Viết
Cho Vui có thể coi là một hình thức của nghệ thuật vị nghệ thuật (Art for Art’s
Sake).Trong thể loại nầy, văn chương không cần phải có chức năng giáo dục,
chính trị hay đạo đức. Giá trị văn chương nằm ở cái đẹp nội tại của nó, ở sự
tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, kỹ thuật và nghệ thuật. Sáng tạo nhưng không
quan tâm tác động của nó đến xã hội hay người đọc, không bắt buộc phải phục vụ
nhân sinh. Người viết có thể tìm kiếm tự do tuyệt đối trong sáng tạo, tập trung
vào cái đẹp, sự mới lạ và cảm xúc thẩm mỹ.
Với
nhiều người, viết là công cụ để chinh phục đỉnh cao danh tiếng hay phê phán xã
hội, nhưng đối với tôi, việc cầm bút lúc nầy không phải để tìm kiếm sự công nhận
hay truyền tải thông điệp gì. Tôi viết, đơn giản vì niềm vui. Vào những năm cuối
đời, khi áp lực của tuổi trẻ và sự nghiệp không còn, việc viết văn có thể mang
đến cho tôi cảm giác thư giãn, bình yên và làm sống lại những cảm xúc, kỷ niệm
quý.Nó giúp cho sức khỏe tinh thần vững vàng để duy trì trí nhớ, giúp tôi cảm
thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn …
Trong
ba năm gần đây (2021-2024) ,tôi viết hai truyện dài thuộc loại Viết Cho Vui đã
đăng trên internet và giới thiệu trên báo. Đó là “Chuyện Viễn Mơ Thời Chiến” (gần
400 trang, sau đổi tựa là Dật Sự ) và “ Hình Bóng Biển Trời” (***).
Tôi viết
hai truyện dài chỉ để tự vui với mình, không có bất cứ mục tiêu hay sứ mệnh nào
như đã nói trên. Thật ra, tôi cũng muốn thử xem mình có thể viết được truyện dài hay không, vì tôi thấy phần lớn
tác giả hiện giờ chỉ tập trung viết truyện
ngắn và làm thơ. Họ không có khả năng viết truyện dài ? Với tinh thần đó, việc
viết hai truyện dài như một cuộc phiêu lưu nhỏ.
Nếu bạn có hứng thú, hãy dành chút thời gian đọc qua. Nếu không, cũng không sao . Tôi không kỳ vọng chúng sẽ làm thay đổi điều gì, chỉ hy vọng rằng, ai đó trong số các nhà văn kia có thể tìm thấy chút cảm hứng để thử sức với một câu chuyện dài hơi thay vì cứ mãi viết truyện ngắn ! Biết đâu, hai truyện dài Viết “Cho Vui” có thể đem lại điều gì đó mới mẻ hơn những gì nhàm chán hiện nay !.
Trác Bạt
trong hai truyện trên là nhân vật trung tâm, mang hình tượng của một người có
tài năng đặc biệt. Tên gọi Trác Bạt, nghĩa là “người có tài lạ,” là cách tôn
vinh nhân vật và gợi nhớ cảm xúc của tôi về một bạn học cùng lớp – một học sinh
ưu tú hai lần được Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa vinh danh vào những năm 1959 và
1962 tại Trường Quốc Học Huế.
Trong "Chuyện Viễn Mơ Thời Chiến",
Trác Bạt là người kể những câu chuyện về các ước mơ và khát vọng viễn vông vượt
khỏi thực tại đầy biến động của chiến tranh. Nhân vật này đại diện cho những
người theo đuổi các lý tưởng cao cả, bất chấp những khó khăn thực tế.
Vài câu chuyện viễn mơ điển hình được
nhắc lại ở đây …
Chương
12 nói về phi thuyền Apollo 11 mang theo vũ khí laser để kết thúc chiến tranh
Việt Nam. Nó kết hợp các yếu tố lịch sử với khoa học viễn tưởng và mở ra một viễn
cảnh đầy kích thích về cách công nghệ có thể can thiệp vào các cuộc xung đột khốc
liệt nhất của thời đại. Phi thuyền Apollo 11 hạ cánh xuống Mặt Trăng vào năm
1969 là một sự kiện lịch sử thực sự làm thay đổi cái nhìn của nhân loại về vũ
trụ. Nhưng thay vì chỉ làm nhiệm vụ thám hiểm, tôi tưởng tượng sứ mệnh nầy còn
mang theo một vũ khí bí mật là laser công nghệ cao, được phát triển đặc biệt để
sử dụng như một công cụ kết thúc chiến tranh. Trong truyện , nhân vật Trác Bạt
mô tả những kỹ sư và nhà khoa học Hoa Kỳ đã bí mật tích hợp loại vũ khí này
trên Apollo 11, với mục tiêu cao cả là chấm dứt xung đột ở Việt Nam mà không phải
gây thêm bất kỳ tổn thất nhân mạng nào. Đây là loại vũ khí mang tính cách mạng,
có thể vô hiệu hóa tất cả các thiết bị quân sự từ xa chỉ với một cú bắn laser
chính xác từ Mặt Trăng xuống trái đất .Viễn cảnh này kích thích trí tưởng tượng
vì nó mang đến ý tưởng về một cuộc chiến không có tổn thất nhân mạng, một cách
giải quyết xung đột đầy nhân đạo nhưng vẫn sử dụng sức mạnh của công nghệ.
