Mây trắng là hình ảnh của cái vốn không có hình dạng sắc màu nhưng biến hiện ra vô cùng hình dạng sắc màu. Mây trắng là hình ảnh của vô thường, của sinh và diệt không ngừng, của xa lìa tất cả các nhãn hiệu bất kể là căn cước của da vàng hay da trắng, của Nam hay Bắc, của Việt hay Tây, Tàu, Mỹ, Nhật... Mây trắng là hiển lộ của tự do, của bình an. Nơi mây trắng không có bạo lực, không có níu kéo buộc ràng hay uốn nắn gắng gượng. Thơ của Lê An Thế là thơ của những ước mơ mây trắng, là lá cờ của mây trắng thong dong như thế.
Nhà thơ Lê An Thế trong các năm gần đây đã ấn hành hai thi tập
để tặng. Thơ không bán, vì thực ra không mấy ai làm thơ để bán. Khi Lê An Thế về
thăm Quận Cam những ngày đầu tháng 3/2026, anh mang theo hai thi tập -- Vòng
Không, ấn hành năm 2022; và Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống, ấn hành
năm 2025 -- để tặng một số bằng hữu.
Tôi nhìn bìa tập thơ Vòng
Không, một vòng tròn biểu tượng của Thiền Tông, và năm ấn hành, năm 2022 là
năm của cao điểm đại dịch COVID-19, nghĩ ngay tới hình ảnh một nhà thơ luôn
luôn sống cận kề nỗi chết. Bản thân tôi từ đầu năm 2020 tới ba năm sau vẫn luôn luôn tự thúc giục
mình phải viết khẩn cấp điều này hay điều kia, vì luôn luôn tự ý thức rằng mình
có thể sẽ chết trong đại dịch. Có lẽ, theo tôi nghĩ, có lẽ Lê An Thế làm những
bài thơ trong tập Vòng Không cũng trong tâm thức như thế. Một vòng luân hồi vô
tận của cõi này nhưng trong thực tướng là một vòng của rỗng rang, vô tướng.
Không thấy và không sống được với thực tướng là Không thì sẽ kẹt mãi ở cõi này.
Bài thơ đầu trong tập
Vòng Không là bài Bát Nhã nơi trang 5. Nơi đây, chúng ta sẽ giữ cách viết của
nhà thơ Lê An Thế, dùng chữ hoa cho tựa đề bài thơ, và sẽ giữ khoảng cách như
anh trình bày.
BÁT NHÃ
Nếu đi ngược lại
tôi sẽ đẩy mẹ xa bố
trong đêm tạo hình
Tôi sẽ không biết tên những
quốc gia những màu cờ
tôi sẽ không biết tên những
dòng sông những ngọn núi
tôi sẽ không biết người
tôi sẽ không biết tôi
Nếu đi ngược lại
tôi có thể đu trên cành
thèm ăn trái ngọt
Nếu đi ngược lại đêm nay
tôi sẽ nghe
dĩa CD tụng kinh Bát Nhã
cho đến sáng.
-- California Jan 10,
2022
Tôi không hiểu hết ý thơ
của Lê An Thế. Tôi chỉ hiểu theo cảm nhận riêng của mình. Tôi cũng không đủ
trình độ học thuật để nói về các trường phái thi ca. Tôi chỉ nhớ rằng chính
trong tháng 1/2022 là những chuyển biến kinh hoàng của đại dịch tại Việt Nam và
Hoa Kỳ, khi nhiều người từ giã cõi này. Tôi chỉ viết theo cảm nhận tự nhiên của
một người sống trong làng văn nhiều thập niên, và trước nhất là từ vị trí của một
người đời thường đang hít thở, vui buồn, đi đứng, viết và đọc, cười và khóc
trong cõi này.
