Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

777 . VŨ THẤT - ĐỜI THỦY THỦ (Tiếp theo) các chương 2-3-4

                                                                                                           


Chương 2

Tiếp nhận quyền chỉ huy

Sáng ngày 14 tháng 11 năm 1969, lúc 9 giờ 30, chiếc Cessna bốn chỗ bay vòng, chao đảo như con chim bị thương khi hạ cánh xưống phi trường An Thới lót bằng vỉ sắt. Các bánh lăn chậm dần rồi dừng hẳn trước mũi Ông Đội. Một vùng nước long lanh mở rộng xa khơi cực Nam Phú Quốc.


Art by James Flood

Võ Bằng xách ba lô xuống phi cơ cùng một quân cảnh Việt và hai quân nhân Mỹ hướng về trạm chờ có biển đề trên cao: “An Thoi International Airport.” Một cợt đùa mỉa mai cho một phi trường dã chiến chỉ dành cho phi cơ quân sự nội địa.

Anh tài xế chạy vội đến tiếp giúp mang hành lý. Hải Quân Đại Úy Lý Quý Lân Hạm trưởng sắp mãn nhiệm bắt tay người bạn cùng khóa đến thay thế.  Cả hai cười nói, rảo bước về chiếc Jeep chờ sẵn. Lân lái, Bằng ngồi cạnh. Đây là lần thứ ba Võ Bằng đến An Thới nhưng khác hai lần trước, lần này anh đến bằng đường hàng không. Con đường đất sỏi lọc xọc dọc ven biển dẫn vào khu quân sự tách thành hai ngõ: một rẽ phải dẫn lên ngọn đồi về Trại giam Phiến Cộng, và một rẽ qua Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận và Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4.

Khi xe hướng vào cầu tàu, Lân điểm nhanh chương trình sinh hoạt trong ngày. Buổi sáng lễ bàn giao, nhân viên mặc quân phục làm việc thay vì tiểu lễ. Buổi tối, tiệc khoản đãi tại tư dinh Tư Lệnh Vùng.

Chiếc HQ 266 cập sát cầu. Những con số hiện lên rõ ràng trong trí anh: chiều dài 50 thước, chiều rộng 8 thước. Sĩ quan 7, hạ sĩ quan và đoàn viên 60. Trợ chiến hạm nhỏ hơn hộ tống hạm, bề thế một tám một mười, nhưng về hỏa lực thì trợ chiến hạm có phần lấn lướt đôi chút. Cùng trang bị một khẩu đại bác 76 ly, hai khẩu 40 ly nhưng một chiếc thì 40 ly nòng kép, một chiếc nòng đơn.

Hạm Trưởng Lân bước lên tấm ván bắc lên tàu. Sĩ quan, hạ sĩ quan trực chào tay. Tấm ván gập ghềnh, nhún nhảy khiến Võ Bằng liên tưởng đến những thử thách đợi chờ phía trước. Để ba lô trên cầu, Đại Úy Bằng theo sau. Vừa đặt chân lên boong, Võ Bằng chào Quốc kỳ treo sau lái. Anh nói khẽ với hạ sĩ quan trực:

– Nhờ anh cho người mang ba lô của tôi về phòng hạm trưởng.


Một đại úy Mỹ đứng cạnh hạm kiều chào Hạm trưởng Lân. Rồi bước sang chào Bằng:

– Lieutenant William Graham, USN.

– Nice to know you. Can you speak Vietnamese?

Đại Úy Graham bắt tay, ngọng nghịu:

– Chút chút. Hân hạnh được làm việc với ông, Captain.

Võ Bằng cảm thấy hứng khởi. Có một cố vấn biết điều cũng không đến nỗi tệ.

Thủy thủ đoàn tập họp ở sân sau. Tiếng hô “Nghiêm” vang lên. Một Trung Úy từ hàng đầu bước ra, chào trình diện:

– Sĩ quan trực báo cáo: Quân số 67, 3 đi phép. Hiện diện 64.

Hạm Trưởng Lân hô “Nghỉ”. Khi sĩ quan trực đã trở về hàng, anh nghiêm giọng nói:

– Sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm HQ 266. Tôi hân hoan giới thiệu với các anh, Hải Quân Đại Úy Võ Bằng, người thay thế tôi chỉ huy chiến hạm kể từ giờ phút này.

Một tràng pháo tay nổi lên. Tân Hạm trưởng bước đến hàng sĩ quan. Người đầu tiên hất mặt:

– Hải Quân Trung Úy Phạm Lê Tiến, Hạm Phó.

Võ Bằng gật đầu, chìa tay. Hai bàn tay nắm chặt.

Dãy sĩ quan lần lượt xưng danh, chức vụ. Giọng rắn rỏi, dáng quân phong.

Tiếng hô vang:

– Sĩ quan. Bước tới hai bước.

Hàng hạ sĩ quan lần lượt giới thiệu, bắt đầu là Thượng sĩ Trọng pháo Đinh Công Tâm, Quản Nội Trưởng.

Sau khi trở về trước hàng quân, cựu Hạm Trưởng phát biểu:

– Trong mười bốn tháng qua chúng ta đã đạt thành tích đáng kể. Bắt hai tàu tiếp tế vũ khí. Khám xét và xua đuổi hàng trăm tàu đánh cá xâm phạm lãnh hải. Chúng ta cũng đã yểm trợ hải pháo hiệu quả cho các cuộc hành quân và tiền đồn ven biển. Tôi hãnh diện và biết ơn sự tận tụy của các anh. Tôi sẽ nhớ mãi các anh và mong có dịp gặp lại nhau ở các đơn vị sau này. Hôm nay mệnh lệnh cuối cùng của tôi là: Hãy tuân lệnh Đại Úy Võ Bằng như các anh đã từng tuân lệnh tôi. Cầu chúc tân Hạm trưởng và chiến hạm đạt nhiều thành tích trong thời gian tới. Tạm biệt tất cả.

Võ Bằng tiến đến máy vi âm:

– Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Đoàn viên. Tôi mong được tất cả tin tưởng, thương mến và hợp tác như đã dành cho cựu Hạm trưởng. Cám ơn các anh đã gìn giữ chiến hạm sạch sẽ, tươm tất và sẵn sàng. Cho tôi gởi lời thăm hỏi gia đình các anh.

Hạm Phó dõng dạc: “Nghiêm. Chào tay, chào.” Tất cả đồng loạt đưa tay lên ngang mày. Hai Hạm Trưởng chào đáp rồi rời vị trí hành lễ. Lệnh tan hàng vang lên.

Võ Bằng bảo Hạm Phó:

– Anh cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển. 

Tiếng còi “te tích” dồn dập vang lên. Mọi người túa về vị trí chỉ định. Trên đài chỉ huy, Võ Bằng ngước nhìn lá cờ phất phới định hướng gió rồi ra lệnh tháo hết dây. Anh tiếp tục ban các lệnh cần thiết để tách con tàu rời cầu. Lần đầu trong tư cách chỉ huy, anh ban lệnh dứt khoát và phản ứng của tàu chính xác. Anh thấy mừng thầm và vững tin hơn.

Anh nhắc Hạm phó:

– Cho còi trực phiên hải hành.

Hạm phó đích thân nhận còi hiệu Chi đội 1 lên phiên.

Tiếng còi vang lên nhịp nhàng. Võ Bằng cho máy tiến 1 rồi tiến 2 hướng thẳng ra khơi. Anh hỏi Hạm Phó:

– Tốc độ tối đa của tàu là bao nhiêu?

