Chương 2
Tiếp nhận
quyền chỉ huy
Sáng ngày
14 tháng 11 năm 1969, lúc 9 giờ 30, chiếc Cessna bốn chỗ bay vòng, chao đảo như
con chim bị thương khi hạ cánh xưống phi trường An Thới lót bằng vỉ sắt. Các
bánh lăn chậm dần rồi dừng hẳn trước mũi Ông Đội. Một vùng nước long lanh mở rộng
xa khơi cực Nam Phú Quốc.
Art by
James Flood
Võ Bằng
xách ba lô xuống phi cơ cùng một quân cảnh Việt và hai quân nhân Mỹ hướng về trạm
chờ có biển đề trên cao: “An Thoi International Airport.” Một cợt đùa mỉa mai
cho một phi trường dã chiến chỉ dành cho phi cơ quân sự nội địa.
Anh tài xế
chạy vội đến tiếp giúp mang hành lý. Hải Quân Đại Úy Lý Quý Lân Hạm trưởng sắp
mãn nhiệm bắt tay người bạn cùng khóa đến thay thế. Cả hai cười nói, rảo
bước về chiếc Jeep chờ sẵn. Lân lái, Bằng ngồi cạnh. Đây là lần thứ ba Võ Bằng
đến An Thới nhưng khác hai lần trước, lần này anh đến bằng đường hàng không.
Con đường đất sỏi lọc xọc dọc ven biển dẫn vào khu quân sự tách thành hai ngõ:
một rẽ phải dẫn lên ngọn đồi về Trại giam Phiến Cộng, và một rẽ qua Căn Cứ Yểm
Trợ Tiếp Vận và Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4.
Khi xe hướng
vào cầu tàu, Lân điểm nhanh chương trình sinh hoạt trong ngày. Buổi sáng lễ bàn
giao, nhân viên mặc quân phục làm việc thay vì tiểu lễ. Buổi tối, tiệc khoản
đãi tại tư dinh Tư Lệnh Vùng.
Chiếc HQ
266 cập sát cầu. Những con số hiện lên rõ ràng trong trí anh: chiều dài 50 thước,
chiều rộng 8 thước. Sĩ quan 7, hạ sĩ quan và đoàn viên 60. Trợ chiến hạm nhỏ
hơn hộ tống hạm, bề thế một tám một mười, nhưng về hỏa lực thì trợ chiến hạm có
phần lấn lướt đôi chút. Cùng trang bị một khẩu đại bác 76 ly, hai khẩu 40 ly
nhưng một chiếc thì 40 ly nòng kép, một chiếc nòng đơn.
Hạm Trưởng
Lân bước lên tấm ván bắc lên tàu. Sĩ quan, hạ sĩ quan trực chào tay. Tấm ván gập
ghềnh, nhún nhảy khiến Võ Bằng liên tưởng đến những thử thách đợi chờ phía trước.
Để ba lô trên cầu, Đại Úy Bằng theo sau. Vừa đặt chân lên boong, Võ Bằng chào
Quốc kỳ treo sau lái. Anh nói khẽ với hạ sĩ quan trực:
– Nhờ anh
cho người mang ba lô của tôi về phòng hạm trưởng.
Một đại úy
Mỹ đứng cạnh hạm kiều chào Hạm trưởng Lân. Rồi bước sang chào Bằng:
–
Lieutenant William Graham, USN.
– Nice to
know you. Can you speak Vietnamese?
Đại Úy
Graham bắt tay, ngọng nghịu:
– Chút
chút. Hân hạnh được làm việc với ông, Captain.
Võ Bằng cảm
thấy hứng khởi. Có một cố vấn biết điều cũng không đến nỗi tệ.
Thủy thủ
đoàn tập họp ở sân sau. Tiếng hô “Nghiêm” vang lên. Một Trung Úy từ hàng đầu bước
ra, chào trình diện:
– Sĩ quan
trực báo cáo: Quân số 67, 3 đi phép. Hiện diện 64.
Hạm Trưởng
Lân hô “Nghỉ”. Khi sĩ quan trực đã trở về hàng, anh nghiêm giọng nói:
– Sĩ quan,
hạ sĩ quan và đoàn viên Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm HQ 266. Tôi hân hoan giới thiệu
với các anh, Hải Quân Đại Úy Võ Bằng, người thay thế tôi chỉ huy chiến hạm kể từ
giờ phút này.
Một tràng
pháo tay nổi lên. Tân Hạm trưởng bước đến hàng sĩ quan. Người đầu tiên hất mặt:
– Hải Quân
Trung Úy Phạm Lê Tiến, Hạm Phó.
Võ Bằng gật
đầu, chìa tay. Hai bàn tay nắm chặt.
Dãy sĩ quan
lần lượt xưng danh, chức vụ. Giọng rắn rỏi, dáng quân phong.
Tiếng hô
vang:
– Sĩ quan.
Bước tới hai bước.
Hàng hạ sĩ
quan lần lượt giới thiệu, bắt đầu là Thượng sĩ Trọng pháo Đinh Công Tâm, Quản Nội
Trưởng.
Sau khi trở
về trước hàng quân, cựu Hạm Trưởng phát biểu:
– Trong mười
bốn tháng qua chúng ta đã đạt thành tích đáng kể. Bắt hai tàu tiếp tế vũ khí.
Khám xét và xua đuổi hàng trăm tàu đánh cá xâm phạm lãnh hải. Chúng ta cũng đã
yểm trợ hải pháo hiệu quả cho các cuộc hành quân và tiền đồn ven biển. Tôi hãnh
diện và biết ơn sự tận tụy của các anh. Tôi sẽ nhớ mãi các anh và mong có dịp gặp
lại nhau ở các đơn vị sau này. Hôm nay mệnh lệnh cuối cùng của tôi là: Hãy tuân
lệnh Đại Úy Võ Bằng như các anh đã từng tuân lệnh tôi. Cầu chúc tân Hạm trưởng
và chiến hạm đạt nhiều thành tích trong thời gian tới. Tạm biệt tất cả.
Võ Bằng tiến
đến máy vi âm:
– Sĩ quan,
Hạ sĩ quan và Đoàn viên. Tôi mong được tất cả tin tưởng, thương mến và hợp tác
như đã dành cho cựu Hạm trưởng. Cám ơn các anh đã gìn giữ chiến hạm sạch sẽ,
tươm tất và sẵn sàng. Cho tôi gởi lời thăm hỏi gia đình các anh.
Hạm Phó
dõng dạc: “Nghiêm. Chào tay, chào.” Tất cả đồng loạt đưa tay lên ngang mày. Hai
Hạm Trưởng chào đáp rồi rời vị trí hành lễ. Lệnh tan hàng vang lên.
Võ Bằng bảo
Hạm Phó:
– Anh cho
nhận còi nhiệm sở vận chuyển.
Tiếng còi
“te tích” dồn dập vang lên. Mọi người túa về vị trí chỉ định. Trên đài chỉ huy,
Võ Bằng ngước nhìn lá cờ phất phới định hướng gió rồi ra lệnh tháo hết dây. Anh
tiếp tục ban các lệnh cần thiết để tách con tàu rời cầu. Lần đầu trong tư cách
chỉ huy, anh ban lệnh dứt khoát và phản ứng của tàu chính xác. Anh thấy mừng thầm
và vững tin hơn.
Anh nhắc Hạm
phó:
– Cho còi
trực phiên hải hành.
Hạm phó
đích thân nhận còi hiệu Chi đội 1 lên phiên.
Tiếng còi
vang lên nhịp nhàng. Võ Bằng cho máy tiến 1 rồi tiến 2 hướng thẳng ra khơi. Anh
hỏi Hạm Phó:
– Tốc độ tối
đa của tàu là bao nhiêu?
