Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026
936. NGUYỄN MINH NỮU Truyện ngắn CON TRAI CỦA THỦY THẦN
935 . NGUYỄN THỊ HOÀNG BẮC - viết về Thầy THẠCH TRUNG GIẢ
THẠCH
TRUNG GIÃ
Tôi
muốn mượn tên thầy để trang trọng đặt tựa đề này cho bài viết. Tôi muốn dùng
những dòng chữ này để tưởng niệm một người thầy đã để lại ấn tượng sâu sắc
nhất, nỗi xúc động sâu xa nhất, và lòng thương nhớ lâu bền nhất trong quãng đời
đi học của tôi. Dù ngày nay thầy không còn trên quãng đời này nữa...
Tôi
vốn không phải là học sinh ròng của Võ Tánh. Vốn dốt Toán, thi vào Võ Tánh hai
lần không đậu, tôi học ở Bồ Đề, và sau đó Lê Quý Đôn.
Nhưng
tôi có duyên được học với những thầy giáo dạy Việt Văn tiếng tăm nhất thời đó ở
Nhatrang. Bồ Đề với thầy Võ Dự, đệ thất, sau đó, thầy Võ Hồng, đệ lục, và ở Lê
Quí Đôn, đệ ngũ với thầy Thạch Trung Giã, và kể từ đó, đệ tứ,đệ tam, đệ nhị Võ
Tánh đều vẫn học với thầy Giả. Trong một bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í đăng ở
Bách Khoa trước 75, nhà thơ Sao Trên Rừng, tức là anh học trò Võ Tánh Nguyễn
Đức Sơn có đoạn trả lời: “... Ở Nha Trang tôi đã có những giờ học kỳ thú với
giáo sư Thạch Trung Giã.” Tôi cho là chữ “kỳ thú”của anh Sơn dùng đã chính xác
nhất để nói về những giờ học của thầy. Tôi cũng thế, là đàn em lớp sau của anh
Sơn, tôi đã có những giờ học kỳ thú và khó quên với thầy Thạch Trung Giả.
Trường
Lê Quí Đôn lúc ấy chỉ là một dãy nhà tôn lụp xụp, cất vội vã để đón đồng bào
miền Bắc di cư vào Nam năm 54, sau khi mọi người đã được định cư, cơ sở được sử
dụng làm trường. Những buổi chiều, mặt trời sắp ngả bóng chiếu những tia nắng
quái vàng rực chiếu lên mấy dãy nhà tôn, nhà lá, xóm bãi cát bên kia hàng rào,
tôi ngồi ở gần của sổ lớp ngó ra, nghe các bạn trong lớp ồn ào, “kia kìa, coi
bắc kỳ di cư thui thịt chó kìa…(!)”, tôi nhìn, nghe, nhưng chẳng thấy gì. Đầu
óc mãi còn váng vất, ngây ngất, choáng váng vì bài giảng “Chiếc thuyền lơ lửng
bên sông” của thầy về Nguyễn Trãi. Mãi về sau lâu lắm, với kinh nghiệm đi học
và dạy học, tôi vẫn đồ chừng, có lẽ chưa có ai thấm thía nỗi cô đơn, và giảng
được nỗi cô đơn bằng thầy Thạch Trung Giã. Mười lăm tuổi, chưa mường tượng được
hết nỗi cô đơn của một kiếp người, nhưng tôi đã thực sự xúc động. Tôi ngây ngất
nhìn nắng quái bên kia rào, và rồi hình ảnh của một chiếc thuyền, một ông lái,
và phải chăng, một kiếp người cô đơn ám ảnh…Tôi bắt đầu làm thơ, bài thơ đầu
tiên của tôi về một chiếc thuyền:
“như
chiếc thuyền trôi lạc bến bờ
tôi
tìm an ủi ở vần thơ
tôi
nghe gió lộng trong thơ ấy
và
sống thần tiên những phút mơ...”
Bài
thơ lúc đó, được ký tên là Lam Kiều, và đăng trong tập báo Tết đặc biệt của Tam
C Võ Tánh năm học 1959, năm thầy Phạm Quang Linh dạy Anh văn làm giáo sư hướng
dẫn,thầy Thạch Trung Giã dạy Việt Văn, thầy Cung Giũ Nguyên dạy Pháp văn... Tôi
nói đặc biệt vì tờ báo của lớp chúng tôi lúc ấy không trình bày như một tờ báo
tường mà chúng tôi bỏ công làm dưới dạng tạp chí, tập san đàng hoảng, đóng
thành tập, tất cả làm bằng tay, và dĩ nhiên chỉ có một bản duy nhất, độc bản!
