Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

882 . TT THAI AN - HẠNH PHÚC CỦA MỘT BÀ LÃO

                                                                                                     



Đôi vợ chồng ông bà Vượng đã về hưu từ lâu.  Họ sống thoải mái trong căn nhà single house hai tầng, loại duplex ở quận Fairfax, Virginia.  Bà Vượng mua căn nhà này từ năm 1975 nhờ số tiền bà đem qua từ Việt Nam khi chạy di tản vào tháng 4,1975.  Hai vợ chồng và hai đứa con gái sống trong căn nhà này cho đến khi các con có gia đình thì dọn ra, chỉ còn hai ông bà ở lại.

Bà Vượng nhờ khôn ngoan, biết buôn bán đồ cổ trước 1975, xây nhà cho Mỹ thuê mỗi tháng vài trăm đô la US thời đó là sung túc lắm.  Đã thế, bà còn làm thư ký trong tòa Đại Sứ Mỹ, lương khá cao so với công chức thời VNCH.  Ông Vượng làm sỹ quan cao cấp ngành cảnh sát đặc biệt, tuy nhiên lương tháng của ông chỉ đủ để ông tiêu dùng, bà không cần đến. 

Hai ông bà lấy nhau theo như người đời ví von là “rổ rá cạp lại”.  Vì ông góa vợ khi vừa ngoài 30, còn bà ly dị chồng khi vừa ngoài 20.  Ông lớn hơn bà 10 tuổi.  Hai người có hai cô con gái với nhau. Bà Vượng cho các con học trường Pháp.

Đến ngày 26 tháng 4, 1975, chưa thấy xếp tình báo người Mỹ của ông Vượng đưa gia đình bà đi di tản.  Bà đến thẳng văn phòng của chồng để nói chuyện với xếp của chồng:

-Nếu ông không cho gia đình tôi di tản, tôi đã sắm sẵn 1 quả lựu đạn, nếu không đi được thì mấy mẹ con tôi tự tử chết hết.

Ông xếp thấy vậy bèn trấn an bà:

-Bà cứ về nhà thu xếp mỗi người một túi nhỏ quần áo và tư trang cần thiết. Ngày mai sẽ có xe đến đón mẹ con bà. Còn ông Vượng phải ở lại với tôi đến giờ chót để hủy phá tất cả hồ sơ, rồi rút lui chung với tôi.

Bà Vượng bắt ông xếp phải thề giữ lời, ông xếp hứa ngay.

Sáng hôm sau, có một xe cứu thương đến trước nhà bà để đem mấy mẹ con bà vào phi trường Tân Sơn Nhất cùng nhiều người bay qua đảo Guam theo chương trình di tản của chánh phủ Hoa Kỳ.

Riêng ông Vượng vẫn đến văn phòng vào sáng 30 tháng 4, chẳng thấy xếp.  Xếp gọi vào bảo ông Vượng phải tự kiếm đường ra đi vì xếp đã phải rút lui lúc nửa đêm không kịp báo cho ông Vượng hay. Ông Vượng hớt hải suy nghĩ cách đi thì chuông điện thoại lại reo. Bên kia đầu dây là tiếng của em trai bà Vượng:

-Giờ này mà anh còn chưa đi sao? Tụi em sắp ra bến Bạch Đằng, anh ra ngay để kịp nhảy lên tàu.

Thế là ông Vượng thoát khỏi Sài Gòn trước 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975 theo ngã đường thủy tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn.

Hai vợ chồng và các con lại trùng phùng trong trại tị nạn ở Guam.  Sau đó họ được đưa vào Mỹ theo chương trình tị nạn.

Ông xếp biết tin ông Vượng vừa tới Virginia thì bay qua gặp gỡ, chúc mừng và xin lỗi đã không kịp đưa ông Vượng di tản.  Sau đó, xếp hết lòng tìm kiếm việc làm mới cho ông Vượng.  Xếp đưa ông Vượng đi gặp một công ty chuyên cung cấp nhân viên bảo vệ cho các tòa nhà của chánh phủ.  Bà Vượng bất mãn nói ngay:

-Tưởng ông kiếm việc gì tốt chứ việc này ai lại để ông Vượng làm kỳ vậy?

