A COLLECTION OF FOLKTALES FROM AFAR
…. o ….
Tuyển dịch bởi Nguyên
Giác
Selected &
translated by Nguyên Giác
MỤC LỤC
Lời thưa
1. Vị Thần Cây
2. Vị Vua Đòi Một Đại
Dương Sữa
3. Hoàng Tử Ếch xứ Lai
Hka
4. Con Ngựa Được Trao
Cho Bảy Năm
5. Con Mèo Giả Vờ Giữ Giới
6. Tảng Đá Yên Tĩnh
7. Những Viên Gạch Bạc
8. Công chúa Hase và Phước
lành của Quan Âm
9. Công chúa Ánh Trăng
10. Cậu Bé Vẽ Mèo
11. Ông Cụ khiến cây cối
đâm chồi nảy lộc
12. Bà cụ yêu thích làm
bánh bao
13. Truyện Chin-chin
Kobakama
14. Truyền thuyết về
Malin Kundang
15. Jaka Tarub và nàng tiên
16. Câu chuyện về
Yeonorang và Seonyeo
17. Truyện nàng Shim
Cheong
18. Truyện nàng Chunhyang
19. Công chúa ngủ trong
rừng
20. Aladdin và Chiếc Đèn
Thần
21. Mỹ Nhân và Quái vật
22. Bốn mươi tên trộm
23. Nàng Công Chúa Kiêu
Ngạo
24. Cô gái yêu thương cá
25. Người vợ ngôi sao
26. Hoàng Tử và Bảy Pháp
Sư
27. Visu và các phụ nữ
cáo
28. Trong dòng chảy đời
sống
29. Cuộc đời của sư
Luang Phor Tuad
.... o ....
TABLE OF CONTENTS
Preface
1. The Spirit in the
Tree
2. The King Who Wanted
an Ocean of Milk
3. The
Frog Prince of Lai Hka
4. The Horse Who Was
Given Seven Years
5. The Cat Who Pretended
to Keep the Precepts
6. The Rock of
Tranquillity
7. The Silver Tiles
8. Princess Hase and the
Blessing of Kwannon
9. Princess Moonlight
10. The Boy Who Drew
Cats
11. The Old Man Who Made
the Trees Bloom
12. The Old Woman Who
Love to Make Dumplings
13. The Chin-chin
Kobakama
14. The Legend of Malin
Kundang
15. Jaka Tarub and the
Heavenly Maiden
16. The Story of
Yeonorang and Seonyeo
17. The Story of Shim
Cheong
18. The Story of
Chunhyang
19. Sleeping Beauty
20. Aladdin and the Wonderful
Lamp
21. Beauty and the Beast
22. The
Forty Thieves
23. The Haughty Princess
24. The Maiden Who Loved
a Fish
25. The Star Wife
26. The Prince and the
Seven Magicians
27. Visu and the Fox
Women
28. In the flow of life
29. The Life of Luang Phor
Tuad
.... o ....
LỜI THƯA
Các truyện trong sách
này dựa vào Wikipedia và Project Gutenberg -- https://www.gutenberg.org/ -- nơi các tác phẩm không còn giữ bản quyền, và đã trở
thành tài sản văn hóa chung của nhân loại. Các truyện cổ tích được chọn từ nhiều
tác giả. Bởi vì văn phong dùng trong các truyện hầu hết là tiếng Anh của Vương
Quốc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, nên nơi đây sẽ được chuyển sang tiếng Anh của
Hoa Kỳ thời kỳ đương đại cho dễ hiểu. Một số truyện cũng sẽ được rút ngắn và viết
lại, khi cần thiết. Các truyện sẽ dựa vào Google Translate để được dịch trực tiếp
và dịch ngược để kiểm tra, rồi sẽ được người dịch hiệu đính bằng cảm nhận văn học
tự nhiên. Bản song ngữ thực hiện bởi Nguyên Giác Phan Tấn Hải vì lợi ích cho giới
trẻ. Người viết không giữ bản quyền. Bất kỳ ai cũng có quyền in ấn, phổ biến
toàn phần hay một phần trong mọi phương tiện khả dụng.
.... o ....
PREFACE
The stories in this book
are based on Wikipedia and the Project Gutenberg — https://www.gutenberg.org/ —where works are
no longer copyrighted and have become the shared cultural heritage of humanity.
The fairy tales are selected from various authors. Because the writing style in
most stories is early 20th-century British English, they will be translated into
contemporary American English for easier understanding. Some stories will also
be shortened and rewritten as needed. The stories will be translated directly
and back-translated using Google Translate for verification and then edited by
the translator using their natural literary sensibility. This bilingual edition
has been prepared by Nguyên Giác Phan Tấn Hải for the benefit of the youth. The
author claims no copyright. Anyone is free to print, share, or reproduce these
stories, in whole or in part, through any available medium.
.... o ....
1. Vị thần cây
Theo tín ngưỡng cổ của
người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt
cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua
quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong
cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
Vị thần này biến hình
thành hình dạng giống hệt người tiều phu – cùng khuôn mặt, cùng quần áo, cùng
giọng nói. Lúc hoàng hôn, thần linh đến túp lều nhỏ của người tiều phu sâu
trong rừng. Vợ người tiều phu đang nấu cơm, con nhỏ ngủ trong nôi treo, và con
trai nhỏ đang cắt lá chuối. Bà chào đón người đàn ông mà bà tưởng là chồng
mình, và họ cùng nhau dùng bữa tối giản dị. Mọi thứ dường như bình thường.
Nhưng sau đó vào đêm hôm
đó, người tiều phu thật mới trở về nhà, gọi vọng từ bóng tối. Người vợ bước ra
ngoài và nhìn thấy một người đàn ông khác – giống hệt nhau đến từng chi tiết –
đang đi về phía mình. Khi cả hai người đàn ông đứng trong túp lều, bà không thể
phân biệt được họ. Mỗi người đều tự nhận là chồng thật của bà. Ngay cả khi xem
xét kỹ lưỡng, bà cũng thấy họ trông giống hệt nhau, kể cả những vết sẹo và dấu
vết trên cơ thể. Bối rối và sợ hãi, bà đề nghị họ tìm đến sự giúp đỡ của Manoo,
vị quan tòa thông thái nhất vương quốc.
Ba người họ đi xuyên qua
khu rừng cho đến khi đến được tòa án của Manoo. Sau khi nghe câu chuyện của họ,
vị quan tòa nhận ra rằng những phương pháp thông thường sẽ không giải quyết được
bí ẩn này. Ngày hôm sau, ông đặt một bánh xe gỗ có một lỗ rất nhỏ ở giữa phòng
xử án. Ông tuyên bố rằng bất cứ ai có thể chui qua lỗ đó sẽ được công nhận là
người chồng thực sự.
Người tiều phu phản đối,
vì biết rằng không một người nào có thể chui qua được khoảng trống nhỏ như vậy.
Nhưng vị thần Nat, tự tin vào khả năng siêu nhiên của mình, bước tới. Thần dễ
dàng chui qua lỗ, để lộ bản chất thật của mình. Manoo tuyên bố rằng ông đã nghi
ngờ sự thật ngay từ đầu: vị khách không phải là người mà là một thần cây từ rừng.
Nat thừa nhận rằng thần
đã rất tức giận khi người tiều phu chặt cây nơi anh cư mà không được phép.
Manoo đồng ý rằng người tiều phu đã hành động sai trái, nhưng ông cũng nhắc nhở
thần Nat rằng gây đau khổ cho những người vô tội không phải là giải pháp. Để giải
quyết vấn đề, ông hướng dẫn cặp vợ chồng treo một vỏ dừa khô ở phía đẹp nhất của
túp lều để thần Nat có thể sống ở đó một cách yên bình.
Vị thần chấp nhận sự sắp
xếp này. Cặp vợ chồng trở về nhà, và từ đó trở đi, người dân ở Miến Điện bắt đầu
treo dừa khô trong nhà để che chở cho các phi nhơn lang thang – một truyền thống
vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.
Truyện này nói rằng vẫn
đang có những chúng sinh đang sống bên cạnh và chung quanh chúng ta mà chúng ta
không thấy bằng mắt thường.
.... o ....
1. The Spirit in the Tree
In old Burmese belief,
every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit
for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree
without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to
take revenge.
The spirit transformed
himself into the exact likeness of the woodcutter—same face, same clothes, same
voice. At dusk, he arrived at the woodcutter’s small hut deep in the forest.
The woodcutter’s wife was cooking rice, their baby slept in a hanging cradle,
and their young son was cutting plantain leaves. She welcomed the man she
believed to be her husband, and they shared a simple evening meal. Everything
seemed ordinary.
But later that night,
the real woodcutter returned home, calling out from the darkness. The wife
stepped outside and saw another man—identical in every detail—walking toward
her. When both men stood inside the hut, she could not tell them apart. Each
claimed to be her true husband. Even when she examined them closely, they
looked exactly the same, down to the same scars and marks on their bodies.
Confused and frightened, she suggested they seek help from Manoo, the wisest
judge in the kingdom.
The three of them
traveled through the forest until they reached Manoo’s court. After hearing
their story, the judge realized that ordinary methods would not solve this
mystery. The next day, he placed a wooden wheel with a very small opening in
the center of the courtroom. He announced that whoever could pass through the
hole would be recognized as the real husband.
The woodcutter
protested, knowing no human could fit through such a tiny space. But the Nat, confident in his supernatural abilities, stepped
forward. He slipped through the hole easily, revealing his true nature. Manoo
declared that he had suspected the truth all along: the visitor was not a man
but a spirit from the forest.
