác.

 Tác phẩm chứa đựng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, tiếng lóng của văn hóa và đời sống đặc thù dân tộc Ireland. Đối thoại của cư dân Dublin là tiếng Anh-Dublin đầu thế kỷ XX, đầy tiếng lóng, mang tính giai cấp. Các từ vựng Công giáo và Dân tộc chủ nghĩa cũng không thiếu. Sự cố ý cho nhân vật phát âm sai và dùng từ sai (thuật ngữ tiếng Anh là malapropisms, một thủ pháp văn học thường thấy trong văn học Tây phương cốt ám chỉ trình độ xã hội và văn hóa của nhân vật, chính Miguel de Cervantes, trong tác phẩm tiểu thuyết Don Quixote, cũng thường hay sử dụng thủ pháp này.)

 Các dịch giả thường “sửa chữa” hoặc làm mượt mà những đặc điểm này, nhưng làm như vậy lại xóa bỏ kết cấu ngôn ngữ có chủ ý của Joyce. Vấn đề này được ghi nhận trong các nghiên cứu về các bản dịch tiếng Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, nơi các dịch giả thường xuyên thay đổi hoặc “chuẩn hóa” ngôn ngữ của Joyce.

 Đối với tiếng Việt, thách thức thậm chí còn gay gắt hơn, bởi thường ta không có cụm từ tương đương trực tiếp cho nhiều thành ngữ tiếng Anh-Ireland. Người dịch phải lựa chọn giữa sự khó hiểu theo nghĩa đen hoặc cách diễn đạt phù hợp với văn hóa.

 Rồi đến các tham chiếu văn hóa và lịch sử trong tác phẩm. Dubliners chứa đầy các tham chiếu đến chủ nghĩa Dân tộc Ireland; các nghi lễ Công giáo; chính quyền thuộc địa Anh; địa lý Dublin; các nhân vật lịch sử-chính trị (Parnell, Sir John Gray, v.v.); các thể chế xã hội (trường học một-xu-mỗi-tuần)… Những tham chiếu này thường xa lạ với độc giả không phải người Ireland, và đôi khi người dịch phải thêm chú thích hoặc giải thích. Các học giả lưu ý rằng người dịch thường cung cấp thêm chú thích vì họ không thể kỳ vọng độc giả trong ngôn ngữ mình nắm vững tường tận các chi tiết này.

 Đối với độc giả Việt Nam, khoảng cách văn hóa thậm chí còn lớn hơn.

 Văn phong của Joyce qua sự lặp lại có chủ ý và cú pháp cũng là một thách thức lớn khác cho người dịch. Joyce sử dụng sự lặp lại như một thủ pháp văn học, phản ánh sự đơn điệu và tê liệt của cuộc sống ở Dublin. Tuy nhiên, các dịch giả thường loại bỏ hoặc giảm thiểu sự lặp lại, cho rằng nó vụng về hoặc thiếu tính văn chương. Đây là một mô hình được ghi nhận trong nhiều bản dịch tiếng Âu.

 Văn xuôi tiếng Việt có xu hướng coi trọng sự ngắn gọn và trôi chảy, vì vậy việc giữ nguyên cú điệu lặp lại của Joyce có thể cảm thấy không tự nhiên. Tuy nhiên, việc loại bỏ lại làm suy yếu hiệu quả nghệ thuật của nội dung.

 Joyce cũng  ưa chuộng lối viết mà ta hay gọi là  “ý tại ngôn ngoại”, một hình thức hiện thực chủ nghĩa được tinh giản hóa, mang tính khách quan gần như tuyệt đối. Giọng điệu này rất khó tái hiện bởi phong cách văn xuôi tiếng Việt thường thiên về việc thể hiện các tín hiệu cảm xúc một cách rõ ràng, trực diện hơn. Sự tiết chế của Joyce có thể khiến văn chương trở nên nhạt nhẽo hoặc mơ hồ nếu không được xử lý một cách khéo léo. Người dịch buộc phải kềm nén thôi thúc muốn “giải thích” những điều mà Joyce để ngỏ, bỏ lửng lơ.

