Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

766 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI : TUYỂN TẬP TRUYỆN CỔ QUỐC TẾ Phần 1 từ bài 1 đến bài 10

                                                                                                         


A COLLECTION OF FOLKTALES FROM AFAR

 

…. o ….

Tuyển dịch bởi Nguyên Giác

Selected & translated by Nguyên Giác

MỤC LỤC

Lời thưa

1. Vị Thần Cây

2. Vị Vua Đòi Một Đại Dương Sữa

3. Hoàng Tử Ếch xứ Lai Hka

4. Con Ngựa Được Trao Cho Bảy Năm

5. Con Mèo Giả Vờ Giữ Giới

6. Tảng Đá Yên Tĩnh

7. Những Viên Gạch Bạc

8. Công chúa Hase và Phước lành của Quan Âm

9. Công chúa Ánh Trăng

10. Cậu Bé Vẽ Mèo

11. Ông Cụ khiến cây cối đâm chồi nảy lộc

12. Bà cụ yêu thích làm bánh bao

13. Truyện Chin-chin Kobakama

14. Truyền thuyết về Malin Kundang

15. Jaka Tarub và nàng tiên

16. Câu chuyện về Yeonorang và Seonyeo 

17. Truyện nàng Shim Cheong

18. Truyện nàng Chunhyang

19. Công chúa ngủ trong rừng

20. Aladdin và Chiếc Đèn Thần

21. Mỹ Nhân và Quái vật

22. Bốn mươi tên trộm

23. Nàng Công Chúa Kiêu Ngạo

24. Cô gái yêu thương cá

25. Người vợ ngôi sao

26. Hoàng Tử và Bảy Pháp Sư

27. Visu và các phụ nữ cáo

28. Trong dòng chảy đời sống

29. Cuộc đời của sư Luang Phor Tuad

 

.... o ....

TABLE OF CONTENTS

Preface

1. The Spirit in the Tree

2. The King Who Wanted an Ocean of Milk

3. The Frog Prince of Lai Hka

4. The Horse Who Was Given Seven Years

5. The Cat Who Pretended to Keep the Precepts

6. The Rock of Tranquillity

7. The Silver Tiles

8. Princess Hase and the Blessing of Kwannon

9. Princess Moonlight

10. The Boy Who Drew Cats

11. The Old Man Who Made the Trees Bloom

12. The Old Woman Who Love to Make Dumplings

13. The Chin-chin Kobakama

14. The Legend of Malin Kundang

15. Jaka Tarub and the Heavenly Maiden

16. The Story of Yeonorang and Seonyeo

17. The Story of Shim Cheong

18. The Story of Chunhyang

19. Sleeping Beauty

20. Aladdin and the Wonderful Lamp

21. Beauty and the Beast

22. The Forty Thieves

23. The Haughty Princess

24. The Maiden Who Loved a Fish

25. The Star Wife

26. The Prince and the Seven Magicians

27. Visu and the Fox Women

28. In the flow of life

29. The Life of Luang Phor Tuad

.... o ....

LỜI THƯA

Các truyện trong sách này dựa vào Wikipedia và Project Gutenberg -- https://www.gutenberg.org/ -- nơi các tác phẩm không còn giữ bản quyền, và đã trở thành tài sản văn hóa chung của nhân loại. Các truyện cổ tích được chọn từ nhiều tác giả. Bởi vì văn phong dùng trong các truyện hầu hết là tiếng Anh của Vương Quốc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, nên nơi đây sẽ được chuyển sang tiếng Anh của Hoa Kỳ thời kỳ đương đại cho dễ hiểu. Một số truyện cũng sẽ được rút ngắn và viết lại, khi cần thiết. Các truyện sẽ dựa vào Google Translate để được dịch trực tiếp và dịch ngược để kiểm tra, rồi sẽ được người dịch hiệu đính bằng cảm nhận văn học tự nhiên. Bản song ngữ thực hiện bởi Nguyên Giác Phan Tấn Hải vì lợi ích cho giới trẻ. Người viết không giữ bản quyền. Bất kỳ ai cũng có quyền in ấn, phổ biến toàn phần hay một phần trong mọi phương tiện khả dụng.

.... o ....

PREFACE

The stories in this book are based on Wikipedia and the Project Gutenberg https://www.gutenberg.org/  —where works are no longer copyrighted and have become the shared cultural heritage of humanity. The fairy tales are selected from various authors. Because the writing style in most stories is early 20th-century British English, they will be translated into contemporary American English for easier understanding. Some stories will also be shortened and rewritten as needed. The stories will be translated directly and back-translated using Google Translate for verification and then edited by the translator using their natural literary sensibility. This bilingual edition has been prepared by Nguyên Giác Phan Tấn Hải for the benefit of the youth. The author claims no copyright. Anyone is free to print, share, or reproduce these stories, in whole or in part, through any available medium.

 

.... o ....

 

1. Vị thần cây

Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.

Vị thần này biến hình thành hình dạng giống hệt người tiều phu – cùng khuôn mặt, cùng quần áo, cùng giọng nói. Lúc hoàng hôn, thần linh đến túp lều nhỏ của người tiều phu sâu trong rừng. Vợ người tiều phu đang nấu cơm, con nhỏ ngủ trong nôi treo, và con trai nhỏ đang cắt lá chuối. Bà chào đón người đàn ông mà bà tưởng là chồng mình, và họ cùng nhau dùng bữa tối giản dị. Mọi thứ dường như bình thường.

Nhưng sau đó vào đêm hôm đó, người tiều phu thật mới trở về nhà, gọi vọng từ bóng tối. Người vợ bước ra ngoài và nhìn thấy một người đàn ông khác – giống hệt nhau đến từng chi tiết – đang đi về phía mình. Khi cả hai người đàn ông đứng trong túp lều, bà không thể phân biệt được họ. Mỗi người đều tự nhận là chồng thật của bà. Ngay cả khi xem xét kỹ lưỡng, bà cũng thấy họ trông giống hệt nhau, kể cả những vết sẹo và dấu vết trên cơ thể. Bối rối và sợ hãi, bà đề nghị họ tìm đến sự giúp đỡ của Manoo, vị quan tòa thông thái nhất vương quốc.

Ba người họ đi xuyên qua khu rừng cho đến khi đến được tòa án của Manoo. Sau khi nghe câu chuyện của họ, vị quan tòa nhận ra rằng những phương pháp thông thường sẽ không giải quyết được bí ẩn này. Ngày hôm sau, ông đặt một bánh xe gỗ có một lỗ rất nhỏ ở giữa phòng xử án. Ông tuyên bố rằng bất cứ ai có thể chui qua lỗ đó sẽ được công nhận là người chồng thực sự.

Người tiều phu phản đối, vì biết rằng không một người nào có thể chui qua được khoảng trống nhỏ như vậy. Nhưng vị thần Nat, tự tin vào khả năng siêu nhiên của mình, bước tới. Thần dễ dàng chui qua lỗ, để lộ bản chất thật của mình. Manoo tuyên bố rằng ông đã nghi ngờ sự thật ngay từ đầu: vị khách không phải là người mà là một thần cây từ rừng.

Nat thừa nhận rằng thần đã rất tức giận khi người tiều phu chặt cây nơi anh cư mà không được phép. Manoo đồng ý rằng người tiều phu đã hành động sai trái, nhưng ông cũng nhắc nhở thần Nat rằng gây đau khổ cho những người vô tội không phải là giải pháp. Để giải quyết vấn đề, ông hướng dẫn cặp vợ chồng treo một vỏ dừa khô ở phía đẹp nhất của túp lều để thần Nat có thể sống ở đó một cách yên bình.

Vị thần chấp nhận sự sắp xếp này. Cặp vợ chồng trở về nhà, và từ đó trở đi, người dân ở Miến Điện bắt đầu treo dừa khô trong nhà để che chở cho các phi nhơn lang thang – một truyền thống vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.

Truyện này nói rằng vẫn đang có những chúng sinh đang sống bên cạnh và chung quanh chúng ta mà chúng ta không thấy bằng mắt thường.

.... o ....

 1. The Spirit in the Tree

In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.

The spirit transformed himself into the exact likeness of the woodcutter—same face, same clothes, same voice. At dusk, he arrived at the woodcutter’s small hut deep in the forest. The woodcutter’s wife was cooking rice, their baby slept in a hanging cradle, and their young son was cutting plantain leaves. She welcomed the man she believed to be her husband, and they shared a simple evening meal. Everything seemed ordinary.

But later that night, the real woodcutter returned home, calling out from the darkness. The wife stepped outside and saw another man—identical in every detail—walking toward her. When both men stood inside the hut, she could not tell them apart. Each claimed to be her true husband. Even when she examined them closely, they looked exactly the same, down to the same scars and marks on their bodies. Confused and frightened, she suggested they seek help from Manoo, the wisest judge in the kingdom.

The three of them traveled through the forest until they reached Manoo’s court. After hearing their story, the judge realized that ordinary methods would not solve this mystery. The next day, he placed a wooden wheel with a very small opening in the center of the courtroom. He announced that whoever could pass through the hole would be recognized as the real husband.

The woodcutter protested, knowing no human could fit through such a tiny space. But the Nat, confident in his supernatural abilities, stepped forward. He slipped through the hole easily, revealing his true nature. Manoo declared that he had suspected the truth all along: the visitor was not a man but a spirit from the forest.

