Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

738 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH : PHAN TẤN HẢI BÊN TRỜI NGỒI VIẾT

 

 

Mở đầu tuyển tập Đuổi bắt một mùi hương[1], là bốn câu thơ:

Bên trời ngồi viết

tóc rối như mây

quê nhà mờ mịt

chữ lạnh đôi tay.

Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này.

Bên trời là ở đâu? Phía bên kia một nơi đã chia xa?

Phía quê nhà mờ mịt, tức vẫn còn đó nhưng chẳng phải cùng ta nữa…

Chỉ còn tóc rối quyến luyến vào chập chùng mây, để như ai xưa nhìn mây là nhớ nhà? Hai hình ảnh bật khởi lên, như nhân duyên giữa tóc và mây. Và cái neo để nối, là chữ. Và dư âm để lại là lạnh. Một nỗi lạnh của cô độc. Không khép lại. Không hứa hẹn.

Cứ như, Bên trời ngồi viết đã từ nghìn năm rồi và, viết là một biểu tượng của tồn tại trường cửu (hay một tồn tại cuối cùng?).

Tôi cũng được hiểu theo nghĩa siêu hình, quê nhà kia là một vẫy gọi mầu nhiệm của tâm, và chữ là những bước tìm trở lại bản tánh.

Trong một bài viết trước đây, tôi đã xem Người tới như mộng[2] là biểu tượng siêu thực của nhà văn Phan Tấn Hải. Và lúc này tôi lại thấy biểu tượng ấy gặp gỡ một cách rất thú vị với hình ảnh bên trời ngồi viết. Có gì đó ngẫu nhiên kết hợp một cách thơ mộng – Người tới như mộng bên trời ngồi viết – và dường như nó cắt nghĩa mọi can cớ huyễn ảo của không gian và thời gian cùng nhân vật trong không khí truyện của Phan Tấn Hải.

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Phan Tấn Hải, cũng là cư sĩ Nguyên Giác. Những tác phẩm của cư sĩ Nguyên Giác đã chứng tỏ được giá trị và lợi ích của nó về cả hai mặt Phật Học cũng như Văn Học. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến một Phan Tấn Hải, nhà văn, nhà thơ, người nhìn cuộc đời qua lăng kính mẫn cảm của trái tim nghệ sĩ.

Nhân vật “Tôi” của ông, nhìn, nghĩ, phản ứng, như có gì ngây ngô, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ đã dùng chữ này khi nói về ông “ngây ngô một cách khiến người ta phải nhìn lại mình.” Một ngây ngô không dễ gì mà có nếu không có tâm thiện, tính lành, một nếp nghĩ, biết, trong sáng, một lối hành xử của người có sức mạnh của tu tập, nội lực của tri thức. Một Ngây Ngô viết hoa mà nghĩa của nó đẹp như nghĩa của Ban Sơ.

737 . NGUYỄN PHÚ YÊN. - CÁC DÒNG NHẠC Ở MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975

                                                                                                                   


CÁC DÒNG NHẠC Ở MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975

Nguyễn Phú Yên

 

I. VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA & VĂN NGHỆ Ở MIỀN NAM.

1.   Về giáo dục:

Trong khoảng năm năm đầu tiên, vượt qua khó khăn về chính trị và kinh tế, VNCH đã có một số thành tựu: xã hội dần ổn định, kinh tế phát triển, định cư gần 1 triệu dân di cư từ miền Bắc, thành lập Viện Đại học Sài Gòn rồi đến Viện Đại học Huế năm 1957. Lần lượt sau đó là các viện đại học  Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, Minh Đức, Hòa Hảo, Cao Đài, Viện Hán học (Huế) và các trường đại học cộng đồng ở Tiền Giang, Nha Trang, Sài Gòn, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Ban Mê Thuột... Miền Nam đã có một triết lý giáo dục tốt đẹp là nhân bản (humanistic), dân tộc (nationalistic) và khai phóng (liberal), được xác định từ cuộc họp Đại hội Giáo dục quốc gia (lần 1) tại Sài Gòn năm 1958 và sau đó được ghi vào hiến pháp.   

2.   Về hoạt động báo chí văn nghệ:

     Ngay sau ngày đất nước phân ly, một số văn nghệ sĩ miền Bắc di cư cùng với văn nghệ sĩ các tỉnh miền Nam đã gia nhập đội ngũ hoạt động văn nghệ đa dạng. Một số tạp chí văn học nghệ thuật ra đời khá sớm.  

     Ngoài các báo xuất bản ở Sài Gòn, còn có nhiều báo văn nghệ ở các địa phương cũng sôi động không kém. Tuy đứng ngoài chính trị, một số ít tạp chí vẫn bị các cơ quan thông tin (sau này gọi là Sở Phối hợp nghệ thuật) kiểm duyệt bằng cách chỉ thị cho các nhà in gỡ bỏ hoặc lật ngược chữ chì những đoạn cắt bỏ hoặc ghi chữ “tự ý đục bỏ”.

3.   Về hoạt động biểu diễn và sáng tác âm nhạc:

     Để có hoạt động ca nhạc, ngoài lực lượng sáng tác là các nhạc sĩ còn phải kể đến lực lượng ca sĩ. Họ đến từ các tài năng ca hát ở mọi miền, của Đài phát thanh Pháp Á, các chương trình tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh trung ương và địa phương, sự khám phá của các nhạc sĩ, các lớp đào tạo của các trường chuyên nghiệp, các lớp thanh nhạc tư nhân và các ông bầu với các lò đào tạo độc lập.

 

II. TRÀO LƯU LÃNG MẠN Ở VIỆT NAM.

Ở Việt Nam, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, văn hóa Pháp và phương Tây đã xâm nhập đất nước ta, ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng và tình cảm các tầng lớp dân chúng thời ấy. Sự thay đổi về chế độ chính trị, sự biến động trong kết cấu xã hội, đổi thay về cuộc sống và tâm trạng đã tác động đến quá trình sáng tác, cảm xúc, suy nghĩ của người trí thức. Về mặt nghệ thuật, chủ nghĩa lãng mạn phương Tây (cùng một số trào lưu khác sau đó như tượng trưng, siêu thực) xuất hiện từ một thế kỷ trước đó đã để lại dấu ấn rõ nét và tạo nên một trào lưu nghệ thuật mới trong văn chương, hội họa, âm nhạc Việt Nam, trong đó mạnh mẽ nhất vẫn là ở lĩnh vực văn chương và âm nhạc kể từ đầu thập niên 1930 trở đi.

