Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

762 .NGUYỄN QUYẾT THẮNG : NGOÀI PHỐ , Thơ LÂM VĂN SANG (Lúc đó lấy bút hiệu là THÁI TRUNG)

 NGOÀI PHỐ - Thơ LÂM VĂN SANG nhạc NGUYỄN QUYẾT THẮNG

Bài này Thắng phổ nhạc năm 1971,  Năm Mươi Ba năm trước. 

Đăng lại để nhớ thương LÂM VĂN SANG vừa từ trần ở Bắc CALIFORNIA.  

Những bằng hữu hiếm hoi còn lại của hơn nửa thế kỷ trước là

 ĐOÀN VĂN KHÁNH, NGUYỄN QUYẾT THẮNG, NGUYỄN MINH NỮU  xót xa tiễn đưa người.






761 NP PHAN - Trang thơ LẶNG LẼ, NỖI BUỒN CHƯA ĐƯỢC CHỈNH TRANG, THƠ TÌNH THÁNG BA.

                                                                                         


lặng lẽ

 

 

lặng lẽ một dòng sông

đâm nhánh về phía biển - mặt - trời

mùa lặng thinh chới với

lặng lẽ buồn vui rong chơi

lặng lẽ bức tường xám vô vi

 

có một góc tự do nhỏ nhoi

đang nhảy múa một hình hài

trong sự lặng lẽ đa cảm

giọt nước mắt yếu ớt

sớm giã từ bờ mi khỏa thân

khép mở cõi vô cùng

 

lặng lẽ hài xanh âm âm thái dương

em gọi mùa trở giấc

con nước bàng hoàng quẫy đạp cửa sông

chối từ lặng lẽ

 

lặng lẽ em

ngọn lửa

lặng lẽ ngôn từ

cháy lời yêu

                 

760 - GIÓ O HẢI NGOẠI - TƯỞNG NHỚ LÂM VĂN SANG (1950-2026) Vừa Qua Đời Tại San Jose, California

                                                                                       
 NGUYỄN CHÍ THIỆN và LÂM VĂN SANG (Mặc áo Xanh)
 

Đặng lại toàn bộ bài viết trên GIÓ O HẢI NGOẠI 

với sự cho phép của Chủ Biên Gió-O

TƯỞNG NHỚ LÂM VĂN SANG (1950-2026)

Vừa Qua Đời Tại San Jose, California.

Anh là chỗ thân hữu văn nghệ ở San Jose lâu năm.

Từng ở trong nhóm khởi xướng tờ Nhân Văn, của Lôi Tam, Thượng Văn, Tưởng Năng Tiến, Võ Hoàng, Lâm Văn Sang

Từng ở trong nhóm Viet Mercurry News với Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Việt Cường, Trần Đệ, Lâm Văn Sang

Người đàn ông im im, cười cười, ly dị, có vài cuộc tình lộ và không lộ với vài người phụ nữ cũng hơi nổi nổi ở San Jose

Kỷ niệm đáng nhớ với Gió O là lần giáo sư nhà văn Triết Đặng Phùng Quân về ra mắt sách Triết ở San Jose vào năm 2007, bạn của Đặng Phùng Quân là một ông Triết khác lên phát biểu sao đó, Lâm Văn Sang về viết bài cà khịa, Sau đó ông Triết Đào Trung Đạo cũng cà khịa lại, gửi bài kêu tôi đăng lên Gió O. Tôi phải ốp hai ông đàn anh này lại ngay lập tức.

Vụ hai bên cà khịa xảy ra trên Gió O trước đây giữa một ông nổi tiếng trong nước là nhà văn Trần Mạnh Hảo với một ông to mồm ở Hải Ngoại là Trần Nghi Hoàng. Cả hai sau đó giựn Gió O và đi luôn. Không sao.

Lâm Văn Sang nghe nói bị bệnh lẫn và vào nhà dưỡng lão của ông bạn bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi lưu trú mấy năm qua.

Nay nghe tin Lâm Văn Sang vừa qua đời . Bằng hữu văn nghệ ở San Jose chia buồn cùng gia đình anh.

Nguyện cầu hương hồn anh ra đi thanh thản về miền vĩnh phúc!

