Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi.
Trời sinh ông Tư cái tật hay nói — không
được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước
mắm.
Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một
thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải
sống dưới chế độ cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho
đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi
lao động khổ sai mút mùa…thì đời tàn trong ngõ hẹp.
Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm
đường vượt biên sang Mỹ.
Khi được sống trong đất nước tự do, ông
tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ
tiến bộ quá nhanh - chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím
máy vi tính (computer) - Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi
“ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim
cổ.
Lời nói của ông Tư đâm ra thừa!
Nhưng nói là cái tật trời sinh — ông không
bỏ được…
Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự
chính trị.
Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà
bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo
đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ thiếu văn hóa — qua đó bộc
lộ tính “bát nháo” trong ngành truyền thông.
Dần dà, những lời nói trung thực và tâm
huyết của ông Tư hầu như lạc lõng giữa đám truyền thông “bát nháo” - dân ta coi
những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi…đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ
lắm, nói mãi…”
Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể
chuyện đời xưa.
Chuyện đời xưa - ông kể - chỉ cách nay
mấy mươi năm thôi, chứ không phải truyện cổ tích. Đó là những chuyện về phong
tục, tập quán ở quê hương nghèo khó của ông - mô tả sự nhân nghĩa, đạo đức và
cái khôn ngoan thâm thúy của người xưa. Những điều người ta không tìm thấy trên
Google, hỏi “ông AI” cũng ú ớ — không trả lời được. Cho nên đám trẻ rất thích
nghe ông Tư kể chuyện “đời xưa”.
Vậy là có đất dụng võ, ông cảm thấy vui
khi biết mình chưa đến nỗi vô dụng.
Hôm nay, ông kể một chuyện vui - “đi coi
mắt vợ”:
Năm ấy, tôi mười hai tuổi, anh tôi mười
sáu. Tuy lớn hơn bốn tuổi, nhưng anh tôi vẫn còn khờ lắm. Thời chín năm kháng
chiến, ở trong vùng Việt Minh kiểm soát, đa số thanh thiếu niên nam nữ học hết
bậc tiểu học thì ở nhà giúp cha mẹ làm công việc đồng áng, chứ không phải như
sau này, vào lứa tuổi đó thường ra tỉnh học tiếp bậc trung học.
Ở làng quê, thời đó, khi xong vụ mùa,
được rảnh rang nhưng không có nhiều trò chơi giải trí. Ngoài các trò chơi dân
dã như cút bắt, bịt mắt bắt dê, kéo co, nhảy dây, đá cầu…, anh tôi còn thích
nhập bọn với mấy đứa con nít trong xóm để chơi đánh đáo, bắn bi, đánh trổng,
thả diều.
Vào một buổi sáng mùa xuân — trời trong,
gió nhẹ, anh tôi chơi thả diều ngoài đồng cùng bọn trẻ trong xóm — diều đang
lộng gió lên cao, đám trẻ vỗ tay reo hò tán thưởng… Anh tôi thích lắm, nhưng bị
mẹ gọi về.
Dù đang vui chơi với buổi thả diều hào
hứng, anh tôi vẫn không dám trái lời mẹ, thu dây diều và trở về nhà. Vừa vào
đến sân đã nghe mẹ bảo:
-
Con rửa mặt, thay đồ, đi với mẹ và bà Năm đến nhà ông Xã Hai.
-
Đến nhà ông Xã Hai làm gì vậy, mẹ? Anh tôi hỏi.
-
Vào thay đồ nhanh lên, đi đến đó sẽ biết. Mẹ tôi bảo.
Trông mẹ và bà Năm mặc áo dài và có vẻ
chải chuốt, anh tôi lấy làm lạ, không muốn đi cùng, nên nói:
-
Thôi, mẹ đi với bà Năm - con không đi đâu.
-
Ô hay! Cái thằng này nói ngộ thiệt — đi là lo việc cho mày — không có mặt mày
thì tao với bà Năm sang đó làm gì. Mẹ tôi nói gắt.