Tiến đáp nhanh:

– Thưa Hạm Trưởng, tốc độ là 12 gút, máy tiến 4. Chỉ khi khẩn cấp, máy đạt tối đa là 14 gút.

– Khi tuần tiễu, thường là tốc độ nào?

– Thưa, tiến 2, tốc độ 6 gút, tiết kiệm dầu tối đa.

– Với tốc độ 6 gút, tầm hoạt động của tàu là bao xa?

– Thưa 5 ngàn hải lý.

– Hai máy chánh hiệu gì?

– Thưa, General Motors.

Võ Bằng mỉm cười hài lòng:

– Từ phút này tôi giao Hạm Phó quyền chỉ huy. Lo liệu để trở về cập cầu lúc 1 giờ.

Hai Hạm Trưởng rời đài chỉ huy, đi một vòng kiểm soát vũ khí, đạn dược; rồi đến trắc nghiệm các khu vực chức năng: Truyền Tin, Chiến Báo, Y tế; kế đến thanh tra phòng ngủ, nhà bếp, nhà ăn.  Nơi nào cũng sạch sẽ, ngăn nắp.

Cuối cùng, cả hai theo cầu thang thẳng đứng, xuống tầng đáy tàu.  Thời còn làm Hạm Phó Hộ Tống Hạm Đống Đa, mỗi lần xuống đó Võ Bằng đều hết sức thận trọng. Một là không khí nặng mùi dầu mỡ, ánh đèn thì lờ mờ. Hai là các bậc thang âm ẩm trơn trợt. Nay càng thêm thận trọng. Hạm trưởng gặp tai nạn là cả vấn đề. Nhưng dù có thế nào, đã là Hạm trưởng thì phải thông hiểu … trái tim của con tàu, phải biết vị trí máy chánh ở đâu, máy điện nơi nào, cách vận hành ra sao. Dù đã nghiên cứu Cẩm Nang thì cũng chỉ là… lý thuyết.

 Thiếu Úy Cơ Khí Ngô Quang nghiêm chỉnh chào đón. Tàu thì từ thế chiến hai nhưng các máy chánh và máy điện đều mới tinh. Tiếng máy lấn át tiếng người, nhưng Võ Bằng vẫn thông hiểu các hướng dẫn.

Trên đường về phòng họp, Võ Bằng khen bạn:

– Đúng là phong cách Lý Quý Lân từ thời quân trường. Dù đang công tác mà tàu đâu vào đấy!

Lân cười:

– Thật ra tao sợ tàu dơ, mày không nhận. Mày cũng đâu… dễ tánh!

Võ Bằng gục gặc:

– Sáng nay, tao thấy sàn tàu còn vài nơi lốm đốm sơn chống rỉ sét.

– Thì đang công tác mà. Trăm phần trăm sao nổi.

– Tao nhận hôm nay chỉ mong sau này bàn giao, không bị từ chối!

 Cả hai phá lên cười bước vào phòng ăn cũng là phòng họp. Chiếc bàn cho tám người đặt xuôi theo lòng tàu. Các sĩ quan đứng lên. Võ Bằng ra dấu mời ngồi.

Tân Hạm trưởng ngồi đầu bàn, bên phải ông cựu, Cố Vấn bên trái, các sĩ quan theo thâm niên. Trước mặt là chồng hồ sơ, nhiều quyển sổ bìa đen cứng.

Võ Bằng quay sang Graham:

– Mister Graham, this is a procedure of changing hands, you may leave if you like.

Giọng của Bill chân thành:

– Tôi thích dự để học.

Câu trả lời khiến Võ Bằng vui vui. Đối tác quả là biết điều.

Anh nhấc quyển Sổ Trực nhật, đọc lướt rồi cùng Hạm trưởng mãn nhiệm ký tên. Quyển sổ được giao sĩ quan trực nhật. Sổ Nhật ký Hải hành, giao cho sĩ quan hải hành. Các sổ khác lần lượt xem xét, ký tên, giao cho Trưởng ban tương ứng.

Võ Bằng hỏi Lân:

– Còn Hồ Sơ Mật?

Lân gật đầu:

– Sẽ bàn giao khi lên phòng Hạm Trưởng.

Võ Bằng nhìn qua một lượt các sĩ quan, nhắn nhủ:

– Tôi không có ý định thay đổi chức vụ của các anh. Điều tôi mong mỏi là các anh tích cực cải tiến ban của mình; đồng thời hợp tác chặt chẽ với nhau, giúp chiến hạm luôn trong tình trạng sẵn sàng.

Tiếng còi nhiệm sở vận chuyển vang lên. 12:45. Võ Bằng nhìn quanh:

– Cập cầu xong chúng ta dùng cơm trưa. Tối nay, đúng 7 giờ, trừ sĩ quan trực, chúng ta dự tiệc tống cựu nghinh tân của Tư Lệnh Vùng…

***

Sân sau Tư dinh Hải Quân Đại Tá Lương Đình Thám nằm trên đồi. Tiếng sóng rì rào và hoàng hôn vàng óng trên những cành dừa xanh. Gió rất nhẹ, như là một báo hiệu cuối mùa giông bão.

Năm chiếc bàn dài bày biện hải sản tươi, bếp lò ga lò nướng. Mỗi bếp có một dân địa phương phục vụ. Bia, rượu và ly do Cố Vấn cung cấp.

Tư Lệnh Vùng thân mật chào đón. Các sĩ quan tùy ý chọn bàn, trừ bàn dành cho sĩ quan cao cấp và hai Hạm trưởng. Do cấp bậc… không cao, Bằng và Lân đối diện nhau cạnh Tư lệnh phu nhân ngồi cuối bàn.

Qua phong thái lịch duyệt và duyên dáng, bà vui vẻ nói:

– Ông nhà tôi thường nhắc hai Hạm trưởng là hai khóa sinh ưu tú.

Lân lịch sự đáp lời:

– Tư lệnh quá khen.

Nghe tiếng kéo ghế, Võ Bằng quay lại. Tim anh như ngưng đập. Người con gái ấy – đôi mắt to tròn, tóc uốn thả lơi, môi cười mỉm – chìa tay:

– Chào anh. Tôi, Huỳnh Như Oanh.

– Võ Bằng. Hân hạnh.

Võ Bằng né tránh người đẹp suốt hai năm qua, hôm nay như một bù trừ, thượng đế giáng trần một tiên nữ cận kề không còn đường đào thoát.

Vừa ngồi an vị, tiên nữ nhìn sâu mắt Bằng:    

– Anh có đọc truyện “Ba người con gái của Lương phu nhân”? Tôi là em gái của Lương phu nhân.

Võ Bằng mỉm cười:

– Tôi biết Lương phu nhân của Pearl Buck. Bà ấy sinh vào thế kỷ trước. Thoạt đầu tôi nghĩ cô là tiên nữ giờ xin đổi là … ma nữ!

Huỳnh Như Oanh thích thú cười dòn, chỉ Tư lệnh phu nhân:

– Tôi nói thiệt mà! Lương phu nhân đang ngồi cạnh anh đó.

Đại tá Lương Đình Thám gõ chén, đứng lên. Ông tuyên bố khai mạc:

– Sáng nay lẽ ra tôi chủ tọa lễ bàn giao quyền chỉ huy chiếc Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm nhưng ban tham mưu bận thanh tra Duyên Đoàn 46. Buổi họp mặt chiều nay mục đích là để cáo lỗi buổi sáng. Chúng ta hãy nâng ly chia tay cựu Hạm Trưởng Lý Quý Lân và đón chào Tân Hạm Trưởng Võ Bằng. Tôi cầu chúc cả hai Hạm Trưởng hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ mới.