The Nat admitted that he had been angered when the woodcutter destroyed his tree without permission. Manoo agreed that the woodcutter had acted wrongly, but he also reminded the Nāt that causing suffering to innocent people was not the answer. As a solution, he instructed the couple to hang a dried coconut shell on the best side of their hut so the Nāt could live there peacefully.

The spirit accepted this arrangement. The couple returned home, and from that time on, people in Burma began hanging dried coconuts in their houses to offer shelter to wandering spirits—a tradition that continues even today.

This story suggests that there are still living beings beside and around us that we cannot see with our naked eyes.


.... o ....

 2. Vị vua đòi một đại dương sữa

Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả sự giàu có đó, nhà vua vẫn cảm thấy trống rỗng. Mọi thú vui đều khiến ông chán nản. Mọi món quà, mọi màn trình diễn, mọi kho báu chỉ làm sâu thêm sự mệt mỏi của ông. Ông chưa từng thấy đau khổ hay gian truân, và bởi vì cuộc sống của ông chỉ toàn là sự thoải mái, ông không còn biết mình muốn gì nữa. Ngay cả những thứ tốt đẹp nhất cũng trở nên tẻ nhạt đối với ông.

Để mua vui cho ông, người dân đã tìm kiếm khắp vương quốc những người kể chuyện, vũ công, người tung hứng và những người bạn đồng hành thông minh. Nhiều người đã cố gắng làm ông vui vẻ, nhưng ông nhanh chóng chán ngán tất cả. Ông khao khát một điều gì đó mới mẻ.

Một ngày nọ, một lữ khách từ Ấn Độ đến với một trò chơi gọi là cờ vua. Ban đầu, lính canh cung điện chế nhạo ông, nhưng cuối cùng ông cũng được đưa ra trước mặt nhà vua. Nhà vua bị cuốn hút bởi trò chơi này và dành toàn bộ thời gian để chơi. Người thầy Ấn Độ nhanh chóng được nhà vua sủng ái, điều này gây ra sự ghen tị trong số các quan lại Miến Điện.

Nhưng chẳng bao lâu sau, nhà vua lại cảm thấy nhàm chán. Một người nước ngoài khác, Nicomar, đến với những lá bài và xúc xắc được vẽ – những trò chơi mà nhà vua chưa từng thấy trước đây. Nhà vua bỏ cờ vua và dành toàn bộ thời gian cho trò tiêu khiển mới này. Nicomar trở thành người được nhà vua sủng ái nhất, mặc dù ông thầm sợ tính khí khó đoán của nhà vua.

Nhà vua bắt đầu đặt cược những khoản tiền khổng lồ vào các trò chơi, buộc Nicomar phải thực hiện những nhiệm vụ mà người bình thường không thể làm được. Nicomar sống trong lo lắng thường trực, luôn cố gắng nghĩ ra những cách mới để làm hài lòng những ý thích bất chợt của nhà vua.

Rồi một buổi tối nọ, nhà vua đưa ra một yêu cầu chưa từng có. Ông tuyên bố rằng ông không còn muốn một biển nước nữa. Ông muốn toàn bộ đại dương được lấp đầy bằng sữa – và ông ra lệnh cho Nicomar phải thực hiện điều đó trong vòng mười bốn ngày. Nếu Nicomar thành công, ông sẽ nhận được sự giàu có và quyền lực không tưởng. Nếu thất bại, ông ta sẽ chết trong sự giày vò khủng khiếp.

Nicomar kinh hãi. Ông biết nhiệm vụ này là bất khả thi. Ông cầu nguyện, tham khảo ý kiến ​​các bậc hiền triết, tìm kiếm điềm báo, và lang thang khắp vùng quê trong tuyệt vọng. Sau nhiều ngày lang thang vô vọng, ông đến một con sông nơi một nhóm dân làng Miến Điện đang cố gắng vượt sông. Một chàng trai trẻ tỏ ra vô cùng thông minh, và Nicomar, tuyệt vọng tìm kiếm sự giúp đỡ, đã kể cho anh ta toàn bộ câu chuyện.

Chàng trai trẻ lắng nghe cẩn thận và đồng ý giúp đỡ, chỉ yêu cầu một nửa phần thưởng tương lai của Nicomar và gả con gái ông ta. Nicomar chấp nhận ngay lập tức.

Vào ngày thứ mười bốn, Nicomar trở về cung điện. Khi nhà vua hỏi liệu ông đã hoàn thành nhiệm vụ chưa, Nicomar trả lời rằng ông đã sẵn sàng đổ đầy biển bằng sữa—nhưng chỉ sau khi nhà vua lấy hết nước đi trước, vì ông không được lệnh tự mình làm phần việc đó.

Cả triều đình im lặng, không chắc nhà vua sẽ phản ứng thế nào. Nhưng sau một hồi im lặng, nhà vua mỉm cười. Mặc dù ông thường vô lý, nhưng ông không tàn nhẫn, và ông nhận ra rằng Nicomar đã thông minh hơn ông.

Nhà vua thừa nhận rằng biển đã tồn tại từ rất lâu trước khi bất kỳ ai trong số họ được sinh ra và sẽ vẫn tồn tại rất lâu sau khi họ biến mất. Mệnh lệnh bất khả thi đó đã bị thu hồi, và mạng sống của Nicomar được tha.

Truyện này nói rằng lòng tham có thể dẫn tới những ước muốn vô độ, và không thể thực hiện.

.... o ....

2. The King Who Wanted an Ocean of Milk

Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.

Yet, despite all this abundance, the King felt empty. Every pleasure bored him. Every gift, every performance, every treasure only deepened his weariness. He had never seen suffering or hardship, and because his life was filled only with comfort, he no longer knew what to desire. Even the finest things felt dull to him.

To entertain him, people searched the kingdom for storytellers, dancers, jugglers, and clever companions. Many tried to amuse him, but he quickly grew tired of them all. He longed for something new.

One day, a traveler from India arrived with a game called chess. At first, the palace guards mocked him, but eventually he was brought before the King. The King became fascinated with the game and spent all his time playing it. The Indian teacher rose quickly in royal favor, which caused jealousy among the Burmese ministers.

But soon the King grew bored again. Another foreigner, Nicomar, arrived with painted cards and dice—games the King had never seen before. The King abandoned chess and devoted himself entirely to this new amusement. Nicomar became the new favorite, though he secretly feared the King’s unpredictable nature.

The King began placing impossible bets on the games, forcing Nicomar to perform tasks that no ordinary person could accomplish. Nicomar lived in constant anxiety, always trying to invent new ways to satisfy the King’s whims.

Then one evening, the King made a demand unlike any before. He declared that he no longer wanted a sea of water. He wanted the entire ocean to be filled with milk—and he ordered Nicomar to make it happen within fourteen days. If Nicomar succeeded, he would receive unimaginable wealth and power. If he failed, he would die in terrible torment.

Nicomar was horrified. He knew the task was impossible. He prayed, consulted wise men, searched for signs, and wandered the countryside in despair. After days of hopeless wandering, he reached a river where a group of Burmese villagers were trying to cross. One young man showed unusual cleverness, and Nicomar, desperate for help, told him the whole story.

The young man listened carefully and agreed to help, asking only for half of Nicomar’s future reward and the hand of his daughter. Nicomar accepted at once.

On the fourteenth day, Nicomar returned to the palace. When the King asked if he had completed the task, Nicomar replied that he was ready to fill the sea with milk—but only after the King removed all the water first, since he had not been ordered to do that part himself.

The court fell silent, unsure how the King would react. But after a long pause, the King smiled. Though he was often unreasonable, he was not cruel at heart, and he recognized that Nicomar had outwitted him.

He admitted that the sea existed long before any of them were born and would remain long after they were gone. The impossible command was withdrawn, and Nicomar’s life was spared.

This story suggests that greed can lead to insatiable and unfulfilled desires.

.... o ....

3. Hoàng tử Ếch xứ Lai Hka

Ngày xửa ngày xưa, ở nước Lai Hka, có một người phụ nữ vô cùng sùng đạo. Mỗi sáng, nữ cư sĩ dâng cúng bữa cơm ngon nhất cho các nhà sư, mỗi tối mang những bông hoa tươi nhất đến tu viện, và luôn tham gia các lễ hội lớn với lòng thành kính. Nhưng lòng bà nặng trĩu vì không có con. Mỗi năm, vào dịp Lễ hội Ánh sáng, bà thả một ngọn nến nhỏ trôi xuống sông và cầu nguyện xin con trai, nhưng điều ước của bà chưa bao giờ thành hiện thực.

Cuối cùng, bà đến một ngôi chùa xa xôi, nơi người ta nói rằng một vị thần quyền năng có thể ban cho bất kỳ điều ước nào. Bà mang lễ vật đến và cầu nguyện xin con. Vua trời Sa Kyah, người cai quản các vị thần trên trời, nghe thấy lời cầu nguyện của bà và hứa sẽ ban cho bà một người con trai. Nhưng khi đứa trẻ ra đời, nó không phải là một cậu bé đẹp trai – mà là một con ếch. Người mẹ đau lòng khôn xiết, nhưng Sa Kyah an ủi bà, nói rằng con ếch thực ra là một vị thần quyền năng đội lốt và sẽ trở thành một người đàn ông đẹp trai sau một năm bảy tháng.