Bà Năm là người ở làng bên, chuyên làm
công việc mai mối lương duyên, tiếng địa phương gọi đầy đủ là “bà mai dong”. Bà
có khiếu ăn nói - thuyết phục lòng người rất tài, nên bà lên tiếng tiếp lời mẹ
tôi:
-
Hôm nay, mẹ con và bác dẫn con qua nhà ông Xã Hai là “đi coi mắt vợ” đấy.
Bà tưởng nói thế anh tôi sẽ hăng hái cùng
đi, không ngờ bị phản ứng ngược - anh tôi đổ quạu, mặt mày sưng sỉa, nói cộc
lốc:
-
Tui không đi đâu hết. Rồi bước ra sân.
Mẹ tôi ngỡ ngàng. Lần đầu tiên nghe thằng
con nói hỗn. Bà Năm cũng ngạc nhiên trước thái độ và lời nói của anh tôi.
Hôm nay, bà bị tổ trác!
Ngày xưa, ở làng quê có hai bà được dân
làng quý trọng: bà mụ và bà mai. Bà mụ đón một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời
— thời nay người ta gọi là “nữ hộ sinh” làm việc trong bệnh viện. Bà mai làm
mối cho đôi trai gái nên duyên vợ chồng — thời nay gọi là “chuyên viên tư vấn
hôn nhân”. Bà mụ mở cánh cửa cho cuộc sống. Bà mai mở cánh cửa cho hôn nhân -
cả hai đều không treo bảng hiệu, cũng không đăng quảng cáo. Uy tín của họ được
gầy dựng bằng cái tâm và lời đồn từ làng trên, xóm dưới. Công việc họ làm không
có giá cả hay tiêu chuẩn nào nhất định. Thù lao cho công việc tùy thuộc vào
lòng hảo tâm của thân chủ.
Vào dịp mồng Năm, ngày Tết, hai bà nhận
được một vài món quà kỷ niệm như xấp vải, bộ đồ trà, cái cơi trầu… hoặc những
đặc sản như cân đường, giạ nếp, chai mật ong, gói trà, con gà, trái bí - coi
như thù lao cho công khó. Nhưng niềm vui
lớn nhất của hai bà là được đón nhận tấm lòng quý trọng của dân làng.
Hôm nay, anh tôi có thái độ vô lễ, không
nghe lời bà Năm đề nghị, lại đổ quạu, định bỏ ra ngoài… Mẹ tôi giận sôi gan
trước lời nói và thái độ thiếu tôn trọng của thằng con trai đối với bà Năm. Mẹ
tôi quát:
- Mày tính đi đâu đó? Đứng lại, nghe tao
bảo.
Lần đầu tiên thấy mẹ nổi giận với anh. Mẹ
tôi cưng anh nhất nhà. Có những lúc anh tôi ngang ngược, mẹ vẫn dịu giọng và
chiều theo ý anh tôi, làm tôi phát ghen, vì tôi bị mẹ đánh đòn đôi lần, nhưng
anh tôi thì chưa bao giờ.
Thế mà lần này, mẹ vừa nói vừa lấy cây
chổi lông gà nhịp nhịp lên bàn.
Anh tôi không dám bỏ đi, đứng dựa vào cây
cột trước hàng hiên, mẹ tôi tiến đến gần, tay vẫn cầm chiếc chổi lông gà, xẵng
giọng:
- Mày có đi không thì bảo?
Khi mẹ đến gần, anh tôi chạy qua ôm một
cây cột khác. Cứ thế, mẹ con đuổi theo nhau như đang chơi trò cút bắt.
Cha tôi ngồi uống trà, thấy cảnh mẹ con
đuổi theo nhau, ông mỉm cười. Nhưng nhớ đến bệnh đau tim của vợ, sợ xảy ra
chuyện không hay, cha tôi ôn tồn bảo: “Thôi, bà lại nói chuyện với bà Năm, để
tôi khuyên nó.”
Cha tôi quay qua phía anh tôi, nhỏ nhẹ:
- Hảo này (Hảo là tên anh tôi) - “đi coi
mắt vợ” như đi chơi vậy mà. Con đem theo cái ná cao su, đến đó nếu thích thì
ngồi nghe người lớn nói chuyện, không thích thì ra ngoài bắn chim. Vườn nhà ông
Xã Hai rộng lắm, có rất nhiều chim và cây ăn trái - tha hồ bắn chim và ăn trái
cây.
