Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

911 . NGUYÊN CẨN - ĐỘC ĐINH.

                                                                                  


         

 Buổi chiều xuống dần. Thành phố bắt đầu chen chúc những người đi làm về và học sinh tan học. Nhưng bỗng dưng mọi người nửa muốn ngừng lại mặc áo mưa nhưng một nửa vẫn đi tới vì một cơn mưa lất phất, những hạt nhẹ rơi qua kẽ tay. ThầyViệt nhìn tôi thầm dò xét xem tôi có phải về ăn cơm chiều không. Tôi nói khẽ:” Thầy sắp tới giờ cơm chưa, em về?” Thầy nói, “Thôi, ngồi với nhau mười mười lăm phút nữa.” Thầy thích nói, thầy say sưa nói mỗi lần gặp tôi vì thầy cảm thấy như đang hụt hẫng thiếu người tâm sự mọi chuyện. Thầy nói với một sự lôi cuốn của một giáo sư giỏi hồi ấy. Thầy phân tích chính trị khá sâu sắc, từ thế giới đến quốc nội Thầy lại giỏi tiếng Anh, nghe VOA, BBC trực tiếp được, dù ngày ấy phải “nghe lén “. Tôi thăm thầy từ lúc 3 giờ và thầy trò nói chuyện đến gần 6 giờ. Như một sự tình cờ, nhà ông chú tôi bán cà phê đối diện bệnh viện Chợ Rẫy, thầy lại đang là bệnh nhân ngoại trú ở đây, trọ ở dãy nhà của bệnh viện. Một lần đang đạp xe ra từ nhà ông chú thì thấy thầy xuống uống cà phê, tôi chào thầy và hỏi:” Thầy là thầy Việt phải khôn? “Thầy gật đầu và nói:” “Thấy em rất quen. Tôi nói “Em học sinh Pétrus Ký học Anh văn năm lớp 10 với thầy “Thầy nói :“ Nhớ rồi , thằng Nguyên phải không  ?” Thầy nhớ tôi là vì mỗi khi thầy ra bài tập, phần dịch thường rất khó, thầy lại hay lấy các tác phẩm lớn ra cho dịch nên mấy đứa trong lớp nó ‘né’ lên bảng nhưng tôi lại có vẻ thích thú. Có lần tôi nhớ thầy lấy một đoạn trong “Good Earth “của Pearl Buck ra cho dịch. Tôi nhớ có câu “In the afternoon, O-Lan stared at the other side of the river …” Tôi dịch là “Mỗi chiều, O Lan nhìn chòng chọc qua bờ kia của con sông.” Thầy gọi tôi lên nói ‘Mày giết chết văn chương rồi con ạ, ‘stare’ không thể dịch là ‘nhìn chòng chọc’ mà phải dịch là ‘Mỗi chiều , O Lan đăm đăm nhìn qua bên kia sông ‘.”Ngày ấy nền học vấn theo khuynh hướng khai phóng và tự do nên các thầy muốn lấy sách nào ra đề thì ra , không nhất thiết dựa vào bộ “ English for today “ , nên cái học phóng khoáng và có phần bay bổng ..

 Thầy Dư Siêu Việt kể chuyện đời mình, cũng ly kỳ nhiều tập. Có những cái không tin cũng phải tin dù thầy chẳng tin vào số phận. Lúc gặp lại tôi thầy chỉ nói cái nguyên nhân thầy vào bệnh viện, cái nguyên nhân thầy kẹt lại Việt Nam, như thể con người ta sau cái vận hên là đến cái hạn đen. Nhưng sau này có người kể lại gia đình thầy cực kỳ giàu có và nhân đức, một gia đình bán vàng nổi tiếng từ Hà Nội vào Nam và thầy giống như một cậu ấm “ lên xe xuống ngưa “ , kẻ ăn người ở đầy nhà , những món ăn  hiếm ngày ấy như sơn hào hải vị ,như yến  nào có thiếu . Bố thầy đã xây lên một ngôi chùa lớn giữa lòng quận 3 và ông còn mở ra một nghĩa trang chung, nhất là giúp những người nghèo khó, tất cả mang tên Phước Hòa. Cuộc đời thầy  đó luôn êm ả, tốt nghiệp Đại học sư phạm đệ nhị cấp, về An Xuyên dạy khoảng mười năm, chuyển về Sài Gòn dạy tại Pétrus Ký, một ngôi trường danh giá. Thời gian sau khi dạy tôi, thầy được cất nhắc làm công cán ủy viên Bộ Giáo dục, rất quyền uy. Nhưng nỗi ám ảnh thiếu con trai nối dõi đeo đẳng thầy khôn nguôi và định mệnh lên tiếng trong một lần xuống Cần Thơ công tác. Khi thầy bước qua hàng chào danh dự có các nữ sinh cầm hoa vẫy chào thì bắt gặp ánh mắt thán phục của một cô nữ sinh cao ráo, xinh xắn. Không thán phục sao được vì lúc ấy thầy mới ngoài 40 còn rất phong độ. Tướng thầy không cao nhưng gương mặt thanh tú, dáng đi nhanh nhẹn, sóng mũi thẳng, mặt xương, cặp mắt sáng dưới cặp kính cận nhìn là biết trí thức. Sau bữa tiếp đón của trường nữ Đoàn Thị Điểm, thầy tản bộ ra ngoài và nói: “Để tôi đi ngắm cái trường này một tí.“ Và xui khiến sao thầy  đi về phia ánh mắt hồi nãy thì không gặp ai , thầy hỏi thầy giám thị “ Lớp nào phân công cầm hoa vẫy chào  tôi vậy ?” Thầy giám thị nói:” Dạ 2 lớp 11A1 và A2. Vừa lúc ấy học sinh ra và thầy lại thấy cô nữ sinh ấy dắt xe đạp ra cổng. Thầy tiến lại gần và hỏi:“ Em học lớp nào ? “Cô lí nhí: “Dạ ,11 A2.” “Em tên gì?”  Dạ, Vân.” “Gì Vân?” “Dạ, Thu Vân” Thầy cười: “À, mây mùa thu, tên đẹp đấy. Nhà em ở đâu?” “Dạ cách đây mấy cây số, ở dưới Mỹ Khánh.  “Thầy nói: “Thôi, em về đi kẻo trễ.” Nàng đỏ mặt vì đám bạn đứng chờ vì thấy ông công cán ủy viên hỏi thăm cô nữ sinh tỉnh lẻ.


