Đôi vợ chồng
ông bà Vượng đã về hưu từ lâu. Họ
sống thoải mái trong căn nhà single house hai tầng, loại duplex ở quận
Fairfax, Virginia. Bà Vượng mua căn
nhà này từ năm 1975 nhờ số tiền bà đem qua từ Việt Nam khi chạy di
tản vào tháng 4,1975. Hai vợ chồng
và hai đứa con gái sống trong căn nhà này cho đến khi các con có gia
đình thì dọn ra, chỉ còn hai ông bà ở lại.
Bà Vượng
nhờ khôn ngoan, biết buôn bán đồ cổ trước 1975, xây nhà cho Mỹ thuê
mỗi tháng vài trăm đô la US thời đó là sung túc lắm. Đã thế, bà còn làm thư ký trong tòa
Đại Sứ Mỹ, lương khá cao so với công chức thời VNCH. Ông Vượng làm sỹ quan cao cấp ngành cảnh
sát đặc biệt, tuy nhiên lương tháng của ông chỉ đủ để ông tiêu dùng,
bà không cần đến.
Hai ông bà
lấy nhau theo như người đời ví von là “rổ rá cạp lại”. Vì ông góa vợ khi vừa ngoài 30, còn bà
ly dị chồng khi vừa ngoài 20. Ông
lớn hơn bà 10 tuổi. Hai người có
hai cô con gái với nhau. Bà Vượng cho các con học trường Pháp.
Đến ngày 26
tháng 4, 1975, chưa thấy xếp tình báo người Mỹ của ông Vượng đưa gia
đình bà đi di tản. Bà đến thẳng
văn phòng của chồng để nói chuyện với xếp của chồng:
-Nếu ông
không cho gia đình tôi di tản, tôi đã sắm sẵn 1 quả lựu đạn, nếu không
đi được thì mấy mẹ con tôi tự tử chết hết.
Ông xếp thấy
vậy bèn trấn an bà:
-Bà cứ về
nhà thu xếp mỗi người một túi nhỏ quần áo và tư trang cần thiết.
Ngày mai sẽ có xe đến đón mẹ con bà. Còn ông Vượng phải ở lại với
tôi đến giờ chót để hủy phá tất cả hồ sơ, rồi rút lui chung với
tôi.
Bà Vượng
bắt ông xếp phải thề giữ lời, ông xếp hứa ngay.
Sáng hôm sau,
có một xe cứu thương đến trước nhà bà để đem mấy mẹ con bà vào phi
trường Tân Sơn Nhất cùng nhiều người bay qua đảo Guam theo chương trình
di tản của chánh phủ Hoa Kỳ.
Riêng ông
Vượng vẫn đến văn phòng vào sáng 30 tháng 4, chẳng thấy xếp. Xếp gọi vào bảo ông Vượng phải tự
kiếm đường ra đi vì xếp đã phải rút lui lúc nửa đêm không kịp báo
cho ông Vượng hay. Ông Vượng hớt hải suy nghĩ cách đi thì chuông điện
thoại lại reo. Bên kia đầu dây là tiếng của em trai bà Vượng:
-Giờ này mà
anh còn chưa đi sao? Tụi em sắp ra bến Bạch Đằng, anh ra ngay để kịp
nhảy lên tàu.
Thế là ông
Vượng thoát khỏi Sài Gòn trước 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975 theo
ngã đường thủy tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn.
Hai vợ chồng
và các con lại trùng phùng trong trại tị nạn ở Guam. Sau đó họ được đưa vào Mỹ theo chương
trình tị nạn.
Ông xếp biết
tin ông Vượng vừa tới Virginia thì bay qua gặp gỡ, chúc mừng và xin
lỗi đã không kịp đưa ông Vượng di tản.
Sau đó, xếp hết lòng tìm kiếm việc làm mới cho ông Vượng. Xếp đưa ông Vượng đi gặp một công ty
chuyên cung cấp nhân viên bảo vệ cho các tòa nhà của chánh phủ. Bà Vượng bất mãn nói ngay:
-Tưởng ông
kiếm việc gì tốt chứ việc này ai lại để ông Vượng làm kỳ vậy?
