Thầy Dư Siêu Việt kể chuyện đời mình, cũng ly
kỳ nhiều tập. Có những cái không tin cũng phải tin dù thầy chẳng tin vào số phận.
Lúc gặp lại tôi thầy chỉ nói cái nguyên nhân thầy vào bệnh viện, cái nguyên
nhân thầy kẹt lại Việt Nam, như thể con người ta sau cái vận hên là đến cái hạn
đen. Nhưng sau này có người kể lại gia đình thầy cực kỳ giàu có và nhân đức, một
gia đình bán vàng nổi tiếng từ Hà Nội vào Nam và thầy giống như một cậu ấm “
lên xe xuống ngưa “ , kẻ ăn người ở đầy nhà , những món ăn hiếm ngày ấy như sơn hào hải vị ,như yến nào có thiếu . Bố thầy đã xây lên một ngôi
chùa lớn giữa lòng quận 3 và ông còn mở ra một nghĩa trang chung, nhất là giúp
những người nghèo khó, tất cả mang tên Phước Hòa. Cuộc đời thầy đó luôn êm ả, tốt nghiệp Đại học sư phạm đệ nhị
cấp, về An Xuyên dạy khoảng mười năm, chuyển về Sài Gòn dạy tại Pétrus Ký, một
ngôi trường danh giá. Thời gian sau khi dạy tôi, thầy được cất nhắc làm công
cán ủy viên Bộ Giáo dục, rất quyền uy. Nhưng nỗi ám ảnh thiếu con trai nối dõi
đeo đẳng thầy khôn nguôi và định mệnh lên tiếng trong một lần xuống Cần Thơ công
tác. Khi thầy bước qua hàng chào danh dự có các nữ sinh cầm hoa vẫy chào thì bắt
gặp ánh mắt thán phục của một cô nữ sinh cao ráo, xinh xắn. Không thán phục sao
được vì lúc ấy thầy mới ngoài 40 còn rất phong độ. Tướng thầy không cao nhưng
gương mặt thanh tú, dáng đi nhanh nhẹn, sóng mũi thẳng, mặt xương, cặp mắt sáng
dưới cặp kính cận nhìn là biết trí thức. Sau bữa tiếp đón của trường nữ Đoàn Thị
Điểm, thầy tản bộ ra ngoài và nói: “Để tôi đi ngắm cái trường này một tí.“ Và
xui khiến sao thầy đi về phia ánh mắt hồi
nãy thì không gặp ai , thầy hỏi thầy giám thị “ Lớp nào phân công cầm hoa vẫy
chào tôi vậy ?” Thầy giám thị nói:” Dạ 2
lớp 11A1 và A2. Vừa lúc ấy học sinh ra và thầy lại thấy cô nữ sinh ấy dắt xe đạp
ra cổng. Thầy tiến lại gần và hỏi:“ Em học lớp nào ? “Cô lí nhí: “Dạ ,11 A2.” “Em
tên gì?” Dạ, Vân.” “Gì Vân?” “Dạ, Thu
Vân” Thầy cười: “À, mây mùa thu, tên đẹp đấy. Nhà em ở đâu?” “Dạ cách đây mấy
cây số, ở dưới Mỹ Khánh. “Thầy nói: “Thôi,
em về đi kẻo trễ.” Nàng đỏ mặt vì đám bạn đứng chờ vì thấy ông công cán ủy viên
hỏi thăm cô nữ sinh tỉnh lẻ.
