Tôi rời nơi
chôn rau cắt rốn Hà Nội khi chỉ còn đúng 4 ngày nữa là bước qua tuổi 16, tuổi dậy
thì. Nơi tới là Sài Gòn. Tôi bay bằng máy bay Cosara được Không Quân Pháp trưng
dụng để chở nhân viên và gia đình vào Sài Gòn khi hiệp định Genève chia cắt đất
nước vừa được ký kết một tuần trước. Khi đó chưa có phong trào di cư, cậu bé (
hay chàng trai) sắp 16 tuổi lòng phơi phới lần đầu được đi máy bay tới một nơi
xa tít, tuốt tận miền Nam đất nước. Sài Gòn, nơi tôi bắt đầu tuổi thanh niên.
Cái tuổi đẹp nhất đời người của tôi tại Sài Gòn dài tới 41 năm, ăn đứt 16 năm tại
Hà Nội, chốn thơ dại của tôi. Ký ức của tôi về thành phố thân thương này rất đậm
đà. Đậm đà không kém người dân chính gốc Sài Gòn. Từ ngày thành phố mất tên, ký
ức về Sài Gòn là ký ức chung của những người dân Sài Gòn, dân chính gốc cũng
như dân ngụ cư.
Khi tôi tới Sài
Gòn, tên đường phố chưa thay đổi. Vẫn là những tên Pháp. Ông Catinat
hay ông Bonard là các ông cha căng chú kiết nào, không cần biết nhưng hai con
đường mang tên hai ông thì tuổi trẻ Sài Gòn khi đó đều biết. Hồi đó, vào ngày
Chủ Nhật hay ngày lễ, thanh niên thanh nữ dập dìu bát phố trên hai con đường
trung tâm này. Hành động này được gọi là “Catinater” hay “Bonarder”. Dân bát phố chế
thêm chữ “déxiquachté”, nghĩa là “hết xí quách”! Làm chi mà không hết xí quách
khi cứ đi lên đi xuống giờ này qua giờ khác. Những anh chị có đôi có cặp đi rước
đèn loanh quanh cho thiên hạ thèm chơi. Các anh cu ki dắt tay nhau đi nghễ gái.
Ngày đó chuyện này là thường tình. Ngày nay mà hai anh đực rựa dắt tay trên đường
sẽ bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ. Những tà áo dài tha thướt, những mini-jupe hững hờ, dắt tay nhau tung
tăng cho mấy anh mắt la mày liếc lếch mắt. Họa sĩ Hà Cẩm Tâm cảm tác: “Buổi chiều. Từ chợ mới Sài
Gòn đầu đường Lê Lợi hay từ nhà thờ Đức Bà đầu đường Tự Do trai thanh gái lịch
kéo nhau từng cặp từng nhóm từng đoàn về bờ sông Sài Gòn. Gió hây hây từ sông
Sài Gòn lùa vào mát rượi cả thành phố hoàng hôn. Những bước chân líu lo, những
tâm hồn rộn rã, những hứng thú hàn huyên, những tiếng cười giòn tan... là
những ấn dấu của một thời nhàn du thư thả không thể nào xóa mờ trong tâm trí.
Những nhà sách đồ sộ. Những góc phố hằng hà sách bán xôn. Những nhà hàng sang
trọng. Những bữa cơm vỉa hè. Những dancing lừng lẫy. Vài quán nhỏ nhâm nhi. Những
ca sĩ áo dài má phấn môi son. Một hát dạo xàng xê vệ đường (…) Lưu lạc giang hồ
trăm nơi ngàn chốn, tình cảnh đủ điều văn minh vật chất, siêu đẳng như lai
thoát vùng hệ lụy, lạnh thấu tủy xương, nóng ran sa mạc, buồn hơn mẹ chết, sướng
tợ tiên ông, tự do như gió, stress thường xuyên, chết lên sống xuống, muốn gì
được nấy... mà chẳng thấy ở đâu sống “đã” bằng ở Sài Gòn ngày ấy...”.