Xếp nhăn nhó
nói:
-Chứ ông Vượng không có kinh nghiệm chuyên môn về kỹ thuật thì tôi
biết kiếm việc gì khác cho ông ấy?
Tôi nghĩ là có việc làm ổn định, có bảo hiểm sức khỏe là
tốt rồi.
Bà Vượng
trả lời:
-Thì để ông
Vượng làm tạm, còn tôi sẽ đi kiếm việc khác nếu tốt hơn thì bỏ
việc làm bảo vệ này.
Hôm sau bà đi
ngang qua một nhà thờ Công Giáo, thấy có chương trình giúp người tị
nạn Việt Nam định cư, kiếm chỗ ở, xin tiền trợ cấp xã hội, xin
trường học, xin việc làm v. v. Bà
Vượng vào hỏi mọi thủ tục, rồi bà đề nghị với linh mục sở tại:
-Tôi thấy
công việc ở đây nhiều, mà thiếu một người quản lý văn phòng nói
giỏi hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh. Linh mục nên kiếm một người làm việc
này.
Vị Linh mục
nghe cũng phải nên nói với bà:
-Tôi thấy bà có thể làm việc này. Vậy, tôi cho bà làm giám đốc
điều hành ở văn phòng này nhé!
Thế là bà
Vượng hoan hỉ nhận việc. Hôm sau bà
dẫn ông Vượng đến văn phòng giới thiệu với vị Linh mục, yêu cầu ông
chuyển công việc lại cho chồng bà vì bà sẽ đi xin việc khác. Vị Linh mục thấy ông Vượng nói được
tiếng Anh và cả tiếng Pháp nên vui vẻ nhận lời.
Bà Vượng
lại qua bộ xã hội quận Fairfax kiếm việc. Bà giám đốc chương trình kiếm việc làm
cho người mới đến thấy bà Vượng nói năng lưu loát, suy nghĩ nhanh
nhẹn nên tạo ra một việc mới, thích hợp với khả năng của bà: Job
Replacement/Tìm việc. Vì người tị
nạn Việt Nam bắt đầu đến quận Fairfax khá nhiều nên quận đang có nhu
cầu tìm kiếm việc cho họ. Sau đó
huấn luyện cho bà cách phỏng vấn và trắc nghiệm khả năng của người
xin việc để giới thiệu việc làm hợp với khả năng
của họ.
Họ trả lương
theo công chức, lương cao, đầy đủ bảo hiểm sức khỏe, nhân thọ, tiền
hưu trí v. v. Hai ông bà hài lòng với công việc của mình và làm cho
đến khi về hưu.
Ai cũng khen
ông Vượng có phước, lấy được bà vợ khôn ngoan, lanh lẹn nên ông có số
nhờ vợ.
Hai vợ chồng
già thỉnh thoảng đi California thăm đứa con gái lớn, riêng của bà.
Hoặc thỉnh thoảng qua nhà hai đứa con gái chung của ông bà. Lúc còn
khỏe, còn ngồi được máy bay đường dài thì vài năm hai ông bà lại đi
Pháp thăm em gái bà một lần. Nhưng
từ khi không ngồi nổi trên máy bay trên nửa ngày thì bà không đi Âu
châu nữa. Ông bà không bao giờ về Việt
Nam vì không muốn về dưới chế độ cộng sản.
Càng già
càng lẫn, đó là tình trạng của nhiều người già trong đó có ông
Vượng. Tánh ông hiền lành, vui vẻ,
gặp ai cũng cười hỏi thân tình, nhưng có người ông chỉ nhớ mặt mà
không nhớ tên. Ông chẳng còn lái xe được nữa vì không còn nhớ đường nên
bà là người lái xe đưa ông đi đây, đi đó.
Bà đi đâu ông cũng đi theo, từ đi chợ, đi nhà thờ, đi bác sỹ, đi
ăn tiệm và đi nhóm cầu nguyện hay thăm viếng bạn bè.
Chưa hết, ông
Vượng đã lẫn còn đổ chứng hay ghen với bà. Có lần, bà đứng nhìn ra sân trước trông
hai cha con người Mễ đang cắt cỏ tỉa cây; bà thuê ông Mễ này trên 10
năm nay rồi, bây giờ thằng con khoảng 14 tuổi được cha nó dắt theo phụ
việc vào mùa hè, vừa cho nó kiếm thêm tiền vừa không để nó ở nhà
một mình hay ra ngoài chơi với bạn xấu.
