Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

799 . LÃNG THANH : TÌNH CỜ ANH GẶP NÀNG ĐÂY.

                                                                                        


PHÂN ƯU

Thi Sĩ PHẠM THIÊN THƯ, tên thật là PHẠM KIM LONG, 
Ông sinh năm 1940 và từ trần ngày 7 tháng 5 năm 2026 tại Saigon, Hưởng thọ 87 tuổi.

Sinh thời ông là một nhà thơ lớn được yêu thương, quý trọng từ những vần thơ tình mang âm hưởng Thiền , được phổ nhạc từ nhạc sĩ Phạm Duy, và nhiều tập thơ như Đoạn Trường Vô Thanh, Kinh Ngọc ...nhưng sau 1975 ông không còn sáng tác  mới, và những năm cuối đời ông không còn thuận lợi khi phát âm nên rất ít nói.  Thường ngày, tại Quán cà Phê HOA VÀNG trong cư xá Chí Hòa, Ông thường ngồi đối diện quán  trên một hành lang bên đường, có bàn ghế  để tiếp các người hâm mộ ghé thăm. 

Mọi người đều nhận được lời chúc an lành từ mắt ông và hai tay chắp lại cám ơn.

Sự ra đi của ông là một tổn thương lớn với Văn Học Miền Nam. 

Và nỗi thương nhớ của Người Việt khắp nơi.

Tạp Chí VĂN PHONG và các tác giả  công tác chân thành tưởng nhớ

 Thi Sĩ PHẠM THIÊN THƯ

 và thành kính phân ưu cùng tang quyến.


Xin đăng tải bài viết của Tác Giả LÃNG THANH như một nỗi ngậm ngùi kính nhớ.

Tranh chân dung Thi sĩ PHẠM THIÊN THƯ của Họa sĩ PHAN NGUYÊN




TÌNH CỜ ANH GẶP NÀNG ĐÂY

thơ Phạm Thiên Thư

Tình cờ thật sao? Làm gì có chuyện tình cờ! Ta đã gặp nàng từ muôn thuở nào phải đến buổi hôm nay. Bây giờ tái ngộ là duyên, là tình, là thơ…Nàng vẫn gót nguyệt chênh chênh như thuở nào. Nàng vẫn mắt biếc má đào muôn thuở. Nàng vẫn trong ta từ lịch kiếp đến giờ. Nhưng dòng đời đẩy đưa, duyên phận đâu như ý được. Nàng qua sông thì có kẻ chợt buồn, kẻ ấy là ta, kẻ ấy là gã thi sỹ, là gã từ quan để “lên non tìm động hoa vàng ngủ say”.

Tôi cũng “tình cờ” đọc được thơ Phạm Thiên Thư mà cụ thể là tác phẩm Động Hoa Vàng. Suốt quãng đời thơ ấu chỉ được học và đọc văn thơ cách mạng toàn sắt thé,p máu lửa với xung phong. Văn thơ miền Nam bị đốt hết rồi, bị cấm bế, bị tịch thu…“Tình cờ” thế nào mà tôi lục lọi những quyển sách còn sót lại của gia đình có những quyển Tập san sử địa xuân Đinh Mùi, Quốc văn giáo khoa thư…và Động Hoa Vàng. Đọc xong tập thơ mỏng này tôi như người say, như đi lạc vào thiên thai, kể từ đó cứ nghiền ngẫm, suy tưởng, mơ mộng “Động Hoa Hàng”. Tôi như thể chiếc lá đẫm mình trong ánh trăng huyền hoặc nửa thực nửa hư.

Đêm về đốt nến làm thơ

Cả một cung trời hoài niệm xa xưa ùa về, chàng du tử, gã du thủ… rong chơi khắp chốn giang hà, tiếp bao nhiêu khách: Thanh có tục có, say đắm với vóc hạc thanh thanh, với “mùa xuân em mặc áo hồng”…để rồi đêm đêm chong đèn đốt nến làm thơ. Miền Nam lúc ấy đang là lúc dầu sôi lửa bỏng, cuộc chiến khắc nghiệt ngày càng tàn khốc, lòng người hoang mang không biết tương lai đi về đâu. Cuộc sống căng thẳng ngột ngạt… Thế rồi Phạm Thiên Thư tung ra Động Hoa Vàng, đây như thể một liều thuốc an thần quý báu, giúp mọi người có được phút giây lạc trú tạm quên đi cuộc sống và cuộc chiến. Không khí bàng bạc siêu thực của Động Hoa Vàng đem lại cho người cảm giác nhẹ nhõm, bình yên với những hoài niệm về một quá khứ mơ mộng chưa xa mấy…

Đợi nhau tàn cuộc hoa này

Ai đợi? đợi ai? Ta đợi nàng? Gã thi sỹ đợi nàng? Nàng là Hoàng Thị Ngọ ư? không, nhất định là không! Nàng không tên tuổi, nàng không có ngày tháng, nàng không thuộc về ai. Nàng là tâm tưởng của người thi sỹ. Nàng là cái đẹp của muôn đời.