Ký ức của Phạm Công Luận, nhà văn chuyên viết về Sài Gòn ngày cũ, người lục
tung những mảnh quá khứ của Sài Gòn: “Nhớ
hoài những tháng năm đầu thập niên 1970, ở đâu chiến tranh xảy ra không biết
nhưng trên đường này, dù ngoài trời đang nóng hay mát, người ta diện những bộ đồ
đẹp để đi mua sắm, xem xi nê, vào tiệm chụp hình làm vài pô ảnh trước tấm phông
vải vẽ cảnh biệt thự, lầu tạ. Dưới hàng cổ thụ dọc hai bên đường, hàng ngàn người
di chuyển từ phía trụ sở Hạ viện lũ lượt đi về phía chợ Bến Thành. Áo dài bông,
áo dài tay raglan, mini jupe của các bà các cô. Áo sơ mi bỏ vào quần hay để
thong thả ra ngoài, vài ông thắt cravate… Mùi dầu thơm, mùi brillantine thoang thoảng
trong nắng trong gió. Đoàn diễu hành mùa hè (lúc nào Sài Gòn cũng như đang
trong mùa hè) đầy háo hức, từ những chàng trai trẻ non tơ bồn chồn vào nhà sách
Lê Lợi săn tìm sách mới, tìm sách từ điển hay đi lấy báo Thế Giới Tự Do miễn phí ở thư viện
Abraham Lincoln, hay như anh chàng thủy thủ tàu biển nước ngoài từ cảng mới đi
lên, trố mắt nhìn mọi phía, xoay tứ phía ống kính máy ảnh”. Thư viện Abraham Lincoln của Mỹ ngày đó nằm ngay ngã tư Tự Do – Lê Lợi
là nơi máy lạnh chạy vù vù mát rượi. Đi bát phố giữa cái nóng mùa hè, muốn nghỉ
ngơi không chi bằng vào thư viện này đọc sách. Những cuốn sách được bao bọc vừa
đẹp vừa sang. Lại phải thú tội: ngày đó tôi có anh bạn làm tại đây thỉnh thoảng
giúi cho tôi ít giấy nhựa trong suốt bọc sách rất Mỹ này.
Từ
trái: Nhà báo Nguyễn Quốc Thái - hoạ sĩ Trịnh Cung -
nhà văn Văn Quang - Song Thao - nhà báo Hà Túc Đạo - nhà báo Nguyễn Khắc Nhân
(Nhà hàng Givral, Sàigòn, 2001).
Tôi có hai lần bát phố đáng nhớ. Khoảng cuối thập niên 1950, các trường
trung học đệ nhị cấp có chương trình Quân Sự Học Đường. Đồng phục quần trắng áo
trắng với mũ bê-rê màu xanh sậm. Cuối tuần, chúng tôi diện đồng phục bát phố, mặt
cưng cưng hãnh diện, cái hãnh diện rất trẻ con, buồn cười. Giờ nghĩ lại thấy
sao hồi đó mình sến đến vậy.
Lần thứ hai là tôi đang cu ki trên đường Lê Lợi, bên vỉa hè trước rạp
xi-nê Mini Rex, thì gặp cô đào Thanh Nga. Vào cuối năm 1967, trên đường từ Mỹ về
Việt Nam sau khi tham dự một khóa hội thảo, tôi phải đổi máy bay từ Pan-Am qua
Air Vietnam tại Hồng Kông. Có mấy bà đi buôn thấy tôi không có hành lý nhiều đã
mon men làm quen xin nhận giùm hàng. Tôi từ chối. Một cô gái ngồi cạnh nhìn tôi
cười hỏi: “Anh có biết em không?”. Nhìn cô gái mặt hoa da phấn rất xinh xắn,
tôi tưởng cô cũng nhờ gửi đồ. Tôi lắc đầu: “Rất tiếc tôi không biết”. Cô gái có
vẻ thất vọng, nói vội: “Em là Thanh Nga đây!”. Hồi đó tôi có biết chi tới cải
lương nên thật tình không biết. Sau một
hồi trò chuyện, cô cho tôi số nhà và rủ tôi tới chơi. Về Sài Gòn, bộn bề công
việc, tôi quên bẵng chuyện này. Giờ, khoảng hai năm sau, tình cờ gặp lại cô đi
với một sĩ quan, cô vẫn còn nhớ, gọi và trách tôi sao không tới chơi. Nghĩ mình
thiệt cù lần lửa!