Những khoảnh khắc giác ngộ (epiphanies) trong tác phẩm của Joyce thường rất thầm lặng, chúng là những nhận thức nội tâm nho nhỏ, không phải sự bừng ngộ mang kịch tính chấn động. (Điển hình là truyện The Dead/ Kẻ đã khuất). Do đó, người dịch cần phải duy trì tính mơ hồ cùng sự kiệm lời, và sự tĩnh lặng về mặt cảm xúc của những khoảnh khắc ấy. Việc dịch quá tải (over-translation) có nguy cơ khiến khoảnh khắc giác ngộ trở nên quá lộ liễu; ngược lại, việc dịch giản lược (under-translation) lại có nguy cơ khiến nó trở nên vô hình, tan biến.

 Các học giả chỉ ra rằng đôi khi người dịch thường “sửa lại” những gì họ cho là lỗi lầm của Joyce – chẳng hạn như thủ pháp dùng sai từ (malapropisms), cấu trúc cú pháp lạ lùng, hay ngữ pháp mang tính khẩu ngữ – qua đó vô tình làm sai lệch chủ ý nghệ thuật trong nguyên tác. Sự cám dỗ này đặc biệt mạnh mẽ khi chuyển ngữ sang một ngôn ngữ như tiếng Việt, nơi mà các cấu trúc ngữ pháp có sự khác biệt căn bản, lối nói khẩu ngữ được mã hóa theo những cách hoàn toàn khác, và người dịch có thể cảm thấy áp lực phải tạo ra một văn phong “suôn sẻ”, thậm chí mềm mại, óng mượt.

 Thế nhưng, những nét thô ráp, gai góc, khúc khuỷu trong văn phong của Joyce lại hoàn toàn là chủ ý của ông.

 Một nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng chỉ nắm vững tiếng Anh thôi là chưa đủ để dịch các tác phẩm của Joyce; người dịch còn phải là những học giả am hiểu sâu sắc về chính tác phẩm của ông cũng như bối cảnh sáng tác của chúng. Điều này đặc biệt đúng đối với tác phẩm Dubliners, nơi mà những chi tiết tầm thường vặt vãnh lại mang sức nặng biểu tượng to lớn, các tham chiếu lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng, và kết cấu mặt bằng xã hội thành phố Dublin là yếu tố then chốt để giải mã ý nghĩa tác phẩm.

 Đối với người dịch tiếng Việt, điều này đồng nghĩa với việc phải thực hiện những nghiên cứu sâu rộng về lịch sử Ireland, Công giáo, và đời sống tại Dublin vào đầu thế kỷ XX.

 Các học giả nghiên cứu về những bản dịch sang các ngôn ngữ khác đều khẳng định rằng văn phong của Joyce có tính “kháng cự” rất mạnh đối với việc chuyển ngữ một cách suôn sẻ, và rằng người dịch buộc phải tìm được sự cân bằng hài hòa giữa tính trung thực với nguyên tác với khả năng tiếp cận về mặt văn hóa của ngôn ngữ dịch.

 Để đương đầu và phần nào khắc phục những thách thức khó khăn nêu trên trong việc dịch tác phẩm Dubliners, tôi có một trợ tá đắc lực: Internet.

 Internet là kho tài liệu phong phú gần như vô tận giúp tôi tra cứu những điều khúc mắc khó hiểu, hoặc không thể hiểu nổi trong văn bản nguyên tác. Thêm nữa, Dubliners đã có mặt trên trăm năm nay, được giới phê bình văn học đánh giá là tác phẩm kinh điển, nhờ thế, đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về nó. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian, thời gian đọc và nghiền ngẫm. Quá trình “dịch” tác phẩm, đối với tôi, trở thành quá trình “học”, và quả thực, tôi đã học hỏi được rất nhiều trong lúc dịch.

 Những điều “học” được, tôi cho vào các chú thích và phần “Phân tích và cảm nhận của người dịch” nằm sau mỗi truyện. Mặc dù đã cố hết sức mình, tôi biết chắc vẫn có những khiếm khuyết, sai sót đâu đó, chờ đợi bạn đọc bốn phương chỉ giáo cho bản dịch được hoàn chỉnh hơn.