Ông Vượng đến bên cạnh vợ nhìn theo ra sân rồi lên cơn ghen:
-Bà mê nó
lắm hay sao mà nhìn nó hoài vậy?
Bà sửng sốt
nhìn ông rồi la lên:
-Nó làm cho
mình trên 10 năm rồi, đáng tuổi con cháu ông, ông ghen với nó làm gì?
Lúc sau này
bà không khuân nổi mấy bịch nước suối 24 chai, nên thỉnh thoảng bà
nhờ ông Phong, một người làm đủ thứ nghề lao động mua giúp vài bịch nước
đem đến cho bà. Được vài lần thì ông Vượng lại ghen, nói với ông
Phong:
-Bộ tính dê
vợ tao hay sao mà đến hoài vậy?
Bà giật
mình, la ông:
-Nó đáng
tuổi con ông, ông diên vừa vừa thôi!
Rồi một
ngày kia, ông đi tiểu ra máu, con gái đưa ông vào nhà thương. Sau khi khám xong, bac sỹ bảo ông bị ung
thư thận, có lẽ chỉ còn sống 2 tháng.
Bác sỹ thấy ông đã 94 tuổi, chẳng còn sức chịu cuộc giải
phẫu nên khuyên bà đưa ông về nhà nghỉ ngơi, chờ ngày đi.
Qua 2 tháng
ông vẫn còn sống. Ông đi đứng thật
chậm nhưng thấy bà đi chợ ông cũng đòi theo vì muốn ra đường nhìn
mọi người.
Hai ông bà
đã ở hai phòng từ lâu, có lẽ trên 20 năm rồi, vì bà chê ông ngủ hay
ngáy thật to khiến bà không ngủ được, còn ông chê bà hay đá đạp lung
tung và hay nói mớ khiến ông cũng ngủ không được.
Bà hay ngủ
trưa; bà vào phòng đóng cửa lại thì ông hay đứng ngoài đập cửa bắt
bà phải mở ra vì nghi có “thằng nào” trong đó. Bà nổi nóng gắt lên:
-Ông không cho
tôi ngủ, tôi gọi lính bắt đó nghe!
Ông rút lui
về phòng mình, kiếm giấy bút ra viết cho bà vài dòng rồi đem ra
nhét phía dưới cửa phòng của bà.
Khi bà thức
dậy, nhìn thấy tờ giấy, cầm lên đọc:
-Bà Loan ơi!
Chút nữa có đi đâu nhớ chở tôi theo, ờ nhà buồn lắm. Cám ơn bà! (ông
vẫn gọi tên thật của bà là Loan).
Ông còn ký
tên phía dưới. Chữ của ông vẫn
đẹp, vẫn rõ nét, không run rẩy.
Một buổi
tối gần lễ Giáng Sinh, bà chở ông đi nhà thờ xem chương trình văn
nghệ. Khi hết chương trình, ông nhờ
người cháu trai dắt vào nhà vệ sinh.
Người cháu đang nắm tay ông dẫn đi thì ông té nhào xuống, đập
mặt xuống sàn nhà, may là có thảm nên không bị dập mặt. Người cháu gọi xe cứu thương vì sợ ông
bị nội thương. Nhưng khi xe cứu
thương đến, ông Vượng nhất định không chịu lên xe, ông bảo ông không sao
hết. Đội cứu thương nài nỉ mãi
không được, sau cùng bà Vượng phải ký giấy cam đoan ông tự ý không
chịu đi.
Sáng hôm sau,
khi soi gương, thấy hốc mắt bên trái của mình đen thui thùi lùi. Ông Vượng ngạc nhiên hỏi vợ:
-Mắt tôi làm
sao mà đen thui vậy bà?
Bà Vượng
trả lời:
-Ông quên là
ông bị té tối hôm qua ở nhà thờ hả?
Nhiều khi
bực bội quá, bà Vượng cầu cho ông chết cho lẹ chứ bà chịu hết nổi
cái tánh hay ghen và hay nói xảm của ông.