.

Đưa một bài viết của Lâm Văn Sang lên đây để tưởng nhớ anh,


Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

759 , LÊ ĐỨC LUẬN . NỖI LÒNG CHƯA TỎ

                                                                                                



         Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm.   

Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng…  

 Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện. 

Ông hy vọng Chúa nhân từ thấu lòng nhân thế mà xót thương và tha thứ cho người nữ tu đã khấn trọn đời dâng hiến, nhưng trong giây phút yếu lòng đã để tình cảm lứa đôi lay động tâm hồn. Và biết đâu một mai Chúa sẽ cho hai kẻ yêu nhau với mối tình đầu cao thượng được gặp lại ở chốn Thiên đàng? 

 

Chiều nay, ngồi trên ghế đá công viên nơi đất khách, ông Lân đang thả hồn theo những chiếc lá vàng chao trong gió…Bỗng xuất hiện đôi thiếu niên nam nữ âu yếm nắm tay nhau, thong thả dạo bước dưới bóng mát của những cây phong cổ thụ nơi góc vắng công viên, gợi cho ông nhớ lại những lần dạo chơi cùng cô gái bắc kỳ di cư nho nhỏ, xinh xinh dưới những hàng keo già nơi xóm đạo… 

Giờ đây, nỗi nhớ không thể chạm đến và niềm thương không thể gọi thành tên - lòng ông xao xuyến nhớ về…  

Nắng chiều buông xuống - chỉ còn đậu lại trên đọt những cây phong già ánh vàng le lói. Ông vẫn ngồi bất động trên ghế đá công viên nhìn lá vàng rơi. Bỗng ký ức trỗi dậy! Rồi bao kỷ niệm hiện ra trong trí nhớ như đoạn phim quay chậm: từ thuở thiếu thời cho đến lúc trưởng thành.  

Ông Lân được sinh ra và lớn lên ở một làng quê cách thị xã Tuy Hòa chừng bốn cây số. Trong chín năm kháng chiến (1945-1954), quê hương ông nằm trong vùng Việt Minh kiểm soát. Ông nhớ dưới thời Việt Minh, người lớn trong làng gọi đám nhóc tì như ông là nhi đồng. Nhi đồng thời ấy có những thú vui là đêm đêm đốt lửa trại, đánh trống ếch: bùm… bum… rồi đốt đuốc đi quanh làng hô khẩu hiệu vang trời. Đến Tết Trung Thu, Hội Phụ Nữ (là các bà mẹ) nấu nồi chè đậu đen to tướng, phát cho mỗi đứa một chén, thêm vài cái bánh ít lá gai - vừa ăn, vừa hát đồng ca bài “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”. Thế là vui!  

Còn chuyện học hành chữ nghĩa thời ấy thì “được chăng hay chớ”- việc học hành chỉ để thoát qua cái nạn mù chữ. Hầu hết già trẻ gái trai trong làng ban đêm đều học lớp “Bình dân học vụ”. Đám thiếu niên, nhi đồng được đến trường, nhưng thường học qua bậc tiểu học rồi thôi và ở nhà giúp cha mẹ trong công việc đồng áng. Rất ít đứa học lên cao (vì học lên cao phải đi xa nhà - rất tốn kém). Trường học thời đó, có thể là đình làng, hay căn nhà tranh cất đơn sơ núp dưới những tàn cây cổ thụ để máy bay Pháp khó phát hiện. Đặc biệt, chung quanh trường có những hầm tròn, sâu gần một mét. Khi nghe tiếng máy từ xa, đứa học trò ngồi gác bên ngoài đánh kẻng báo động… học trò vội vã chạy ra khỏi lớp, nhảy xuống hầm tròn. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, ông Lân vẫn còn nổi da gà khi nhớ lại: dưới các hầm tròn thường có những con rắn trun, rắn hổ mang nằm dưới đó.  