Và thầy được biết cô ấy cũng thuộc loại hoa
khôi của lớp. Trước khi về Sài Gòn thầy đã ghé qua vài lớp, nói chuyện bâng quơ
với các thầy cô và cố ý tạt qua 11 A2 và để lên bàn Thu vân số điện thoại bàn của
văn phòng thầy trên Sài Gòn, ghi “Khi nào rảnh em cứ gọi. “ . Rồi thầy ra về. Là một
cô gái có cá tính, sắc sảo, không hiểu động lực nào khiến Thu Vân mạnh dạn gọi
cho thầy, ngày nào cũng gọi, nói chuyện trời trăng mây nước, ít nói chuyện học
hành mà theo thầy cô ấy có biết chuyện gì đâu mà nói . Thầy, một trí thức lỗi lạc,
chính kiến rõ ràng, gia đình giàu có, quyền cao chức trọng nên nàng chỉ nói
chuyện lung tung, ấy vậy mà họ cứ nói cứ cười như ...đã quen nhau tự thưở nào,
do duyên nghiệp đưa đẩy chăng? Thu Vân còn nói:” Thầy có sợ hôm nào em lên Sài Gòn
tìm thầy không?” Thầy cười “Tùy em . Có dám
không?” Và một ngày nọ, Thu Vân không hiểu bị sức hút của ông quan giáo dục cao
ráo đẹp trai ấy đã xin gia đình lên Sài Gòn thăm bà cô và nàng ghé qua Bộ Giáo
dục. Lăn theo vòng xoáy của định mệnh, họ đã đi chơi chiều hôm ấy. Cô gái ngơ
ngác giữa lòng thành đô hoa lệ và bỡ ngỡ khiến thầy bật cười: “Trông em cứ như
gà mất đầu. “Sau cùng họ vào rạp xi nê, và thầy nắm tay nàng. Thu Vân rụt rè “Coi
chừng ai thấy?” Thầy quàng vai nàng siết chặt, Thu Vân nép người vào thầy và
nói: “Ba má em khó lắm. Không đi hoài được đâu? Em không làm vợ bé đâu nhen?” Thầy
hơi giật mình, nhưng trước sự cám dỗ của một cô gái trẻ đang tuổi 17 và nhất là
mong muốn có một đứa con trai nối dõi khiến thầy chao đảo. Thầy đã hôn nàng khi
trong rạp chiếu một cảnh tối. Nàng rùng mình nhưng để yên, đê mê và họ đã đến với
nhau với tất cả ngang trái của một kiếp người.
Ngày ấy bố thầy đã qua đời nên khi nói
với mẹ, bà phản đối nhưng khi nghe đến chuyện đẻ con trai, bà tạm nguôi ngoai
nhưng bà nói “Chắc mẹ không đi hỏi vợ cho con được đâu? Con vợ con nó có tội gì
đâu? Chỉ có tội là đẻ toàn con gái nhưng như thế con cũng không nên bỏ nó!” Quen
mấy năm, Thu Vân dứt khoát không chịu làm vợ bé. Thầy phải quyết định, đến bây
giờ thầy cố gắng tin là đúng dù có lúc cũng hoang mang vì vợ thầy, một người phụ
nữ mảnh mai, hiền hậu, chưa hề làm gì sai với thầy. Ngay cả khi thầy nói với cô
ấy chuyện ly dị, cô ấy cũng phải suy nghĩ mất cả tuần lễ. Khi nghe thầy bịa ra
chuyện nói đã lỡ làm Thu Vân có bầu, cô ấy chỉ nói sau hai gìong lệ:’ “Tùy anh
thôi, chứ em đâu biết phải làm sao bây giờ! “Sau đó, thầy phải rủ vài ông bạn
cùng thầy sắm sanh lễ vật xuống Phong Điền hỏi vợ, chứ đâu dễ gì mà có bầu (?).
Chuyến đi gian nan vì phải qua mấy cái cầu khỉ, đường đi thì trơn trợt, phải đi
đò vô. Và thầy phải tổ chức một cái lễ cưới ảm đạm vì anh em gia đình thầy tẩy
chay không dự khi nghe tin thầy lấy vợ hai. Thầy không biết phải làm sao bây giờ.
Cũng bơ vơ cô đơn như lần thầy ra ứng cử vào Hạ nghị viện Việt Nam Cộng Hòa để
chống lại cái chính thể mà thầy cho là đang mục ruỗng nhưng thầy chẳng thuộc
phe nào, ném 200 cây vàng ra tranh cử và thất bại thảm hại. Thầy cay cú nhưng cho
rằng vận nước suy vi biêt sao được. đến cái quyết định lấy vợ này, cũng không
ai ủng hộ trừ vài ông bạn thân. Nhưng họ cũng gắng gượng làm phù rể cho thầy
khi xuống Phong Điền. Hôm tổ chức tiệc cũng có người không đi vì ngại. Bà cụ
thì đến tiệc ở Sài Gòn một lát rồi về.
Thầy chỉ còn tin vào tình yêu mình dành
cho cô Vân. Tình yêu là một sức mạnh vô hình nhưng giúp
họ vượt qua tất cả. Nó không chỉ mang lại niềm hạnh phúc, mà còn giúp con người
vượt qua những khó khăn, thử thách tưởng chừng không thể. Khi yêu, người ta sẵn
sàng hy sinh, bao dung và tha thứ, biến những điều bình thường trở nên ý nghĩa.