Tiến đáp
nhanh:
– Thưa Hạm
Trưởng, tốc độ là 12 gút, máy tiến 4. Chỉ khi khẩn cấp, máy đạt tối đa là 14
gút.
– Khi tuần
tiễu, thường là tốc độ nào?
– Thưa, tiến
2, tốc độ 6 gút, tiết kiệm dầu tối đa.
– Với tốc độ
6 gút, tầm hoạt động của tàu là bao xa?
– Thưa 5
ngàn hải lý.
– Hai máy
chánh hiệu gì?
– Thưa,
General Motors.
Võ Bằng mỉm
cười hài lòng:
– Từ phút
này tôi giao Hạm Phó quyền chỉ huy. Lo liệu để trở về cập cầu lúc 1 giờ.
Hai Hạm Trưởng
rời đài chỉ huy, đi một vòng kiểm soát vũ khí, đạn dược; rồi đến trắc nghiệm
các khu vực chức năng: Truyền Tin, Chiến Báo, Y tế; kế đến thanh tra phòng ngủ,
nhà bếp, nhà ăn. Nơi nào cũng sạch sẽ, ngăn nắp.
Cuối cùng,
cả hai theo cầu thang thẳng đứng, xuống tầng đáy tàu. Thời còn làm Hạm
Phó Hộ Tống Hạm Đống Đa, mỗi lần xuống đó Võ Bằng đều hết sức thận trọng. Một
là không khí nặng mùi dầu mỡ, ánh đèn thì lờ mờ. Hai là các bậc thang âm ẩm
trơn trợt. Nay càng thêm thận trọng. Hạm trưởng gặp tai nạn là cả vấn đề. Nhưng
dù có thế nào, đã là Hạm trưởng thì phải thông hiểu … trái tim của con tàu, phải
biết vị trí máy chánh ở đâu, máy điện nơi nào, cách vận hành ra sao. Dù đã
nghiên cứu Cẩm Nang thì cũng chỉ là… lý thuyết.
Thiếu
Úy Cơ Khí Ngô Quang nghiêm chỉnh chào đón. Tàu thì từ thế chiến hai nhưng các
máy chánh và máy điện đều mới tinh. Tiếng máy lấn át tiếng người, nhưng Võ Bằng
vẫn thông hiểu các hướng dẫn.
Trên đường
về phòng họp, Võ Bằng khen bạn:
– Đúng là
phong cách Lý Quý Lân từ thời quân trường. Dù đang công tác mà tàu đâu vào đấy!
Lân cười:
– Thật ra
tao sợ tàu dơ, mày không nhận. Mày cũng đâu… dễ tánh!
Võ Bằng gục
gặc:
– Sáng nay,
tao thấy sàn tàu còn vài nơi lốm đốm sơn chống rỉ sét.
– Thì đang
công tác mà. Trăm phần trăm sao nổi.
– Tao nhận
hôm nay chỉ mong sau này bàn giao, không bị từ chối!
Cả
hai phá lên cười bước vào phòng ăn cũng là phòng họp. Chiếc bàn cho tám người đặt
xuôi theo lòng tàu. Các sĩ quan đứng lên. Võ Bằng ra dấu mời ngồi.
Tân Hạm trưởng
ngồi đầu bàn, bên phải ông cựu, Cố Vấn bên trái, các sĩ quan theo thâm niên.
Trước mặt là chồng hồ sơ, nhiều quyển sổ bìa đen cứng.
Võ Bằng
quay sang Graham:
– Mister
Graham, this is a procedure of changing hands, you may leave if you like.
Giọng của
Bill chân thành:
– Tôi thích
dự để học.
Câu trả lời
khiến Võ Bằng vui vui. Đối tác quả là biết điều.
Anh nhấc
quyển Sổ Trực nhật, đọc lướt rồi cùng Hạm trưởng mãn nhiệm ký tên. Quyển sổ được
giao sĩ quan trực nhật. Sổ Nhật ký Hải hành, giao cho sĩ quan hải hành. Các sổ
khác lần lượt xem xét, ký tên, giao cho Trưởng ban tương ứng.
Võ Bằng hỏi
Lân:
– Còn Hồ Sơ
Mật?
Lân gật đầu:
– Sẽ bàn
giao khi lên phòng Hạm Trưởng.
Võ Bằng
nhìn qua một lượt các sĩ quan, nhắn nhủ:
– Tôi không
có ý định thay đổi chức vụ của các anh. Điều tôi mong mỏi là các anh tích cực cải
tiến ban của mình; đồng thời hợp tác chặt chẽ với nhau, giúp chiến hạm luôn
trong tình trạng sẵn sàng.
Tiếng còi
nhiệm sở vận chuyển vang lên. 12:45. Võ Bằng nhìn quanh:
– Cập cầu
xong chúng ta dùng cơm trưa. Tối nay, đúng 7 giờ, trừ sĩ quan trực, chúng ta dự
tiệc tống cựu nghinh tân của Tư Lệnh Vùng…
***
Sân sau Tư
dinh Hải Quân Đại Tá Lương Đình Thám nằm trên đồi. Tiếng sóng rì rào và hoàng
hôn vàng óng trên những cành dừa xanh. Gió rất nhẹ, như là một báo hiệu cuối
mùa giông bão.
Năm chiếc
bàn dài bày biện hải sản tươi, bếp lò ga lò nướng. Mỗi bếp có một dân địa
phương phục vụ. Bia, rượu và ly do Cố Vấn cung cấp.
Tư Lệnh
Vùng thân mật chào đón. Các sĩ quan tùy ý chọn bàn, trừ bàn dành cho sĩ quan
cao cấp và hai Hạm trưởng. Do cấp bậc… không cao, Bằng và Lân đối diện nhau cạnh
Tư lệnh phu nhân ngồi cuối bàn.
Qua phong
thái lịch duyệt và duyên dáng, bà vui vẻ nói:
– Ông nhà
tôi thường nhắc hai Hạm trưởng là hai khóa sinh ưu tú.
Lân lịch sự
đáp lời:
– Tư lệnh
quá khen.
Nghe tiếng
kéo ghế, Võ Bằng quay lại. Tim anh như ngưng đập. Người con gái ấy – đôi mắt to
tròn, tóc uốn thả lơi, môi cười mỉm – chìa tay:
– Chào anh.
Tôi, Huỳnh Như Oanh.
– Võ Bằng.
Hân hạnh.
Võ Bằng né
tránh người đẹp suốt hai năm qua, hôm nay như một bù trừ, thượng đế giáng trần
một tiên nữ cận kề không còn đường đào thoát.
Vừa ngồi an
vị, tiên nữ nhìn sâu mắt Bằng:
– Anh có đọc
truyện “Ba người con gái của Lương phu nhân”? Tôi là em gái của Lương phu nhân.
Võ Bằng mỉm
cười:
– Tôi biết
Lương phu nhân của Pearl Buck. Bà ấy sinh vào thế kỷ trước. Thoạt đầu tôi nghĩ
cô là tiên nữ giờ xin đổi là … ma nữ!
Huỳnh Như
Oanh thích thú cười dòn, chỉ Tư lệnh phu nhân:
– Tôi nói
thiệt mà! Lương phu nhân đang ngồi cạnh anh đó.
Đại tá
Lương Đình Thám gõ chén, đứng lên. Ông tuyên bố khai mạc:
– Sáng nay
lẽ ra tôi chủ tọa lễ bàn giao quyền chỉ huy chiếc Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm nhưng
ban tham mưu bận thanh tra Duyên Đoàn 46. Buổi họp mặt chiều nay mục đích là để
cáo lỗi buổi sáng. Chúng ta hãy nâng ly chia tay cựu Hạm Trưởng Lý Quý Lân và
đón chào Tân Hạm Trưởng Võ Bằng. Tôi cầu chúc cả hai Hạm Trưởng hoàn thành mỹ
mãn nhiệm vụ mới.