Tôi đã đọc thơ Lê An Thế
nhiều thập niên. Anh mấy năm gần đây đã về hưu, chọn về sống ở Việt Nam và thỉnh
thoảng về thăm Hoa Kỳ. Lê An Thế tên thật Hoàng Chính Nghĩa, từng có bút danh
khác như Lê Tôn, Lê Bi... Tiểu sử in sau một thi tập viết về anh: Sinh hoạt báo
chí và văn học từ 1976 tại California. Đã cộng tác trực tiếp các tạp chí Quê
Hương (1976), Việt Nam Hải Ngoại (1977), Người Dân (1989), Hợp Lưu (1991), Đối
Thoại (1992). Chủ trương nhà xuất bản Bố Cái (1977) và Trăm Hoa (1991).
Các tác phẩm đã xuất bản:
- Quê Hương và Lưu
Đày, tuyển tập thơ song ngữ Việt Mỹ, in chung với Thục Ngạn, Trần Mộng Tú,
Du Tử Lê (1976).
- Tuyển Tập
Thi Ca Việt Nam 1975-1977, nhiều
tác giả.
- Ngẩng Mặt
Nhìn Trăng Sáng (1978), nxb Bố
Cái, đoản văn, tùy bút, in chung với Hoàng Khởi Phong.
- Thơ Tình Cùng Trời Đất (1980), thơ nxb Bố Cái.
- Thơ
Trích, 1991, thơ nxb Người
Dân.
- Địa Chí
Của Một Người, 1996, thơ nxb Tân Thư.
- Thơ Lê
An Thế, 2009, thơ tự xuất bản
- Một Mình, 2015, thơ tự xuất bản
- Vòng Không, 2022, thơ tự xuất bản.
- Bản Thảo Từ Những
Khoảng Trống, 2025, thơ tự xuất bản.
Thơ của Lê An Thế có nhiều hình ảnh làm độc giả
nghĩ tới Kinh Phật. Thí dụ, chúng ta quen nghe nói tới bể khổ. Và khổ đây là
không riêng một ai. Nơi trang 7 tập Vòng Không (VK), có bài thơ chỉ 4
dòng như sau.
BIỂN MẶN
Nếu biết khóc
Nước mắt mỗi người sẽ
tìm ra sông
Cứ yên tâm
Chúng ta cùng làm biển mặn
-- California Feb 2022
Không chỉ hình ảnh bể khổ,
chúng ta cũng từng đọc thấy rằng toàn bộ ba cõi, sáu đường cũng là trùng trùng
khổ ách. Lê An Thế viết một cách thơ mộng trong bài thơ 3 dòng ở trang 11 của
VK. Cũng ngay giữa mùa đại dịch.
CÁCH KHÓC
Tôi dồn chữ
thành chiếc thuyền giấy
để tiếng khóc trôi tới
chân trời.
-- California Feb 2022
Nơi nào là tận nguồn của
những trận mưa trong cõi này. Có thể nhà thơ muốn nói tận nguồn của những trận mưa
nước mắt? Lê An Thế đã về thăm Việt Nam, đi dọc nam và Bắc, và nhiều thập niên
anh đã đi nhiều nơi ở Hoa Kỳ, chỉ để tìm chỗ mưa rơi, như bài thơ 6 dòng nơi
trang 22 tập VK.
CHỖ MƯA RƠI
Tôi bỏ Hà Nội Đà Nẵng Đà
Lạt Nha Trang Saigòn
tôi bỏ Việt Nam
tôi bỏ New York San
Francisco San Diego
tôi bỏ quận Cam tôi bỏ
nước Mỹ
đi ngược lại
chỉ tìm chỗ mưa rơi.
Tuy nhiên, Lê An Thế chỉ
là một nhà thơ và đôi khi anh uống rượu, khi anh muốn xé ra ngàn mảnh cả ba thời
quá khứ, hiện tại, vị lai rồi đắp vào trang thơ để sẽ là cánh diều bay. Bạn đọc
nào có thể nhớ nơi nào trong Kinh Phật ghi rằng hãy buông bỏ cả ba thời quá khứ,
hiện tại, vị lai để sẽ không còn chút gì dính tới ba cõi, sáu đường này. Bài
thơ 4 dòng noi trang 35 của tập VK như sau.
ĐÊM NAY UỐNG CẠN RƯỢU
Xé thời gian thành ngàn
mảnh
ném xuống trang thơ
tôi sẽ là cánh diều
không bao giờ chạm đất.