Tình yêu có thể hàn gắn vết thương, xóa nhòa khoảng cách và kết nối những tâm hồn
xa lạ. Đó là ngọn lửa ấm áp sưởi ấm trái tim, là động lực giúp con người mạnh mẽ
hơn, sống tốt đẹp hơn mỗi ngày. Tình yêu không chỉ là cảm xúc, mà còn là nguồn
sức mạnh to lớn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống con người. Nó giúp ta tìm thấy
ý nghĩa trong từng khoảnh khắc, là sợi dây gắn kết, mang lại sự ấm áp và bình
yên. Chính nhờ tình yêu, Thầy và cô Vân có thể vượt qua những mất mát, tổn
thương và tìm thấy hy vọng ngay cả trong những lúc khó khăn nhất. Và trong những
đêm mặn nồng, cô thường thì thầm vào tai thầy:” Em sẽ sinh một chú nhóc cho
anh, bù cho bốn đứa con gái cho cân bằng. “Thầy rất vui vì cô nói đúng những gì
thầy đang mơ ước. Thầy là con một trong một gia đình hay đúng hơn một gìong họ,
không hiểu vì lời nguyền gì mà mỗi đời chỉ có một trai, ngoài Bắc họ gọi là “độc
đinh “. Nhưng đến thầy thì oan nghiệt sao, thầy lấy vợ đẻ liền 4 đứa con gái.
Nên thầy nói “Nếu thế, nó sẽ là cháu đích tôn lo hương hỏa từ đường sau này.”
Sự nghiệp của thầy đang đi những bước vững
chắc. Thầy đăng ký đi Anh học tiến sĩ văn chương và trả lời rất hay nên họ chọn
thầy dù chỉ có một học bổng. Khi quan chức phụ trách phỏng vấn nói “Ông Dư à,
tôi không thấy có lý do gì để ông đi Anh cả?” Thầy trả lời từ tốn nhưng rành mạch
cương quyết “Các ông nghĩ tôi đi chỉ vì tương lai tôi sao? Tại sao không nghĩ
tôi đi vì sự nghiệp quảng bá văn hóa văn chương Anh ở xứ sở này khi ảnh hưởng của
Pháp đang quay trở lại và của người Mỹ đang mạnh dần lên. Tiếng Anh của các ông
có cần người Mỹ giúp quảng bá không? Hay ông cần những trí thức tiếp thu một nền
giáo dục khoa bảng chân chính để quảng bá nó. Tôi có thể là Khoa trưởng khoa
Anh ngữ một trường đại học ở Sài Gòn, nơi có thể đào tạo rất nhiều thế hệ trí
thức thông hiểu văn hóa Anh.” Họ yên lặng. thầy cũng yên lặng. Sau hơn 10 phút yên
lặng như một kiểu thăm dò tâm lý xem thầy có vội vã chào tạm biệt khi họ chưa
cho phép. Thì họ lên tiếng,” Cảm ơn ông Dư, chúng tôi sẽ xem xét.” Và 10 ngày sau
thầy nhận kết quả trúng tuyển học bổng duy nhất sang Anh lấy tiến sĩ. Thầy ghé
sang Đại Học Phương Nam thăm Thượng Tọa Thích Tâm Châu, sáng lập viên của trường,
vấn an xong thầy báo cho thầy Tâm Châu biết kế hoạch của mình thì nghe ngài nói
“Con cứ đi, thầy sẽ dành cái ghế Khoa trưởng Khoa văn chương Anh Mỹ cho con khi
về Việt Nam.”Tin vui nối tiếp tin vui , cô Thu Vân có bầu phải về Cần Thơ sinh
đẻ vì có con em bà con của nàng làm y tá Bệnh viện dưới đó, sẵn bên ngoại chăm nom tiện hơn . Ở
dưới báo lên Thu Vân đã sinh một bé trai đầu lòng 3. 8 kg. Thật song hỷ lâm môn