 Và thầy được biết cô ấy cũng thuộc loại hoa khôi của lớp. Trước khi về Sài Gòn thầy đã ghé qua vài lớp, nói chuyện bâng quơ với các thầy cô và cố ý tạt qua 11 A2 và để lên bàn Thu vân số điện thoại bàn của văn phòng thầy trên Sài Gòn, ghi “Khi  nào rảnh em cứ gọi. “ . Rồi thầy ra về. Là một cô gái có cá tính, sắc sảo, không hiểu động lực nào khiến Thu Vân mạnh dạn gọi cho thầy, ngày nào cũng gọi, nói chuyện trời trăng mây nước, ít nói chuyện học hành mà theo thầy cô ấy có biết chuyện gì đâu mà nói . Thầy, một trí thức lỗi lạc, chính kiến rõ ràng, gia đình giàu có, quyền cao chức trọng nên nàng chỉ nói chuyện lung tung, ấy vậy mà họ cứ nói cứ cười như ...đã quen nhau tự thưở nào, do duyên nghiệp đưa đẩy chăng? Thu Vân còn nói:” Thầy có sợ hôm nào em lên Sài Gòn tìm thầy không?” Thầy cười “Tùy  em . Có dám không?” Và một ngày nọ, Thu Vân không hiểu bị sức hút của ông quan giáo dục cao ráo đẹp trai ấy đã xin gia đình lên Sài Gòn thăm bà cô và nàng ghé qua Bộ Giáo dục. Lăn theo vòng xoáy của định mệnh, họ đã đi chơi chiều hôm ấy. Cô gái ngơ ngác giữa lòng thành đô hoa lệ và bỡ ngỡ khiến thầy bật cười: “Trông em cứ như gà mất đầu. “Sau cùng họ vào rạp xi nê, và thầy nắm tay nàng. Thu Vân rụt rè “Coi chừng ai thấy?” Thầy quàng vai nàng siết chặt, Thu Vân nép người vào thầy và nói: “Ba má em khó lắm. Không đi hoài được đâu? Em không làm vợ bé đâu nhen?” Thầy hơi giật mình, nhưng trước sự cám dỗ của một cô gái trẻ đang tuổi 17 và nhất là mong muốn có một đứa con trai nối dõi khiến thầy chao đảo. Thầy đã hôn nàng khi trong rạp chiếu một cảnh tối. Nàng rùng mình nhưng để yên, đê mê và họ đã đến với nhau với tất cả ngang trái của một kiếp người.