The Nat admitted that he had been angered when the woodcutter
destroyed his tree without permission. Manoo agreed that the woodcutter had
acted wrongly, but he also reminded the Nāt that causing suffering to innocent
people was not the answer. As a solution, he instructed the couple to hang a
dried coconut shell on the best side of their hut so the Nāt could live there
peacefully.
The spirit accepted this
arrangement. The couple returned home, and from that time on, people in Burma
began hanging dried coconuts in their houses to offer shelter to wandering
spirits—a tradition that continues even today.
This story suggests that
there are still living beings beside and around us that we cannot see with our
naked eyes.
.... o ....
2. Vị vua đòi một đại dương sữa
Ngày xửa ngày xưa, vị
vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được
làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có
thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công
và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của
ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối
đối với ông.
Tuy nhiên, bất chấp tất
cả sự giàu có đó, nhà vua vẫn cảm thấy trống rỗng. Mọi thú vui đều khiến ông
chán nản. Mọi món quà, mọi màn trình diễn, mọi kho báu chỉ làm sâu thêm sự mệt
mỏi của ông. Ông chưa từng thấy đau khổ hay gian truân, và bởi vì cuộc sống của
ông chỉ toàn là sự thoải mái, ông không còn biết mình muốn gì nữa. Ngay cả những
thứ tốt đẹp nhất cũng trở nên tẻ nhạt đối với ông.
Để mua vui cho ông, người
dân đã tìm kiếm khắp vương quốc những người kể chuyện, vũ công, người tung hứng
và những người bạn đồng hành thông minh. Nhiều người đã cố gắng làm ông vui vẻ,
nhưng ông nhanh chóng chán ngán tất cả. Ông khao khát một điều gì đó mới mẻ.
Một ngày nọ, một lữ
khách từ Ấn Độ đến với một trò chơi gọi là cờ vua. Ban đầu, lính canh cung điện
chế nhạo ông, nhưng cuối cùng ông cũng được đưa ra trước mặt nhà vua. Nhà vua bị
cuốn hút bởi trò chơi này và dành toàn bộ thời gian để chơi. Người thầy Ấn Độ
nhanh chóng được nhà vua sủng ái, điều này gây ra sự ghen tị trong số các quan
lại Miến Điện.
Nhưng chẳng bao lâu sau,
nhà vua lại cảm thấy nhàm chán. Một người nước ngoài khác, Nicomar, đến với những
lá bài và xúc xắc được vẽ – những trò chơi mà nhà vua chưa từng thấy trước đây.
Nhà vua bỏ cờ vua và dành toàn bộ thời gian cho trò tiêu khiển mới này. Nicomar
trở thành người được nhà vua sủng ái nhất, mặc dù ông thầm sợ tính khí khó đoán
của nhà vua.
Nhà vua bắt đầu đặt cược
những khoản tiền khổng lồ vào các trò chơi, buộc Nicomar phải thực hiện những
nhiệm vụ mà người bình thường không thể làm được. Nicomar sống trong lo lắng
thường trực, luôn cố gắng nghĩ ra những cách mới để làm hài lòng những ý thích
bất chợt của nhà vua.
Rồi một buổi tối nọ, nhà
vua đưa ra một yêu cầu chưa từng có. Ông tuyên bố rằng ông không còn muốn một
biển nước nữa. Ông muốn toàn bộ đại dương được lấp đầy bằng sữa – và ông ra lệnh
cho Nicomar phải thực hiện điều đó trong vòng mười bốn ngày. Nếu Nicomar thành
công, ông sẽ nhận được sự giàu có và quyền lực không tưởng. Nếu thất bại, ông
ta sẽ chết trong sự giày vò khủng khiếp.
Nicomar kinh hãi. Ông biết
nhiệm vụ này là bất khả thi. Ông cầu nguyện, tham khảo ý kiến các bậc hiền triết, tìm kiếm điềm báo, và lang thang khắp
vùng quê trong tuyệt vọng. Sau nhiều ngày lang thang vô vọng, ông đến một con
sông nơi một nhóm dân làng Miến Điện đang cố gắng vượt sông. Một chàng trai trẻ
tỏ ra vô cùng thông minh, và Nicomar, tuyệt vọng tìm kiếm sự giúp đỡ, đã kể cho
anh ta toàn bộ câu chuyện.
Chàng trai trẻ lắng nghe
cẩn thận và đồng ý giúp đỡ, chỉ yêu cầu một nửa phần thưởng tương lai của
Nicomar và gả con gái ông ta. Nicomar chấp nhận ngay lập tức.
Vào ngày thứ mười bốn,
Nicomar trở về cung điện. Khi nhà vua hỏi liệu ông đã hoàn thành nhiệm vụ chưa,
Nicomar trả lời rằng ông đã sẵn sàng đổ đầy biển bằng sữa—nhưng chỉ sau khi nhà
vua lấy hết nước đi trước, vì ông không được lệnh tự mình làm phần việc đó.
Cả triều đình im lặng,
không chắc nhà vua sẽ phản ứng thế nào. Nhưng sau một hồi im lặng, nhà vua mỉm
cười. Mặc dù ông thường vô lý, nhưng ông không tàn nhẫn, và ông nhận ra rằng
Nicomar đã thông minh hơn ông.
Nhà vua thừa nhận rằng
biển đã tồn tại từ rất lâu trước khi bất kỳ ai trong số họ được sinh ra và sẽ vẫn
tồn tại rất lâu sau khi họ biến mất. Mệnh lệnh bất khả thi đó đã bị thu hồi, và
mạng sống của Nicomar được tha.
Truyện này nói rằng lòng
tham có thể dẫn tới những ước muốn vô độ, và không thể thực hiện.
.... o ....
2. The King Who Wanted an Ocean of Milk
Long ago, the young King of Amarapoora lived in
extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so
beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels,
servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him,
and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was
denied to him.
Yet, despite all this abundance, the King felt empty.
Every pleasure bored him. Every gift, every performance, every treasure only
deepened his weariness. He had never seen suffering or hardship, and because
his life was filled only with comfort, he no longer knew what to desire. Even
the finest things felt dull to him.
To entertain him, people searched the kingdom for
storytellers, dancers, jugglers, and clever companions. Many tried to amuse
him, but he quickly grew tired of them all. He longed for something new.
One day, a traveler from India arrived with a game called
chess. At first, the palace guards mocked him, but eventually he was brought
before the King. The King became fascinated with the game and spent all his
time playing it. The Indian teacher rose quickly in royal favor, which caused
jealousy among the Burmese ministers.
But soon the King grew bored again. Another foreigner,
Nicomar, arrived with painted cards and dice—games the King had never seen
before. The King abandoned chess and devoted himself entirely to this new
amusement. Nicomar became the new favorite, though he secretly feared the
King’s unpredictable nature.
The King began placing impossible bets on the games,
forcing Nicomar to perform tasks that no ordinary person could accomplish.
Nicomar lived in constant anxiety, always trying to invent new ways to satisfy
the King’s whims.
Then one evening, the King made a demand unlike any
before. He declared that he no longer wanted a sea of water. He wanted the
entire ocean to be filled with milk—and he ordered Nicomar to make it happen
within fourteen days. If Nicomar succeeded, he would receive unimaginable
wealth and power. If he failed, he would die in terrible torment.
Nicomar was horrified. He knew the task was impossible.
He prayed, consulted wise men, searched for signs, and wandered the countryside
in despair. After days of hopeless wandering, he reached a river where a group
of Burmese villagers were trying to cross. One young man showed unusual
cleverness, and Nicomar, desperate for help, told him the whole story.
The young man listened carefully and agreed to help,
asking only for half of Nicomar’s future reward and the hand of his daughter.
Nicomar accepted at once.
On the fourteenth day, Nicomar returned to the palace.
When the King asked if he had completed the task, Nicomar replied that he was
ready to fill the sea with milk—but only after the King removed all the water
first, since he had not been ordered to do that part himself.
The court fell silent, unsure how the King would react.
But after a long pause, the King smiled. Though he was often unreasonable, he
was not cruel at heart, and he recognized that Nicomar had outwitted him.
He admitted that the sea existed long before any of them
were born and would remain long after they were gone. The impossible command
was withdrawn, and Nicomar’s life was spared.
This story suggests that greed can lead to insatiable and
unfulfilled desires.
.... o ....
3. Hoàng tử Ếch xứ Lai
Hka
Ngày xửa ngày xưa, ở nước
Lai Hka, có một người phụ nữ vô cùng sùng đạo. Mỗi sáng, nữ cư sĩ dâng cúng bữa
cơm ngon nhất cho các nhà sư, mỗi tối mang những bông hoa tươi nhất đến tu viện,
và luôn tham gia các lễ hội lớn với lòng thành kính. Nhưng lòng bà nặng trĩu vì
không có con. Mỗi năm, vào dịp Lễ hội Ánh sáng, bà thả một ngọn nến nhỏ trôi xuống
sông và cầu nguyện xin con trai, nhưng điều ước của bà chưa bao giờ thành hiện
thực.
Cuối cùng, bà đến một
ngôi chùa xa xôi, nơi người ta nói rằng một vị thần quyền năng có thể ban cho bất
kỳ điều ước nào. Bà mang lễ vật đến và cầu nguyện xin con. Vua trời Sa Kyah,
người cai quản các vị thần trên trời, nghe thấy lời cầu nguyện của bà và hứa sẽ
ban cho bà một người con trai. Nhưng khi đứa trẻ ra đời, nó không phải là một cậu
bé đẹp trai – mà là một con ếch. Người mẹ đau lòng khôn xiết, nhưng Sa Kyah an ủi
bà, nói rằng con ếch thực ra là một vị thần quyền năng đội lốt và sẽ trở thành
một người đàn ông đẹp trai sau một năm bảy tháng.