Có
hình bìa trước, bìa sau, do các “chú điệu” đang tu học tại chùa Phật học Nha
Trang là Nguyễn Hữu Lợi (bây giờ là nhà nghiên cứu và dịch thuật Phật giáo Hạnh
Cơ), Nguyễn Huệ Khai...rồng bay phượng múa viết chữ Hán bằng bút lông đen trên
nền vàng bài thơ thiền “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Tiền đình tạc dạ nhất chi
mai”, với toàn tập là công trình viết tay của biên tập viên Nguyễn Hữu Đàm nắn
nót!
Bao
nhiêu là nước đã chảy qua cầu...
Bây
giờ thỉnh thoảng làm thơ, nhưng dẫu sao bài thơ vụng dại nhưng thơ mộng chân
tình nhất về một chiếc thuyền gợi lên từ trong những giờ học Văn với thầy Thạch
Trung Giã vẫn là bài thơ khó quên nhất của tôi.
Có
một chuyện vui vui nhưng đã làm điên đảo tôi thuở ấy, một đứa học trò nhỏ, mười
lăm tuổi, nhút nhát, ít bạn bè, ít nói (chứ không phải lắm lời và lắm bạn như
tôi tùm lum hiện nay!!!) Một buổi chiều ở lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn, những bạn nào
cùng học với tôi có thể cũng còn nhớ, anh trưởng lớp bảo mọi người ở lại để họp
lớp, trưởng lớp tên là LMT, tôi nhắc lại để biết việc đó mấy chục năm sau vẫn
như còn hiển hiện trước mắt. Cả lớp họp để tố cáo và làm kiến nghị gửi lên thầy
hiệu trưởng Cung Giũ Nguyên là thầy Thạch Trung Giã không biết dạy Văn và một
tội trạng nữa của thầy là đã quá thiên vị Hoàng Bắc, nghĩa là bất công với cả
lớp… Chuyện kiến nghị của bọn trẻ con cũng là một hình thức tập tành dân chủ,
rất tiến bộ của tinh thần học sinh miền nam thời ấy, nhưng lúc đó, đã làm tôi
sợ điếng hồn, mất ăn mất ngủ suốt cả tuần, cả tháng, thậm chí thấy ai trong lớp
cũng sợ, gặp mặt trưởng lớp chỉ muốn lủi trốn. Tôi lại còn đau lòng, và khóc,
và lo lắng cho cả thầy nữa! Có lẽ thuở ấy nhìn bọn nhóc làm dân chủ không chừng
thầy còn thấy vui vui nữa là khác. Vậy mà tôi hốc hác vì lo cho thầy! Nhưng chỉ
là lo lấy một mình mà thôi,tôi nào có biết ăn nói thế nào để gọi là bày tỏ hay
chia sẻ gì với thầy đâu!
Tôi
sau đó được đổi trường, từ trường Bán công chuyển thẳng vào Đệ Tam C trường
Công lập Võ Tánh, một môi trường mới, lại được học lại với thầy. Lúc xếp hàng
chờ vào lớp, thấy thầy đang đứng chờ ở cửa, lòng tôi mở rộng reo vui! Chương
trình Tam Giáo ở Tam C với thầy, tôi bắt đầu hiểu đạo Phật, theo thầy, ngoài
việc là một tôn giáo, còn là một triết lý sống, một khơi nguồn cho những cảm
hứng vô biên cho hai nền văn học Lý Trần vĩ đại của văn học Việt. Sau đó là Nhị
C Võ Tánh, không hiểu sao thầy Giã thôi không dạy chúng tôi một dạo, và thay
vào đó, thầy Nguyễn Tri Tài. (Sau này tôi gặp lại thầy khi học Dự Bị ở Văn Khoa
Saigon, thầy Tài dạy Triết ở Dự Bị.) Nhưng tôi chỉ thích học với thầy Giã thôi,
tất nhiên, bằng cảm tính, tôi không thích thầy Tài. Cũng là chuyện trẻ con thời
ấy, tôi và bạn thân học cùng lớp Lan Xuân, đã “sáng tác chung” một bài thơ...
giễu thầy, ngay tại bãi biển Nhatrang, trong lúc hai đứa chúng tôi đi tắm biển:
“nhatrang
có Tri Tài
cứng
cứng lại dai dai
cái
chân hình như... cụt
khi
nói miệng đến tai!”
Xin
lỗi thầy Tài, nếu vô phước thầy đọc phải những dòng này! Chúng tôi cố phác họa
hình ảnh thầy đứng trên bục giảng như chúng tôi thấy: khi giảng bài, thầy luôn
luôn đứng sau bàn giáo sư, hai tay chống trên bàn, một chân đứng thẳng, một
chân đu đưa, và miệng thì nói liên tục, rồi lâu lâu thầy ngừng hơi, chép miệng,
nuốt nước miếng, rồi như nhai nhai cái gì đó trong miệng. Và quả tình khi thầy
cười thì miệng rộng... vô song. Nếu thầy có vô phước mà đọc phải những dòng này
thì cũng xin thầy rộng lượng tha thứ cho những trò đùa nghịch ngợm của bọn con
nít học trò.