 

Dịch Dubliners như là một hành động tôn vinh nhà văn Nam Cao của văn học Việt Nam

 Trong lúc lần giở từng trang sách tác phẩm Dubliners của James Joyce, đến truyện ngắn A Little Cloud/ Một cụm mây nhỏ, tôi bỗng nhận thấy sự tương tự giữa nhân vật Little Chandler trong truyện với nhân vật Điền trong truyện ngắn Trăng sáng của nhà văn Nam Cao. Cũng như Little Chandler, Điền là một nhà văn có ước vọng và tham vọng nhiều trong văn chương. Anh muốn sống hết mình cho nghệ thuật, nhưng hoàn cảnh túng bấn, nghèo khó, thôi thúc của đời sống không cho phép giấc mơ của anh trở thành hiện thực. Từ đó, nhìn sâu rộng hơn, và một điều khá hiển nhiên là giữa Dubliners của Joyce và văn chương Nam Cao có những điểm tương đồng lạ lùng về đối tượng văn học.

 Cũng như Joyce, sáng tác của Nam Cao đặt ra trước người đọc hàng loạt những vấn đề nhân sinh: những cảnh đời tù đọng, bế tắc, những bi kịch đau đớn, chua cay. Nam Cao phản ánh được cái thực tại bối cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam thời tiền chiến. Từ truyện ngắn nổi tiếng đầu tay Chí Phèo cho đến tiểu thuyết Sống mòn, văn chương Nam Cao luôn lấy những chủ đề về cuộc sống cùng khổ của cả một tầng lớp con người, từ nông thôn ra thành thị, từ anh nông dân chất phác chân lấm tay bùn cho đến người thầy giáo trí thức tiểu tư sản nghèo ngoài thành phố. Trên nhiều bình diện, nó thể hiện một cách rõ nét thân phận con người trong xã hội mà thời nào cũng có thể xảy ra.

 Giống như Joyce, Nam Cao cũng cho các nhân vật của mình chìm nổi, vật vã trong cuộc đấu tranh với hoàn cảnh. Họ không dửng dưng lạnh nhạt với sự đời, nhưng họ cũng là những con người thiếu hành động. Nhìn chung họ bị dồn vào thế bế tắc, không có hướng giải thoát. Họ vật vã, đau đớn trong những kiếp sống luôn bị dằn vặt, xói mòn. Suy nghĩ và hối hận nhưng họ không tìm ra cho chính mình phương hướng để hành động, và nếu có thì lại dễ hối hận với việc làm của mình.

 Các nhân vật của  Nam Cao cũng rất vất vả để chống lại tình trạng tha hóa với bản chất mình. Họ cũng bị lôi cuốn  vào  nhiều  ham  muốn  tầm thường,  nhiều  tính toán  nhỏ  nhen.  Chính  trong  bản  thân  họ cũng chất chứa biết bao mâu thuẫn.

 Qua tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao phản ánh sâu sắc không khí ngột ngạt, tù túng, quẩn quanh do một sức mạnh tưởng như vô hình nhưng tác động lại rất cụ thể, sự hủy hoại thầm lặng làm cho con người mỏi mòn dần cho đến kiệt sức. Tất cả mỏi mòn, chết dần chết mòn.

 Đó là lý do vì sao tôi chọn nhan đề tiếng Việt cho tập truyện Dubliners của Joyce là Những kiếp sống mòn.

 Nó không phải sự nhái lại, mà là một hành động trân trọng tôn vinh nhà văn Nam Cao, một nhà văn có vị trí rất lớn, rất riêng trong văn học Việt Nam.

 – Trịnh Y Thư

(Cuối Hè, 2026)

 

@@@

 

Sách có bán trên BARNES & NOBLE

408 trang, bìa cứng, 5.5”x 8.5”, giá bán: US$30.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

 

Dubliners Nhung kiep song mon | Barnes & Noble®

 

Từ tìm kiếm: dubliners, nhung kiep song mon

 

Hoặc liên lạc với NXB qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của dịch giả:

 

vanhocpress@gmail.com

 

 

 

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

978 . NGUYỄN TUẤN phổ thơ NGUYỄN MINH NỮU - MÊNH MÔNG TRỜI BẤT BẠT

 

977 . NGUYÊN CẨN - CÀNH LYLY ĐÃ GÃY

                                                                                                 