Dân làng chế giễu bà và
gọi bà là “Mẹ Ếch”, nhưng bà chịu đựng sự tàn nhẫn của họ trong im lặng.
Vua của vùng đất đó có bảy
cô con gái, tất cả đều đã kết hôn trừ người con gái út. Với mong muốn bảo đảm một
tương lai tốt đẹp cho con trai mình, người nữ cư sĩ đã mạnh dạn xin nhà vua gả
cô con gái út cho con ếch. Nhà vua vô cùng tức giận nhưng giả vờ đồng ý. Vua
đưa ra một điều kiện bất khả thi: bà phải xây dựng một con đường lát đá hoàn hảo
từ chợ đến cung điện, trang trí bằng tre sơn màu, và hoàn thành trong vòng bảy
ngày. Nếu thất bại, bà sẽ phải chết.
Người nữ cư sĩ đáng
thương trở về nhà trong tuyệt vọng. Bà giấu nỗi buồn của mình với con trai cho
đến ngày thứ sáu, khi cuối cùng bà thú nhận rằng mình sẽ bị hành quyết vào sáng
hôm sau. Bà chuẩn bị những lễ vật đơn giản và cầu nguyện tha thiết với vua trời
Sa Kyah để được giúp đỡ.
Đêm đó, thần Sa Kyah
nghe thấy con ếch – chính con trai mình – cầu xin lòng thương xót. Thần đã phái
bốn vị thần quyền năng đến xây dựng con đường. Đến rạng sáng, một con đường cao
tốc tráng lệ trải dài từ chợ đến cung điện, hoàn chỉnh với vỉa hè lát đá, chạm
khắc sư tử, nhà nghỉ và một mái che lớn màu trắng để che nắng cho nhà vua.
Nhà vua kinh ngạc nhưng
không thể phá vỡ lời hứa của mình. Nhà vua tổ chức một bữa tiệc cưới kéo dài bảy
ngày cho con gái và con ếch. Nhưng sau đó, ông lại đưa đôi vợ chồng đến sống
trong căn nhà tồi tàn nơi con ếch được sinh ra.
Không lâu sau, sáu người
con gái lớn của nhà vua tham dự một lễ hội lớn, cưỡi trên những con voi hoàng
gia. Họ ghé thăm nhà em gái út, nhưng cô quá xấu hổ nên không dám đi cùng. Chồng
cô, vẫn là một con ếch, an ủi cô và hứa rằng một ngày nào đó cô sẽ thấy những
người chị kiêu hãnh của mình cúi đầu trước cô.
Vua trời Sa Kyah lại
thương xót. Thần xuống trần gian với y phục trắng sáng và một viên đá thần kỳ
cho phép đôi vợ chồng bay lên. Ngày hôm sau, trong lễ hội đua ngựa và biểu diễn
lớn, hai vị thần rạng rỡ xuất hiện từ trên trời. Mọi người quỳ xuống trước mặt
họ, tin rằng họ là các vị thần trên trời. Các công chúa dâng thức ăn, nhưng các
vị thần từ chối ăn những gì họ mang đến. Sau đó, người em gái út tiết lộ rằng
cô và chồng mình chính là hai vị thần rạng rỡ đó, chứng minh bản chất thần
thánh của chồng cô.
Để nâng cao thử thách, nhà
vua loan báo tổ chức một cuộc đua thuyền hoàng gia. Người chiến thắng sẽ trở thành
vua, còn người về cuối sẽ trở thành người hầu của người chiến thắng. Sáu nàng
công chúa chuẩn bị những chiếc thuyền lộng lẫy, trong khi người em gái út thì
không có. Nhưng vào ngày đua, một chiếc thuyền thứ bảy xuất hiện—được Sa Kyah
phái đến và được chèo bởi mười sáu vị thần.
Chiếc thuyền thần kỳ bay
vút trên mặt nước, hoàn thành toàn bộ chặng đua trước khi những chiếc thuyền
khác đến được điểm giữa. Ngay lúc đó, thời gian biến hình của con ếch kết thúc.
Nó trở thành người đàn ông đẹp trai nhất vùng đất, mặc y phục thần thánh và đội
vương miện vàng. Nhà vua cuối cùng cũng hiểu ra sai lầm của mình và cúi đầu trước
chàng trai.
Tân vương Khit vừa lộ diện
không tìm cách trả thù. Thay vì trừng phạt những người chị gái độc ác và chồng
của họ, ngài đã phong họ làm tể tướng. Lòng tốt và quyền năng của ngài trở nên
huyền thoại, và người Shan ở vùng đồi núi và sông nước vẫn tôn kính Sau Maha
Khit vì câu chuyện này.
Truyện này cho thấy người
nữ cư sĩ thương con đã sống giới hạnh, bố thí, cúng dường để vun trồng phước đức
cho con, và hy vọng chư thiên sẽ giúp con mình thành công.
.... o ....
3. The
Frog Prince of Lai Hka
Long ago in the State of Lai Hka, there lived a deeply
devout woman. She offered the best rice to the monks each morning, brought the
freshest flowers to the monastery every evening, and always joined the great
festivals with sincere devotion. Yet her heart was heavy, for she had no child.
Each year, during the Festival of Lights, she sent a small candle floating down
the river and prayed for a son, but her wish never came true.
At last, she traveled to a distant pagoda where people
said a powerful spirit granted any request. She brought offerings and prayed
for a child. Lord Sa Kyah, ruler of the celestial beings, heard her prayer and
promised her a son. But when the child was born, he was not a beautiful boy—he
was a frog. The mother was heartbroken, but Sa Kyah comforted her, saying that
the frog was actually a great spirit in disguise and would become a handsome
man after one year and seven months.
The villagers mocked her and called her “Frog’s Mother,”
but she endured their cruelty in silence.
The king of the land had seven daughters, all married
except the youngest. Hoping to secure a good future for her son, the woman
boldly asked the king to give this daughter in marriage to the frog. The king
was furious but pretended to agree. He set an impossible condition: she must
build a perfectly paved road from the market to the palace, decorated with
painted bamboo, and finish it within seven days. If she failed, she would die.
The poor woman returned home in despair. She hid her
sorrow from her son until the sixth day, when she finally confessed that she
would be executed the next morning. She prepared simple offerings and prayed
desperately to Lord Sa Kyah for help.
That night, Sa Kyah heard the frog—his own son—begging
for mercy. He sent four powerful spirits to build the road. By dawn, a
magnificent highway stretched from the market to the palace, complete with
stone pavements, lion carvings, resting houses, and a great white canopy to
shade the king.
The king was astonished but could not break his promise.
He held a seven‑day wedding feast for his daughter and the frog. Yet afterward,
he sent the couple to live in the humble house where the frog had been born.
Soon after, the king’s six older daughters attended a
grand festival, riding on royal elephants. They stopped by their youngest
sister’s house, but she was too ashamed to join them. Her husband, still a
frog, comforted her and promised that she would one day see her proud sisters
bow before her.
Lord Sa Kyah took pity again. He descended to earth with
shining white garments and a magic stone that allowed the couple to fly. The
next day, during the great festival of races and performances, two radiant
beings appeared from the sky. Everyone knelt before them, believing they were
celestial lords. The princesses offered food, but the spirits refused to eat
what they brought. Later, the youngest sister revealed that she and her husband
had been the shining visitors, proving her husband’s divine nature.
To increase the
challenge, the king announced a royal boat race. The winner would
become king, and the last-place finisher would become the winner’s servant. The
six princesses prepared splendid boats, while the youngest sister had none. But
on the day of the race, a seventh boat appeared—sent by Sa Kyah and rowed by sixteen
spirits.
The magic boat flew across the water, finishing the
entire course before the others reached the halfway point. At that very moment,
the frog’s time of transformation ended. He became the most handsome man in the
land, wearing celestial garments and a golden crown. The king finally
understood his mistake and bowed before him.
The newly revealed Lord Khit did not seek revenge.
Instead of punishing his unkind sisters and their husbands, he made them his
ministers. His kindness and power became legendary, and the Shans of the hill
and water country still honor Sau Maha Khit because of this story.
This story shows how a devout laywoman, out of love for
her child, lived a virtuous life, practiced charity, and made offerings to
cultivate merit for her child, hoping that the celestial beings would help her
child succeed.
.... o ....
4. Con Ngựa Được Trao
Cho Bảy Năm
Ngày xửa ngày xưa, tại
vương quốc đảo Ceylon (nước Tích Lan cổ xưa), có một vị vua thiếu sự hiểu biết
thông thường. Trong cùng vương quốc đó, có một vị hiền triết Paṇḍitayā, một học giả nổi tiếng khắp
nơi vì trí tuệ uyên bác của mình. Mọi người vô cùng ngưỡng mộ Paṇḍitayā, trong khi nhà vua lại ít được
tôn trọng vì hành vi ngu ngốc của mình. Nhà vua nhận thấy sự khác biệt này và
trở nên ghen tị. Sự ghen tị của ông dần biến thành mong muốn tiêu diệt người
đàn ông thông thái.
Nhà vua có một con ngựa
trắng tuyệt đẹp, con vật mà ông yêu quý hơn bất cứ thứ gì khác. Một ngày nọ,
quyết tâm bẫy Paṇḍitayā, vua
triệu nhà hiền triết đến cung điện. Vị học giả cúi đầu trước ngai vàng, và nhà
vua ra lệnh cho ông một điều bất khả thi: ông phải dạy con ngựa hoàng gia nói.