Dân làng chế giễu bà và gọi bà là “Mẹ Ếch”, nhưng bà chịu đựng sự tàn nhẫn của họ trong im lặng.

Vua của vùng đất đó có bảy cô con gái, tất cả đều đã kết hôn trừ người con gái út. Với mong muốn bảo đảm một tương lai tốt đẹp cho con trai mình, người nữ cư sĩ đã mạnh dạn xin nhà vua gả cô con gái út cho con ếch. Nhà vua vô cùng tức giận nhưng giả vờ đồng ý. Vua đưa ra một điều kiện bất khả thi: bà phải xây dựng một con đường lát đá hoàn hảo từ chợ đến cung điện, trang trí bằng tre sơn màu, và hoàn thành trong vòng bảy ngày. Nếu thất bại, bà sẽ phải chết.

Người nữ cư sĩ đáng thương trở về nhà trong tuyệt vọng. Bà giấu nỗi buồn của mình với con trai cho đến ngày thứ sáu, khi cuối cùng bà thú nhận rằng mình sẽ bị hành quyết vào sáng hôm sau. Bà chuẩn bị những lễ vật đơn giản và cầu nguyện tha thiết với vua trời Sa Kyah để được giúp đỡ.

Đêm đó, thần Sa Kyah nghe thấy con ếch – chính con trai mình – cầu xin lòng thương xót. Thần đã phái bốn vị thần quyền năng đến xây dựng con đường. Đến rạng sáng, một con đường cao tốc tráng lệ trải dài từ chợ đến cung điện, hoàn chỉnh với vỉa hè lát đá, chạm khắc sư tử, nhà nghỉ và một mái che lớn màu trắng để che nắng cho nhà vua.

Nhà vua kinh ngạc nhưng không thể phá vỡ lời hứa của mình. Nhà vua tổ chức một bữa tiệc cưới kéo dài bảy ngày cho con gái và con ếch. Nhưng sau đó, ông lại đưa đôi vợ chồng đến sống trong căn nhà tồi tàn nơi con ếch được sinh ra.

Không lâu sau, sáu người con gái lớn của nhà vua tham dự một lễ hội lớn, cưỡi trên những con voi hoàng gia. Họ ghé thăm nhà em gái út, nhưng cô quá xấu hổ nên không dám đi cùng. Chồng cô, vẫn là một con ếch, an ủi cô và hứa rằng một ngày nào đó cô sẽ thấy những người chị kiêu hãnh của mình cúi đầu trước cô.

Vua trời Sa Kyah lại thương xót. Thần xuống trần gian với y phục trắng sáng và một viên đá thần kỳ cho phép đôi vợ chồng bay lên. Ngày hôm sau, trong lễ hội đua ngựa và biểu diễn lớn, hai vị thần rạng rỡ xuất hiện từ trên trời. Mọi người quỳ xuống trước mặt họ, tin rằng họ là các vị thần trên trời. Các công chúa dâng thức ăn, nhưng các vị thần từ chối ăn những gì họ mang đến. Sau đó, người em gái út tiết lộ rằng cô và chồng mình chính là hai vị thần rạng rỡ đó, chứng minh bản chất thần thánh của chồng cô.

Để nâng cao thử thách, nhà vua loan báo tổ chức một cuộc đua thuyền hoàng gia. Người chiến thắng sẽ trở thành vua, còn người về cuối sẽ trở thành người hầu của người chiến thắng. Sáu nàng công chúa chuẩn bị những chiếc thuyền lộng lẫy, trong khi người em gái út thì không có. Nhưng vào ngày đua, một chiếc thuyền thứ bảy xuất hiện—được Sa Kyah phái đến và được chèo bởi mười sáu vị thần.

Chiếc thuyền thần kỳ bay vút trên mặt nước, hoàn thành toàn bộ chặng đua trước khi những chiếc thuyền khác đến được điểm giữa. Ngay lúc đó, thời gian biến hình của con ếch kết thúc. Nó trở thành người đàn ông đẹp trai nhất vùng đất, mặc y phục thần thánh và đội vương miện vàng. Nhà vua cuối cùng cũng hiểu ra sai lầm của mình và cúi đầu trước chàng trai.

Tân vương Khit vừa lộ diện không tìm cách trả thù. Thay vì trừng phạt những người chị gái độc ác và chồng của họ, ngài đã phong họ làm tể tướng. Lòng tốt và quyền năng của ngài trở nên huyền thoại, và người Shan ở vùng đồi núi và sông nước vẫn tôn kính Sau Maha Khit vì câu chuyện này.

Truyện này cho thấy người nữ cư sĩ thương con đã sống giới hạnh, bố thí, cúng dường để vun trồng phước đức cho con, và hy vọng chư thiên sẽ giúp con mình thành công.  

.... o ....

3. The Frog Prince of Lai Hka

Long ago in the State of Lai Hka, there lived a deeply devout woman. She offered the best rice to the monks each morning, brought the freshest flowers to the monastery every evening, and always joined the great festivals with sincere devotion. Yet her heart was heavy, for she had no child. Each year, during the Festival of Lights, she sent a small candle floating down the river and prayed for a son, but her wish never came true.

At last, she traveled to a distant pagoda where people said a powerful spirit granted any request. She brought offerings and prayed for a child. Lord Sa Kyah, ruler of the celestial beings, heard her prayer and promised her a son. But when the child was born, he was not a beautiful boy—he was a frog. The mother was heartbroken, but Sa Kyah comforted her, saying that the frog was actually a great spirit in disguise and would become a handsome man after one year and seven months.

The villagers mocked her and called her “Frog’s Mother,” but she endured their cruelty in silence.

The king of the land had seven daughters, all married except the youngest. Hoping to secure a good future for her son, the woman boldly asked the king to give this daughter in marriage to the frog. The king was furious but pretended to agree. He set an impossible condition: she must build a perfectly paved road from the market to the palace, decorated with painted bamboo, and finish it within seven days. If she failed, she would die.

The poor woman returned home in despair. She hid her sorrow from her son until the sixth day, when she finally confessed that she would be executed the next morning. She prepared simple offerings and prayed desperately to Lord Sa Kyah for help.

That night, Sa Kyah heard the frog—his own son—begging for mercy. He sent four powerful spirits to build the road. By dawn, a magnificent highway stretched from the market to the palace, complete with stone pavements, lion carvings, resting houses, and a great white canopy to shade the king.

The king was astonished but could not break his promise. He held a seven‑day wedding feast for his daughter and the frog. Yet afterward, he sent the couple to live in the humble house where the frog had been born.

Soon after, the king’s six older daughters attended a grand festival, riding on royal elephants. They stopped by their youngest sister’s house, but she was too ashamed to join them. Her husband, still a frog, comforted her and promised that she would one day see her proud sisters bow before her.

Lord Sa Kyah took pity again. He descended to earth with shining white garments and a magic stone that allowed the couple to fly. The next day, during the great festival of races and performances, two radiant beings appeared from the sky. Everyone knelt before them, believing they were celestial lords. The princesses offered food, but the spirits refused to eat what they brought. Later, the youngest sister revealed that she and her husband had been the shining visitors, proving her husband’s divine nature.

To increase the challenge, the king announced a royal boat race. The winner would become king, and the last-place finisher would become the winner’s servant. The six princesses prepared splendid boats, while the youngest sister had none. But on the day of the race, a seventh boat appeared—sent by Sa Kyah and rowed by sixteen spirits.

The magic boat flew across the water, finishing the entire course before the others reached the halfway point. At that very moment, the frog’s time of transformation ended. He became the most handsome man in the land, wearing celestial garments and a golden crown. The king finally understood his mistake and bowed before him.

The newly revealed Lord Khit did not seek revenge. Instead of punishing his unkind sisters and their husbands, he made them his ministers. His kindness and power became legendary, and the Shans of the hill and water country still honor Sau Maha Khit because of this story.

This story shows how a devout laywoman, out of love for her child, lived a virtuous life, practiced charity, and made offerings to cultivate merit for her child, hoping that the celestial beings would help her child succeed.

.... o ....

4. Con Ngựa Được Trao Cho Bảy Năm

Ngày xửa ngày xưa, tại vương quốc đảo Ceylon (nước Tích Lan cổ xưa), có một vị vua thiếu sự hiểu biết thông thường. Trong cùng vương quốc đó, có một vị hiền triết Paṇḍitayā, một học giả nổi tiếng khắp nơi vì trí tuệ uyên bác của mình. Mọi người vô cùng ngưỡng mộ Paṇḍitayā, trong khi nhà vua lại ít được tôn trọng vì hành vi ngu ngốc của mình. Nhà vua nhận thấy sự khác biệt này và trở nên ghen tị. Sự ghen tị của ông dần biến thành mong muốn tiêu diệt người đàn ông thông thái.

Nhà vua có một con ngựa trắng tuyệt đẹp, con vật mà ông yêu quý hơn bất cứ thứ gì khác. Một ngày nọ, quyết tâm bẫy Paṇḍitayā, vua triệu nhà hiền triết đến cung điện. Vị học giả cúi đầu trước ngai vàng, và nhà vua ra lệnh cho ông một điều bất khả thi: ông phải dạy con ngựa hoàng gia nói. Nhà vua cho ông một tuần để suy nghĩ. Nếu thất bại, ông sẽ bị xử tử.