Trong chuẩn bị, những nhà khoa học của NASA và các tướng lãnh quân đội Mỹ phải
đối mặt với câu hỏi: Liệu loài người có nên sử dụng công nghệ này để can thiệp
vào các cuộc chiến tranh ? Trác Bạt nghĩ đến một cuộc tranh luận nảy lửa giữa
các khuynh hướng, đặt ra vấn đề đạo đức và trách nhiệm của con người trước sức
mạnh vô hạn mà khoa học có thể mang lại.
Cuối
cùng, một câu hỏi khác đặt ra : Nếu viễn mơ nầy trở thành hiện thực, liệu lịch
sử chiến tranh Việt Nam và thậm chí cả thế giới sẽ thay đổi như thế nào? Câu
chuyện đã đưa người đọc vào một hành trình đầy ly kỳ, nơi khoa học, chính trị,
và những ước mơ viễn vông đan xen vào nhau…
Tôi vẫn
nghĩ đây là cách tiếp cận độc đáo, vừa mang tính giả tưởng, vừa khơi gợi những
suy nghĩ sâu sắc về chiến tranh và hòa bình. Tuy nhiên, nó vẫn là chuyện Viết
“Cho Vui”.
Tôi còn muốn nhắc đến vài ba câu chuyện
trong Dật Sự mà người khác cho là ngây thơ, vớ vẩn, nhưng đối với tôi chúng lại
gây cảm hứng để viết. Chẳng hạn, muốn Miền Nam trung lập như Thụy Sĩ (chương
14) , muốn Miền Nam có lãnh đạo giỏi như ở Hàn Quốc (chương 24), thậm chí muốn
những người Việt hải ngoại đoàn kết keo sơn , mua một hòn đảo để thành lập một quốc gia mới (Chương 27)…
Tưởng
tượng một Việt Nam với những danh thắng, kinh tế phát triển, và một dân tộc sống
trong an bình, tránh được những tàn phá, đau thương…. trở thành một “Thụy Sĩ của
Đông Nam Á” sẽ mang đến hòa bình cho người dân và là một trung gian kết nối,
hòa giải các xung đột trong khu vực. Trong truyện, làng Trung Châu do một trường
Đại Học Quốc Tế xây dựng, chính là biểu tượng của sự hợp tác quốc tế giữa các
bên đối đầu trong chiến tranh. Làng nằm giữa núi đồi yên bình , cách biệt với
những xung đột chính trị và quân sự của thế giới bên ngoài. Ngôi làng trở thành
biểu tượng cho sự hòa hợp và ổn định, giống như cách mà một quốc gia trung lập
như Thụy Sĩ đứng vững giữa những biến động của thế giới. Khách vào làng Trung
Châu không chỉ được trải nghiệm cuộc sống thanh bình mà còn cảm nhận được tinh
thần tự do, không bị ràng buộc bởi bất kỳ hệ tư tưởng nào. Trong bối cảnh chiến
tranh và bạo lực lan tràn khắp nơi, ngôi làng trở thành một giấc mơ – Việt Nam
trở thành trung lập như bao người mong ước.
