Bài đăng trên trên Tạp Chí NGÔN NGỮ số 44 Xuất bản ngày 01 tháng 07 năm 2026.
Ông sinh năm 1944 ở Tuy Hòa Phú
Yên. Tốt nghiệp Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Cử Nhân Chính Trị Học Dại
học Vân Hạnh, Trước năm 1975 là Sĩ quan phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính
Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và nhiệm
sở sau cùng là trong Ban Binh Thư Tổng cục CTCT. Sau 1975 đã chịu bảy năm tù tập
trung dưới chế độ Cộng sản.
Ông đến Mỹ năm 1986, và dồn sức cho an ổn đời
sống với gia đình cho đến tuổi về hưu. Theo lời tự thuật của ông thì cầm bút viết
lại từ khoảng năm 2020. Tôi dùng chữ cầm bút lại vì thực ra cả một quãng đời
trong chinh chiến, ông đã cầm bút nhưng để viết binh thư, viết chính trị, và cả
viết báo, bây giờ thì ông viết về đời sống.
Ông không chọn văn chương học thuật
mà ông chọn tâm sự chuyện đời. Thực sự con đường ông chọn là con đường thành
công vì được nhiều người yêu thích. Kể cả tôi, người viết bài này.
Tại sao yêu thích?
Thứ nhất là hành văn. Những dòng
chữ ông viết xuống chân chất như lời kể của một vị lão niên miền Nam, thảnh
thơi bên chén trà buổi sớm mai , thong thả kể lại chuyện đời với tấm lòng bao
dung nhìn chuyện đã qua nhưng dòng nước trôi xuôi, dẫu có bi thương, dẫu có ngậm
ngùi và khổ đau đến mấy khi trải qua rồi cũng chỉ đọng lại như một kỷ niệm và một
bài học cho chính mình.
Thứ hai là nội dung, toàn bộ những
bài ông viết xuống là những thực tiễn ông đã trải qua, đã nhìn thấy và những kỷ
niệm buồn vui suốt 80 năm tuổi đời mà ông gọi là ký sự chỉ thêm một chút hư câu
cho tròn câu truyện.
Những truyện trải dài từ Việt Nam
Cộng Hòa, qua thời Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Những mẫu chuyện mà ai trong chúng ta cũng lõm bõm biết qua, nhưng đào sâu hiểu
rõ hoàn cảnh thời thế, những mảng đời trôi dạt để rồi cảm thông, chia sẻ buồn
vui với nhân vật như Lê Đức Luận thì chẳng phải ai cũng có.
Thứ ba là Ý nghĩa giữa hai dòng
chữ. Truyện của Lê Đức Luận không hề rao
giảng một tư tưởng đạo dức, khuyên làm lành tránh dữ. Không kể ra để nhấn mạnh
hận thù, mà lặng lẽ gửi tới người đọc như một lời cảm tạ. Cảm tạ thiên liêng, Cám tạ đất nước và cảm tạ
con người.
Đi sâu vào từng câu chuyện của Lê Đức Luận, người đọc nhận
ra một điều: ông không viết để than thở, không viết để kết tội, cũng không viết
để tô vẽ cho bất cứ lý tưởng nào. Ông viết như một cách để cảm tạ. Cảm tạ
Thiêng Liêng đã gìn giữ ông qua chiến tranh, qua tù đày, qua những khúc quanh
sinh tử. Cảm tạ Đất Nước : quê hương cũ đã nuôi ông lớn bằng những mùa nắng gió
miền Trung, và quê hương mới đã mở vòng tay cho ông làm lại cuộc đời sau bảy
năm tù ngục. Và hơn hết, ông cảm tạ Con Người :những phận đời bình dị, những
tấm lòng nhỏ bé nhưng tử tế, đã đi qua đời ông và để lại trong ông niềm tin
rằng nhân tính vẫn còn nguyên vẹn giữa những đổ nát của thời cuộc.