Đợi tiếng vỗ tay chấm dứt, Tư Lệnh tóm lược bằng tiếng Mỹ, rồi tiếp tiếng Việt:

– Nhân dịp này, tôi còn muốn giới thiệu cùng các anh mười cựu khóa sinh của Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân trong thời tôi giữ chức Hiệu Trưởng. Nói rõ hơn là các cựu khóa sinh khóa 11, khóa 12 và khóa 13.  Đặc biệt có hai khóa sinh khóa 11 cùng lên đại úy sớm nhất, cùng làm Hạm trưởng cùng tàu. Mời các cựu khóa sinh đứng lên trình diện quan khách.

Một tràng pháo tay vang dội ngọn đồi. Võ Bằng vừa ngồi xuống thì Như Oanh hỏi ngay:

– Cùng khóa, cùng tàu… Sao anh Bằng là Tân mà anh Lân là Cựu?

Võ Bằng cười cay đắng:

– Tại, do, bị… mỹ nhân kế!

– Thiệt hại cỡ nào?

– Đủ để thành…tân Hạm Trưởng!

Như Oanh bật cười thích thú:

– Vậy tôi nên chia vui hay chia buồn?

Lương phu nhân xen vào:

– Đại úy đừng chấp nhứt. Nó sắp lấy chồng mà lúc nào cũng nghịch ngơm. Thôi! Mời vào vào tiệc.

Phu nhân chọn mực nướng. Hạm Trưởng Lân chọn nguyên con ghẹ. Võ Bằng hỏi Như Oanh thích ăn gì. Cô hỏi lại:

– Anh thích ăn gì. Còn có biên mai, bào ngư, cá bống mú.

Cuối cùng cả hai chọn cá bống mú nướng. Trong khi chờ cá chín, Như Oanh hỏi:

– Mỹ nhân kế thế nào?

Không muốn trả lời Võ Bằng trêu ghẹo:

– Thế nào là thế nào?

– Mỹ nhân kế thì thiên hình vạn trạng. Hạm trưởng Bằng bị va vào hình trạng nào?

Bằng cười:

– Chuyện nhỏ! Bỏ đi tám. Hãy nói chuyện lớn. Chúc mừng cô…

Huỳnh Như Oanh chận ngang:

– Sắp thôi. Sắp đám hỏi. Sắp nghĩa là chưa xảy ra. Mà sắp đám hỏi thì càng mong manh, hủy bỏ lúc nào chả được!

Thấy Bằng trợn mắt, Huỳnh Như Oanh cười:

– Chuyện nhỏ. Mỹ nhân kế mới là chuyện lớn. Như Oanh rất muốn nghe.

Xem ra tiên nữ không chịu bỏ cuộc nửa chừng, Võ Bằng vắn tắt cho xong:

– Đại khái thuở còn là Hạm phó, một hôm, một người đẹp đến tận chiến hạm xin đi quá giang. Tôi xem giấy phép hợp lệ nên xin Hạm trưởng cho đi. Cô nàng dựa hơi quen biết Hạm phó, lính canh nể nang nên mang trót lọt quả bom xuống tàu. Hóa ra là nữ đặc công Việt cộng, dùng giấy phép quá giang giả.

Như Oanh trố mắt nhìn anh kêu lên:

– Trời! Có ai bị gì không?

Võ Bằng cười thật tươi:

– Không! Giờ chót, cô ta đem lòng yêu Hạm phó nên không cho bom kích nổ!

Như Oanh cười lớn:

– Nói y như thiệt!

(Còn tiếp)

***

Chương 3

 

Từ An Thới qua Hòn Đốc

Hạm trưởng Võ Bằng rời Phòng Tình Hình Bộ Tư Lệnh Vùng, về đến chiến hạm liền cho lệnh họp sĩ quan.

Mười phút sau, anh bước vào phòng họp. Tất cả đứng nghiêm. Anh ra hiệu “ngồi”.

Cố vấn Mỹ mỉm cười:

– Good morning, Captain! Have good day.

– Cám ơn. You too.

Võ Bằng nhìn quanh các sĩ quan, giọng bình thản, dứt khoát:

– Như cũ, công tác tám ngày, nghỉ bến hai. Lần này, trục Bắc đảo – Quần đảo Hải Tặc. Tàu mình từng hoạt động tuyến này chưa?

Mọi người hoặc lắc đầu, hoặc im lặng. Hạm phó lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng, theo tôi biết thì chưa.

– Tôi cũng vậy. Ngẫm nghĩ cũng khá thú vị! Chuyến đầu tiên với tư cách Hạm trưởng lãnh ngay cú… ngựa phi đường xa, từ Mũi Ông Đội cực Nam đến Mũi Trâu Nằm cực Bắc. Tôi tuổi Sửu chớ có là … ngựa đâu!

Tiếng cười rộ nhẹ. Cố vấn Mỹ ngơ ngác, Võ Bằng đành dịch lại, rồi tiếp:

– Phú Quốc cách Hà Tiên khoảng 70 cây số. Quần đảo Hải Tặc cách Hà Tiên chừng một phần ba. Năm 64 tôi từng lên Hòn Đốc khi còn phục vụ trên hải vận hạm. Đảo cát trắng sạch, cây rậm rạp, dân chài khoảng trăm người. Một cụ già dẫn tôi xem mốc chủ quyền – khắc chữ “VIỆT NAM CỘNG HÒA – QUẦN ĐẢO HẢI TẶC”, dưới có hình hai mỏ neo gác chéo. Trên bệ đá, ghi tên 16 đảo, trong đó có Kèo Ngựa, Kiến Vàng, được đặt tên cho hai Tuần duyên hạm.

Anh quay sang cố vấn Mỹ:

– Do you know “Pirate Islands”?

– No, sir.

Vừa dịch xong thì Thiếu úy Ngô Quang hỏi:

– Thưa Hạm trưởng, tên Hải Tặc nghe rùng rợn. Có hải tặc thật sao?

– Ngày xưa, có. Ông bà ta thường đặt tên theo sự kiện. Như đất nền cao ở Mỹ Tho trồng toàn dứa nên đặt Giồng Dứa. Hay một con sông có nhà trên bè nổi dành cho giới thương hồ ghé nghỉ ngơi gọi Nhà Bè.  Quần đảo Hải Tặc xưa là nơi hải tặc ẩn trú. Nay thì không còn. Nhưng thay vào đó, là cộng tặc — và chúng thích hành động ban đêm.

Võ Bằng mở bao thơ đóng dấu MẬT. Mắt lướt quanh bàn họp. Trong lễ bàn giao, các sĩ quan đã xưng tên, chức vụ — nhưng anh chỉ nhớ vài người.

– Sĩ quan Truyền tin? — Anh gọi.

Một người giơ tay. Võ Bằng nhìn bảng tên “Bùi Anh Tuấn”, đưa xấp tài liệu:

– Đây là đặc lệnh truyền tin. Chuẩn bị sẵn tần số liên lạc với hai Tuần duyên đỉnh, hai Chiến thuyền, và Đài kiểm báo 402 trên đảo Hòn Đốc.

Anh lại lướt qua từng người:

– Hải hành?

– Thưa tôi, Trung úy Đặng Thành Tài.

– Anh kẻ hải trình từ đây đến Quần đảo Hải Tặc. Thận trọng tránh khá xa bãi cạn, đá ngầm. Tôi cần đường an toàn, không cần nhanh nhất.

Rồi quay sang Hạm phó:

– Tình trạng kỹ thuật tàu đã kiểm soát chưa? Súng? Đạn? Xuồng? Phao nổi?