Xếp nhăn nhó nói:
-Chứ ông Vượng không có kinh nghiệm chuyên môn về kỹ thuật thì tôi biết kiếm việc gì khác cho ông ấy?  Tôi nghĩ là có việc làm ổn định, có bảo hiểm sức khỏe là tốt rồi.

Bà Vượng trả lời:

-Thì để ông Vượng làm tạm, còn tôi sẽ đi kiếm việc khác nếu tốt hơn thì bỏ việc làm bảo vệ này.

Hôm sau bà đi ngang qua một nhà thờ Công Giáo, thấy có chương trình giúp người tị nạn Việt Nam định cư, kiếm chỗ ở, xin tiền trợ cấp xã hội, xin trường học, xin việc làm v. v.  Bà Vượng vào hỏi mọi thủ tục, rồi bà đề nghị với linh mục sở tại:

-Tôi thấy công việc ở đây nhiều, mà thiếu một người quản lý văn phòng nói giỏi hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh.  Linh mục nên kiếm một người làm việc này.

Vị Linh mục nghe cũng phải nên nói với bà:
-Tôi thấy bà có thể làm việc này. Vậy, tôi cho bà làm giám đốc điều hành ở văn phòng này nhé!


Thế là bà Vượng hoan hỉ nhận việc.  Hôm sau bà dẫn ông Vượng đến văn phòng giới thiệu với vị Linh mục, yêu cầu ông chuyển công việc lại cho chồng bà vì bà sẽ đi xin việc khác.  Vị Linh mục thấy ông Vượng nói được tiếng Anh và cả tiếng Pháp nên vui vẻ nhận lời.

Bà Vượng lại qua bộ xã hội quận Fairfax kiếm việc.  Bà giám đốc chương trình kiếm việc làm cho người mới đến thấy bà Vượng nói năng lưu loát, suy nghĩ nhanh nhẹn nên tạo ra một việc mới, thích hợp với khả năng của bà: Job Replacement/Tìm việc.  Vì người tị nạn Việt Nam bắt đầu đến quận Fairfax khá nhiều nên quận đang có nhu cầu tìm kiếm việc cho họ.  Sau đó huấn luyện cho bà cách phỏng vấn và trắc nghiệm khả năng của người xin việc để giới thiệu việc làm hợp với khả năng của họ.

Họ trả lương theo công chức, lương cao, đầy đủ bảo hiểm sức khỏe, nhân thọ, tiền hưu trí v. v. Hai ông bà hài lòng với công việc của mình và làm cho đến khi về hưu. 

Ai cũng khen ông Vượng có phước, lấy được bà vợ khôn ngoan, lanh lẹn nên ông có số nhờ vợ.

Hai vợ chồng già thỉnh thoảng đi California thăm đứa con gái lớn, riêng của bà. Hoặc thỉnh thoảng qua nhà hai đứa con gái chung của ông bà. Lúc còn khỏe, còn ngồi được máy bay đường dài thì vài năm hai ông bà lại đi Pháp thăm em gái bà một lần.  Nhưng từ khi không ngồi nổi trên máy bay trên nửa ngày thì bà không đi Âu châu nữa.  Ông bà không bao giờ về Việt Nam vì không muốn về dưới chế độ cộng sản.

Càng già càng lẫn, đó là tình trạng của nhiều người già trong đó có ông Vượng.  Tánh ông hiền lành, vui vẻ, gặp ai cũng cười hỏi thân tình, nhưng có người ông chỉ nhớ mặt mà không nhớ tên. Ông chẳng còn lái xe được nữa vì không còn nhớ đường nên bà là người lái xe đưa ông đi đây, đi đó.  Bà đi đâu ông cũng đi theo, từ đi chợ, đi nhà thờ, đi bác sỹ, đi ăn tiệm và đi nhóm cầu nguyện hay thăm viếng bạn bè.