Gầy em vóc cỏ mây dời

Tay em mai nở chân trời tuyết pha

Em gầy như tơ liễu, vóc hạc, gót son, áo lụa, hài thêu

Lụa nào phơi nắng sông tây

Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông.

Tàn cuộc hoa nhưng bóng dáng nàng vĩnh viễn không tàn, tình vĩnh kiếp không phai, một mai phai thì còn chi để đợi đến tàn cuộc hoa.

Nàng có qua sông, chàng có lên núi tìm động từ quan, đời có vô thường đổi thay, nhưng em ơi hãy nhớ rằng:

Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không

Có cũng là không mà không lại là có, thuyết sắc không nhà Phật là vậy, lý là vậy nhưng sự thế nào thì vẫn cứ thế mà làm. Cho dù thân ngũ uẩn là giả hợp, cho dù thế giới này là cõi tạm, cho dù cuộc tình này là “khổ”, là “nợ”, là “duyên”… thì em ơi, xin em về bãi dâu vãn mộ để cho ta còn có cớ “đợi cuộc hoa này”. Mộ em vãn nhưng

Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu”

Sống chết là lẽ thường, hợp tan là đương nhiên, ngay cả tình ta cũng thế, cho dù có nồng nàn say đắm, có thiết tha sâu đắm thế nào đi nữa thì ta cũng chỉ muốn em “nhỏ lệ vào thiên thu” chứ đừng bi lụy khóc cho ta hay khóc cho cuộc tình. Mình đã sống, đã “đợi tàn cuộc hoa này” rồi thì khóc liệu có phải “hiểu” nhau thật không? Cụ Nguyễn Du cũng từng bảo :”Đã lòng tri quá thì nên” Kia mà!

Yêu nhau từ độ bao giờ

Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

Yêu nhau từ lịch kiếp, tâm tư luôn có bóng hình nàng, vậy mà giờ gặp nhau lại giả bộ hững hờ. Phải chăng là tuổi mới lớn? hay là vì khoác chiếc áo thiền sư? Đời có trăm ngàn duyên cớ để cách ngăn chẻ chia nhưng tình thì chỉ có một. Dù có thế nào đi nữa thì tình này vẫn khảm trong tim, để rồi

Em là hoa hiện dáng người

Tôi là cánh bướm cung trời về say

Bây giờ thì bao nhiêu kinh kệ và thuyết sắc không cũng không cản được tim người. Ngắm hoa thấy người. Ta đã hóa thành con bướm say hoa. Ta từ bỏ thân phận thiền sư, từ bỏ phẩm trật quan trường. Ta hạnh phúc làm cánh bướm say bên hoa. Ngày xưa Trang Châu cũng từng ngơ ngác hỏi “không biết ta là bướm hay bướm hóa thanh ta?”. Bướm Trang Châu là con bướm thoát tục, tái sinh, biến hóa không lường. Cánh bướm của Phạm Thiên Thư thì rõ ràng từ “thân phận ta” hóa thành để mà say bên hoa.

Động Hoa Vàng bàng bạc như trăng đêm, huyền hoặc như cổ tích ngày xưa. Động Hoa Vàng với nhiều điển tích cổ “Chén rượu quan hà”, “ Quả cầu nhẹ gieo”, “chồn cáo đùn hang”…Càng đọc ta càng lạc vào “cõi động không hư”, áo ta dường như đẫm sương đêm, bỗng dưng ta trở thành gã du tử mà quên đi những nhọc nhằn của đời, tạm gác lại những trí trá trần trụi của cuộc đời. Phạm Thiên Thư đã có chín năm sống đời tu sỹ, nhờ vậy mà ông có đủ kiến thưc Phật học về triết học, nhân sinh quan, ngôn từ Phật học… để viết Động Hoa Vàng, thi hóa kinh Phật. Mở đầu tập thơ, ông viết

Mười con nhạn trắng về tha

Như Lai thường trụ trên tà áo xuân

Mười con nhạn trắng phải chăng là thập phương thường trụ? Như Lai xưa nay vẫn thường trụ nào có đi đến, chẳng có sanh có diệt. Pháp thân Như Lai vốn khắp mười phương xuyên suốt ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Động Hoa Vàng lơ lửng lưng chừng không hẳn đạo nhưng cũng chẳng toàn đời. đời và đạo dung thông nhau, lồng vào nhau, nương nhau. Đạo từ đời mà ra, đời nhờ đạo thăng hoa. Chín năm khoác áo tu sỹ nhưng tâm hồn thi sỹ vẫn thiết tha với đời, bởi vậy mà ông tự cười cợt chính mình