– Đã kiểm tra. Tất cả khiển dụng, đầy đủ, thưa Hạm trưởng.

– Tốt.

Anh nhìn sang Sĩ quan An ninh:

– Có ai lạ trà trộn? Tàu này có thể tin cậy chứ?

– Thưa Hạm trưởng, trăm phần trăm. Không có ai đáng nghi ngờ.

Thiếu úy Dương Công Đức – phụ trách ẩm thực – nhăn mặt:

– Về thực phẩm… An Thới quá thiếu rau thịt trái cây. Trước đây, cựu Hạm trưởng cho tàu đi chợ Hà Tiên hoặc Rạch Giá. Hiện tại, lương thực chỉ đủ ba ngày.

Võ Bằng gật đầu:

– Đồng ý. Nếu kẹt hành quân, ta ăn cá tôm cua mua từ ngư dân.

Người cười, người lắc đầu. Võ Bằng quay sang cố vấn:

– Anh hiểu chứ?

– Not all. Something about eating crab?

– Exactly. When rations are low, we look for fisherman.

Tiếng cười rộ lên. Võ Bằng nhìn sang sĩ quan cơ điện:

– Nhiên liệu tàu?

– Hầm dầu đầy, thưa Hạm trưởng.

– Tốt.

Võ Bằng đứng dậy:

– Cho tập họp tất cả. Tôi cần nói đôi lời.

Tiếng còi tập họp nổi lên. Các sĩ quan rời phòng, lên boong chính. Trên đường đi, anh dặn dò cố vấn Graham sẵn sàng không yểm khi cần.

Ít phút sau, Võ Bằng đứng trước hàng quân chỉnh tề:

– Anh em Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm. Đây là tàu của chúng ta. Là nhà, là pháo đài, là chốn sống chết. Chúng ta ăn, ngủ, hành quân cùng nó. Vì thế, mọi người đều có trách nhiệm.

Giọng anh trầm xuống:

– Tôi mong mỗi người mang hết khả năng hải nghiệp của mình để hoàn thành mỹ mãn công tác. Mọi sáng kiến cải tiến đều được hoan nghênh. Tôi đặt trọn niềm tin vào anh em.

Võ Bằng dứt lời. Cả boong tàu lặng như tờ. Rồi nở ra những nụ cười mỉm, tự hào. Lệnh giải tán được ban ra.

Năm phút sau — còi nhiệm sở vận chuyển vang lên…

***

Đứng bên hữu mạn đài chỉ huy, Võ Bằng lặng nhìn khối sắt khổng lồ rời cầu, lướt nhẹ qua từng lượn sóng nhịp nhàng thư thả tiến ra khơi.

Anh tựa tay lên thành thép mới sơn, thở nhẹ. Gió đầu mùa Đông Bắc mơn man khuôn mặt, mang theo mùi mặn dịu dàng của biển khơi. Trời cao, nước biếc đón mừng tân Hạm trưởng.

Anh bước chậm tới chiếc ghế dành riêng cho mình, thả lỏng người. Một làn hơi ấm chạy khắp sống lưng. Nhẹ nhõm. Mọi xui rủi đã lùi lại phía sau. Ước mơ ngày xưa giờ đây đã là thực tại.

Một ngày nào đó, anh sẽ về quê Đa Phước khoe với ba mẹ rằng thằng con đi học Sài Gòn, ngày ngày cuốc bộ đến trường, không tiền về quê nghỉ hè, phải mò xuống bến chợ Bình Tây xin quá giang ghe chài và chỉ dám mơ ngày được làm tài công, mà nay nó ngồi ở ghế chỉ huy một chiến hạm Hải quân.

Võ Bằng nhất định mời cho được ba mẹ lên Sài Gòn thăm viếng, nhìn tận mắt chiếc trợ chiến hạm. Anh không tưởng tượng được niềm hãnh diện của ba mẹ ra sao!

Đồng hồ chỉ đúng 10 giờ. Máy tiến 3. Tốc độ 10 hải lý. Phiên trực đầu tiên của Chi đội 1. Trung úy Đỗ Văn Lũy đứng phiên, bên mạn tả. Ba người luân phiên giữ tay lái, hai quan sát viên ở vị trí. Radar và máy đo độ sâu đang hoạt động tốt.

Chiến hạm lướt qua Hòn Rơi, đổi hướng 090 độ, cắt ngang Hòn Dăm Ngoài. Rồi rẽ lên 045, hướng về Mũi Ông Đội — điểm cực nam Phú Quốc. Nơi đó, năm xưa, anh từng chứng kiến một tai nạn lật ghe: biển lặng, trời quang, vậy mà một đợt sóng đột ngột dội vào, ghe lật úp, chìm luôn, ba ngư dân suýt mất mạng, nếu tàu không kịp cứu.

Chiến hạm không sợ sóng, chỉ ngại rạn san hô lờ mờ như bóng ma rình rập. Hải trình đã kẻ tránh chúng, nhưng chẳng bao giờ được chủ quan. Anh đang ở vào vị trí không còn ai để chia sẻ quyết định, không còn lý do để quy lỗi về người nào khác.

Trên hải đồ, dòng chảy ngầm đã hiển lộ. Gió mùa Đông Bắc chính thức bắt đầu. Võ Bằng quay sang sĩ quan trực phiên:

– Nếu không có biến cố, ba tiếng nữa sẽ đến Hải Tặc. Tức khoảng 2 giờ chiều. Kiểm soát tọa độ mỗi 15 phút. Nhớ, các anh sai, tôi mất chức đã đành, thậm chí tính mạng cả tàu lãnh đủ. Hãy luôn nhớ: một hải trình êm đềm, chỉ trên… hải đồ!

Chợt nhớ kinh nghiệm nội tuyến, anh hỏi Hạm phó:

– Lâu rồi không thực tập phòng tai?

– Dạ, khoảng ba tháng.

– Vậy rất nên thực tập. Anh cho báo động giả định “cháy ở hầm máy, chạm điện”.

– Rõ. Thưa Hạm trưởng.

Hạm phó rời đài chỉ huy. Vài phút sau — chuông khẩn cấp vang lên dồn dập, xé toạc trưa yên ả. Loa nội bộ vang tiếng Hạm phó:

“CHÁY HẦM MÁY! CHÁY HẦM MÁY! Toán 1 – vòi chữa lửa, tiếp cận cửa hầm!”

Cả chiến hạm chuyển động. Nhân viên chạy ào về sân trước – sân giữa. Tiếng bước chân rầm rập vang khắp tàu. Giọng Hạm phó gấp gáp:

– Báo cáo Hạm trưởng có tiếng nổ ở máy chính! Dầu cặn trào ra, lửa bốc cao, khói dày đặc. Hai nhân viên cơ khí đã khóa các van nhiên liệu. Lửa hạ rồi lại bùng lên ở bảng điện. Có tia lửa tóe mạnh.

Võ Bằng cầm ống loa:

“Toán 2. Mặc áo cứu hỏa, đeo mặt nạ dưỡng khí. Xuống hầm máy! Thi hành ngay!”

– Xin Hạm trưởng báo cho họ biết máy điện tắt, cầu thang, sàn trơn trợt, phải hết sức cẩn thận. Có hai nhân viên bất tỉnh, xin cho toán cấp cứu.

Một lúc sau, Hạm phó gọi lên:

– Toán 2 đã mở van CO₂. Khí trắng đục đang phun từ trần xuống. Nhân viên đã rút ra. Cửa hầm đã khóa kín.