 

  * Âm nhạc lãng mạn.

     Các nhạc sĩ Việt Nam trong giai đoạn đầu của nền tân nhạc cảm thấy có nhu cầu sáng tác bài hát của chính mình trên cơ sở ký âm pháp Tây phương. Nhu cầu này có động lực tất yếu là sự đổi thay của xã hội, từ đó thị hiếu mới nảy sinh và công chúng đô thị ưa chuộng sự mới lạ trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, trong đó có âm nhạc nói chung, ca hát nói riêng. Như vậy ngay từ những năm 1930 chúng ta đã có những sáng tác thuần Việt ra đời, trong đó có những bài hát chịu ảnh hưởng âm nhạc Tây phương song cũng không ít những bài hát mang ngôn ngữ âm nhạc dân tộc. Trong buổi đầu của phong trào tân nhạc, có nhiều nhạc sĩ hoạt động đơn lẻ song cũng có nhiều nhạc sĩ qui tụ thành từng nhóm do cùng sở thích, chủ trương và môi trường hoạt động. Những nhóm này đã có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật; họ cũng là những người tiên phong trong phong trào sáng tác và phổ biến những bài tân nhạc đầu tiên, tạo được ảnh hưởng lớn lao trong quần chúng và có vai trò lịch sử nhất định trong quá trình hình thành và phát triển nền tân nhạc Việt Nam. Có thể kể đến những bài hát đầu tiên xuất hiện sớm trong phong trào tân nhạc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1937) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung; Xuân năm xưa (1936) của Lê Thương; Gió thu (1937), Tiếng hát đêm thu (1938), Biệt ly (1939) của Dzoãn Mẫn…

Chủ nghĩa lãng mạn do vậy đã trở thành chốn nương náu êm đềm cho một số nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ. Bắt đầu xuất hiện nơi họ nhu cầu tình cảm mới, thị hiếu thẩm mỹ và rung động mới. Âm nhạc lãng mạn Việt Nam phát triển từ trong bối cảnh đó.

Chính ngay từ bước đầu giai đoạn hình thành nền tân nhạc Việt Nam, đặc biệt trong những năm từ 1935-1938 trở đi, chúng ta thấy xuất hiện rất sớm những tác phẩm lãng mạn trong số rất nhiều ca khúc ở nhiều thể loại. Chúng ta dễ dàng nhận ra sự khai sinh dòng ca khúc lãng mạn có tiền đề thứ nhất là sự tiếp thu luồng âm nhạc phương Tây (ca khúc lãng mạn châu Âu thế kỷ XIX và nhạc nhẹ cổ điển) cùng với trào lưu lãng mạn phương Tây đang xâm nhập vào đất nước; đồng thời tiền đề thứ hai quan trọng không kém là thành tựu rực rỡ của văn chương lãng mạn Việt Nam vào thời kỳ này (đặc biệt phong trào thơ mới và nhóm Tự Lực văn đoàn) đã tác động và tăng nguồn lực cho âm nhạc lãng mạn. Nhiều tác giả đã chọn khuynh hướng lãng mạn và trung thành với lựa chọn đó. Bên cạnh những bài sử ca, bài ca cách mạng, ca khúc lãng mạn đã chiếm được cảm tình của quần chúng, được đông đảo người yêu nhạc nghe, hát và truyền lại cho các thế hệ sau.

 

III. DÒNG CA KHÚC LÃNG MẠN CÁCH MẠNG.

     Ở đây chúng tôi sử dụng từ lãng mạn cách mạng của Dimitri Pisarev (1840-1868, nhà văn và nhà phê bình dân chủ cách mạng Nga) (1) để chỉ những tác phẩm nói lên khát vọng của người dân Việt trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hướng về tương lai, mơ ước những điều tốt đẹp và thái độ căm ghét đối với thực tại còn đen tối. Đó là những bài hát chưa phải là ca khúc cách mạng (với nội dung cổ động quần chúng, là vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh cách mạng, thường có tiết tấu mạnh mẽ) mà là ca khúc lãng mạn có nội dung mang tính chiến đấu và yêu nước, giai điệu và ca từ vẫn còn chất bay bổng, nhẹ nhàng.

         Các nhạc sĩ vẫn đem vào tác phẩm của mình không những hình ảnh của thời cuộc mà còn những rung cảm, tâm tư của người nghệ sĩ chưa hẳn thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn. Có thể xem họ là những người tiếp nối cảm hứng lãng mạn trước đó nhưng do xuất hiện trong hoàn cảnh mới, thời đại mới, rõ ràng tác phẩm của họ đã mang nội dung mới. Ngoài khuynh hướng lãng mạn trữ tình, đã hình thành khuynh hướng lãng mạn cách mạng có diện mạo mới, màu sắc mới trong sáng tạo. Đó là cảm hứng lạc quan trong cuộc kháng chiến với các bài hát có giai điệu và tiết tấu trong sáng, tạo cho lớp thanh niên niềm tin yêu trước cuộc sống. Quy tụ trong khuynh hướng này là những nhạc sĩ tuổi đời còn trẻ, háo hức với cuộc sống, do đó ca khúc của họ là những cảm xúc mới khi họ biết đặt cái tôi của mình trong quan hệ với số phận đất nước. Có thể nói đó là Văn Chung (1914-1984) - thuộc thế hệ tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam, một trong ba nhạc sĩ của nhóm Tricéa. Tiếp đó là NS Dương Minh Ninh (1922-2020), Anh Việt (1927-2008), Lương Ngọc Trác (1928-2013), Lê Trực (1928-1967), Đan Thọ (sinh năm 1924), Phan Huỳnh Điểu (1924-2015), Minh Quốc (1926-2003), Đỗ Nhuận (1922-1991), Phạm Duy (1921-2013), Trần Hoàn (1928-2003)

