1.
UỐNG RƯỢU CÙNG CHÀNG NGỐC!
Bạn ta than kinh khủng. Kinh khủng
Đời sao mà giống cái vườn hoang
Thối tha cỏ độc đua chen mọc
Âm u. Rờn rợn. Tiếng sói lang.
Nghe bạn. Ta bật cười khục khục
Bạn tôi ơi! Đây rượu! Uống đi
Trời ơi sao hệt như Hăm lét
Trong kịch cùng tên của Sếc pia!
Đời là thế! Tấn trò! Muôn thủa
Nhân gian vậy cả! Thế, thế thôi!
Điên đảo, đảo điên và điên đảo
Khóc cười, cười khóc lại khóc cười.
Sống? Không sống? Hỏi ai? Ai đáp?
Lòng rỗng không. Trời đất hư vô
Hỏi làm chi cho thêm mắc mệt
Nhìn! Thu chết! Vạn vạn lá khô.
Bạn ta than! Đúng là thời mạt
Cạn trơ tận đáy chỉ có tiền
Chiếm ngôi cao! Nghênh ngang ngạo nghễ
Lấn lướt thánh thần phật cùng tiên!
Nghe than! Ta lại cười khục khục
Than chi cho mệt! Uống đi nào
"Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch!"
Thần tiên rồi cũng sẽ lộn nhào!
Tin ta đi! Bạn hiền sầu não
Bạn đang mơ dùng gậy chống trời!
Này hỡi chàng mặt buồn hiệp sĩ
Thiên hạ chừng mê lú cả rồi!
Nhìn mặt bạn sầu bi ảm đạm
Từ cổ thư chàng ngốc bước ra
Tâm phật khẩu xà ngơ ngẩn sống
Ta cười khục khục. Dạ xót xa.
Nào! Dốc chén! Uống đi ông bạn
Thử làm ẩm giả! Thử một lần
Học Lí Bạch khều trăng cùng uống
Thây kệ đời xem tựa cục phân!
Thành bụi hóa bùn! Tan biến hết!
Lưu kì danh! Cũng chuyện hão huyền
Nào dốc ngược! Dốc ngược! Dốc ngược...
Mây trắng đầu! Còn được mấy niên?
Bạn uống rượu hay rượu uống bạn?
Đêm tháng Giêng trăng lạnh như băng
Thăm thẳm trời cùng thăm thẳm mắt
Dòng lệ lăn dài! Sáng long lanh...
2.
TÚY THI
[Tự nhiên thấy Lý Bạch rất gần Baudelaire]
---
Độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm
Uống như trâu như bò
Uống như rồng như rắn
Uống như sát thủ như đạo tặc
Như tiên ông như thi sĩ như gã khùng
Như một nông phu vai u thịt bắp
Như gã trai lông má lún phún ngực chưa kịp nở bụng
chưa kịp thon
Trời quay tròn!
Đất điên đảo
Biển xô sóng dạt
Núi lở suối gào
Tung tóe mặt trời
Vụn vỡ vạn vì sao
Tái xanh trăng xuân lạnh giá
Hoa bay hoa bay bay theo gió
Rượu bay rượu bay bay theo mây
Dốc bình
Dốc ngược cả càn khôn thiên địa
Núi và rừng và suối và sông và biển chếnh choáng
say...
Chân trời vần vũ
Ùng oàng sấm ran
Giêng hai ba chờ
Tháng Ba đợi
Ếch và rắn cùng say
Hổ và lợn cùng say
Ông lão và trẻ thơ cùng ngất ngây
Đợi mùa hè buốt giá
Nào ta mời sông sâu một chén
Núi uy nghiêm một bình
Đất thênh thang một vò
Thăm thẳm rừng tưới mưa làm rượu
Nào ta mời bạn bầu một thủa
Ngàn chén chưa đủ
Ngàn chén chưa say
Nào uống cùng gió uống cùng mây
Để quên
Để nhớ
Nào say
Say một lần
Lần đầu cũng có thể là cuối
Say cùng chất ngất núi
Đá điệp trùng
Mưa giăng tràn trề bốn phía
Nào nước
Nào rượu cuốn đi cuốn đi tất cả
Rác rến bẩn nhơ
Trôi đi
Trôi đi
Thác lũ tràn bờ
Đất đai cỗi cằn
Người cỗi cằn
Thơ cỗi cằn
Cuốn đi
Tiếc làm chi
Than khóc làm chi...
Nào say đi!
Lưu danh cần chi!
3.