Cha tôi biết thằng con trai thích bắn
chim, nên đưa ra đề nghị như vậy. Không ngờ có kết quả.
Nét mặt anh tôi không còn cau có, nói:
-
Bảo “đi coi mắt vợ” thì con không thích. Con rất ghét nghe tiếng ấy.
-
Tại sao con lại ghét nghe tiếng ấy? Cha tôi hỏi.
Anh tôi chậm rãi trả lời:
-
Con thấy thằng Hùng ở xóm trên, sau khi “đi coi mắt vợ” về, nó cứ ngẩn ngơ như
người mất hồn. Nó không còn muốn chơi với đám tụi con nữa. Cái mặt nó câng câng
như thằng dở hơi. Cho nên, con không thích “đi coi mắt vợ”.
Cha tôi sành tâm lý, nên cười hiền rồi nói
khích:
-
Thì ra thế! Nhưng nó khác với con. Nó khờ khạo, còn con khôn ngoan, lanh lợi
hơn nó, làm gì có chuyện ngẩn ngơ sau khi “đi coi mắt vợ”. Con nên đi một lần
cho biết với người ta - vừa cho mẹ con vui, vừa không làm mích lòng bà Năm, lại
được bắn chim, ăn trái cây và nhìn con gái đẹp.
Những lời nói khích của cha khiến anh tôi
thay đổi thái độ và đồng ý đi theo mẹ và bà Năm.
Cả nhà đều vui. Chuyện “đi coi mắt vợ”
của anh tôi coi như đã êm xuôi. Nhưng điều đáng nói là những ngày sau đó, anh
tôi không còn nhập bọn với đám con nít tụi tôi đánh đáo, thả diều… mà len lén
một mình qua vườn nhà ông Xã Hai — “bắn chim”.
Chuyện tình của anh tôi sau đó diễn tiến
thế nào, tôi không rõ, chỉ nghe mẹ kể lại: Hôm đến nhà ông Xã Hai, anh tôi ra
vườn bắn chim. Con gái ông Xã Hai, lớn hơn anh tôi hai tuổi, cùng ra vườn chơi
với anh tôi, cho anh tôi ăn ổi và uống nước dừa xiêm. Không hiểu do mùi thơm
của quả ổi, hay vị ngọt của nước dừa xiêm, hay do cái duyên dáng cùng lời nói
dịu dàng của người con gái khiến anh tôi lưu luyến…
Những ngày tháng sau đó, không ai bảo,
anh tôi tự động đến nhà ông Xã Hai, tự nguyện xin làm việc không lấy tiền công
như đập lúa, phơi rơm… Một năm sau, anh tôi đòi mẹ cưới vợ - không ai khác hơn
là con gái ông Xã Hai.
Bây giờ, trên đất khách, vào ngày giỗ,
ngày Tết… anh em gặp nhau cùng con cháu sum vầy, tôi thường kể lại chuyện “đi
bắn chim” và “đi coi mắt vợ” của anh
tôi, cho con cháu nghe chơi.
Anh tôi cười hì hì…nói với mọi người:
“Chuyện tình yêu, hôn nhân ngày xưa coi vậy mà lãng mạn, lại bền. Thời đó, bà
mai có con mắt tinh đời: nhìn chàng trai xách đôi thùng nước hay vác cái cày,
cái bừa ra ruộng; rồi nhìn cô gái quang gánh qua sân đình là đoán biết họ có
hợp nhau hay không để làm mai, làm mối - se duyên vợ chồng. Kết quả là họ sống
với nhau đến đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn.”
“Ngày nay, bà mai là cái máy vi tính
(computer) - có cả một đội ngũ kỹ sư viết lập trình (programming) - phân tích
tinh vi: sở thích, cách suy nghĩ, nghề nghiệp, thu nhập…của đôi trai gái - rồi
hứa hẹn tìm người phối ngẫu hoàn hảo. Thế mà ly hôn vẫn xảy ra hà rầm. Có lẽ
cái máy vi tính ghép dữ liệu giỏi, nhưng chưa ghép được nhịp đập của hai con
tim.”