Chưa hết, ông Vượng đã lẫn còn đổ chứng hay ghen với bà.  Có lần, bà đứng nhìn ra sân trước trông hai cha con người Mễ đang cắt cỏ tỉa cây; bà thuê ông Mễ này trên 10 năm nay rồi, bây giờ thằng con khoảng 14 tuổi được cha nó dắt theo phụ việc vào mùa hè, vừa cho nó kiếm thêm tiền vừa không để nó ở nhà một mình hay ra ngoài chơi với bạn xấu.  Ông Vượng đến bên cạnh vợ nhìn theo ra sân rồi lên cơn ghen:

-Bà mê nó lắm hay sao mà nhìn nó hoài vậy?

Bà sửng sốt nhìn ông rồi la lên:

-Nó làm cho mình trên 10 năm rồi, đáng tuổi con cháu ông, ông ghen với nó làm gì?

Lúc sau này bà không khuân nổi mấy bịch nước suối 24 chai, nên thỉnh thoảng bà nhờ ông Phong, một người làm đủ thứ nghề lao động mua giúp vài bịch nước đem đến cho bà. Được vài lần thì ông Vượng lại ghen, nói với ông Phong:

-Bộ tính dê vợ tao hay sao mà đến hoài vậy?

Bà giật mình, la ông:

-Nó đáng tuổi con ông, ông diên vừa vừa thôi!

Rồi một ngày kia, ông đi tiểu ra máu, con gái đưa ông vào nhà thương.  Sau khi khám xong, bac sỹ bảo ông bị ung thư thận, có lẽ chỉ còn sống 2 tháng.  Bác sỹ thấy ông đã 94 tuổi, chẳng còn sức chịu cuộc giải phẫu nên khuyên bà đưa ông về nhà nghỉ ngơi, chờ ngày đi.

Qua 2 tháng ông vẫn còn sống.  Ông đi đứng thật chậm nhưng thấy bà đi chợ ông cũng đòi theo vì muốn ra đường nhìn mọi người. 

Hai ông bà đã ở hai phòng từ lâu, có lẽ trên 20 năm rồi, vì bà chê ông ngủ hay ngáy thật to khiến bà không ngủ được, còn ông chê bà hay đá đạp lung tung và hay nói mớ khiến ông cũng ngủ không được.

Bà hay ngủ trưa; bà vào phòng đóng cửa lại thì ông hay đứng ngoài đập cửa bắt bà phải mở ra vì nghi có “thằng nào” trong đó. Bà nổi nóng gắt lên:

-Ông không cho tôi ngủ, tôi gọi lính bắt đó nghe!

Ông rút lui về phòng mình, kiếm giấy bút ra viết cho bà vài dòng rồi đem ra nhét phía dưới cửa phòng của bà.

Khi bà thức dậy, nhìn thấy tờ giấy, cầm lên đọc:

-Bà Loan ơi! Chút nữa có đi đâu nhớ chở tôi theo, ờ nhà buồn lắm. Cám ơn bà! (ông vẫn gọi tên thật của bà là Loan).

Ông còn ký tên phía dưới.  Chữ của ông vẫn đẹp, vẫn rõ nét, không run rẩy.

 

Một buổi tối gần lễ Giáng Sinh, bà chở ông đi nhà thờ xem chương trình văn nghệ.  Khi hết chương trình, ông nhờ người cháu trai dắt vào nhà vệ sinh.  Người cháu đang nắm tay ông dẫn đi thì ông té nhào xuống, đập mặt xuống sàn nhà, may là có thảm nên không bị dập mặt.  Người cháu gọi xe cứu thương vì sợ ông bị nội thương.  Nhưng khi xe cứu thương đến, ông Vượng nhất định không chịu lên xe, ông bảo ông không sao hết.  Đội cứu thương nài nỉ mãi không được, sau cùng bà Vượng phải ký giấy cam đoan ông tự ý không chịu đi.

Sáng hôm sau, khi soi gương, thấy hốc mắt bên trái của mình đen thui thùi lùi.  Ông Vượng ngạc nhiên hỏi vợ:

-Mắt tôi làm sao mà đen thui vậy bà?

Bà Vượng trả lời:

-Ông quên là ông bị té tối hôm qua ở nhà thờ hả?

