Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

972 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG và NGUYỄN MINH NỮU : Lá Xanh Đời , Thơ phổ nhạc

<
  
LÁ XANH ĐỜI

Thơ Nguyễn Minh Nữu
Nhạc Nguyễn Quyết Thắng
Trình bày  ÁI LOAN

971 . TRƯƠNG VŨ - Huy

 H U Y
bài viết của
Trương Vũ


Gặp bạn bè trên chiến trường xưa
sơn dầu trên bố, 18 x 24 in
Trương Vũ thực hiện năm 2010
sưu tập của Ông Bà Nguyễn Trường Khanh



Tôi gặp Cao Xuân Huy lần đầu tiên cách đây khoảng 40 năm khi Huy phục vụ tại một căn cứ huấn luyện quân nhân gốc Thượng ở Pleiku. Tôi còn nhớ vóc dáng và nét mặt Huy lúc đó. Cao, gầy, phảng phất chút thư sinh, chút buồn, và ít nói.

Hơn 15 năm sau, gặp lại ở hải ngoại, Huy vẫn ít nói nhưng bề ngoài thay đổi nhiều. Phong sương, dày dạn, ngang tàng. Tác phẩm Tháng Ba Gẫy Súng (TBGS) đến với tôi như một bất ngờ thú vị. Cho tới lúc đó tôi vẫn chỉ nghĩ đến Huy như một người lính thứ thiệt, hơn là một nhà văn. Huy viết ít, TBGS không nhiều chữ nhưng đủ để tạo cho nó một chỗ đứng riêng biệt và quan trọng trong văn học Việt Nam. Huy yêu quân đội, yêu binh chủng, yêu đồng đội vô cùng. Gần gũi Huy, ai cũng thấy rõ. Đọc TBGS, càng thấy rõ. Thế nhưng, cũng trong TBGS, chúng ta thấy Huy yêu sự thật và trân trọng với ngòi bút đến như thế nào.

Đối với rất nhiều người lớn lên trong chiến tranh, suốt hơn 35 năm qua, âm vang từ cuộc chiến chưa bao giờ dứt. Trong từng gặp gỡ, từng câu chuyện, từng tranh cãi gần như bất tận, những kinh nghiệm cá nhân khởi đi từ cuộc chiến, những hào hùng, những cuồng nộ, những bi phẫn, những thắt gan thắt ruột, được tuôn trào ra, luôn sôi nổi. Nhưng khi phải viết, thường chúng ta dừng tay lại. Hay, nếu không dừng lại, thường cũng chỉ viết… giống như ai ai. Trong TBGS, điều cần viết, có thắt ruột thắt gan đến như thế nào, Huy cũng viết. Thản nhiên, sống động, và văn chương. Không cường điệu. Không kịch tính. Không sử thi. Viết như thế đâu có dễ! Từ ngày tàn cuộc chiến đến nay, có bao nhiêu tác phẩm đạt được những giá trị này trong kho sách văn chương Việt Nam viết về chiến tranh? Dù rằng, những thảm kịch do cuộc chiến tranh này gây ra đến nay vẫn còn lãng đãng trong từng gia đình, len lỏi trong da thịt máu mủ từng con người.






Cao Xuân Huy mang trong thân phận mình hầu hết những thảm kịch của cuộc chiến cùng với tính phức tạp của nó. Gia đình chia cắt. Cha Bắc, mẹ Nam. Không sống với cả cha lẫn mẹ. Tuổi thơ cơ cực. Học xong trung học thì đi lính, và chọn một binh chủng dễ đưa mình vào cái chết. Rồi tù tội. Rồi vượt biển. Rồi sống lưu vong. Rồi, gần như làm bất cứ thứ nghề nào có thể làm được để sinh nhai, để giúp đỡ vợ con. Rồi… vẫn với tâm tư một người lính luôn tự hào với binh chủng, luôn xem đồng đội như gia đình, Huy trở thành một nhà văn, và sau đó, điều hành tờ Văn Học, một tạp chí văn học nổi tiếng ở hải ngoại. Huy điều hành tạp chí này một cách khá đặc biệt, có vẻ như lẫn lộn chuyện nhà binh với chuyện chữ nghĩa. Nhiều người không hài lòng nhưng ai cũng biết không ai khác có thể làm hơn được trong hoàn cảnh chợ chiều của văn chương trên giấy. Khi Huy kiệt sức, tạp chí chết. Dù sự nghiệp văn chương của Huy có thể không lớn nhưng rất nhiều nhà văn dù lớn hay bé, đặc biệt những nhà văn có liên hệ bài vở với tờ Văn Học, phải nợ nần Huy. Nợ nần chồng chất trong suốt thời gian khá dài Huy làm Tổng thư ký, rồi Tổng thư ký, rồi Tổng thư ký… rồi sau cùng, Chủ biên tờ tạp chí này.