Anh tôi kể tiếp: “Một ông hàng xóm có
thằng con trai đến bốn mươi tuổi đầu mà vẫn còn độc thân. Nghe chuyện hôn nhân
của anh tôi do mai mối, ông ta cũng muốn nhờ một bà mai kiếm vợ cho nó. Nhưng
thằng con bảo: “Xưa rồi!” Nó sẽ tìm vợ qua máy vi tính — không cần bà mai.”
Chưa có thống kê nào nói rõ tỷ lệ hôn
nhân qua Internet, nhưng xem đám con cháu trong nhà thì mười đứa đã có bảy đứa
lập gia đình nhờ Internet kết nối. Ông Tư bảo: Đó là những “cuộc hôn nhân
Internet”.
Ông Tư thường nói: Ngày nay, đám trẻ
“nhấp chuột” (click mouse) là bắt gặp tình yêu — thực dụng theo kiểu “mì ăn
liền”. Ngày xưa, ông bà mình tỏ tình qua lời nói xa gần rất ý nhị - cụ thể như
bài ca dao phổ biến trong dân gian: “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên
chiếc áo trên cành hoa sen/ Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong
nhà/ Áo anh đứt chỉ đường tà/ Vợ anh chưa có,mẹ già chưa khâu… Khâu rồi anh sẽ
trả công/ Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho…”
Đây đã là một bước tiến bộ - trực tiếp
ngỏ lời. Chứ thời xa xưa hơn nữa, muốn tiến đến hôn nhân trước tiên phải nhờ bà
mai. Bà mai lặn lội lặn lội hết ngõ này sang xóm khác - dò hỏi gia phong, xem
nết ăn, nết ở của đôi trai gái mới đánh tiếng mai mối.
Xong việc bà mai, còn phải sang ông thầy
bói nhờ xem tuổi — có “hạp tuổi” mới tiến đến hôn nhân.
Trong dân gian, quan niệm chọn tuổi thông
thường là: “nhất gái lớn hai, nhì trai lớn một” hoặc “tam hợp”. Tam hợp là sự
kết hợp của 3 con giáp trong Thập Nhị Địa Chi được cho là hợp tuổi, dễ hòa
thuận và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hôn nhân.
Có 4 nhóm tam hợp: Thân - Tý - Thìn
Tỵ -
Dậu - Sửu
Dần -
Ngọ - Tuất
Hợi -
Mẹo - Mùi
Nhưng có 3 nhóm khắc tuổi, gọi là “tứ
hành xung” - cần xem xét kỹ trước khi tiến đến hôn nhân: Tý - Ngọ - Mẹo - Dậu
Thìn - Tuất - Sửu - Mùi
Dần - Thân - Tỵ - Hợi.
Trong trường hợp đôi trai gái thương nhau
mà bị khắc “tứ hành xung” thì phải nhờ ông thầy bói xem tuổi lại. Ông thầy bói
kết hợp Thập Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với Thập Nhị Địa Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão,
Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa,
Thồ) tương sanh, tương khắc để hóa giải cho đôi trẻ tiến đến hôn nhân (3).
Quan niệm dân gian và phong tục truyền
thống được rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống lứa đôi — khoa học không thể chứng
minh được. Bởi vậy, có nhiều truyện ngắn viết về hôn nhân rất tếu: Một chàng
tuổi Hợi (con heo) thương nàng tuổi Dần (con cọp). Về nhà, mẹ cản: “Lấy con gái
tuổi Dần, tàn đời con ơi!” Nhưng thương quá, ông cưới đại, vậy mà sau đó nên
cửa nên nhà, ăn nên làm ra. “Con cọp” không xơi tái “con heo” mà cùng “con heo”
sinh bầy con sáu đứa - lớn lên học hành giỏi giang, thành đạt; ông tuổi con heo
qua tuổi tám mươi vẫn còn khỏe mạnh, yêu đời.