 

IV. DÒNG CA KHÚC LÃNG MẠN TRỮ TÌNH.

      Khác với chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn khẳng định cái tôi, cái bản ngã riêng tư đặc thù chứ không phải cái ta chung cho mọi người. Ta gặp trong âm nhạc lãng mạn những chủ đề đậm nét trong văn chương lãng mạn như hình ảnh người thiếu nữ, ngợi ca tình yêu, những giấc mộng tình, sự đam mê, nỗi buồn,  sự cô đơn, sự luyến tiếc và nỗi bất hạnh. Nhà lãng mạn còn phô diễn tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, hoài niệm nét đẹp của dân tộc, mơ tưởng một thế giới khác lạ trong tưởng tượng, dấn thân vì khát vọng tự do, biểu lộ lòng yêu nước sâu sắc, lòng nhân ái, lý tưởng cao đẹp đầy tính nhân văn.

        Ca khúc lãng mạn đề cao tình yêu lứa đôi, vì vậy tình yêu đó là cảm hứng chủ đạo và bất tận của các nhạc sĩ lãng mạn. Tình yêu trong các ca khúc của họ xuất hiện dưới nhiều dáng vẻ phong phú, đi đến tận cùng sâu thẳm của cảm xúc, lột tả trọn vẹn mọi sắc thái cực đoan của tình cảm yêu đương. Đó thường là những bài ca đẹp đẽ, trong sáng hoặc đầy thương cảm, não tình, bi lụy được tác giả lấy cảm hứng từ kinh nghiệm của chính bản thân mình hoặc hóa thân vào trạng huống của đối tượng được mô tả. Dù từ nguồn cảm hứng nào, tác giả phải truyền đạt được rung cảm để người nghe có thể sống lại rung cảm đó như chính mình, có như  vậy tác phẩm mới thành công. Phần lớn ca khúc lãng mạn đều đạt được hiệu quả đó bởi chính tình cảm chân thực của tác giả, nguồn cảm hứng không bị tác động bởi những yếu tố ngoài nội tâm, điều này được minh chứng bằng sự tồn tại và sức sống của ca khúc lãng mạn trong nhiều thập niên kể từ lúc tác phẩm đầu tiên ra đời.

 

V. DÒNG CA KHÚC VỀ CHIẾN TRANH.

Sau ngày chia cắt đất nước, có thể nói lịch sử của dân tộc là lịch sử của những thanh niên đi vào cuộc chiến. Thật vậy, hoàn cảnh đất nước đã đẩy những người con đất Việt đi vào guồng máy chiến tranh, bó buộc những thế hệ thanh niên, lớp này tiếp lớp khác, ròng rã hai mươi năm cầm súng lên đường cho đến ngày tàn của chiến tranh. Hiếm có một gia đình nào thoát khỏi nỗi ám ảnh khôn nguôi của khói lửa đạn bom, cửa nhà tan nát, thân vùi chiến địa; hiếm có một gia đình nào không có người thân hoặc dòng họ tham gia vào cuộc chiến. Họ đã ra đi như thế để viết nên một giai đoạn bi tráng của lịch sử với không khí chiến tranh ngập tràn trên các trang văn, dòng nhạc...

Âm nhạc của người đi vào cuộc chiến ra đời trong bối cảnh như thế, do chính họ viết nên hoặc người khác viết về họ. Âm nhạc đó có thể vẽ ra được thực trạng của xã hội chiến tranh trên đất nước, ở đó hình ảnh người cầm súng nổi bật hơn cả. Âm nhạc đó thể hiện tâm tình của người thanh niên với đủ mọi trạng thái cảm xúc khi họ bị ném vào cuộc chiến tương tàn. Đó cũng là lời than thở, nỗi đau đời của những người ở lại đằng sau khói súng nhưng vẫn không quên người bước ra chiến tuyến. Cho nên âm nhạc đó không chỉ là tâm tình của người thanh niên viết về mình, viết về đời lính mà còn là nỗi khắc khoải của những người mẹ, người em và tất cả mọi người thân thuộc khác trong gia đình hay bạn bè, làng xóm... Nói rộng ra, đó là tiếng nói của một thế hệ sinh ra trong chiến tranh, của cả một dân tộc.

 

VI. PHONG TRÀO DU CA.

     Du ca là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng. trong đó sinh hoạt ca hát có đặc điểm là người nghe lẫn người hát đều cộng tác với nhau, hát chung với nhau, mục đích là tác động tinh thần và cảm hóa người nghe để tất cả cùng có ý thức phục vụ xã hội, khơi động lòng hăng hái của tuổi trẻ tham gia công tác tự nguyện xây dựng quê hương. Ngoài các bài ca sinh hoạt vui tươi, phấn khích, lành mạnh, phần lớn sáng tác của anh em phong trào du ca chất chứa tình tự dân tộc, lòng yêu quê hương, những suy tư của người dân một nước nhược tiểu muốn vươn lên để thay đổi số phận của dân tộc mình, nói lên ước vọng hòa bình khi đất nước còn chìm đắm trong chiến tranh.

     Với toàn bộ tác phẩm của mình cùng những sinh hoạt cộng đồng, công tác xã hội diễn ra trong một thập niên ở miền Nam, phong trào du ca đã hoàn thành tôn chỉ của một tổ chức thanh niên là dùng tiếng nhạc lời ca để tạo ra môi trường lành mạnh cho hoạt động của tuổi trẻ.

 

VII. DÒNG CA KHÚC PHẢN CHIẾN.

Phản chiến là một từ có thật trong đời sống xã hội miền Nam, nhất là từ ngày chia cắt đất nước. Dù ai có phủ nhận hay không thích từ này thì tâm lý phản chiến đã tiềm tàng trong tâm cảm người Việt qua mấy mươi năm triền miên trong bom đạn. Có thể không tự dưng có ngay nhạc phản chiến nhưng tâm lý trên dằng dặc qua cuộc chiến tranh và người dân Việt không còn muốn sống trong thống khổ vì chiến tranh.