Ngày ấy bố thầy đã qua đời nên khi nói với mẹ, bà phản đối nhưng khi nghe đến chuyện đẻ con trai, bà tạm nguôi ngoai nhưng bà nói “Chắc mẹ không đi hỏi vợ cho con được đâu? Con vợ con nó có tội gì đâu? Chỉ có tội là đẻ toàn con gái nhưng như thế con cũng không nên bỏ nó!” Quen mấy năm, Thu Vân dứt khoát không chịu làm vợ bé. Thầy phải quyết định, đến bây giờ thầy cố gắng tin là đúng dù có lúc cũng hoang mang vì vợ thầy, một người phụ nữ mảnh mai, hiền hậu, chưa hề làm gì sai với thầy. Ngay cả khi thầy nói với cô ấy chuyện ly dị, cô ấy cũng phải suy nghĩ mất cả tuần lễ. Khi nghe thầy bịa ra chuyện nói đã lỡ làm Thu Vân có bầu, cô ấy chỉ nói sau hai gìong lệ:’ “Tùy anh thôi, chứ em đâu biết phải làm sao bây giờ! “Sau đó, thầy phải rủ vài ông bạn cùng thầy sắm sanh lễ vật xuống Phong Điền hỏi vợ, chứ đâu dễ gì mà có bầu (?). Chuyến đi gian nan vì phải qua mấy cái cầu khỉ, đường đi thì trơn trợt, phải đi đò vô. Và thầy phải tổ chức một cái lễ cưới ảm đạm vì anh em gia đình thầy tẩy chay không dự khi nghe tin thầy lấy vợ hai. Thầy không biết phải làm sao bây giờ. Cũng bơ vơ cô đơn như lần thầy ra ứng cử vào Hạ nghị viện Việt Nam Cộng Hòa để chống lại cái chính thể mà thầy cho là đang mục ruỗng nhưng thầy chẳng thuộc phe nào, ném 200 cây vàng ra tranh cử và thất bại thảm hại. Thầy cay cú nhưng cho rằng vận nước suy vi biêt sao được. đến cái quyết định lấy vợ này, cũng không ai ủng hộ trừ vài ông bạn thân. Nhưng họ cũng gắng gượng làm phù rể cho thầy khi xuống Phong Điền. Hôm tổ chức tiệc cũng có người không đi vì ngại. Bà cụ thì đến tiệc ở Sài Gòn một lát rồi về. Thầy chỉ còn tin vào tình yêu mình dành cho cô Vân. Tình yêu là một sức mạnh vô hình nhưng giúp họ vượt qua tất cả. Nó không chỉ mang lại niềm hạnh phúc, mà còn giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách tưởng chừng không thể. Khi yêu, người ta sẵn sàng hy sinh, bao dung và tha thứ, biến những điều bình thường trở nên ý nghĩa. Tình yêu có thể hàn gắn vết thương, xóa nhòa khoảng cách và kết nối những tâm hồn xa lạ. Đó là ngọn lửa ấm áp sưởi ấm trái tim, là động lực giúp con người mạnh mẽ hơn, sống tốt đẹp hơn mỗi ngày. Tình yêu không chỉ là cảm xúc, mà còn là nguồn sức mạnh to lớn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống con người. Nó giúp ta tìm thấy ý nghĩa trong từng khoảnh khắc, là sợi dây gắn kết, mang lại sự ấm áp và bình yên. Chính nhờ tình yêu, Thầy và cô Vân có thể vượt qua những mất mát, tổn thương và tìm thấy hy vọng ngay cả trong những lúc khó khăn nhất. Và trong những đêm mặn nồng, cô thường thì thầm vào tai thầy:” Em sẽ sinh một chú nhóc cho anh, bù cho bốn đứa con gái cho cân bằng. “Thầy rất vui vì cô nói đúng những gì thầy đang mơ ước. Thầy là con một trong một gia đình hay đúng hơn một gìong họ, không hiểu vì lời nguyền gì mà mỗi đời chỉ có một trai, ngoài Bắc họ gọi là “độc đinh “. Nhưng đến thầy thì oan nghiệt sao, thầy lấy vợ đẻ liền 4 đứa con gái. Nên thầy nói “Nếu thế, nó sẽ là cháu đích tôn lo hương hỏa từ đường sau này.”

Sự nghiệp của thầy đang đi những bước vững chắc. Thầy đăng ký đi Anh học tiến sĩ văn chương và trả lời rất hay nên họ chọn thầy dù chỉ có một học bổng. Khi quan chức phụ trách phỏng vấn nói “Ông Dư à, tôi không thấy có lý do gì để ông đi Anh cả?” Thầy trả lời từ tốn nhưng rành mạch cương quyết “Các ông nghĩ tôi đi chỉ vì tương lai tôi sao? Tại sao không nghĩ tôi đi vì sự nghiệp quảng bá văn hóa văn chương Anh ở xứ sở này khi ảnh hưởng của Pháp đang quay trở lại và của người Mỹ đang mạnh dần lên. Tiếng Anh của các ông có cần người Mỹ giúp quảng bá không? Hay ông cần những trí thức tiếp thu một nền giáo dục khoa bảng chân chính để quảng bá nó. Tôi có thể là Khoa trưởng khoa Anh ngữ một trường đại học ở Sài Gòn, nơi có thể đào tạo rất nhiều thế hệ trí thức thông hiểu văn hóa Anh.” Họ yên lặng. thầy cũng yên lặng. Sau hơn 10 phút yên lặng như một kiểu thăm dò tâm lý xem thầy có vội vã chào tạm biệt khi họ chưa cho phép. Thì họ lên tiếng,” Cảm ơn ông Dư, chúng tôi sẽ xem xét.” Và 10 ngày sau thầy nhận kết quả trúng tuyển học bổng duy nhất sang Anh lấy tiến sĩ. Thầy ghé sang Đại Học Phương Nam thăm Thượng Tọa Thích Tâm Châu, sáng lập viên của trường, vấn an xong thầy báo cho thầy Tâm Châu biết kế hoạch của mình thì nghe ngài nói “Con cứ đi, thầy sẽ dành cái ghế Khoa trưởng Khoa văn chương Anh Mỹ cho con khi về Việt Nam.”Tin vui nối tiếp tin vui , cô Thu Vân có bầu phải về Cần Thơ sinh đẻ vì có con em bà con của nàng làm y tá Bệnh viện  dưới đó, sẵn bên ngoại chăm nom tiện hơn . Ở dưới báo lên Thu Vân đã sinh một bé trai đầu lòng 3. 8 kg. Thật song hỷ lâm môn cùng một lúc. Nhưng …