Nhà hiền triết Paṇḍitayā trở về nhà trong tuyệt vọng. Ông sống với cô con gái duy nhất của mình, một thiếu nữ thông minh và xinh đẹp. Thấy cha mình đau khổ, nàng hỏi chuyện gì đã xảy ra. Khi ông kể cho nàng nghe yêu cầu của nhà vua, ông giải thích rằng không ai có thể dạy một con ngựa nói, và ông phải chuẩn bị cho cái chết.

Nhưng con gái ông vẫn bình tĩnh. Nàng nói với cha rằng mạng sống của cha vẫn có thể được cứu. Vào ngày đã định, nàng dặn cha nói với nhà vua rằng ông thực sự có thể dạy con ngựa nói, nhưng nhiệm vụ này sẽ cần bảy năm. Trong thời gian đó, ông phải được phép giữ con ngựa bên mình, cưỡi nó và chăm sóc nó, trong khi nhà vua tiếp tục cung cấp thức ăn cho con vật. “Trong bảy năm,” nàng nói, “nhiều chuyện có thể xảy ra.”

Nhà hiền triết Paṇḍitayā làm theo lời khuyên của nàng. Cuối tuần, ông trở về cung điện và tuyên bố rằng ông có thể dạy con ngựa nói, nhưng chỉ khi có thời gian và điều kiện thích hợp. Nhà vua, vui mừng trước ý tưởng sở hữu một con ngựa biết nói, lập tức đồng ý.

Vì vậy, người Paṇḍitayā đưa con ngựa trắng về nhà và chăm sóc nó với chi phí của nhà vua. Nhiều năm trôi qua. Trước khi thời hạn bảy năm kết thúc, vị vua ngu ngốc đã băng hà. Mệnh lệnh bất khả thi bị lãng quên, và con ngựa ở lại với vị hiền triết Paṇḍitayā cho đến hết đời.

Truyện này cho thấy người sống với lòng ghen tị sẽ đòi hỏi những chuyện vô lý, trong khi bậc trí tuệ sống biết đủ và thích ứng với luật vô thường.

.... o ....

4. The Horse Who Was Given Seven Years

Long ago in the island kingdom of Ceylon, there lived a King who lacked ordinary common sense. In the same kingdom lived a Paṇḍitayā, a scholar known everywhere for his deep wisdom. People admired the Paṇḍitayā greatly, while the King received little respect because of his foolish behavior. The King noticed this difference and became jealous. His jealousy slowly turned into a desire to destroy the wise man.

The King owned a magnificent white horse, the animal he loved more than anything else. One day, determined to trap the Paṇḍitayā, he summoned him to the palace. The scholar bowed before the throne, and the King gave him an impossible command: he must teach the royal horse to speak. The King allowed him one week to think about it. If he failed, he would be executed.

The Paṇḍitayā returned home in despair. He lived with his only daughter, a young woman of great intelligence and beauty. Seeing her father’s sorrow, she asked what had happened. When he told her the King’s demand, he explained that no one could teach a horse to speak, and that he must prepare for death.

But his daughter remained calm. She told him that his life could still be saved. On the appointed day, she instructed him to tell the King that he could indeed teach the horse to speak, but that the task would require seven full years. During that time, he must be allowed to keep the horse with him, ride it, and care for it, while the King continued to provide food for the animal. “In seven years,” she said, “many things may happen.”

The Paṇḍitayā followed her advice. At the end of the week, he returned to the palace and declared that he was able to teach the horse to speak, but only with time and proper conditions. The King, delighted by the idea of owning a talking horse, immediately agreed.

So the Paṇḍitayā took the white horse home and cared for it at the King’s expense. Years passed. Before the seven-year period was over, the foolish King died. The impossible command was forgotten, and the horse remained with the wise Paṇḍitayā for the rest of his life.

This story illustrates that those consumed by envy will demand unreasonable things, while wise people live contentedly and adapt to the law of impermanence.

.... o ....

5. Con Mèo Giả Vờ Giữ Giới

Ngày xửa ngày xưa, có một con Mèo ranh mãnh nhưng xảo quyệt lang thang gần một ngôi làng. Một ngày nọ, nó phát hiện một con cá phơi khô giấu trong bao gạo. Khi nó định ăn trộm, một chuỗi tràng hạt treo gần đó tuột xuống và rơi vào cổ nó. Con Mèo không tháo nó ra. Thay vào đó, nó tự hào bước đi trên cổ.

Trên đường đi, một con Gà Rừng nhìn thấy nó và lập tức bỏ chạy trong sợ hãi. Con Mèo, nhận thấy phản ứng của nó, giả vờ là người thánh thiện. Nó tự xưng là người giữ giới do Phật ban dạy, và mời con Gà đang sợ hãi đi theo mình. Tin lời nó, con Gà đi theo.

Chẳng bao lâu sau, chúng gặp một con Chim Cúc Cu Đất. Con Mèo lặp lại trò cũ, nói rằng nó đang giữ giới thiêng liêng và con chim nên đi cùng chúng. Chim Cúc đi theo.

Sau đó, chúng gặp một con Thỏ. Con Mèo lại giả vờ là người giữ giới đức hạnh và thuyết phục con Thỏ đi theo chúng. Cả ba cùng nhau đi bộ cho đến khi đến một hang đá, nơi Mèo tuyên bố là nơi ở của chúng, giống như một tu viện nhỏ.

Vừa vào trong, Mèo bắt đầu buộc tội những con vật khác làm điều sai trái. Đầu tiên, nó cáo buộc Gà Rừng đã cào xới đất làm ô uế hang động. Thỏ, không hiểu ý của Mèo, đồng ý rằng đó là hành vi xấu. Mèo lập tức giết chết Gà và hỏi liệu ăn thịt một con vật đã chết có sai không. Khi Thỏ nói rằng không có gì sai, Mèo đã ăn thịt Thỏ.

Sau đó, Mèo buộc tội Chim Cúc uống quá nhiều rượu cọ, nói rằng đôi mắt đỏ của nó là bằng chứng. Nó lại tuyên bố rằng hành vi như vậy đã vi phạm sự thanh tịnh của nơi ở của chúng. Không chút do dự, nó giết chết Chim Cúc và ăn thịt nó.

Cuối cùng, Mèo quay sang Thỏ. Nó buộc tội Thỏ đã làm ô uế hang động bằng cách thải phân. Thỏ, nhận ra nguy hiểm, giả vờ chấp nhận số phận của mình. Nó nói rằng trước khi bị giết, nó phải thực hiện hai điệu nhảy truyền thống: một điệu phi nước đại nhỏ và một điệu phi nước đại lớn. Con Mèo, nghĩ rằng điều này vô hại, đã để yên.

Con Thỏ chạy nhanh quanh hang và thông báo rằng cuộc chạy nước rút nhỏ đã kết thúc. Sau đó, nó lại chạy, nhảy qua đầu con Mèo và thoát ra khỏi hang. Khi chạy vào rừng, nó hét lên rằng cuộc chạy nước rút lớn đã hoàn thành.

Con Mèo, bị bỏ lại phía sau và bị đánh lừa, không thể làm gì ngoài việc nhìn con Thỏ biến mất vào nơi an toàn.

Truyện cổ Tích Lan này nói rằng người giả vờ giữ giới của Phật ban ra không thể lừa gạt tất cả mọi người được.

.... o ....

5. The Cat Who Pretended to Keep the Precepts

Long ago, there was a clever but deceitful Cat who wandered near a village. One day, he discovered a sundried fish hidden inside a bag of rice. As he tried to steal it, a rosary hanging nearby slipped and fell around his neck. The Cat did not remove it. Instead, he proudly walked away wearing it.

As he traveled, a Jungle Hen saw him and immediately ran in fear. The Cat, noticing her reaction, pretended to be holy. He claimed to be a guardian of the Buddha’s Precepts and invited the frightened Hen to follow him. Believing him, she went along.

Soon they met a Ground Cuckoo. The Cat repeated the same trick, saying he was keeping the sacred Precepts and that the bird should join them. The Cuckoo followed.

Later they met a Hare. The Cat again pretended to be a virtuous keeper of the Precepts and persuaded the Hare to come with them. Together they all walked until they reached a rock cave, which the Cat declared to be their dwelling place, like a small monastery.

Once inside, the Cat began to accuse the others of wrongdoing. He first claimed that the Jungle Hen had scratched the ground and made the cave impure. The Hare, not understanding the Cat’s intentions, agreed that this was bad behavior. The Cat immediately killed the Hen and then asked if it was wrong to eat an animal that was already dead. When the Hare said there was no fault in it, the Cat ate her.

Later, the Cat accused the Ground Cuckoo of drinking too much palm liquor, saying its red eyes were proof. Again he declared that such behavior violated the purity of their dwelling. Without hesitation, he killed the Cuckoo and ate it as well.

Finally, the Cat turned to the Hare. He accused the Hare of defiling the cave by dropping dung. The Hare, realizing the danger, pretended to accept his fate. He said that before being killed, he must perform two traditional dances: a small gallop and a great gallop. The Cat, thinking this was harmless, allowed it.

The Hare ran quickly around the cave and announced that the small gallop was done. Then he ran again, leapt over the Cat’s head, and escaped out of the cave. As he fled into the forest, he shouted that the great gallop was complete.