 

Nhiều khi bực bội quá, bà Vượng cầu cho ông chết cho lẹ chứ bà chịu hết nổi cái tánh hay ghen và hay nói xảm của ông.  Đó là ông Vượng chỉ bị bệnh lẫn, chứ chưa nằm liệt chờ người thay tã, đút ăn mà bà Vượng đã cảm thấy khó khăn vì phải săn sóc một người lẫn như ông.  

Một buổi sáng đầu thu, ông Vượng ngồi ở bàn ăn trong bếp nhìn ra khu rừng sau nhà, thấy vài lá vàng đã điểm trên các cây phong, ông thấy cảnh buồn quá nên muốn đi chơi xa. Ông nói như trách vợ:

-Sau lâu quá bà không dẫn tôi đi chơi đâu hết, tôi muốn đi cruise.

Bà lôi ra một xấp các chương trình đi cruise của các hãng du lịch gửi đến đưa cho ông.  Bà nói:

-Đó! Ông đọc đi, ông tự lựa chọn rồi cho tôi biết ông muốn đi đâu, tôi sẽ đăng ký cho ông với tôi đi.

Ông Vượng mở ra nhìn, chỉ mới lật được vài trang ông đã gục đầu xuống ngủ và bắt đầu ngáy khò khò.  Bà Vượng nghĩ thầm mình phải tranh thủ ra chợ trong lúc ông đang ngủ để khỏi phải đem ông theo, vì ông đi chậm quá, bà phải đứng lại chờ phát mỏi mệt.

Bà ra chợ độ hơn 1 giờ sau thì quay về.  Ông Vượng vẫn ngủ tại ghế và vẫn ngáy. Bà hỏi ông:

-Tại sao ông không vào phòng mà ngủ cho thoải mái?

Ông vẫn không nghe thấy gì. Bà để ông ngủ tại ghế và vào phòng bà ngủ trưa.

Khi thức dậy, bà thấy ông Vượng vẫn còn ngủ tại ghế. Đến tối, ông vẫn không đứng dậy vào phòng, bà phải gọi ông Phong, người hay mua nước giúp bà đến đưa ông vào phòng.  Nhưng ông Phong chỉ bê được ông Vượng đến phòng khách thì không bê nổi nữa vì hôm nay ông Vượng nặng quá dù ông vẫn gầy nhom chưa đến 100 pounds.  Thế là ông Phong phải để ông Vượng ngủ ở ghế sofa tại phòng khách.

Sáng hôm sau, bà Vượng thức dậy, thấy ông Vượng vẫn ngủ li bì, vẫn ngáy khò khò. Bà đâm nghi nên gọi cho hospice.  Nghe qua bá cáo của bà Vượng, họ bảo rằng ông ấy sắp đi rồi đấy. Sau đó họ đem đến một cái giường của nhà thương, đặt ngay tại phòng khách rồi đặt ông Vượng nằm trên đó, bọc tã và mặc áo bệnh nhân cho ông.

Ông Vượng ngủ li bì được ba ngày thì trở mình ngồi dậy, thò chân xuống giường định bước xuống.  Bà thấy vậy, hỏi ngay:

-Ông tính đi đâu vậy?

-Đi đái.

Bà chỉ tay vào cái tã ông đang mặc và nói:

-Đái trong đó được rồi, đi coi chừng bị té đó!

Ông trả lời:

-Có bà đỡ làm sao té được?

Bà lấy tay kéo ông nằm xuống giường, và nói:

-Thôi, ông nằm xuống đi! Đi coi chừng té, tôi không đỡ nổi đâu!

Ông lấy tay kéo cái tã ra mà không đủ sức tháo gỡ cái tã nữa nên lại nằm xuống và ngủ tiếp.

Bốn hôm sau ông vĩnh viễn ra đi theo giấc ngủ.  Con gái lớn của ông ở cạnh ông chứng kiến lúc ông dứt hơi thở khoảng gần sáng.  Chờ mẹ thức dậy con gái mới báo cho mẹ hay cha đã đi rồi.

Bà đã lo hậu sự cho cả hai ông bà từ lâu nên mọi sự diễn ra chu đáo. Thế là ông sống thêm dược 1 năm sau khi bác sỹ bảo ông chỉ sống thêm được 2 tháng. Ông thọ 95 tuổi.