Trên boong, hạ sĩ y tá đang ép ngực hồi sinh cho một thủy thủ bất tỉnh. Một người khác nằm quấn chăn cách nhiệt.

– Vị trí chiến hạm? – Võ Bằng hỏi.

Sĩ quan trực phiên đáp nhanh:

– Nằm trên hải trình. Cách Hòn Đốc 18 hải lý.

Võ Bằng gật đầu, rồi xuống boong quan sát trực tiếp việc cứu thương. Ngực người lính trẻ phập phồng. Mắt anh hé. Tiếng thở hắt ra.

Võ Bằng gật đầu hài lòng. Sĩ quan và nhân viên đã có phản ứng nhanh chóng và đúng bài bản. Anh ban lệnh:

– Giải tán nhiệm sở phòng tai.

Loa nội bộ vang lệnh chấm dứt báo động. Trên tàu, nhịp sinh hoạt dần trở lại. Nhưng mọi ánh mắt đều rạng rỡ – vì họ biết: trong tình huống thật, họ đã sẵn sàng.

***

Bữa cơm trưa diễn ra giản dị. Món ăn không nhiều, nhưng ai cũng vui nhất là sau một cuộc thực tập vất vả, thành công. Qua các câu chuyện trao đổi trong bữa ăn, Võ Bằng hiểu phần nào tính tình các sĩ quan. Và rất tình cờ, chưa ai lập gia đình.

Còn mệt mỏi, anh sớm rời bàn về phòng riêng. Phòng hẹp nhưng tiện nghi: tủ đứng, bàn rộng, bồn rửa mặt, phòng tắm nhỏ. Tàu chiến mà như tổ ấm. Anh mở ba lô. Lấy ra khung ảnh mẹ và con, đặt lên mặt bàn. Nhẹ tay, như đang nâng niu. Hai bộ pyjama ở tầng trên. Giữa: ba bộ quân phục, hai xanh, một trắng. Đôi giày trắng đặt ngay ngắn ở tầng cuối. Dao cạo râu, bàn chải, xà bông Dove, kem đánh răng đã dùng đêm qua. Mọi thứ đều đơn giản cho chuyến đi xa nhớ đời. Chuyến đi bất ngờ nhưng đủ cho anh thấy mình… sống thực, đáng sống.

Anh buông người xuống giường với nguyên cả bộ quân phục đang mặc. Lưng chạm nệm, mắt chạm trần, đầu óc lướt qua hai ngày đi – đứng – nói – họp … Thêm trò chuyện với cựu Hạm trưởng tới gần sáng.  Người anh mỏi đừ, mắt từ từ khép lại bằng dáng hình tiên nữ…

13 giờ 15. Võ Bằng choàng dậy. Mắt nhòe, nhưng bên tai là tiếng máy đều đều. Anh lắng nghe thêm: vẫn là âm thanh của vận tốc đường trường. Tàu êm như đang trong sông. Anh vào phòng tắm rửa mặt, chỉnh quân phục. Rồi lên đài chỉ huy…

Võ Bằng bước vào, sĩ quan trực hô lớn: “Nghiêm!”. Anh phất tay: “Nghỉ!”

Rồi đứng cạnh thành đài hữu hạm. Buổi trưa thật đẹp: trời cao, gió nhẹ, nắng ấm. Vài sợi mây trắng lặng lờ trôi. Hạm phó đứng cạnh, nói:

– Trời đẹp quá, thưa Hạm trưởng.

– Cổ nhân có nói: “Trời yên, biển lặng thường là dấu hiệu của biển sắp động mạnh.”

Anh nói mà bâng khuâng. Hai năm ở bờ, liệu thân thể anh còn quen sóng gió. Anh nâng ống dòm. Hòn Đốc đang lờ mờ hiện. Mười sáu đảo nhỏ còn ẩn đâu đó. Anh nhìn các bãi cạn trên hải đồ. Rồi nhìn xuống biển. Nước trong vắt. Những rạn san hô xa xa như những vết loang mực màu.

Anh nghiêng đầu:

– Báo chiều sâu khi có thay đổi.

– Rõ, thưa Hạm trưởng.

Tuần phòng vùng này, Võ Bằng ngại nhất là các bãi cạn và hai đảo chìm. Nhưng có lo thì cũng chẳng thể ôm đài chỉ huy 24/24. Chỉ việc nghe lời cụ Nguyễn Hiến Lê quẳng gánh lo đi và vui sống. Anh đặt hết niềm tin vào các sĩ quan. Họ đều tỏ ra linh hoạt, hiểu biết, hy vọng không phạm các sai lầm … không thể tha thứ! Ai cũng có thể sai lầm. Chính những sai lầm mới giúp họ trở thành một Hạm trưởng bản lãnh.

Võ Bằng hỏi sĩ quan đương phiên:

– Anh xuống tàu này bao lâu rồi?

– Dạ, mới một tháng.

– Đơn vị cũ?

– Giang đoàn 75 Thủy bộ.

– À, sông Cái Lớn – Cái Bé! Tôi nghe danh, chưa từng ghé qua. Đơn vị anh và Giang đoàn 74 đánh đấm ác liệt. Hết sông Cái Bé đến Trèm Trẹm. Tôi đọc báo cáo mỗi ngày.

Tuấn trố mắt nhìn Hạm trưởng. Anh cười:

– Tôi đến từ Trung Tâm Hành Quân Bộ Tư Lệnh.

Tuấn nhìn quanh rồi rụt rè:

– Nhà ba má tôi ở sông Cái Lớn. Nếu mai mốt tàu công tác vùng Rạch Giá… xin mời Hạm trưởng ghé nhà… nhậu.

Võ Bằng bật cười:

– Tôi ghé để thăm hai bác. Nhậu là không có tôi.

– Dạ… thì không nhậu!

Hạm phó lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng, có phải phu nhân là người ngồi cạnh Hạm trưởng đêm qua?

Võ Bằng lại bật cười:

– Dựa vào đâu mà anh có ý tưởng như vậy?

– Thì thấy nói cười thân mật.

– Hễ các cô nói cười thân mật là vợ sao?

– Chúng tôi muốn biết để chào kính cho đúng phép.

– À! Tôi chưa vợ. Đêm qua, chỉ vì lịch sự mà phải bám trụ thôi. Ngoài đời, cô nào càng đẹp tôi càng tránh xa.

Hạm phó mỉm cười:

– Coi bộ đúng câu nói của cổ nhân.

– Cổ nhân nói gì?

– Thưa Hạm trưởng, cổ nhân hiếm khi nói sai: “Ghét của nào, Trời trao của nấy!”

Tiếng cười lan nhẹ trên đài chỉ huy. Võ Bằng đứng lặng một lúc lâu. Tàu đang lướt gần một đảo thấp. Trơ đá, trơ cây. Nước xanh đến độ nhìn thấy đáy. San hô đủ sắc màu. Và rồi… hình ảnh Huỳnh Như Oanh lại hiện ra như hồn biển hóa thân, một thủy thần tuyệt sắc.

Cơ duyên nào đã đẩy đưa nàng đến ngồi cạnh anh đêm qua, cười nói như quen nhau từ tiền kiếp? Dù nàng là bào muội của Tư lệnh phu nhân, nàng vẫn bí ẩn đến… phiền lòng. Nàng chưa thực sự thuộc về ai. Sắp thôi, nhưng đủ là lý do để nàng hiện diện nơi khỉ ho cò gáy này? Đại huynh nào ở đây được cái may mắn trời cho?