cùng một lúc. Nhưng …
Ai có thể ngờ 30/4/1975 lại đến khi chỉ còn 18
ngày nữa thầy lên đường sang Anh. Sao không trễ hơn nhỉ? Cuộc đời có những chữ nếu hay phải chi không giải thích được! Thầy bị kẹt lại, phải đi trình diện
theo diện Ngụy quyền và học tập mất mấy tháng thì về nhưng không được giảng dạy
lại. Cảnh nhà sa sút, bắt đầu những năm cơ cực. Đến khi cô Thu Vân sinh đứa thứ
hai, Dư Tường Vy, gia đình lâm vào hoàn cảnh bức bối, khó khăn. Thầy theo những
người bạn rủ về quê tìm hướng sống trong hoàn cảnh nhiều người hoang mang trước
thời cuộc, lũ lượt tìm đường vượt biên. Thầy cũng cạn vốn liếng, 200 cây vàng
ra tranh cử, kết quả thất cử! Danh vọng tan như bọt xà phòng! Thầy cùng gia đình về Rừng Lá,hy vọng đắp đổi
qua ngày. Địa danh Rừng Lá được nói tắt từ rừng cây lá buông - loài cây rất đắc
dụng trong đời sống cư dân miền Nam từ thuở khai hoang, mở cõi. Thầy nói mình
cũng nghiên cứu sơ và biết đến địa danh Bối Diệp giang, còn có tục danh là sông
Lá Buông: “cư dân sinh sống bằng cách lấy lá buôn dệt buồm, đan tấm, đánh dây,
chặt tàu đem bán”. Đây cũng là nguyên liệu độc đáo để chế tạo ra hàng chục mặt
hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó quen mắt nhất là nón lá, giỏ xách, đũa sóng lá,
bao bì, tấm đệm… Xưa kia, lá buông còn được dùng để lợp nhà, ngăn vách, cánh buồm…
Khi thầy đến nhiều người cũng tìm vào ở
dọc theo vùng Rừng Lá, nhiều nhất là dân Xuân Hưng, Xuân Hòa (huyện Xuân Lộc),
Hàm Tân, La Gi (tỉnh Bình Thuận) sinh sống bằng nghề chuốt lá buông. Và anh trí
thức năm nào giờ phải tập phơi lá, tuy nhẹ nhàng nhưng phải có kinh nghiệm để
phơi cho lá buông từ màu xanh tươi non trở nên trắng ngà mới đạt chuẩn; nếu để
nhiều nắng quá lá sẽ giòn, quăn queo; ngược lại ít nắng quá lá dễ bị mốc. Sau
đó thầy phải tập xé lá phải xác định đúng đường xương cá để không làm nát lá. Và
cái khó nhất là chuốt lá. Bàn tay thầy chảy máu hoài vì lọng cọng khi dùng lưỡi
lam bén kéo một đường thẳng dài dứt khoát chia đôi tấm lá buông, sau đó nhúng
lá xẻ vào nước rồi đem ra phơi lần nữa để nan lá mềm và dẻo hơn. Trung bình phải
cần đến 6-7 tấn lá phơi khô mới thu được một tấn lá đã chuốt thành phẩm để làm
nguyên liệu cung ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau...
Núi rừng có làn sương lạnh đẹp nếu ngắm để vẽ
hay làm thơ nhưng không hợp với buồng phổi một anh thư sinh lớn tuổi, nên thầy
ho liên miên. Làm cực qúa mà chẳng thu nhập bao nhiêu nên thầy bàn với cô:” Hay
mình trở lại thành phố, bám vào đó mà sống chứ không chịu nổi nữa rồi , còn con
cái mai mốt học ở đâu ? “Tương lai ngày một mù mịt. Cô quyết định trở lại thành
phố củng thầy.
Thầy phải theo cô Thu Vân đi buôn chuyến,
sau khi gửi con tạm về Phong Điền cho Ngoại nuôi. Trong một lần đi, thầy đã bức
xúc khi mình ngồi ghế trên còn một bà cụ ngồi cuối xe. Thầy đi xuống và nói:’ Cụ
lên trên ngồi, tôi ngồi đây cho, đường xa nó dằn xóc lắm, cụ lên đi.” Bà lão ngần
ngại. Thầy lại nói “Bà lên nhanh đi, xe chạy.” Bà lão sau một lúc miễn cưỡng
cũng cảm ơn thầy rổi đi lên. Nhưng oan nghiệt cũng từ giây phút ấy. Khi thầy xuống
dưới ngồi thì Thu Vân nói: “Thôi anh lên trên để em ngồi dưới cho, thầy không
chịu. Và trên đường đi buôn chuyến ngang qua Vĩnh Long thì tai họa xảy ra, một
hộp sắt đựng dụng cụ sửa xe bất ngờ rơi xuống ngay đầu thầy, may là sướt qua
nhưng đủ làm chảy máu. Xe lập tức quay lại chuyển thầy vào Bệnh viện Vĩnh Long
để thầy và Cô Thu Vân ở lại điều trị. Sau 2 ngày băng bó vết thương tạm ổn thầy
trở về thì một tuần sau đang ngồi ăn cơm thì chóng mặt, đưa vào Chợ Rẫy thì họ
nói thầy bị tai biến nhẹ, phải theo dõi điều trị. Từ đó thầy làm bệnh nhân ngoại
trú thường xuyên của Chợ Rẫy vì những cơn nhức đầu vô căn, nghi do cao huyết áp,
dù trước khi bị thùng đồ ấy rơi vào đầu thì thầy hoàn toàn khỏe mạnh. Và cô Thu
Vân phải vừa lo cho chồng vừa đi buôn chuyến kiếm tiền . Được cái cô tuy tiểu
thư nhưng trong thời nhiễu nhương cũng giỏi thích ứng, cô đi buôn bằng những
chuyến xe cứu thương chở xác người về quê miền Tây Nam Bộ, cô buôn bất cứ thứ
gì có thể, gạo, thịt, mắm muối …Có những chuyền ngồi kế xác chết 5, 6 tiếng cô
cũng không nề hà. Gương mặt xinh xắn trắng trẻo một thời trở nên dạn dày sương
gió vì chồng vì con. Về đến nhà trọ là tất tả ra chợ rồi thì nào cơm nước nào
thuốc thang còn phải hỗ trợ mấy đứa con bà cả nữa. Khi tôi ghé thăm ông chú bán
cà phê thì gặp lại thầy. Thầy giảng về chính trị thế giới về văn chương Anh Mỹ,
Anh thì thầy mê Pearl Buck và Sormeset Maugham, Mỹ thì thầy lại thích nhiều,
Steinbeck, William Faukner, Đặc biệt Hemingway. Có một lần thầy say sưa nói:”
Em nhớ trong English for Today, Book six, có giới thiệu một truyện ngắn của
Hemingway. (Học sinh miền Nam ban C-văn chương như các em được học.) Một truyện
ngắn khủng khiếp chỉ gồm có 8 trang mà cô đọng lại tất cả kinh nghiệm sáng tạo
cực điểm về sự sợ hãi, xao xuyến, và hư vô. Truyện ngắn nhan đề là “A Clean,
Well-lighted Place” (Một nơi sáng đèn và sạch sẽ).Thầy như thuộc lòng truyện ngắn đó . Em hãy lắng
nghe độc thoại nội tâm của nhân vật chính trong truyện, một người bồi bàn cô độc
đầy xao xuyến bàng hoàng nơi quán rượu về khuya ở một nơi nào đó tại đất Tây
Ban Nha: “Tắt đèn điện xong rồi, hắn cứ tiếp tục nói chuyện một mình cho một
mình hắn nghe, phải chăng hắn đã sợ hãi? Thực ra chẳng phải sự sợ hãi nào cả
hay cũng chẳng phải sự áy náy bồn chồn xao xuyến nào cả. Ðó chỉ là một cái hư
vô mà hắn đã quá quen biết. Tất cả đều là một cái hư vô và con người cũng là hư
vô. Chỉ có thế và ánh sáng quả thực cần thiết vậy và một sự sạch sẽ nào đó và một
trật tự nào đó. Có người đã sống trong hư vô và chẳng bao giờ cảm thấy hư vô,
nhưng hắn biết rõ nó, ồ tất cả là hư vô, ồ thế chỉ là hư vô nada y pues nada y nada pues nada. Cái
nada của chúng con, lạy nada của chúng con, ở trên nada, nguyện danh nada cả
nada nước nada trị đến xin dâng nada trên nada bằng nada vậy. Xin nada cho
chúng con ngày hằng ngày nada và nada chúng con như chúng con nada nhưng nada của