CUỒNG THI
[Chợt nhớ CUỒNG VÂN TẬP từng đọc thủa nào...]
------
Cuồng vân tập! Cuồng vân tập! Cuồng vân...
Mây lành, mây dữ, mây hồng, mây xám, mây trắng,
mây xanh
Cuồn cuộn, dữ dằn, lửng lơ, êm ả
Trôi nhanh, trôi nhanh
Lững lờ, quần tụ
Biến ảo khôn lường
Hình thần, hình phật, hình triết gia, hình thi
gia, hình chú chó xồm
Nhanh hơn ngựa qua khe cửa
Nhanh hơn vệt nắng bên thềm
Nhanh hơn đất bằng nổi sóng
Nhanh hơn thương hải biến vi tang điền
Cuồng vân phi thường
Cuồng vân...
Ngàn năm trước đã từng
Ngàn năm sau vẫn thế
Diễm lệ trong những biến ảo
Từng khoảnh khắc qua mau
Cuồng vân vẫy gọi
Ngôn từ ta rượt đuổi
Ngôn từ ta hòa trộn cùng sắc mây vàng, xanh, trắng,
đỏ
Ngôn từ ta như gió trời lồng lộng
Ngôn từ ta hiền hòa và dữ dội
Làm nên một trận cuồng ngôn
Thơ ta viết tung tỏa muôn phương
Vụn vỡ muôn vạn mảnh
Lấp lánh và sù sì và trơ lì và sắc lẻm
Khóc và cười và ủ dột và sầu bi và kiêu hãnh
Lả lướt và vững chãi phím đàn và nhát búa
Cười vang đầm đìa nước mắt
Khóc thầm và lặng câm như đá
Thờ ơ mệt mỏi buông xuôi
Ngôn từ ta như mây ngàn gió núi
Biến ảo khôn lường
Thi sĩ và gã ăn mày
Cuộc dong chơi nghiêm trang suồng sã
Cuộc ra đi miên man
Cuộc trở về nghẹn lối...
Ơi địa ngục tươi đẹp vô cùng sáng láng!
Và những thiên đường u mê những thiên đường mù!
Cuồng thi cuồng vân vời vợi đôi bờ...
Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026
860 . ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên) - UỐNG RƯỢU CÙNG CHÀNG NGỐC
859 -VÕ PHÚ - ĐỌC TÙY BÚT LÃNG ĐÃNG THÁNG NGÀY của LÃNG THANH
VÕ PHÚ Đọc tùy bút của Lãng Thanh
“LÃNG ĐÃNG THÁNG NGÀY”
Khoảng
hai tuần trước, tôi nhận được email của người bạn văn, anh Hiền, người thường
ký tên với những bút danh như Tiểu Lục Thần Phong, Lãng Thanh... Mở đầu email,
anh viết một câu rất dí dỏm: “Tới công chuyện nữa rồi...”
Ðọc
câu viết ấy vừa quen thuộc vừa vui, bởi tôi hiểu ngay rằng anh lại muốn nhờ tôi
một việc; trình bày và in ấn tác phẩm mới của anh. Tập tùy bút Lãng Đãng Tháng
Ngày.
Thật
ra, thời gian của tôi khá hạn hẹp. Công việc ở phòng thí nghiệm, gia đình, các
tạp chí tôi cộng tác và tạp chí Văn Bút Miền Ðông do tôi làm chủ nhiệm, sách vở
của các văn thi hữu và nhiều việc khác luôn chiếm hết những khoảng thời gian
rảnh rỗi. Thế nhưng, không hiểu vì một nhân duyên nào đó, mỗi khi nhận được bản
thảo từ anh Hiền, tôi lại tự nhiên muốn gác bớt những công việc khác để bắt tay
vào làm. Có lẽ bởi giữa chúng tôi có một sự đồng cảm đặc biệt.
Chúng
tôi sinh hoạt chung trên nhiều diễn đàn văn học, cùng chia sẻ những câu chuyện
về chữ nghĩa, nhưng chưa một lần gặp mặt ngoài đời. Vậy mà qua những trang
viết, những trao đổi về sách vở, chúng tôi lại cảm thấy gần gũi như những người
bạn quen từ lâu.
Trong
thời gian này, cũng có một vài văn thi hữu nhờ tôi trình bày và in sách. Có
người vì quá gấp gáp đã đề nghị trả một khoản thù lao rất lớn để tôi giúp hoàn
thành bản thảo trong thời gian ngắn. Nhưng tôi vẫn từ chối, không phải vì công
việc ấy khó, mà đơn giản vì tôi chỉ muốn nhận làm những cuốn sách mà mình thật
sự có sự đồng cảm và hứng thú. Với Lãng Đãng Tháng Ngày cũng vậy.