Thương
thầy Giã nhiều quá, tôi đâm ra “bất công” với những thầy/cô khác cũng là chuyện
thường tình. Và cũng có thể, thương tôi nhiều quá, thầy đã có thể bất công với
nhiều bạn khác của lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn thời đó. Tôi nhớ thầy nói oang oang
trước lớp, “…bảo tôi bênh Hoàng Bắc cũng như trách Khổng tử sao lại bênh Nhan
Hồi, Socrates bênh Platon v.v…” Thầy nói chi mà cao xa với một lũ trẻ chỉ 13,
15 tuổi!?
Số
phận lại đưa đẩy tôi lại học Sư Phạm ở Saigon rồi trở về Nhatrang làm cô giáo
dạy Văn, cũng ở Võ Tánh như thầy. Thuở đó có lệ ở Đại Học Sư Phạm Saigon, sinh
viên ra trường được nêu 3 nhiệm sở ưu tiên của mình, tất nhiên là tôi chọn
Nhatrang ưu tiên một. Ai cũng biết Nhatrang là nhiệm sở dành cho các bạn ở Đại
Học Sư Phạm Huế, không mấy hy vọng cho tôi, nhưng tôi tha thiết với Nhatrang
nên cứ ghi vào. Tất nhiên là không được! Nhiệm sở đầu tiên của tôi cũng là một
tỉnh miền Trung như yêu cầu nguyện vọng thứ hai, rất gần Saigon, đó là trường
Phan Bội Châu Phan Thiết. Cũng là nơi tập tành dạy dỗ đầu đời của mình, với
những kinh nghiệm thơ ngây và non nớt. Nhiệm sở thứ hai là hoàn đổi với 1 đồng
nghiệp về TH Diên Khánh và cuối cùng là Võ Tánh, là nhiệm sở cuối cho đến 1975
nó đổi tên thành Lý Tự Trọng. Tôi dạy gọi là lưu dung ở đó gần hai năm, rồi
vượt biên bị bắt, và tất nhiên bị sa thải v.v…
Sau
một chuyến vượt biển cuối thành công, tôi đến Mỹ, và sau đó tình cờ gặp thầy Từ
Mẫn tức là ông Võ Thắng Tiết, người chủ trương Nhà Xuất Bản Lá Bối,Saigon và
sau này NXB Văn Nghệ ở California,ông Tiết cho biết thầy Thạch Trung Giã đang
giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh Saigon thì xảy ra biến cố 75, thầy đã tự vẫn
bằng độc dược…Tôi đã sững sờ thương tiếc…
Ở
Mỹ, tôi đã hai lần đăng báo tìm kiếm các con của thầy, hy vọng nối lại chút
liên lạc với gia đình thầy, nếu được đến thắp nén hương bái biết lần cuối với
thầy…nhưng mãi vẫn chưa có tăm hơi. Tôi nhớ tên thật của thầy là Hoàng Ngọc
Lộc, và tên cậu con trai lớn của thầy là Hoàng Sơn Mộc. Sơn Mộc ở đâu, xin liên
lạc với người học trò cũ của thầy, vì không lẽ, gặp nhau chỉ một lần trong đời
rồi không bao giờ còn cơ hội gặp lại để nói lời bái biệt tạ ơn THẦY một lần hay
sao?
Tôi
vẫn không quên đã học hỏi được sự nhiệt tình, say mê, và lối giảng dạy như đang
trò chuyện với học sinh của thầy. Tôi đã có được những giờ học như là với một
người bạn lớn tuổi có cùng niềm say mê văn chương to lớn và muốn chia sẻ hạnh
phúc này với những người bạn nhỏ tuổi hơn của mình. Trong những giờ học của
thầy, tôi tưởng thầy đang “rút ruột” ra để truyền“bí kíp văn chương” cho chúng
tôi hơn là đang giảng dạy cho học sinh. Có lẽ lối giảng của thầy không đúng với
cái gọi là “phương pháp sư phạm” theo cái nghĩa chật hẹp cứng nhắc nhất của nó,
như tôi đã được học sau đó, và có lẽ lối dạy của thầy thích hợp với cách dạy
sinh viên ở đại học hơnlà áp dụng cho học sinh ở trung học. Nhưng những ai sớm
biết say mê văn chương học thuật, nếu có cơ duyên được học với thầy, những giờ
học kỳ thú với thầy sẽ là niềm khơi dậy, sự đánh thức nỗi say mê văn chương
đang tiềm ẩn trong mỗi con người. Chẳng trách những người học trò xuất sắc môn
Văn ở trung học của thầy sau này đã trở thành những văn nhân, thi sĩ tiếng tăm.Những
tên tuổi Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Mộng Giác,
Nguyễn Xuân Hoàng... tất cả đều đã từng là môn đệ một thời của Thạch Trung Giã
Có
nhiều kỷ niệm vui buồn với nhiều học sinh của tôi. Có biết bao thế hệ học sinh
đã học Văn với tôi trong khoảng thời gian hơn 10 năm đi dạy học? Có bao nhiêu
học sinh đã thương yêu tôi như tôi đã đặc biệt thương quý thầy Thạch Trung Giã?