 Ai có thể ngờ 30/4/1975 lại đến khi chỉ còn 18 ngày nữa thầy lên đường sang Anh. Sao không trễ hơn nhỉ? Cuộc đời có những chữ nếu hay phải chi không giải thích được! Thầy bị kẹt lại, phải đi trình diện theo diện Ngụy quyền và học tập mất mấy tháng thì về nhưng không được giảng dạy lại. Cảnh nhà sa sút, bắt đầu những năm cơ cực. Đến khi cô Thu Vân sinh đứa thứ hai, Dư Tường Vy, gia đình lâm vào hoàn cảnh bức bối, khó khăn. Thầy theo những người bạn rủ về quê tìm hướng sống trong hoàn cảnh nhiều người hoang mang trước thời cuộc, lũ lượt tìm đường vượt biên. Thầy cũng cạn vốn liếng, 200 cây vàng ra tranh cử, kết quả thất cử! Danh vọng tan như bọt xà phòng!  Thầy cùng gia đình về Rừng Lá,hy vọng đắp đổi qua ngày. Địa danh Rừng Lá được nói tắt từ rừng cây lá buông - loài cây rất đắc dụng trong đời sống cư dân miền Nam từ thuở khai hoang, mở cõi. Thầy nói mình cũng nghiên cứu sơ và biết đến địa danh Bối Diệp giang, còn có tục danh là sông Lá Buông: “cư dân sinh sống bằng cách lấy lá buôn dệt buồm, đan tấm, đánh dây, chặt tàu đem bán”. Đây cũng là nguyên liệu độc đáo để chế tạo ra hàng chục mặt hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó quen mắt nhất là nón lá, giỏ xách, đũa sóng lá, bao bì, tấm đệm… Xưa kia, lá buông còn được dùng để lợp nhà, ngăn vách, cánh buồm…

Khi thầy đến nhiều người cũng tìm vào ở dọc theo vùng Rừng Lá, nhiều nhất là dân Xuân Hưng, Xuân Hòa (huyện Xuân Lộc), Hàm Tân, La Gi (tỉnh Bình Thuận) sinh sống bằng nghề chuốt lá buông. Và anh trí thức năm nào giờ phải tập phơi lá, tuy nhẹ nhàng nhưng phải có kinh nghiệm để phơi cho lá buông từ màu xanh tươi non trở nên trắng ngà mới đạt chuẩn; nếu để nhiều nắng quá lá sẽ giòn, quăn queo; ngược lại ít nắng quá lá dễ bị mốc. Sau đó thầy phải tập xé lá phải xác định đúng đường xương cá để không làm nát lá. Và cái khó nhất là chuốt lá. Bàn tay thầy chảy máu hoài vì lọng cọng khi dùng lưỡi lam bén kéo một đường thẳng dài dứt khoát chia đôi tấm lá buông, sau đó nhúng lá xẻ vào nước rồi đem ra phơi lần nữa để nan lá mềm và dẻo hơn. Trung bình phải cần đến 6-7 tấn lá phơi khô mới thu được một tấn lá đã chuốt thành phẩm để làm nguyên liệu cung ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau...

 Núi rừng có làn sương lạnh đẹp nếu ngắm để vẽ hay làm thơ nhưng không hợp với buồng phổi một anh thư sinh lớn tuổi, nên thầy ho liên miên. Làm cực qúa mà chẳng thu nhập bao nhiêu nên thầy bàn với cô:” Hay mình trở lại thành phố, bám vào đó mà sống chứ không chịu nổi nữa rồi , còn con cái mai mốt học ở đâu ? “Tương lai ngày một mù mịt. Cô quyết định trở lại thành phố củng thầy.