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

758 . THÀNH ĐỒNG NGUYỄN (TRỊNH CHU) - Tranh NGỰA -2026 Acrylic 79.5x59.5

 


757 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG : Nhạc phổ thơ BAN MÊ MÙ SƯƠNG Phổ từ thơ ĐOÀN VĂN KHÁNH

 



756. TIỂU LỤC THẦN PHONG . THƯA RẰNG SON SẮC XUÂN XANH.

                                                                                                    



Sáng nay vườn ta nở  những đóa thủy tiên đầu tiên, trời ơi cái màu vàng rực rỡ, màu trắng tinh khiết thanh tân. Đất trời đông giá mà sao thấy sắc xuân long lanh trên đầu ngọn cỏ. Những đóa thủy tiên nở sớm là dấu hiệu của mùa xuân đang đến.

Thưa rằng xuân xanh vẫn son sắc vĩnh hằng, có đi đến bao giờ! Nhựa xuân âm ỉ chảy trong từng thớ gỗ, mạch lá. Sắc xuân ngủ trong củ hoa chỉ đợi khi trời ấm thì bừng lên. Xuân không đi không đến. Xuân vẫn ngụ giữa trời đông, ẩn trong vô số nụ và chồi. Xuân có ngay giữa hạ với sắc lá xanh biếc. Xuân hòa trong muôn hồng nghìn tía của mùa thu. Xuân ở trong đất mẹ, vi vu cùng làn gió vô tận đất trời. Xuân ấm áp tia nắng và dĩ nhiên róc rách lưu chuyển trong dòng nước miên viễn kia. Xuân chan hòa khắp nhân gian, sáng rực rỡ dung thông ba cõi mười phương.

Mùa xuân đã không sanh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm…Cớ sao ta lại bảo xuân về? Thưa rằng cái tâm cảm em ơi! Vì chúng ta chấp vào cái tướng mà không thấy cái tánh ấy thôi. Phần nữa vì thế gian này là thế giới đối đãi, thế giới nhị nguyên. Vì chúng ta thô nên mới sanh tâm ra vậy.

Năm xưa Lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Cái tâm (soul, spirit, mind, thought…) khi không trụ vào bất cứ vật gì, việc gì… thì nó trở nên kỳ diệu vô cùng, diệu dụng không sao nói hết được! Hầu hết mọi người chúng ta tâm trụ vào tiền bạc của cải, nhan sắc sắc dục, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ chơi bời. Trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên tâm chúng ta không thể dụng được cái diệu. Tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần nên mới sanh tâm xấu – đẹp, đến – đi, tăng – giảm… và từ đó mới có xuân khứ, xuân lai, xuân đáo, xuân này hơn xuân kia…và dĩ nhiên không thể thấy đóa hoa mai ngoài sân trong đêm tối như ngài thiên sư Mãn Giác. Càng không thể “ngộ” đóa hoa sen như ngài Ca Diếp.

755 . NGƯỜI TÙ TRỞ VỀ Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

 



André Maurois, tác giả Pháp (1885-1967), để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý (Bernard Quesnay, Climats – có người dịch là m cnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng (Le peseur d’âmes – Người cân linh hn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng -). Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo lun (Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre (Lịch sử nước Anh), Histoire des Etats-Unis (Lịch sử Hoa Kỳ), Histoire de France (Lịch sử nước Pháp).

Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ (Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust), các chính trị gia (Disraeli, Lyautey), và cả nhà khoa học (Alexandre Flemming)

Truyện ngắn , bên cạnh những thể loại khác,  làm cho  sự nghiệp sáng tác của Ông thêm đa dạng phong phú. Ông không chọn những đề tài lớn mà chủ yếu chỉ là những vấn đề bình thường của cuộc sống hàng ngày, trình bày qua một giọng văn giản dị, tự nhiên, và lối phân tích nội tâm tinh tế, sâu sắc. 
          
Cùng với Hoa violet ngày thứ tư (Les violettes du mercredi), Khách sạn Thanatos (Thanatos Palace Hotel), Hoa từng mùa (Fleurs de saison)..., truyện Người tù trở về (Le retour du prisonnier) dưới đây góp phần khẳng định tài năng một nhà văn với bút lực sung mãn.