Ông Tư kể tiếp về lễ nghĩa, sự khôn ngoan
thâm thúy của người xưa so với sự thực dụng của người đời nay. Ngày xưa, cha mẹ
“đặt đâu con ngồi đó”. Trường hợp những đôi trai gái lén lút thương nhau, không
qua sự đặt để của cha, nhưng sợ bị cha mẹ trách mắng, nên trong dân gian có câu
ca dao: “Thương nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”
rồi được đưa vào âm nhạc qua làn điệu Quan họ Bắc Ninh nổi tiếng với tên “Qua
Cầu gió Bay”: “Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau/ Về nhà dối rằng, cha dối mẹ/
rằng a ối a qua cầu, tình tình tình… gió bay…”.
Điều đó chứng tỏ cha mẹ vẫn còn cái uy
với con cái.
Ông thêm rằng: Nhớ lại mà thương các bậc cha mẹ khi sang Mỹ
vào khoảng thập niên tám mươi, dẫn theo mấy đứa con đến tuổi cập kê. Lúc ấy,
người Việt ở Mỹ chưa đông, khi gặp nhau ở chùa, ở nhà thờ, ngoài chợ, trong
shopping mall thì mừng lắm — tiếu tít xin số phone, địa chỉ… Ngoài việc gắn bó
tình đồng hương, còn có ẩn ý là một mai làm đám cưới cho con sẽ mời được năm ba
chục khách. Bởi thế, mới có chuyện buồn cười: Một ngày đẹp trời, nhà nọ nhận
được một thiệp cưới - vợ hỏi chồng, chồng hỏi vợ: “Người gởi thiệp cưới là ai
vậy - quen biết thế nào?” Cả hai vợ chồng đều ú ớ, nhưng đến ngày cũng đến tham
dự và nhủ lòng: “Sau này, đám cưới con mình sẽ mời lại.”
Ông Tư kể tiếp một tục lệ ngày xưa: Sau
đám cưới 2 ngày, đôi tân hôn dẫn nhau về thăm nhạc gia, gọi là ngày “nhị hỷ”.
Chàng rể mang theo lễ vật là cái đầu heo. Cả nhà đều chăm chú nhìn cái đầu heo.
Nếu đầu heo còn đủ hai tai, coi như mọi việc tốt đẹp. Nếu nhìn thấy đầu heo bị
xẻo mất một tai, ông bà nhạc hiểu rằng con gái mình không còn trinh trắng trước
hôn nhân. Đây là “thông điệp” thầm lặng nhưng rất thâm thúy trong lối giáo dục
của người xưa. Xấu hổ biết bao khi cả nhà gái nhìn cái đầu heo chỉ còn một
tai!? Cho nên người con gái cố giữ trinh tiết cho đến ngày thành hôn.
Ông Tư còn nêu lên những câu tục ngữ có
vẻ mộc mạc nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, rút tỉa từ túi khôn của người xưa để
truyền dạy kinh nghiệm cho con cháu trong việc tìm bạn trăm năm, như:
“Chọn vợ xem tông, chọn chồng xem
giống” - “xem tông” mang ý nghĩa coi trọng gia phong, nề nếp gia đình; “xem
giống” là xem xét dòng dõi, truyền thống.
Ca dao tục ngữ còn có những câu:
“Trai khôn tìm vợ chợ đông.
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”
Hàm ý: Người con trai nên mở rộng
giao tiếp để có cơ hội gặp gỡ nhiều cô gái - chọn người phù hợp; còn người con
gái tìm chốn ba quân là nơi quân đội đồn trú hoặc những nơi có những chàng trai
có lý tưởng, có chí khí để tìm người bạn đời.
Ông Tư nói về cách bày tỏ tình yêu qua
thơ văn. Ngày xưa Nguyễn Bính làm thơ:
Nhà nàng ở cạnh nhà
tôi
Cách nhau cái giậu
mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa
cô đơn
Nàng như cũng có nỗi
buồn giống tôi
Giá đừng có giậu mồng
tơi.