-- Dec 31st, 2021
Rồi có lúc, nhà thơ Lê
An Thế thấy rằng anh đi loanh quanh rồi cũng không lìa được bể khổ, kể cảnh khi
anh níu lấy Thiền, như bài thơ 11 dòng ở trang 53 của tập VK, chép lại các khoảng
cách:
HÀNH THIỀN
Gánh nặng những cánh bướm
là Trang Tử
lúc muốn đi tu
tôi trèo lên đứng trên
vai mình
vẫn là cái khổ
tôi vào chùa
vai Phật quá cao
sư trụ trì quá khó
Năm đó tôi bỏ Phật ở lại
chùa
và đi hành thiền loanh quanh California
vẫn chưa đi đến đâu.
Dĩ nhiên, các bạn đều có
thể nhớ rằng, khi Thiền tập mà nói rằng dến đâu cũng đều chưa phải, bởi vì người
thực sự Thiền tập đúng sẽ thấy rằng có đang có bước đi Thiền, nhưng thấy không
hề có ai đang Thiền và do cậy cũng không gọi là đi đến đâu, khi cả hai bờ đều
biến mất. Bài thơ hai dòng nơi trang 54 của tập VK ghi như sau.
VÀ
Bây giờ tôi đã quên
Phật ở chùa nào?
-- California Feb 2022
Bây giờ chúng ta có thể
chú ý tới một bài thơ xuôi, dài 6 trang, từ trang 93-98 trong tập VK, tựa đề
"30 THÁNG TƯ 2019" trong này Lê An Thế, một người từng tham chiến
trong quân lực VNCH và ra đi kịp cuối tháng 4/1975, ghi trong bài thơ dài khi
anh nhìn lại, viết tại Sài Gòn vào ngày 30 tháng tư 2019. Nơi đây sẽ trích như
sau.
Trích từ trang 94:
Có lúc Việt Nam và tháng tư là một. Có lúc
tôi và cơn mưa sớm tháng tư Việt Nam là một.
Tháng tư 2015, tôi quay trở lại những vùng
chiến tranh chúng tôi đã từng sống. Rừng núi Việt Nam vẫn thăm thẳm. Một lần
tôi tới vùng ngã ba biên giới định tìm nơi Đ đã bị một viên B40, chỉ vài tháng
sau khi đến đơn vị. Thân xác cháy đen. Thoát khỏi Huế biến cố Mậu Thân 1968,
tôi, Đ và mấy người bạn về Saigon tình nguyện vào lính cùng ngày, tốt nghiệp
cùng khóa. Chỉ riêng tôi và Đ may mắn cùng một ngày trình diện ở Bộ Tư lệnh
Quân đoàn 2, Pleiku. Nhưng sau đó, không tin tức, không thư từ. Hai đơn vị
chúng tôi có lúc chỉ cách nhau vài chục cây số đường chim bay. Chỉ biết Trung
đoàn 42 Biệt lập của Đ ở Dakto đụng độ nhiều lần ở cuối dãy Trường Sơn, ngã ba
biên giới. Cho đến khi, nửa năm sau, mới biết tin Đ chết qua lá thư của một người
bạn gởi từ Sàigon. Không cơ hội đưa tiễn Đ lần cuối. Chỉ biết Đ thành cố thiếu
úy. Hưởng dương 20 tuổi.
Trích từ trang 96:
Trời tháng tư. Vẫn xanh.
Tháng tư năm nay rất nóng. Không thấy những
cơn mưa. Tôi nhớ vết đạn trên ngực trái H khi chỉ kịp về thăm chốc lát ở Tổng y
viện Cộng Hòa vào 1971. Cũng là tháng tư. 17 tháng tư. Ngày H mất. Sư đoàn 5 Bộ
Binh. H bị thương tại chiến trường sát biên giới Kampuchia. Không có phương tiện
tải thương. Nhiễm trùng. Cả tuần sau mới mang được về bệnh viện thì đã trễ. Cố
trung úy. Hưởng dương 23 tuổi. Oan khiết. Một phần trong tôi đã chết với Đ. Một
phần trong tôi đã chết với H. Một phần trong tôi đã chết với những đồng ngũ chết
trận. Những cái chết trận, tôi càng về sau tôi càng thấy, dù ở bên này hay bên
kia, dù kết quả trận chiến thế nào, vẫn oan khiết, vẫn là bên thua cuộc.