Đó là ông Vượng chỉ bị bệnh lẫn, chứ chưa nằm liệt chờ người
thay tã, đút ăn mà bà Vượng đã cảm thấy khó khăn vì phải săn sóc
một người lẫn như ông.
Một buổi
sáng đầu thu, ông Vượng ngồi ở bàn ăn trong bếp nhìn ra khu rừng sau
nhà, thấy vài lá vàng đã điểm trên các cây phong, ông thấy cảnh buồn
quá nên muốn đi chơi xa. Ông nói như trách vợ:
-Sau lâu quá
bà không dẫn tôi đi chơi đâu hết, tôi muốn đi cruise.
Bà lôi ra
một xấp các chương trình đi cruise của các hãng du lịch gửi đến đưa
cho ông. Bà nói:
-Đó! Ông đọc
đi, ông tự lựa chọn rồi cho tôi biết ông muốn đi đâu, tôi sẽ đăng ký
cho ông với tôi đi.
Ông Vượng mở
ra nhìn, chỉ mới lật được vài trang ông đã gục đầu xuống ngủ và
bắt đầu ngáy khò khò. Bà Vượng
nghĩ thầm mình phải tranh thủ ra chợ trong lúc ông đang ngủ để khỏi
phải đem ông theo, vì ông đi chậm quá, bà phải đứng lại chờ phát mỏi
mệt.
Bà ra chợ
độ hơn 1 giờ sau thì quay về. Ông
Vượng vẫn ngủ tại ghế và vẫn ngáy. Bà hỏi ông:
-Tại sao ông
không vào phòng mà ngủ cho thoải mái?
Ông vẫn không
nghe thấy gì. Bà để ông ngủ tại ghế và vào phòng bà ngủ trưa.
Khi thức
dậy, bà thấy ông Vượng vẫn còn ngủ tại ghế. Đến tối, ông vẫn không
đứng dậy vào phòng, bà phải gọi ông Phong, người hay mua nước giúp
bà đến đưa ông vào phòng. Nhưng ông
Phong chỉ bê được ông Vượng đến phòng khách thì không bê nổi nữa vì
hôm nay ông Vượng nặng quá dù ông vẫn gầy nhom chưa đến 100 pounds. Thế là ông Phong phải để ông Vượng ngủ
ở ghế sofa tại phòng khách.
Sáng hôm sau,
bà Vượng thức dậy, thấy ông Vượng vẫn ngủ li bì, vẫn ngáy khò khò.
Bà đâm nghi nên gọi cho hospice. Nghe
qua bá cáo của bà Vượng, họ bảo rằng ông ấy sắp đi rồi đấy. Sau đó
họ đem đến một cái giường của nhà thương, đặt ngay tại phòng khách
rồi đặt ông Vượng nằm trên đó, bọc tã và mặc áo bệnh nhân cho ông.
Ông Vượng
ngủ li bì được ba ngày thì trở mình ngồi dậy, thò chân xuống giường
định bước xuống. Bà thấy vậy, hỏi
ngay:
-Ông tính đi
đâu vậy?
-Đi đái.
Bà chỉ tay
vào cái tã ông đang mặc và nói:
-Đái trong
đó được rồi, đi coi chừng bị té đó!
Ông trả lời:
-Có bà đỡ
làm sao té được?
Bà lấy tay
kéo ông nằm xuống giường, và nói:
-Thôi, ông
nằm xuống đi! Đi coi chừng té, tôi không đỡ nổi đâu!
Ông lấy tay
kéo cái tã ra mà không đủ sức tháo gỡ cái tã nữa nên lại nằm
xuống và ngủ tiếp.
Bốn hôm sau
ông vĩnh viễn ra đi theo giấc ngủ.
Con gái lớn của ông ở cạnh ông chứng kiến lúc ông dứt hơi thở
khoảng gần sáng. Chờ mẹ thức dậy
con gái mới báo cho mẹ hay cha đã đi rồi.
Bà đã lo
hậu sự cho cả hai ông bà từ lâu nên mọi sự diễn ra chu đáo. Thế là
ông sống thêm dược 1 năm sau khi bác sỹ bảo ông chỉ sống thêm được 2
tháng. Ông thọ 95 tuổi.