Thế nào tôi cũng sang
chơi thăm nàng…
Trời ơi! Chỉ cách có một giậu mồng tơi
mà Nguyễn Bính không dám sang mà phải nằm mơ nhờ con bướm trắng:
Bướm ơi bướm hãy
vào đây
Cho ta hỏi nhỏ câu
này chút thôi
Vừa
nhờ con bươm bướm trắng vừa lén nhìn nàng:
Mắt nàng đăm đắm
trông lên
(thì) Con bươm
bướm trắng về bên ấy rồi
Bỗng dưng tôi thấy
bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: hay
tôi yêu nàng?
Ông Tư nhận xét: Nguyễn Bính ngày xưa ngây ngô đến buồn cười -
chỉ cách nhau “cái giậu mồng tơi” mà không dám “sang chơi thăm nàng”
để tỏ tình. Cuối cùng, tự thán: “Hay
tôi yêu nàng?”
Không biết ngoài đời Nguyễn Bính có “
ngây ngô” hay không, nhưng khi đọc bài thơ Cô Hàng Xóm, người ta cảm nhận được
cái ngây ngô rất duyên dáng của Nguyễn Bính - mang vẻ chơn chất, ngây thơ và
vụng về trong tình yêu.
Ngày nay, không có cảnh ấy đâu — một cái
“nhấp chuột” đã bắt được tình yêu ở tận bên kia Thái Bình Dương.
Nguyễn Bính còn có mấy câu thơ để đời:
Thôn Đoài ngồi nhớ thông
Đông
Một người chín nhớ mười mong
một người
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu
nàng.(4)
- Bây giờ, bệnh tương tư và thất tình hầu
như đã biến mất trong hồ sơ bệnh lý. Tìm đâu ra một chàng Trương Chi và một
nàng Mỵ Nương trong giới trẻ ngày nay?
Chỉ có chuyện tình Ngưu Lang - Chức Nữ còn chút hơi hướng giống với
những chuyện tình ngày nay. Ngưu Lang - Chức Nữ yêu nhau nhưng bị chia cắt bởi
dòng sông Ngân, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch
trên chiếc cầu Ô Thước nhờ đàn quạ bắc qua sông. Tưởng tượng đàn quạ như
Internet, kết nối hai kẻ yêu nhau trong thời đại công nghệ thông tin.
Ông Tư đưa ra nhận định như trên, được
đám trẻ đồng tình.
Được thể, ông Tư hỏi đám trẻ:
- Trong bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-gôn, TTKH
hỏi người tình:
“Nếu biết rằng tôi đã có chồng.
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Thời
bây giờ, nếu người tình bỏ các anh đi lấy chồng, rồi mượn hai câu thơ ấy để hỏi
- các anh sẽ trả lời như thế nào?
Một anh trong nhóm trẻ đáp ngay:
- “Nếu biết rằng em đã có chồng/
Anh vào “nhấp chuột” thế là xong.
Ông Tư xoa tay, nói:
- Vậy thì phũ phàng quá! Ngày xưa, ông
Tơ, bà Nguyệt ngồi trên cung trăng, xe sợi tơ hồng - nếu chỉ đứt, tơ vò còn “hạ
thủ lưu tình” nối lại đường tơ. Bây giờ ông Google, bà Internet ở trong mây
(cloud), nếu tình duyên trắc trở thì phát ra tín hiệu: “No results found” hay
“Connection lost” — coi như chấm dứt một cuộc tình — vậy thì quá bẽ bàng!
Ông Tư tự thán: Ông Google, bà Internet
mới xuất hiện mấy mươi năm thôi đã khiến lòng người phũ phàng đến thế. Bây giờ
thêm ông AI, không biết trong tương lai “nhân tình thế thái” sẽ như thế nào?
Cảm thấy buồn… ông Tư ra ngoài hiên hút
thuốc.
LÊ
ĐỨC LUẬN
(Tháng 8 - 2026)
(1)
“Mò tôm” là thủ tiêu người chống đối bằng cách treo cục đá lên cổ, rồi dìm
xuống sông.
(2)
“Gỡ lịch” là ngồi tù.
(3)
Muốn hiểu rõ, tìm đọc sách coi tuổi. Ở đây chỉ nêu lên vài thí dụ:
Tương
sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
(4) Bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính.