NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
LÊ LẠC GIAO – VÀ TÁC PHẨM TỔ QUỐC TRĂM NĂM
https://www.barnesandnoble.com/w/to-quoc-tram-nam-lac-giao-le/1150960191?ean=9798904526740
Thoạt đầu cứ tưởng Tổ Quốc Trăm Năm là một cuốn
sách viết về những năm tháng tù và chốn lưu đày của bên thua cuộc sau biến cố
tháng Tư 1975, nhưng càng đọc, tôi càng thấy tác giả không chỉ kể hành trình tù
đày, ông đang kể một câu chuyện lớn hơn, sâu sắc hơn: thân phận con người trước
vật đổi sao dời của lịch sử, cùng những hệ lụy của vấn đề ý thức hệ chính trị.
Và sau đó ông mở rộng: "Tôi thiết nghĩ những
ai liên hệ đến cuộc chiến đều không ở bên ngoài hai phạm trù này."
Cũng ở lời mở đầu, ông nói "Tôi mong quyển
sách là một chia sẻ hay hơn nữa một đóng góp cho dù nhỏ nhoi thông tin lịch sử
của đất nước mình."
Ông không viết chỉ để kể nỗi khổ của riêng mình.
Ông muốn lưu giữ một ký ức tập thể, chống lại sự lãng quên, để gửi lại cho những
thế hệ sau thông tin lịch sử của đất nước, Một thái độ khách quan, công
bằng và trung thực.
Những cảm nhận mà tôi có được là do cảm xúc từ tâm
trạng và cách chịu đựng của tù nhân hơn là từ những sự kiện. Và, không chỉ là nỗi
buồn về một giai đoạn lịch sử, mà còn có niềm tin như tác giả, rằng, phẩm giá
con người có thể bị tổn thương, nhưng không dễ bị hủy diệt.
Tôi bị ám ảnh bởi hình ảnh những chuyến xe đêm âm
thầm rời thành phố trong chương mở đầu. Những con người ấy ra đi mà không biết
nơi đến, cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Trong họ hai trạng thái tình cảm
có sức công phá tâm tư ngang nhau: đó là sợ hãi và lặng im. Một sợ hãi của tay
trắng, một im lặng của thúc thủ, của nghi vấn, về số phận, về cuộc sống, trước
tấm lưới của tù ngục đang bổ xuống.
Qua các chương 1, chương 7, chương 8, chương 17 của
Tổ Quốc Trăm Năm, tôi đã có được những yếu tố để trả lời cho câu hỏi ban đầu,
làm sao tù nhân sống sót qua cuộc sinh tử ấy:
Tôi nhớ ý câu của nhà văn Nga Aleksandr
Solzhenitsyn khi viết về Gulag: có những lúc một bài thơ thuộc lòng quý hơn một
ổ bánh mì, bởi bánh mì nuôi thân xác một ngày, còn thơ giữ cho tâm hồn khỏi sụp
đổ. Ở nhân vật Hảo, Tuệ… tôi thấy điều tương tự.
3. Họ sống sót nhờ vào khả năng suy tư:
Từ nhận xét 1, tôi đi đến yếu tố này, và điển hình là nhân vật Hảo. Anh liên tục đặt câu hỏi: Thân phận mình là gì? Lịch sử là gì? Quê hương là gì? Tổ quốc là gì? Và anh đi qua được năm tháng đằng đẵng của tù ngục. Nhà văn Lê Lạc Giao đã bộc lộ sự tin tưởng, con người có thể bị cầm tù thân xác nhưng vẫn giữ được tự do nội tâm nếu còn khả năng tư duy, và vì thế, ông đã đưa vào rất nhiều đoạn triết luận về lịch sử và định mệnh. Như nhân vật Hảo, anh phân biệt "quê hương" với "chế độ". Anh có thể bị chia ly với gia đình xã hội, mất quyền lực, địa vị, công việc, tương lai, bời sự đổi thay chế độ, nhưng anh vẫn giữ được tình yêu đối với quê hương. Điều đó giúp anh không bị hủy diệt bởi hận thù. Và, Hảo đau vì đất nước hơn là đau vì số phận cá nhân, đây là nội lực mạnh nhất giúp anh trong cuộc sống còn.
Ông không xem quãng đời tù như một hình phạt đơn
thuần, ông chia sẻ nó với tư cách nạn nhân-chứng nhân.
Nhà tâm lý học và cựu tù nhân trại tập trung Đức Quốc
Xã là Viktor Frankl cho rằng con người có thể chịu đựng những hoàn cảnh tưởng
như không thể chịu đựng được nếu họ còn nhìn thấy một ý nghĩa nào đó cho sự tồn
tại của mình.