Có thể bước đầu người Việt chỉ nhận diện bộ mặt chiến tranh với bao cảnh đầu rơi máu đổ, quê hương điêu tàn qua bao nhiêu thế hệ. Chiến tranh đã đi vào trong âm nhạc Việt từ rất sớm khi quân Pháp gieo bao tang tóc trên quê hương Việt Nam.

     Sau ngày chia cắt đất nước, người dân lại phải bị cuốn vào cuộc chiến tàn khốc hơn, chiến tranh dữ dội hơn, người ngã xuống nhiều hơn nên tâm lý chán ghét chiến tranh có lúc bùng phát mạnh mẽ. Có thể nói tâm lý chán ghét đó không phải của riêng ai, mà có trong hầu hết mọi người dân, trong đó có người thanh niên bị gọi vào quân ngũ, và ở cả những người lính đào ngũ, phải thường xuyên đối diện với cảnh chết chóc của đồng đội, của người dân vô tội. Nhiều nhạc sĩ đã bày tỏ điều này trong một số tác phẩm nhận diện chiến tranh và mơ ước hòa bình.

 

VIII. NHẠC TRẺ.

Chiến tranh Việt Nam kéo dài ngày mỗi tàn khốc và bi thương khiến một bộ phận thanh niên mệt mỏi, chán chường. Thời đạn lửa tạo cho một bộ phận lớp trẻ ở các đô thị cảm giác như đời sống bế tắc và phần nào họ nhuốm tinh thần bi quan. Dù đời sống ở phần lớn các các thành thị miền Nam có phần yên bình, không nguy hiểm như vùng thôn quê và rừng núi xa xôi, nhưng tuổi trẻ vẫn mong ước có được một thứ gì bồi đắp để giữ được hy vọng dù mong manh. Nhạc trẻ được ưa thích, có thể phản ảnh một phần về tâm trạng này.

Nhạc trẻ buổi đầu thường được gọi là nhạc kích động. Phong trào ra đời và phát triển mạnh trong hai thập niên 1960 -1970, do các bạn trẻ lúc ấy yêu thích dòng nhạc pop rock Âu Mỹ, đã tìm cách thể hiện sở thích của mình bằng cách phổ biến dòng nhạc ấy trong giới trẻ cùng với sự hỗ trợ của công nghệ âm thanh, băng đĩa thời bấy giờ.

Chiến tranh kéo dài trên đất nước, ngày càng mãnh liệt, làm tâm trạng thanh niên thiếu nữ mòn mỏi trong khát khao yên bình, muốn vươn lên để xây dựng tương lai. Dù chiến tranh chưa làm xáo trộn nhiều đời sống ở Sài Gòn cũng như các thành thị miền Nam và sự nguy hiểm không thường xuyên và tàn khốc như ở các vùng thôn quê và rừng núi, những người tuổi trẻ vẫn khao khát một thứ âm nhạc nói lên tâm trạng và khát vọng của chính mình để bồi đắp tâm hồn. Nhạc trẻ được ưa thích vì có thể phản ảnh phần nào tâm trạng này của một lớp thế hệ thanh niên bị đóng khung trong các đô thị miền Nam như thế.

 

IX. NHẠC SINH VIÊN TRANH ĐẤU.

Trong cuộc đấu tranh của nhân dân đô thị miền Nam, lực lượng học sinh, sinh viên luôn luôn đứng ở tuyến đầu đầy nhiệt huyết và dũng cảm. Họ có nhiều hình thức đấu tranh phong phú: hội thảo, bãi khóa, biểu tình, truyền đơn, biểu ngữ, tuyên cáo, phát thanh với những ngày tuyệt thực, những đêm không ngủ… Gắn chặt với những loại hình đấu tranh này, họ còn dùng những hoạt động văn hóa nghệ thuật mang tính chất xung kích, dễ tác động vào lòng người như báo chí, thơ ca, âm nhạc, hội họa, múa, hoạt cảnh, kịch… Hàng chục tờ báo ronéo, hàng ngàn bài báo bài thơ ra đời, hàng trăm bài hát đấu tranh đã đến với tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh, đến với đông đảo người dân trên khắp các đô thị miền Nam. Các hình thức biểu diễn của các đội văn nghệ xung kích cũng đa dạng. Trên các đường phố, các sinh viên học sinh chỉ cần một hai cây đàn guitar gọn nhẹ để bắt nhịp cho các giọng ca của tuổi trẻ đầy khí thế trong các cuộc xuống đường. Trong các sân trường, trên các giảng đường đại học, họ có những màn đơn ca, hợp ca, vở kịch, hoạt cảnh do sinh viên sáng tác bày tỏ lòng yêu nước thương nòi, yêu quê hương của họ. Đó là những vũ khí sắc bén góp phần vào cuộc đấu tranh để chống lại áp bức, bất công, kêu gọi quyền sống, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi độc lập và hòa bình cho quê hương.

Trong hoàn cảnh mới của thập niên 1960-1970, chúng ta có thể nhận ra tác động xã hội rõ rệt của phong trào Nhạc sinh viên tranh đấu mà giới trẻ thường gọi là phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”. Những người sáng tác các bài hát đấu tranh là những nhạc sĩ sinh viên và cả những người say sưa truyền bá tiếng hát ấy cũng chính là lớp trẻ lớn lên giữa lòng quần chúng. Họ biết phản ánh tâm tư, tình cảm, nhịp đập con tim của chính mình cũng như ghi lại tiếng nói của lương tâm và ước vọng của quần chúng. Do xuất thân từ sinh viên các phân khoa văn chương, khoa học, luật hoặc y khoa, họ chưa bao giờ là nhạc sĩ chuyên nghiệp nhưng khi đứng vào đội ngũ thanh niên đấu tranh đô thị họ tự viết lên tâm tình và truyền cảm hứng cho một lớp thế hệ trẻ và chính họ đã góp phần cho phong trào lớn mạnh. Vì là tiếng nói chân thật phát ra tự đáy lòng, các ca khúc trong phong trào văn nghệ học sinh, sinh viên thật sự đã làm rung động trái tim của mọi tầng lớp nhân dân.