Cơn mưa chiều Sài Gòn càng lúc càng lớn. Tôi nôn nao muốn trở về nhà sớm bữa nay. Nhìn đồng hồ cũng đã gần 5 giờ rồi. Tôi thu xếp công việc thật nhanh và gọn gàng, nhưng cơn mưa này kéo dài hơn 3 tiếng rồi không ngớt, chắc lại ngập đường ngập sá. Tôi muốn về vì lòng áy náy không hiểu sao mình lại có thể nặng lời như thế với chị Quế tối qua và giữ mặt lạnh sáng nay lúc chuẩn bị  đi làm. Tôi đã gây sự với chị. Đúng hơn tôi là kẻ chủ động gây chuyện cả mấy tháng nay nhưng chị vẫn ẩn nhẫn cho qua vì chị nghĩ tôi đang bầu bì khi tôi chê chị nấu cơm nhão, cá kho thì mặn, cải muối thì chua... bếp núc không gọn gàng... nhưng đêm qua thì ba năm rõ mười. Tôi lớn lên trong vòng tay yêu thương của chị khi cả hai mồ côi cha năm tôi mới lên mười, còn chị mười sáu tuổi. Ngày xưa cha mẹ đặt tên chị là Quế vì gia đình ở Tam Kỳ nhưng cha lại làm ở Trà My nơi có nhiều quế nên ông đặt tên chị là Quế. Sau 6 năm ông đi học tập đến khi vào Sài Gòn mới sanh tôi nên đã đặt tên tôi là Chi vì ông thường nói đùa khi ai hỏi gì về mùi vị khi ăn uống, ông nói “ thơm như quế chi”. Khi ông đột ngột qua đời, mẹ không kham nổi công việc buôn bán vì sức khỏe yếu  nên chị phải theo phụ mẹ bán bánh canh đầu hẻm vì mẹ không dư dả gì để mướn thêm người nên chị đành bỏ học. Có những đêm hai chị em nằm bên nhau, chị hỏi “Lớn lên  em muốn làm gì?”.  Tôi trả lời “Thì làm cái gì nhiều tiền để nuôi mẹ với nuôi chị luôn”. Chị cười “Vậy chắc làm bác sĩ?”. Tôi giãy nảy “Không em sợ máu lắm!” Vậy chắc làm bà chủ cửa hàng hoa?”. Tôi la lên “Em không thích hoa. Nhưng chị lại rất yêu hoa. Chị tẩn mẩn mua mấy chậu cây nho nhỏ trồng những thứ hoa mà chị thích, đặc biệt hoa lily nhưng chị nói “Loại hoa này khá đắt. Khi nào chị có tiền, chị sẽ mua nó trồng trong nhà. Em biết không, ông mục sư gần nhà giảng cho chị nghe mỗi loại Lily có một thông điệp, ý nghĩa riêng. Chẳng hạn như Lily trắng tượng trưng cho sự thanh khiết và đơn giản, còn Daylily hay hoa Hiên, lại khiến ta liên tưởng đến những khoảnh khắc lãng mạn của lứa đôi. Tiger Lily biểu trưng cho sự thịnh vượng và vương giả. Chị nói theo truyền thuyết nói rằng hoa lily sẽ giúp người bị biến thành quái vật có thể trở lại thành người. Vị mục sư còn nói hoa lily là vị tông đồ khoác áo choàng trắng vì Lily mọc trong vườn Gethsemane sau khi Chúa bị đóng đinh trên cây thập giá. Easter Lily được cắm trong nhà thờ suốt mùa lễ Phục sinh để mừng sự hồi sinh của Chúa Jesus. Chị không được đi học đến nơi đến chốn nhưng chị biết rất nhiều và giỏi nhiều thứ. Chị nhận may vá sửa áo quần cho mấy người trong xóm và may rất khéo, tiền công lại rẻ nên ai cũng nhờ chị. Chị nấu ăn cũng rất ngon dù chẳng học ở đâu. Chị có một bộ óc quan sát tuyệt vời chỉ nhìn qua là chị đã mày mò làm thử và thành công. Chả bù lại với tôi chẳng biết gì chỉ biết đi học, học ngày học đêm. Tiền học thêm cũng một tay chị lo vì mẹ bán nhiều khi cũng ế ẩm. Tối chị phải làm thêm. Khi tôi vào đại học, chị và mẹ đều vui mừng bật khóc. Nhưng mẹ chẳng chờ tới ngày tôi ra trường đi làm nuôi mẹ vì sức khỏe mẹ bất ngờ yếu dần vì căn bệnh suy thận mãn và chỉ một năm sau mẹ phải bỏ chị em tôi, ra đi  Còn một mình, chị vẫn lo cho tôi học xong đại học. Tôi xúi chị lấy chồng đi nhưng chị chỉ cười “Chị còn lo cho em mà!” Nhưng khi ra trường, tôi cũng chẳng thể có việc làm tốt ngay mà cũng nhảy qua hai, ba công ty. Những năm đó, mọi chuyện trông chờ vào bàn tay thu vén của chị. Tiệm may nho nhỏ của chị cũng thu hút nhiều người tới đặt hàng, chị cặm cụi làm. Có đêm tôi thức giấc nửa đêm nhìn chị ngồi may. Gương mặt thanh tú, mũi cao, miệng lại có chiếc răng khểnh rất dễ thương, vậymà chị vẫn không chịu lấy chồng?  Nghe nói trước đây chị cũng có cảm tình với một anh trong xóm nhưng anh ta sau đó không tiến tới vì chị… nghèo mà đem lòng yêu con ông chủ tiệm tạp hóa đầu xóm trên, dù cô ấy xấu hơn chị tôi. Nhưng rồi cũng có đêm như đêm nọ sau khi cằn nhằn trách móc chị, tôi thấy chị xuống sắc nhiều, lưng còng, tay run run chị xỏ kim mấy lần vẫn trượt. Sao vậy chị? Cái nghể may tàn phá sức khỏe vậy sao?