Sau đám tang
của ông. Bà về nhà một mình dù các con nài nỉ bà qua nhà con gái lớn
ngủ một đêm cho đỡ buồn nhưng bà từ chối vì đang cần nghỉ ngơi sau
một tuần mệt mỏi với chương trình tang lễ của ông.
Sáng hôm sau,
khi ngủ dậy, theo thói quen bà bước xuống bếp. Lạ quá! Sao cái cửa xuống bếp hôm nay
lại đóng? Bà ở trong căn nhà này đã 42 năm chưa bao giờ đóng cánh
cửa này. Bà mở cửa ra và lằm bằm:
-Không lẽ
nhà có trộm hay có ma?
Chưa hết, khi
bà quay ra phòng khách nơi có cái sofa để hai con búp bê đồ cổ ngồi
trên đó, chẳng thấy chúng nó đâu.
Bà nghĩ thầm ai vào đây lấy hai con búp bê đó làm gì? Khi bước đến bàn ăn, trông thấy cái bao
giấy loại đi chợ để trên bàn, bà nhìn vào thì thấy hai con búp bê
trong đó. Bà hiểu ngay là ma quỷ
đang trêu ghẹo bà để bà sợ mà làm bàn thờ cúng chúng nó, năn nỉ
chúng đừng phá bà. Nhưng bà không
sợ, bà nói ngay cho chúng nó nghe:
-Tao nhân danh
Chúa Jesus truyền cho tụi bay cút xéo ra khỏi nhà tao, đừng hòng mà
tao thờ tụi bay.
Nói xong, bà
lôi hai con búp bê ra bầy trở lại ở chỗ cũ.
Qua sáng hôm
sau nữa, khi bà thức dậy, mọi việc lại tái diễn y như hôm qua. Nghĩa
là cánh cửa xuống bếp bị đóng, hai con búp bê lại tự động nằm trong
cái túi giấy để trên bàn ăn như hôm qua.
Kỳ này bà nổi dóa, túm cái miệng túi giấy, buộc lại, rồi
nói:
-Tao nhơn danh
Chúa Jesus mà truyền cho tụi chúng mày vĩnh viễn ra khỏi nhà tao,
cút xéo nhé!
Theo niềm tin
Cơ Đốc Giáo (Ki Tô Giáo), người chết không thể biến thành ma quỷ để
hại hay phá phách người sống. Nhưng
có ma quỷ, là những tà linh thuộc về chúa quỷ Satan ở đầy dẫy trên
mặt đất và trên không trung để phá hại hay cầm quyền, và xúi dục
loài người phạm tội.
Bà Vượng tin
chồng mình đã lên thiên đàng rồi, chẳng còn vương vấn trần gian làm
gì. Nhưng thỉnh thoảng ma quỷ hay
phá phách những gia đình vừa có đám tang vì lúc đó người ta dễ tin
là người chết hiện về.
Sau đó bà
lái xe đến một tiệm Goodwill để cho hai con búp bê này. Bà đã mua hai con búp bê này ở một
tiệm bán đồ cổ năm 1976 ở Virginia vì bà thích sưu tầm đồ cổ.
Sau này, bà
kể lại cho một người bạn nghe câu chuyện trên, người bạn trách bà:
-Sao bác
không vứt hai con búp bê đó vào thùng rác cho người ta đổ luôn? Bác
cho Goodwill thì sẽ có người khác mua lại, lỡ nó theo vào nhà người
ta thì sao?
-Ừ! Lúc đó
tôi không nghĩ ra việc này. Tôi thấy hai con búp bê này đẹp nên tiếc.
Hy vọng qua nhà người khác không có ma quỷ đi theo.
Kể từ khi
bỏ 2 con búp bê, hiện tượng cửa nhà bếp của bà bị đóng vào buổi
sáng không còn xẩy ra.
Sau khi chồng
chết rồi, ngồi trong nhà bếp nhìn ra rừng cây phía sau đã rụng gần
hết lá, bà thấy buồn nhớ ông mênh mang.
Khi ông còn sống, lúc nào cũng quanh quẩn bên bà, lắm lúc nói
năng lảm nhảm khiến bà bực bội.
Nhưng bây giờ thiếu vắng ông, bà không còn nhớ những lúc ông
làm bà cảm thấy khổ sở, bực dọc.