Đợi tiếng vỗ
tay chấm dứt, Tư Lệnh tóm lược bằng tiếng Mỹ, rồi tiếp tiếng Việt:
– Nhân dịp
này, tôi còn muốn giới thiệu cùng các anh mười cựu khóa sinh của Trường Sinh
Viên Sĩ Quan Hải Quân trong thời tôi giữ chức Hiệu Trưởng. Nói rõ hơn là các cựu
khóa sinh khóa 11, khóa 12 và khóa 13. Đặc biệt có hai khóa sinh khóa 11
cùng lên đại úy sớm nhất, cùng làm Hạm trưởng cùng tàu. Mời các cựu khóa sinh đứng
lên trình diện quan khách.
Một tràng
pháo tay vang dội ngọn đồi. Võ Bằng vừa ngồi xuống thì Như Oanh hỏi ngay:
– Cùng
khóa, cùng tàu… Sao anh Bằng là Tân mà anh Lân là Cựu?
Võ Bằng cười
cay đắng:
– Tại, do,
bị… mỹ nhân kế!
– Thiệt hại
cỡ nào?
– Đủ để
thành…tân Hạm Trưởng!
Như Oanh bật
cười thích thú:
– Vậy tôi
nên chia vui hay chia buồn?
Lương phu
nhân xen vào:
– Đại úy đừng
chấp nhứt. Nó sắp lấy chồng mà lúc nào cũng nghịch ngơm. Thôi! Mời vào vào tiệc.
Phu nhân chọn
mực nướng. Hạm Trưởng Lân chọn nguyên con ghẹ. Võ Bằng hỏi Như Oanh thích ăn
gì. Cô hỏi lại:
– Anh thích
ăn gì. Còn có biên mai, bào ngư, cá bống mú.
Cuối cùng cả
hai chọn cá bống mú nướng. Trong khi chờ cá chín, Như Oanh hỏi:
– Mỹ nhân kế
thế nào?
Không muốn
trả lời Võ Bằng trêu ghẹo:
– Thế nào
là thế nào?
– Mỹ nhân kế
thì thiên hình vạn trạng. Hạm trưởng Bằng bị va vào hình trạng nào?
Bằng cười:
– Chuyện nhỏ!
Bỏ đi tám. Hãy nói chuyện lớn. Chúc mừng cô…
Huỳnh Như
Oanh chận ngang:
– Sắp thôi.
Sắp đám hỏi. Sắp nghĩa là chưa xảy ra. Mà sắp đám hỏi thì càng mong manh, hủy bỏ
lúc nào chả được!
Thấy Bằng
trợn mắt, Huỳnh Như Oanh cười:
– Chuyện nhỏ.
Mỹ nhân kế mới là chuyện lớn. Như Oanh rất muốn nghe.
Xem ra tiên
nữ không chịu bỏ cuộc nửa chừng, Võ Bằng vắn tắt cho xong:
– Đại khái
thuở còn là Hạm phó, một hôm, một người đẹp đến tận chiến hạm xin đi quá giang.
Tôi xem giấy phép hợp lệ nên xin Hạm trưởng cho đi. Cô nàng dựa hơi quen biết Hạm
phó, lính canh nể nang nên mang trót lọt quả bom xuống tàu. Hóa ra là nữ đặc
công Việt cộng, dùng giấy phép quá giang giả.
Như Oanh trố
mắt nhìn anh kêu lên:
– Trời! Có
ai bị gì không?
Võ Bằng cười
thật tươi:
– Không! Giờ
chót, cô ta đem lòng yêu Hạm phó nên không cho bom kích nổ!
Như Oanh cười
lớn:
– Nói y như
thiệt!
(Còn tiếp)
***
Chương 3
Từ An Thới
qua Hòn Đốc
Hạm trưởng
Võ Bằng rời Phòng Tình Hình Bộ Tư Lệnh Vùng, về đến chiến hạm liền cho lệnh họp
sĩ quan.
Mười phút
sau, anh bước vào phòng họp. Tất cả đứng nghiêm. Anh ra hiệu “ngồi”.
Cố vấn Mỹ mỉm
cười:
– Good
morning, Captain! Have good day.
– Cám ơn.
You too.
Võ Bằng
nhìn quanh các sĩ quan, giọng bình thản, dứt khoát:
– Như cũ,
công tác tám ngày, nghỉ bến hai. Lần này, trục Bắc đảo – Quần đảo Hải Tặc. Tàu
mình từng hoạt động tuyến này chưa?
Mọi người
hoặc lắc đầu, hoặc im lặng. Hạm phó lên tiếng:
– Thưa Hạm
trưởng, theo tôi biết thì chưa.
– Tôi cũng
vậy. Ngẫm nghĩ cũng khá thú vị! Chuyến đầu tiên với tư cách Hạm trưởng lãnh
ngay cú… ngựa phi đường xa, từ Mũi Ông Đội cực Nam đến Mũi Trâu Nằm cực Bắc.
Tôi tuổi Sửu chớ có là … ngựa đâu!
Tiếng cười
rộ nhẹ. Cố vấn Mỹ ngơ ngác, Võ Bằng đành dịch lại, rồi tiếp:
– Phú Quốc
cách Hà Tiên khoảng 70 cây số. Quần đảo Hải Tặc cách Hà Tiên chừng một phần ba.
Năm 64 tôi từng lên Hòn Đốc khi còn phục vụ trên hải vận hạm. Đảo cát trắng sạch,
cây rậm rạp, dân chài khoảng trăm người. Một cụ già dẫn tôi xem mốc chủ quyền –
khắc chữ “VIỆT NAM CỘNG HÒA – QUẦN ĐẢO HẢI TẶC”, dưới có hình hai mỏ neo gác
chéo. Trên bệ đá, ghi tên 16 đảo, trong đó có Kèo Ngựa, Kiến Vàng, được đặt tên
cho hai Tuần duyên hạm.
Anh quay
sang cố vấn Mỹ:
– Do you
know “Pirate Islands”?
– No, sir.
Vừa dịch
xong thì Thiếu úy Ngô Quang hỏi:
– Thưa Hạm
trưởng, tên Hải Tặc nghe rùng rợn. Có hải tặc thật sao?
– Ngày xưa,
có. Ông bà ta thường đặt tên theo sự kiện. Như đất nền cao ở Mỹ Tho trồng toàn
dứa nên đặt Giồng Dứa. Hay một con sông có nhà trên bè nổi dành cho giới thương
hồ ghé nghỉ ngơi gọi Nhà Bè. Quần đảo Hải Tặc xưa là nơi hải tặc ẩn trú.
Nay thì không còn. Nhưng thay vào đó, là cộng tặc — và chúng thích hành động
ban đêm.
Võ Bằng mở
bao thơ đóng dấu MẬT. Mắt lướt quanh bàn họp. Trong lễ bàn giao, các sĩ quan đã
xưng tên, chức vụ — nhưng anh chỉ nhớ vài người.
– Sĩ quan
Truyền tin? — Anh gọi.
Một người
giơ tay. Võ Bằng nhìn bảng tên “Bùi Anh Tuấn”, đưa xấp tài liệu:
– Đây là đặc
lệnh truyền tin. Chuẩn bị sẵn tần số liên lạc với hai Tuần duyên đỉnh, hai Chiến
thuyền, và Đài kiểm báo 402 trên đảo Hòn Đốc.
Anh lại lướt
qua từng người:
– Hải hành?
– Thưa tôi,
Trung úy Đặng Thành Tài.
– Anh kẻ hải
trình từ đây đến Quần đảo Hải Tặc. Thận trọng tránh khá xa bãi cạn, đá ngầm.
Tôi cần đường an toàn, không cần nhanh nhất.