chúng con, lạy cho nada trong nada và chữa chúng con cho khỏi nada; pues nada. Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người…”
Em có thấy đoạn văn trên toát lên một làn ánh sáng huyền hoặc, một thứ ánh sáng
trong suốt trong sự trống rỗng mênh mông của cả vũ trụ. Hai bài kinh quen thuộc
của Công giáo (Kinh lạy Cha và kinh Kính mừng Maria) trở thành kinh cầu nguyện
hư vô: Thượng đế và Ðức Mẹ và tất cả mọi sự trở thành hư vô (sắc tức thị
không). Tất cả quán cà phê, ánh đèn điện rực rỡ, những hình dáng con người, những
bàn những ghế, tất cả trở thành hư vô. Em nên biết triết gia Wỉlliam Banett đã
trích dẫn đoạn văn trên trong một buổi nói chuyện ở Hội Triết Học Mỹ (American
Philosophical Association) vào tháng 12-1957 và có nhắc đến Không Tính của Phật
giáo “gợi lên lòng từ bi bao quát tất cả mọi chúng sinh”. Chữ Tây Ban Nha
“nada” có nghĩa là hư vô và giọng văn của Hemingway ở trên tuôn chảy một mạch
như Tâm Kinh Bát Nhã. “Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất
tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức;
vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp…” Khi tất
cả những gì ta tưởng như có thực bỗng trở thành hư vô và ngay cả Thượng Ðế cũng
là hư vô thì chính hư vô cũng không còn là hư vô nữa, và như thế chúng ta sẽ
không bị rơi vào chủ nghĩa hư vô (nihilisme). Sắc tức thị không nhưng đồng thời
không tức thị sắc. tất cả Ý Thức và Vô Thức của con người bị phá vỡ tung ra.
Hãy nhớ Hemingway từng viết: “Cái chết của bất cứ ai cũng đều giảm bớt tôi, vì
tôi dính líu với toàn nhân loại, vì thế đừng bao giờ tìm hiểu hồi chuông báo tử
đang ngân lên cho ai đó; hồi chuông báo tử ấy đang gọi cho chính mi”. Hemingway
đã trích câu này của John Donne để làm đề từ cho quyển tiểu thuyết For whom the
Bell tolls. “
Thầy say mê nói về văn chương với tất cả
sự uyên bác và thâm nhập cả hai nền văn hóa Đông – Tây, Thiên chúa và Phật giáo
…Tôi ấn tượng với thầy không phải vì những phân tích thời sự sâu sắc và cái
nhìn toàn cục mà còn là kiến văn thâm hậu … tiếc là thầy không hay chưa có dịp
viết sách để rồi cái công phu tuyệt học ấy bị mai một vì những công việc hành
chính trong đời một ông công cán ủy viên
…
Mỗi buổi chiều khi không có giờ dạy tôi đều tạt
qua thăm thầy và có khi nói chuyện với ông chú. Ông chú thì chỉ kể kỷ niệm hồi trong
quân ngũ chứ không nói chuyện trời trăng kim cổ được …
Ngày tháng trôi rất nhanh. Gặp lại thầy cũng gần
một năm. Thầy cũng khi khỏe khi yếu nhưng gặp tôi hai mắt thầy lại sáng rực những
khi tâm sự. Tôi biết thầy rất túng thiếu mà lúc ấy mình chẳng làm gì được vì đồng
lương giáo viên còm cõi (!). chỉ trả tiền cà phê và mua vài cái bánh cho đám nhỏ.
Khi con gái lớn của thầy, Dư Vân Ngoạn, ghé tới xin tiền thầy sửa cái đùm xe,
thấy kêu lên “Chết tôi rồi! Chờ mẹ Vân mày về chứ tao hết rồi! “Những đứa con
bà vợ cả, 4 đứa, thanh mảnh, nhất là con gái lớn bây giờ cũng níu áo cha vì mẹ
nó làm không ra tiền bao nhiêu hết. Đứa nào cũng xinh xắn, đẹp gái vì vợ cả của
thầy cũng là một nhan sắc khi còn trẻ Mấy đứa khác lâu lâu cũng ghé qua, chủ yếu
xin tiền vì mẹ nó cũng không làm gì ra tiền. Tên đứa nào cũng lạ và khá xinh,
có lẽ do bà vợ cả cũng đẹp chăng? Tên chúng do ông nội đặt dùng toàn tích chữ
Hán: Dư Tố Cầm , Dư Mộng Tần , Dư Uyển
Thanh …. Có ai ngờ một gia đình giàu có, từ Hà Nội vào đến Sài Gòn mà sa sút vậy
không?