Nhà vua cho ông một tuần để suy nghĩ. Nếu thất bại, ông sẽ bị xử tử.
Nhà hiền triết Paṇḍitayā trở về nhà trong tuyệt vọng.
Ông sống với cô con gái duy nhất của mình, một thiếu nữ thông minh và xinh đẹp.
Thấy cha mình đau khổ, nàng hỏi chuyện gì đã xảy ra. Khi ông kể cho nàng nghe
yêu cầu của nhà vua, ông giải thích rằng không ai có thể dạy một con ngựa nói,
và ông phải chuẩn bị cho cái chết.
Nhưng con gái ông vẫn
bình tĩnh. Nàng nói với cha rằng mạng sống của cha vẫn có thể được cứu. Vào
ngày đã định, nàng dặn cha nói với nhà vua rằng ông thực sự có thể dạy con ngựa
nói, nhưng nhiệm vụ này sẽ cần bảy năm. Trong thời gian đó, ông phải được phép
giữ con ngựa bên mình, cưỡi nó và chăm sóc nó, trong khi nhà vua tiếp tục cung
cấp thức ăn cho con vật. “Trong bảy năm,” nàng nói, “nhiều chuyện có thể xảy
ra.”
Nhà hiền triết Paṇḍitayā làm theo lời khuyên của nàng.
Cuối tuần, ông trở về cung điện và tuyên bố rằng ông có thể dạy con ngựa nói,
nhưng chỉ khi có thời gian và điều kiện thích hợp. Nhà vua, vui mừng trước ý tưởng
sở hữu một con ngựa biết nói, lập tức đồng ý.
Vì vậy, người Paṇḍitayā đưa con ngựa trắng về nhà và
chăm sóc nó với chi phí của nhà vua. Nhiều năm trôi qua. Trước khi thời hạn bảy
năm kết thúc, vị vua ngu ngốc đã băng hà. Mệnh lệnh bất khả thi bị lãng quên,
và con ngựa ở lại với vị hiền triết Paṇḍitayā cho đến hết đời.
Truyện này cho thấy người
sống với lòng ghen tị sẽ đòi hỏi những chuyện vô lý, trong khi bậc trí tuệ sống
biết đủ và thích ứng với luật vô thường.
.... o ....
4. The
Horse Who Was Given Seven Years
Long ago in the island kingdom of Ceylon, there lived a
King who lacked ordinary common sense. In the same kingdom lived a Paṇḍitayā,
a scholar known everywhere for his deep wisdom. People admired the Paṇḍitayā
greatly, while the King received little respect because of his foolish
behavior. The King noticed this difference and became jealous. His jealousy
slowly turned into a desire to destroy the wise man.
The King owned a magnificent white horse, the animal he
loved more than anything else. One day, determined to trap the Paṇḍitayā,
he summoned him to the palace. The scholar bowed before the throne, and the
King gave him an impossible command: he must teach the royal horse to speak.
The King allowed him one week to think about it. If he failed, he would be
executed.
The Paṇḍitayā returned home in despair. He lived with his only
daughter, a young woman of great intelligence and beauty. Seeing her father’s
sorrow, she asked what had happened. When he told her the King’s demand, he
explained that no one could teach a horse to speak, and that he must prepare
for death.
But his daughter remained calm. She told him that his
life could still be saved. On the appointed day, she instructed him to tell the
King that he could indeed teach the horse to speak, but that the task would
require seven full years. During that time, he must be allowed to keep the
horse with him, ride it, and care for it, while the King continued to provide
food for the animal. “In seven years,” she said, “many things may happen.”
The Paṇḍitayā followed her advice. At the end of the week, he
returned to the palace and declared that he was able to teach the horse to
speak, but only with time and proper conditions. The King, delighted by the
idea of owning a talking horse, immediately agreed.
So the Paṇḍitayā took the white horse home and cared for it at the
King’s expense. Years passed. Before the seven-year period was over, the
foolish King died. The impossible command was forgotten, and the horse remained
with the wise Paṇḍitayā for the rest of his life.
This story illustrates
that those consumed by envy will demand unreasonable things, while wise people
live contentedly and adapt to the law of impermanence.
.... o ....
5. Con Mèo Giả Vờ Giữ Giới
Ngày xửa ngày xưa, có một
con Mèo ranh mãnh nhưng xảo quyệt lang thang gần một ngôi làng. Một ngày nọ, nó
phát hiện một con cá phơi khô giấu trong bao gạo. Khi nó định ăn trộm, một chuỗi
tràng hạt treo gần đó tuột xuống và rơi vào cổ nó. Con Mèo không tháo nó ra.
Thay vào đó, nó tự hào bước đi trên cổ.
Trên đường đi, một con
Gà Rừng nhìn thấy nó và lập tức bỏ chạy trong sợ hãi. Con Mèo, nhận thấy phản ứng
của nó, giả vờ là người thánh thiện. Nó tự xưng là người giữ giới do Phật ban dạy,
và mời con Gà đang sợ hãi đi theo mình. Tin lời nó, con Gà đi theo.
Chẳng bao lâu sau, chúng
gặp một con Chim Cúc Cu Đất. Con Mèo lặp lại trò cũ, nói rằng nó đang giữ giới
thiêng liêng và con chim nên đi cùng chúng. Chim Cúc đi theo.
Sau đó, chúng gặp một
con Thỏ. Con Mèo lại giả vờ là người giữ giới đức hạnh và thuyết phục con Thỏ
đi theo chúng. Cả ba cùng nhau đi bộ cho đến khi đến một hang đá, nơi Mèo tuyên
bố là nơi ở của chúng, giống như một tu viện nhỏ.
Vừa vào trong, Mèo bắt đầu
buộc tội những con vật khác làm điều sai trái. Đầu tiên, nó cáo buộc Gà Rừng đã
cào xới đất làm ô uế hang động. Thỏ, không hiểu ý của Mèo, đồng ý rằng đó là
hành vi xấu. Mèo lập tức giết chết Gà và hỏi liệu ăn thịt một con vật đã chết
có sai không. Khi Thỏ nói rằng không có gì sai, Mèo đã ăn thịt Thỏ.
Sau đó, Mèo buộc tội Chim
Cúc uống quá nhiều rượu cọ, nói rằng đôi mắt đỏ của nó là bằng chứng. Nó lại
tuyên bố rằng hành vi như vậy đã vi phạm sự thanh tịnh của nơi ở của chúng.
Không chút do dự, nó giết chết Chim Cúc và ăn thịt nó.
Cuối cùng, Mèo quay sang
Thỏ. Nó buộc tội Thỏ đã làm ô uế hang động bằng cách thải phân. Thỏ, nhận ra
nguy hiểm, giả vờ chấp nhận số phận của mình. Nó nói rằng trước khi bị giết, nó
phải thực hiện hai điệu nhảy truyền thống: một điệu phi nước đại nhỏ và một điệu
phi nước đại lớn. Con Mèo, nghĩ rằng điều này vô hại, đã để yên.
Con Thỏ chạy nhanh quanh
hang và thông báo rằng cuộc chạy nước rút nhỏ đã kết thúc. Sau đó, nó lại chạy,
nhảy qua đầu con Mèo và thoát ra khỏi hang. Khi chạy vào rừng, nó hét lên rằng
cuộc chạy nước rút lớn đã hoàn thành.
Con Mèo, bị bỏ lại phía
sau và bị đánh lừa, không thể làm gì ngoài việc nhìn con Thỏ biến mất vào nơi
an toàn.
Truyện cổ Tích Lan này nói
rằng người giả vờ giữ giới của Phật ban ra không thể lừa gạt tất cả mọi người
được.
.... o ....
5. The Cat Who Pretended
to Keep the Precepts
Long ago, there was a
clever but deceitful Cat who wandered near a village. One day, he discovered a
sun‑dried fish hidden inside a bag of
rice. As he tried to steal it, a rosary hanging nearby slipped and fell around
his neck. The Cat did not remove it. Instead, he proudly walked away wearing
it.
As he traveled, a Jungle
Hen saw him and immediately ran in fear. The Cat, noticing her reaction,
pretended to be holy. He claimed to be a guardian of the Buddha’s Precepts and
invited the frightened Hen to follow him. Believing him, she went along.
Soon they met a Ground
Cuckoo. The Cat repeated the same trick, saying he was keeping the sacred
Precepts and that the bird should join them. The Cuckoo followed.
Later they met a Hare.
The Cat again pretended to be a virtuous keeper of the Precepts and persuaded
the Hare to come with them. Together they all walked until they reached a rock
cave, which the Cat declared to be their dwelling place, like a small monastery.
Once inside, the Cat
began to accuse the others of wrongdoing. He first claimed that the Jungle Hen
had scratched the ground and made the cave impure. The Hare, not understanding
the Cat’s intentions, agreed that this was bad behavior. The Cat immediately
killed the Hen and then asked if it was wrong to eat an animal that was already
dead. When the Hare said there was no fault in it, the Cat ate her.
Later, the Cat accused
the Ground Cuckoo of drinking too much palm liquor, saying its red eyes were
proof. Again he declared that such behavior violated the purity of their
dwelling. Without hesitation, he killed the Cuckoo and ate it as well.
Finally, the Cat turned
to the Hare. He accused the Hare of defiling the cave by dropping dung. The
Hare, realizing the danger, pretended to accept his fate. He said that before
being killed, he must perform two traditional dances: a small gallop and a great
gallop. The Cat, thinking this was harmless, allowed it.
The Hare ran quickly
around the cave and announced that the small gallop was done. Then he ran
again, leapt over the Cat’s head, and escaped out of the cave. As he fled into
the forest, he shouted that the great gallop was complete.