The Cat, left behind and outwitted, could do nothing but watch the Hare disappear into safety.

This Ceylon folk tale says that someone who pretends to keep the precepts given by the Buddha cannot deceive everyone.

.... o ....

6. Tảng Đá Yên Tĩnh

Ngày xửa ngày xưa, ở vùng đất Lakā, có một khu rừng rộng lớn và hoang dã. Voi lang thang giữa những tán cây, gấu tìm kiếm thức ăn, báo di chuyển lặng lẽ trong bóng tối, và nhiều loài khỉ cùng các loài thú rừng khác sinh sống ở đó. Cuộc sống trong rừng đầy rẫy nguy hiểm, và mọi sinh vật đều phải nhanh nhẹn và cảnh giác để tồn tại.

Ở giữa khu rừng này, có một tảng đá lớn sừng sững giữa một khoảng đất trống. Một điều kỳ lạ xảy ra mỗi khi một con vật đuổi theo một con vật khác. Khi con vật hoảng sợ chạy về phía tảng đá, ngay khi nó đến được khoảng đất trống, tình thế đảo ngược. Kẻ săn mồi đột nhiên quay đầu bỏ chạy trong sợ hãi, và con mồi bắt đầu đuổi theo kẻ săn mồi. Chính vì điểm ngoặt kỳ lạ và yên bình này, tảng đá được biết đến với tên gọi “Tảng Đá Yên Tĩnh”.

Một ngày nọ, một người thợ đan rổ đi vào rừng để chặt tre làm việc. Trong khi đang nhặt tre, anh ta nhìn thấy một con chó rừng đang đuổi theo một con thỏ dọc theo một con đường hẹp. Con thỏ chạy thục mạng về phía tảng đá. Nhưng ngay khi đến được bãi đất trống, con chó rừng đột nhiên quay đầu bỏ chạy, và con thỏ rừng tự tin đuổi theo.

Người thợ đan rổ kinh ngạc. Ông quan sát kỹ nơi đó và nhận ra rằng tảng đá này có một sức mạnh đặc biệt. Ông vội vã đến gặp nhà vua và kể lại tất cả những gì mình đã chứng kiến.

Nhà vua tin rằng một nơi mà nỗi sợ hãi biến thành lòng dũng cảm hẳn là nơi của chiến thắng và may mắn. Ông đích thân đến khu rừng, nhìn thấy bãi đất trống, và quyết định xây dựng một thành phố ở đó. Ông biến nơi đó thành kinh đô và đặt tên là Senkadagala, tên cổ của thành phố ngày nay được biết đến là Kandy.

Kandy sau này trở thành một trong những thành phố quan trọng nhất ở Sri Lanka. Đây là kinh đô cuối cùng của các vị vua Sinhalese từ năm 1469 đến năm 1818. Được bao quanh bởi những ngọn đồi và giàu văn hóa, thành phố nổi tiếng với kiến ​​trúc và truyền thống. Ngôi đền Xá lợi Răng Phật, một trong những địa điểm được tôn kính nhất trong thế giới Phật giáo, nằm ở đó. Năm 1988, UNESCO đã công nhận Kandy là Di sản Thế giới.

Trải qua nhiều thế kỷ, thành phố này đã được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau. Có người cho rằng nó từng được gọi là Katubulu Nuwara. Những người khác lại tin rằng cái tên Senkadagala xuất phát từ một vị Bà La Môn tên là Senkanda sống trong một hang động gần đó, hoặc từ một nữ hoàng cùng tên, hoặc thậm chí từ một loại đá màu được tìm thấy trong vùng. Dù nguồn gốc thế nào, cái tên này đều phản ánh lịch sử lâu đời và vẻ đẹp trường tồn của thành phố.

.... o ....

6. The Rock of Tranquillity

Long ago in the land of Lakā, there was a vast and wild forest. Elephants wandered through the trees, bears searched for food, leopards moved silently in the shadows, and many kinds of monkeys and jungle animals lived there. Life in the forest was full of danger, and every creature had to be quick and alert to survive.

In the middle of this forest stood a large rock in an open clearing. Something unusual happened whenever one animal chased another. As the frightened animal ran toward the rock, the moment it reached the clearing, the situation reversed. The hunter suddenly turned back in fear, and the prey began to chase the hunter. Because of this strange and peaceful turning point, the rock became known as “The Rock of the Place of Tranquillity.”

One day, a Basket‑mender entered the forest to cut bamboo for his work. While he was gathering bamboo, he saw a jackal chasing a hare along a narrow path. The hare ran desperately toward the rock. But as soon as it reached the clearing, the jackal suddenly turned around and fled, and the hare ran after it with confidence.

The Basket‑mender was amazed. He examined the place carefully and realized that this rock had a special power. He hurried to the King who ruled the land and told him everything he had witnessed.

The King believed that a place where fear turned into courage must be a place of victory and good fortune. He went to the forest himself, saw the clearing, and decided to build a city there. He made it his royal capital and named it Senkadagala, the ancient name of what is now known as Kandy.

Kandy later became one of the most important cities in Sri Lanka. It was the last capital of the Sinhalese kings from 1469 to 1818. Surrounded by hills and rich in culture, it became famous for its architecture and traditions. The sacred Temple of the Tooth Relic, one of the most revered sites in the Buddhist world, stands there. In 1988, UNESCO declared Kandy a World Heritage Site.

Over the centuries, the city has been known by many names. Some say it was once called Katubulu Nuwara. Others believe the name Senkadagala came from a Brahmin named Senkanda who lived in a nearby cave, or from a queen with the same name, or even from a colored stone found in the region. Whatever its origin, the name reflects the city’s long history and enduring beauty.

.... o ....

7. Những Viên Gạch Bạc

Ngày xửa ngày xưa, tại một thành phố lớn ở tây bắc Trung Quốc, có một thương gia tên là Meng. Mọi người đều ngưỡng mộ ông. Ông đã vươn lên từ một người khuân vác nghèo khó trở thành người giàu nhất vùng, nhưng tấm lòng ông không hề thay đổi. Ông giúp đỡ người nghèo, cứu giúp các góa phụ, hỗ trợ các chủ cửa hàng đang gặp khó khăn và cho đi một cách hào phóng mà không bao giờ mong đợi phần thưởng. Lòng tốt của ông nổi tiếng khắp nơi, vượt xa cả thành phố.

Meng có một người con trai, Chin, người mà ông yêu thương sâu sắc. Khi Chin đến tuổi trưởng thành, một gia đình quý tộc từ thành phố khác đến hỏi, xin chàng Chin cưới con gái xinh đẹp của họ, cô Hoa Súng. Meng vui vẻ đồng ý, tin rằng Trời đã ban phước cho gia đình mình.

Vào khoảng thời gian này, một vị sư Phật giáo cao niên, hiền lành đến nhà Meng, xin trọ vài ngày. Meng đón tiếp nhà sư nồng nhiệt, và vị sư ở lại nhiều tháng. Nhà sư là người thông thái, tốt bụng và đặc biệt yêu quý Chin. Mỗi ngày nhà sư dạy cho chàng trai trẻ những tư tưởng cao quý, và đôi khi yêu cầu anh chôn những viên gạch ngói lạ dưới sàn của những công trình trong vườn không sử dụng. Cậu Chin vâng lời vì kính trọng, mặc dù anh thấy điều đó kỳ lạ.

Một ngày nọ, vị sư tuyên bố sư phải tiếp tục cuộc hành hương của mình. Meng cố gắng dâng tiền cho nhà sư, nhưng vị sư từ chối và lặng lẽ rời đi. Không ai biết rằng nhà sư thực chất là từ một cõi trời đến để bảo vệ gia đình Meng khỏi tai họa trong tương lai.

Không lâu sau, tai họa ập đến. Một số công ty lớn phá sản, nợ Meng những khoản tiền khổng lồ. Chỉ sau một đêm, ông Meng phá sản. Cú sốc làm suy yếu sức khỏe của ông Meng, và ông ta qua đời, để lại vợ con trong đau buồn và nghèo khó.

Cậu Chin quyết định đến thăm cha của Hoa Súng, hy vọng nhận được lòng thương xót. Nhưng khi đến nơi, cổng đã đóng. Người đàn ông giàu có từ chối gặp Chin, xấu hổ khi có liên hệ với một gia đình đã phá sản. Đau lòng, chàng Chin trở về nhà.

Tuy nhiên, cô Hoa Súng vẫn trung thành. Khi biết cha mình đối xử với Chin như thế nào, nàng từ chối kết hôn với bất kỳ ai khác. Khi thân phụ cứ khăng khăng, nàng đã cải trang thành một người ăn xin bẩn thỉu và bỏ nhà ra đi. Suốt nhiều tháng, nàng lang thang một mình, chịu đói khát và gian khổ, cho đến khi cuối cùng nàng đến được căn nhà nghèo nàn của Chin. Mẹ của Chin đón tiếp nàng bằng lòng tốt, và cô Hoa Súng đã tiết lộ thân phận thật của mình. Gia đình đoàn tụ, nhưng họ vẫn không có gì để sống.