Với tư cách chứng nhân ông ghi lại nó, biến nó
thành chứng từ của một biến cố lịch sử, nhưng đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không
có cảm giác mình đang đọc một bản cáo trạng, mà thấy như mình đang lắng nghe lời
kể của một nhân chứng cố gắng giữ lại những ký ức có thể bị thời gian cuốn mất.
Và trong những ký ức ấy, điều còn lại sau cùng không phải là hận thù, mà là câu
hỏi về ý nghĩa của đời người trước những thăng trầm của lịch sử. Với tư cách
này nhà văn Lê Lạc Giao đã thể hiện được sự khách quan cần thiết.
Qua 3 chương 14, 15, 16, điều làm tôi suy nghĩ không phải những tranh luận về
thắng bại hay những lý giải chính trị của một cuộc chiến đã lùi xa nửa thế kỷ.
Điều còn ở lại là những câu hỏi lớn hơn: con người là ai giữa những biến động lịch
sử? Điều gì còn lại khi một ý thức hệ thất bại, một chế độ sụp đổ, một đời người
bị cuốn vào vòng xoáy phi lý của chiến tranh? Và liệu lòng yêu nước có thể tồn
tại bên ngoài mọi chủ nghĩa, mọi định kiến chính trị hay không?
Tác giả xoáy theo câu hỏi, ý thức hệ đã dẫn dắt chủ
trương, hành động con người như thế nào. Khi quyền lực nắm công cụ ý thức hệ
chính trị, xem nó là phương hướng thì con người bị nhìn như một phương tiện
thay vì mục đích. Lúc ấy người ta không còn thấy một cá nhân tên Hảo, hay Tuệ,
hay Thạc…mà chỉ còn thấy: đồng chí, địch, phản động, cách mạng, thắng cuộc,
thua cuộc.
Nhà văn Lê Lạc Giao đã hóa giải cái nhìn ấy theo nhận
xét rất nhân bản. Người lính miền Nam, người lính miền Bắc, người cán bộ, người
tù cải tạo, người dân, mỗi người đều hành động trong những khuôn khổ tư tưởng,
niềm tin và hoàn cảnh mà họ được sinh ra. Nhận xét như vậy, không có nghĩa xóa
bỏ những hệ lụy của ý thức hệ, mà khiến người ta nhìn mọi điều xảy ra trong
hoàn cảnh khắc nghiệt một cách cảm thông hơn. Tôi cho rằng đó là mấu chốt quan
trọng để hai bên nhìn thấu nhau, đưa đến có thể, chuyện hội nhập.
Đây cũng là những nét mở rộng trọng tâm của tác giả
ở 3 chương 14,15,16
1-Cảnh tù không phải là chính yếu, mà ở sự nhận thức của tù nhân về thân phận mình.
Phải chăng đây là một trong những câu hỏi cốt lõi của
toàn bộ tác phẩm. Nếu chỉ là hồi ký tù cải tạo, câu hỏi sẽ là: "Tại sao
tôi phải chịu cảnh này?"
Nhưng Hảo hỏi: "Đây là bi kịch của riêng tôi
hay của cả dân tộc?" Câu hỏi ấy đưa
tác phẩm vượt khỏi phạm vi một hồi ký tù nhân.
Anh kéo cuộc trò chuyện với Phạm văn Nhân với câu hỏi:
"Sao anh không chút suy nghĩ đến bản chất con
người Việt Nam chúng ta?" -
Một câu hỏi văn học hơn là chính trị-. Bởi vì cuối cùng, chế độ được tạo ra bởi
con người; ý thức hệ được vận hành bởi con người; chiến tranh được tiến hành bởi
con người. Nếu không hiểu con người, thì mọi giải thích lịch sử đều thiếu sót
và không trung thực.
3. Khái niệm "Tổ Quốc Trăm Năm" bắt đầu hiện rõ:
Đây là tư tưởng mà tôi, và tôi tin cũng của nhiều
người, trân trọng. Nhân vật Hảo luôn dằn vặt, tìm lại ý nghĩa của quê hương, của
tự do, của nhân phẩm, và cuối cùng là của chính sự hiện hữu, và thái độ Hảo chọn
-tách quê hương ra khỏi những biến động chính trị của một giai đoạn lịch sử-. Theo
Hảo, tổ quốc lớn hơn chủ nghĩa, chế độ. Đó là lý do ông viết:
-"Anh
chỉ có một Tổ Quốc."
Càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng nhận ra rằng
điều cứu rỗi con người không phải là thắng hay thua trong cuộc chiến, mà là khả
năng giữ được lòng yêu thương, sự thấu hiểu và phẩm giá của mình giữa những biến
động. Đó là chiến thắng thầm lặng nhất. Và cũng là phần nhân văn, nhân bản nhất
của cuốn sách.
Khi người tù không còn chỉ hỏi "ai đúng ai
sai", mà hỏi "làm thế nào để vẫn yêu được đất nước này sau tất cả
những gì đã xảy ra?". Đây không
chỉ là câu hỏi của Hảo. Không chỉ là câu hỏi của Lê Lạc Giao. Mà còn là câu hỏi
của rất nhiều người Việt thuộc những thế hệ đã đi qua chiến tranh, chia cắt,
lưu đày, cải tạo, vượt biển, tha hương. Một câu hỏi khiến Tổ Quốc Trăm Năm vượt
khỏi phạm vi của một cuốn hồi ký tù nhân, để chạm đến những suy tư rộng lớn hơn
về Tổ Quốc, Lịch Sử Và Con Người.
Có khi nhiều năm sau, người ta quên những tên trại,
quên những mốc thời gian, quên những chi tiết của câu chuyện. Nhưng người ta vẫn
nhớ hình ảnh người tù đọc Truyện Kiều trong đêm, giây phút Hảo
và ông Linh nói chuyện thơ Đường, Thạc và con dế than, Tuệ miệt mài viết nhạc trong
thầm lặng, hai người tù ngồi nhìn nắng trên tàng cây bạch đàn trong ngày Tết thứ
sáu ở tù, Hảo nghe tiếng mưa và nghĩ đến khả năng thanh lọc những nỗi đau. Mảng
trời xanh nhỏ -mà bao la- từ khung cửa ngục, những câu thơ chống lưng, những tiếng
nhạc thay cho hơi thở nặng, nắng vô tư trên tàng cây, tiếng mưa rơi vô nhiễm,
những điều ấy chẳng phải là đáng giá hơn các học thuyết, khẩu hiệu chính trị
sao?
Chính những điều ấy mà tác phẩm này cũng để lại
trong tôi lòng trắc ẩn buồn bã về những số phận đã đi qua chúng, là niềm tin
vào nhân phẩm, là hình ảnh một Tổ Quốc Trăm Năm đau đáu trong tâm tư suy tưởng
của nhà văn:
-"Anh biết mình có quyền lựa chọn nhiều quê
hương trong cuộc đời, nhưng chắc chắn một điều anh chỉ có một Tổ Quốc."
Đây là hạt nhân tư tưởng của tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm, có sức mạnh của một thông điệp.
- Cuốn sách giới thiệu tác giả với hai tư cách nạn
nhân và chứng nhân, để kể lại, để giải thích một cách trung thực về biến cố lịch
sử, về ngục tù, về thân phận con người trước thời cuộc, và cũng mang đến một
cái nhìn sâu sắc hơn về ý thức hệ.
- Bạn mang đến sự quan tâm về mặt nhân văn, nhân bản
trong văn chương, của sự được truyền tải về thân phận con người, của sự được
chia sẻ tình cảm trong trẻo về quê hương, và cái nhìn cao đẹp về tổ quốc.
Nơi hai dòng chảy ấy gặp nhau, là nơi tác phẩm này ở
lại trong lòng bạn.
*Tôi đọc Tổ Quốc Trăm Năm ở giai đoạn lúc chưa phát
hành, nên những câu ghi chú không ghi rõ số trang, mà chỉ ghi chương sách.
Bút hiệu: Lê Lạc Giao -Tên thật : Lê Tấn Hà. Sinh
năm 1951 tại Khánh Hòa Việt Nam
Đại học Văn Khoa ban Triết 1970-1974
Công chức chế độ cũ, sau 30-4-1975 đi tù cải tạo 8
năm
Sang định cư Hoa Kỳ tháng 3/1993
Chuyên viên Dữ Liệu công ty Boeing 22 năm
Về hưu 2017
Cư trú tại Orange County California
Các bút hiệu khác: Hồ Lạc Hồng, Lê Diên Thủy
Sách đã xuất bản:
- Một Thời Điêu Linh (tập truyện/2013)
- Nửa Vầng Trăng Ký Ức (tập truyện/2015)
- Có Một Thời Nhân Chứng (truyện dài/2018)
- Nụ Cười Buồn Mùa Hè (tập truyện/2020)
- Mùa Địa Ngục (tập truyện 2022)
- Dòng Đời (truyện dài 2023)
- Tổ Quốc Trăm Năm (hồi ký tiểu thuyết 2026)
.