The Cat, left behind and
outwitted, could do nothing but watch the Hare disappear into safety.
This Ceylon folk tale says that someone who pretends to
keep the precepts given by the Buddha cannot deceive everyone.
.... o ....
6. Tảng Đá Yên Tĩnh
Ngày xửa ngày xưa, ở
vùng đất Laṅkā, có
một khu rừng rộng lớn và hoang dã. Voi lang thang giữa những tán cây, gấu tìm
kiếm thức ăn, báo di chuyển lặng lẽ trong bóng tối, và nhiều loài khỉ cùng các
loài thú rừng khác sinh sống ở đó. Cuộc sống trong rừng đầy rẫy nguy hiểm, và mọi
sinh vật đều phải nhanh nhẹn và cảnh giác để tồn tại.
Ở giữa khu rừng này, có
một tảng đá lớn sừng sững giữa một khoảng đất trống. Một điều kỳ lạ xảy ra mỗi
khi một con vật đuổi theo một con vật khác. Khi con vật hoảng sợ chạy về phía tảng
đá, ngay khi nó đến được khoảng đất trống, tình thế đảo ngược. Kẻ săn mồi đột
nhiên quay đầu bỏ chạy trong sợ hãi, và con mồi bắt đầu đuổi theo kẻ săn mồi.
Chính vì điểm ngoặt kỳ lạ và yên bình này, tảng đá được biết đến với tên gọi “Tảng
Đá Yên Tĩnh”.
Một ngày nọ, một người
thợ đan rổ đi vào rừng để chặt tre làm việc. Trong khi đang nhặt tre, anh ta
nhìn thấy một con chó rừng đang đuổi theo một con thỏ dọc theo một con đường hẹp.
Con thỏ chạy thục mạng về phía tảng đá. Nhưng ngay khi đến được bãi đất trống,
con chó rừng đột nhiên quay đầu bỏ chạy, và con thỏ rừng tự tin đuổi theo.
Người thợ đan rổ kinh ngạc.
Ông quan sát kỹ nơi đó và nhận ra rằng tảng đá này có một sức mạnh đặc biệt.
Ông vội vã đến gặp nhà vua và kể lại tất cả những gì mình đã chứng kiến.
Nhà vua tin rằng một nơi
mà nỗi sợ hãi biến thành lòng dũng cảm hẳn là nơi của chiến thắng và may mắn.
Ông đích thân đến khu rừng, nhìn thấy bãi đất trống, và quyết định xây dựng một
thành phố ở đó. Ông biến nơi đó thành kinh đô và đặt tên là Senkadagala, tên cổ
của thành phố ngày nay được biết đến là Kandy.
Kandy sau này trở thành
một trong những thành phố quan trọng nhất ở Sri Lanka. Đây là kinh đô cuối cùng
của các vị vua Sinhalese từ năm 1469 đến năm 1818. Được bao quanh bởi những ngọn
đồi và giàu văn hóa, thành phố nổi tiếng với kiến trúc và truyền thống. Ngôi
đền Xá lợi Răng Phật, một trong những địa điểm được tôn kính nhất trong thế giới
Phật giáo, nằm ở đó. Năm 1988, UNESCO đã công nhận Kandy là Di sản Thế giới.
Trải qua nhiều thế kỷ,
thành phố này đã được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau. Có người cho rằng
nó từng được gọi là Katubulu Nuwara. Những người khác lại tin rằng cái tên
Senkadagala xuất phát từ một vị Bà La Môn tên là Senkanda sống trong một hang động
gần đó, hoặc từ một nữ hoàng cùng tên, hoặc thậm chí từ một loại đá màu được
tìm thấy trong vùng. Dù nguồn gốc thế nào, cái tên này đều phản ánh lịch sử lâu
đời và vẻ đẹp trường tồn của thành phố.
.... o ....
6. The Rock of Tranquillity
Long ago in the land of Laṅkā, there was a vast and
wild forest. Elephants wandered through the trees, bears searched for food, leopards
moved silently in the shadows, and many kinds of monkeys and jungle animals
lived there. Life in the forest was full of danger, and every creature had to
be quick and alert to survive.
In the middle of this forest stood a large rock in an
open clearing. Something unusual happened whenever one animal chased another.
As the frightened animal ran toward the rock, the moment it reached the
clearing, the situation reversed. The hunter suddenly turned back in fear, and
the prey began to chase the hunter. Because of this strange and peaceful
turning point, the rock became known as “The Rock of the Place of
Tranquillity.”
One day, a Basket‑mender entered the forest to cut bamboo
for his work. While he was gathering bamboo, he saw a jackal chasing a hare
along a narrow path. The hare ran desperately toward the rock. But as soon as
it reached the clearing, the jackal suddenly turned around and fled, and the
hare ran after it with confidence.
The Basket‑mender was amazed. He examined the place
carefully and realized that this rock had a special power. He hurried to the
King who ruled the land and told him everything he had witnessed.
The King believed that a place where fear turned into
courage must be a place of victory and good fortune. He went to the forest
himself, saw the clearing, and decided to build a city there. He made it his
royal capital and named it Senkadagala, the ancient name of what is now known
as Kandy.
Kandy later became one of the most important cities in
Sri Lanka. It was the last capital of the Sinhalese kings from 1469 to 1818.
Surrounded by hills and rich in culture, it became famous for its architecture
and traditions. The sacred Temple of the Tooth Relic, one of the most
revered sites in the Buddhist world, stands there. In 1988, UNESCO declared
Kandy a World Heritage Site.
Over the centuries, the city has been known by many
names. Some say it was once called Katubulu Nuwara. Others believe the name
Senkadagala came from a Brahmin named Senkanda who lived in a nearby cave, or
from a queen with the same name, or even from a colored stone found in the
region. Whatever its origin, the name reflects the city’s long history and
enduring beauty.
.... o ....
7. Những Viên Gạch Bạc
Ngày xửa ngày xưa, tại một
thành phố lớn ở tây bắc Trung Quốc, có một thương gia tên là Meng. Mọi người đều
ngưỡng mộ ông. Ông đã vươn lên từ một người khuân vác nghèo khó trở thành người
giàu nhất vùng, nhưng tấm lòng ông không hề thay đổi. Ông giúp đỡ người nghèo,
cứu giúp các góa phụ, hỗ trợ các chủ cửa hàng đang gặp khó khăn và cho đi một
cách hào phóng mà không bao giờ mong đợi phần thưởng. Lòng tốt của ông nổi tiếng
khắp nơi, vượt xa cả thành phố.
Meng có một người con
trai, Chin, người mà ông yêu thương sâu sắc. Khi Chin đến tuổi trưởng thành, một
gia đình quý tộc từ thành phố khác đến hỏi, xin chàng Chin cưới con gái xinh đẹp
của họ, cô Hoa Súng. Meng vui vẻ đồng ý, tin rằng Trời đã ban phước cho gia
đình mình.
Vào khoảng thời gian
này, một vị sư Phật giáo cao niên, hiền lành đến nhà Meng, xin trọ vài ngày. Meng
đón tiếp nhà sư nồng nhiệt, và vị sư ở lại nhiều tháng. Nhà sư là người thông
thái, tốt bụng và đặc biệt yêu quý Chin. Mỗi ngày nhà sư dạy cho chàng trai trẻ
những tư tưởng cao quý, và đôi khi yêu cầu anh chôn những viên gạch ngói lạ dưới
sàn của những công trình trong vườn không sử dụng. Cậu Chin vâng lời vì kính trọng,
mặc dù anh thấy điều đó kỳ lạ.
Một ngày nọ, vị sư tuyên
bố sư phải tiếp tục cuộc hành hương của mình. Meng cố gắng dâng tiền cho nhà sư,
nhưng vị sư từ chối và lặng lẽ rời đi. Không ai biết rằng nhà sư thực chất là từ
một cõi trời đến để bảo vệ gia đình Meng khỏi tai họa trong tương lai.
Không lâu sau, tai họa ập
đến. Một số công ty lớn phá sản, nợ Meng những khoản tiền khổng lồ. Chỉ sau một
đêm, ông Meng phá sản. Cú sốc làm suy yếu sức khỏe của ông Meng, và ông ta qua
đời, để lại vợ con trong đau buồn và nghèo khó.
Cậu Chin quyết định đến
thăm cha của Hoa Súng, hy vọng nhận được lòng thương xót. Nhưng khi đến nơi, cổng
đã đóng. Người đàn ông giàu có từ chối gặp Chin, xấu hổ khi có liên hệ với một
gia đình đã phá sản. Đau lòng, chàng Chin trở về nhà.
Tuy nhiên, cô Hoa Súng vẫn
trung thành. Khi biết cha mình đối xử với Chin như thế nào, nàng từ chối kết
hôn với bất kỳ ai khác. Khi thân phụ cứ khăng khăng, nàng đã cải trang thành một
người ăn xin bẩn thỉu và bỏ nhà ra đi. Suốt nhiều tháng, nàng lang thang một
mình, chịu đói khát và gian khổ, cho đến khi cuối cùng nàng đến được căn nhà
nghèo nàn của Chin. Mẹ của Chin đón tiếp nàng bằng lòng tốt, và cô Hoa Súng đã
tiết lộ thân phận thật của mình. Gia đình đoàn tụ, nhưng họ vẫn không có gì để
sống.