Rồi quay
sang Hạm phó:
– Tình trạng
kỹ thuật tàu đã kiểm soát chưa? Súng? Đạn? Xuồng? Phao nổi?
– Đã kiểm
tra. Tất cả khiển dụng, đầy đủ, thưa Hạm trưởng.
– Tốt.
Anh nhìn
sang Sĩ quan An ninh:
– Có ai lạ
trà trộn? Tàu này có thể tin cậy chứ?
– Thưa Hạm
trưởng, trăm phần trăm. Không có ai đáng nghi ngờ.
Thiếu úy
Dương Công Đức – phụ trách ẩm thực – nhăn mặt:
– Về thực
phẩm… An Thới quá thiếu rau thịt trái cây. Trước đây, cựu Hạm trưởng cho tàu đi
chợ Hà Tiên hoặc Rạch Giá. Hiện tại, lương thực chỉ đủ ba ngày.
Võ Bằng gật
đầu:
– Đồng ý. Nếu
kẹt hành quân, ta ăn cá tôm cua mua từ ngư dân.
Người cười,
người lắc đầu. Võ Bằng quay sang cố vấn:
– Anh hiểu
chứ?
– Not all.
Something about eating crab?
– Exactly.
When rations are low, we look for fisherman.
Tiếng cười
rộ lên. Võ Bằng nhìn sang sĩ quan cơ điện:
– Nhiên liệu
tàu?
– Hầm dầu đầy,
thưa Hạm trưởng.
– Tốt.
Võ Bằng đứng
dậy:
– Cho tập họp
tất cả. Tôi cần nói đôi lời.
Tiếng còi tập
họp nổi lên. Các sĩ quan rời phòng, lên boong chính. Trên đường đi, anh dặn dò
cố vấn Graham sẵn sàng không yểm khi cần.
Ít phút
sau, Võ Bằng đứng trước hàng quân chỉnh tề:
– Anh em Trợ
Chiến Hạm Rạch Gầm. Đây là tàu của chúng ta. Là nhà, là pháo đài, là chốn sống
chết. Chúng ta ăn, ngủ, hành quân cùng nó. Vì thế, mọi người đều có trách nhiệm.
Giọng anh
trầm xuống:
– Tôi mong
mỗi người mang hết khả năng hải nghiệp của mình để hoàn thành mỹ mãn công tác.
Mọi sáng kiến cải tiến đều được hoan nghênh. Tôi đặt trọn niềm tin vào anh em.
Võ Bằng dứt
lời. Cả boong tàu lặng như tờ. Rồi nở ra những nụ cười mỉm, tự hào. Lệnh giải
tán được ban ra.
Năm phút
sau — còi nhiệm sở vận chuyển vang lên…
***
Đứng bên hữu
mạn đài chỉ huy, Võ Bằng lặng nhìn khối sắt khổng lồ rời cầu, lướt nhẹ qua từng
lượn sóng nhịp nhàng thư thả tiến ra khơi.
Anh tựa tay
lên thành thép mới sơn, thở nhẹ. Gió đầu mùa Đông Bắc mơn man khuôn mặt, mang
theo mùi mặn dịu dàng của biển khơi. Trời cao, nước biếc đón mừng tân Hạm trưởng.
Anh bước chậm
tới chiếc ghế dành riêng cho mình, thả lỏng người. Một làn hơi ấm chạy khắp sống
lưng. Nhẹ nhõm. Mọi xui rủi đã lùi lại phía sau. Ước mơ ngày xưa giờ đây đã là
thực tại.
Một ngày
nào đó, anh sẽ về quê Đa Phước khoe với ba mẹ rằng thằng con đi học Sài Gòn,
ngày ngày cuốc bộ đến trường, không tiền về quê nghỉ hè, phải mò xuống bến chợ
Bình Tây xin quá giang ghe chài và chỉ dám mơ ngày được làm tài công, mà nay nó
ngồi ở ghế chỉ huy một chiến hạm Hải quân.
Võ Bằng nhất
định mời cho được ba mẹ lên Sài Gòn thăm viếng, nhìn tận mắt chiếc trợ chiến hạm.
Anh không tưởng tượng được niềm hãnh diện của ba mẹ ra sao!
Đồng hồ chỉ
đúng 10 giờ. Máy tiến 3. Tốc độ 10 hải lý. Phiên trực đầu tiên của Chi đội 1.
Trung úy Đỗ Văn Lũy đứng phiên, bên mạn tả. Ba người luân phiên giữ tay lái,
hai quan sát viên ở vị trí. Radar và máy đo độ sâu đang hoạt động tốt.
Chiến hạm
lướt qua Hòn Rơi, đổi hướng 090 độ, cắt ngang Hòn Dăm Ngoài. Rồi rẽ lên 045, hướng
về Mũi Ông Đội — điểm cực nam Phú Quốc. Nơi đó, năm xưa, anh từng chứng kiến một
tai nạn lật ghe: biển lặng, trời quang, vậy mà một đợt sóng đột ngột dội vào,
ghe lật úp, chìm luôn, ba ngư dân suýt mất mạng, nếu tàu không kịp cứu.
Chiến hạm
không sợ sóng, chỉ ngại rạn san hô lờ mờ như bóng ma rình rập. Hải trình đã kẻ
tránh chúng, nhưng chẳng bao giờ được chủ quan. Anh đang ở vào vị trí không còn
ai để chia sẻ quyết định, không còn lý do để quy lỗi về người nào khác.
Trên hải đồ,
dòng chảy ngầm đã hiển lộ. Gió mùa Đông Bắc chính thức bắt đầu. Võ Bằng quay
sang sĩ quan trực phiên:
– Nếu không
có biến cố, ba tiếng nữa sẽ đến Hải Tặc. Tức khoảng 2 giờ chiều. Kiểm soát tọa
độ mỗi 15 phút. Nhớ, các anh sai, tôi mất chức đã đành, thậm chí tính mạng cả
tàu lãnh đủ. Hãy luôn nhớ: một hải trình êm đềm, chỉ trên… hải đồ!
Chợt nhớ
kinh nghiệm nội tuyến, anh hỏi Hạm phó:
– Lâu rồi
không thực tập phòng tai?
– Dạ, khoảng
ba tháng.
– Vậy rất
nên thực tập. Anh cho báo động giả định “cháy ở hầm máy, chạm điện”.
– Rõ. Thưa
Hạm trưởng.
Hạm phó rời
đài chỉ huy. Vài phút sau — chuông khẩn cấp vang lên dồn dập, xé toạc trưa yên ả.
Loa nội bộ vang tiếng Hạm phó:
“CHÁY HẦM
MÁY! CHÁY HẦM MÁY! Toán 1 – vòi chữa lửa, tiếp cận cửa hầm!”
Cả chiến hạm
chuyển động. Nhân viên chạy ào về sân trước – sân giữa. Tiếng bước chân rầm rập
vang khắp tàu. Giọng Hạm phó gấp gáp:
– Báo cáo Hạm
trưởng có tiếng nổ ở máy chính! Dầu cặn trào ra, lửa bốc cao, khói dày đặc. Hai
nhân viên cơ khí đã khóa các van nhiên liệu. Lửa hạ rồi lại bùng lên ở bảng điện.
Có tia lửa tóe mạnh.
Võ Bằng cầm
ống loa:
“Toán 2. Mặc
áo cứu hỏa, đeo mặt nạ dưỡng khí. Xuống hầm máy! Thi hành ngay!”
– Xin Hạm
trưởng báo cho họ biết máy điện tắt, cầu thang, sàn trơn trợt, phải hết sức cẩn
thận. Có hai nhân viên bất tỉnh, xin cho toán cấp cứu.