Tôi sẽ chẳng bao giờ oán trách chị nếu tôi không lấy chồng. Ngày tôi đưa Hiệp về nhà, chị vui mừng vui ra mặt. Chị khen Hiệp hiền lành, dễ chịu, chị nấu gì cũng khen ngon. Suốt thời gian hai đứa quen và yêu nhau, chị luôn là người tác thành và ủng hộ. Chị còn cho tiền hai đứa tụi tôi ra ngoài ăn tối hay đi xi nê.

Chị chỉ có một niềm vui duy nhất ngoài tôi là lâu lâu thay lại chậu hoa Lily mới rồi ngắm nghỉa. Lúc hai đứa muốn lấy nhau, Hiệp e ngại nhưng chị nói “Em cứ nói ba má tới đây. Với Chi, chị không đòi hỏi gì đâu! Chỉ cần hai đứa em thương nhau là đủ.” Biết Hiệp nghèo nên chị dúi vào tay hai đứa cái nhẫn một chỉ rồi nói “Ra tiệm kêu người ta tách làm hai chiếc rồi tổ chức lễ cưới cho chòm xóm chung vui.”

Vậy là hai đứa chúng tôi tổ chức đám cưới đơn giản mời một sốbà con thân tộc và chòm xóm, vỏn vẹn chỉ 6 bàn. Có thêm Hiệp, căn phòng chị em tôi thuê phải ngăn ra bằng một tấm vách carton. Phòng chị sát phòng tôi nên nhiều khi tôi cũng hơi ngại mỗi khi tôi và Hiệp đùa giỡn với nhau sợ chị nghe. Nhưng chị hoàn toàn vô tư. Chị lo cho Hiệp không thua gì tôi, may từ cái áo đến cái quần xà lỏn, một tay chị làm hết. Chị sắp xếp quần áo cho Hiệp ngay ngắn, ngăn nắp, cái nào ra cái nấy, theo từng ngày đi làm. Tôi may mắn làm cho một công ty nước ngoài nên  đồng lương kha khá đủ trang trải chứ Hiệp làm nhân viên tiếp thị, cũng có khi phải đi tỉnh, nên cũng không dư dả gì. Chị sốt sắng lo cho Hiệp nhiều khi vượt cả mong đợi. Có hôm Hiệp ốm chị lăng xăng nấu cháo, cạo gió, mua thuốc, rồi chườm lạnh. Chị ngồi suốt bên phòng tôi, đến mức tôi phải giục chị về ngủ chị mới chịu. Nhưng lát sau chị lại sang rờ tay lên trán Hiệp và tự kết luận “Cũng còn nóng lắm” rồi lại chườm đá tiếp. Nhiều bữa chị ngồi chơi với chúng tôi rất khuya nói đủ thứ chuyện ngày xưa cho đến ngày nay. Chị buồn hay cô đơn tôi nào có biết nhưng tôi sau một ngày đi làm mệt mỏi mong được ngả lưng bên cạnh Hiệp tâm sự đôi điều. Gần đây lại bầu bì nên đâm ra khó chịu phải nhắc khéo chị về phòng. Có hôm khuya rồi tôi nghe tiếng giép lẹp kẹp của chị ra phòng ngoài xếp vali cho Hiệp đi công tác xa nhà. Rồi lại xuống bếp, nấu cơm cho tôi mang đi làm hôm sau. Chị gói ghém hành trang cho Hiệp chu đáo hơn cả tôi. Quần áo gấp thẳng thóm, có cả thuốc cảm thuốc ho dầu gió đầy đủ. Chị cứ ra vô phòng tôi suốt nên tôi cũng bực dù tôi biết mình sẽ còn nhờ chị nhiều, nhất là sau này khi sanh nở rồi con cái cần chị trông nom. Thôi thì có chị cũng đỡ. Một đêm tôi đang ngủ giật mình thấy chị ngồi ngay đầu giường. Hỏi sao chị không ngủ đi, chị nói “Sợ em ốm nghén, ói mửa nên sang coi giúp được gì không?” Tôi hơi sẵng giọng “Em lo được mà, chị về đi. Sao chị không quan tâm gì đến chị hết vậy?” Một bữa tôi cằn nhằn khi thấy chị la tôi về việc vất đồ đạc lung tung, không biết cái nào dơ để giặt. Tôi nhớ chị chỉ có vài bộ đồ, đẹp nhất là chiếc áo bà ba màu tím, chỉ dành khi đi tiệc tùng, đám xá. Tôi ép chị may áo dài nhưng chị nói để thủng thẳng. sẽ chiếc áo  màu vàng  cho giống hoa Lily.