Chính mạch cảm tạ ấy làm cho văn chương của Lê Đức Luận có
một độ lắng rất riêng. Ông kể chuyện như người đã đi qua bão tố, không còn muốn
oán trách ai, chỉ muốn giữ lại những điều đẹp đẽ nhất của đời sống. Những trang
viết của ông vì thế mà ấm áp, nhân hậu, và có sức lay động lâu bền bởi chúng
không chỉ kể chuyện đời ông, mà còn nhắc người đọc nhớ lại những ơn phước âm
thầm trong chính cuộc đời mình.
Năm 2026, Nhà văn Lê Đức Luận trình làng tác phẩm thứ hai
NỖI LÒNG CHƯA TỎ. Tập gồm 28 truyện. Những chuyện kể gây cảm xúc rất thật với người
đọc, nhất là những người bất ngờ có những đoạn đời trùng lập với ông.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trong ca khúc Trên Đồi Arlington đã
nói: Đã bảo vết thương không nhắc nữa, mà sao nhìn sẹo vẫn bâng khuâng.
Nhà văn Lê Đức Luẫn cũng dắn vặt: Đã bao lần tôi tự nhủ: “Hãy quên nó đi!” Nhưng rồi, tôi không thể “cài then” ký ức. Vậy là tôi
viết - viết về những bi thảm của chiến tranh… Thế mới biết tư duy không phải
lúc nào cũng giải tỏa được những ẩn ức tồn đọng trong tâm hồn của mỗi con người”
Đoạn văn này trích từ truyện “Chiến tranh-Tiếng gọi căm hờn” của Lê Đức Luận.
Cậu chuyện làm tôi bật khóc khi nhớ lại những ngày ba lô nón sắt trong chiến
trường tây nguyên năm 1970. Và xúc động nhiều hơn khi đọc hiểu hết những chữ
ông viết xuống. Ông căm hờn chiến tranh tàn phá đất nước, tàn phá tâm hồn con
người. Những kẻ gieo chiến tranh là những kẻ gieo căn hơn, oan khuất.
Vẫn là phong cách điềm đạm và gần
gũi, Nhà văn Lê Đức Luận thong thả kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong suốt
hơn 40 năm định cư nơi nước Mỹ. Lạ lùng là những điều ông kể , chúng ta không xa
lạ vì đã thường gặp, nhưng góc nhìn của
ông sâu lắng hơn, tha thiết hơn và tất nhiên xúc động hơn những thước phim mà
chúng ta vẫn thấy ở đời thường.
Từ những mảnh đời rách bươm sau
chiến tranh trong BUỔI CHIỀU TRÊN BÃI BIỂN NHA TRANG, hay CHIẾN TRANH TIẾNG GỌI
CĂM HỜN được kể lại chua chát, đắng cay, nhưng không có hận thù, mà chỉ có xót
thương và nhân hậu. Cho tới nhân vật bình thường như những Ông Già trong CHUYỆN
HÚT THUỐC, CHUYỆN CHỮ NGHĨA… lời trao đổi,
tranh luận nghe như rất bâng quơ, nhưng ẩn vào đó biết bao ký thác tâm tình.
Chuyện NỖI LÒNG CHƯA TỎ là một
tiêu biểu, bởi vì nó không chỉ là một chuyện tình không đoạn kết, mà ở đó,
chúng ta còn nghĩ rộng ra những niềm vui, nỗi buồn của kẻ lưu lạc nơi quê người
chắt chiu trong lòng không biết tỏ cùng ai.
Văn
chương của Lê Đức Luận không ồn ào, không biện luận, cũng không tìm cách đứng
vào vị trí nào trong văn đàn. Nó lặng lẽ như chính con người ông, một người lính
đã đi qua chiến tranh, tù đày, lưu lạc, và cuối cùng chọn cách cảm tạ thay vì
oán trách.
Ông
viết để ghi lại đời mình, nhưng cũng để nhắc chúng ta rằng giữa những biến động
của lịch sử, điều còn lại sau cùng không phải là thắng hay thua, mà là tấm lòng.
Có
lẽ vì vậy mà truyện của ông có sức lay động lâu bền. Nó không chỉ kể chuyện đời
ông, mà còn soi rọi vào đời sống của mỗi chúng ta, để ta nhận ra những ơn phước
âm thầm mà đôi khi chính mình quên mất phải biết ơn.
NGUYỄN
MINH NỮU
05/2026