Tôi
làm sách cho anh không có cảm giác đang hoàn thành một công việc. Nó giống như
một niềm vui, một cuộc trò chuyện thầm lặng giữa người viết và người làm sách.
Văn
của Lãng Thanh rất tự nhiên. Anh viết liền một mạch, như dòng hồi tưởng đang
tuôn chảy. Trong lúc trình bày sách, tôi vừa đọc vừa chỉnh sửa một vài lỗi đánh
máy nhỏ, đôi khi phải sửa những mẩu tự “n” và “m” bị lẫn lộn. Nhưng những điều
ấy không làm tôi thấy phiền, bởi đằng sau những dòng chữ chưa hoàn chỉnh ấy là
một tâm hồn đang muốn chia sẻ những câu chuyện của đời mình.
Anh
cũng là người rất dễ tính với những "đứa con tinh thần" (có thể là do
sanh liền tù tì) chăng? Chỉ gửi bản thảo, kèm theo một số hình ảnh do anh
sưu tầm hoặc xin phép từ các họa sĩ, rồi giao toàn quyền cho tôi tự thiết kế,
sắp xếp. Ở bản thảo này, anh ghi: "Khi nào thấy rảnh thì làm chứ không cần
phải nhanh chi cho mệt nghen Phú! Dùng cái hình aberrant realities làm bìa
nghen Phú…” Sau khi tôi hoàn tất, gửi bản mẫu để anh xem qua, câu trả lời của
anh thường rất đơn giản: “Cho in liền luôn đi Phú.”
Sự
tin tưởng ấy khiến tôi cảm thấy thoải mái và càng thêm yêu quý công việc mình
đang làm.
Chỉ
trong chưa đầy hai tuần, tập tùy bút Lãng Đãng Tháng Ngày đã hoàn thành.
Đây
không phải là một tác phẩm với những biến cố dữ dội hay những câu chuyện đầy
kịch tính. Lãng Thanh không cố tạo ra những cao trào để thu hút người đọc. Anh
chọn một cách viết khác; lặng lẽ ghi lại những "tháng ngày quay quanh,
lãng đãng của bản thân" như trong lời tựa (anh mượn lời của cố nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn): “Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại...” viết những ký
ức, những cảm xúc nhỏ bé nhưng chân thật trong hành trình đi qua năm tháng… Đó
có thể là một buổi chiều mưa gợi nhớ quê nhà; Đó có thể là một cuộc gặp gỡ bất
ngờ với người quen cũ; Đó có thể là những đổi thay của cuộc sống nơi đất khách
quê người. Hay đơn giản chỉ là những vui buồn, mất còn mà mỗi chúng ta đều từng
trải qua trong cuộc đời.
Một
trong những điều để lại nhiều dư âm trong tôi khi đọc tập tùy bút này chính là
cách Lãng Thanh ghi lại những trải nghiệm rất đời thường nhưng lại chứa đựng
nhiều suy ngẫm. Một ngày đi làm nơi xứ người, một va chạm trong công việc, một
phút giây nóng giận, một lần đứng trước sự lựa chọn giữa hành động theo bản
năng hay giữ gìn sự tỉnh thức… tất cả đều trở thành những câu chuyện để nhìn
lại chính mình.
Có
những lúc trong công việc, anh phải đối diện với sự bất công và áp lực. Là
người có kinh nghiệm, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng lại nhiều lần bị người
quản lý trách móc, giao những phần việc khó khăn, thậm chí cảm thấy bị đối xử
không công bằng. Cơn giận bùng lên, ý nghĩ trả đũa xuất hiện. Ở vị trí của
mình, anh hoàn toàn có khả năng làm tổn thất cho công ty mà không ai hay biết,
nhưng rồi anh dừng lại.
Không
phải vì sợ hãi, mà vì nhận ra rằng sự trả thù trước hết sẽ làm tổn thương chính
tâm mình. Những món linh kiện, máy móc vô tri không có lỗi trong những bất công
mà anh phải chịu đựng. Nếu cố tình phá hoại, anh không làm mất đi sự bất công
ấy mà chỉ tự tạo thêm một nghiệp xấu cho chính mình.
Lãng
Thanh cũng kể về cuộc sống của một người Việt giữa môi trường đa văn hóa, nơi
anh làm việc cùng những con người khác màu da, khác tôn giáo, khác nguồn gốc.