Thầy phải theo cô Thu Vân đi buôn chuyến, sau khi gửi con tạm về Phong Điền cho Ngoại nuôi. Trong một lần đi, thầy đã bức xúc khi mình ngồi ghế trên còn một bà cụ ngồi cuối xe. Thầy đi xuống và nói:’ Cụ lên trên ngồi, tôi ngồi đây cho, đường xa nó dằn xóc lắm, cụ lên đi.” Bà lão ngần ngại. Thầy lại nói “Bà lên nhanh đi, xe chạy.” Bà lão sau một lúc miễn cưỡng cũng cảm ơn thầy rổi đi lên. Nhưng oan nghiệt cũng từ giây phút ấy. Khi thầy xuống dưới ngồi thì Thu Vân nói: “Thôi anh lên trên để em ngồi dưới cho, thầy không chịu. Và trên đường đi buôn chuyến ngang qua Vĩnh Long thì tai họa xảy ra, một hộp sắt đựng dụng cụ sửa xe bất ngờ rơi xuống ngay đầu thầy, may là sướt qua nhưng đủ làm chảy máu. Xe lập tức quay lại chuyển thầy vào Bệnh viện Vĩnh Long để thầy và Cô Thu Vân ở lại điều trị. Sau 2 ngày băng bó vết thương tạm ổn thầy trở về thì một tuần sau đang ngồi ăn cơm thì chóng mặt, đưa vào Chợ Rẫy thì họ nói thầy bị tai biến nhẹ, phải theo dõi điều trị. Từ đó thầy làm bệnh nhân ngoại trú thường xuyên của Chợ Rẫy vì những cơn nhức đầu vô căn, nghi do cao huyết áp, dù trước khi bị thùng đồ ấy rơi vào đầu thì thầy hoàn toàn khỏe mạnh. Và cô Thu Vân phải vừa lo cho chồng vừa đi buôn chuyến kiếm tiền . Được cái cô tuy tiểu thư nhưng trong thời nhiễu nhương cũng giỏi thích ứng, cô đi buôn bằng những chuyến xe cứu thương chở xác người về quê miền Tây Nam Bộ, cô buôn bất cứ thứ gì có thể, gạo, thịt, mắm muối …Có những chuyền ngồi kế xác chết 5, 6 tiếng cô cũng không nề hà. Gương mặt xinh xắn trắng trẻo một thời trở nên dạn dày sương gió vì chồng vì con. Về đến nhà trọ là tất tả ra chợ rồi thì nào cơm nước nào thuốc thang còn phải hỗ trợ mấy đứa con bà cả nữa. Khi tôi ghé thăm ông chú bán cà phê thì gặp lại thầy. Thầy giảng về chính trị thế giới về văn chương Anh Mỹ, Anh thì thầy mê Pearl Buck và Sormeset Maugham, Mỹ thì thầy lại thích nhiều, Steinbeck, William Faukner, Đặc biệt Hemingway. Có một lần thầy say sưa nói:” Em nhớ trong English for Today, Book six, có giới thiệu một truyện ngắn của Hemingway. (Học sinh miền Nam ban C-văn chương như các em được học.) Một truyện ngắn khủng khiếp chỉ gồm có 8 trang mà cô đọng lại tất cả kinh nghiệm sáng tạo cực điểm về sự sợ hãi, xao xuyến, và hư vô. Truyện ngắn nhan đề là “A Clean, Well-lighted Place” (Một nơi sáng đèn và sạch sẽ).Thầy  như thuộc lòng truyện ngắn đó . Em hãy lắng nghe độc thoại nội tâm của nhân vật chính trong truyện, một người bồi bàn cô độc đầy xao xuyến bàng hoàng nơi quán rượu về khuya ở một nơi nào đó tại đất Tây Ban Nha: “Tắt đèn điện xong rồi, hắn cứ tiếp tục nói chuyện một mình cho một mình hắn nghe, phải chăng hắn đã sợ hãi? Thực ra chẳng phải sự sợ hãi nào cả hay cũng chẳng phải sự áy náy bồn chồn xao xuyến nào cả. Ðó chỉ là một cái hư vô mà hắn đã quá quen biết. Tất cả đều là một cái hư vô và con người cũng là hư vô. Chỉ có thế và ánh sáng quả thực cần thiết vậy và một sự sạch sẽ nào đó và một trật tự nào đó. Có người đã sống trong hư vô và chẳng bao giờ cảm thấy hư vô, nhưng hắn biết rõ nó, ồ tất cả là hư vô, ồ thế chỉ là hư vô nada y pues nada y nada pues nada. Cái nada của chúng con, lạy nada của chúng con, ở trên nada, nguyện danh nada cả nada nước nada trị đến xin dâng nada trên nada bằng nada vậy. Xin nada cho chúng con ngày hằng ngày nada và nada chúng con như chúng con nada nhưng nada của chúng con, lạy cho nada trong nada và chữa chúng con cho khỏi nada; pues nada. Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người…” Em có thấy đoạn văn trên toát lên một làn ánh sáng huyền hoặc, một thứ ánh sáng trong suốt trong sự trống rỗng mênh mông của cả vũ trụ. Hai bài kinh quen thuộc của Công giáo (Kinh lạy Cha và kinh Kính mừng Maria) trở thành kinh cầu nguyện hư vô: Thượng đế và Ðức Mẹ và tất cả mọi sự trở thành hư vô (sắc tức thị không). Tất cả quán cà phê, ánh đèn điện rực rỡ, những hình dáng con người, những bàn những ghế, tất cả trở thành hư vô. Em nên biết triết gia Wỉlliam Banett đã trích dẫn đoạn văn trên trong một buổi nói chuyện ở Hội Triết Học Mỹ (American Philosophical Association) vào tháng 12-1957 và có nhắc đến Không Tính của Phật giáo “gợi lên lòng từ bi bao quát tất cả mọi chúng sinh”. Chữ Tây Ban Nha “nada” có nghĩa là hư vô và giọng văn của Hemingway ở trên tuôn chảy một mạch như Tâm Kinh Bát Nhã. “Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp…” Khi tất cả những gì ta tưởng như có thực bỗng trở thành hư vô và ngay cả Thượng Ðế cũng là hư vô thì chính hư vô cũng không còn là hư vô nữa, và như thế chúng ta sẽ không bị rơi vào chủ nghĩa hư vô (nihilisme). Sắc tức thị không nhưng đồng thời không tức thị sắc. tất cả Ý Thức và Vô Thức của con người bị phá vỡ tung ra. Hãy nhớ Hemingway từng viết: “Cái chết của bất cứ ai cũng đều giảm bớt tôi, vì tôi dính líu với toàn nhân loại, vì thế đừng bao giờ tìm hiểu hồi chuông báo tử đang ngân lên cho ai đó; hồi chuông báo tử ấy đang gọi cho chính mi”. Hemingway đã trích câu này của John Donne để làm đề từ cho quyển tiểu thuyết For whom the Bell tolls. “