Hồi đó chúng tôi ít có thứ giải trí. Internet,
YouTube, Facebook là những thứ chưa được khai sanh. Smartphone, tablette, computer vẫn còn ở tận đâu đâu. Chỉ có đọc
sách và đi bát phố. Cung Tiến khi đó còn là học sinh Chu Văn An, trên tôi một lớp,
có làm một bản nhạc vui mang tên “Bát Học”. Tôi còn nhớ lõm bõm ít câu: “Một là đi hai là bát, hai chuyện đó ta
không nề chi. Bát! Bát! Bát! Nếu ta không thuộc bài. Nên chuồn và nên chuồn…”.
Bài hát kết bằng câu: “Chủ Nhật sau đi
công si. Đi công si. Công Si”. “Công si” phiên âm từ tiếng Pháp “consigne” là bị phạt tới trường để thầy
phụ trách bắt làm chi thì làm nấy. Không biết có bạn nào đồng trang lứa còn nhớ
bài này không. Tôi vào hỏi ChatGPT, hắn mù tịt! Hỏi dồn thì hắn…tán: “Thông tin về bản nhạc vui này khá hiếm vì nó gần như không được xuất bản
chính thức, chủ yếu sống trong hồi ức của giới cựu học sinh Trường Trung học
Chu Văn An và bạn bè của Cung Tiến. Điều thú vị là bài này cho thấy Cung Tiến
hồi trẻ không hề “chỉ” là một nhạc sĩ u hoài, mà còn rất tinh quái và có khiếu
châm biếm học trò. Sau này ông gần như không đi theo dòng nhạc vui nữa nên các
bài kiểu này trở thành “hàng hiếm”. Mình chưa thấy bản chép lời đầy đủ hay bản
thu âm chính thức nào còn lưu hành đáng tin cậy. Phần lớn chỉ được truyền miệng
giữa những người cùng thế hệ”. Không biết chị Hữu, bà Cung Tiến, có lục tìm
được trong di cảo của anh không?
Trên đường Tự Do có ba nhà hàng cà phê, nơi các văn nhân ký giả thường
lui tới. Đó là La Pagode, Givral và
Brodard. Tôi hay ngồi tại La Pagode mà dân ta gọi là quán Cái Chùa. Nhà văn Văn
Quang, dân miền Bắc vào Sài Gòn từ năm 1953, cho ba nhà hàng này là cái “trục văn hóa không tên, phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài
Gòn”. Trong bài “Văn Hóa Không Tên Tạo Nên Linh Hồn Sài Gòn Xưa”, ông viết : « Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài
hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi
ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối
mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục
đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim
Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua
một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại
kêu ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.
Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi
chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những
ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp
các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm
Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc,
Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi
không thể nhớ hết”.
Quán Cái Chùa là nơi tôi thường ngồi đồng
nhất. Hẹn bạn bè là tới đây. Ngày đó tôi chỉ quen hai ông Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn
Đình Toàn. Ở đây có món Café Liegeois
rất ngon. Các bà các cô rất thích. Tôi không phải là dân ghiền cà phê nên không
đen cũng chẳng đen đá nên cũng khoái món ngọt ngọt này. Ngoài văn nghệ sĩ, các
thanh niên thời thượng, ăn diện, cũng thường tới ngồi lấy oai. Một lần, tôi
cùng Khánh Giang và Nguyên Vũ, tới ngồi tại đây khi NguyênVũ vừa về phép sau một
cuộc hành quân. Nguyên Vũ có vẻ không vui vì trận đánh vừa qua, lính của anh bị
thương tổn khá nhiều. Nhìn thấy một công tử ăn mặc diêm dúa, áo quần thẳng thớm,
đeo kính mát Rayban, miệng vắt vẻo cái ống điếu, trên bàn bày ra một gói thuốc
ngoại quốc, ngồi sát cửa kính, ngắm các em đi qua trên đường Tự Do, Nguyên Vũ
có vẻ sôi tiết. Hắn rút cây súng lục đặt lên bàn. Chuẩn Úy Khánh Giang thấy coi
bộ không xong, nhè nhẹ bỏ cây súng vào túi. Bỗng Nguyên Vũ tiến tới chỗ anh
công tử, mắng đại khái chúng tao hy sinh cho mày ngồi hưởng thụ như thế này
sao? Anh giơ tay giật đôi kính mát, bóp nát vụn trong tay. Tay anh bê bết máu.