Họ quyết định bán những
công trình trong vườn không dùng đến. Khi Chin đến xem xét, anh nhận thấy có thứ
gì đó lấp lánh trong đất. Đào sâu hơn, anh tìm thấy một trong những viên gạch
mà nhà sư già đã bảo anh chôn – giờ đã biến thành bạc nguyên chất. Mọi viên gạch
dưới sàn nhà đều biến đổi theo cùng một hướng.
Chin mang báu vật về nhà
và nhận ra mình đột nhiên trở thành triệu phú. Nhà sư trên trời đã chuẩn bị
phép màu này từ rất lâu trước khi Meng sa ngã. Qua món quà này, chư thiên đã
tôn vinh lòng từ bi suốt đời của Meng và giúp gia đình ông trở nên thịnh vượng
hơn trước.
Và thế là Chin, mẹ anh
và cô Hoa Súng lại sống sung túc, luôn ghi nhớ rằng lòng tốt chân thành không
bao giờ bị chư thiên bỏ qua.
Truyện này còn có một ý
nghĩa của Thiền Tông, rằng các mảnh ngói nhỏ chôn xuống đất sẽ tới một lúc hóa
thành kho tàng có nghĩa là: những thiện ý gieo vào đất tâm tương lai sẽ trở
thành kho tàng quý báo.
.... o ....
7. The Silver Tiles
Long time ago, in a
great city of northwest China lived a merchant named Meng. Everyone admired
him. He had risen from a poor porter to the richest man in the region, but his
heart never changed. He helped the poor, rescued widows, supported struggling shopkeepers,
and gave generously without ever seeking reward. His kindness became famous far
beyond the city.
Meng had one son, Chin,
whom he loved deeply. When Chin came of age, a noble family from another city
asked to betroth their beautiful daughter, Water‑Lily, to him. Meng happily agreed, believing Heaven had
blessed his family.
Around this time, a
gentle old Buddhist priest arrived at Meng’s door, asking for a few days’
lodging. Meng welcomed him warmly, and the priest stayed for months. He was
wise, kind, and especially fond of Chin. Every day he taught the young man
noble ideas, and sometimes asked him to bury strange tiles under the floors of
unused garden buildings. Chin obeyed out of respect, though he found it odd.
One day the priest
announced he must continue his pilgrimage. Meng tried to give him money, but
the priest refused and departed quietly. No one knew he was actually a heavenly
being sent to protect Meng’s family from future disaster.
Soon afterward, disaster
struck. Several large firms failed, owing Meng huge sums. Overnight he became
bankrupt. The shock broke his health, and he died, leaving his wife and son in
grief and poverty.
Chin decided to visit
Water‑Lily’s father, hoping for compassion. But when he arrived, the
gates were shut. The wealthy man refused to see him, ashamed to be connected
with a ruined family. Heartbroken, Chin returned home.
Water‑Lily, however, was loyal. When she learned how her father
had treated Chin, she refused to marry anyone else. When he insisted, she
disguised herself as a filthy beggar and fled her home. For months she wandered
alone, suffering hunger and hardship, until at last she reached Chin’s poor house. Chin’s
mother welcomed her with kindness, and Water‑Lily revealed her true identity. The family was reunited,
but they still had nothing to live on.
They decided to sell the
unused garden buildings. When Chin went to inspect them, he noticed something
shining in the dirt. Digging deeper, he found one of the tiles the priest had
made him bury—now transformed into pure silver. Every tile under the floor had
turned the same way.
Chin carried the
treasure home and realized he was suddenly a millionaire. The heavenly priest
had prepared this miracle long before Meng’s downfall. Through this gift, the
Gods honored Meng’s lifetime of compassion and restored his family to even
greater prosperity than before.
And so Chin, his mother,
and Water‑Lily lived in
comfort again, remembering always that true kindness never goes unnoticed by
Heaven.
This story also carries
a Zen Buddhist meaning: that small pieces of roof tiles buried in the ground
will one day turn into a treasure, meaning that good intentions sown in the
soil of the heart will become a precious treasure in the future.
.... o ....
8. Công chúa Hase và Phước
lành của Quan Âm
Nhiều năm về trước, tại
kinh đô Nara cổ đại ở Nhật Bản, có một vị quan thông thái, Hoàng tử Toyonari
Fujiwara, và người vợ hiền dịu, xinh đẹp của ông, Công chúa Murasaki. Họ hạnh
phúc về mọi mặt ngoại trừ một điều—họ không có con. Khao khát có con gái hoặc
con trai, họ hành hương đến đền thờ Bồ Tát Quan Âm, vị Nữ thần của lòng Từ Bi,
cầu nguyện bằng cả tấm lòng.
Lời cầu nguyện của họ đã
được đáp lại. Một cô con gái được sinh ra, và họ đặt tên cho cô là Hase-Hime,
Công chúa Hase, bởi vì cô là món quà của Nữ thần. Cô lớn lên hiền lành, ngoan
ngoãn và tài giỏi—đúng như ước nguyện của mẹ cô trước khi bà qua đời khi
Hase-Hime mới năm tuổi.
Sau khi Công chúa
Murasaki qua đời, Hoàng tử Toyonari tái hôn. Người vợ mới của ông, Công chúa
Terute, ghen tuông và tàn nhẫn. Bà không thích con gái riêng của chồng chỉ vì
cô không phải là con ruột của bà. Tuy nhiên, Hase-Hime vẫn kiên nhẫn, dịu dàng
và hiếu thảo, không bao giờ để cho mẹ kế có lý do để phàn nàn.
Hase-Hime học nhạc, thơ
và thư pháp với sự tận tâm. Năm mười hai tuổi, cô chơi đàn koto rất hay. Cô và
mẹ kế được mời biểu diễn trước Hoàng đế trong Lễ hội Hoa anh đào. Hase-Hime
chơi hoàn hảo, nhưng Công chúa Terute lại đàn thất bại và cảm thấy bị sỉ nhục.
Khi Hoàng đế ban thưởng cho Hase-Hime, sự ghen tị của Terute càng biến thành
thù hận.
Sau đó, Terute sinh một
đứa con trai. Trong cay đắng, bà mẹ kế nghĩ: Giá như nàng Hase-Hime biến mất,
con trai ta sẽ có được tất cả tình yêu thương của cha. Sự ghen tị của bà mẹ kế
trở nên méo mó đến mức bà quyết định đầu độc cô gái. Nhưng trong lúc lo lắng,
bà đã nhầm lẫn các chén rượu – và chính con trai mình đã uống phải rượu độc. Cậu
bé chết trong vòng một giờ. Thay vì hối hận, Terute lại càng đổ lỗi cho
Hase-Hime nhiều hơn.
Khi cô Hase-Hime mười ba
tuổi, Hoàng đế lâm bệnh vì dòng nước lũ dữ dội của sông Tatsuta khiến ngài
không ngủ được. Các vị sư cầu nguyện, nhưng không có gì thay đổi. Người ta xì
xào bàn tán rằng Hase-Hime, vốn đã nổi tiếng là một nhà thơ tài năng, có thể
làm dịu dòng sông bằng một bài thơ cầu nguyện. Hoàng đế triệu kiến cô.
Mặc dù sợ hãi, Hase-Hime
đã viết một bài thơ trên giấy dát vàng và đọc to bên cạnh dòng sông đang cuộn
chảy. Kỳ diệu thay, dòng nước lập tức dịu xuống. Hoàng đế bình phục và ban thưởng
cho cô tước hiệu Công chúa Phó tướng, một vinh dự lớn lao đối với một người trẻ
tuổi như vậy.
Sự ghen tị của Công chúa
Terute giờ đây bùng cháy như lửa. Trong khi Hoàng tử Toyonari vắng mặt, bà ra lệnh
cho một người hầu tên là Katoda đưa Hase-Hime đến vùng núi Hibari hẻo lánh và
giết cô. Katoda bề ngoài tuân lệnh, nhưng anh biết cô gái vô tội. Thay vì làm hại
cô, anh đã xây một túp lều nhỏ và cùng vợ mình bí mật chăm sóc cô.
Khi Hoàng tử Toyonari trở
về nhà và biết tin con gái mình mất tích, ông đã tìm kiếm khắp nơi trong tuyệt
vọng. Một ngày nọ, khi đang đi săn trên núi, ông nghe thấy một cô gái trẻ đang
đọc kinh Phật trong một túp lều nhỏ. Trước sự kinh ngạc của ông, đó chính là
Hase-Hime. Xúc động mạnh, cô chạy vào vòng tay cha mình, và người hầu Katoda đã
kể toàn bộ sự thật.
Hoàng tử Toyonari lập tức
đưa con gái về nhà. Khi Công chúa Terute nghe tin ông đã phát hiện ra tội lỗi của
mình, bà đã bỏ trốn trong nhục nhã và không bao giờ xuất hiện nữa.
Katoda được ban thưởng hậu
hĩnh, và Hase-Hime sống yên bình với cha mình. Sau này, cô kết hôn với một quý
tộc do cha mình chọn và trở thành một người phụ nữ thông thái, mộ đạo và duyên
dáng. Cô sống đến tuổi già, được mọi người kính trọng.
Tại một ngôi chùa ở
Kyoto, người ta vẫn trân trọng một tác phẩm thêu chỉ sen tinh xảo được cho là
do chính Công chúa Hase làm ra – một kỷ vật gợi nhớ về cô gái dịu dàng được Bồ
Tát Quan Âm ban phước.
.... o ....
8. Princess Hase and the
Blessing of Kwannon
Many years ago in the
ancient capital of Nara lived a wise minister, Prince Toyonari Fujiwara, and
his gentle, beautiful wife, Princess Murasaki. They were happy in every way
except one—they had no child. Longing for a daughter or son, they made a pilgrimage
to the temple of Hase‑no‑Kwannon, the Goddess of Mercy, praying with all their
hearts.