Phong trào Nhạc sinh viên tranh đấu - tiếng hát lương tâm của một thời đại - đã đề lại dấu ấn sâu đậm trong lòng thanh niên về một nền văn nghệ dấn thân, yêu nước miền Nam, khêu gợi được tinh thần dân tộc, đã góp phần cống hiến xứng đáng cho nền âm nhạc đương đại của lớp trẻ Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt của đất nước.

 

X. NHẠC THIẾU NHI VÀ NHẠC SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG.

Ở miền Nam nếu các nhạc sĩ dành nhiều công sức để viết hàng chục ngàn bài hát dành cho người lớn thì nhạc cho thiếu nhi chiếm một số lượng khiêm tốn hơn. Tuy nhiên vẫn có nhiều nhạc sĩ với muôn vàn yêu thương tuổi nhỏ âm thầm quan tâm và nghĩ đến nhu cầu vui chơi ca hát để sáng tác những bài hát cho các em. Vì vậy trong sinh hoạt vui chơi của tuổi thơ vẫn có rất nhiều bài hát vui tươi, phấn chấn, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, đôi khi mang tính chất giáo dục qua những câu chuyện thể hiện qua các giai điệu dễ nhớ, dễ thuộc.

Trước hết đó là những bài nói về lứa tuổi được yêu thương của các em, các bài đồng dao vốn có sẵn trong kho tàng dân gian, sau đó là những khúc nhạc đơn giản từ trong cuộc sống hằng ngày, từ môi trường xã hội chung quanh và từ thiên nhiên diệu kỳ. Các nhạc sĩ bằng con mắt nghệ thuật, bằng cảm xúc hồn nhiên đã đem đến cho các em những khúc ca dễ gây ấn tượng và đọng lại lâu dài trong ký ức của tuổi thơ. Những khúc ca ấy các nhạc sĩ đôi khi không đặt mình trong tâm thế của lứa tuổi thiếu nhi mà trong tư cách người lớn để kể chuyện cho các em, rung cảm theo tình cảm của các em bằng tiết tấu vui nhộn để dễ lôi cuốn thiếu nhi. Ngoài các bài hát có thể hát đơn ca hoặc đồng ca, chúng ta còn có thể tìm thấy các bài ngắn gọn, dễ nhớ dễ thuộc, thường hát trong các tập thể, cộng đồng; đó là các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo như Hội Thanh niên Thiện chí, Chương trình Phát triển Sinh hoạt học đường (CPS), Hội Hướng đạo Việt Nam, Thanh Sinh Công, Gia đình Phật tử, Du ca Việt Nam…

Ngoài những bài ca dành cho thanh thiếu nhi trong các hoạt động tập thể, cộng đồng, còn có những bài riêng cho các tổ chức tôn giáo. Các bạn chỉ hát khi có các sinh hoạt riêng của tôn giáo mình, chẳng hạn như các gia đình Phật tử. Lời ca trong các bài hát Phật giáo thường tập trung vào nội dung ca ngợi đức Phật, ca ngợi triết lý đạo Phật, tinh thần bi trí dũng, luật nhân quả, sự vô thường… hoặc những bài diễn tả tình cảm nhớ thầy, nhớ chùa…

Trong sinh hoạt mang tính chất xã hội của thanh thiếu niên miền Nam, các hoạt động của lứa tuổi này đã đem lại sinh khí tươi vui bên ngoài giáo dục gia đình và học đường bằng những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Trong hoạt động này phương tiện âm nhạc đã góp phần quan trọng nối kết những tâm hồn tuổi trẻ vào trong những tập thể cùng chung ý hướng xây dựng lý tưởng tươi đẹp của tuổi trẻ trong công cuộc xây dựng quê hương Việt Nam. 

 

XI. DÒNG NHẠC HÙNG CA.

Bên cạnh các bài hát trữ tình về quê hương và đôi lứa, các nhạc sĩ cũng đã viết rất nhiều bài hùng ca để thể hiện những cảm xúc phấn chấn, lạc quan đầy hào khí của những thế hệ thanh niên trước những biến đổi của lịch sử đất nước. Những bài hùng ca ấy có thể tìm thấy trong các đề tài sử ca, thanh niên ca, kháng chiến ca, quốc ca…

1. SỬ CA

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến chống ngoại xâm. Trong suốt cuộc trường chinh đó, những chiến công vẻ vang của các anh hùng dân tộc, những địa danh lịch sử đã tạo cho nhiều thế hệ người Việt niềm tự hào và hãnh diện. Ngay từ thời kỳ đầu của nền tân nhạc Việt Nam, các nhạc sĩ đã có được nguồn cảm hứng mạnh mẽ về truyền thống đấu tranh của dân tộc. Những bài hát ngợi ca lịch sử đó được hình thành từ rất sớm, tồn tại qua nhiều năm tháng và còn đọng lại mãi trong trong tâm thức của người dân Việt. Những bài sử ca còn để hun đúc tinh thần yêu nước thương nòi cho nhiều thế hệ tương lai.

Những bài sử ca đã góp phần khắc họa hình ảnh của các anh hùng lịch sử, niềm tự hào về dân tộc và khêu gợi lòng yêu nước của mọi tầng lớp dân chúng, nhất là vào thập niên 1940-1950 khi đất nước còn đang chiến đấu giành lại độc lập cho nước nhà. Nền tân nhạc đang ở giai đoạn hình thành nhưng đã đóng góp những giai điệu hào hùng trong cuộc chiến đấu này.

         2. THANH NIÊN CA

Có những bài hát với âm điệu vui tươi, phấn khởi khiến cho lòng người phơi phới, con tim rộn rã, biết yêu đời, yêu người. Để gọi những bài hát ấy, có thể mượn danh từ của nhạc sĩ Phạm Duy: thanh niên ca. Đó là bài hát dành cho thanh niên, nói lên tâm trạng, chí khí và ước vọng của thanh niên. Một dung mạo khác của âm nhạc miền Nam sử dụng, thừa hưởng các sáng tác của những nhạc sĩ ra đời từ khi nền tân nhạc hình thành và được tiếp nối sau đó. Đây cũng là niềm cảm hứng bất tuyệt để những nhạc sĩ trẻ tuổi muốn giãi bày tình cảm trong sáng trong cuộc sống dẫu còn nhiều nghịch cảnh và khó khăn trước tình hình đất nước chưa sạch bóng quân thù. Niềm yêu đời, yêu cuộc sống đã đưa họ tiến về phía trước với dáng vẻ hiên ngang của người thanh niên.