Thằng con trai, Dư Oanh Liệt, ở với bà
ngoại, có khi được em của cô, Kim Loan từ dưới quê dắt lên thăm thầy. Thằng bé
mập mạp, dáng cục mịch, trông khác so với thầy và đàn con gái thanh mảnh. Nhưng
cô Vân nói “Cục vàng của thầy đó em. Thầy đặt tên nó là Oanh Liệt mà nêu còn sống
chắc ông cụ không đồng ý vì nghe ‘nổ ‘quá! “Đặc biệt cô nói “Nó học dở lắm em
ơi!” Chắc bao nhiêu thông minh thấy lấy hết rồi!
Rồi một chiều tôi đi chậm hơn thường lệ
vì giữa đường gặp một cơn mưa lất phất Khi đến quán cà phê, thì thấy ông chú
nói “Ông thầy của cháu mất rồi! Tối hôm qua hay sao ấy?” Giật mình tôi lên khu
ngoại trú thì gặp Vân Ngoạn nói “Bố em mất chiều hôm qua, đang ăn, bỗng dưng nghẹn
rồi ngả người nằm xuống và không dậy nữa!”
Tôi giật mình, như một điềm gở khi cách đây mấy ngày lần gặp sau cùng,thầy
tình cờ nhắc bài thơ Đinh Hùng ngẫu hứng
viết trên mặt sau giấy thiếc trong bao
thuốc lá tại nhà thương Bình Dân trong những ngày cuối đời ( bài thơ chưa được công bố) khi nhìn những
cánh hoa trong sân .
Những cánh hoa này rất mỏng manh
Ngày mai cho gió cuốn xa cành
Và ngày mai nữa em đi dạo
Sẽ gặp hồn anh trên cỏ xanh
Tôi hỏi “Rồi bố em giờ ở đâu? “Ngoạn trả
lời:’ Dạ chuyển về nhà ông bác mẹ Vân để nhờ quàn quan tài, chú đi gấp thì còn
đám. Sáng mai đưa đi rồi!”” Chôn gấp vậy sao? ““Dạ, vì không có hộ khẩu nên nhờ
cái anh trước giúp việc cho ông nội con làm quản trang bây giờ nhà nước giao phụ
trách Nghĩa trang Phước Hòa, ảnh cho phép chôn nhưng phải trước 6 giờ sáng, sợ
người ta biết . Cũng được cái chôn dước chân đức Địa Tạng.” Tôi ngậm ngùi, tội
cho thầy! Nghĩa trang của gia đình mình sáng lập ra mà giờ con cái phải chôn “chạy
“!
Tôi vội vã ghé đám tang. Tôi đã đi nhiều đám
tang nhưng chưa thấy đám nào buồn và hiu hắt đến như vậy, gia đình thầy thì tẩy
chay việc thầy lấy vợ bé nên đã “từ “ thầy lâu rồi , không ai ghé . Bốn đứa con gái lớn nhất 18 tuổi,
loay hoay rủ rỉ quanh một cái bàn. Thằng Liệt và con bé Vy thì ngồi trong góc
chơi mấy con thú nhựa. Cô Thu Vân thì tất bật mọi chuyện, đầu bù tóc rối. Cô cười
héo hắt “Chưa bao giờ cô nghĩ mình tàn tạ như vậy đâu em! Cực mấy cô cũng lo được,
chịu được nhưng thầy mất là cô hụt hẫng, không hiểu sống vì cái gì bây giờ. Thầy
tuy như cái bóng nhưng là điểm tựa lớn nhứt của đời cô.” Bà vợ cả ngồi yên trong
một góc phòng, tay lần tràng hạt. Dáng bà ngồi ẩn nhẫn, vóc người nhỏ nhắn,
gương mặt trái xoan, nét đẹp hiền hậu.
Nhìn di ảnh thầy với cười phớt đời, tôi đã viết
mấy dòng thơ
Viên phấn giờ đây đã ngủ yên
Trả trong tàn lạnh mọi ưu phiền
Gửi cho cát bụi nghìn câu chữ
Và vạn niềm mơ xuống cửu tuyền
Và một đoạn khác, khi nhìn đàn con hai dòng của
thầy đang bơ vơ.
Nghe bé thơ vào gọi:” Bố ơi!”