Trong tận cùng, Lê An Thế
trả lời thế gian này bằng thơ. Anh ném chữ lên bầu trời để chữ hóa thành những
cánh diều bay vô tận, nơi rất cao không có gì để buộc ràng vào cõi này. Và khi
anh cuối đầu nhìn vào trang giấy, đó là những gì anh đã chôn vào nét mực. Tập
thơ Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống (BTTNKT) có bài đầu tiên, dài chỉ 3 dòng,
nơi trang 5 như sau.
NGOẠI CẢM THI
Nhỏ nước mắt vào thơ
tôi đã tìm ra, đúng
mộ mình.
Thế rồi vào những ngày
mưa Sài Gòn, khi anh thức dậy nửa khuya và hòi cột điện trước nhà, anh ghi lại
bài thơ 2 dòng nơi trang 16 của tập thơ BTTNKT, như sau.
LÚC MƯA 2 GIỜ SÁNG, LÀM
VIỆC VỚI CỘT ĐIỆN TRƯỚC NHÀ
Gác nhà tao
sao mày còn quá nhiều nước
mắt?
Rồi Lê An Thế có lúc
nghĩ về cái chết của anh: khi nhà thơ từ trần, chữ có thể là cái còn lại duy nhất
của anh, nơi đó anh nghĩ rằng sẽ có người đọc thấy mây trời, như bài thơ 4 dòng
ở trang 40 thi tập BTTNKT, như sau.
DI CHÚC, bản 1
Khi tôi chết
hãy chôn tôi với chữ
đọc thơ tôi
là đọc được mây trời.
Lê An Thế không chỉ nhìn
thấy chữ của anh sẽ là (hay đang là) mây trời. Anh cũng nhìn thấy chữ anh không
dị biệt với mưa, như bài thơ 4 dòng nơi trang 54 của tập BTTNKT, như sau.
DỊCH THƠ
Đôi khi tôi dịch thơ
ra tiếng mưa rơi
chữ và mưa
như 2 giọt nước.
Và rồi tận cùng, Lê An
Thế nhìn về thế giới đầy những chiến tranh này, anh nói trong bài thơ 1 dòng
nơi trang 98 của tập BTTNKT như sau.
THẾ GIỚI CÒN CHIẾN TRANH
Lá cờ tôi là mây trắng.
Mây trắng là hình ảnh của
tự do, của vô thường, của vô sinh diệt trong cõi sinh diệt, là hình ảnh xa lìa
tất cả các nhãn hiệu. Mây trắng không ai chụp bắt được để đưa vào chai, vào lọ,
vào bình để dán nhãn hiệu. Mây trắng vuột ra khỏi tất cả các bàn tay muốn nắm bắt
lấy. Mây trắng không hề phân biệt cần phải trụ lại nơi đỉnh núi này hay cần phải
xa lìa đỉnh núi kia, bởi vì mây trắng không có bờ này hay bờ kia... Nhà thơ Lê
An Thế nhìn thấy thơ của anh là mây trắng như thế.
Hai tập thơ của Lê An Thế
có thể được các nhà bình luận uyên bác phân tích theo một cách khác, mà tôi
không đủ trình độ để hình dung, thí dụ đối chiếu với thơ haiku của Nhật Bản hay
thơ các thời kỳ hậu chiến của Hoa Kỳ. Tôi chỉ tự thấy mình đang đọc thơ Lê An
Thế, y hệt như người nhìn vào chữ và thấy mây trắng và những cánh diều hiện ra
trên bầu trời, nơi xa lìa tất cả những gì xung đột nơi cõi này giữa các lá cờ.
PHOTO:
Lê An Thế vào một ngày
tháng 3/2026 tại Santa Ana, khi anh về thăm Hoa Kỳ (Hình: PTH)
Bìa hai tập thơ.