Đó cũng là tiếng kèn xung trận của bao lớp thanh niên để từ đó khai sinh những bài kháng chiến ca trong giai đoạn chống Pháp, trong đó có những bài sau đó đã trở thành quốc ca của hai miền và những bài quân ca sau thời gian đất nước phân ly.

         3. KHÁNG CHIẾN CA      

Nền tân nhạc Việt Nam ra đời giữa lúc đất nước đang chống giặc ngọai xâm, những chàng trai đất Việt một lòng vì non sông lên đường cứu nước. Các nhạc sĩ của thời điểm ấy phần lớn là lớp thanh niên đầy nhiệt huyết, họ cũng đứng trong hàng ngũ những người kháng chiến. Do đó nguồn cảm hứng nghệ thuật của họ đều liên quan đến vận mệnh đất nước và lòng yêu nước sâu sắc của bao thế hệ thanh niên. Những bài hát lãng mạn cách mạng là khúc dạo đầu cho những tình cảm hào hùng trong các nhịp điệu oai hùng được đẩy lên thành những bài ca thúc giục mạnh mẽ, hùng tráng vang lên trên mọi nẻo đường kháng chiến.

         4. QUỐC CA

Giữa năm 1944, Văn Cao hoạt động yêu nước tại Hải Phòng. Cuối năm 1944, Văn Cao về công tác tại báo Độc Lập đóng ở Bát Tràng, ngoại thành Hà Nội. Thời gian này ông gặp lại Vũ Quý, một cán bộ Việt Minh mà ông đã quen biết trước đó. Vũ Quý thuyết phục ông tham gia Việt Minh và sáng tác một ca khúc cho Mặt trận, vì anh em du kích ở Việt Bắc chỉ có mấy bài hát thanh niên thôi. Văn Cao bắt tay viết ca khúc đó chỉ vào một đêm tại căn gác số 171 phố Mongrant (nay là phố Nguyễn Thượng Hiền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Khi viết xong phần nhạc, Văn Cao đưa cho người bạn tên Đỗ Hữu Ích viết lời, hai người cùng xem lại và thế là hoàn thành bài hát, họ đặt tên cho tác phẩm là Tiến quân ca. Ban đầu bài hát có tính chất trang nghiêm, nhịp điệu chậm rãi, là một bài chính ca, được in trên báo Độc Lập tháng 11-1944. Ngay từ khi ra đời, bài hát được coi là bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh.

Năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính quyền Nhật tuyên bố "trao trả độc lập" cho Việt Nam. Chính phủ Đế quốc Việt Nam được thành lập (từ tháng 3 đến tháng 8-1945), tuyên bố độc lập và Nội các Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc thiều là bài Đăng đàn cung - một bài trong nhạc lễ của triều Nguyễn. Từ năm 1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân của Quốc gia Việt Nam (1948-1955) lại chọn bài hát Tiếng gọi sinh viên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca và đổi tên là Tiếng gọi công dân, có sửa đổi một số lời ca. Vào tháng 3-1956, Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng Hòa khai mạc, một trong những nhiệm vụ của Quốc hội là chọn quốc kỳ và quốc ca.

 

oOo

 

Nhìn lại ca nhạc trong thời gian chiến tranh, chúng ta nghe phần lớn những bài hát bày tỏ tâm trạng đau buồn của người dân trải qua những thảm cảnh lâu dài, điều đó là tình cảm tất yếu không tránh khỏi. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn mãi những bài hát tự hào về lịch sử, về lớp thanh niên yêu nước sẵn sàng lên đường chống giặc ngoại xâm trong kháng chiến chống Pháp, trong bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của đất nước. Đó là những âm điệu hào hùng luôn gây niềm phấn chấn cho một dân tộc trải qua những cuộc chiến dằng dai khiến đất nước điêu linh. Những bài hùng ca luôn là niềm tin yêu mãnh liệt trong cuộc sống của bao thế hệ thanh niên trót sinh ra trong chiến tranh, đóng góp xứng đáng vào di sản âm nhạc của đất nước ta.

N.P.Y.

(bài tham luận trình bày tại hội thảo của Trường

ĐHKHXH & NV TP.HCM tháng 12-2024)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

736 . NGUYỄN MINH NỮU Chuyện cổ tích ở bến Bình Đông

 

Bến Bình Đông tưng bừng chợ hoa - Nguồn: kenhdulich.com

Năm nào khi về đến Saigon, tôi cũng dành một buổi chạy xe về  bến Bình Đông.  Lần đầu về vào năm 2000, tôi còn có dịp gặp bác Ba Thanh, khi đó cụ cũng đã gần sát tuổi chín mươi, và Triều là bạn học chung với tôi thời trung học ở trường Nguyễn Bá Tòng. Dần dà những chuyến sau về, cụ Ba Thanh đã mất, cụ bà cũng mất sau đó vài năm, và ngay cả Triều cũng lâm bệnh rồi từ trần năm 2016. Căn nhà cổ kính nằm giữa vườn cây trái bây giờ còn lại gia đình Phiệt (con trai của Triều). Cái liên lạc thân tình của tôi với cả ba thế hệ của gia đình này là một câu chuyện khá dài.