Võ Bằng chợt nhận ra mình lẩm cẩm. Đã dứt khoát tránh né mọi giai nhân mà cứ ngẩn ngơ, thắc mắc…

– Trình Hạm trưởng có công điện thượng khẩn.

Võ Bằng quay người. Anh vô tuyến bước tới trao mảnh giấy. Đọc xong, anh trầm giọng:

– Có công ăn việc làm rồi. Báo hầm máy, hai máy tiến Full.

(còn tiếp)

***

Chương 4

 

HÌNH NHƯ LÀ ĐỔI THAY

Huỳnh Như Oanh nằm nghiêng trên giường, đầu gối lên cánh tay, mắt mở to nhìn qua cửa sổ mở rộng. Trời đêm long lanh sao. Gió biển lùa qua màn, vờn lên tóc, đưa nàng vào ý nghĩ miên man.

Tiệc đã tàn hơn hai tiếng, vậy mà nàng tưởng như đang còn ngồi đó, đối diện Võ Bằng. Cuộc đàm thoại cứ văng vẳng:
– Còn trẻ như anh mà đã là Hạm trưởng. Hẳn anh yêu biển lắm!
– Biển là người yêu của tôi.
– Mười lăm ngày ở đây, Như Oanh đã cảm thấy biển thật đáng yêu. Nhưng chừng nào biển mới trở thành… người yêu?
– Chừng nào cô ngắm biển hoài mà không chán!
– Khi nào thì chán?
– Biển luôn đợi chờ, thủy chung, sao lại chán?
– Nếu có người biết đợi chờ, biết thủy chung, thì có thể thay được biển không?
– Tôi chưa gặp người như thế. Nhất là người càng đẹp, càng sợ.

Nhiều người khen nàng đẹp, không ít người đã khổ vì sắc đẹp của nàng. Còn Võ Bằng thì sợ, né tránh. Nàng đã thử đưa anh chàng vào thế kẹt:
– Ngày mai Như Oanh xuống thăm tàu anh nghen?
– Mai tàu ra khơi…
– Vậy… lúc tàu về?
– Có cần thiết lắm không?
– Như Oanh chưa từng biết chiến hạm ra sao…
– Em gái phu nhân Tư lệnh Hải Quân Vùng mà chưa từng biết chiến hạm! Cho phép tôi nghi ngờ.  Thêm một thắc mắc, người đẹp như cô làm gì nơi khỉ ho cò gáy này?
– Để tận hưởng … khỉ ho cò gáy!

Nàng đã bật cười. Anh cũng cười. Rồi bỗng dưng nàng thú nhận:
–  Như Oanh vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra đây chơi, chờ lệnh bổ nhiệm.
– Sẽ dạy môn gì?
– Văn. Việt Văn.
– Văn học nuôi dưỡng tâm hồn. Nhờ cô viết một bài về những chuyến hải hành… chẳng về đâu!
– Ý anh là sao?
– Cứ viết đi. Rồi sẽ hiểu.

Võ Bằng ám chỉ gì? Vì sao hải hành chẳng về đâu? Vì sao người càng đẹp càng sợ? Anh thù ghét phụ nữ đẹp? Vì từng bị phản bội? Như Oanh nhất định tìm hiểu. Nhưng khi nào anh trở lại? Liệu lúc ấy nàng còn ở đây không?
Mà việc gì lại phải thắc mắc! Nàng bóp trán, bâng khuâng. Tình yêu chăng? Hay chỉ là ngọn sóng bất ngờ tạt vào mát rượi tâm hồn rồi rút xa mãi mãi?

***

Tiếng gõ cửa đánh thức nàng. Giọng âu lo của chị:
– Trưa quá rồi. Dậy đi. Em có sao không?
Nàng ngồi bật dậy:
– Em khỏe. Cho em vài phút.

Một sức mạnh vô hình đẩy nàng đến cửa sổ. Gió lướt qua cầu tàu kết bằng những ponton nổi. Như Oanh trách mình dậy trễ. Chiếc Rạch Gầm đã ra khơi. Anh đang đi về đâu? Đang đứng trên đài cao hướng đến chốn nào? Có nhìn ngọn đồi dạ tiệc đêm qua? Thật lạ lùng! Suốt hai tuần ở đây, đôi lúc nhìn cầu tàu, nàng thờ ơ. Sao bỗng dưng sáng nay lại hụt hẫng?

Nắng phủ tấm lụa vàng lên mặt biển lặng lờ, lên những chiếc thuyền câu mong manh, những núi đồi cây cỏ xanh tươi.

Chị nàng bước vào, thấy em gái lặng lẽ bên khung cửa nhìn ra biển, mỉm cười:
– Đang tương tư lính biển chăng?
– Có nên không? Chính chị đêm qua cảnh báo em ngay từ đầu: em sắp làm đám hỏi.
– Tình yêu như sóng vỡ bờ. Chị không muốn thấy thêm một người đau khổ vì em.
– Còn nếu em chính là ngọn sóng đó?
– Năm năm làm vợ lính biển, năm năm lúc xa lúc gần, chia tay rồi tái hợp, tình yêu lúc nào cũng mới. Đó là kinh nghiệm của chị.
– Ba khó tính, dễ gì chịu thất hứa.
– Hôn nhân là của em. Quyết định là của em. Như chị ngày xưa ba cũng đâu bằng lòng.
– Còn một trở ngại lớn hơn: anh ấy đâu ngó ngàng gì tới em!
– Nếu em đã quyết ý thì đâu khó! Đẹp như em…
– Chính “đẹp như em” là trở ngại lớn nhất, anh ấy nói thẳng rồi, càng đẹp càng sợ.
– Thì nghĩ cách cho chàng ta hết sợ.

Cả hai phá lên cười, cùng vào bếp lo cơm trưa…

Tiếng chuông reo. Chị nàng ra mở cửa. Vinh – vị hôn phu tương lai – dang tay, tươi cười:
– Chào người đẹp của anh!

Ở Sài Gòn, hai người thường ôm nhau siết chặt. Nay nàng bước tới, miễn cưỡng. Vinh nới lỏng vòng tay, cười đùa:
– Bộ nhớ anh đến mất ngủ hay sao mà trông héo hon vậy?

Như Oanh cười, nụ cười không che giấu hết bối rối:
– Sao anh không báo trước?
– Cho em bất ngờ mới vui hơn chứ!
– Anh tới bằng gì?
– C.130. Phi cơ gì mà không có ghế, báo hại anh phải ngồi bẹp trên sàn. Mệt đứt hơi!
– Rồi ai đón anh?
– Anh Thám cho tài xế ra đón.
– Ngon ghê! Mời sếp ra salon nghỉ cho khỏe đi. Như thường lệ, bia chứ?
– Budweiser, nếu có thì tuyệt. Không thì nước lạnh cũng ngon.

Khi mở tủ lạnh lấy bia, lòng Oanh chợt xao động. Phải yêu lắm mới chịu khó vất vả như vậy. Thế mà nàng… thả mồi bắt bóng!

Đưa lon Budweiser, Như Oanh vui vẻ:
– Anh nghỉ được mấy ngày?
– Hôm nay, ngày mai, ngày mốt. Ngày mốt phải về. Mỹ đang rút bớt quân. Tình hình khó khăn. Ba phải can thiệp mới được sếp cho đi hai ngày…

Như Oanh thẫn thờ. Ba ngày, không biết lâu hay mau đây? Nửa ngày qua rồi, phải làm gì cho hết thời gian còn lại?

Trong cơm trưa, chị nàng cứu bồ. Anh Thám sẽ có chương trình thăm viếng cho hai em ngày mai ngày mốt. Tối nay 7 giờ dùng cơm gia đình. Từ giờ đến đó, hai em tự do.