Tôi muốn chị lấy chồng nhưng chị ngần ngại. Chị nói “Chị lỡ thì rồi  em, trên 30  không ai lấy đâu, để chị  ở với em rồi lo cho chồng con em cũng được.” Nhưng sự xuất hiện thường xuyên của chị lại gây phiền toái cho tôi nhất là khi tôi cần một không gian riêng tư cho vợ chồng. Chị quá vô tư, không hiểu hay không muốn hiểu? Tôi đâm ra cáu kỉnh với chị, gần đây hay kiếm chuyện gây với chị... Khi sự chăm sóc củ ai đó quá đáng sẽ khiến bạn ngộ nhận hay cảm thấy phiền như một đứa con được cha mẹ lo chu đáo quá, mất tự do, đâm bực bội. Chuyện càng trở nên khó nghĩ cho tôi khi chị chăm sóc cho Hiệp quá kỹ. Chị đi chợ mua cả nước hoa cho Hiệp, chọn mùi phù hợp, và chê tôi bỏ bê chồng. Chị mắng “Mai mốt có con em còn bỏ bê thằng Hiệp tới đâu nữa.” Khi Hiệp ốm chị ở miết phòng tôi. Chị nói “Em cứ đi làm đi, thằng Hiệp để chị lo”. Chị nấu nước xông, giác hơi, cạo gió, nấu cháo, chăm lo còn  hơn tôi. Có những hôm tôi thầy Hiệp và chị nói chuyện rất khuya khi tôi đã ngủ. Chị em ra chiều tâm đắc lắm!

Câu chuyện sẽ chỉ dừng lại ở mức phiền toái cho đến tối hôm qua khi tôi phải làm thêm ở Công ty cho xong sổ sách cuối tháng, về trễ. Tôi bất ngờ khi mở cửa phòng thấy chị ngồi trên giường trong phòng tôi, đầu Hiệp đang ngả lên ngực chị. Bộ ngực căng phồng của chị mà Hiệp nằm lim dim trên đó khiến tôi không biết anh đang say xỉn thật hay giả vờ? Chị lấy khăn lau mặt cho Hiệp. Chị nói: “Nó say quá em à!” Chị đặt Hiệp xuống, cởi giày và nói với tôi “Em thay đồ cho nó đi.
Tôi không còn kềm chế nổi. Tôi nói như gào “Sao chị không làm luôn đi. Chị kêu tui làm chi?  Nếu tui chưa về chắc chị làm luôn chứ gì? Riết rồi chị không ra cái thể thống gì hết. Chị biết chị là ai không? Chị muốn làm vợ hai sao? Tui không cần chị nữa. Chị đề cho tụi tui sống với nhau chứ chị xía vô riết không ra làm sao hết?”

Chị lắp bắp “Em nói gì.... vậy Chi? Chị thương tụi em mà?”.