Một lúc
sau, Hạm phó gọi lên:
– Toán 2 đã
mở van CO₂. Khí trắng đục đang phun từ trần xuống. Nhân viên đã rút ra. Cửa hầm
đã khóa kín.
Trên boong,
hạ sĩ y tá đang ép ngực hồi sinh cho một thủy thủ bất tỉnh. Một người khác nằm
quấn chăn cách nhiệt.
– Vị trí
chiến hạm? – Võ Bằng hỏi.
Sĩ quan trực
phiên đáp nhanh:
– Nằm trên
hải trình. Cách Hòn Đốc 18 hải lý.
Võ Bằng gật
đầu, rồi xuống boong quan sát trực tiếp việc cứu thương. Ngực người lính trẻ phập
phồng. Mắt anh hé. Tiếng thở hắt ra.
Võ Bằng gật
đầu hài lòng. Sĩ quan và nhân viên đã có phản ứng nhanh chóng và đúng bài bản.
Anh ban lệnh:
– Giải tán
nhiệm sở phòng tai.
Loa nội bộ
vang lệnh chấm dứt báo động. Trên tàu, nhịp sinh hoạt dần trở lại. Nhưng mọi
ánh mắt đều rạng rỡ – vì họ biết: trong tình huống thật, họ đã sẵn sàng.
***
Bữa cơm
trưa diễn ra giản dị. Món ăn không nhiều, nhưng ai cũng vui nhất là sau một cuộc
thực tập vất vả, thành công. Qua các câu chuyện trao đổi trong bữa ăn, Võ Bằng
hiểu phần nào tính tình các sĩ quan. Và rất tình cờ, chưa ai lập gia đình.
Còn mệt mỏi,
anh sớm rời bàn về phòng riêng. Phòng hẹp nhưng tiện nghi: tủ đứng, bàn rộng, bồn
rửa mặt, phòng tắm nhỏ. Tàu chiến mà như tổ ấm. Anh mở ba lô. Lấy ra khung ảnh
mẹ và con, đặt lên mặt bàn. Nhẹ tay, như đang nâng niu. Hai bộ pyjama ở tầng
trên. Giữa: ba bộ quân phục, hai xanh, một trắng. Đôi giày trắng đặt ngay ngắn ở
tầng cuối. Dao cạo râu, bàn chải, xà bông Dove, kem đánh răng đã dùng đêm qua.
Mọi thứ đều đơn giản cho chuyến đi xa nhớ đời. Chuyến đi bất ngờ nhưng đủ cho
anh thấy mình… sống thực, đáng sống.
Anh buông
người xuống giường với nguyên cả bộ quân phục đang mặc. Lưng chạm nệm, mắt chạm
trần, đầu óc lướt qua hai ngày đi – đứng – nói – họp … Thêm trò chuyện với cựu
Hạm trưởng tới gần sáng. Người anh mỏi đừ, mắt từ từ khép lại bằng dáng
hình tiên nữ…
13 giờ 15.
Võ Bằng choàng dậy. Mắt nhòe, nhưng bên tai là tiếng máy đều đều. Anh lắng nghe
thêm: vẫn là âm thanh của vận tốc đường trường. Tàu êm như đang trong sông. Anh
vào phòng tắm rửa mặt, chỉnh quân phục. Rồi lên đài chỉ huy…
Võ Bằng bước
vào, sĩ quan trực hô lớn: “Nghiêm!”. Anh phất tay: “Nghỉ!”
Rồi đứng cạnh
thành đài hữu hạm. Buổi trưa thật đẹp: trời cao, gió nhẹ, nắng ấm. Vài sợi mây
trắng lặng lờ trôi. Hạm phó đứng cạnh, nói:
– Trời đẹp
quá, thưa Hạm trưởng.
– Cổ nhân
có nói: “Trời yên, biển lặng thường là dấu hiệu của biển sắp động mạnh.”
Anh nói mà
bâng khuâng. Hai năm ở bờ, liệu thân thể anh còn quen sóng gió. Anh nâng ống
dòm. Hòn Đốc đang lờ mờ hiện. Mười sáu đảo nhỏ còn ẩn đâu đó. Anh nhìn các bãi
cạn trên hải đồ. Rồi nhìn xuống biển. Nước trong vắt. Những rạn san hô xa xa
như những vết loang mực màu.
Anh nghiêng
đầu:
– Báo chiều
sâu khi có thay đổi.
– Rõ, thưa
Hạm trưởng.
Tuần phòng
vùng này, Võ Bằng ngại nhất là các bãi cạn và hai đảo chìm. Nhưng có lo thì
cũng chẳng thể ôm đài chỉ huy 24/24. Chỉ việc nghe lời cụ Nguyễn Hiến Lê quẳng
gánh lo đi và vui sống. Anh đặt hết niềm tin vào các sĩ quan. Họ đều tỏ ra
linh hoạt, hiểu biết, hy vọng không phạm các sai lầm … không thể tha thứ! Ai
cũng có thể sai lầm. Chính những sai lầm mới giúp họ trở thành một Hạm trưởng bản
lãnh.
Võ Bằng hỏi
sĩ quan đương phiên:
– Anh xuống
tàu này bao lâu rồi?
– Dạ, mới một
tháng.
– Đơn vị
cũ?
– Giang
đoàn 75 Thủy bộ.
– À, sông
Cái Lớn – Cái Bé! Tôi nghe danh, chưa từng ghé qua. Đơn vị anh và Giang đoàn 74
đánh đấm ác liệt. Hết sông Cái Bé đến Trèm Trẹm. Tôi đọc báo cáo mỗi ngày.
Tuấn trố mắt
nhìn Hạm trưởng. Anh cười:
– Tôi đến từ
Trung Tâm Hành Quân Bộ Tư Lệnh.
Tuấn nhìn
quanh rồi rụt rè:
– Nhà ba má
tôi ở sông Cái Lớn. Nếu mai mốt tàu công tác vùng Rạch Giá… xin mời Hạm trưởng
ghé nhà… nhậu.
Võ Bằng bật
cười:
– Tôi ghé để
thăm hai bác. Nhậu là không có tôi.
– Dạ… thì
không nhậu!
Hạm phó lên
tiếng:
– Thưa Hạm
trưởng, có phải phu nhân là người ngồi cạnh Hạm trưởng đêm qua?
Võ Bằng lại
bật cười:
– Dựa vào
đâu mà anh có ý tưởng như vậy?
– Thì thấy
nói cười thân mật.
– Hễ các cô
nói cười thân mật là vợ sao?
– Chúng tôi
muốn biết để chào kính cho đúng phép.
– À! Tôi
chưa vợ. Đêm qua, chỉ vì lịch sự mà phải bám trụ thôi. Ngoài đời, cô nào càng đẹp
tôi càng tránh xa.
Hạm phó mỉm
cười:
– Coi bộ
đúng câu nói của cổ nhân.
– Cổ nhân
nói gì?
– Thưa Hạm
trưởng, cổ nhân hiếm khi nói sai: “Ghét của nào, Trời trao của nấy!”
Tiếng cười
lan nhẹ trên đài chỉ huy. Võ Bằng đứng lặng một lúc lâu. Tàu đang lướt gần một
đảo thấp. Trơ đá, trơ cây. Nước xanh đến độ nhìn thấy đáy. San hô đủ sắc màu.
Và rồi… hình ảnh Huỳnh Như Oanh lại hiện ra như hồn biển hóa thân, một thủy thần
tuyệt sắc.
Cơ duyên
nào đã đẩy đưa nàng đến ngồi cạnh anh đêm qua, cười nói như quen nhau từ tiền
kiếp? Dù nàng là bào muội của Tư lệnh phu nhân, nàng vẫn bí ẩn đến… phiền lòng.
Nàng chưa thực sự thuộc về ai. Sắp thôi, nhưng đủ là lý do để nàng hiện diện
nơi khỉ ho cò gáy này? Đại huynh nào ở đây được cái may mắn trời cho?