Cùng lúc, cuộc đời Huy luôn chứa đựng nhiều mảnh khác nhau. Có những mảnh rõ ràng không ăn khớp. Thế nhưng, trong từng mảnh, Huy sống thật lòng, chơn chất, đôi lúc lặng lẽ nhưng luôn trắng đen rõ rệt. Cái trắng đen rõ rệt đó thường gây tranh cãi, bực dọc với cả những người thân, rất thân. Nhưng, khó ai ghét Huy được. Những ai gần gũi Huy đều biết Huy không hề hưởng ân sủng của may mắn nhưng lại được tình thân đặc biệt của nhiều người. Gia đình, bè bạn, đồng đội cũ. Rất nhiều trong số này khác tánh Huy, hay ít ra cũng từng “gây gổ” với Huy. Cái tình thân đặc biệt đó có được do chính con người Huy. Lầm lì. Thỉnh thoảng chửi thề. Thỉnh thoảng nở một nụ cười châm biếm. Thỉnh thoảng nói một câu rất ngắn nhưng đủ để “chọc tiết” người nghe. Tuy nhiên, người gần gũi Huy dù có thể buồn lòng đôi chút vẫn cảm thấy thoải mái, cảm thấy tin cậy. Bạn bè ở xa về chơi, khó có ai không muốn gặp Huy. Dù ít ai nghe Huy nói về vợ con nhưng những bạn bè rất thân đều biết Huy thương yêu vợ con vô cùng. Dù Huy không sống với cha mẹ từ bé nhưng Huy yêu cha mẹ cũng vô cùng. Đặc biệt là với cha. Tình cảm đó sâu đậm, mãnh liệt. Thế nhưng, những vết hằn của thân phận vẫn rõ nét trong tâm tư, khiến những biểu lộ tình cảm thường lững lờ. Với bạn bè cũng thế, với người thương yêu cũng thế. Có thể có người cho là hời hợt. Thật ra, không phải. Tôi muốn ghi lại đây chút tâm tình của Huy, trích từ tác phẩm Cây Tùng Trước Bão của Hoàng Khởi Phong. Chỉ một chút nói về cha, nhưng qua đó, ta có thể hiểu con người toàn diện của Huy như thế nào.

“… Ngày xa đất Bắc tôi mới có sáu bẩy tuổi gì đó, chưa gặp mặt cha. Cha con xa nhau gần ba mươi năm mới gặp lại lần đầu. Tôi từ nhà giam ở Bình Điền mò ra, năm năm trong câm nín, năm năm trong u hoài. Gần ba mươi năm… cha và con, cha và con. Tôi gặp lại bố tôi ở Huế, hai cha con đi ăn chè tại một quán chè bên bờ sông Hương. Con sông này mấy năm nay hình như con nước trôi cũng… chậm chạp, lững lờ hơn trước.Hai bố con đang ăn. Ông cụ buông thìa nhìn tôi hỏi:


“Chắc là mày ghét Việt Cộng lắm hay sao mà đi cái thứ lính ác ôn thế này?”
Tôi trả lời ngay lập tức:
“Ghét thì không ghét gì, nhưng mà bắn được thằng nào đỡ thằng ấy”.
Ông bố tôi trầm ngâm một chút rồi hỏi:
“Như vậy là mày bắn cả bố mày à?”
Tôi cũng trả lời ngay lập tức:
“Bắn chứ, ở ngoài mặt trận thì phải bắn để mà sống chứ, với lại có biết ai là bố đâu?”
Đó là lần duy nhất hai bố con gặp gỡ nói chuyện. Tính ra từ năm 54, tôi theo mẹ vào Nam cho tới khi xuống ghe vượt biên hai bố con nói được có vài câu lại chẳng ra làm sao cả… Tôi không phải không muốn dịu dàng với người đã sinh ra tôi. Bố tôi thì như bác đã biết, đã tham gia Nhân Văn Giai Phẩm thì chắc cũng chẳng ưa gì Cộng Sản. Nhưng cái hoàn cảnh gặp nhau nó kỳ cục quá. Chính tôi đã không được sửa soạn tâm lý, lại cộng với những năm tháng trong tù bề gì cũng đã ảnh hưởng tới phản ứng sốc nổi của tôi…”


Từ ngày bước vào cõi nhân sinh, trải qua bao thăng trầm, Huy luôn tỉnh bơ với cuộc đời. Vẫn tỉnh bơ khi biết một con bệnh quái ác đang chụp đến. Cách đây một năm, khi tôi về chơi Quận Cam mấy hôm, hầu như ngày nào tôi cũng đi ăn hay trò chuyện với Huy cùng với vài bạn thân khác. Huy vẫn tỉnh bơ về chuyện bệnh hoạn của mình. Tôi cứ ngỡ tình trạng chưa đến nỗi nào. Cách đây vài tuần, sau một chuyến đi xa về, tôi được tin Huy bệnh nặng, nặng lắm, y học bó tay rồi. Tôi liền gọi điện thoại cho Huy, chỉ nghe giọng thều thào. Tôi lặng người. Có bao giờ trong đời tôi nghe Huy thều thào. Tôi tìm cách thu xếp nhanh những việc riêng cần thiết để bay về Quận Cam. Hai ngày trước khi tôi lên đường, nhận được điện thoại của Trịnh Y Thư cho biết đúng 4 giờ 53 phút chiều Thứ Sáu 12 tháng 11, 2010, Cao Xuân Huy đã từ biệt vợ con và vài bạn bè thân nhất đang ở bên cạnh, bình thản đi vào nơi vô tận. Trịnh Y Thư nói Thư biết là Huy đau lắm, con bệnh quái ác đó hoành hành Huy dữ lắm, nhưng Huy vẫn dằn cơn đau để khỏi buồn vợ con, để như không có sao cả, để bình thản ra đi.