Their prayers were
answered. A daughter was born, and they named her Hase‑Hime, the Princess of Hase, because she was the gift of
the Goddess. She grew up kind, obedient, and talented—just as her mother had wished before she passed away when
Hase‑Hime was only five.
After Princess
Murasaki’s death, Prince Toyonari remarried. His new wife, Princess Terute, was
jealous and cruel. She disliked her step‑daughter simply because she was not her own child. Yet Hase‑Hime remained patient, gentle, and dutiful, never giving
her step‑mother any reason
to complain.
Hase‑Hime studied music, poetry, and calligraphy with great dedication.
By the age of twelve, she played the koto beautifully. She and her step‑mother were invited to perform before the Emperor during
the Cherry Blossom Festival. Hase‑Hime played
flawlessly, but Princess Terute failed and felt humiliated. When the Emperor
rewarded Hase‑Hime with gifts,
Terute’s jealousy grew into hatred.
Later, Terute gave birth
to a son. In her bitterness she thought, If only Hase‑Hime were gone, my son would have all his father’s love. Her jealousy became so twisted that she decided
to poison the girl. But in her nervousness she mixed up the cups—and her own child drank the poisoned wine. He died within
the hour. Instead of repenting, Terute blamed Hase‑Hime even more.
When Hase‑Hime was thirteen, the Emperor fell ill because the
roaring floodwaters of the Tatsuta River kept him from sleeping. Priests
prayed, but nothing changed. People whispered that Hase‑Hime, already known as a gifted poet, might be able to
calm the river with a prayer‑poem. The Emperor
summoned her.
Though frightened, Hase‑Hime wrote a poem on gold‑flecked paper and read it aloud beside the raging river.
Miraculously, the waters quieted at once. The Emperor recovered and rewarded
her with the rank of Lieutenant‑General Princess, a
great honor for someone so young.
Princess Terute’s
jealousy now burned like fire. While Prince Toyonari was away, she ordered a
servant named Katoda to take Hase‑Hime into the
remote Hibari Mountains and kill her. Katoda obeyed outwardly, but he knew the
girl was innocent. Instead of harming her, he built a small cottage and, with
his wife, cared for her in secret.
When Prince Toyonari
returned home and learned that his daughter had vanished, he searched
everywhere in despair. One day, while hunting in the mountains, he heard a
young girl reading Buddhist scriptures in a tiny cottage. To his astonishment,
it was Hase‑Hime. Overcome with
emotion, she ran into his arms, and Katoda told the whole truth.
Prince Toyonari brought
his daughter home at once. When Princess Terute heard he had discovered her
crime, she fled in disgrace and was never seen again.
Katoda was richly
rewarded, and Hase‑Hime lived
peacefully with her father. Later, she married a nobleman chosen by her father
and became known as a wise, devout, and gracious lady. She lived to old age,
honored by all.
In a temple in Kyoto,
people still treasure a piece of delicate lotus‑thread embroidery said to be made by Princess Hase
herself—a reminder of the gentle girl
blessed by the Goddess of Mercy.
.... o ....
9. Công chúa Ánh Trăng
Ngày xửa ngày xưa ở Nhật
Bản, có một ông lão đốn tre sống với vợ. Họ nghèo và không có con, điều đó khiến
lòng họ nặng trĩu. Mỗi ngày, ông lão đều lên đồi đốn tre kiếm chút ít kế sinh
nhai.
Một buổi sáng nọ, khi
đang làm việc, một ánh sáng dịu nhẹ, rực rỡ đột nhiên tràn ngập khu rừng tre.
Ông kinh ngạc nhìn xung quanh và thấy ánh sáng phát ra từ bên trong một thân
tre. Khi bổ đôi thân tre ra, ông tìm thấy một bé gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng 7-8
cm, tỏa sáng như ánh trăng. Vui mừng khôn xiết, ông bế cô bé về nhà, tin rằng
Trời đã gửi cô bé đến làm con của họ.
Hai vợ chồng già nuôi dưỡng
cô bé với tình yêu thương vô bờ bến. Chẳng bao lâu sau, những điều kỳ diệu kỳ lạ
ập đến: mỗi khi ông lão đốn tre, ông đều tìm thấy vàng và châu báu giấu bên
trong. Sự nghèo khó của họ biến mất, và họ trở nên giàu có.
Chỉ trong ba tháng, đứa
trẻ nhỏ bé đã lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Vẻ rạng rỡ của nàng tràn ngập
ngôi nhà với ánh sáng dịu nhẹ, ngay cả vào ban đêm. Bởi vì nàng tỏa sáng như
ánh trăng, một người đặt tên nổi tiếng đã gọi nàng là Công chúa Ánh Trăng. Vẻ đẹp
của nàng được biết đến khắp nơi, và nhiều người cầu hôn đến với hy vọng được gặp
nàng. Nhưng nàng vẫn luôn ẩn mình sau bức bình phong, không ai được phép gặp
nàng.
Năm hiệp sĩ cao quý đã
chờ đợi bên ngoài nhà nàng suốt mùa đông và mùa hè, hy vọng được nhìn thấy
nàng. Cuối cùng, Công chúa Ánh Trăng đồng ý thử lòng trung thành của họ. Nàng
yêu cầu mỗi người mang đến cho nàng một bảo vật bất khả thi: bát đá Phật, cành
ngọc từ núi Horai, bộ lông không cháy của chuột lửa, viên ngọc ngũ sắc của rồng,
và vỏ ốc thần kỳ của chim én.
Từng người một, các hiệp
sĩ cố gắng lừa nàng bằng những bảo vật giả. Nàng nhìn thấu mọi mánh khóe. Cả
năm người đều thất bại và trở về nhà trong xấu hổ.
Tin tức về sắc đẹp của
nàng đến tai Hoàng đế. Ông sai một cung nữ đến triệu nàng đến cung điện, nhưng
Công chúa Ánh Trăng từ chối. Nàng cảnh báo rằng nếu bị ép buộc phải đi, nàng sẽ
biến mất khỏi trần gian. Tò mò và say mê, Hoàng đế đích thân đến thăm nàng. Khi
nhìn thấy bóng dáng rạng rỡ của nàng, ông đã yêu say đắm và cầu xin nàng đến
cung đình. Nhưng nàng nhẹ nhàng từ chối, nói rằng nàng không bao giờ có thể kết
hôn với bất kỳ ai trên trần gian. Tuy vậy, nàng vẫn viết cho chàng những bài
thơ dịu dàng, và chàng trân trọng từng lời.
Thời gian trôi qua, cha
mẹ nuôi của nàng nhận thấy nàng thường ngồi một mình, ngắm trăng với nước mắt
lưng tròng. Một đêm nọ, nàng cuối cùng cũng nói với họ sự thật: nàng không phải
người trần gian. Nàng đến từ mặt trăng như một hình phạt cho một lỗi lầm đã bị
lãng quên, và thời gian của nàng trên trái đất sắp kết thúc. Vào đêm thứ mười
lăm của tháng Tám, người mặt trăng sẽ đến đưa nàng về nhà.
Hai vợ chồng già khóc nức
nở, và Hoàng đế đã phái hai nghìn binh lính đến canh gác nhà nàng. Nhưng Công
chúa Ánh Trăng nói rằng không một thế lực trần gian nào có thể ngăn cản được điều
sắp xảy ra.
Vào đêm đã định, một đám
mây sáng rực từ mặt trăng giáng xuống. Một cỗ xe sáng chói xuất hiện, chở những
vị thần trên trời. Người lãnh đạo của họ tuyên bố rằng Công chúa Ánh Trăng phải
trở về. Ông lão đốn tre cầu xin họ cho nàng ở lại, nhưng điều đó là không thể.
Công chúa Ánh Trăng bước
tới, tỏa sáng hơn bao giờ hết. Nàng an ủi cha mẹ nuôi, nói với họ rằng nàng yêu
thương họ sâu sắc và sẽ không bao giờ quên lòng tốt của họ. Nàng tặng ông lão
chiếc áo choàng thêu của mình làm kỷ vật. Trước khi rời đi, nàng viết một bức
thư cuối cùng cho Hoàng đế và giao cho người đốn tre.
Rồi những người trên mặt
trăng khoác lên vai nàng một chiếc áo choàng bằng lông vũ. Ngay khi nàng mặc nó
vào, ký ức về trần gian của nàng tan biến. Cỗ xe bay lên trời và đưa nàng trở về
mặt trăng, để lại đôi vợ chồng già đau lòng nhưng biết ơn những năm tháng họ đã
được ở bên cạnh người con gái thần thánh của mình.
Và truyền thuyết kể rằng:
bất cứ khi nào bạn nhìn lên trăng tròn, bạn có thể thấy Công chúa Ánh Trăng tỏa
sáng dịu dàng, nhớ về thế giới mà nàng từng yêu thương.
.... o ....
9. Princess Moonlight
Long, long ago in Japan,
an old bamboo cutter lived with his wife. They were poor and had no children,
which made their hearts heavy. Every day the old man went into the hills to cut
bamboo and earn a small living.
One morning, as he
worked, a soft, glowing light suddenly filled the bamboo grove. He looked
around in amazement and saw that the light came from inside one bamboo stalk.
When he split it open, he found a tiny girl only three inches tall, shining
like the moon. Overjoyed, he carried her home, believing Heaven had sent her to
be their child.
The old couple raised
the little girl with great love. Soon, strange blessings followed: whenever the
old man cut bamboo, he found gold and jewels hidden inside. Their poverty
disappeared, and they became wealthy.