Thầy say mê nói về văn chương với tất cả sự uyên bác và thâm nhập cả hai nền văn hóa Đông – Tây, Thiên chúa và Phật giáo …Tôi ấn tượng với thầy không phải vì những phân tích thời sự sâu sắc và cái nhìn toàn cục mà còn là kiến văn thâm hậu … tiếc là thầy không hay chưa có dịp viết sách để rồi cái công phu tuyệt học ấy bị mai một vì những công việc hành chính trong đời một ông  công cán ủy viên …

 Mỗi buổi chiều khi không có giờ dạy tôi đều tạt qua thăm thầy và có khi nói chuyện với ông chú. Ông chú thì chỉ kể kỷ niệm hồi trong quân ngũ chứ không nói chuyện trời trăng kim cổ được …

 Ngày tháng trôi rất nhanh. Gặp lại thầy cũng gần một năm. Thầy cũng khi khỏe khi yếu nhưng gặp tôi hai mắt thầy lại sáng rực những khi tâm sự. Tôi biết thầy rất túng thiếu mà lúc ấy mình chẳng làm gì được vì đồng lương giáo viên còm cõi (!). chỉ trả tiền cà phê và mua vài cái bánh cho đám nhỏ. Khi con gái lớn của thầy, Dư Vân Ngoạn, ghé tới xin tiền thầy sửa cái đùm xe, thấy kêu lên “Chết tôi rồi! Chờ mẹ Vân mày về chứ tao hết rồi! “Những đứa con bà vợ cả, 4 đứa, thanh mảnh, nhất là con gái lớn bây giờ cũng níu áo cha vì mẹ nó làm không ra tiền bao nhiêu hết. Đứa nào cũng xinh xắn, đẹp gái vì vợ cả của thầy cũng là một nhan sắc khi còn trẻ Mấy đứa khác lâu lâu cũng ghé qua, chủ yếu xin tiền vì mẹ nó cũng không làm gì ra tiền. Tên đứa nào cũng lạ và khá xinh, có lẽ do bà vợ cả cũng đẹp chăng? Tên chúng do ông nội đặt dùng toàn tích chữ Hán:  Dư Tố Cầm , Dư Mộng Tần , Dư Uyển Thanh …. Có ai ngờ một gia đình giàu có, từ Hà Nội vào đến Sài Gòn mà sa sút vậy không?

Thằng con trai, Dư Oanh Liệt, ở với bà ngoại, có khi được em của cô, Kim Loan từ dưới quê dắt lên thăm thầy. Thằng bé mập mạp, dáng cục mịch, trông khác so với thầy và đàn con gái thanh mảnh. Nhưng cô Vân nói “Cục vàng của thầy đó em. Thầy đặt tên nó là Oanh Liệt mà nêu còn sống chắc ông cụ không đồng ý vì nghe ‘nổ ‘quá! “Đặc biệt cô nói “Nó học dở lắm em ơi!” Chắc bao nhiêu thông minh thấy lấy hết rồi!

Rồi một chiều tôi đi chậm hơn thường lệ vì giữa đường gặp một cơn mưa lất phất Khi đến quán cà phê, thì thấy ông chú nói “Ông thầy của cháu mất rồi! Tối hôm qua hay sao ấy?” Giật mình tôi lên khu ngoại trú thì gặp Vân Ngoạn nói “Bố em mất chiều hôm qua, đang ăn, bỗng dưng nghẹn rồi ngả người nằm xuống và không dậy nữa!”  Tôi giật mình, như một điềm gở khi cách đây mấy ngày lần gặp sau cùng,thầy tình cờ  nhắc bài thơ Đinh Hùng ngẫu hứng viết trên mặt sau giấy thiếc  trong bao thuốc lá tại nhà thương Bình Dân trong những ngày cuối đời  ( bài thơ chưa được công bố) khi nhìn những cánh hoa trong sân .