Anh công tử mặt xanh như tàu lá, lẩn nhanh ra khỏi tiệm.
Tôi ít khi lai vãng tới Brodard vì nơi
đây hoàn toàn thiếu vắng không khí văn nghệ. Lại phải nhờ tới thổ công Văn
Quang miêu tả chốn này. “Còn nhà hàng
Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của
ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca
nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng
muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm”
Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông
Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ.
Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu
bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một
vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy
cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc”.
Như
thế, thành phần khách đến Brodard có tính chất một đại chúng rất đời thường,
nặng về bề ngoài vật chất. Dân đến đây không khỏi ít nhiều có thái độ khoe mẽ
về sự giàu có, khả năng mua vui, hưởng thụ cuộc đời của mình. So với Givral và
La Pagode – nhất là so với La Pagode, nơi ‘đóng đô’ thường xuyên của
nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ trình diễn… – Brodard có vẻ ít chất
văn nghệ, chữ nghĩa hơn.
Nhà hàng Givral lại là chuyện khác. Đây
có lẽ là chốn cà phê lâu đời nhất Sài Gòn. Nó có mặt từ thập niên 1950 ngay trước
cửa trụ sở Hạ Viện. Chủ nhân là một người Pháp sống lâu năm ở Việt Nam, ông
Alain Poitier. Sau 8 tháng chuẩn bị, Givral khai trương vào cuối năm 1950, biến
tiệm thuốc tây đầu tiên của Sài Gòn thành một tiệm cà phê bánh ngọt hương vị
Pháp – Việt. Givral đông khách nhất vào mỗi buổi sáng khi các phóng viên ngoại
quốc và các dân biểu chuyện trò trước khi qua quốc hội họp. Từ đây tin tức được
truyền tai nhau, có cái đúng, có cái trật lất. Hồi đó nơi này có xước hiệu là
“Radio Catinat”! Giữa không khí chính trị cũng có văn nghệ. Văn Quang kể về “trụ
sở” của nhà thơ Đinh Hùng tại đây. “Có một
nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi
ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát”
nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải
mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch
lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở
đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng
ba bốn cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào
hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông
“say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi
bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ
cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt
ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này”. Ông Văn Quang khen ông Đinh Hùng là
khen mẽ. Ông cũng thuộc loại thượng thừa trong tình trường. Nhà văn Hoàng Hải Thủy,
đã đặt cho ông biệt danh: “Thuyền trưởng 8 tầu”!
Givral là nơi tụ tập của đám phóng viên
và ký giả ngoại quốc của UPI, AP, Paris Match…Tiểu thuyết gia lừng danh Graham
Green, tác giả cuốn “The Quiet American”
đã nhiều lần lui tới Givral và đã đưa nơi chốn nổi tiếng này vào truyện của ông.
Năm 2002, đạo diễn Philippe Noyce đã chuyển truyện thành phim. Ông thuê hẳn tiệm
Givral để tái hiện quang cảnh tiệm vào thời gian thập niên 1950-1960.
Năm 2001, tôi có việc gia đình ở Sài
Gòn nên quay lại chốn cũ và ngồi tại Givral với bạn bè còn ở Sài Gòn. Bữa đó
chúng tôi gồm Văn Quang, Trịnh Cung, Hà Túc Đạo, Nguyễn Quốc Thái và một người
từ Mỹ về, nhà báo Nguyễn Khắc Nhân, vẫn có được Givral xưa. Không hiểu vào năm
nào, người ta đã phá toàn khu Eden trong đó có Givral. Ngày 10/10/ 2012, Givral
đã mở cửa lại nhưng là một Givral mới. Một mảnh ký ức Sài Gòn của chúng ta đã vụn
vỡ!
(Còn tiếp)
05/2026
Website: www.songthao.com