Võ Bằng chợt
nhận ra mình lẩm cẩm. Đã dứt khoát tránh né mọi giai nhân mà cứ ngẩn ngơ, thắc
mắc…
– Trình Hạm
trưởng có công điện thượng khẩn.
Võ Bằng
quay người. Anh vô tuyến bước tới trao mảnh giấy. Đọc xong, anh trầm giọng:
– Có công
ăn việc làm rồi. Báo hầm máy, hai máy tiến Full.
(còn tiếp)
***
Chương 4
HÌNH NHƯ LÀ
ĐỔI THAY
Huỳnh Như
Oanh nằm nghiêng trên giường, đầu gối lên cánh tay, mắt mở to nhìn qua cửa sổ mở
rộng. Trời đêm long lanh sao. Gió biển lùa qua màn, vờn lên tóc, đưa nàng vào ý
nghĩ miên man.
Tiệc đã tàn
hơn hai tiếng, vậy mà nàng tưởng như đang còn ngồi đó, đối diện Võ Bằng. Cuộc
đàm thoại cứ văng vẳng:
– Còn trẻ như anh mà đã là Hạm trưởng. Hẳn anh yêu biển lắm!
– Biển là người yêu của tôi.
– Mười lăm ngày ở đây, Như Oanh đã cảm thấy biển thật đáng yêu. Nhưng chừng nào
biển mới trở thành… người yêu?
– Chừng nào cô ngắm biển hoài mà không chán!
– Khi nào thì chán?
– Biển luôn đợi chờ, thủy chung, sao lại chán?
– Nếu có người biết đợi chờ, biết thủy chung, thì có thể thay được biển không?
– Tôi chưa gặp người như thế. Nhất là người càng đẹp, càng sợ.
Nhiều người
khen nàng đẹp, không ít người đã khổ vì sắc đẹp của nàng. Còn Võ Bằng thì sợ,
né tránh. Nàng đã thử đưa anh chàng vào thế kẹt:
– Ngày mai Như Oanh xuống thăm tàu anh nghen?
– Mai tàu ra khơi…
– Vậy… lúc tàu về?
– Có cần thiết lắm không?
– Như Oanh chưa từng biết chiến hạm ra sao…
– Em gái phu nhân Tư lệnh Hải Quân Vùng mà chưa từng biết chiến hạm! Cho phép
tôi nghi ngờ. Thêm một thắc mắc, người đẹp như cô làm gì nơi khỉ ho cò
gáy này?
– Để tận hưởng … khỉ ho cò gáy!
Nàng đã bật
cười. Anh cũng cười. Rồi bỗng dưng nàng thú nhận:
– Như Oanh vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra đây chơi, chờ lệnh bổ nhiệm.
– Sẽ dạy môn gì?
– Văn. Việt Văn.
– Văn học nuôi dưỡng tâm hồn. Nhờ cô viết một bài về những chuyến hải hành… chẳng
về đâu!
– Ý anh là sao?
– Cứ viết đi. Rồi sẽ hiểu.
Võ Bằng ám
chỉ gì? Vì sao hải hành chẳng về đâu? Vì sao người càng đẹp càng sợ? Anh thù
ghét phụ nữ đẹp? Vì từng bị phản bội? Như Oanh nhất định tìm hiểu. Nhưng khi
nào anh trở lại? Liệu lúc ấy nàng còn ở đây không?
Mà việc gì lại phải thắc mắc! Nàng bóp trán, bâng khuâng. Tình yêu chăng? Hay
chỉ là ngọn sóng bất ngờ tạt vào mát rượi tâm hồn rồi rút xa mãi mãi?
***
Tiếng gõ cửa
đánh thức nàng. Giọng âu lo của chị:
– Trưa quá rồi. Dậy đi. Em có sao không?
Nàng ngồi bật dậy:
– Em khỏe. Cho em vài phút.
Một sức mạnh
vô hình đẩy nàng đến cửa sổ. Gió lướt qua cầu tàu kết bằng những ponton nổi.
Như Oanh trách mình dậy trễ. Chiếc Rạch Gầm đã ra khơi. Anh đang đi về đâu?
Đang đứng trên đài cao hướng đến chốn nào? Có nhìn ngọn đồi dạ tiệc đêm qua? Thật
lạ lùng! Suốt hai tuần ở đây, đôi lúc nhìn cầu tàu, nàng thờ ơ. Sao bỗng dưng
sáng nay lại hụt hẫng?
Nắng phủ tấm
lụa vàng lên mặt biển lặng lờ, lên những chiếc thuyền câu mong manh, những núi
đồi cây cỏ xanh tươi.
Chị nàng bước
vào, thấy em gái lặng lẽ bên khung cửa nhìn ra biển, mỉm cười:
– Đang tương tư lính biển chăng?
– Có nên không? Chính chị đêm qua cảnh báo em ngay từ đầu: em sắp làm đám hỏi.
– Tình yêu như sóng vỡ bờ. Chị không muốn thấy thêm một người đau khổ vì em.
– Còn nếu em chính là ngọn sóng đó?
– Năm năm làm vợ lính biển, năm năm lúc xa lúc gần, chia tay rồi tái hợp, tình
yêu lúc nào cũng mới. Đó là kinh nghiệm của chị.
– Ba khó tính, dễ gì chịu thất hứa.
– Hôn nhân là của em. Quyết định là của em. Như chị ngày xưa ba cũng đâu bằng
lòng.
– Còn một trở ngại lớn hơn: anh ấy đâu ngó ngàng gì tới em!
– Nếu em đã quyết ý thì đâu khó! Đẹp như em…
– Chính “đẹp như em” là trở ngại lớn nhất, anh ấy nói thẳng rồi, càng đẹp càng
sợ.
– Thì nghĩ cách cho chàng ta hết sợ.
Cả hai phá
lên cười, cùng vào bếp lo cơm trưa…
Tiếng
chuông reo. Chị nàng ra mở cửa. Vinh – vị hôn phu tương lai – dang tay, tươi cười:
– Chào người đẹp của anh!
Ở Sài Gòn,
hai người thường ôm nhau siết chặt. Nay nàng bước tới, miễn cưỡng. Vinh nới lỏng
vòng tay, cười đùa:
– Bộ nhớ anh đến mất ngủ hay sao mà trông héo hon vậy?
Như Oanh cười,
nụ cười không che giấu hết bối rối:
– Sao anh không báo trước?
– Cho em bất ngờ mới vui hơn chứ!
– Anh tới bằng gì?
– C.130. Phi cơ gì mà không có ghế, báo hại anh phải ngồi bẹp trên sàn. Mệt đứt
hơi!
– Rồi ai đón anh?
– Anh Thám cho tài xế ra đón.
– Ngon ghê! Mời sếp ra salon nghỉ cho khỏe đi. Như thường lệ, bia chứ?
– Budweiser, nếu có thì tuyệt. Không thì nước lạnh cũng ngon.
Khi mở tủ lạnh
lấy bia, lòng Oanh chợt xao động. Phải yêu lắm mới chịu khó vất vả như vậy. Thế
mà nàng… thả mồi bắt bóng!
Đưa lon
Budweiser, Như Oanh vui vẻ:
– Anh nghỉ được mấy ngày?
– Hôm nay, ngày mai, ngày mốt. Ngày mốt phải về. Mỹ đang rút bớt quân. Tình
hình khó khăn. Ba phải can thiệp mới được sếp cho đi hai ngày…
Như Oanh thẫn
thờ. Ba ngày, không biết lâu hay mau đây? Nửa ngày qua rồi, phải làm gì cho hết
thời gian còn lại?