Ngược lại, những hình ảnh xa xưa từ lúc mới quen nhau lại tràn
về. Bà nhớ quá, lúc ông mới quen
bà, ông hay hẹn bà đi ăn trưa, hoặc ông đem thức ăn đến sở bà để hai
người ăn chung. Bà nhớ tất cả những gì tốt đẹp ông hay làm cho bà,
ông hiền lành quá, đi làm thì làm xếp nhiều người, ai cũng nể nang
mà ông chẳng hiếp đáp ai. Về nhà thì nể vỡ, ông chẳng làm gì cho
bà buồn, ông chưa bao giờ quát tháo, cọc cằn với vợ con. Cái cảm xúc thủa hai người mới quen nhau
sống lại, khiến bà nhớ ông ray rứt. Bà ân hận đã không kiên nhẫn, dịu dàng
với ông những khi ông nói lảm nhảm, ghen tuông vớ vẩn.
Bà không sợ
ma, nhưng sợ cô đơn! Nửa năm sau khi
ông mất, bà vẫn thấy cô đơn nhưng bớt nhớ đến kỷ niệm của hai người. Bà nhận ra một điều nhớ mãi đến người
đã chết chẳng giải quyết được nỗi trống vắng trong lòng nên bà
chuyển hướng sang đối tượng khác. Bà nhớ lại người anh họ tên Linh
lúc ở ngoài Trung vào Sài Gòn ở nhờ nhà bà để học thi tú tài,
lúc đó bà 15 tuổi, anh Linh 16 tuổi. Anh chí thú học hành nhưng vẫn
thỉnh thoảng làm cho bà một bài thơ tình. Hai anh em biết mối quan hệ
huyết thống không thể nào tiến xa hơn nên chỉ có thế thôi.
Sau khi đậu
tú tài toàn phần, hạng tối ưu, anh được học bổng qua Mỹ du học từ
năm 1952. Sau khi tốt nghiệp bác sỹ y khoa, anh ở lại Mỹ và làm việc
cho chương trình y tế thiện nguyện của một tổ chức Cơ Đốc Giáo qua
các nước Phi Châu. Anh không lập gia
đình, anh không muốn vướng bận vợ con vì sẽ cản trở công việc thiện
nguyện của anh. Anh làm việc ở Phi Châu cho đến khi về hưu, trở lại
Mỹ sống ở California trong căn hộ dành cho người già có thu nhập
thấp.
Bà Vượng
nhớ đến anh Linh và gọi ngay cho anh, bà đề nghị anh dọn nhà qua
Virginia ờ với bà, có anh có em cho tuổi già bớt cô đơn. Nhưng anh Linh cám ơn và bảo rằng:
-Nghe em đề
nghị cũng vui, nhưng không biết ai sẽ chết trước; nếu em chết trước
thì anh phải trở về Cali xin lại nhà của nhà nước ở một mình, lúc
đó còn buồn hờn. Nếu anh chết trước, mất công em phải lo hậu sự cho
anh, cực thân em. Thôi thì nếu em còn khỏe, còn ngồi máy bay được thì
qua đây thăm anh một chuyến.
Được nửa năm
sau thì anh Linh về với Chúa. Mấy người già ở cùng khu nhà già thấy
anh không ra ngoài vài hôm nên báo cáo với ban quản lý. Họ mở cửa vào, thấy anh đã chết, nằm
ngay ngắn trên giường.
Bà Vượng
thấy anh Linh nói đúng quá! Cũng may là anh chết ở nhà anh nên bà
không phải lo hậu sự cho anh. Thế thì anh Linh vẫn thương và lo cho em
gái như ngày nào xa xưa ấy. Nghĩ thế bà thầm cám ơn anh. Thôi! Anh về
với Chúa trước, hẹn gặp lại anh trên Thiên Đường.
Bà Vượng
vẫn cảm thấy cô đơn, bà kiếm người cho thuê lại căn phòng của ông cho
có người ra vào, để thỉnh thoảng bà có người nói chuyện.