Chắc là không bao nhiêu, may ra, có thể có vài em đã rắn mắt làm thơ giễu tôi,
như tôi đã từng làm thơ giễu thầy Tài… Nếu có nghe được, biết được, tôi cũng
chỉ cười thôi, vì tuổi trẻ làm gì cũng đáng yêu và đáng được tha thứ. Thậm chí,
lắm khi ôn lại cuộc đời đi dạy của mình, dù là vô tình hay cố ý, tôi cũng đã
phạm nhiều sai lầm đối với các em học sinh của tôi. Mong tất cả các em, nếu có
thể, tha lỗi cho tôi. Cuộc đời đi dạy của tôi không cách gì có thể so sánh được
với cuộc đời đi dạy của thầy Thạch Trung Giã, nếu tôi dám mạo muội so sánh!
Nhiều lắm thì cũng chỉ là như “con giun ngước lên trời, yêu trăng xa vời vợi…”
(Phạm Duy)
Hôm
nay tôi đang nhớ Thầy. Những buổi chiều vàng Nhatrang. Và nắng quái.
Virginia,
tháng 6 năm 2022
934 . TRƯƠNG VŨ Cau chuyện bên một dòng sông.
Sông Potomac dài 383 dặm chạy dọc theo biên giới các bang Maryland, Virginia, West Virginia và thủ đô Washington, D.C.. Trong nội chiến Hoa Kỳ 1861-1865, nó là ranh giới của hai phe Bắc Nam và đã chứng kiến bao thảm kịch kinh hoàng khi quân đội hai bên cố vượt qua vượt lại con sông này. Nhưng, điều đáng nói nhất, đó là một con sông dài và đẹp.
Gần một trăm năm sau, một cuộc nội chiến tàn bạo nổi ra ở Việt Nam. Sau khi chấm dứt, nó đã đẩy rất nhiều đứa con của Việt Nam đến con sông này. Có khác, với họ, trên con sông Potomac hay dọc hai bên bờ của nó, không có thảm kịch. Sông Potomac dài và đẹp.
Giữa thập niên 1990, một nhà văn Việt Nam, Nguyễn Minh Nữu, đến cư ngụ ở vùng Potomac. Nguyễn Minh Nữu là con trai út cụ Phó bảng Nông Sơn Nguyễn Can Mộng (1880 - 1954), một nhà nho, nhà thơ, nhà giáo khả kính. Rời Việt Nam đến vùng Potomac, Nguyễn Minh Nữu mang theo một hành trang tinh thần khá phức tạp, đầy dấu vết của cuộc chiến trên quê nhà, pha lẫn với truyền thống nho gia của gia đình, và một đời sống cá nhân nhiều năng động. Năng động khi là một quân nhân, một du ca, một huynh trưởng Phật tử, một nhà văn, và đặc biệt, một lãng tử. Với một quá khứ như thế, bây giờ, ở một vùng đất hoàn toàn mới lạ, vào cái tuổi trên 40, phải làm lại từ đầu với đầy trở lực, mọi sự không dễ. Không dễ như ngắm cái đẹp của một dòng sông. Tuy nhiên, không bắt đầu bằng sức lao động bình thường như rất nhiều người đồng hương khác, Nguyễn Minh Nữu chọn một con đường khó. Nữu quyết định làm một tờ báo tiếng Việt cho cộng đồng Việt Nam. Một tờ báo sống nhờ quảng cáo thương mại nhưng lại mang nội dung văn nghệ, tên là Tuần báo VĂN NGHỆ. “Khi định cư tại Hoa Kỳ, niềm mơ ước đầu tiên và lớn nhất của mình là được cầm bút trở lại. Không thể sống toàn thời gian bằng ngòi bút như khao khát, nên tôi tìm kiếm việc làm từ ngành báo chí.” (Viết Bên Dòng Potomac, Phần 1). “Khi chưa có khả năng làm về văn học, thì hãy làm văn nghệ trước đã.” (Viết Bên Dòng Potomac, Phần 2). Ngoài Tuần báo VĂN NGHỆ, Nguyễn Minh Nữu còn chủ biên Tạp chí Văn học nghệ thuật VĂN PHONG. Tạp chí xuất bản hàng tháng này ra được 18 số thì đình bản.