In only three months,
the tiny child grew into a beautiful young woman. Her radiance filled the house
with soft light, even at night. Because she shone like moonlight, a famous name‑giver called her Princess Moonlight. Her beauty became
known throughout the land, and many suitors came hoping to see her. But she
stayed hidden behind screens, and no one was allowed to meet her.
Five noble knights
waited outside her home through winter and summer, hoping for a glimpse. At
last, Princess Moonlight agreed to test their devotion. She asked each man to
bring her an impossible treasure: Buddha’s stone bowl, a jeweled branch from
Mount Horai, the fire‑rat’s unburnable fur, the dragon’s five‑colored jewel, and
a swallow’s magic shell.
One by one, the knights
tried to deceive her with fake treasures. She saw through every trick. All five
failed and returned home in shame.
News of her beauty
reached the Emperor. He sent a court lady to summon her to the palace, but
Princess Moonlight refused. She warned that if she were forced to go, she would
vanish from the earth. Curious and captivated, the Emperor visited her himself.
When he saw her glowing form, he fell deeply in love and begged her to come to
court. But she gently refused, saying she could never marry anyone on earth.
Still, she wrote him kind poems, and he treasured every word.
As time passed, her
foster‑parents noticed that she often sat
alone, gazing at the moon with tears in her eyes. One night, she finally told
them the truth: she was not from this world. She had come from the moon as
punishment for a forgotten fault, and her time on earth was ending. On the
fifteenth night of August, the moon people would come to take her home.
The old couple wept, and
the Emperor sent two thousand soldiers to guard her house. But Princess
Moonlight said no earthly force could stop what was coming.
On the appointed night,
a bright cloud descended from the moon. A shining chariot appeared, carrying
celestial beings. Their leader announced that Princess Moonlight must return.
The old bamboo cutter begged them to let her stay, but it was impossible.
Princess Moonlight
stepped forward, glowing brighter than ever. She comforted her foster‑parents, telling them she loved them deeply and would
never forget their kindness. She gave the old man her embroidered robe as a
keepsake. Before leaving, she wrote a final letter to the Emperor and entrusted
it to the bamboo cutter.
Then the moon beings
placed a robe of feathers on her shoulders. As soon as she wore it, her
memories of earth faded. The chariot rose into the sky and carried her back to
the moon, leaving the old couple heartbroken but grateful for the years they
had shared with their heavenly daughter.
And so the legend says:
whenever you look at the full moon, you may see Princess Moonlight shining
softly, remembering the world she once loved.
.... o ....
10. Cậu Bé Vẽ Mèo
Ngày xửa ngày xưa ở Nhật
Bản, có một người nông dân nghèo và vợ ông sống trong một ngôi làng nhỏ. Họ làm
việc vất vả mỗi ngày, nhưng vẫn khó khăn trong việc nuôi sống nhiều con. Ngay
khi các con đủ lớn, chúng đã giúp cha mẹ làm việc trên đồng ruộng. Chỉ có đứa
con út là khác biệt. Cậu bé thông minh và hiếu kỳ, nhưng quá nhỏ bé và yếu ớt để
làm những công việc nặng nhọc.
Cha mẹ lo lắng cho tương
lai của con trai. Tin rằng con trai có thể có một cuộc sống tốt hơn nếu trở
thành một nhà sư, họ đưa cậu đến một ngôi chùa gần đó và xin vị trụ trì nhận cậu
làm tiểu tăng. Vị trụ trì thử thách cậu bé bằng những câu hỏi khó, và những câu
trả lời thông minh của cậu bé đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi vị sư đồng ý nhận
cậu vào tu viện và dạy dỗ cậu.
Cậu bé học rất nhanh,
nhưng cậu có một thói quen kỳ lạ: cậu rất thích vẽ mèo. Cậu vẽ chúng ở khắp mọi
nơi—trên vở ghi chép, trên mép sách, trên tường, thậm chí cả trên những cột gỗ
của ngôi chùa. Cho dù vị trụ trì có mắng mỏ bao nhiêu lần đi nữa, cậu bé vẫn
không thể ngừng vẽ mèo.
Một ngày nọ, sau khi cậu
bé vẽ kín một tấm bình phong bằng những bức tranh mèo, vị sư nhận ra rằng đứa
trẻ sẽ không bao giờ trở thành một nhà sư chân chính. Nhà sư nhẹ nhàng bảo cậu
bé rời khỏi chùa. Vị sư nói thêm một lời khuyên cuối cùng, với giọng điệu rất
nghiêm túc: “Tránh những nơi đông đúc vào ban đêm; hãy ở những nơi nhỏ hẹp.”
Cậu bé không hiểu ý
nghĩa của lời khuyên, nhưng cậu thu dọn đồ đạc và lặng lẽ rời đi, quá sợ hãi và
xấu hổ để nói lời tạm biệt. Cậu cũng sợ trở về nhà, lo lắng cha sẽ trừng phạt
mình. Thay vào đó, cậu quyết định đi bộ mười hai dặm đến một ngôi chùa lớn hơn ở
làng kế bên và xin được làm tiểu tăng ở đó.
Điều cậu không biết là
ngôi chùa lớn đó đã bị bỏ hoang. Một con yêu tinh đáng sợ đã đuổi hết các sư thầy
đi, và tòa nhà đã bị khóa lại. Khi cậu bé đến nơi sau khi trời tối, cậu gõ cửa
vài lần nhưng không ai trả lời. Nghĩ rằng các nhà sư chỉ đang ngủ, cậu đẩy cửa
bước vào.
Ngôi chùa im lặng, bụi bặm
và trống rỗng. Cậu tìm thấy vài tấm bình phong giấy trắng và, không thể cưỡng lại
được, cậu lấy mực ra và bắt đầu vẽ mèo trở lại. Khi vẽ xong, cậu nhớ lại lời cảnh
báo của vị sư già. Không biết phải làm gì khác, cậu tìm một chiếc tủ nhỏ và cuộn
mình ngủ trong đó.
Đêm khuya hôm đó, cậu tỉnh
giấc bởi tiếng đổ vỡ dữ dội, tiếng la hét và tiếng đánh nhau kinh hoàng ở đâu
đó trong đền. Sợ hãi đến tê người, cậu trốn trong tủ cho đến rạng sáng.
Khi mặt trời cuối cùng
cũng mọc, đền lại trở nên yên tĩnh. Cậu bé bước ra và thấy sàn nhà nhuốm máu. Ở
giữa đại sảnh là xác một con chuột khổng lồ – đã chết. Không còn ai khác ở đó.
Rồi cậu nhận thấy điều gì đó kỳ lạ: những con mèo mà cậu đã vẽ trên bình phong
bị vấy máu tươi, như thể chúng đã sống dậy trong đêm.
Lúc đó, cậu hiểu ý nghĩa
lời khuyên của vị sư. Bằng cách ẩn náu ở một nơi nhỏ, cậu đã sống sót qua nguy
hiểm trong đại sảnh rộng lớn.
Từ ngày đó trở đi, cậu
bé dành cả đời mình cho nghệ thuật. Cậu lớn lên trở thành một họa sĩ vĩ đại và
nổi tiếng, được nhớ đến đặc biệt với những bức tranh mèo của mình.
.... o ....
10. The Boy Who Drew Cats
Long ago in Japan, a poor farmer and his wife lived in a
small country village. They worked hard every day, but it was still difficult
to feed their many children. As soon as the children were old enough, they
helped their parents in the fields. Only the youngest child was different. He
was bright and curious, but too small and weak to do heavy work.
The parents worried about his future. Believing he might
have a better life as a monk, they took him to a nearby temple and asked the
head priest to accept him as a novice. The priest tested the boy with difficult
questions, and the boy’s clever answers impressed him so much that he agreed to
take the child in and educate him.
The boy learned quickly, but he had one strange habit: he
loved drawing cats. He drew them everywhere—on his notes, on the edges of
books, on the walls, even on the wooden pillars of the temple. No matter how
often the priest scolded him, the boy could not stop drawing cats.
One day, after the boy covered a folding screen with cat
drawings, the priest realized the child would never become a proper monk. He
gently told the boy to leave the temple. The priest added one final piece of
advice, spoken with great seriousness: “Avoid large places at night; keep to
small.”
The boy did not understand the meaning, but he packed his
things and left quietly, too frightened and ashamed to say goodbye. He was also
afraid to return home, worried that his father would punish him. Instead, he
decided to walk twelve miles to a larger temple in the next village and ask to
become a novice there.
What he did not know was that the big temple had been
abandoned. A terrifying goblin had driven away all the priests, and the
building had been locked up. When the boy arrived after dark, he knocked
several times, but no one answered. Thinking the priests were simply asleep, he
pushed the door open and stepped inside.
The temple was silent, dusty, and empty. He found several
blank paper screens and, unable to resist, he took out ink and began drawing
cats again. When he finished, he remembered the old priest’s warning. Not
knowing what else to do, he found a small storage cabinet and curled up inside
to sleep.
Late that night, he woke to the sound of violent
crashing, screaming, and terrible fighting somewhere in the temple. Frozen with
fear, he stayed hidden in the cabinet until dawn.
When the sun finally rose, the temple became quiet again.
The boy stepped out and saw the floor stained with blood. In the center of the
hall lay the huge body of a monstrous rat—dead. No one else was there. Then he
noticed something strange: the cats he had painted on the screens were
splattered with fresh blood, as if they had come alive during the night.
At that moment, he understood the meaning of the priest’s
advice. By keeping to a small place, he had survived the danger in the large
hall.
From that day on, the boy devoted himself to art. He grew
up to become a great and celebrated painter, remembered especially for his
cats.