Cô Kiều, đã
ngoài 30, không vướng bận chồng con, dọn vào nhà bà. Bà cho cô thuê căn phòng của ông Vượng
với điều kiện không nấu ăn trong nhà bà; cô kiều đồng ý vì cô không
có thì giờ nấu ăn. Cô làm hai jobs: job văn phòng làm ban ngày từ thứ
Hai – thứ Sáu và job lái xe Uber. Chưa kể, cô hay vào bar của Mỹ đánh
billard va uống beer sau giờ làm việc.
Vào bar là để quen với trai, cô đang cô đơn nên hay la cà ở mấy
cái bar.
Bà Vượng
thất vọng vì tưởng có người share phòng cho đỡ buồn, ai ngờ bà vẫn
cô đơn một mình vì cô Kiều chẳng có chút thì giờ nào cho bà. Cô Kiều còn trẻ hơn bà nhiều nên cô có
cách giải quyết nỗi buồn cô đơn của người trẻ. Cô cứ xông pha vào chốn
có nhiều đàn ông theo gu của cô là cô thấy vui rồi.
Sau nửa năm,
cô Kiều dọn ra vì cô có bạn trai mới, không thể vào ở chung trong nhà
bà Vượng.
Bà Vượng
than với bạn về nỗi cô đơn này, một bà bạn giới thiệu cho bà một
người share phòng mới, đó là một nam sinh viên đang học y khoa, hắn
chỉ khoảng 23-24 tuổi, gốc Ấn Độ, nhưng ở Mỹ từ lúc lên 5 tuổi, có
tên tiếng Anh là John. Da hắn mơn
mởn, không đen lắm, dáng người cao dong dỏng, gương mặt đẹp trai như
tài tử, nói năng lịch sự. Vừa
trông thấy hắn là bà có cảm tình ngay, có lẽ vì bà có sẵn thành
kiến tốt với những người trẻ siêng năng học hành. Cha mẹ hắn ở tiểu bang khác, hắn đến
đây vì đi học y khoa ở đây.
Ngoài giờ
học, John còn đi dạy kèm nên mỗi tháng có tiền trả cho bà $500. Bà
lại còn phục hơn nữa vì John không nhờ cha mẹ giúp đỡ. Lúc ở nhà
thì John ở mãi trong phòng học bài, không bao giờ nghe thấy John vặn
nhạc ầm ỹ. Thỉnh thoảng John đi
đánh tennis, chạy xe đạp thể thao. Khi nào đi chợ, John cũng hỏi bà
cần mua gì thì mua giùm cho bà.
Đôi khi cuối
tuần, bà rủ John đi ăn cơm tiệm với bà, bà luôn dành trả tiền dù
John muốn góp chung. Bà bảo rằng có thằng nhỏ chở đi ăn là bà thấy
vui rồi, bà không còn thấy cô đơn nữa.
Khi đại dịch
covid bắt đầu, bị mất việc dạy kèm. John nói thật với bà không có
tiền trả tiền phòng, có lẽ phải dọn về ở với cha mẹ. Bà vui vẻ
bảo John đừng lo, bà sẽ cho John ở miễn phí cho đến khi nào John có
việc trở lại. Vài tháng sau, có
việc làm trở lại, John lại đưa tiền nhà cho bà.
Bù lại, bà
không dám ra ngoài nhiều như trước kia nên John đi chợ cho bà, đi thay
nhớt xe cho bà, chở bà đi bác sỹ khi cần, đi mua thuốc cho bà. Cuối tuần, bà thường đưa cho John cái
đơn đi chợ Việt Nam, John cứ cầm đến chợ mua cho bà. Có khi bà nhờ
John đi mua phở, một tô phở bò cho bà, một tô phở gà cho John vì hắn
theo đạo Hindu (Ấn Độ Giáo) nên không ăn thịt bò. Bà trả tiền hết dù
John có đòi trả phần của hắn bà cũng không cho. Thế là tình bà cháu ngày càng thắm
thiết.
Từ khi có
John dọn vào, bà trau chuốt bề ngoài hơn. Sáng dậy, bà trang điểm
phấn son mỗi ngày dù không ra đường.
Thỉnh thoảng bà còn đi cắt tóc tém và highlight tóc màu nâu
nhạt & nâu đậm trông thật trẻ trung.
Đôi mắt bà lúc nào cũng sáng long lanh như thời thiếu nữ. Ai trông thấy cũng khen bà trẻ như vừa ngoài
70 tuổi dù bà đã 88. Bà vẫn hăng
hái tập thể dục, mỗi ngày chạy treadmill từ 20- 30 phút.