Khi đến Quận Cam, tôi chỉ được nhìn thấy thân xác Huy trong quan tài, trong quân phục Thủy Quân Lục Chiến. Huy ốm và già đi nhiều, nhưng vẫn giữ nét bình thản. Hai hôm sau, Huy được đưa vào lò thiêu. Khoảng sau 11 giờ trưa hôm đó, tức Thứ Năm 18 tháng 12, 2010, khói lò thiêu bốc lên. Bây giờ, Huy hoàn toàn trở về với tro bụi. Bây giờ, Huy có thể thảnh thơi trở lại các chiến trường xưa, thăm bạn bè cũ. Huy có thể vui đùa với họ thâu đêm suốt sáng. Chẳng cần phải ngâm câu Chinh Phụ… nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn…, vì Huy đã ở nơi đó với họ rồi. Chẳng cần phải bắn ai, phải giết ai. Cũng chẳng phải lo nhìn thấy đứa bạn thân nào bất thần gục ngã máu trào lên bát cơm. Và, chẳng phải hận thù đứa nào.

Huy, hãy vui với ngàn thu đi! Hãy giúp mang bình an đến những người thân yêu còn lại. “Chị Hai” và các cháu Chúc Dung, Xuân Dung.

Trương Vũ

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

970 . LUÂN HOÁN - Rượu Hồng Đã Rót Thơ Tình Nam Nữ Chưa Tròn Đầy Chủ Đề

Red rose - Photo by Phạm Cao Hoàng, June 2020


       Sau Viên Đạn Cho Người Yêu Dấu, Nén Hương Cho Bàn Chân Trái cùng một phần ba trong tác phẩm Hòa Bình Ơi Hãy Đến, in chung với Phạm Thế Mỹ, Lê Vĩnh Thọ, tôi trình làng Rượu Hồng Đã Rót. Với mong muốn thi phẩm này sẽ đưa tôi trở về một cách triệt để với thơ cổ hình thức, cùng thống nhất toàn tập một nội dung thơ tình trai gái. Dự định của tôi chỉ thực hiện được một nửa. Bởi nội dung thi phẩm có vần, không thuần nhất tình yêu nam nữ mà cưu mang thêm tình đất nước, tình bè bạn và tình người chung chung.
       Theo thói quen ở mỗi thi phẩm, gần như tôi đều có viết lời vào tập bằng thơ. Tôi xem những dòng thơ này là những khinh binh mở đường, sẵn sàng chịu số phận rủi ro như đạp mìn bẫy, bắn tỉa để đại đơn vị phía sau thong dong tiến bước. Ngoài ra đây cũng là cách thông tin đôi nét cụ thể về nội dung.
       Ở Rượu Hồng Đã Rót, tiểu đội đi đầu này không nhiều, chỉ bốn lãng tử lơ láo như vầy:

thơ chỉ là sông cho tôi trôi nổi
thơ chỉ la thuyền cho người lênh đênh
vậy người cứ ngồi đây qua sông rộng
vậy em cứ ngồi đây qua hồn tôi...

Xin mở ngoặc để nhắc sớm một kỷ niệm.

969. Phạm Cao Hoàng: - Hành phương Đông.

Ảnh minh họa" dreamstime.com


Phạm Cao Hoàng - Photo by Tô Duy Thạch (1974)


Hỡi ơi trời đất vô cùng rộng
Nào biết tìm đâu một mái nhà
Nguyễn Bính – Hành phương nam

bạn ta, áo ngươi sao bạc thếch
chiều nay còn một ngươi với ta
ngươi nhớ gì dưới trời mây trắng
ta nhớ màu hoàng hôn năm xưa
 

ngươi phong trần ta cũng giang hồ
vó ngựa qua nhịp khua lóc cóc
buổi ra đi đâu mơ ngày về
nhưng chiều nay ngươi ơi ta muốn khóc
 

ngươi ba mươi ta cũng ba mươi
kể cũng đã mười năm rồi, xa lắc
thì vui đi cho hết một đời
rằng ta kẻ trời cho sống sót
 

đôi khi ta mơ một căn nhà trống
dù thu sang hay lồng lộng buổi mưa về
gõ trên quãng đời xưa mà hát
rằng ngàn năm mây trắng đời ta
 

bạn ta, còn đây lưng chén rượu
ta mời ngươi cạn nốt cùng ta
dẫu lòng ta bạc hay ngươi bạc
cũng cầm bằng như bóng mây qua
 

cũng như là những giọt máu hồng
đã nhỏ xuống trong mùa xương máu
bên trời kia, ngươi nghe gì không
tiếng ai vọng đau mấy chiều cố xứ
 

trong lòng ta có một dòng sông
dòng sông xưa đục mù bến nước
lau lách khuya sương lạnh hàng hàng
bạn ta hỡi, làm sao quên được
 

ta chợt thấy trong đôi mắt ngươi
có điều gì ngươi chưa thể nói
mây vẫn còn giăng trắng một trời
hồn ta cũng giăng đầy sương khói
 

có nỗi buồn nào đang len trong từng mạch máu
có mũi nhọn nào đâm trong tim ta từng cơn
cạn chén rượu thấy trời đất sụp
ta cũng như ngươi, có vui gì hơn
 

bạn ta, ngươi sống có bao năm
mà sương gió đầy trên mái tóc
ta cùng ngươi đi giữa phương đông
đất rộng quá nên ngàn năm còn cô độc
 

mây trắng quá và chiều tê tái lắm
biết về đâu giữa lúc hoàng hôn phai
ta cùng ngươi những bóng đời lếch thếch
chiều tan mau rồi vẫn bóng đêm dài
 

chẳng lẽ ta bắt chước người xưa
ôm chí lớn đi cùng trời đất
trăm năm rồi như bóng mây qua
chí đã cùn nên thiên thu đành chôn chặt
 