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026
933 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG viết nhạc, NGUYỄN MINH NỮU viết lời, Tiếng hát Ngọc Huy
932. NP PHAN - NGƯỜI CON DÂU NHÀ HỌ PHAN
1.
Thuở nhỏ, tôi cứ đinh ninh họ Phan nhà
tôi toàn là người bên lương, không có ai và không có nhà nào theo đạo Thiên
chúa. Đối với tôi, những người bên đạo rất xa lạ bởi không cùng tín ngưỡng thờ
cúng ông bà tổ tiên như mình, mặc dù làng tôi rất gần hai giáo xứ lớn của tổng
Trung Châu, phủ Diên Khánh xưa: Giáo xứ Đại Điền và giáo xứ Cây Vông.
Vậy mà, có đôi lần, cha tôi đã dẫn tôi
đi thăm những người (bà con) bên đạo ở làng Đại Điền Nam, thuộc xã Diên Sơn,
nơi tọa lạc nhà thờ Cây Vông. Tôi chỉ còn nhớ hai người. Một người là một phụ
nữ lớn tuổi mà cha tôi gọi là cô Ba (tôi gọi là bà Ba) và một người đàn ông cao
lớn, mặt rỗ mà cha tôi gọi là anh Tư (tôi gọi là bác Tư). Bác Tư là một viên
chức cảnh sát của chính quyền VNCH, mà hình như cha tôi đang có việc nhờ che
chở. Ở cả hai nhà, tôi chỉ nhớ mang máng là có bàn thờ chúa Jesus rất trang
trọng.
Tôi chỉ nhớ có vậy, không hề nghĩ là có
mối liên hệ gì giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con ấy. Tuổi còn nhỏ, chỉ
lo học và chơi nên tôi chẳng quan tâm hay hỏi cha tôi về mối quan hệ này.
Bẵng đi hàng chục năm, tôi cũng quên đi
những chuyến viếng thăm của hai cha con tôi thuở nào.
Mãi hơn hai mươi năm sau ngày thống
nhất, qua lời kể của cha tôi và những câu chuyện góp nhặt từ những người lớn
tuổi, tôi mới biết được mối liên hệ giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con
bên đạo kia.
Họ vốn là những người cháu của bà cao tổ
(bà sơ) họ Phan nhà tôi, một tín đồ Thiên chúa giáo ngoan đạo.
931 . PHẠM VĂN NHÀN Đọc: Tưởng Chừng Đã Quên của Nguyên Minh
PHẠM VĂN NHÀN
Đọc: Tưởng Chừng Đã Quên của Nguyên Minh
( Thư An Quán in & tái bản- Hoa Kỳ
2004 )
Trần Hoài Thư viết :Lời Mở” cho tập truyện : Màu Thời Gian của tôi. Anh viết: “....được đọc một tác phẩm của một tác giả mà mình yêu mến là một niềm vui. Càng vui mừng hơn nữa khi tác giả ấy là một người cùng một thế hệ, cùng một lứa tuổi, trên vai mang cùng chung những thăng trầm của lịch sử...”. Đoạn văn ngắn mà anh Trần Hoài Thư viết trên có gì là “quá đáng ” không, khi anh viết về tôi? Tôi nghĩ là không. Không quá đáng và cũng không “ cường điệu ” gì cả trong câu viết ấy. Tôi nghĩ: anh đã trải lòng mình trên những trang giây để viết “ Lời Mở ” cho tập truyện của Tôi. Và, hôm nay, tôi cũng trải lòng mình khi đọc xong một tác phẩm của người bạn cũ. Tác phẩm Tưởng Chừng Đã Quên của nhà văn Nguyên Minh.
Đọc tác
phẩm của anh để thấy có tôi trong đó; mà đã bao nhiêu năm lầm lũi sống, trong
nước cũng như ra hải ngoại, tôi cứ ngỡ những cậu chuyện, những người bạn một
thời, như: Tưởng Chừng Đã Quên mất rồi.
Vâng!
Nhìn lại thời gian trước 1975, trong quãng đời quân ngũ rày đây mai đó của tôi.