 Những cánh hoa này rất mỏng manh

 Ngày mai cho gió cuốn xa cành

 Và ngày mai nữa em đi dạo

 Sẽ gặp hồn anh trên cỏ xanh

Tôi hỏi “Rồi bố em giờ ở đâu? “Ngoạn trả lời:’ Dạ chuyển về nhà ông bác mẹ Vân để nhờ quàn quan tài, chú đi gấp thì còn đám. Sáng mai đưa đi rồi!”” Chôn gấp vậy sao? ““Dạ, vì không có hộ khẩu nên nhờ cái anh trước giúp việc cho ông nội con làm quản trang bây giờ nhà nước giao phụ trách Nghĩa trang Phước Hòa, ảnh cho phép chôn nhưng phải trước 6 giờ sáng, sợ người ta biết . Cũng được cái chôn dước chân đức Địa Tạng.” Tôi ngậm ngùi, tội cho thầy! Nghĩa trang của gia đình mình sáng lập ra mà giờ con cái phải chôn “chạy “!

 Tôi vội vã ghé đám tang. Tôi đã đi nhiều đám tang nhưng chưa thấy đám nào buồn và hiu hắt đến như vậy, gia đình thầy thì tẩy chay việc thầy lấy vợ bé nên đã “từ “ thầy  lâu rồi ,  không ai ghé . Bốn đứa con gái lớn nhất 18 tuổi, loay hoay rủ rỉ quanh một cái bàn. Thằng Liệt và con bé Vy thì ngồi trong góc chơi mấy con thú nhựa. Cô Thu Vân thì tất bật mọi chuyện, đầu bù tóc rối. Cô cười héo hắt “Chưa bao giờ cô nghĩ mình tàn tạ như vậy đâu em! Cực mấy cô cũng lo được, chịu được nhưng thầy mất là cô hụt hẫng, không hiểu sống vì cái gì bây giờ. Thầy tuy như cái bóng nhưng là điểm tựa lớn nhứt của đời cô.” Bà vợ cả ngồi yên trong một góc phòng, tay lần tràng hạt. Dáng bà ngồi ẩn nhẫn, vóc người nhỏ nhắn, gương mặt trái xoan, nét đẹp hiền hậu.

 Nhìn di ảnh thầy với cười phớt đời, tôi đã viết mấy dòng thơ

 Viên phấn giờ đây đã ngủ yên

 Trả trong tàn lạnh mọi ưu phiền

 Gửi cho cát bụi nghìn câu chữ

 Và vạn niềm mơ xuống cửu tuyền

 Và một đoạn khác, khi nhìn đàn con hai dòng của thầy đang bơ vơ.

 Nghe bé thơ vào gọi:” Bố ơi!”

 Bố đã đi xa khỏi cuộc đời

 Còn đó hai gìong sông lặng chảy

Bao giờ hội ngộ giữa trùng khơi …

Thế đấy, một kiếp người. Tôi dự định tiễn đưa thầy. Cô Vân nhờ thằng cháu bên nội duy nhất đến đám của thầy vì tất cả đều sợ cha mẹ chúng không đứa nào ghé. Dặn và đưa tiền trước cho nó chuẩn bị xe buýt 5 giờ khởi hành .

Và sáng hôm sau, xin nghỉ dạy tôi đi thật sớm 4:30 đến đám tang. Lúc đó chỉ có mỗi xe đám ma. Cũng có vài người bạn và học trò cũ hay tin xin đi khoảng hơn 15 người. Nhưng 5 giờ rồi 5 giờ 30 xe buýt không đến, xe đám ma đành phải lên đường vì không thể chờ được, mang theo 7 người là 6 đứa con của thầy cùng với cô . Ngày ấy không ai có xe gắn máy hay chuẩn bị xe gắn máy vì nghĩ có xe buýt. Những người đưa tang thất vọng ngồi lại hàn huyên đến gần 7 giờ thì giải tán, chỉ thấy cậu em thầy chạy đến nói “Thôi cô bác về đi. Thằng đó đêm qua nó nhậu quên kêu xe rồi. “Có người nói “Chắc lấy tiền thuê xe nhậu hết rồi, ai lại nhờ thằng đó !Mặt nó xanh lè như  ghiền xì ke ấy mà !” Đám ma buồn . cái kết buồn.” nada y pues nada y nada pues nada Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người.”