Dưới sự lãnh đạo của Park Chung Hee,
Hàn Quốc đã chuyển mình từ một quốc gia nghèo khó sau chiến tranh trở thành một
trong những cường quốc công nghệ và văn hóa của thế giới. Tôi muốn Miền Nam Việt
Nam cũng xuất hiện một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, biết cách quản lý
quân đội và chính trị một cách khôn ngoan cứng rắn và yêu nước như Park Chung
Hee. Người này sẽ xây dựng một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội ổn định, và
đẩy lùi những đe dọa từ bên ngoài. Ngoài việc đưa đất nước thoát khỏi chiến tranh,
nhà lãnh đạo nầy còn đặt nền móng cho sự thăng hoa về mọi mặt của tương lai Việt
Nam …
"Chuyện
Viễn Mơ Thời Chiến" là một sáng tác phẩm , được viết với mục đích giải trí
và đưa người đọc vào thế giới của những giấc mơ viễn vông giữa bối cảnh chiến
tranh Việt Nam. Qua đó, tôi muốn thể hiện những trăn trở sâu sắc về chiến
tranh, hòa bình, và tương lai đất nước, dù là Viết Cho Vui…
Trong
truyện "Hình Bóng Biển Trời", Trác Bạt đóng vai một nhà nghiên cứu
văn học, người đã dành thời gian để viết bản tóm tắt và phân tích các chương
trong hồi ký A Moveable Feast của Ernest Hemingway.Trác Bạt trở thành cầu nối
giữa văn học phương Tây và cảm nhận cá nhân của người Việt, mở ra những góc
nhìn mới về tác phẩm kinh điển này.Nhưng
về bản chất, truyện nầy vẫn là chuyện Viết Cho Vui bởi mục đích chính của
tôi không nhầm gây ấn tượng hay đạt được sự công nhận văn chương hoặc chứng tỏ
điều gì trước công chúng hay giới phê bình, cũng không có tham vọng nghiên cứu
học thuật. Tôi chỉ muốn chia sẻ với người đọc những cảm nhận riêng của mình về
Hemingway…
Chương
đầu tiên của Hình Bóng Biển Trời chính là truyện ngắn Mùa Xuân Biến Sắc. Đọc
truyện nầy, một bạn đọc hỏi tôi “Hình Bóng Biển Trời” có phải là một phóng tác
không ? Xin nói rõ ở đây . Khi nói về một tác phẩm, ta nghĩ ngay đó là loại
sáng tác. Sáng tác là quá trình tạo ra một tác phẩm hoàn toàn mới từ ý tưởng, nội
dung, đến hình thức. Tác giả tự do thể hiện tư tưởng, cảm xúc, và trí tưởng tượng
của mình mà có thể không dựa vào bất kỳ tác phẩm hay nguồn cảm hứng cụ thể nào
có sẵn. Chẳng hạn, một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn mới về một thế giới tưởng tượng
hoặc một bài thơ thể hiện cảm xúc cá nhân của tác giả.
Nhưng
phóng tác cũng tạo nên một tác phẩm văn chương. Phóng tác là dựa vào một tác phẩm
gốc có sẵn, nhưng tác giả thay đổi, chỉnh sửa hoặc sáng tạo thêm vào để phù hợp
với phong cách hoặc mục đích riêng của mình. Phóng tác thường giữ lại cấu trúc
hoặc một số yếu tố từ tác phẩm gốc nhưng có thể thay đổi về các chi tiết. Hoàng
Hải Thủy là nhà văn viết phóng tác nổi tiếng của văn chương Miền Nam trước 75. Ông chuyển thể một tác phẩm
văn học nước ngoài thành một câu chuyện có bối cảnh và văn hóa địa phương, hoặc
có thể thay đổi cốt truyện của một tác phẩm để phù hợp với các đối tượng khác.
Phóng tác thường tạo ra một phiên bản mới của tác phẩm gốc nhưng vẫn dựa vào nền
tảng ấy.
Truyện
dài Hình Bóng Biển Trời không thuộc thể loại sáng tác hay phóng tác, mà tôi gọi
nó là một truyện cảm tác.Theo tôi, cảm tác là việc viết tác phẩm mới dựa trên cảm
hứng từ một sự kiện, một nhân vật hay tác phẩm.Truyện cảm tác không sao chép
hay sửa đổi trực tiếp tác phẩm gốc, nhưng có thể trích dẫn và lấy ý tưởng hoặc
cảm xúc từ bản gốc để làm chất liệu sáng tạo.Viết một bài thơ cảm tác từ một bức
tranh hoặc một bản nhạc, tác giả không sử dụng nội dung cụ thể của bức tranh
hay bản nhạc mà chỉ lấy cảm xúc, ý tưởng từ đó để sáng tác. Như vậy cảm tác là
lấy cảm hứng từ một nguồn bên ngoài để viết thành tác phẩm hoàn toàn mới mà
không sao chép bản gốc.