Trong cơm
trưa, chị nàng cứu bồ. Anh Thám sẽ có chương trình thăm viếng cho hai em ngày
mai ngày mốt. Tối nay 7 giờ dùng cơm gia đình. Từ giờ đến đó, hai em tự do.
***
Như Oanh và
Vinh thả bộ qua khu chợ đã tan từ sớm. Chợ gồm mươi gian hàng, mươi sạp pallet
chồng lên nhau. Đa số chủ nhân là vợ lính. Ngư dân An Thới không nhiều, tất cả
đều tự túc. Chỉ gia đình lính là cần.
Họ ngồi
trong một quán nhỏ ven biển, bàn ghế ọp ẹp. Vinh uống bia quân tiếp vụ, Như
Oanh dừa tươi. Nàng thường nhìn ra khơi, lặng lẽ. Chàng thì huyên thuyên về
tình hình Sài Gòn, về các tổ chức chống đối chính quyền, về Việt-Nam-hóa chiến
tranh, giảm quân tham chiến, về hòa đàm Paris. Nàng vờ lắng nghe, khuyến khích
để chàng không đề cập đến… chuyện chúng mình.
Năm giờ chiều
họ về lại tư dinh anh rể chuẩn bị cơm tối. Bữa cơm rất vui, nhờ tài hoạt bát của
Tư lệnh. Ông kể những đặc điểm của quận lỵ Dương Đông, đặc biệt Quận trưởng là
một Thiếu tá Hải Quân. Ông nói qua về các xã Bãi Thơm, Cửa Cạn, Hàm Ninh, Dương
Tơ, Thổ Châu. Như Oanh vốn ghét môn địa lý, nhưng không hiểu sao lần này nàng
thích thú lắng nghe và ráng ghi nhớ…
***
Mười giờ
sáng. Sáu người đến Mũi Ông Đội. Trời trong, gió nhẹ. Biển xanh như ngọc, mặt
nước êm như gương. Chiếc tiểu vận đỉnh chật vật len qua những mỏm đá ngầm, rồi ủi
mũi vào bãi cát trắng pha sỏi vụn. Đảo trông hoang vắng. Vài căn nhà nhỏ nép dưới
tán dừa. Phía trên là đồi, rồi rừng, rừng nối rừng như vô tận.
Hai anh
lính đi theo phụ giúp cắm dù, bày bàn, nhóm lò. Rồi bỏ đi câu. Bốn người còn lại
mang giày nhựa, đeo kính lặn, ống thở, len lỏi dọc ven bờ. Thấy dáng người, từng
đàn cá túa ra. Ánh nắng xuyên sóng lăn tăn, phản chiếu lên rạn san hô thành vô
vàn sắc màu rực rỡ.
Hai con cá
bống mú câu được nướng tại chỗ, thơm lừng. Thơm hơn mùi cá nướng đêm qua. Vinh
vồn vã gắp thức ăn cho Oanh, dù nàng từ chối nhẹ nhàng. Võ Bằng thì khác, chỉ gắp
khi nàng gật đầu. Sự tế nhị ấy, tưởng nhỏ, lại khiến nàng nhớ mãi.
Tư lệnh
Thám chỉ tay về một căn nhà xa:
– Các em có biết vì sao nơi này gọi là Mũi Ông Đội?
Không ai trả
lời. Ông kể:
– Ngày xưa, quân Tây Sơn truy đuổi Gia Long. Đến vùng này, thuyền mắc cạn. Một
cai đội nhảy xuống gỡ neo, bị sóng cuốn mất. Sau này, khi đã làm vua, Gia Long
quay lại, lập đàn tế, truy điệu. Gọi nơi này là Mũi Ông Đội, để ghi nhớ người
lính hy sinh vì nghĩa cả.
Oanh lầm bầm:
“Với người ơn thì hết lòng báo ơn, với kẻ thù thì hết dạ báo thù!”
Sau bữa ăn,
Vinh rủ nàng đi dạo dọc bãi. Họ ghé thăm căn nhà của một ngư ông. Ông lão với
mái tóc tuy bạc trắng nhưng dáng khỏe mạnh, tiếp đón niềm nở. Ông dẫn họ đến một
miếu nhỏ thờ vua Gia Long. Trước miếu là tượng cọp, bên trong là linh vị, nhang
khói nghiêm trang. Bên cạnh là giếng cổ, giếng cạn mà không khô, nước trong
quanh năm, gọi là Giếng Tiên.
Tự dưng Như
Oanh hỏi xin ông cụ thắp nhang. Nàng chắp tay khấn vái ba lạy. Lịch sử qua sách
vở chưa hề làm nàng động tâm. Mà ở đây, đất trời, biển đá và miếu thờ như dòng
sông thiêng cuốn nàng đi…
Nàng ngập
ngừng hỏi lão ông:
– Cụ ở đây một mình?
– Còn hai đứa con trai. Vợ tôi mất hai năm rồi.
– Ngoài nơi này, còn nơi nào nên đến nữa không cụ?
– Mũi này chỉ có san hô, giếng, miếu thôi. Còn như cô cậu muốn xem đảo đẹp, phải
ra Hòn Thơm.
Trên đường
trở về, Vinh nói nhỏ, nửa đùa nửa thật:
– Em lạ lắm. Thường ngày tếu táo, hôm nay lại trịnh trọng thắp hương.
– Có lẽ em… đang đổi thay. Như trước đây em ghét Gia Long, giờ thấy ông cũng
không tệ!
– Như trước đây em vồn vã, giờ em lạnh nhạt?
– Ý anh là sao?
Vinh cười,
lắc đầu:
– Đừng làm bộ!
Rồi anh đổi
giọng nghiêm trang:
– Nhắc đến Gia Long anh mới nhớ. Mục đích anh ra đây cũng vì tin vui này. Ba
cho biết em đã được bổ nhiệm về dạy trường nữ Trung học Gia Long.
Nàng đứng
khựng lại. Mắt mở lớn. Dạy trường Gia Long! Khó tin quá! Nàng vẫn đinh ninh may
mắn lắm là được dạy gần Sài Gòn. Chắc chắn ba của Vinh đã can thiệp. Vậy là… kẹt
cứng rồi!
Vinh nắm
tay nàng, hớn hở:
– Em còn nhớ lần đầu mình hôn nhau không?
Oanh im lặng.
Hôm ấy, anh đưa nàng đi Quán Đồng Quê ở Thủ Đức. Giữa bữa, anh tặng món quà
sinh nhật – chiếc xuyến vàng nàng từng ao ước. Nàng xúc động, hôn anh ngay giữa
chốn đông người.
Giờ nhớ lại,
cảm xúc như xưa không về. Phải chăng vì… Nàng đảo mắt nhìn Vinh. Rồi lắc
đầu tự nhủ: “Đâu lẽ! Chỉ mới gặp vài giờ. Điển trai ư? Vinh cũng hơn hẳn.
Năng nổ, vui vẻ? Vinh càng hơn. Nhưng… nhưng sao cứ nhìn Vinh là hình ảnh Võ Bằng
thấp thoáng? Như Oanh ơi, mi chỉ là khách lạ trên đảo hoang. Hãy quay
về bến cũ.”
Vinh nhìn
nàng, giọng nhẹ như hơi gió:
– Em thay đổi thật rồi. Anh tưởng, nghe tin bổ nhiệm, em sẽ mừng, sẽ ôm hôn anh
chứ?
Nàng chống
chế:
– Không tiện. Có anh chị nhìn…
– Ngày xưa em không rụt rè…
Nàng im.
Anh gằn nhẹ:
– Cả chiếc xuyến cũng không thấy em đeo.
– Em để ở nhà, sợ bơi lội, rớt xuống biển.
– Chớ không phải… tại đổi thay?