Họ quyết định bán những công trình trong vườn không dùng đến. Khi Chin đến xem xét, anh nhận thấy có thứ gì đó lấp lánh trong đất. Đào sâu hơn, anh tìm thấy một trong những viên gạch mà nhà sư già đã bảo anh chôn – giờ đã biến thành bạc nguyên chất. Mọi viên gạch dưới sàn nhà đều biến đổi theo cùng một hướng.

Chin mang báu vật về nhà và nhận ra mình đột nhiên trở thành triệu phú. Nhà sư trên trời đã chuẩn bị phép màu này từ rất lâu trước khi Meng sa ngã. Qua món quà này, chư thiên đã tôn vinh lòng từ bi suốt đời của Meng và giúp gia đình ông trở nên thịnh vượng hơn trước.

Và thế là Chin, mẹ anh và cô Hoa Súng lại sống sung túc, luôn ghi nhớ rằng lòng tốt chân thành không bao giờ bị chư thiên bỏ qua.

Truyện này còn có một ý nghĩa của Thiền Tông, rằng các mảnh ngói nhỏ chôn xuống đất sẽ tới một lúc hóa thành kho tàng có nghĩa là: những thiện ý gieo vào đất tâm tương lai sẽ trở thành kho tàng quý báo.

 

.... o ....

7. The Silver Tiles

Long time ago, in a great city of northwest China lived a merchant named Meng. Everyone admired him. He had risen from a poor porter to the richest man in the region, but his heart never changed. He helped the poor, rescued widows, supported struggling shopkeepers, and gave generously without ever seeking reward. His kindness became famous far beyond the city.

Meng had one son, Chin, whom he loved deeply. When Chin came of age, a noble family from another city asked to betroth their beautiful daughter, WaterLily, to him. Meng happily agreed, believing Heaven had blessed his family.

Around this time, a gentle old Buddhist priest arrived at Meng’s door, asking for a few days’ lodging. Meng welcomed him warmly, and the priest stayed for months. He was wise, kind, and especially fond of Chin. Every day he taught the young man noble ideas, and sometimes asked him to bury strange tiles under the floors of unused garden buildings. Chin obeyed out of respect, though he found it odd.

One day the priest announced he must continue his pilgrimage. Meng tried to give him money, but the priest refused and departed quietly. No one knew he was actually a heavenly being sent to protect Meng’s family from future disaster.

Soon afterward, disaster struck. Several large firms failed, owing Meng huge sums. Overnight he became bankrupt. The shock broke his health, and he died, leaving his wife and son in grief and poverty.

Chin decided to visit WaterLilys father, hoping for compassion. But when he arrived, the gates were shut. The wealthy man refused to see him, ashamed to be connected with a ruined family. Heartbroken, Chin returned home.

WaterLily, however, was loyal. When she learned how her father had treated Chin, she refused to marry anyone else. When he insisted, she disguised herself as a filthy beggar and fled her home. For months she wandered alone, suffering hunger and hardship, until at last she reached Chins poor house. Chins mother welcomed her with kindness, and WaterLily revealed her true identity. The family was reunited, but they still had nothing to live on.

They decided to sell the unused garden buildings. When Chin went to inspect them, he noticed something shining in the dirt. Digging deeper, he found one of the tiles the priest had made him bury—now transformed into pure silver. Every tile under the floor had turned the same way.

Chin carried the treasure home and realized he was suddenly a millionaire. The heavenly priest had prepared this miracle long before Meng’s downfall. Through this gift, the Gods honored Meng’s lifetime of compassion and restored his family to even greater prosperity than before.

And so Chin, his mother, and WaterLily lived in comfort again, remembering always that true kindness never goes unnoticed by Heaven.

This story also carries a Zen Buddhist meaning: that small pieces of roof tiles buried in the ground will one day turn into a treasure, meaning that good intentions sown in the soil of the heart will become a precious treasure in the future.

.... o ....

8. Công chúa Hase và Phước lành của Quan Âm

Nhiều năm về trước, tại kinh đô Nara cổ đại ở Nhật Bản, có một vị quan thông thái, Hoàng tử Toyonari Fujiwara, và người vợ hiền dịu, xinh đẹp của ông, Công chúa Murasaki. Họ hạnh phúc về mọi mặt ngoại trừ một điều—họ không có con. Khao khát có con gái hoặc con trai, họ hành hương đến đền thờ Bồ Tát Quan Âm, vị Nữ thần của lòng Từ Bi, cầu nguyện bằng cả tấm lòng.

Lời cầu nguyện của họ đã được đáp lại. Một cô con gái được sinh ra, và họ đặt tên cho cô là Hase-Hime, Công chúa Hase, bởi vì cô là món quà của Nữ thần. Cô lớn lên hiền lành, ngoan ngoãn và tài giỏi—đúng như ước nguyện của mẹ cô trước khi bà qua đời khi Hase-Hime mới năm tuổi.

Sau khi Công chúa Murasaki qua đời, Hoàng tử Toyonari tái hôn. Người vợ mới của ông, Công chúa Terute, ghen tuông và tàn nhẫn. Bà không thích con gái riêng của chồng chỉ vì cô không phải là con ruột của bà. Tuy nhiên, Hase-Hime vẫn kiên nhẫn, dịu dàng và hiếu thảo, không bao giờ để cho mẹ kế có lý do để phàn nàn.

Hase-Hime học nhạc, thơ và thư pháp với sự tận tâm. Năm mười hai tuổi, cô chơi đàn koto rất hay. Cô và mẹ kế được mời biểu diễn trước Hoàng đế trong Lễ hội Hoa anh đào. Hase-Hime chơi hoàn hảo, nhưng Công chúa Terute lại đàn thất bại và cảm thấy bị sỉ nhục. Khi Hoàng đế ban thưởng cho Hase-Hime, sự ghen tị của Terute càng biến thành thù hận.

Sau đó, Terute sinh một đứa con trai. Trong cay đắng, bà mẹ kế nghĩ: Giá như nàng Hase-Hime biến mất, con trai ta sẽ có được tất cả tình yêu thương của cha. Sự ghen tị của bà mẹ kế trở nên méo mó đến mức bà quyết định đầu độc cô gái. Nhưng trong lúc lo lắng, bà đã nhầm lẫn các chén rượu – và chính con trai mình đã uống phải rượu độc. Cậu bé chết trong vòng một giờ. Thay vì hối hận, Terute lại càng đổ lỗi cho Hase-Hime nhiều hơn.

Khi cô Hase-Hime mười ba tuổi, Hoàng đế lâm bệnh vì dòng nước lũ dữ dội của sông Tatsuta khiến ngài không ngủ được. Các vị sư cầu nguyện, nhưng không có gì thay đổi. Người ta xì xào bàn tán rằng Hase-Hime, vốn đã nổi tiếng là một nhà thơ tài năng, có thể làm dịu dòng sông bằng một bài thơ cầu nguyện. Hoàng đế triệu kiến ​​cô.

Mặc dù sợ hãi, Hase-Hime đã viết một bài thơ trên giấy dát vàng và đọc to bên cạnh dòng sông đang cuộn chảy. Kỳ diệu thay, dòng nước lập tức dịu xuống. Hoàng đế bình phục và ban thưởng cho cô tước hiệu Công chúa Phó tướng, một vinh dự lớn lao đối với một người trẻ tuổi như vậy.

Sự ghen tị của Công chúa Terute giờ đây bùng cháy như lửa. Trong khi Hoàng tử Toyonari vắng mặt, bà ra lệnh cho một người hầu tên là Katoda đưa Hase-Hime đến vùng núi Hibari hẻo lánh và giết cô. Katoda bề ngoài tuân lệnh, nhưng anh biết cô gái vô tội. Thay vì làm hại cô, anh đã xây một túp lều nhỏ và cùng vợ mình bí mật chăm sóc cô.

Khi Hoàng tử Toyonari trở về nhà và biết tin con gái mình mất tích, ông đã tìm kiếm khắp nơi trong tuyệt vọng. Một ngày nọ, khi đang đi săn trên núi, ông nghe thấy một cô gái trẻ đang đọc kinh Phật trong một túp lều nhỏ. Trước sự kinh ngạc của ông, đó chính là Hase-Hime. Xúc động mạnh, cô chạy vào vòng tay cha mình, và người hầu Katoda đã kể toàn bộ sự thật.

Hoàng tử Toyonari lập tức đưa con gái về nhà. Khi Công chúa Terute nghe tin ông đã phát hiện ra tội lỗi của mình, bà đã bỏ trốn trong nhục nhã và không bao giờ xuất hiện nữa.

Katoda được ban thưởng hậu hĩnh, và Hase-Hime sống yên bình với cha mình. Sau này, cô kết hôn với một quý tộc do cha mình chọn và trở thành một người phụ nữ thông thái, mộ đạo và duyên dáng. Cô sống đến tuổi già, được mọi người kính trọng.

Tại một ngôi chùa ở Kyoto, người ta vẫn trân trọng một tác phẩm thêu chỉ sen tinh xảo được cho là do chính Công chúa Hase làm ra – một kỷ vật gợi nhớ về cô gái dịu dàng được Bồ Tát Quan Âm ban phước.

.... o ....

8. Princess Hase and the Blessing of Kwannon

Many years ago in the ancient capital of Nara lived a wise minister, Prince Toyonari Fujiwara, and his gentle, beautiful wife, Princess Murasaki. They were happy in every way except one—they had no child. Longing for a daughter or son, they made a pilgrimage to the temple of HasenoKwannon, the Goddess of Mercy, praying with all their hearts.