André Maurois, (1885-1967)
     
Câu chuyện tôi kể đây là chuyện thật, xảy ra vào năm 1945 trong một làng ở nước Pháp mà chúng tôi gọi là Chardeuil, dù nó không phải tên của làng, tên thật chúng tôi không nói ra vì những lý do hiển nhiên ai cũng hiểu. Chuyện bắt đầu trên chuyến tàu lửa đưa những người tù Pháp từ nước Đức trở về. Cả thảy có mười hai người trên toa tàu thường chỉ chở mười hành khách, chật chội khủng khiếp, mệt mỏi nhọc nhằn, nhưng phấn khích và sung sướng, vì cuối cùng họ đều biết rằng, sau 5 năm xa cách, nay họ sắp được trở về với quê hương, nhà cửa, gia đình.

Đối với hầu hết mọi người, hình ảnh luôn ngự trị trong tâm trí của họ suốt cuộc hành trình là hình ảnh người phụ nữ. Tất cả nghĩ đến người đó với thương yêu, hy vọng, có người lại lo lắng. Người họ sẽ gặp lại có thuỷ chung không? Người đó đã gặp ai, đã làm gì trong suốt thời gian dài đằng đẵng sống một mình? Những người đã có con đỡ phần lo lắng hơn. Vợ của họ đã phải bận rộn chăm sóc con cái, và có chúng với niềm vui con trẻ ắt sẽ làm cho những ngày đầu chung sống trở lại dễ dàng hơn. 

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

754 . BÙI HỮU ANH HUY : LOANH QUANH CÙNG TRỊNH CÔNG SƠN TRONG "MỘT CÕI ĐI VỀ"

                                                                                                  


Vào cuối năm 1974, Trịnh Công Sơn – lúc đó đã là một nhạc sĩ nổi tiếng – sáng tác một bài hát với tên "Một Cõi Đi Về". Trong thời cuộc những tháng năm sau đó, bài hát này rơi vào quên lãng cho đến khi ca sĩ Khánh Ly trình bày lần đầu tiên ở hải ngoại vào năm 1977.

Bây giờ thì Trịnh Công Sơn đã ra đi. Suốt một phần tư thế kỷ, chúng ta không còn người nhạc sĩ từng ghi nhật ký cho trái tim Việt Nam qua những ca khúc của mình.

Và tôi, sau một đời đã đi loanh quanh, đã mỏi mệt, một hôm chợt tìm lại lời hát của Một Cõi Đi Về, và xin được ghi lại một vài cảm xúc của mình.

Lời ca của Trịnh Công Sơn luôn mang chất thơ và triết lý gói trọn trong những ca từ mờ ảo. Có thể nói rằng nghe nhạc Trịnh cũng như xem một bức tranh trừu tượng; người nghe cũng như người xem, được mời gọi để hiểu theo một cách rất riêng. Những gì chia sẻ ở đây cũng chỉ là cảm nhận cá nhân.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt

Trịnh Công Sơn nhận xét kiếp nhân sinh là cứ đi loanh quanh, không đi tới.  Tôi liên tưởng đến một con vật bị buộc dây ngoài sân: tưởng rằng chạy rất xa nhưng thực ra chỉ quay quanh một vòng tròn. Nhân sinh chúng ta dường như cũng vậy, bị ràng buộc bởi những sợi dây vô hình của tham – sân – si hay cơm áo gạo tiền, đi mãi rồi lại trở về chốn cũ, và cuối cùng chỉ còn lại sự mỏi mệt.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

753 . NGUYỄN VY KHANH : NGUYỄN VĂN SÂM, NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC MIỀN NAM

                                                

            NVS, Lâm Văn Bé và NVK, 3 thành viên trang mạng namkyluctinh

 