Tôi không gặp lại anh: kể từ khi anh rời khỏi khu phố cổ ngắn và đầy bóng râm
trên con đường Nguyễn Thái Học, Phan Rang - ngôi nhà mang số 11- để vào Sài Gòn
lo cho nhà in và tiếp tục làm tờ Ý Thức. Hình như cuối năm 1969 (?). Và sau đó
đời lính của tôi cũng rời khỏi nơi đóng quân ở Tháp Chàm, để đi đến một nơi
khác, cho mãi đến tháng 4 năm 1975. Ngay cả những bạn bè lúc ấy, nơi thành phố
nhỏ bé Phan Rang tôi cũng không gặp lại kể từ năm ấy. Ai nhỉ, nào: Trân Hoài
Thư, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Ngy Hữu, Chu Trầm Nguyên Minh, Tô Đình
Sự...Cũng vì bao nỗi thăng trầm của lịch sử... nói to lớn cho vui vậy thôi, chứ
thật ra, đời lính thú mà, họ sai đâu thì đi đó. Cũng vì sai đâu đi đó, mà bạn
bè khó gặp lại...Trước 1975, nghe đâu, Trần Hoài Thư đổi vào Nam, thỉnh thoảng
có “dù ” về Sài Gòn gặp Nguyên Minh nơi tòa soạn Ý Thức. Và, cũng từ chỗ này,
Thư còn gặp nhiều anh em khác nữa. Còn tôi thì biệt tăm cá nhạn.
Để rồi,
vào tháng tư năm 1975, bạn bè lại mỗi người mỗi ngã, tan tác. Gặp nhau rất khó.
Tôi thì “chôn chân” tại một thành phố biển nhỏ bé như trong lòng bàn tay. Phan
Thiết. Âm thầm mà sống. Nào ngờ! Đúng quá Nguyên Minh ạ. Tác phẩm của anh Tưởng Chừng Đã Quên. ( Bốn chữ này tôi phải viết hoa và đồ lại cho
đậm nét). Vâng! Với tôi, tôi tưởng tôi quên hết rồi. Ngay như vào cuối năm 1982
được lịnh cho về trong nỗi cơ hàn của một “ bần sĩ ” chánh hiệu . Ngồi bên lề
quốc lộ 1, thành phố Tuy Hòa để đón chuyến xe đò xuôi Nam tìm lại vợ con. Hôm
ấy, lòng buồn não nuột. Tuy Hòa cũng có những người bạn một thời trân quý. Ngồi
giữa lòng thành phố Tuy Hòa nhưng nghe sao rất xa với bạn bè, anh em thuở nào.
Nào: Nguyễn Lệ Uyên , Mang Viên Long, Phạm Ngọc Lư , Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình
Huy Quang và anh Trần Huiền Ân...không biết có còn ở nơi đây không. Hay trở về
quê cũ? Nhớ như in trong trí nhớ, gần
trong khu não bộ, mà sao thấy xa quá. Như NLU, tôi cứ ngỡ bạn ta còn đứng nơi
bục giảng ở đâu miệt sông nước Hậu Giang. Nào ngờ bạn ta cũng đã trở về cày sâu
cuốc bẩm nơi quê nhà Phú Yên. Phải chi biết được NLU ở đó, chắc ngày về của tôi
cũng “ râm rang ” chuyện trò suốt đêm với vài ba ly rượu đế.
Để rồi,
với thời còn bao cấp, đi đứng khó khăn của một người trở về từ một nơi chẳng
được “ lành lặn ” cho mấy. Đành vậy:
Tưởng chừng đã quên. Ấy thế mà hôm nay, chính anh ( Nguyên Minh ) đã đưa tôi về
với bạn bè, với những địa danh nơi tôi đã đi qua, đã một thời “ lăn lộn ”. Tập
truyện ngắn Tưởng Chừng Đã Quên của anh, anh viết cho anh, cho những bạn bè của
anh, và cho cả tình yêu ban đầu của anh nữa, mà sao như anh viết cho chính
tôi...vậy.
930 . HOÀNG XUÂN SƠN - Đứng - Ta còn đứng
ĐỨNG
Anh vẫn đứng. và đứng mãi như thế
Đợi trời trồng thêm một cột tang thương
Áo đã bụi sao còn long lanh chớp
Mắt choáng nâu từ cảnh thổ hoang đường
Sẽ thấy anh sừng sững chiếc trụ đồng
Vững muôn đời không bao giờ gục ngã
Cho dù có hàng trăm vạn lời nguyền
Tình yêu linh thiêng không hề mặc cả
Chỉ một mình em làm anh lu câm
Một lần quay mặt cột đồng rơi lệ
Màu teng xanh loang rã đến âm thầm
Ăn hết màu từng kỷ niệm hoang phế
Và cổ tích mở đầu chương sách cổ
Giấy đã toan xé duyên nợ hồng trần
Nếu thấy dây thắt vòng treo lơ lửng
Là sợi buồn tình thắt cổ hồi âm
•
h o à n g x u â n s ơ n
21. Aout.2026
TA CÒN ĐỨNG
_______________
Mây vàng cuốn hút không gian
Nơi ta còn đứng giữa hang hốc mình
Tuổi đời
Thân nhục vô minh
Sơn hà đến độ
Rụng hình bóng nhau
Bạc xám tóc tơ loạn màu
Ta không còn biết về đâu trạm chờ
Em còn nhớ chuyện bài thơ?