chẳng lẽ ta học người thất thế
mượn dăm chén rượu lãng quên đời
hay ngửa mặt ngâm câu khí khái
giữa chợ đời lê gót rong chơi
 

bạn ta, vui chi mà cười ngất
buồn chi đập chén vỡ tan tành
mây phương nam có khi mù phương bắc
có khi là mây chia cắt ngàn năm
 

ta có khi đứng bên tuyệt lộ
thấy một màu nắng úa dưới nhân gian
lớp lớp những mồ xanh bóng cỏ
huyệt sâu kia ta đã có phần
 

thời xuân thu chẳng thấy ngọn ngô đồng
chim phượng bay dưới trời tan tác
th
ời hoàng kim của mưa đổ máu hồng
kẻ thất chí nhìn trời rơi nước mắt
 

ta với ngươi đứng giữa vực tử sinh
vẫn thấy bay một trời mây trắng
nghe quanh đây trời đất quá điêu tàn
không còn ai giữa chiều thoi thóp nắng
 

trong mắt ngươi có bóng đời ta tan vỡ
có mùa đông quê cũ rét mưa phùn
có đầu thu rụng đầy bông khế
có bông cúc vàng nở rộ chớm sang xuân
 

có chuyến tàu đi trong chiều sương lạnh
nhả khói buồn tan với hoàng hôn
có chiếc khăn tay vẫy ngang mắt lệ
bánh sắt lăn như nghiến nát cả lòng
 

chiều nay đèn nhà ai thắp sáng
nghe rộn ràng bên lớp khói đùn quanh
mười năm, ta hay ngươi người viễn khách
rét về chưa mà hồn lạnh căm căm
 

ta cùng ngươi đi giữa phương đông
giày đã rách nhưng chân chưa thấy mỏi
vỗ trên lưng ngày tháng mà ca rằng
giữa trần gian ta như hạt bụi
 

bụi dẫu có ngàn năm chờ đợi
cũng ngậm ngùi tan với hư không
ngươi dẫu cạn bao nhiêu hồ rựou
cũng dễ chi đã ấm được lòng
 

cũng không bằng một sớm mùa đông
quàng khăn rét ngồi bên cửa sổ
hay co ro bên bếp lửa hồng
ấm đời nhau dăm câu chuyện kể
 

thời bây giờ ta như chim bị đạn
kêu đau thương nay đã suốt bao chiều
bay lảo đảo dưới trời hiu quạnh
đợi tan tành cùng mặt đất buồn thiu
 

thời bây giờ, của những giọt nước mắt
ướt đẫm khăn hồng người con gái năm xưa
thời của những khăn tang chít vội
thời ruột đau như cắt nỗi chia lìa
 

thời huy hoàng của những bầy quạ đen
bay phơi phới giữa phương đông hực lửa
thời của những người đã đánh mất trái tim
chỉ còn bóng hận thù vây mọi phía
 

cắn trong răng một trái bồ hòn
không thể nói những điều muốn nói
ta cùng ngươi những bóng đời thầm
nhìn mây trắng lòng đau vời vợi
 

đã bao năm dòng máu ta sắp cạn
mà nơi đây không một bóng ai về
rụng tan tác những mùa hoa rụng
mà mây thì mây trắng lê thê
 

ta cùng ngươi vẽ bóng mà chờ
cùng mặt đất quay theo thời chiến quốc
chiều nay còn một ngươi với ta
bước khập khiểng dưới trời cô độc
 

có tiếng tù và vang vang trong gió
âm thanh buồn xé vỡ không gian
cũng là lúc nụ cười ta héo hắt
chiều thê lương trời đất quá điêu tàn
 

có tiếng ai vọng từ muôn kiếp trước
bông hồng nào vừa rụng giữa lòng ta
trong mắt ngươi có chút gì u uất
soi long lanh bóng dáng một quê nhà
 

kể cũng đã mười năm rồi ngươi hỡi
ngửa nghiêng cùng lịch sử thăng trầm
vui có khi cười ra nước mắt
có khi là rượu say khướt hoàng hôn
 

ruột có khi tưởng lìa chín khúc
máu có khi ứ giữa buồng tim
cũng đành sống cho qua thời mạt kiếp
dù tháng ngày chụp xuống những oan khiên
 

bạn ta, bên kia sông là núi
núi của ngàn năm đá vọng bóng người đi
núi tiếp sông và sông tiếp biển
sông tiễn người qua bến phân ly
 

sông ngậm ngùi vỗ sóng thiên thu
mùa bão tới gầm lên hồi bi thiết
gờn gợn trên sóng bạc những căm thù
bởi máu đã nhuộm hồng sông nước
 

bấc đã lụn nên đèn leo lét
gót ai qua rờm rợp khắp non sông
trên mặt đất người người rơi nước mắt
và nơi đây ta ngậm nỗi căm hờn
 

ta cùng ngươi đi giữa phương đông
thương vườn ai đìu hiu dăm xác lá
mái rêu phong cửa khép im lìm
nhà ai đó giống quê nhà ta quá
 

giậu ai đó đỏ hàng dâm bụt
ngỡ như màu mực tím thuở mười ba
nghe thoang thoảng mùi hương sách mới
có chút gì nghèn nghẹn giữa tim ta
 

bóng chim nào lạc cánh cuối trời xa
đất rộng quá biết đâu là cố lý
và nơi đây hiu hắt những đời người
dài râu tóc ngồi mơ thời thịnh trị
 

lúc tuổi trẻ đã tan rồi chí khí
sống nửa đời ta chẳng thấy quê hương
nhìn lên cao mây còn bay lớp lớp
ta cùng ngươi quay với bóng tang thương
 

PHẠM CAO HOÀNG

1971 

968 . NGUYỄN MINH NỮU: DOÃN QUỐC SỸ: CHẤT CHIẾN ĐẤU TỪ NHỮNG LỜI ĐÔN HẬU.



Trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau dày hơn 2000 trang là tác phẩm dài hơi nhất của Doãn Quốc Sỹ. Ký giả Lê Văn của Đài BBC đã ca ngợi tác phẩm này như tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình của Việt Nam, kín đáo ca ngợi Doãn Quốc Sỹ của Việt Nam như Lev Nikolayevich Tolstoy của Nga là những Văn Hào của Thế giới. Một ngòi bút sắc xảo tinh tế nhưng rất lãng mạn đôn hậu đã truyền đạt một thông điệp sống động về Nhân Bản chống lại Vô Thần. Và đó chính là chất chiến đấu kiên trì đối kháng với bạo ngược, gian trá.  

Truyện ngắn đầu tiên tôi được đọc của Doãn Quốc Sỹ là Cánh Tay Nối Dài. Lúc đó  năm 1967, tôi mới 17 tuổi, đang học lớp Đệ Nhị trường Nguyễn Bá Tòng , Saigon.

Trong lớp có một người bạn chơi chung là Vũ. Vũ ở đường Vườn Chuối, khi tới nhà Vũ để rủ Vũ đi chơi, cả nhóm bạn đứa nào cũng sợ phải gặp mặt ông cụ thân phụ của Vũ. Không phải tại cụ khó  mà bởi vì cụ hay gọi cả nhóm vào trò chuyện, trong đó khuyên nhủ, dạy dỗ...Cả bọn đẩy đưa, cuối cùng, tôi là đứa bị đẩy ra làm đại diện vào nhà xin phép cho Vũ, trong lúc cả bọn đứng chờ ngoài đầu hẻm. Tôi bị đẩy ra làm công việc này, vì trong nhóm bạn, tôi lọt vào mắt xanh của cụ, Cụ rất quý tôi và thường dễ dãi chấp thuận lời xin của tôi để Vũ đi chơi.

Lần đó, khi tới, Vũ không có nhà, tôi vừa định chào ra về, thì cụ gọi lại bảo vào chơi uống nước. Cụ lấy một cuốn sách đưa tôi và nói, Đất nước sau này có tiến bộ hay không là nhờ vào lớp trẻ sau này lớn lên có tiếp nối được khao khát của cha ông hay không. Cuốn này hay mà bác mới đọc được và rất tâm đắc với tác phẩm, cùng với kính trọng tác giả, Bác cho cháu mượn xem, tuần sau đến đây trả lời với bác cháu đọc được gì nhé.

Tôi nhận cuốn sách Cánh Tay Nối Dài của Doãn Quốc Sỹ mà lòng run vì sợ. Đề một bài đã ra và tuần sau phải trả bài. Thật không ngờ, đó lại là một cơ hội tuyệt vời cho tôi bắt đầu một niềm vui mới là tìm thấy trong dòng chữ viết đã mở ra biết bao chân trời, biết bao ước mơ và biết bao giải đáp cho cuộc đời sau này.

Khi đó, tôi không biết tác giả đang là một Giáo Sư dạy Đại Học, không biết tác giả là một Nhà Văn nổi tiếng từ lúc tôi chưa sinh ra, lại càng không biết gì về Tạp Chí Sáng Tạo đã từng một thời lẫy lừng nay đã đình bản.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

967 . HẠNH PHÚC LÀ CHIA XA - Thơ Nguyễn Minh Nữu, Nguyễn Tuấn Phổ nhạc.

 HẠNH PHÚC LÀ CHIA XA

Thơ NGUYỄN MINH NỮU

Nhạc NGUYỄN TUẤN

Hòa âm, thu âm và thực hiện Clip

NGUYỄN MINH CHÂU (Pháp)




Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

966 . ĐINH CƯỜNG -10 bài lục bát

Trong ảnh: Đinh Cường (1939-2016) - Photo by PCH, Burke (VA), May 8 2014


GHẾ TRỐNG

Bạn về. mới xuống đường bay
tôi ngồi. ghế trống. buồn thay. đốm tàn [1]

đêm qua. mới chuyện lang bang 
đêm nay. thắp một cây nhang. một mình

và rồi. trở lại lặng thinh
và rồi. trong cõi tịnh yên. niệm thầm ... [2]

Virginia   August   30, 2015
_____________________________________________
[1] những tàn thuốc lá của Thuần
[2] Nguyễn Quốc Thái luôn cầu nguyện, phó thác tôi cho  Đức Mẹ Maria


TẠ ƠN

Thiên thu lời tạ bên lời
(Bùi Giáng)

Nghĩ là ta tạ ơn ai
tạ ơn Trời Đất một mai sớm chiều
kể từ chập chững liêu xiêu
đến khi già yếu  phải dìu bước đi
tạ ơn. còn nói năng chi
chắp tay mà vái. thầm thì niệm Kinh
bàn tay Phật chỉ anh minh
tưởng trăng là bóng của mình là sai
bóng ta từ lúc đổ dài
đường chiều qua mấy ngõ đầy lá thu
bóng ta từ sớm suơng mù
tạ ơn Trời Đất đền bù. nắng lên …