Nàng siết
nhẹ tay anh. Gió biển mát rượi. Tóc nàng bay chạm má. Nàng nhoẻn cười:
– Không phải em thay đổi. Mà là… em bắt đầu nhận ra.
– Nhận ra điều gì ở chốn buồn tênh này?
– Nơi buồn tênh này hợp với tâm hồn em.
– Nghĩa là sao?
– Em vẫn yêu quý anh. Nhưng có lẽ… em đang sợ những con đường đầy xe, những nhà
hàng sang trọng, cuộc sống vội vã, bon chen…
– Hai tuần qua, em không nhớ anh chút nào sao?
– Nhớ, nhớ lắm. Rồi bỗng nhiên biển chiếm hồn em.
– Sau đám cưới, anh sẽ đưa em về nơi có biển. Em mặc sức yêu biển.
Vinh luôn
biết chiều nàng, nhưng lần này…
Một cơn gió
mạnh thổi qua. Chiếc khăn trùm đầu của nàng bay xuống nước. Vinh lao theo. Khi
lên bờ, bàn chân anh rướm máu. Oanh lấy khăn băng lại. Vinh gạt ra.
Nàng buồn rầu:
– Xưa có lần em đứt tay, anh băng bó, em đâu từ chối.
– Nhưng bây giờ… em không còn là người xưa.
Nàng thở
dài:
– Đừng đẩy em ra xa. Hãy để em vui với biển. Ngày về lại Sài Gòn, em sẽ lại là
người xưa của anh.
Vinh choàng
tay qua vai nàng. Trái tim Oanh không mảy may đập nhanh như ngày nào…
***
Chín giờ
sáng hôm sau.
Chiếc Tiểu
vận đỉnh lại đưa họ ra khơi – lần này là Hòn Thơm, cách An Thới bốn cây số về
phía Nam.
Như với Mũi
Ông Đội, chiếc đỉnh vất vả luồn lách tiến vào bãi Trào, một dải cát trắng mịn
như tơ, trải dài dưới hàng dừa cao rì rào trong gió. Ven bãi, vài chục căn nhà
khang trang, ẩn hiện trong bóng dừa. Vài đứa bé chạy đến, lễ phép chào kính.
Tư lệnh
Vùng là khách quen của đảo. Tổng Thống cũng từng viếng đảo này. Chúa đảo là một
ngư dân vạm vỡ trung niên thân mật đón tiếp. Không ai cần mang theo gì. Tắm biển,
ăn uống, nghỉ ngơi – mọi thứ đã được chuẩn bị.
Cả nhóm ào
xuống biển. Nước trong và mát rượi. Cát mịn dưới chân như vuốt ve.
Vinh và Oanh lặn thật xa, qua những rạn san hô lộng lẫy. Có nơi như rừng nấm
rơm – tầng tầng lớp lớp, lấp lánh, lung linh. Cá lớn nhỏ, đủ loại, đủ màu. Có
nơi hàng chục con mực đứng lửng lơ, thư thái.
Bữa trưa
không cơm, chỉ toàn hải sản: cá hấp, cua nướng, sò, tôm. Món nào cũng tuyệt
ngon. Vinh vừa nhai vừa trêu ghẹo:
– Có phải
đây là lý do khiến em yêu biển?
– Lý do phụ.
– Còn lý do chính?
– Một ngày nào đó, nếu thật sự là lý do chính, em sẽ nói cho anh hay.
Vinh nhăn mặt:
– Em khó hiểu quá.
– Em còn chưa hiểu em. Huống gì anh.
Ăn xong, họ
nằm dài trên ghế vải, dưới bóng dừa. Biển trước mặt lặng như tờ. Chỉ nghe tiếng
sóng lùa nhẹ vào cát.
Hai giờ chiều,
Tư lệnh rủ mọi người băng rừng ra bãi Chướng, phía Tây đảo. Ông nhiệt tình giới
thiệu:
– Ở đó có một nơi ngắm mặt trời lặn xuống biển, không đâu sánh bằng. Nếu các em
đủ kiên nhẫn chờ…
Cả nhóm háo
hức theo sau ông. Rừng mát rượi, hầu hết là lùm cây. Mùi đất, mùi lá khô quyện
mùi biển thành loại hương lạ sảng khoái. Lối mòn lên dốc ít người đi nên đôi
lúc gặp cành lá chắn ngang. Bù lại, hai bên rất nhiều hoa lạ. Những đóa hoa nho
nhỏ, màu rất tươi. Có lùm toàn màu vàng, có lùm toàn màu đỏ, màu tím, màu xanh,
đậm và lợt. Vinh ngắt thành một bó đẹp mắt tặng Như Oanh.
Khi xuống đến
bãi có hình cánh cung, Tư lệnh chỉ tảng đá chênh vênh trên ghềnh cuối đảo:
– Tảng đá đó trông chênh vênh nhưng dễ leo. Anh chị đã hai lần lên đó ngồi ngắm
hoàng hôn. Đẹp tuyệt vời. Khi mặt trời dần dần xuống, mây cũng dần dần đổi màu.
Rồi cả vùng đa sắc rực rỡ tiễn biệt thái dương chìm khuất.
Như Oanh
reo lên thích thú:
– Vậy thì hôm nay tụi em nhất định phải chờ xem.
Nhưng chưa
đầy một giờ sau, một anh lính hối hả chạy đến báo Phòng Truyền Tin cần gặp Tư lệnh
gấp. Tư lệnh lặng người. Rồi quay đầu, tất tả cùng anh lính trở lại bãi Trào.
Nhóm chúng
tôi tiếp tục đi dọc bãi, đuổi theo vô số con còng, nhặt nhạnh những vỏ sò lạ mắt.
Tội nghiệp Vinh, anh vẫn cố bước theo dù vết cắt ở chân bắt đầu đau, phải đi cà
nhắc!
Nửa giờ
sau, anh lính trở lại. Anh nhắn lời Tư lệnh là tất cả phải về ngay An Thới!
Trên đường
về, Tư lệnh cho biết lý do: Ba của Vinh báo cho biết chuyến bay bị hủy bỏ. Vinh
phải tìm cách về Sài Gòn bằng phương tiện sớm nhất.
***
Ngoài khơi dãy ponton cầu tàu, hàng trăm ngọn đèn câu chiếm trọn vùng biển. Ánh
sáng lay động như những ngọn đuốc ma trơi, buồn lạ lùng.
Vinh bước
khập khiễng ra cầu tàu. Chân anh bắt đầu đau nhiều hơn nhưng anh nhất định
không đến bệnh xá. Như Oanh đi bên, nắm cánh tay Vinh. Gió hất tóc nàng về phía
sau, lất phất như những ngón tay anh ngày nào vuốt nhẹ. Nàng mỉm cười, nhận ra
một điều chắc chắn: nàng vẫn còn yêu Vinh.
Khi đến chiếc
khinh tốc đỉnh, Vinh mở vòng tay. Khác với khi anh đến, nàng bước nhanh vào. Siết
chặt. Anh mỉm cười, nàng mỉm cười. Họ hôn nhau.
Nàng nói,
giọng buồn:
– Em chợt nhớ một câu trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn
vậy!” Thích câu đó lắm mà nào biết buồn ra sao. Bây giờ có phần thấm thía.
Vinh cười,
giọng đùa xót xa:
– Em chỉ “có phần” nhưng anh thì “toàn phần”!
Rồi vội nhấc
chiếc xách tay, cà nhắc bước lên tàu.
Tiếng rền của
động cơ khinh tốc đỉnh không át được tiếng Vinh vọng đến:
– Cô giáo sư nhớ về nhận nhiệm sở. Đừng có… khùng!
Như Oanh đứng
yên, mỉm cười nhìn theo. Con tàu lướt đi. Dòng nước cuộn lại sau đuôi, trắng
xóa, rồi tan vào biển đêm.
(Còn tiếp)