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm sanh năm 1940 tại Sài-Gòn, trước 1975 là giáo-sư Việt văn và Triết ở các trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu (Mỹ Tho), Petrus Ký và các trường Ðại Học Văn Khoa (Sài-Gòn, về Chữ Nôm), Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hoà Hảo, Cần Thơ. Ông khởi đầu sự nghiệp với những công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn-học sử. Các biên khảo của ông đều lấy chủ đề là văn học miền Nam: Văn Học Nam Hà: văn-học xứ Đàng Trong (Lửa Thiêng, 1971, tb 1973. 442 tr.), Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (Tựa Thẩm Thệ Hà, Kỷ Nguyên, 1969. 466 tr.) và Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp 1945-1950 (luận án Cao học Văn-chương Việt-Nam; Lửa Thiêng, 1972. 295 tr.; Xuân Thu tb, 1988) - đã là những đóng góp độc đáo cho mảng văn học thường không được đánh giá đúng mức này. Không được đánh giá đúng mức, vì sau 1954 ở miền Nam, “kháng chiến” thành kiêng kị, “hồn ma”, rồi xuất hiện con cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông đã đi xa hơn hai cuốn Văn Học Miền Nam của Phạm Việt Tuyền và Đông Hồ và đã đưa vào văn học sử mảng văn học yêu nước và kháng chiến của miền Nam, phần nào "chính danh" lại cho những văn nghệ sĩ miền Nam vốn vẫn bị đảng Cộng sản sử-dụng cho các chiêu bài "yêu nước" và "dân tộc" của họ!

Ở miền Nam, Thế Phong là nhà biên-khảo đầu tiên đã giới thiệu giai đoạn văn học kháng chiến này trong Nhà Văn Kháng Chiến Miền Nam 1945-1950 - tập 3 của bộ Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam xuất bản vào năm 1963 sau khi đã đăng trên tạp chí Văn Hóa Á Châu, nhưng Nguyễn Văn Sâm mới là nhà nghiên cứu đánh giá đúng mức tinh thần yêu nước và sự đóng góp cụ-thể và đáng kể của các nhà văn miền Nam thời kháng chiến, với tập Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam và tập luận án cao học về Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp 1945-1950 tiếp theo. Hai tác-phẩm này là một công trình nghiên cứu dồi dào văn bản, tài liệu và tham khảo [Mã Giang Lân trong giáo trình Văn-học Việt Nam 1945-1954 đã đánh giá là "quyển sách có nhiều tư liệu quý, hiếm và có những nhận định thỏa đáng" (tr. 142). Ngoài ra công trình đã được các tác-giả tập Địa Chí Văn Hóa Thành Phố HCM dùng lại khi trích dẫn các tác-phẩm xuất-bản vào thời văn-học này].

752 . TRƯƠNG VŨ : CUNG GIŨ NGUYÊN : TAC GIẢ và TÁC PHẨM

TRƯƠNG VŨ Cung Giũ Nguyên: tác giả và tác phẩm




(Bài viết sau đây nguyên là bài thuyết trình của Trương Vũ đọc trong buổi ra mắt tác phẩm Le Boujoum. Buổi ra mắt do các học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên tổ chức tại giảng đường đại học George Mason, Virginia vào tháng 11, 2003.)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên (1909-2008)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên sinh năm 1909 tại Huế. Lấy tên thật làm bút danh. Cựu học sinh trường Quốc Học Huế. Trước 1954, làm phóng viên và biên tập viên nhiều nhật báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng Pháp. Chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie (Á Châu Buổi Chiều) (1940-1941) và nhật báo La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Ðông Thời Báo) vào 1954. Từ 1947, dạy Pháp văn ở trung học và sau đó làm hiệu trưởng trường trung học Lê Quý Ðôn ở Nha Trang. Từ 1972 đến 1975, giáo sư và chủ nhiệm ban Pháp văn tại Ðại học Duyên hải Nha Trang. Từ 1989 đến 1999, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Pháp tại trường Cao đẳng Sư phạm Nha trang. Ông là thầy của rất nhiều thế hệ học sinh và sinh viên Nha Trang, kể cả thế hệ đầu tiên, bước chân vào trường trung học Võ Tánh năm 1947, lúc đó còn mang tên Collège de Nha Trang.

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

751 .VÕ PHÚ - Phỏng vấn NGUYỄN MINH NỮU-NGƯỜI GHI DẤU VĂN CHƯƠNG BÊN DÒNG POTOMAC

                                                                               


TRẢ LỜI PHỎNG VẤN của Tạp Chí Văn Bút Miền Đông

Nguyễn Minh Nữu – Người Ghi Dấu Văn Chương Bên  Dòng Potomac

Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, văn học Việt Nam Hải Ngoại đã trở thành một dòng chảy đầy màu sắc; nơi những ngòi bút kỳ cựu tiếp tục miệt mài sáng tác, và những cây bút trẻ âm thầm nối bước, dù còn đó không ít thử thách. Giữa dòng chảy ấy, nhà văn, nhà báo Nguyễn Minh Nữu hiện lên như một người lặng thầm nhưng bền bỉ; một “người ghi chép” tận tụy với văn chương, một “người kết nối” giữa thế hệ, và một “người gìn giữ” hồn dân tộc qua từng con chữ.