Hình Bóng Biển Trời lấy cảm hứng từ hồi
ký A Moveable Feast của Ernest Hemingway. Trong truyện nếu có một vài trích dẫn
từ nguyên tác cũng chỉ có mục đích tái hiện con người thật của Hemingway, ngoài
ra tất cả đều ở trong một bối cảnh hoàn toàn mới qua lăng kính của hai nhân vật
chính – Donovan và Trác Bạt. Trác Bạt, một nhân vật tài năng và thông tuệ, dẫn
dắt người đọc qua những dòng văn của Hemingway. Cùng với Donovan, Trác Bạt
không chỉ đơn thuần làm người kể chuyện, mà còn trở thành cầu nối để khai mở và
đưa ra những quan điểm độc đáo về cuộc đời, văn chương và nghệ thuật. Xử dụng
nghệ thuật cảm tác, người viết đã lồng ghép những suy ngẫm cá nhân về văn
chương và cuộc đời, tạo nên một tác phẩm vừa quen thuộc, vừa mới lạ đối với những
ai yêu thích văn chương kinh điển. Hình Bóng Biển Trời dù là truyện viết “cho
vui” nhưng vẫn ẩn chứa bên trong những suy nghĩ và cảm xúc cá nhân …
**
“Ngôi Trường Nhỏ” dưới đây thuộc thể loại
cảm tác – một hình thức văn chương kết hợp giữa hồi ức và hư cấu nghệ thuật, nhằm
khơi dậy những giá trị chân thực nhưng đã bị lãng quên. Truyện ghi lại hình ảnh
một mái trường không bảng vàng thành tích, không tên tuổi trong hệ thống giáo dục
chính quy, nhưng từng là nơi thắp sáng lại niềm tin và nhân cách cho những phận
người sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975.
NGÔI TRƯỜNG NHỎ
(Truyện cảm tác khi đọc lại Hồi Ký)

Người
ta thường nói nhiều về những trường trung học danh tiếng, những đại học uy
nghi, những ngôi trường gắn với bảng vàng truyền thống và hào quang thành đạt.
Ngược lại, rất hiếm người nhắc đến những
mái trường nhỏ bé, nơi học trò không tìm kiếm
bằng cấp danh giá, không bảng vàng thành tích, không diễn văn khai giảng,
không có những kỳ thi náo động – chỉ có những giờ học thầm lặng giữa tiếng quạt
máy và mùi nhựa cháy của board mạch. Học để sống, để làm một người thợ lương
thiện giữa cuộc đời xô lệch. Trong ký ức ông , giữa muôn vàn lối rẽ của đời sống
sau biến cố 1975, có một nơi như thế. Đó là Trường Điện Tử ĐaKao, ngôi trường
không có tên trong hệ thống chính quy, nhưng từng là phao cứu sinh cho bao người
trôi dạt giữa dòng đời hậu chiến.
Ngôi trường ấy nằm nép mình dưới chân Cầu
Bông, dĩ nhiên không có cổng lớn, không cột cờ, không trống trường, càng không
có bảng danh dự hay lễ khai giảng. Nhưng có lẽ chưa bao giờ ông thấy một không
khí học tập nào khẩn thiết và nghiêm túc đến thế. Mỗi học viên đều coi mỗi giờ
học là mỗi giờ giành lại tương lai với đôi bàn tay mình hướng về một tay nghề vững
vàng . Người thầy sáng lập ra Trường Điện Tử ĐaKao không phải là một nhà giáo
được đào tạo bài bản. Ông là cựu sĩ quan chế độ cũ, từng bị đày đọa trong các
trại cải tạo. Sau nhiều năm biệt tích, ông trở về SaiGon tay trắng – không tiền,
không nhà, không danh phận, chỉ còn lại một thứ không ai tịch thu được: trí nhớ
và kiến thức điện tử học được từ Trường Cao Đẳng Bưu Điện Miền Nam những năm
trước 1975.
Và từ chính đống tro tàn đó, ông bắt đầu
thiết dựng một mái trường – bằng đôi tay và lòng kiên nhẫn. Ngôi trường nhỏ ra
đời trong âm thầm, không lễ khai trương, không tuyên bố rầm rộ. Một tấm bảng
treo trước mái hiên nhà viết bằng sơn trắng: “Trường Điện Tử ĐaKao – Dạy Lý
Thuyết và Thực Hành – Nhận Học Viên Không Phân Biệt Trình Độ.”
Ông là hiệu trưởng, là thầy dạy, là người
giữ sổ sách, là lao công quét lớp, là người thay bóng đèn néon nám cháy. Tối tối,
ông cặm cụi đánh máy từng trang giáo trình, vẽ từng sơ đồ mạch điện bằng bút sắt
trên giấy stencil rồi tự tay quay ronéo
để phát miễn phí cho học viên. Không ký tên tác giả . Không ai thấy ông đòi hỏi
một lời cảm ơn.
Một lần, có người hỏi ông:
– Thầy không sợ người ta in lại rồi ghi
tên người khác sao ?