***

Như Oanh và Vinh thả bộ qua khu chợ đã tan từ sớm. Chợ gồm mươi gian hàng, mươi sạp pallet chồng lên nhau. Đa số chủ nhân là vợ lính. Ngư dân An Thới không nhiều, tất cả đều tự túc. Chỉ gia đình lính là cần.

Họ ngồi trong một quán nhỏ ven biển, bàn ghế ọp ẹp. Vinh uống bia quân tiếp vụ, Như Oanh dừa tươi. Nàng thường nhìn ra khơi, lặng lẽ. Chàng thì huyên thuyên về tình hình Sài Gòn, về các tổ chức chống đối chính quyền, về Việt-Nam-hóa chiến tranh, giảm quân tham chiến, về hòa đàm Paris. Nàng vờ lắng nghe, khuyến khích để chàng không đề cập đến… chuyện chúng mình.

Năm giờ chiều họ về lại tư dinh anh rể chuẩn bị cơm tối. Bữa cơm rất vui, nhờ tài hoạt bát của Tư lệnh. Ông kể những đặc điểm của quận lỵ Dương Đông, đặc biệt Quận trưởng là một Thiếu tá Hải Quân. Ông nói qua về các xã Bãi Thơm, Cửa Cạn, Hàm Ninh, Dương Tơ, Thổ Châu. Như Oanh vốn ghét môn địa lý, nhưng không hiểu sao lần này nàng thích thú lắng nghe và ráng ghi nhớ…

***

Mười giờ sáng. Sáu người đến Mũi Ông Đội. Trời trong, gió nhẹ. Biển xanh như ngọc, mặt nước êm như gương. Chiếc tiểu vận đỉnh chật vật len qua những mỏm đá ngầm, rồi ủi mũi vào bãi cát trắng pha sỏi vụn. Đảo trông hoang vắng. Vài căn nhà nhỏ nép dưới tán dừa. Phía trên là đồi, rồi rừng, rừng nối rừng như vô tận.

Hai anh lính đi theo phụ giúp cắm dù, bày bàn, nhóm lò. Rồi bỏ đi câu. Bốn người còn lại mang giày nhựa, đeo kính lặn, ống thở, len lỏi dọc ven bờ. Thấy dáng người, từng đàn cá túa ra. Ánh nắng xuyên sóng lăn tăn, phản chiếu lên rạn san hô thành vô vàn sắc màu rực rỡ.

Hai con cá bống mú câu được nướng tại chỗ, thơm lừng. Thơm hơn mùi cá nướng đêm qua. Vinh vồn vã gắp thức ăn cho Oanh, dù nàng từ chối nhẹ nhàng. Võ Bằng thì khác, chỉ gắp khi nàng gật đầu. Sự tế nhị ấy, tưởng nhỏ, lại khiến nàng nhớ mãi.

Tư lệnh Thám chỉ tay về một căn nhà xa:
– Các em có biết vì sao nơi này gọi là Mũi Ông Đội?

Không ai trả lời. Ông kể:
– Ngày xưa, quân Tây Sơn truy đuổi Gia Long. Đến vùng này, thuyền mắc cạn. Một cai đội nhảy xuống gỡ neo, bị sóng cuốn mất. Sau này, khi đã làm vua, Gia Long quay lại, lập đàn tế, truy điệu. Gọi nơi này là Mũi Ông Đội, để ghi nhớ người lính hy sinh vì nghĩa cả.

Oanh lầm bầm: “Với người ơn thì hết lòng báo ơn, với kẻ thù thì hết dạ báo thù!”

Sau bữa ăn, Vinh rủ nàng đi dạo dọc bãi. Họ ghé thăm căn nhà của một ngư ông. Ông lão với mái tóc tuy bạc trắng nhưng dáng khỏe mạnh, tiếp đón niềm nở. Ông dẫn họ đến một miếu nhỏ thờ vua Gia Long. Trước miếu là tượng cọp, bên trong là linh vị, nhang khói nghiêm trang. Bên cạnh là giếng cổ, giếng cạn mà không khô, nước trong quanh năm, gọi là Giếng Tiên.

Tự dưng Như Oanh hỏi xin ông cụ thắp nhang. Nàng chắp tay khấn vái ba lạy. Lịch sử qua sách vở chưa hề làm nàng động tâm. Mà ở đây, đất trời, biển đá và miếu thờ như dòng sông thiêng cuốn nàng đi…

Nàng ngập ngừng hỏi lão ông:
– Cụ ở đây một mình?
– Còn hai đứa con trai. Vợ tôi mất hai năm rồi.
– Ngoài nơi này, còn nơi nào nên đến nữa không cụ?
– Mũi này chỉ có san hô, giếng, miếu thôi. Còn như cô cậu muốn xem đảo đẹp, phải ra Hòn Thơm.

Trên đường trở về, Vinh nói nhỏ, nửa đùa nửa thật:
– Em lạ lắm. Thường ngày tếu táo, hôm nay lại trịnh trọng thắp hương.
– Có lẽ em… đang đổi thay. Như trước đây em ghét Gia Long, giờ thấy ông cũng không tệ!
– Như trước đây em vồn vã, giờ em lạnh nhạt?
– Ý anh là sao?

Vinh cười, lắc đầu:
– Đừng làm bộ!

Rồi anh đổi giọng nghiêm trang:
– Nhắc đến Gia Long anh mới nhớ. Mục đích anh ra đây cũng vì tin vui này. Ba cho biết em đã được bổ nhiệm về dạy trường nữ Trung học Gia Long.

Nàng đứng khựng lại. Mắt mở lớn. Dạy trường Gia Long! Khó tin quá! Nàng vẫn đinh ninh may mắn lắm là được dạy gần Sài Gòn. Chắc chắn ba của Vinh đã can thiệp. Vậy là… kẹt cứng rồi!

Vinh nắm tay nàng, hớn hở:
– Em còn nhớ lần đầu mình hôn nhau không?

Oanh im lặng. Hôm ấy, anh đưa nàng đi Quán Đồng Quê ở Thủ Đức. Giữa bữa, anh tặng món quà sinh nhật – chiếc xuyến vàng nàng từng ao ước. Nàng xúc động, hôn anh ngay giữa chốn đông người.

Giờ nhớ lại, cảm xúc như xưa không về. Phải chăng vì… Nàng đảo mắt nhìn Vinh.  Rồi lắc đầu tự nhủ: “Đâu lẽ! Chỉ mới gặp vài giờ. Điển trai ư? Vinh cũng hơn hẳn. Năng nổ, vui vẻ? Vinh càng hơn. Nhưng… nhưng sao cứ nhìn Vinh là hình ảnh Võ Bằng thấp thoáng? Như Oanh ơi, mi chỉ là khách lạ trên đảo hoang. Hãy quay về bến cũ.”

Vinh nhìn nàng, giọng nhẹ như hơi gió:
– Em thay đổi thật rồi. Anh tưởng, nghe tin bổ nhiệm, em sẽ mừng, sẽ ôm hôn anh chứ?

Nàng chống chế:
– Không tiện. Có anh chị nhìn…
– Ngày xưa em không rụt rè…

Nàng im. Anh gằn nhẹ:
– Cả chiếc xuyến cũng không thấy em đeo.
– Em để ở nhà, sợ bơi lội, rớt xuống biển.
– Chớ không phải… tại đổi thay?