Virginia, Thanksgiving 2015


KHI CHIỀU PHẠM NHUẬN PHONE THĂM

Chim về. rừng động. chiều se
nghe trong tịch lặng. tiếng gì như Kinh
nhớ xưa. bạn quá phiêu bồng
mà nay đắc đạo. tận cùng Lửa Thiêng…

Virginia, March 31, 2015 


TRONG CƠN MÊ CHIỀU

Thức dậy, nắng vàng ngang mái nhạt
( Huy Cận )

Gởi Ngô Thế Vinh,

Trực bệnh viện ban phone thăm
trưa im vắng. chỗ tôi nằm góc quen

nắng xuân trải nhẹ bên thềm
như lay tôi dậy. con đường lặng im

con đường năm xưa bạn lên
cùng tôi đi suốt sau rừng nhớ không

cây anh đào nở nụ hồng
Phật ngồi vàng ánh. nhìn. lòng tôi yên

cám ơn giọng nói bạn hiền
qua cửa sổ nhỏ. thấy triền miên vui...

Virginia, April 9, 2015


QUA SÔNG

Gởi chị Nguyệt Mai,

Tám giờ còn sớm quá không
phủi chân lên đắp chăn bông niệm thầm

bao nhiêu sách Phật đầu nằm
là bao nhiêu ánh trăng rằm chỉ tay

phải rồi Phật nói rất hay
chỉ trăng. đừng tưởng tay là mặt trăng

nên chi ta tự đi tìm
muốn thân an lạc là niềm tự tin 

rằng từ trong cõi vô minh
thấy ta như bóng với hình đùa chơi

mai kia trời lại xanh trời
vẽ thêm cánh nhạn bóng rơi mặt hồ

sóng chao gợn. sóng xô bờ
thấy ai như thấy Phật Bà qua sông

Virginia, January 11, 2015

Chân dung Đinh Cường - Đinh Trường Chinh vẽ  (1.2017)



BÀI MÙNG HAI

Gởi Thành Tôn,

Lạnh gì cho hết tháng hai
mà sân tuyết trắng trải dài tới kia

rừng im đứng ngóng trời về
ôi mây xám phủ. gió chia mấy bờ

người nằm với những cơn mơ
mùng hai Tết. mai tuyết mù mịt bay

chịu thôi. tuyết phủ mùa này
mai kia chim hót quen. ngày vào Xuân .

Virginia, February  20, 2015


VÀI CÂU RỜI GỞI TRỜI MÙ SƯƠNG

Mù sương nhớ phố lên đèn
nhớ con dế gáy nửa chừng rồi im

mù sương xưa trên cao nguyên
nhớ con dốc xuống như chìm trong mơ

mù sương trên nóc nhà thờ
con gà đen thấy lờ nhờ đốm xanh

bỏ đi. người bỏ sao đành
trong mù sương có đốm nhang giữa trời

tôi khấn gì. tôi khấn ai…


Virginia, October 13, 2014  


TỐI XUỐNG MAU

Một ngày tôi sống bềnh bồng
cả đêm mất ngủ sao không ngủ bù

nằm nghiêng nghe giọt sương thu
chừng như đã cạn cho mùa tuyết rơi

nay mai lại tuyết trắng tươi
thu lây bệnh ngứa da trời sao đang [1]

nằm im. nghe gió hoang đàng
vút qua thong thả trên  tàng cây khô

con chim về đậu hồi mô
sao không hót. tôi mơ hồ nhìn ra

và đêm tối xuống. mau cà
chưa còi tàu hụ ngang qua sáu giờ …

Virginia, November 25, 2014
__________________________________
[1] thu lây bệnh ngứa da trời
nằm nghiêng nghe thấy cuộc đời chạy rông
( Hoàng Xuân Sơn – Lều Thu )


MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG XƯA
CÙNG NGƯỜI CẦM LỬA QUA CHIỀU

cho sinh nhật Chinh, 7 tháng 5

Nhớ xưa Đàlạt mưa chiều
mây bay xám thấp qua đèo cùng con
đèo Eo Gió lồng lộng cơn
dưới kia lũng thấp. xanh non. đồng bằng

xuống Sông Pha. ngang Tháp Chàm
phượng như lửa rực hai hàng chạy xuôi
qua Cà Ná muối trắng trời
nhìn như sa mạc. dấu người chân đi
xoài Cam Hòa sây trái ghê
ghé qua đường nghỉ. để về Nha Trang
chiều biển xanh. hiện hai hàng
thùy dương reo. tiếng gió càng lạnh thêm
mấy mươi năm rồi đó Chinh
như người cầm lửa qua chiều. hư vô

Virginia, May 6, 2014

ĐOẠN GHI SAU NGÀY TUYẾT BẤT NGỜ

đường trơn
tuyết đọng chưa tan
đi qua con suối
đóng băng mấy tầng
rừng như đứng
chịu tang chung
giải khăn trắng tuyết
phủ choàng nhánh khô
còi tàu hụ
nhớ giang hồ
lên ga khuya lạnh
gió mờ mịt xa
Sông Mao qua
đến ga Truồi
than bay đốm sáng
tàu xuôi mấy chiều
người đi
bóng đổ liêu xiêu
đường trơn
tuyết đọng
đìu hiu
Tết rồi …

Virginia, January 9, 2012


Chân dung Đinh Cường - Đinh Trường Chinh vẽ  (1.2017)

965 . KHÓI BẾP Truyện ngắn của nhà văn Trung Quốc A THÀNH (1949 - ...) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

 

Nhà văn A Thành (1949-...)