Đôi khi mơ
mộng, bà ước gì mình trẻ lại, lớn hơn John độ 10 tuổi thôi bà sẽ
làm bạn gái của John. Bà nói với John:
-Phải chi you
trên 50 tuổi thì tao chấm mày làm bạn trai của tao.
John trả
lời:
-Tôi chỉ xem bà như bà ngoại thôi!
Bà hỏi John:
-Đẹp trai và
học giỏi như mày chắc là nhiều gái theo lắm nhưng sao không thấy mày
có bạn gái?
-Lúc trước
tôi có một cô bạn gái. Nhưng tôi
bận học quá, không có thì giờ dắt cô ấy đi chơi nên cô bỏ tôi rồi. Hơn nữa, chẳng cô nào muốn chờ đến khi
tôi học xong thì già hết rồi.
Nói xong,
John lấy trong ví ra một tấm ảnh đưa cho bà xem cô bạn cũ của mình.
Bà nhìn thấy mà xuýt xoa vì nàng Ấn Độ này đẹp nhu minh tinh
Hollywood.
-Thôi, mày
cố gắng học ra bác sỹ, lúc đó khối cô xếp hàng cho mày lựa. Vì không phải bác sỹ nào cũng đẹp trai
như mày.
Con gái riêng
của bà ở California có lần đề nghị bà bán nhà bên này dọn sang ở
với cô ấy vì cô cũng góa bụa, hai bà góa ở với nhau cho đỡ buồn.
Con bà đã trên 60 tuổi, nhưng còn lái xe xuống phố Việt Nam cách nhà
3 tiếng dễ dàng, sẽ chở bà đi ăn hết tiệm này sang tiệm khác tha hồ
vui. Nếu muốn mua đồ về nhà nấu thì con bà cũng là tay bếp cừ khôi,
tha hồ cho bà ra menu. Nghe con nói,
bà cũng thấy vui. Nhưng nghĩ lại, cái bao tử của bà không biết đói,
vì từ vài năm nay bà chỉ ăn súp là chính, ít ăn cơm hay các món kho,
món chiên. Bà ít thấy đói bụng, bà phải uống Ensure để giữ sức
khỏe. Vậy thì qua California bà cũng chẳng thề nào đi ăn tiệm thường
xuyên được. Con bà có nấu ăn chiến cách mấy bà cũng chẳng thể ăn
những món đó mỗi ngày.
Nhưng bà
cũng kể cho John nghe kế hoạch dọn qua California để thăm dò xem sao.
John nghe xong, nói:
-Bà mà dọn
đi, đâu có ai nấu ăn ngon như bà cho tôi ăn nữa, tôi biết ăn món Việt
Nam và nước mắm là nhờ bà làm bánh bèo, bánh xèo, phở gà, gỏi
cuốn, cơm chiên, cá kho cho tôi ăn. Tôi chẳng muốn dọn đi nhà khác tí
nào.
Nghe thế, bà
cảm động trả lời:
-Để tao suy
nghĩ lại.
Sau khi suy nghĩ
một ngày, bà thấy niềm vui của bà bây giờ là được ở gần John, được
thấy nó ra vào mỗi ngày, được nghe thấy tiếng mở cửa của nó khi ra
khi vào dù nó ở dưới basement, đi cửa riêng, được nấu ăn miễn phí cho
nó mỗi ngày, và nhờ nó chạy đây chạy đó mua sắm lặt vặt cho bà. Bà biết rằng giữa bà và nó chỉ xem
nhau như bà cháu. Nhưng trong thâm tâm, bà biết nó là mẫu người lý
tưởng của bà lúc bà còn son trẻ “Cao ráo, đẹp trai, thể thao đều
đặn, có nam tính, có lễ phép, thông minh, học y khoa”. Bà đâu cần hiện thực tình cảm này!
Chỉ cần có nó ở gần cho đến khi bà vĩnh viễn ra đi là bà vui rồi. Bà tính thầm, bà sẽ vĩnh viễn ra đi
trước khi nó tốt nghiệp văn bằng bác sỹ y khoa.
TT-Thái An
10/10/2021