Sao mây
Và dải huyền cơ rộn tình
Ta biết nỗi về rung rinh
Hốt nhiên cơn địa chấn
Thình lình
Ngưng
Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026
929 . HOÀNG KIM OANH - Ta buồn như đá- lạnh ngàn năm
TA BUỒN NHƯ ĐÁ- LẠNH NGÀN NĂM…
(Đọc tập thơ Mênh
mông chiều của Lê Thị Ái Niệm)
Xao
xuyến vì ai những đêm rằm
Những
bước chân xa không dừng lại
Ta
buồn như đá – lạnh ngàn năm…
(Bài
thơ tặng ngày sinh nhật)
Đá vốn là một vật thể cứng rắn vô tri. Nhưng thẳm sâu trong cội nguồn thần thoại của đá,
“linh hồn con người và đá có một mối liên quan chặt chẽ (...) Đá không phải là
những khối vô hồn; những tảng đá sống rơi từ trên trời xuống, sau khi rơi xuống
chúng vẫn là những vật sống (...) Đá và người đại diện cho sự vận động theo hai chiều: đi
lên và đi xuống”[i]… Những hòn đá thô là biểu tượng của tự do, trăm năm ngàn
năm lặng lẽ giữa đất trời ấy, hấp thụ mọi tinh khí của vũ trụ, đã biến thành một
vật thiêng. Ví nỗi buồn như “đá” khiến nỗi buồn của chủ thể “ta” lồng lộng lạ
thường, nhưng
cũng là nỗi câm lặng cô đơn tột cùng tuyệt nhiên không thể chia sẻ, giãi bày.
Tác giả còn nhấn mạnh tiếp
ở vế sau: “lạnh ngàn năm”. Cái số nhiều không xác định, không đo đếm được ấy thực sự đã gợi lên một cái gì vừa
lớn lao sâu đậm, vừa vĩnh cửu, vĩnh hằng.
Phải chăng đó cũng là nỗi buồn trót “mang nặng kiếp người” được thức nhận trong
cái vô cùng của vũ trụ mênh mông?
928 . NGUYỄN VY KHANH - Văn Học Hải Ngoại gia đoạn hình thành 1980-1986
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]
[Ghi chú: Các biên khảo, tuyển tập văn-chương,… xuất bản từ
năm 1980 đến 2025, sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương sau-Một số Nội dung
và Thể loại văn-chương]
GIAI-ĐOẠN TỊ-NẠN CHÍNH-TRỊ
(giai đoạn hình thành, 1980-1986)
Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở
ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Năm 1980 đánh đấu sự
tham gia sinh hoạt văn-nghệ, báo-chí của đợt thuyền nhân/boat people từ đầu năm
1979, chính-trị rõ hơn với kinh nghiệm sống với cộng-sản Hà-nội của người miền
Nam và một phần người miền Bắc (đa số là “bộ-nhân” sang Trung-quốc và Hương
Cảng) và sự xuất hiện tích cực một thời của các Mặt Trận chống Cộng và đấu
tranh nhắm lật đổ chế độ cộng-sản trong nước. Nhà văn GS Đặng Phùng Quân nói về
giai đoạn văn học này như sau: “… văn học lưu vong đã thực sự hình thành; lúc
bấy giờ tôi gọi nó là một văn chương thời thế bởi nhà văn không còn là một hiện
tượng đơn độc mà thể hiện qua một tập thể đông đảo tạo thành một sinh mệnh, một
thế lực văn chương đặc biệt. Tôi coi nó đã mang nguyên vẹn cơ sở văn học từ
trong nước ra bên ngoài. Ðiều này không những là một thách đố mà còn là một
thái độ xóa bỏ cái văn chương bị chỉ đạo ở trong nước, cái văn chương của tập
đoàn văn nghệ chỉ huy và những kẻ cầm bút ăn lương biên chế. Quan điểm này hẳn
làm phiền lòng những người ấy, nhưng đó là một thực tại chứng thực kinh qua sự
tồn tại và phát triển của nó trong một phần tư thế kỷ nay. (Tẩu Khúc Văn
Chương/Triết Lý)
Cộng đồng nhà văn Việt-Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn.
Đặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm
với cộng sản, và đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Đã vậy họ bị cấm viết,
bị cầm tù vì hoặc với "tư cách" là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi
lính cho chế độ Cộng hoà. Nay vượt biên, “đi chui”, hoặc đoàn tụ gia đình (bắt
đầu từ năm 1979, 1980 tùy quốc-gia), tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận
văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại nhờ đó sung tích và đa dạng hơn nữa.
Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn
chính trị, từ tâm thức bị phản bội vào thời 30-4-1975, nay người Việt hải-ngoại
nhận chân chính-nghĩa luôn ở về phía người tị nạn, lưu vong. Viết về chiến
tranh, đa phần vẫn là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng
cay của các trại “cải tạo” và của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí
chống cộng sản độc tài, những trì trệ không “giải phóng” được đất nước khỏi
nghèo đói và chậm tiến, điều này đưa đến khuynh-hướng phục quốc trong
văn-chương đã đành mà còn thực sự song hành với những phản kháng, nổi dậy chống
cộng-sản ở trong nước.
Hơn nữa, trên bình diện thế giới, “chiến-tranh lạnh” vẫn
còn đó, mạnh hơn trước với những “bật mí” về các thủ đoạn tuyên truyền của tập
thể khối cộng-sản cùng đám trí thức thiên tả Âu Mỹ trong chiến-tranh Việt-Nam
cũng như nhiều nơi khác, và sẽ đi vào thời kỳ chót năm 1989.
Giai đoạn này có thêm những nhà văn thơ thuyền nhân và có
những nhà văn viết vì phẫn nộ. Thuyền nhân tị nạn là một bộ mặt khác của
chiến-tranh và sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào
lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những
kẻ thua trận không đặc sắc. Người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc
thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc.
Cũng là thời của những cây viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn, Cung
Vũ, Võ Kỳ Điền, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Trần Long Hồ, Nguyễn Ý Thuần,
Thế Giang (Trần Hưng, 1958 -), Vĩnh Hảo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vũ
Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong,
Võ Hoàng,... bên cạnh những nhà văn tị nạn đã từng hoạt động trước 1975 ở quê
nhà như Nhật Tiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An, … Các tờ Hồn Việt,
Đất Mới, Văn Học Nghệ Thuật, Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Đen, Người Việt,
Việt-Nam Hải Ngoại,… ở Hoa-Kỳ và Làng Văn, Dân Quyền ở Canada và Quê Mẹ ở Pháp
đã là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới và chống Cộng.
Giai đoạn hai, tạp-chí văn-chương Văn Học Nghệ Thuật tiếp
tục với bộ mới, 5-1985 và đổi thành Văn Học “tạp chí sáng tác nhận định văn
nghệ” từ tháng 2-1986, Mai Thảo tục bản tạp chí Văn (7-1982), cũng như xuất
hiện Làng Văn (1984) thu hút được nhiều cây bút mới bên cạnh những nhà văn đã
nổi tiếng,…
Không khí chiến tranh thường trực, không quốc-cộng thì nội
bộ hải ngoại, làm như Việt-Nam là một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa
qua và cái độc “di tản” phần nào ra ngoài nước. Các nhà văn khai thác chủ đề
chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu,
tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu
không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.
Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết
vì phẫn nộ như Nhật Tiến: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của
người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh
cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể
hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ
đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những
đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (6)
Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo,
Nguyễn Mộng Giác, v.v. Ngoài sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh
thức phần nào lương tâm nhân loại và hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của
thế giới cộng sản và thiên tả đã chỉ có giá trị giai đoạn, khi hoả mù chiến
tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới
văn hoá Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Todd, v.v.
Tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực do tuần báo Văn Nghệ Tiền
Phong xuất-bản lần đầu năm 1980 với tựa Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam
“192 bài thơ bi hùng” - ghi Khuyết Danh, theo thông tin khả tín là của Nguyễn
Chí Thiện lúc đó còn ở trong nước, đã thành công ném tập thơ vào sân tòa đại sứ
Anh ở Hà-Nội, được xuất bản như một tiếng sét khác đánh động lương tâm con
người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ấn bản ghi là do
Ủy-ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính-trị tại Việt-Nam, tiếp đó VIVO tức Tổ chức
Người Việt Thiện Chí tái-bản năm 1981 nguyên văn bản đầu, rồi sau đó văn bản và
tựa bị sửa (7).
Nguyễn Chí Thiện từ ngục tối, khi nghe tin miền Nam rơi vào
tay quỷ đã than:
"Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
Cả nước đã quay về một mối
- Một mối hận thù, một mối đau thương !
Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Đảng tới là tan nát cả!
Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa
Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?
Đau đớn này không chỉ riêng ta
Mà tất cả!
Cả những kẻ đã nằm trong mả
Và những bào thai trong bụng mẹ chót sinh ra
Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha
Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ
(...) Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác
Đến bao giờ lấy lại được giang san!
Chế độ này trâu ngựa sống không an
Sài lang đã dựng xong nền thống trị
Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ?
Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn
Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!"
(Vì Ấu Trĩ)