Có lúc anh từng giấu đi thân phận và niềm tin của mình, nhưng rồi anh nhận ra
rằng không có lý do gì phải che giấu một phần căn tính đáng trân trọng ấy. Khi
người khác tự hào về quê hương và đức tin của họ, anh cũng học cách tự hào mình
là một Phật tử Việt Nam.
Những
câu chuyện như vậy làm nên nét riêng của Lãng Đãng Tháng Ngày. Tác giả không cố
đưa ra những bài học đạo lý khô cứng, cũng không đứng ở vị trí của người giảng
giải. Anh chỉ kể lại những gì mình đã trải qua bằng một giọng văn chân thành,
gần gũi. Từ những va chạm rất nhỏ trong đời sống, anh nhìn thấy những vấn đề
lớn hơn: cách con người đối diện với giận dữ, với bất công, với bản thân và với
những người chung quanh.
Có
lẽ chính sự chân thật ấy làm cho những trang viết của Lãng Thanh có sức lay
động. Bởi trong những câu chuyện tưởng như rất riêng của anh, người đọc lại bắt
gặp chính mình; những phút nóng giận, những lần yếu lòng, những khi đứng trước
lựa chọn giữa cái tôi và sự tỉnh thức.
Lãng
Đãng Tháng Ngày vì thế không chỉ là những dòng hồi ký của một người đi qua năm
tháng. Đó còn là hành trình nhìn lại chính mình giữa những bộn bề của cuộc
sống. Một hành trình không ồn ào, không phô trương, nhưng đầy những suy tư về
con người, về quê hương, về thân phận và về cách sống sao cho bình an hơn giữa
cuộc đời nhiều biến động.
Giọng
văn nhẹ nhàng, giản dị và giàu cảm xúc, Lãng Thanh đưa người đọc trở về với
những miền ký ức tưởng như rất riêng nhưng lại mang nhiều điểm chung của những
người Việt xa quê. Trong văn học Việt Nam hải ngoại, có những tác phẩm ghi lại
những biến cố lịch sử lớn lao, có những tác phẩm thiên về nghiên cứu hay suy
tưởng. Riêng Lãng Đãng Tháng Ngày chọn một hướng đi nhẹ nhàng hơn đó là ghi lại
những rung động nhỏ bé của đời sống thường nhật. Nhưng chính những điều nhỏ bé
ấy lại làm nên giá trị của cuốn sách. Bởi cuộc đời mỗi con người không chỉ được
tạo nên từ những khoảnh khắc lớn lao. Đời sống còn được kết thành từ vô số điều
bình dị: một buổi sáng yên tĩnh, một người bạn lâu ngày gặp lại, một con đường
quen thuộc, một mái nhà đã xa, hay một ký ức bất chợt trở về trong một chiều
muộn.
Đọc
Lãng Đãng Tháng Ngày, người đọc có thể bắt gặp chính mình trong những trang hồi
tưởng ấy. Có đoạn khiến ta mỉm cười. Có đoạn khiến ta lặng im suy nghĩ. Có đoạn
lại đánh thức những kỷ niệm tưởng đã ngủ quên trong góc sâu của tâm hồn.
Cuốn
sách giống như một cuộc đi bộ chậm rãi trên con đường ký ức. Không vội vàng.
Không ồn ào. Chỉ là những bước chân thong thả nhìn lại tháng năm đã qua để hiểu
hơn giá trị của hiện tại. Và, (có lẽ) đó cũng là điều đẹp nhất mà Lãng Đãng
Tháng Ngày mang lại.
Sau
khi khép lại trang sách cuối cùng, điều còn đọng lại không phải là một câu
chuyện cụ thể, mà là một cảm giác nhẹ nhàng và ấm áp. Ấm áp bởi tình người. Ấm
áp bởi tình quê. Ấm áp bởi những ký ức đẹp của một đời người.
Lãng
Đãng Tháng Ngày không phải là cuốn sách để đọc thật nhanh rồi đặt xuống. Lãng
Đãng Tháng Ngày là một tập tùy bút cần được đọc chậm, để người đọc có thể dừng
lại ở một câu văn, một hình ảnh, một kỷ niệm và bất chợt nhớ về những tháng
ngày của chính mình.
Với
những ai yêu thích thể loại tùy bút, yêu những trang văn giàu cảm xúc và những
câu chuyện mang hơi thở hoài niệm, Lãng Đãng Tháng Ngày là một tác phẩm để đọc.