Tôi hiều sao những con chó có bầu nó lại dễ cắn người ta. Tôi rú  lên như con thú dữ, “Chị thương kiểu gì  lạ vậy? Chị biết Hiệp là chồng tui không? Phải có ranh giới chứ? Chị mất tư cách quá!”. Câu cuối cùng tôi thốt ra theo quán tính của những cuộc tranh chấp trong công ty. Tôi biết mình lỡ lời nhưng đang lúc quá giận, tôi chẳng thèm xuống nước. Chị lẳng lặng bước ra khỏi phòng. Vai chị run run, gù hơn ngày xưa, dáng đi thất thểu. Chị đã biết phận mình. Tôi nghĩ như vậy.

Cơn mưa cuối cùng đã tạnh. Nhìn lịch, tôi biết sắp Sinh nhật chị. Tôi hơi hối hận vì đã nặng lời khi nhìn vào lon cơm mang theo bữa nay chị vẫn nấu đầy đủ cho tôi dù tôi biết chị có thể rất giận, rất buồn. Tôi tính ghé của hàng bán hoa  mua  mấy cành Lily cho chị để làm lành luôn vì tôi biết sắp đến ngày sanh, không có chị là tôi sẽ rất mệt  theo nhiều nghĩa. Tôi sẽ giải thích thêm cho chị nghe qua sự tìm hiểu của tôi, khi tặng chị đóa Lily trắng lần này rằng thần thoại Hy Lạp cho rằng hoa Lily là biểu tượng cho tình mẫu tử, còn người Công giáo tin rằng loài hoa này đại diện cho lòng trinh bạch, sự ngây thơ mà chị xứng đáng như vậy thật.

Cầm lẳng hoa Lily tôi tung tăng gõ cửa nhà. Tôi muốn dành cho chị sự bất ngờ hôm nay khi đã phạm sai lầm hôm qua. Chị như người mẹ thứ hai chắc cũng không nỡ trách gì đừa em mà chị đã cưu mang bao nhiêu năm, hy sinh cả thời thanh xuân. Trong tôi tràn ngập cảm giác hối hận. Tôi muốn cầm tay chị và nói: “Em xin lỗi chị. Chị hãy quên những gì em nói hôm qua. Dù gì em vẫn cần chị như cần mẹ ngày xưa. Em không biết đời em sẽ ra sao nếu không có chị?” Chắc chị cũng như mọi khi sẽ cười xòa xinh xắn khoe chiếc răng khểnh và nói: “Con nhóc này, bày đặt xin lỗi làm chi. Chị biết em đang có  bầu nên khó chịu trong người. Thôi tắm đi rồi ăn cơm.”

Tôi mở cửa. Nhà chỉ khép hờ. Sao chị lại quên khóa cửa  nhỉ? Căn nhà yên ắng. Hiệp chưa về. “ChịQuế ơi?” Tôi sợ chị đang lui cui trong bếp. Không có tiếng trả lời. Tôi chạy vội vào. Ghé qua nhà bếp, không có chị. Mâm đồ ăn đậy lồng bàn còn nguyên. Tôi sang phòng chị. Đôi dép chị vẫn nằm ngay ngắn ngoài cửa. Phòng chị không có cửa chỉ có tấm màn nhựa che tạm. Tôi vén ra bước vào. Phòng không mở đèn. Chị đi đâu. Tôi bật đèn lên. Chị nằm đó, ngay ngắn trên giường, mặc chiếc áo bà ba tím. Gương mặt trắng nhợt. Tôi bàng hoàng. Trên ngực chị có một tờ giấy. Tôi run tay mở ra chỉ vỏn vên ba chữ “Chị xin lỗi em”. Trên  giường là lọ thuốc ngủ chị vẫn mua để dành cho những đêm mất ngủ nhưng không còn viên nào, chỉ là chai không. Tôi ôm vai chị lay mạnh, gọi lớn “Chị ơi!” Nhưng tất cả đã quá trễ. Thân thể chị đã lạnh ngắt. Tôi đứng sững. Tất cả như sụp đổ quanh tôi. Bó hoa Lily bỗng rơi xuống đất. Tâm hồn tôi trống rỗng. Ngoài trời mưa lại bắt đầu tuôn xối xả. Ngày mai, chị ơi, ngày mai xa lắm ....