Nàng siết nhẹ tay anh. Gió biển mát rượi. Tóc nàng bay chạm má. Nàng nhoẻn cười:
– Không phải em thay đổi. Mà là… em bắt đầu nhận ra.
– Nhận ra điều gì ở chốn buồn tênh này?
– Nơi buồn tênh này hợp với tâm hồn em.
– Nghĩa là sao?
– Em vẫn yêu quý anh. Nhưng có lẽ… em đang sợ những con đường đầy xe, những nhà hàng sang trọng, cuộc sống vội vã, bon chen…
– Hai tuần qua, em không nhớ anh chút nào sao?
– Nhớ, nhớ lắm. Rồi bỗng nhiên biển chiếm hồn em.
– Sau đám cưới, anh sẽ đưa em về nơi có biển. Em mặc sức yêu biển.

Vinh luôn biết chiều nàng, nhưng lần này…

Một cơn gió mạnh thổi qua. Chiếc khăn trùm đầu của nàng bay xuống nước. Vinh lao theo. Khi lên bờ, bàn chân anh rướm máu. Oanh lấy khăn băng lại. Vinh gạt ra.

Nàng buồn rầu:
– Xưa có lần em đứt tay, anh băng bó, em đâu từ chối.
– Nhưng bây giờ… em không còn là người xưa.

Nàng thở dài:
– Đừng đẩy em ra xa. Hãy để em vui với biển. Ngày về lại Sài Gòn, em sẽ lại là người xưa của anh.

Vinh choàng tay qua vai nàng. Trái tim Oanh không mảy may đập nhanh như ngày nào…

***

Chín giờ sáng hôm sau.

Chiếc Tiểu vận đỉnh lại đưa họ ra khơi – lần này là Hòn Thơm, cách An Thới bốn cây số về phía Nam.

Như với Mũi Ông Đội, chiếc đỉnh vất vả luồn lách tiến vào bãi Trào, một dải cát trắng mịn như tơ, trải dài dưới hàng dừa cao rì rào trong gió. Ven bãi, vài chục căn nhà khang trang, ẩn hiện trong bóng dừa. Vài đứa bé chạy đến, lễ phép chào kính.

Tư lệnh Vùng là khách quen của đảo. Tổng Thống cũng từng viếng đảo này. Chúa đảo là một ngư dân vạm vỡ trung niên thân mật đón tiếp. Không ai cần mang theo gì. Tắm biển, ăn uống, nghỉ ngơi – mọi thứ đã được chuẩn bị.

Cả nhóm ào xuống biển. Nước trong và mát rượi. Cát mịn dưới chân như vuốt ve.
Vinh và Oanh lặn thật xa, qua những rạn san hô lộng lẫy. Có nơi như rừng nấm rơm – tầng tầng lớp lớp, lấp lánh, lung linh. Cá lớn nhỏ, đủ loại, đủ màu. Có nơi hàng chục con mực đứng lửng lơ, thư thái.

Bữa trưa không cơm, chỉ toàn hải sản: cá hấp, cua nướng, sò, tôm. Món nào cũng tuyệt ngon. Vinh vừa nhai vừa trêu ghẹo:

– Có phải đây là lý do khiến em yêu biển?
– Lý do phụ.
– Còn lý do chính?
– Một ngày nào đó, nếu thật sự là lý do chính, em sẽ nói cho anh hay.

Vinh nhăn mặt:
– Em khó hiểu quá.
– Em còn chưa hiểu em. Huống gì anh.

Ăn xong, họ nằm dài trên ghế vải, dưới bóng dừa. Biển trước mặt lặng như tờ. Chỉ nghe tiếng sóng lùa nhẹ vào cát.

Hai giờ chiều, Tư lệnh rủ mọi người băng rừng ra bãi Chướng, phía Tây đảo. Ông nhiệt tình giới thiệu:
– Ở đó có một nơi ngắm mặt trời lặn xuống biển, không đâu sánh bằng. Nếu các em đủ kiên nhẫn chờ…

Cả nhóm háo hức theo sau ông. Rừng mát rượi, hầu hết là lùm cây. Mùi đất, mùi lá khô quyện mùi biển thành loại hương lạ sảng khoái. Lối mòn lên dốc ít người đi nên đôi lúc gặp cành lá chắn ngang. Bù lại, hai bên rất nhiều hoa lạ. Những đóa hoa nho nhỏ, màu rất tươi. Có lùm toàn màu vàng, có lùm toàn màu đỏ, màu tím, màu xanh, đậm và lợt. Vinh ngắt thành một bó đẹp mắt tặng Như Oanh.

Khi xuống đến bãi có hình cánh cung, Tư lệnh chỉ tảng đá chênh vênh trên ghềnh cuối đảo:
– Tảng đá đó trông chênh vênh nhưng dễ leo. Anh chị đã hai lần lên đó ngồi ngắm hoàng hôn. Đẹp tuyệt vời. Khi mặt trời dần dần xuống, mây cũng dần dần đổi màu. Rồi cả vùng đa sắc rực rỡ tiễn biệt thái dương chìm khuất.

Như Oanh reo lên thích thú:
– Vậy thì hôm nay tụi em nhất định phải chờ xem.

Nhưng chưa đầy một giờ sau, một anh lính hối hả chạy đến báo Phòng Truyền Tin cần gặp Tư lệnh gấp. Tư lệnh lặng người. Rồi quay đầu, tất tả cùng anh lính trở lại bãi Trào.

Nhóm chúng tôi tiếp tục đi dọc bãi, đuổi theo vô số con còng, nhặt nhạnh những vỏ sò lạ mắt. Tội nghiệp Vinh, anh vẫn cố bước theo dù vết cắt ở chân bắt đầu đau, phải đi cà nhắc!

Nửa giờ sau, anh lính trở lại. Anh nhắn lời Tư lệnh là tất cả phải về ngay An Thới!

Trên đường về, Tư lệnh cho biết lý do: Ba của Vinh báo cho biết chuyến bay bị hủy bỏ. Vinh phải tìm cách về Sài Gòn bằng phương tiện sớm nhất.

***
Ngoài khơi dãy ponton cầu tàu, hàng trăm ngọn đèn câu chiếm trọn vùng biển. Ánh sáng lay động như những ngọn đuốc ma trơi, buồn lạ lùng.

Vinh bước khập khiễng ra cầu tàu. Chân anh bắt đầu đau nhiều hơn nhưng anh nhất định không đến bệnh xá. Như Oanh đi bên, nắm cánh tay Vinh. Gió hất tóc nàng về phía sau, lất phất như những ngón tay anh ngày nào vuốt nhẹ. Nàng mỉm cười, nhận ra một điều chắc chắn: nàng vẫn còn yêu Vinh.

Khi đến chiếc khinh tốc đỉnh, Vinh mở vòng tay. Khác với khi anh đến, nàng bước nhanh vào. Siết chặt. Anh mỉm cười, nàng mỉm cười. Họ hôn nhau.

Nàng nói, giọng buồn:
– Em chợt nhớ một câu trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Thích câu đó lắm mà nào biết buồn ra sao. Bây giờ có phần thấm thía.

Vinh cười, giọng đùa xót xa:
– Em chỉ “có phần” nhưng anh thì “toàn phần”!

Rồi vội nhấc chiếc xách tay, cà nhắc bước lên tàu.

Tiếng rền của động cơ khinh tốc đỉnh không át được tiếng Vinh vọng đến:
– Cô giáo sư nhớ về nhận nhiệm sở. Đừng có… khùng!

Như Oanh đứng yên, mỉm cười nhìn theo. Con tàu lướt đi. Dòng nước cuộn lại sau đuôi, trắng xóa, rồi tan vào biển đêm.

(Còn tiếp)