Triều nằm trong nhóm ba đứa thân nhau học chung lớp từ hồi lớp đệ Nhị ( bây giờ gọi là  lớp 11) trong đó tôi thì nhà ở gần trường, còn Triều và Mai ở tuốt trong  Chợ Lớn. Nhà Mai bên này rạch Lò Gốm  gọi là khu Bình Tây, còn Triều nằm bên kia rạch Lò Gốm  gọi là bến Bình Đông. Lớp đệ Nhị mà Triều đã có xe Honda đi học thì là gia đình khá giả lắm. Bến Bình Đông và khu Bình Tây nằm song song với nhau  phía cuối kênh Lò Gốm, Bình Tây thì có hãng rượu Bình Tây, sát với khu trung tâm thương mại người Hoa ở Chợ Lớn , có chợ Bình Tây, khu bến xe Chợ Lớn là trung tâm xe chở hành khách về các tỉnh miền tây. Bến xe Chợ Lớn khác với xa cảng Miền Tây ở chỗ xa cảng Miền Tây là bến xe khách lớn , chở khách về các tỉnh lỵ như Cần Thơ, Mỹ Tho, Châu Đốc , Rạch Giá, còn bến xe Chợ Lớn đa số là xe nhỏ 16 hoặc 24 chỗ ngồi, nhưng lại chở khách về các địa danh huyện lỵ  Cũng là về miền tây, nhưng nếu Xa Cảng Miền Tây chở khách về Đồng Tháp là về bến xe tỉnh Đồng Tháp, thì bến xe Chợ Lớn chở khách về thị trấn Hồng Ngự  là một huyện của Đồng Tháp chẳng hạn.

Bến Bình Đông nằm song song với bến Lê Quang Liêm của Bình Tây , nhưng nằm về phía bên kia kênh Lò Gốm. Bình Đông nằm giữa hai con kênh, bên này là kênh Lò Gốm và  bên kia là Kênh Đôi.  Cách gọi tên các dòng nước này tùy từng đoạn mà có tên riêng, người ngoài thành phố nghe rất khó hiểu. Thực ra là như thế này: Từ Sông Saigon, có hai nhánh rẽ vào phía nam, nhánh trên gọi là Rạch Bến Nghé, nhánh dưới gọi là Kênh Tẻ, hai nhánh sông này gặp nhau và nhập thành một tại Cầu chữ Y, sau đó lại chia thành hai nhánh chạy tiếp về phía nam, một nhánh gọi là kênh Lò Gốm và một nhánh gọi là kênh Đôi. Kênh Lò Gốm và Kênh Đôi nhập vào nhau tại Bình Đông, từ đây dòng kênh Đôi lớn hơn và chảy thẳng ra sông chợ Đệm. Đoạn đường hai bên kênh Lò Gốm khúc gần hợp lưu này  toàn là các Chành, các Kho,  Phía bên Bình Tây là các chành gạo, nông sản, phía  bên kia sông là Bình Đông thì đa số các nhà kho lớn chứa phân bón , thuốc trừ sâu và nông cụ.

Bình Tây sầm uất vì sát với khu thị tứ và các chành xuất nhập gạo lúa nông sản thường xuyên mỗi ngày, còn Bình Đông thì vắng lặng hơn vì mặt tiền đường sát bờ sông dài hằng hai ba cây số đều là những nhà kho lớn, kín cổng cao tường, đàng sau dãy nhà kho đó là khu dân cư , nhưng cũng thưa thớt ít người. Nhà của Triều là một trong vài chục căn nhà hiếm hoi nằm ở mặt tiền đường, ngôi nhà xây cất theo kiểu cố, nằm sâu vào trong, bao bọc quanh nhà là vườn cây khá rộng, nhà Truyền trồng rất nhiều Mai, từ trước ra sau, bên phải bên trái đếm ra cả mấy trăm cây lớn nhỏ. Đặc biết ngay cửa chính vào nhà, giữa sân là một cội lão Mai khá lớn, thân cây có lẽ hơn 20 cm, không mọc thẳng lên cao, mà khoảng cao gần 1 mét bỗng gập gãy như hình chữ V ngược một đoạn mới lại vươn lên.  Chỗ gập gẫy đó tạo như một mắt cây, xù xì cổ kính, cùng với các nhánh cành khác mọc ra đan chen nhau thành một hình dáng vừa kỳ dị vừa bắt mắt. Khi tôi tới chơi với Triều lần đầu, Cây Mai đã cao hơn tôi khá nhiều rồi, xum xuê những nhóm nụ xanh tươi khỏe mạnh vào dịp gần tết. 

Triều gốc là dân Vĩnh Long, gia đình lập nghiệp ở Saigon từ mấy đời là do ba của Triều: Bác Ba Thanh làm công chức ở  thành phố. Mẹ Triều buôn bán trái cây ở chợ xóm Củi , gần nhà. Triều là con một, sống với ba má. Triều là dân miền Nam truyền thống, gương mặt bầu bĩnh trắng trẻo và lúc nào nhìn cũng có vẻ như sắp cười, tính tình khoáng đạt rộng rãi, không thích bắt lỗi người khác mà chỉ chọc ghẹo gây cười rồi quên đi .

Những ngày cuối tuần, tôi đạp xe xuống nhà Mai, rồi kéo qua nhà Triều chơi giống như về quê. ở đó chúng tôi thả diều, qua kênh Đôi  lặn hụp dưới sình bắt cá Lia Thia, bắt cua  bắt ốc rồi về nhà Triều mở tiệc liên hoan.... không có rượu. Ba của Triều tôi gọi là bác Ba người tầm thước, khuôn mặt phúc hậu và rất thương con cùng lúc quý bạn của con, chúng tôi được sống như trong gia đình , rất đầm ấm và vui vẻ. Sau Trung học, chúng tôi chia tay nhau, mỗi đứa đời xô đẩy đi một hướng khác nhau, Triều thì học Sư Phạm, ra trường đi dạy ở gần nhà, Mai thì làm việc ở Phú Giáo, Bình Dương.Tôi thì phiêu bạt lên tới cao nguyên Ban Mê Thuột, thế mà khi có dịp về lại Saigon là chạy đi tìm nhau. Lần nào về cũng có cảm giác như trở về nhà, Bác Ba gái từ sau nhà chạy ra vồn vã: Chèn ơi , bây về hồi nào? thằng Mai biết bây về hôn? ngồi đó đi tao ra trường kêu thằng Triều về.