Their prayers were answered. A daughter was born, and they named her HaseHime, the Princess of Hase, because she was the gift of the Goddess. She grew up kind, obedient, and talentedjust as her mother had wished before she passed away when HaseHime was only five.

After Princess Murasaki’s death, Prince Toyonari remarried. His new wife, Princess Terute, was jealous and cruel. She disliked her stepdaughter simply because she was not her own child. Yet HaseHime remained patient, gentle, and dutiful, never giving her stepmother any reason to complain.

HaseHime studied music, poetry, and calligraphy with great dedication. By the age of twelve, she played the koto beautifully. She and her stepmother were invited to perform before the Emperor during the Cherry Blossom Festival. HaseHime played flawlessly, but Princess Terute failed and felt humiliated. When the Emperor rewarded HaseHime with gifts, Terutes jealousy grew into hatred.

Later, Terute gave birth to a son. In her bitterness she thought, If only HaseHime were gone, my son would have all his fathers love. Her jealousy became so twisted that she decided to poison the girl. But in her nervousness she mixed up the cupsand her own child drank the poisoned wine. He died within the hour. Instead of repenting, Terute blamed HaseHime even more.

When HaseHime was thirteen, the Emperor fell ill because the roaring floodwaters of the Tatsuta River kept him from sleeping. Priests prayed, but nothing changed. People whispered that HaseHime, already known as a gifted poet, might be able to calm the river with a prayerpoem. The Emperor summoned her.

Though frightened, HaseHime wrote a poem on goldflecked paper and read it aloud beside the raging river. Miraculously, the waters quieted at once. The Emperor recovered and rewarded her with the rank of LieutenantGeneral Princess, a great honor for someone so young.

Princess Terute’s jealousy now burned like fire. While Prince Toyonari was away, she ordered a servant named Katoda to take HaseHime into the remote Hibari Mountains and kill her. Katoda obeyed outwardly, but he knew the girl was innocent. Instead of harming her, he built a small cottage and, with his wife, cared for her in secret.

When Prince Toyonari returned home and learned that his daughter had vanished, he searched everywhere in despair. One day, while hunting in the mountains, he heard a young girl reading Buddhist scriptures in a tiny cottage. To his astonishment, it was HaseHime. Overcome with emotion, she ran into his arms, and Katoda told the whole truth.

Prince Toyonari brought his daughter home at once. When Princess Terute heard he had discovered her crime, she fled in disgrace and was never seen again.

Katoda was richly rewarded, and HaseHime lived peacefully with her father. Later, she married a nobleman chosen by her father and became known as a wise, devout, and gracious lady. She lived to old age, honored by all.

In a temple in Kyoto, people still treasure a piece of delicate lotusthread embroidery said to be made by Princess Hase herselfa reminder of the gentle girl blessed by the Goddess of Mercy.

.... o ....

9. Công chúa Ánh Trăng

Ngày xửa ngày xưa ở Nhật Bản, có một ông lão đốn tre sống với vợ. Họ nghèo và không có con, điều đó khiến lòng họ nặng trĩu. Mỗi ngày, ông lão đều lên đồi đốn tre kiếm chút ít kế sinh nhai.

Một buổi sáng nọ, khi đang làm việc, một ánh sáng dịu nhẹ, rực rỡ đột nhiên tràn ngập khu rừng tre. Ông kinh ngạc nhìn xung quanh và thấy ánh sáng phát ra từ bên trong một thân tre. Khi bổ đôi thân tre ra, ông tìm thấy một bé gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng 7-8 cm, tỏa sáng như ánh trăng. Vui mừng khôn xiết, ông bế cô bé về nhà, tin rằng Trời đã gửi cô bé đến làm con của họ.

Hai vợ chồng già nuôi dưỡng cô bé với tình yêu thương vô bờ bến. Chẳng bao lâu sau, những điều kỳ diệu kỳ lạ ập đến: mỗi khi ông lão đốn tre, ông đều tìm thấy vàng và châu báu giấu bên trong. Sự nghèo khó của họ biến mất, và họ trở nên giàu có.

Chỉ trong ba tháng, đứa trẻ nhỏ bé đã lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Vẻ rạng rỡ của nàng tràn ngập ngôi nhà với ánh sáng dịu nhẹ, ngay cả vào ban đêm. Bởi vì nàng tỏa sáng như ánh trăng, một người đặt tên nổi tiếng đã gọi nàng là Công chúa Ánh Trăng. Vẻ đẹp của nàng được biết đến khắp nơi, và nhiều người cầu hôn đến với hy vọng được gặp nàng. Nhưng nàng vẫn luôn ẩn mình sau bức bình phong, không ai được phép gặp nàng.

Năm hiệp sĩ cao quý đã chờ đợi bên ngoài nhà nàng suốt mùa đông và mùa hè, hy vọng được nhìn thấy nàng. Cuối cùng, Công chúa Ánh Trăng đồng ý thử lòng trung thành của họ. Nàng yêu cầu mỗi người mang đến cho nàng một bảo vật bất khả thi: bát đá Phật, cành ngọc từ núi Horai, bộ lông không cháy của chuột lửa, viên ngọc ngũ sắc của rồng, và vỏ ốc thần kỳ của chim én.

Từng người một, các hiệp sĩ cố gắng lừa nàng bằng những bảo vật giả. Nàng nhìn thấu mọi mánh khóe. Cả năm người đều thất bại và trở về nhà trong xấu hổ.

Tin tức về sắc đẹp của nàng đến tai Hoàng đế. Ông sai một cung nữ đến triệu nàng đến cung điện, nhưng Công chúa Ánh Trăng từ chối. Nàng cảnh báo rằng nếu bị ép buộc phải đi, nàng sẽ biến mất khỏi trần gian. Tò mò và say mê, Hoàng đế đích thân đến thăm nàng. Khi nhìn thấy bóng dáng rạng rỡ của nàng, ông đã yêu say đắm và cầu xin nàng đến cung đình. Nhưng nàng nhẹ nhàng từ chối, nói rằng nàng không bao giờ có thể kết hôn với bất kỳ ai trên trần gian. Tuy vậy, nàng vẫn viết cho chàng những bài thơ dịu dàng, và chàng trân trọng từng lời.

Thời gian trôi qua, cha mẹ nuôi của nàng nhận thấy nàng thường ngồi một mình, ngắm trăng với nước mắt lưng tròng. Một đêm nọ, nàng cuối cùng cũng nói với họ sự thật: nàng không phải người trần gian. Nàng đến từ mặt trăng như một hình phạt cho một lỗi lầm đã bị lãng quên, và thời gian của nàng trên trái đất sắp kết thúc. Vào đêm thứ mười lăm của tháng Tám, người mặt trăng sẽ đến đưa nàng về nhà.

Hai vợ chồng già khóc nức nở, và Hoàng đế đã phái hai nghìn binh lính đến canh gác nhà nàng. Nhưng Công chúa Ánh Trăng nói rằng không một thế lực trần gian nào có thể ngăn cản được điều sắp xảy ra.

Vào đêm đã định, một đám mây sáng rực từ mặt trăng giáng xuống. Một cỗ xe sáng chói xuất hiện, chở những vị thần trên trời. Người lãnh đạo của họ tuyên bố rằng Công chúa Ánh Trăng phải trở về. Ông lão đốn tre cầu xin họ cho nàng ở lại, nhưng điều đó là không thể.

Công chúa Ánh Trăng bước tới, tỏa sáng hơn bao giờ hết. Nàng an ủi cha mẹ nuôi, nói với họ rằng nàng yêu thương họ sâu sắc và sẽ không bao giờ quên lòng tốt của họ. Nàng tặng ông lão chiếc áo choàng thêu của mình làm kỷ vật. Trước khi rời đi, nàng viết một bức thư cuối cùng cho Hoàng đế và giao cho người đốn tre.

Rồi những người trên mặt trăng khoác lên vai nàng một chiếc áo choàng bằng lông vũ. Ngay khi nàng mặc nó vào, ký ức về trần gian của nàng tan biến. Cỗ xe bay lên trời và đưa nàng trở về mặt trăng, để lại đôi vợ chồng già đau lòng nhưng biết ơn những năm tháng họ đã được ở bên cạnh người con gái thần thánh của mình.

Và truyền thuyết kể rằng: bất cứ khi nào bạn nhìn lên trăng tròn, bạn có thể thấy Công chúa Ánh Trăng tỏa sáng dịu dàng, nhớ về thế giới mà nàng từng yêu thương.

.... o ....

9. Princess Moonlight

Long, long ago in Japan, an old bamboo cutter lived with his wife. They were poor and had no children, which made their hearts heavy. Every day the old man went into the hills to cut bamboo and earn a small living.

One morning, as he worked, a soft, glowing light suddenly filled the bamboo grove. He looked around in amazement and saw that the light came from inside one bamboo stalk. When he split it open, he found a tiny girl only three inches tall, shining like the moon. Overjoyed, he carried her home, believing Heaven had sent her to be their child.

The old couple raised the little girl with great love. Soon, strange blessings followed: whenever the old man cut bamboo, he found gold and jewels hidden inside. Their poverty disappeared, and they became wealthy.