Ông cười nhẹ:
– Tên tôi có đáng gì ? Quan trọng là mạch
nguồn này, nếu làm đúng thì máy chạy, làm sai thì tụ hóa lọc điện nổ tung. Điện
tử không nói dối. Không như miệng lưỡi con
người…
Ông nhớ mãi một buổi học bị cúp điện. Cả
một khu phố ĐaKao tối đen như mực, chỉ còn ánh đèn dầu lập loè. Lẽ ra buổi học
phải hoãn lại, nhưng ông bảo học viên ngồi yên và vào phòng trong lấy ra một
radio Nhật đã tháo tung, và nói:
“Hôm nay học trong bóng tối, để biết
người thợ không chỉ nhìn bằng mắt, mà còn phải nghe được tiếng máy, cảm được từng
mạch điện trong trí nhớ. ”
Và trong ánh sáng lờ mờ ấy, ông thao
tác từng bước một. Khi chiếc máy phát ra âm thanh trong trẻo, cả lớp ngồi lặng
im nghe ông giải thích hư hỏng và cách sửa chữa. Học trò có người nhận ra đó
không chỉ là âm thanh của radio, mà là tiếng nói của lòng kiên trì, của kỹ năng
thực học, lên tiếng giữa đêm tối thời cuộc. Không ai tốt nghiệp Trường ĐaKao với
một tấm bằng nhà nước. Nhưng nhiều người từ ngôi trường ấy đã ngẩng cao đầu làm
thợ, làm chủ, làm người. Nhiều người qua Mỹ, làm kỹ thuật viên trong hãng Intel
hoặc học tiếp lên Đại Học trở thành kỹ sư tiến sĩ điện tử… Có người mở tiệm sửa
điện gần chợ Bà Chiểu. Có người về quê, truyền nghề cho thế hệ sau.
Ông còn nhớ học viên tên Chiến từng đi
bán vé số ngoài bến xe miền Đông, dành dụm từng đồng để đóng học phí hai tháng
một lần. Sau này, Chiến mở một tiệm sửa máy điện gia dụng, rồi làm chủ một gian
hàng linh kiện nhỏ trong hội chợ công nghệ. Gặp lại ông, Chiến vẫn lễ phép:
– Nếu không có thầy và Trường ĐaKao, chắc
giờ nầy em vẫn ngồi lóng ngóng bên lề đường bán chợ trời…
Ngày nay, tên trường đã mất dấu theo thời
gian, người thầy ấy cũng đã đi xa. Không ai nhắc đến Trường Điện Tử ĐaKao trong
những bài tổng kết giáo dục, càng không có tên trong danh mục trường tư thục
hay công lập. Nhưng với những người từng bước qua cánh cửa khiêm tốn ấy, đó là
nơi đã thắp lại hy vọng bằng kiến thức, bằng niềm tin vào đôi tay và trí óc…
Nếu một ngày nào đó có ai viết lại lịch
sử giáo dục Việt Nam, ông không mong gì hơn ngoài một dòng nhỏ dành cho những
nơi như Trường ĐaKao :
“Một ngôi trường không có bảng vàng,
nhưng giá trị của nó còn quý hơn vàng ”
Một lần ông về thăm ĐaKao, nơi từng đặt
tấm bảng "Trường Điện Tử ĐaKao" bằng sơn trắng ở đầu Cầu Bông. Căn
nhà đã bị đập bỏ để cải tạo bờ kênh Nhiêu Lộc ,Không ai còn nhớ nơi đó từng là
một lớp học có một người đôi mắt sáng lên khi nghe ai nói đến điện trở, tụ lọc
và cuộn cảm...
Ông đứng thật lâu trên bờ kênh nay đã
trở thành con đường lát nhựa với những
quán cà phê ngó mặt ra con kênh nước trong trôi lững lờ giữa bầu trời xanh,
nghe tiếng xe vội vả lao theo nhịp đời hối hả. Có gì đó như một tiếng vọng vang
lên từ quá khứ , một quá khứ của radio phát nhạc trữ tình, của tiếng giảng mạch
bằng giọng trầm ấm hạnh phúc…
Ông muốn viết lại lịch sử Trường Điện Tử
ĐaKao không phải để làm đẹp ký ức,nhưng để giữ lại hình ảnh đáng quý của một thời
mà hôm nay hầu như đã biến mất . Đó là hình ảnh một người thầy vô danh với lòng
tận tụy giúp ích cho đời , là thời người ta còn học nghề để làm thợ, để sống
ngay thẳng và lương thiện….
Phan Tấn Uẩn