Bởi suy cho cùng, trong cuộc đời mỗi người, ai rồi cũng có những tháng ngày
lãng đãng như thế với những tháng ngày tưởng đã trôi xa nhưng thật ra vẫn âm
thầm ở lại trong ký ức.
Võ
Phú
Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026
857. PHẠM THÀNH CHÂU Cà phê cà pháo
856 . Thơ Phạm Cao Hoàng; Mây khói quê nhà.
Thơ Phạm Cao Hoàng; Mây khói quê nhà.
hôm ấy con về thăm Phú Thứ
gặp lại mùi hương của ruộng đồng
gặp lại những năm và tháng cũ
mây khói quê nhà nhẹ bước chân
mùi hương của đất làm con
nhớ
những giọt mồ hôi những nhọc nhằn
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh
mùi hương của đất làm con
tiếc
những ngày hoa mộng thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùa lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền
ngày mai con lại ra đi nữa
cứ đi hoài mà chẳng đến nơi
ước mơ ngày ấy giờ chưa đạt
mà bóng thời gian đã muộn rồi
Phạm Cao Hoàng
Tuy Hòa, tháng 11.1999
Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026
855. HỘI CHỢ NEUILLY Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch & giới thiệu
Tên thật là Émile Salomon
Wilhelm Herzog, lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu
tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm
1918. Bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị
định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm
1938.
André Maurois
để
lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – có
người dịch là Tâm cảnh
-, Terre promise – Đất hứa – Les
Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa
và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hồn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - .
Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo luận ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu –
Au commencement était
l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông
còn là nhà viết sử với các
cuốn Histoire de l’Angleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch
sử Hoa Kỳ ), Histoire de France
( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một
loạt tác phẩm viết tiểu
sử các văn nghệ sĩ (
Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire,
Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia (
Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )…
Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm “Thư
gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi
tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác
phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều
vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình
yêu, tín ngưỡng…
Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của
Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với
nhan đề Tu seras un homme, mon
fils.
Truyện ngắn của André Maurois là một bộ phận có vị trí quan
trọng trong sự nghiệp sáng tác của Ông. Đó là những tác phẩm văn chương có giá trị,
mang đầy đủ, trọn vẹn tính đa dạng và phong cách, khuynh hướng của nhà văn. André
Maurois thường đơn giản hoá những vấn đề éo le, phức tạp, được kể với giọng văn
giản dị, tự nhiên. Kiểu kết thúc câu truyện cũng rất độc đáo với một tình huống
bất ngờ, thường trái với sự chờ đợi của người đọc.
Một số truyện nổi tiếng của Ông là Người tù trở về ( Le
retour du prisonnier ), Hoa violet ngày thứ tư ( Les violettes du mercredi ) rất
được tán thưởng.
Bonnivet hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi gì đó, Maufras nói,
nhưng con đường sự nghiệp của ông ta chói lọi và nhanh chóng đến nỗi lúc nào
tôi cũng xem ông như ông chủ hơn là bạn.
Tôi chịu ơn ông nhiều lắm. Chính ông đã gọi tôi đến làm việc tại văn phòng của
ông lúc ông lên làm bộ trưởng Bộ Công chánh, rồi, khi bộ này giải thể, cũng chính ông ta đã khéo léo “xếp “ tôi vào
Toà Thị chính.
Khi
trở lại chính quyền, ông nắm Bộ Thuộc Địa, lúc này tôi đang có một
nhiệm sở dễ chịu ở Paris nên xin ông cứ để tôi yên ở lại đó.
Quan hệ giữa hai chúng tôi vẫn thân thiết và hai gia đình vẫn thường mời
nhau đến
nhà ăn cơm.Bà Nelly Bonnivet là một phụ nữ trạc tứ tuần, còn xinh đẹp,
được chồng
cưng chiều, tỏ ra là một phu nhân bộ trưởng hoàn hảo. Còn tôi cũng đã
lập gia
đình mười năm rồi và sống hạnh phúc với Madeleine.