In only three months, the tiny child grew into a beautiful young woman. Her radiance filled the house with soft light, even at night. Because she shone like moonlight, a famous namegiver called her Princess Moonlight. Her beauty became known throughout the land, and many suitors came hoping to see her. But she stayed hidden behind screens, and no one was allowed to meet her.

Five noble knights waited outside her home through winter and summer, hoping for a glimpse. At last, Princess Moonlight agreed to test their devotion. She asked each man to bring her an impossible treasure: Buddha’s stone bowl, a jeweled branch from Mount Horai, the firerats unburnable fur, the dragons fivecolored jewel, and a swallows magic shell.

One by one, the knights tried to deceive her with fake treasures. She saw through every trick. All five failed and returned home in shame.

News of her beauty reached the Emperor. He sent a court lady to summon her to the palace, but Princess Moonlight refused. She warned that if she were forced to go, she would vanish from the earth. Curious and captivated, the Emperor visited her himself. When he saw her glowing form, he fell deeply in love and begged her to come to court. But she gently refused, saying she could never marry anyone on earth. Still, she wrote him kind poems, and he treasured every word.

As time passed, her fosterparents noticed that she often sat alone, gazing at the moon with tears in her eyes. One night, she finally told them the truth: she was not from this world. She had come from the moon as punishment for a forgotten fault, and her time on earth was ending. On the fifteenth night of August, the moon people would come to take her home.

The old couple wept, and the Emperor sent two thousand soldiers to guard her house. But Princess Moonlight said no earthly force could stop what was coming.

On the appointed night, a bright cloud descended from the moon. A shining chariot appeared, carrying celestial beings. Their leader announced that Princess Moonlight must return. The old bamboo cutter begged them to let her stay, but it was impossible.

Princess Moonlight stepped forward, glowing brighter than ever. She comforted her fosterparents, telling them she loved them deeply and would never forget their kindness. She gave the old man her embroidered robe as a keepsake. Before leaving, she wrote a final letter to the Emperor and entrusted it to the bamboo cutter.

Then the moon beings placed a robe of feathers on her shoulders. As soon as she wore it, her memories of earth faded. The chariot rose into the sky and carried her back to the moon, leaving the old couple heartbroken but grateful for the years they had shared with their heavenly daughter.

And so the legend says: whenever you look at the full moon, you may see Princess Moonlight shining softly, remembering the world she once loved.

.... o ....

10. Cậu Bé Vẽ Mèo

Ngày xửa ngày xưa ở Nhật Bản, có một người nông dân nghèo và vợ ông sống trong một ngôi làng nhỏ. Họ làm việc vất vả mỗi ngày, nhưng vẫn khó khăn trong việc nuôi sống nhiều con. Ngay khi các con đủ lớn, chúng đã giúp cha mẹ làm việc trên đồng ruộng. Chỉ có đứa con út là khác biệt. Cậu bé thông minh và hiếu kỳ, nhưng quá nhỏ bé và yếu ớt để làm những công việc nặng nhọc.

Cha mẹ lo lắng cho tương lai của con trai. Tin rằng con trai có thể có một cuộc sống tốt hơn nếu trở thành một nhà sư, họ đưa cậu đến một ngôi chùa gần đó và xin vị trụ trì nhận cậu làm tiểu tăng. Vị trụ trì thử thách cậu bé bằng những câu hỏi khó, và những câu trả lời thông minh của cậu bé đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi vị sư đồng ý nhận cậu vào tu viện và dạy dỗ cậu.

Cậu bé học rất nhanh, nhưng cậu có một thói quen kỳ lạ: cậu rất thích vẽ mèo. Cậu vẽ chúng ở khắp mọi nơi—trên vở ghi chép, trên mép sách, trên tường, thậm chí cả trên những cột gỗ của ngôi chùa. Cho dù vị trụ trì có mắng mỏ bao nhiêu lần đi nữa, cậu bé vẫn không thể ngừng vẽ mèo.

Một ngày nọ, sau khi cậu bé vẽ kín một tấm bình phong bằng những bức tranh mèo, vị sư nhận ra rằng đứa trẻ sẽ không bao giờ trở thành một nhà sư chân chính. Nhà sư nhẹ nhàng bảo cậu bé rời khỏi chùa. Vị sư nói thêm một lời khuyên cuối cùng, với giọng điệu rất nghiêm túc: “Tránh những nơi đông đúc vào ban đêm; hãy ở những nơi nhỏ hẹp.”

Cậu bé không hiểu ý nghĩa của lời khuyên, nhưng cậu thu dọn đồ đạc và lặng lẽ rời đi, quá sợ hãi và xấu hổ để nói lời tạm biệt. Cậu cũng sợ trở về nhà, lo lắng cha sẽ trừng phạt mình. Thay vào đó, cậu quyết định đi bộ mười hai dặm đến một ngôi chùa lớn hơn ở làng kế bên và xin được làm tiểu tăng ở đó.

Điều cậu không biết là ngôi chùa lớn đó đã bị bỏ hoang. Một con yêu tinh đáng sợ đã đuổi hết các sư thầy đi, và tòa nhà đã bị khóa lại. Khi cậu bé đến nơi sau khi trời tối, cậu gõ cửa vài lần nhưng không ai trả lời. Nghĩ rằng các nhà sư chỉ đang ngủ, cậu đẩy cửa bước vào.

Ngôi chùa im lặng, bụi bặm và trống rỗng. Cậu tìm thấy vài tấm bình phong giấy trắng và, không thể cưỡng lại được, cậu lấy mực ra và bắt đầu vẽ mèo trở lại. Khi vẽ xong, cậu nhớ lại lời cảnh báo của vị sư già. Không biết phải làm gì khác, cậu tìm một chiếc tủ nhỏ và cuộn mình ngủ trong đó.

Đêm khuya hôm đó, cậu tỉnh giấc bởi tiếng đổ vỡ dữ dội, tiếng la hét và tiếng đánh nhau kinh hoàng ở đâu đó trong đền. Sợ hãi đến tê người, cậu trốn trong tủ cho đến rạng sáng.

Khi mặt trời cuối cùng cũng mọc, đền lại trở nên yên tĩnh. Cậu bé bước ra và thấy sàn nhà nhuốm máu. Ở giữa đại sảnh là xác một con chuột khổng lồ – đã chết. Không còn ai khác ở đó. Rồi cậu nhận thấy điều gì đó kỳ lạ: những con mèo mà cậu đã vẽ trên bình phong bị vấy máu tươi, như thể chúng đã sống dậy trong đêm.

Lúc đó, cậu hiểu ý nghĩa lời khuyên của vị sư. Bằng cách ẩn náu ở một nơi nhỏ, cậu đã sống sót qua nguy hiểm trong đại sảnh rộng lớn.

Từ ngày đó trở đi, cậu bé dành cả đời mình cho nghệ thuật. Cậu lớn lên trở thành một họa sĩ vĩ đại và nổi tiếng, được nhớ đến đặc biệt với những bức tranh mèo của mình.

 

.... o ....

10. The Boy Who Drew Cats

Long ago in Japan, a poor farmer and his wife lived in a small country village. They worked hard every day, but it was still difficult to feed their many children. As soon as the children were old enough, they helped their parents in the fields. Only the youngest child was different. He was bright and curious, but too small and weak to do heavy work.

The parents worried about his future. Believing he might have a better life as a monk, they took him to a nearby temple and asked the head priest to accept him as a novice. The priest tested the boy with difficult questions, and the boy’s clever answers impressed him so much that he agreed to take the child in and educate him.

The boy learned quickly, but he had one strange habit: he loved drawing cats. He drew them everywhere—on his notes, on the edges of books, on the walls, even on the wooden pillars of the temple. No matter how often the priest scolded him, the boy could not stop drawing cats.

One day, after the boy covered a folding screen with cat drawings, the priest realized the child would never become a proper monk. He gently told the boy to leave the temple. The priest added one final piece of advice, spoken with great seriousness: “Avoid large places at night; keep to small.”

The boy did not understand the meaning, but he packed his things and left quietly, too frightened and ashamed to say goodbye. He was also afraid to return home, worried that his father would punish him. Instead, he decided to walk twelve miles to a larger temple in the next village and ask to become a novice there.

What he did not know was that the big temple had been abandoned. A terrifying goblin had driven away all the priests, and the building had been locked up. When the boy arrived after dark, he knocked several times, but no one answered. Thinking the priests were simply asleep, he pushed the door open and stepped inside.

The temple was silent, dusty, and empty. He found several blank paper screens and, unable to resist, he took out ink and began drawing cats again. When he finished, he remembered the old priest’s warning. Not knowing what else to do, he found a small storage cabinet and curled up inside to sleep.

Late that night, he woke to the sound of violent crashing, screaming, and terrible fighting somewhere in the temple. Frozen with fear, he stayed hidden in the cabinet until dawn.

When the sun finally rose, the temple became quiet again. The boy stepped out and saw the floor stained with blood. In the center of the hall lay the huge body of a monstrous rat—dead. No one else was there. Then he noticed something strange: the cats he had painted on the screens were splattered with fresh blood, as if they had come alive during the night.

At that moment, he understood the meaning of the priest’s advice. By keeping to a small place, he had survived the danger in the large hall.

From that day on, the boy devoted himself to art. He grew up to become a great and celebrated painter, remembered especially for his cats.