Tôi trở về, hai ngày sau mua ít trái cây ghé qua chỗ thầy ở trong khu nội trú bệnh viện tính nhờ cô thắp nhang giùm thì gặp cô đang dọn đồ về quê. Mặt cô hốc hác, hai mắt trỏm lơ , trông tiều tụy sau mới có mấy ngày . Tôi khuyên cô giữ sức khỏe. Ngồi tâm sự hồi lâu. cô nói “Cái may là họ vẫn cho thầy chôn trong đất nhà chứ cô đâu lo nổi. Hôm đưa đám về, trời mưa em ạ. Họ nói sau đám ma mà mưa là may. Cầu thầy phù hộ cho cô khỏe để nuôi hai đứa này, có khi cả 6 đứa. Mấy đứa con riêng của thầy xin tiền cô miết!” Giây lâu sau, cô nói “Thầy và cô trả giá đắt cho cuộc đời, nhất là thầy khi lấy cô chỉ để sinh một đứa con trai. Mà em thấy thằng Liệt nó giống thầy không?” Tôi tình thiệt “Dạ, không cô, Nó hơi cục mịch. Em nghĩ nó là con Quách Tĩnh đúng hơn!” Cô bật cười “Thằng này tinh mắt.”Tôi giật mình “ Cô nói sao ?” Cô mân mê vạt áo một lát rồi nói” Cô cũng không biết cô là loại mẹ hiền hay mẹ ác. Em có tin cô làm một chuyện tày trời không? “ “

“Sao cô?” “Thầy lấy cô là mục đích đẻ con trai? Nhưng trời hại cô, khi sinh đứa con đầu, nó chết ngắc khi mới lọt lòng .”

“Tôi giật mình “Vậy thằng Liệt con ai?” Cô hơi ngượng ngùng “Em có nhớ con Kim Loan em gái cô làm y tá ở Phong Điền không? Cô sinh con trong nhà bảo sinh nơi nó làm y tá. Và đêm đó khi nó báo con cô chết rồi, cô đã suy nghĩ quái gở là sao không tráo nó với con ai đó, nghe tàn nhẫn phải không? Nhưng em phải hiểu nếu thầy biết con cô chết, ổng bỏ cô thì sao?  Nên cô đánh liều hỏi nó có cách nào tráo với ai khác không? Cũng may đêm đó có ba người sinh con và cô lựa một bà ở Nhơn Nghĩa có đứa con mới sinh là con trai và nói nó tráo con giùm cô.” Lặng yên như để nỗi hối hận lắng xuống, cô kể tiếp:” Cô đâu quan trọng chuyện sinh được hay không, hay là trai hay gái, nhưng nếu đã quyết định làm bậy, phải làm rốt ráo, nghĩa là tìm một đứa con trai luôn em à ! Thầy nói gia đình thầy mấy đời độc đinh nghĩa là có một trai thôi và cô làm ác chỉ  để tìm cái thằng độc đinh ấy. May sao đêm đó có bà đẻ con trai. Lúc đó cô cho trời giúp cô!” Tôi còn gắng hỏi thêm một câu “Sao tráo được cô?” Cô nói “Mày khờ quá! Trong nhà thương tỉnh lẻ, khi sanh xong, lại ban đêm, nhiều bà mệt quá đâu biết con mình sống hay chết. Y tá làm hết nên nó ẵm sẵn đứa nhỏ chết , tráo vô . Họ có biết gì đâu! Dưới đó họ đẻ như gà, mai mốt họ đẻ đứa khác. Khóc bù lu bù loa rồi mấy bữa quên hết à! “ . Cô lại dừng lại uống nước rồi nói tiếp:” Chắc em nghĩ cô ác quá phải không? Đời sống đôi lúc không cho mình chọn lựa em à! Bây giờ em còn trẻ chưa có gia đình nên mọi thứ em thấy đều phải có ngăn nắp, đạo đức nhưng để rồi sau này càng lớn em sẽ thấy cuộc đời không rạch ròi thiện ác vậy đâu? Cô cũng tính sau này ổn định gia đình tạm xong rồi cô sẽ quy y, sám hối vì nghĩ mình cũng tệ quá! Nhưng hoàn cảnh mà!  “Cô thở dài, tiếng thở dài cho sự vô nghĩa của một việc trái lương tâm.

Cuối cùng cô nói:” Thôi, cô trò mình sắp chia tay, cô về quê đây. Cô tặng em cây viết Parker của thầy làm kỷ niệm, viết này của Việt Nam Thương Tín tặng thầy , ngòi nghe nói mạ vàng ? Nhưng quý là cây viết của thầy. Chúc em ở lại mạnh giỏi, khi nào lấy vợ nhớ mời cô, còn hôm nào rảnh xuống Phong Điền chơi với cô và mấy em.” Tôi chào cô và chúc cô may mắn nuôi dạy hai đứa nhỏ nên người.

 Nói rồi cô quay vào nhà trong gói đồ để chuẩn bị về nhà ông bác ở tạm một đêm. Tôi tần ngần cầm cây viết lặng lẽ bước xuống cầu thang, ra về. Tôi chợt nhớ đoạn cuối bài thơ hôm nghe thầy mất.

Em khóc thầy chung một nỗi đau

 Người về bến trước kẻ về sau

 Vậy đó mà trời cao gọi đất

Nhưng đến vô cùng lại gặp nhau.

 Ngoài đường thành phố đã lên đèn. Thành phố chìm ẩn thấp thoáng dưới cơn mưa lất phất. Có hay chăng một linh hồn vừa từ giã trần gian về phương xa thẳm?

nada y pues nada y nada pues nada Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người.

 

Nguyên Cẩn