Sau đám tang của ông. Bà về nhà một mình dù các con nài nỉ bà qua nhà con gái lớn ngủ một đêm cho đỡ buồn nhưng bà từ chối vì đang cần nghỉ ngơi sau một tuần mệt mỏi với chương trình tang lễ của ông.

Sáng hôm sau, khi ngủ dậy, theo thói quen bà bước xuống bếp.  Lạ quá! Sao cái cửa xuống bếp hôm nay lại đóng? Bà ở trong căn nhà này đã 42 năm chưa bao giờ đóng cánh cửa này. Bà mở cửa ra và lằm bằm:

-Không lẽ nhà có trộm hay có ma?

Chưa hết, khi bà quay ra phòng khách nơi có cái sofa để hai con búp bê đồ cổ ngồi trên đó, chẳng thấy chúng nó đâu.  Bà nghĩ thầm ai vào đây lấy hai con búp bê đó làm gì?  Khi bước đến bàn ăn, trông thấy cái bao giấy loại đi chợ để trên bàn, bà nhìn vào thì thấy hai con búp bê trong đó.  Bà hiểu ngay là ma quỷ đang trêu ghẹo bà để bà sợ mà làm bàn thờ cúng chúng nó, năn nỉ chúng đừng phá bà.  Nhưng bà không sợ, bà nói ngay cho chúng nó nghe:

-Tao nhân danh Chúa Jesus truyền cho tụi bay cút xéo ra khỏi nhà tao, đừng hòng mà tao thờ tụi bay.

Nói xong, bà lôi hai con búp bê ra bầy trở lại ở chỗ cũ.

Qua sáng hôm sau nữa, khi bà thức dậy, mọi việc lại tái diễn y như hôm qua. Nghĩa là cánh cửa xuống bếp bị đóng, hai con búp bê lại tự động nằm trong cái túi giấy để trên bàn ăn như hôm qua.  Kỳ này bà nổi dóa, túm cái miệng túi giấy, buộc lại, rồi nói:

-Tao nhơn danh Chúa Jesus mà truyền cho tụi chúng mày vĩnh viễn ra khỏi nhà tao, cút xéo nhé!

Theo niềm tin Cơ Đốc Giáo (Ki Tô Giáo), người chết không thể biến thành ma quỷ để hại hay phá phách người sống.  Nhưng có ma quỷ, là những tà linh thuộc về chúa quỷ Satan ở đầy dẫy trên mặt đất và trên không trung để phá hại hay cầm quyền, và xúi dục loài người phạm tội.

Bà Vượng tin chồng mình đã lên thiên đàng rồi, chẳng còn vương vấn trần gian làm gì.  Nhưng thỉnh thoảng ma quỷ hay phá phách những gia đình vừa có đám tang vì lúc đó người ta dễ tin là người chết hiện về.

Sau đó bà lái xe đến một tiệm Goodwill để cho hai con búp bê này.  Bà đã mua hai con búp bê này ở một tiệm bán đồ cổ năm 1976 ở Virginia vì bà thích sưu tầm đồ cổ.

Sau này, bà kể lại cho một người bạn nghe câu chuyện trên, người bạn trách bà:

-Sao bác không vứt hai con búp bê đó vào thùng rác cho người ta đổ luôn? Bác cho Goodwill thì sẽ có người khác mua lại, lỡ nó theo vào nhà người ta thì sao?

-Ừ! Lúc đó tôi không nghĩ ra việc này. Tôi thấy hai con búp bê này đẹp nên tiếc. Hy vọng qua nhà người khác không có ma quỷ đi theo.

Kể từ khi bỏ 2 con búp bê, hiện tượng cửa nhà bếp của bà bị đóng vào buổi sáng không còn xẩy ra.