A Thành sinh tại Bắc Kinh năm 1949. Năm 1966, khởi đầu thời kỳ Cách mạng Văn hoá, gia đình chuyển về thôn quê sinh sống, ông theo về học trung học, rồi liên tiếp chuyển đến Sơn Tây, Nội Mông, Vân Nam, học hội hoạ và làm quen dần với ngòi bút.
     
Năm 1979, ông trở lại Bắc Kinh, vào làm cho Công ty Xuất bản Thế giới đồ thư, phụ trách biên tập, trang trí, minh hoạ. Tác phẩm đầu tiên là " Kỳ vương", đăng trên tạp chí Văn học Thượng Hải năm 1984, ngay lập tức được giới văn học lưu ý. Ông bỏ việc để chú tâm vào chuyện viết lách, khởi đầu với những kịch bản phim. Năm sau, ông viết tiếp hai cuốn " Thụ vương" và " Hài Tử vương", hợp với Kỳ vương thành bộ ba khá nổi tiếng. Sau đó ông xuất bản tiếp nhiều truyện ngắn khác nữa.
     
Năm 1987, ông sang Hoa Kỳ, tiếp tục viết kịch bản phim, rồi chuyển sang viết bút ký đăng trên các tạp chí. Cuối thập niên 90 ( thế kỷ XX ), ông trở về Trung quốc.

Truyện "Khói bếp " như một hồi ức về nạn đói khủng khiếp ở Trung quốc, giai đoạn tiến hành Đại nhảy vọt ( 1958-1961 ), với số người chết, theo nhiều tài liệu, lên đến 36 triệu.

964 . CHU TRẦM NGUYÊN MINH Versailles, lâu đài Louis XIV và Labyrinthe

 

Château De Versailles (Paris, Pháp)  Ảnh: Internet



Tặng Nguyễn Chí Thiện (*)

Cuối đời bóng xế đến đây
Lâu đài đứng lặng như say giấc nồng
Kìa người, kìa tượng,kìa sông
Kìa dòng nước biếc nặng lòng trăm năm
Cuối đời,ngắm Labyrinthe
Ước chi trẻ lại cho mình tìm nhau
Trốn hòai, tìm mãi, chẳng sao
Nhưng khi giáp mặt ta trao nụ hồng
Ta hề, phiêu bạt, lông bông
Lang thang theo gió bềnh bồng trôi mau
Càng sầu, càng uống, càng say
Thơ vui từng chữ, rượu cay từng chầu
Labyrinthe hỡi, về đâu  ?
Thôi em đến bến giang đầu chờ nhau ...

Paris, 16.5. 2013
Chu Trầm Nguyên Minh

(*) Bác sĩ Nguyễn Chí Thiện, đang sống ở Pháp,
    trùng tên với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện


Pianist: Richard Clayderman

963 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG Một chút tâm tình.

 

Nguyễn Quyết Thắng - Self-portrait


Nguyễn Quyết Thắng là nhạc sĩ nổi tiếng trong phong trào du ca Việt Nam. Trong tuyển tập CHÚT TÌNH ĐỌNG LẠI (NXB Nhân Ảnh, tháng 10.2023), ngoài tranh của Trương Vũ và các bài viết của Hoàng Kim Oanh, cuốn sách còn giới thiệu 15 ca khúc Nguyễn Quyết Thắng phổ thơ Nguyễn Minh Nữu, Đoàn Văn Khánh và Phạm Cao Hoàng. Dưới đây là lời tâm sự của anh về những bài thơ mà anh đã phổ nhạc. (PCH).


Đọc được một bài thơ có nội dung hay và ý nghĩa, thường có âm thanh vang lên trong bài thơ đó, tôi không ngừng nghĩ đến chuyện phổ nhạc và không ngần ngại cầm cây đàn lên.

Tôi rất thích và thường phổ những bài thơ của bằng hữu, vì thế tôi cũng thường được hỏi:

- Tại sao anh phổ thơ nhiều và dễ dàng vậy? Anh nghĩ và thích gì trong việc này?

- Làm thế nào để phổ thơ vần không trùng nhau theo thể điệu bằng trắc của thơ?

Thưa rằng: Tôi hoàn toàn chỉ phổ thơ của những người yêu thơ và làm thơ, đa số đều là bằng hữu thân quen mà thôi. Điều quan trọng là người ấy với tôi phải có mối quan hệ gắn bó đặc biệt với tình bạn và sự quyến luyến. Đó cũng là chủ đề chính đầy cảm xúc sâu sắc để cho ra đời đứa con tinh thần, làm gạch nối giữa lãnh vực tình bạn trong âm nhạc và văn học. Tôi muốn có kỷ niệm với bạn và làm một món quà tặng bạn với niềm vui. Có thế thôi.

Không phải bài thơ nào tôi cũng phổ nhạc được. Nếu may mắn đọc được bài thơ trong đó có ý nghĩa hợp với tâm trạng mình, cho dù có đơn sơ mộc mạc hoặc sắc bén đến thế nào chăng nữa, nó vẫn ẩn chứa một hình ảnh, một câu chuyện, hay một tâm tình của chính mình ẩn khuất trong đó, nghĩa là một đồng cảm phát sinh khiến một âm thanh của tiếng nhạc bộc phát. Tôi muốn nói ở đây, là bài thơ được phổ nhạc. Riêng bản nhạc được đặt lời thì ngược lại, đó sẽ là sự cảm xúc của người đặt lời khi nghe một tiết tấu âm thanh. Cũng như một ca sĩ thả hồn vào lời ca tiếng nhạc, nâng cao giá trị ca khúc khiến thính giả phải hài lòng.