Tôi đón vòng tay ôm của bác Ba mà ứa nước mắt vì xúc động. kệ lát nó về, kêu nó chi bác, con ở đây tới ngày mai mà.
- Dzậy hả, vậy bây ngồi chơi đó nghe, tao nấu nồi canh chua cho bây nhậu với Ba nó nghe, lóng rầy nó quậy lắm , biết uống bia uống rượu với ổng rồi.

Tiếng xe gắn máy chạy vào sân, rồi tiếng Triều la lớn:, 
- Trời phải mày không? Đi đâu mất biệt không thấy tăm hơi là sao.?

Triều quay lại nói với má:
- Con chở nó qua nhà thằng Mai coi có thằng Mai về không nghe má…

Rồi sau 75, cuộc sống vượt khỏi suy nghĩ bình thường. Bác Ba Thanh đi học tập 3 năm mới về, thân thể mang đủ thứ bệnh mà chẳng biết bệnh gì, chỉ càng ngày càng ốm yếu , đau nhức khắp người. Mai thì lấy vợ ở Phú Giáo và ở lại quê vợ luôn. Tôi về làm công nhân ngay quận 6. Cuộc sống khó khăn từ miếng cơm manh áo nên thời giờ ghé lại thăm nhau cũng ít dần đi. Triều vẫn đi day học nhưng vài ba tháng ghé lại một lần lại thấy thiếu mất một cái gì. Đầu tiên là cái xe gắn máy chuyển thành xe đạp, rồi thì bộ bàn ghế gõ phòng khách thay bằng cái bàn Mica và mấy cái ghế nhựa, rồi thì trên bàn thờ trang trọng xưa đã có vẻ trống trải vì thiếu bộ lư và đôi chân nến bằng đồng, hình như còn nhiều thứ nữa mà tôi không biết, nhưng thái độ niềm nở ân cần thì chẳng khác gì xưa.

Cho đến một lần khi tôi qua, cả nhà im ắng một cách kỳ lạ, tôi đi thẳng vào buồng sau, chỗ bác Ba nằm thì thấy bác Ba gái ngồi trên ghế cạnh giường ôm mặt khóc thút thít, bác Ba trai nằm nhưng cặp mắt vẫn mở, nhìn đăm đắm lên trần nhà. Triều kéo tay tôi bước ra ngoài.
- Chuyện gì vậy?

Triều thở dài, chỉ vào cây Mai lớn giữa sân:
- Có người tới muốn mua cây Mai này với giá 4 chỉ vàng, mà nhà bây giờ kẹt quá rồi, ba tao bịnh mấy năm nay, giờ má cũng bịnh nữa, nhà không có tiền mà ba tao nhứt định không cho bán, ổng nói chờ ổng chết rồi bán. Nhà còn có cái gì khác mà bán để lo bịnh dược đâu.Tao tính bán lấy tiền lo thang thuốc rồi mua chiếc xe xich lô tối về đạp thêm kiếm tiền....

Lúc đó tôi nhìn quanh vườn mới thấy vườn xơ xác trống trơn, cây cỏ mọc tùm lum, mấy trăm cây Mai trồng khắp vườn hình như đã được nhổ lên đem bán từ hồi nào...Tôi hỏi Bác có nói tại sao không cho bán không. Triều lắc đầu, nói ông chỉ không là không. Không bán gì hết, chết thì chịu chứ không bán..

Khuôn mặt của Triều quắt queo, xanh lè, khi tay hai đứa nắm vào nhau, cả hai bàn tay đều lổn nhổn xương , xiết vào nhau đau buốt.

Tôi cậy mình như là con cháu ruột thịt, nên đến bên giường cầm tay bác Ba góp ý:
- Bác ơi, một đời ta bằng ba đời nó, nay hoàn cảnh chung ai cũng chật vật, số tiền 4 chỉ lớn lắm,có thể lo cho bịnh tình hai bác mà còn có thể tạo ra việc làm cho Triều kiếm sống nuôi gia đình.....

Bác Ba nhìn tôi, nước mắt ứa ra, nói chầm chậm:
- Tao biết bây nghĩ đúng chớ không sai, nhưng cây Mai này tuổi đã hơn trăm năm, là di sản từ thời ông nội thằng Triều, đem về đây trồng ngay bữa má thằng Triều sanh ra nó, hơn vậy, tuy trồng ở đó mà có phải của mình đâu, làm người phải coi trọng lời hứa.... đợi tao chết rồi bây làm gì đó thì làm....

Giọng bác Ba trầm, buồn nhưng dứt khoát, chỉ là chi tiết trồng ở đó mà đâu phải của mình thì tôi không hiểu tại sao mà không dám hỏi. hôm đó đi về mà lòng nát tan, đau xót thương yêu mà chẳng biết làm sao để chia sẻ với Triều.

Bến Bình Đông từ bao đời nay là nơi cặp bến của ghe thuyền miền Tây chở theo hoa kiểng và cây trái. Bên kia sông là bến Bình Tây chuyên về nông sản, lúa gạo. Các loại hoa kiểng chẳng những đổ về Bình Đông dồn dập vào dịp gần Tết , mà thường xuyên suốt năm vẫn có những chuyến ghe lớn chở trái cây đặc sản về cung cấp cho các chợ, cùng lúc hoa kiểng cho các vựa trong thành phố. Các chủ ghe lâu năm khi ghé lại, tạo ra một mối liên lạc thân tình với cư dân trong xóm và nhiều nhà dân trong xóm cũng trở thành nơi tạm chứa các thứ cây kiểng chưa tiêu thụ kịp.

Thời điểm 1980 ở thành phố nơi tôi sống như đang ngồi trên một cơn sóng dữ, cuộc đời mỗi người gánh  mọi biến động lớn trên một con thuyền nhỏ, biết bao người đã vượt thoát đi, biết bao người đã chìm đắm xuống và biết bao người như tôi, cắn răng chịu đựng, sống mà chỉ biết sống hết một ngày hôm nay , ngày mai chưa biết. Miếng cơm , manh áo, giấc ngủ, và sự bình an chỉ biết chắc khi buổi sớm mai còn thức dậy được.