Sinh năm 1950 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1995, ông không chỉ là người cầm bút mà còn là một người khởi xướng và tạo không gian văn hóa chữ nghĩa đến với văn học và độc giả. Từ Tuần báo Văn Nghệ Washington DC đến Tạp chí Văn Phong, từ Lời Ghi Trên Đá đến bộ sách đồ sộ Viết Bên Dòng Potomac (tập 1 và 2)... mọi dấu ấn mà ông để lại đều thấm đẫm tình yêu với văn học, với quê hương, và với di sản văn hóa Việt.

Đặc biệt, hai tập sách Viết Bên Dòng Potomac, vừa mới xuất bản và ra mắt độc giả, quy tụ hơn 98 tác giả và hơn 800 trang viết, không chỉ là tuyển tập văn chương quy mô lớn, mà còn là một kho tư liệu sống động, phản ánh tâm thức của người Việt xa xứ: những hoài niệm về quê nhà, những trăn trở về ngôn ngữ và bản sắc, và cả những đối thoại thầm lặng với thời cuộc.

Với tất cả những đóng góp sâu rộng và không mệt mỏi đó, chúng tôi, Tạp chí Văn Bút Miền Ðông, xin trân trọng gửi tới quý độc giả một cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Minh Nữu. Đây là những câu hỏi không chỉ xoay quanh tác phẩm, mà còn chạm đến hành trình sống, trải nghiệm sáng tác, và niềm tin vào sứ mệnh văn chương mà ông đã theo đuổi suốt hơn nửa thế kỷ.

Tạp chí Văn Bút Miền Đông (VBMÐ):

1.   Trước hết xin ông cho biết về tiểu sử của ông và quá trình cầm bút từ năm 1970; điều gì đã thôi thúc ông chọn văn chương?

 

NMN: Năm 1965 là năm nở rộ sinh hoạt Thi văn đoàn ở miến nam Việt Nam. Lúc đó, từ  các nhật báo đều dành ra một phần cho sáng tác thiếu nhi, và rất nhiều tờ báo dành cho thanh thiếu niên ra đời với đông đảo đọc giả, có thể nhớ như Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông… Niềm vui của tuổi mới lớn đó không có TiVi, không có internet má chỉ có sách báo và trò chơi thiên nhiên. Tôi cũng như nhiều bạn đồng trang lứa lập các Thi Văn Đoàn rồi làm thơ viết văn gửi đăng  báo …là niềm vui lớn nhất. Các bạn đó, bây giờ, vẫn còn cầm bút như Linh Phương  (tác giả Kỷ vật Cho Em) Trịnh Y Thư ( Có thời làm Chủ Nhiệm Tạp Chí Văn Học Cali) …Tôi cũng vậy. Đó là một thời thật đẹp của thời thiếu nên. Sau đó , đến tuổi trưởng thành, nhập ngũ  vẫn theo đuổi những ham thích đó cho các tạp chí lớn hơn…Cho tới năm 1971, tôi mới có truyện được đăng tải trên Tạp Chí Văn thơi do Nguyễn Xuân Hoàng làm thư ký tòa soạn.

2.   Là người sáng lập và điều hành Tuần báo Văn Nghệ và Tạp chí Văn Phong  ông nhìn nhận vai trò của báo chí văn học Việt tại hải ngoại như thế nào?

NMN: Vì nhu cầu kiếm sống bằng những gì mình biết trên xứ người , tuần báo Văn Nghệ ra đời. Vì thỏa mãn đam mê chữ nghĩa và nhu cầu kết giao với bạn tri âm cùng niềm yêu thich, Tạp chí Văn phong ra đời. Vai trò của báo chí văn học hải ngoại vượt quá tầm suy nghĩ của tôi.