Phổ nhạc bài thơ là quá trình biến đổi các đoạn văn, thành giai điệu của âm nhạc, sau khi đã tìm hiểu nội dung và ý nghĩa bài thơ, đã xác định được các điểm nhấn mạnh của bài thơ tác giả đã viết.

Với một bài thơ đã đánh động tâm hồn mình, bắt đầu tôi tìm một giai điệu, một nhịp điệu thật gần gũi và ấm áp cho lời thơ, tạo một cung bậc thật trìu mến, thật ấm áp nhẹ nhàng cho một không gian ấm cúng hoặc âm thanh mạnh mẽ, phẫn nộ vỗ nhịp v.v... Sự hồi hộp, xúc động dẫn đến hài hước hoặc phấn khích, tất cả đều tỏ bày chân tình và tôn vinh niềm tương đắc với ý nghĩa và tâm trạng của bài thơ. Điều đó sẽ mang đến sự hứng thú để chuyển đổi lời thơ thành tiếng nhạc. Thực hiện được như vậy, ta mong sẽ mang đến cho người nghe một sự thoải mái, một trải nghiệm thật thú vị. Ngoài ra nó cũng là một thông điệp về tình cảm tốt đẹp cùng sự quý trọng của tình bạn bao la.

Tóm lại, cảm xúc về việc phổ nhạc cho một bài thơ là sự hứng thú khi lời thơ cũng chính là tâm tư của người viết nhạc, sự đồng cảm mang đến mối quan hệ mật thiết và quý báu hơn bao giờ hết trong tình bằng hữu, cũng như mọi thính giả yêu chuộng văn nghệ.

Con đường sinh hoạt văn nghệ cũng như đường hướng sáng tác của tôi từ thuở thiếu thời đến nay đều hướng về văn nghệ cộng đồng Du Ca. Nhạc sinh hoạt cộng đồng không phải chỉ để thưởng thức, giải trí suông. Nó có nét thật đơn giản để mọi tầng lớp dân chúng cùng nghe, cùng hát, cùng hòa nhập với nhau trong những niềm vui nỗi buồn của người dân trong vận mệnh đất nước. Nó chỉ cần những âm thanh đúng đắn với lời nhạc chân tình là đủ.

Trong ấn phẩm “Chút Tình Đọng Lại” này, gồm một số ca khúc của 3 người bạn thơ mà tôi đã phổ nhạc khá nhiều trong những bài thơ đã từng làm rung động tâm hồn tôi. Nó gồm những bài hát cũ - mới, tuy thật ngắn ngủi, ít ỏi cho một ấn phẩm được in ra, nhưng nó là cả một quá trình xây dựng, và bảo vệ tình bằng hữu quyến luyến lâu dài của tôi với các bạn trong âm nhạc với lời thơ câu văn, hầu cống hiến đến tất cả quý bạn yêu mến văn nghệ cùng bằng hữu xa gần hôm nay. Tôi nói lên đây lời cám ơn chân tình. Riêng đến Nguyễn Minh Nữu, là người bạn kể từ khi quen nhau lúc chúng tôi ở tuổi mới lớn, đều khoác trên vai bộ quân phục màu lá cây rừng. Cho đến nay đầu đã bạc, mỗi người ở một phương xa xôi, hoàn cảnh mỗi người đều khác nhau, nhưng tâm hồn văn nghệ vẫn luôn được hòa nhập, tôi vẫn luôn hứng thú phổ thơ của Nữu viết ra, với những chuyện tình thật đằm thắm của lứa đôi yêu nhau. (Điều này tôi không có… “kinh nghiệm”, vì tôi chỉ quen làm nhạc về tình yêu quê hương cho Phong Trào Du Ca mà thôi). Qua Nữu tôi lại được quen biết thêm những bạn văn, bạn thơ đáng thân, đáng quý khác mà Nữu đã giới thiệu và kết nối cho tôi. Điển hình như những khuôn mặt đóng góp trong ấn phẩm này như anh Trương Vũ, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Minh Nữu, Đoàn Văn Khánh và Hoàng Kim Oanh.

Trước kia chúng tôi thường họp mặt đầy đủ với các bạn, cùng hát ca, cùng ngâm thơ dưới ánh trăng rằm trắng trong và mong ước cũng sẽ có một ngày thật gần lại được quây quần bên nhau vui thú.

Thời gian trôi nhanh và cuộc đời dần thay đổi không theo sự ước muốn, kẻ mất người còn, nay chỉ còn là một hoài niệm thân thương. Hạnh phúc còn lại là những khuôn mặt trìu mến hiện hữu quanh đây, cùng reo hoan mảnh kỷ niệm hoa gấm đã có một thời, cho dù ở bất cứ nơi chân trời góc biển nào, hoặc cho dù trong một hoàn cảnh ra sao, lòng vẫn hân hoan còn CHÚT TÌNH ĐỌNG LẠI trong những trái tim nồng ấm.

Nguyễn Quyết Thắng

mùa hè 2023

___________________

Bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe Thái Hiền trình bày ca khúc VẮT TAY LÊN TRÁN, một sáng tác của Nguyễn Quyết Thắng trong phong trào du ca Việt Nam trước 1975. Ca khúc này đã được sử dụng trong bộ phim TRƯỜNG TÔI (1973).

https://www.youtube.com/watch?v=2QQu_vBPgvg