Sau khi chồng chết rồi, ngồi trong nhà bếp nhìn ra rừng cây phía sau đã rụng gần hết lá, bà thấy buồn nhớ ông mênh mang.  Khi ông còn sống, lúc nào cũng quanh quẩn bên bà, lắm lúc nói năng lảm nhảm khiến bà bực bội.  Nhưng bây giờ thiếu vắng ông, bà không còn nhớ những lúc ông làm bà cảm thấy khổ sở, bực dọc.  Ngược lại, những hình ảnh xa xưa từ lúc mới quen nhau lại tràn về.  Bà nhớ quá, lúc ông mới quen bà, ông hay hẹn bà đi ăn trưa, hoặc ông đem thức ăn đến sở bà để hai người ăn chung. Bà nhớ tất cả những gì tốt đẹp ông hay làm cho bà, ông hiền lành quá, đi làm thì làm xếp nhiều người, ai cũng nể nang mà ông chẳng hiếp đáp ai. Về nhà thì nể vỡ, ông chẳng làm gì cho bà buồn, ông chưa bao giờ quát tháo, cọc cằn với vợ con.  Cái cảm xúc thủa hai người mới quen nhau sống lại, khiến bà nhớ ông ray rứt.  Bà ân hận đã không kiên nhẫn, dịu dàng với ông những khi ông nói lảm nhảm, ghen tuông vớ vẩn.

Bà không sợ ma, nhưng sợ cô đơn!  Nửa năm sau khi ông mất, bà vẫn thấy cô đơn nhưng bớt nhớ đến kỷ niệm của hai người.  Bà nhận ra một điều nhớ mãi đến người đã chết chẳng giải quyết được nỗi trống vắng trong lòng nên bà chuyển hướng sang đối tượng khác. Bà nhớ lại người anh họ tên Linh lúc ở ngoài Trung vào Sài Gòn ở nhờ nhà bà để học thi tú tài, lúc đó bà 15 tuổi, anh Linh 16 tuổi. Anh chí thú học hành nhưng vẫn thỉnh thoảng làm cho bà một bài thơ tình. Hai anh em biết mối quan hệ huyết thống không thể nào tiến xa hơn nên chỉ có thế thôi.

Sau khi đậu tú tài toàn phần, hạng tối ưu, anh được học bổng qua Mỹ du học từ năm 1952. Sau khi tốt nghiệp bác sỹ y khoa, anh ở lại Mỹ và làm việc cho chương trình y tế thiện nguyện của một tổ chức Cơ Đốc Giáo qua các nước Phi Châu.  Anh không lập gia đình, anh không muốn vướng bận vợ con vì sẽ cản trở công việc thiện nguyện của anh. Anh làm việc ở Phi Châu cho đến khi về hưu, trở lại Mỹ sống ở California trong căn hộ dành cho người già có thu nhập thấp.

Bà Vượng nhớ đến anh Linh và gọi ngay cho anh, bà đề nghị anh dọn nhà qua Virginia ờ với bà, có anh có em cho tuổi già bớt cô đơn.  Nhưng anh Linh cám ơn và bảo rằng:

-Nghe em đề nghị cũng vui, nhưng không biết ai sẽ chết trước; nếu em chết trước thì anh phải trở về Cali xin lại nhà của nhà nước ở một mình, lúc đó còn buồn hờn. Nếu anh chết trước, mất công em phải lo hậu sự cho anh, cực thân em. Thôi thì nếu em còn khỏe, còn ngồi máy bay được thì qua đây thăm anh một chuyến.

Được nửa năm sau thì anh Linh về với Chúa. Mấy người già ở cùng khu nhà già thấy anh không ra ngoài vài hôm nên báo cáo với ban quản lý.  Họ mở cửa vào, thấy anh đã chết, nằm ngay ngắn trên giường.

 

Bà Vượng thấy anh Linh nói đúng quá! Cũng may là anh chết ở nhà anh nên bà không phải lo hậu sự cho anh. Thế thì anh Linh vẫn thương và lo cho em gái như ngày nào xa xưa ấy. Nghĩ thế bà thầm cám ơn anh. Thôi! Anh về với Chúa trước, hẹn gặp lại anh trên Thiên Đường.

Bà Vượng vẫn cảm thấy cô đơn, bà kiếm người cho thuê lại căn phòng của ông cho có người ra vào, để thỉnh thoảng bà có người nói chuyện.