Vào đầu tháng sáu, vợ chồng Bonnivet mời chúng tôi ăn tối
tại một nhà hàng trong “ Rừng “ (2). Chúng tôi có sáu người, buổi tối thật vui
vẻ, đến nửa đêm vẫn chưa muốn chia tay. Bonnivet, người đã lâng lâng, ngỏ ý muốn
đi Hội chợ Neuilly. Khi còn nắm quyền, ông thích đóng vai quốc trưởng Haroun-
al - Raschid (3) để được nghe mọi người trầm trồ khi ông ấy đi qua : “ Kìa,
ngài Bonnivet đấy! “
Ba cặp vợ chồng đã quá xuân cố tìm mà không ra cái
hương vị trẻ trung trong những trò chơi con trẻ, thật ra chẳng vui vẻ gì. Chúng
tôi chơi nhiều trò xổ số và trúng giải những chiếc bánh, những con thuyền bằng
thuỷ tinh và những con vật nặn từ bột mì. Ba người đàn ông đã bắn trúng những
con tàu quay, những vỏ trứng trôi lờ đờ trên mặt nước. Sau đó chúng tôi đi tới
chỗ chiếc tàu hoả chạy vòng tròn, có lúc lộ ra ngoài trời, có lúc chui vào
trong tấm bạt như chui vào đường hầm. Nelly Bonnivet đề nghị lên tàu chơi. Madeleine
có vẻ như thấy trò chơi chẳng hào hứng gì và những chiếc đệm ghế không mấy sạch
sẽ, nhưng không muốn mọi người mất vui, thế là chúng tôi đến mua vé. Trong lúc
chen chúc để lên tàu, nhóm chúng tôi bị cắt làm hai. Chỉ có mình tôi cùng toa với
Nelly Bonnivet.
Chiếc tàu nhỏ quay rất nhanh và vòng quay thiết kế làm
sao mà hành khách trên toa cứ ngã nhào vào nhau. Ngay khúc cua đầu tiên, bà
Bonnivet đã suýt ngã vào lòng tôi. Đúng vào lúc này, tấm bạt đã dìm chúng tôi
vào bóng tối và tôi hoàn toàn không thể giải thích với anh chuyện gì đã xảy ra
trong vài giây sau đó. Đôi khi người ta có những hành động mà ý thức không kiểm
soát được. Tôi chỉ có thể nói được rằng Nelly gần như nằm dài trên đùi tôi và
tôi đã vuốt ve bà ấy như một anh lính mới hai mươi vuốt ve cô gái mà anh đã dẫn
đi hội chợ. Vẫn không ý thức được mình đang làm gì, tôi tìm đôi môi bà ấy, và
không bị cưỡng lại, hai đôi môi gặp nhau, nhằm lúc con tàu chui ra vùng ánh
sáng. Như có sự thoả hiệp, chúng tôi vội buông nhau ra ngay và nhìn nhau, choáng
váng, sững sờ.
Tôi còn nhớ là lúc đó tôi đã cố tìm hiểu xem khuôn mặt
bà Nelly Bonnivet biểu lộ điều gì. Bà vuốt lại mái tóc, chăm chú nhìn tôi không
nói gì. Cái giây phút ngượng ngùng đó trôi qua nhanh thôi. Tàu dừng lại, chúng
tôi gặp lại trên sân Bonnivet, Madeleine, và hai người cùng đi kia.
-
Trò chơi này quá trẻ con đối với chúng ta,
Bonnivet mệt mỏi nói, thôi đã đến giờ chúng ta về đi ngủ.
Madeleine tán thành và chúng tôi quay lại Cửa Maillot
(4) và từ biệt nhau. Khi hôn tay bà Nelly, tôi nhìn vào mắt bà, bà vẫn nói cười
vui vẻ với Madeleine, không để lộ một dấu hiệu nào.
Tôi không thể nào ngủ được. Sự việc bất ngờ xảy đến làm
xáo động cuộc sống bình lặng lâu nay của tôi. Tôi chưa bao giờ là kẻ hay theo
đuổi phụ nữ, từ khi lấy vợ lại càng không. Tôi rất mực yêu thương Madeleine và
chúng tôi hoàn toàn tin tưởng nhau. Còn đối với Bonnivet thì tôi vẫn yêu quý và
biết ơn. Vậy mà ma quỷ xui khiến sao mà tôi cứ nôn nóng muốn gặp lại Nelly, muốn
biết cái nhìn của bà ấy khi chúng tôi rời nhau có ý nghĩa gì. Sửng sốt? Hận
thù? Anh biết đấy, con người dù khiêm tốn nhất cũng giấu trong lòng đôi chút
kiêu ngạo. Tôi tưởng tượng một ham muốn kín đáo bỗng trỗi dậy trong giờ khắc ngẫu
nhiên. Nằm trên giường sát cạnh giường tôi, Madeleine vẫn thở đều một cách nhẹ nhõm.
854 . TRƯƠNG VŨ Mưa ướt Vị Thành