Vạc rằng thưa bác Thiên Thư

Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

Phạm Thiên Thư đã hóa thân vào nhân vật vô tung trong Động Hoa Vàng. Ông vẽ nên một cảnh giới kỳ diệu

Nửa đời mây nước du phương

Thiền sư ngắt cỏ cúng dường Phật thân

Thiên hạ cúng dường tiền bạc châu báu, cúng dường của ngon vật lạ…Ấy thế mà thiền sư chỉ ngắt cộng cỏ cúng dường Phật, vậy có thiếu kính lễ chăng? Thiếu lòng thành chăng? Không, trăm ngàn lần không! Dó là chí thành, chí kính. Một cộng cỏ của lòng thanh còn quý hơn thiên kim vạn bạc. Đã ngộ thì ngộ ngay chỗ này, đã vô minh thì dù có mâm cao cỗ đầy vẫn vô minh. Tiền nhân xưa cũng đã từng bảo: “có thì có tự mảy may/không thì cả thế gian này cũng không”. Ôi chao, cúng dường một cộng cỏ mà thấu cả pháp thân Phật, tiếc thay cho thiên hạ, một khi mê thì có cúng dường cỡ nào vẫn cứ mê thì làm sao thấy được Phật thân đây?

Núi nghiêng suối vắt tơ đàn

Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa

Có lẽ cũng chẳng cần phân tích hay bình luận chi cả, nội thân hai câu thơ đã đủ đầy cả rồi. Tác giả vẽ nên một cảnh đẹp đến nao lòng, cứ ngỡ như hoạt cảnh của phim cổ tích Walt Disney hoặc là hình ảnh trong những truyện Fairy tale. Một trăm khổ thơ lục bát mềm mại, nhu nhuyến, mượt mà như dòng suối chảy qua tâm hồn, càng đọc càng lịm cả thân tâm. Trong lịch sử thơ ca Việt Nam có lẽ Truyện Kiều và Động Hoa Vàng là hai tác phẩm thơ lục bát đẹp nhất, nghệ thuật ngôn từ đạt đến độ tuyệt vời nhất, khó có thể có ai làm thơ lục bát hay hơn được nữa. Khi đọc Động Hoa Vàng, tâm trí tôi vẫn cứ mường tượng tác giả là một người rất lãng tử, mi thanh mục tú, hình dong thanh tú, hành trạng thanh vận…nhưng khi nhìn chân dung thật của tác giả tôi thấy có gì đó mâu thuẫn với những dòng thơ mượt mà kia, quả thật đúng là ngọc trong đá. Khi đọc đến hai câu

Xuống đầm tát cá xâu cây

Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

Đến đây thì hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, quả thật “chàng” thoát tục rồi, thong dong tự tại, không còn bị ràng buộc bởi danh phận hay những thứ mà người đời tranh đoạt cho bằng được. Thiền tông Đông độ xưa có thiền sư Lại Toản đã từng như thế. Sứ giả đến đọc chiếu chỉ của vua ông chẳng thèm nghe, chẳng tiếp, chỉ lúi húi bới khoai vùi trong tro bếp. Sứ giả đọc xong bảo ngài tạ ơn vua ban thưởng, ông bảo: “Ta chẳng bận đến việc của người đời”. “Chàng” đã từ quan, đã nhập động hoa vàng ngủ quên sự đời, quên công danh thân phận thì còn có gì có thể làm cho “chàng” bận lòng được? có chăng đó chỉ là chút :”tình cờ gặp nàng đây” mà thôi! Chỉ chút “tình cờ” nhưng cả đời không dứt, thậm chí cho đến mai sau cũng sẽ còn :”lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà”. “Chàng”, “thiền sư” nằm dài không phải nghe kinh kệ mà chỉ để nghe chim. Tiếng chim vi diệu kia cũng chính là pháp âm của ca lăng tần già, công mạng, bạch hạc vậy. “chàng” tài hoa quá, tâm hồn mẫn cảm và tinh tế biết bao, dù “chàng” có là thiền sư, là du sỹ hay gì gì đi nữa nhưng tâm hồn chàng vẫn mong manh như cánh hoa, trong vắt như pha lê, mênh mông như mây trời, bồng bềnh như bọt nước trùng khơi. “chàng” đã khảm

Một dòng hoa nổi trên trời

Một dòng hoa nở trong người trầm tư.

Kẻ hậu sinh này đã từng bao đêm chong đèn đọc Động Hoa Vàng, đã yêu và đã lậm vào tận tâm can. Nay ông đã nhập “động hoa vàng” ta còn ngồi lại dưới trời hoang hoa tưởng nhớ và mơ về “ từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa”. Kẻ hậu sinh này từ phương ngoại ngàn dặm xa xin dâng nén tâm hương vọng về. Xin mượn “nước xuôi làm rượu quan hà” tiễn nhau.

Lãng Thanh

Ất Lăng thành, 0526