Cô Kiều, đã ngoài 30, không vướng bận chồng con, dọn vào nhà bà.  Bà cho cô thuê căn phòng của ông Vượng với điều kiện không nấu ăn trong nhà bà; cô kiều đồng ý vì cô không có thì giờ nấu ăn. Cô làm hai jobs: job văn phòng làm ban ngày từ thứ Hai – thứ Sáu và job lái xe Uber. Chưa kể, cô hay vào bar của Mỹ đánh billard va uống beer sau giờ làm việc.  Vào bar là để quen với trai, cô đang cô đơn nên hay la cà ở mấy cái bar.

Bà Vượng thất vọng vì tưởng có người share phòng cho đỡ buồn, ai ngờ bà vẫn cô đơn một mình vì cô Kiều chẳng có chút thì giờ nào cho bà.  Cô Kiều còn trẻ hơn bà nhiều nên cô có cách giải quyết nỗi buồn cô đơn của người trẻ. Cô cứ xông pha vào chốn có nhiều đàn ông theo gu của cô là cô thấy vui rồi.

Sau nửa năm, cô Kiều dọn ra vì cô có bạn trai mới, không thể vào ở chung trong nhà bà Vượng.

Bà Vượng than với bạn về nỗi cô đơn này, một bà bạn giới thiệu cho bà một người share phòng mới, đó là một nam sinh viên đang học y khoa, hắn chỉ khoảng 23-24 tuổi, gốc Ấn Độ, nhưng ở Mỹ từ lúc lên 5 tuổi, có tên tiếng Anh là John.  Da hắn mơn mởn, không đen lắm, dáng người cao dong dỏng, gương mặt đẹp trai như tài tử, nói năng lịch sự.  Vừa trông thấy hắn là bà có cảm tình ngay, có lẽ vì bà có sẵn thành kiến tốt với những người trẻ siêng năng học hành.  Cha mẹ hắn ở tiểu bang khác, hắn đến đây vì đi học y khoa ở đây.

Ngoài giờ học, John còn đi dạy kèm nên mỗi tháng có tiền trả cho bà $500. Bà lại còn phục hơn nữa vì John không nhờ cha mẹ giúp đỡ. Lúc ở nhà thì John ở mãi trong phòng học bài, không bao giờ nghe thấy John vặn nhạc ầm ỹ.  Thỉnh thoảng John đi đánh tennis, chạy xe đạp thể thao. Khi nào đi chợ, John cũng hỏi bà cần mua gì thì mua giùm cho bà.

Đôi khi cuối tuần, bà rủ John đi ăn cơm tiệm với bà, bà luôn dành trả tiền dù John muốn góp chung. Bà bảo rằng có thằng nhỏ chở đi ăn là bà thấy vui rồi, bà không còn thấy cô đơn nữa.

Khi đại dịch covid bắt đầu, bị mất việc dạy kèm. John nói thật với bà không có tiền trả tiền phòng, có lẽ phải dọn về ở với cha mẹ. Bà vui vẻ bảo John đừng lo, bà sẽ cho John ở miễn phí cho đến khi nào John có việc trở lại.  Vài tháng sau, có việc làm trở lại, John lại đưa tiền nhà cho bà.

Bù lại, bà không dám ra ngoài nhiều như trước kia nên John đi chợ cho bà, đi thay nhớt xe cho bà, chở bà đi bác sỹ khi cần, đi mua thuốc cho bà.  Cuối tuần, bà thường đưa cho John cái đơn đi chợ Việt Nam, John cứ cầm đến chợ mua cho bà. Có khi bà nhờ John đi mua phở, một tô phở bò cho bà, một tô phở gà cho John vì hắn theo đạo Hindu (Ấn Độ Giáo) nên không ăn thịt bò. Bà trả tiền hết dù John có đòi trả phần của hắn bà cũng không cho.  Thế là tình bà cháu ngày càng thắm thiết.

 

Từ khi có John dọn vào, bà trau chuốt bề ngoài hơn. Sáng dậy, bà trang điểm phấn son mỗi ngày dù không ra đường.  Thỉnh thoảng bà còn đi cắt tóc tém và highlight tóc màu nâu nhạt & nâu đậm trông thật trẻ trung.  Đôi mắt bà lúc nào cũng sáng long lanh như thời thiếu nữ.  Ai trông thấy cũng khen bà trẻ như vừa ngoài 70 tuổi dù bà đã 88.  Bà vẫn hăng hái tập thể dục, mỗi ngày chạy treadmill từ 20- 30 phút.  

Đôi khi mơ mộng, bà ước gì mình trẻ lại, lớn hơn John độ 10 tuổi thôi bà sẽ làm bạn gái của John. Bà nói với John:

-Phải chi you trên 50 tuổi thì tao chấm mày làm bạn trai của tao.

John trả lời:
-Tôi chỉ xem bà như bà ngoại thôi!

Bà hỏi John:

-Đẹp trai và học giỏi như mày chắc là nhiều gái theo lắm nhưng sao không thấy mày có bạn gái?

-Lúc trước tôi có một cô bạn gái.  Nhưng tôi bận học quá, không có thì giờ dắt cô ấy đi chơi nên cô bỏ tôi rồi.  Hơn nữa, chẳng cô nào muốn chờ đến khi tôi học xong thì già hết rồi.

Nói xong, John lấy trong ví ra một tấm ảnh đưa cho bà xem cô bạn cũ của mình. Bà nhìn thấy mà xuýt xoa vì nàng Ấn Độ này đẹp nhu minh tinh Hollywood. 

-Thôi, mày cố gắng học ra bác sỹ, lúc đó khối cô xếp hàng cho mày lựa.  Vì không phải bác sỹ nào cũng đẹp trai như mày.

 

Con gái riêng của bà ở California có lần đề nghị bà bán nhà bên này dọn sang ở với cô ấy vì cô cũng góa bụa, hai bà góa ở với nhau cho đỡ buồn. Con bà đã trên 60 tuổi, nhưng còn lái xe xuống phố Việt Nam cách nhà 3 tiếng dễ dàng, sẽ chở bà đi ăn hết tiệm này sang tiệm khác tha hồ vui. Nếu muốn mua đồ về nhà nấu thì con bà cũng là tay bếp cừ khôi, tha hồ cho bà ra menu.  Nghe con nói, bà cũng thấy vui. Nhưng nghĩ lại, cái bao tử của bà không biết đói, vì từ vài năm nay bà chỉ ăn súp là chính, ít ăn cơm hay các món kho, món chiên. Bà ít thấy đói bụng, bà phải uống Ensure để giữ sức khỏe. Vậy thì qua California bà cũng chẳng thề nào đi ăn tiệm thường xuyên được. Con bà có nấu ăn chiến cách mấy bà cũng chẳng thể ăn những món đó mỗi ngày.

Nhưng bà cũng kể cho John nghe kế hoạch dọn qua California để thăm dò xem sao. John nghe xong, nói:

-Bà mà dọn đi, đâu có ai nấu ăn ngon như bà cho tôi ăn nữa, tôi biết ăn món Việt Nam và nước mắm là nhờ bà làm bánh bèo, bánh xèo, phở gà, gỏi cuốn, cơm chiên, cá kho cho tôi ăn. Tôi chẳng muốn dọn đi nhà khác tí nào.

Nghe thế, bà cảm động trả lời:

-Để tao suy nghĩ lại.

Sau khi suy nghĩ một ngày, bà thấy niềm vui của bà bây giờ là được ở gần John, được thấy nó ra vào mỗi ngày, được nghe thấy tiếng mở cửa của nó khi ra khi vào dù nó ở dưới basement, đi cửa riêng, được nấu ăn miễn phí cho nó mỗi ngày, và nhờ nó chạy đây chạy đó mua sắm lặt vặt cho bà.  Bà biết rằng giữa bà và nó chỉ xem nhau như bà cháu. Nhưng trong thâm tâm, bà biết nó là mẫu người lý tưởng của bà lúc bà còn son trẻ “Cao ráo, đẹp trai, thể thao đều đặn, có nam tính, có lễ phép, thông minh, học y khoa”.  Bà đâu cần hiện thực tình cảm này! Chỉ cần có nó ở gần cho đến khi bà vĩnh viễn ra đi là bà vui rồi.  Bà tính thầm, bà sẽ vĩnh viễn ra đi trước khi nó tốt nghiệp văn bằng bác sỹ y khoa.

 

 

TT-Thái An

10/10/2021