Bố đã đi xa khỏi cuộc đời
Còn đó hai gìong sông lặng chảy
Bao giờ hội ngộ giữa trùng khơi …
Thế đấy, một kiếp người. Tôi dự định tiễn
đưa thầy. Cô Vân nhờ thằng cháu bên nội duy nhất đến đám của thầy vì tất cả đều
sợ cha mẹ chúng không đứa nào ghé. Dặn và đưa tiền trước cho nó chuẩn bị xe
buýt 5 giờ khởi hành .
Và sáng hôm sau, xin nghỉ dạy tôi đi thật
sớm 4:30 đến đám tang. Lúc đó chỉ có mỗi xe đám ma. Cũng có vài người bạn và học
trò cũ hay tin xin đi khoảng hơn 15 người. Nhưng 5 giờ rồi 5 giờ 30 xe buýt không
đến, xe đám ma đành phải lên đường vì không thể chờ được, mang theo 7 người là
6 đứa con của thầy cùng với cô . Ngày ấy không ai có xe gắn máy hay chuẩn bị xe
gắn máy vì nghĩ có xe buýt. Những người đưa tang thất vọng ngồi lại hàn huyên đến
gần 7 giờ thì giải tán, chỉ thấy cậu em thầy chạy đến nói “Thôi cô bác về đi. Thằng
đó đêm qua nó nhậu quên kêu xe rồi. “Có người nói “Chắc lấy tiền thuê xe nhậu hết
rồi, ai lại nhờ thằng đó !Mặt nó xanh lè như ghiền xì ke ấy mà !” Đám ma buồn . cái kết buồn.”
nada y pues nada y nada pues nada Kính mừng
hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người.”
Tôi trở về, hai ngày sau mua ít trái
cây ghé qua chỗ thầy ở trong khu nội trú bệnh viện tính nhờ cô thắp nhang giùm thì
gặp cô đang dọn đồ về quê. Mặt cô hốc hác, hai mắt trỏm lơ , trông tiều tụy sau
mới có mấy ngày . Tôi khuyên cô giữ sức khỏe. Ngồi tâm sự hồi lâu. cô nói “Cái
may là họ vẫn cho thầy chôn trong đất nhà chứ cô đâu lo nổi. Hôm đưa đám về, trời
mưa em ạ. Họ nói sau đám ma mà mưa là may. Cầu thầy phù hộ cho cô khỏe để nuôi
hai đứa này, có khi cả 6 đứa. Mấy đứa con riêng của thầy xin tiền cô miết!”
Giây lâu sau, cô nói “Thầy và cô trả giá đắt cho cuộc đời, nhất là thầy khi lấy
cô chỉ để sinh một đứa con trai. Mà em thấy thằng Liệt nó giống thầy không?”
Tôi tình thiệt “Dạ, không cô, Nó hơi cục mịch. Em nghĩ nó là con Quách Tĩnh
đúng hơn!” Cô bật cười “Thằng này tinh mắt.”Tôi giật mình “ Cô nói sao ?” Cô
mân mê vạt áo một lát rồi nói” Cô cũng không biết cô là loại mẹ hiền hay mẹ ác.
Em có tin cô làm một chuyện tày trời không? “ “
“Sao cô?” “Thầy lấy cô là mục đích đẻ con
trai? Nhưng trời hại cô, khi sinh đứa con đầu, nó chết ngắc khi mới lọt lòng .”
“Tôi giật mình “Vậy thằng Liệt con ai?”
Cô hơi ngượng ngùng “Em có nhớ con Kim Loan em gái cô làm y tá ở Phong Điền
không? Cô sinh con trong nhà bảo sinh nơi nó làm y tá. Và đêm đó khi nó báo con
cô chết rồi, cô đã suy nghĩ quái gở là sao không tráo nó với con ai đó, nghe
tàn nhẫn phải không? Nhưng em phải hiểu nếu thầy biết con cô chết, ổng bỏ cô
thì sao? Nên cô đánh liều hỏi nó có cách
nào tráo với ai khác không? Cũng may đêm đó có ba người sinh con và cô lựa một
bà ở Nhơn Nghĩa có đứa con mới sinh là con trai và nói nó tráo con giùm cô.” Lặng
yên như để nỗi hối hận lắng xuống, cô kể tiếp:” Cô đâu quan trọng chuyện sinh được
hay không, hay là trai hay gái, nhưng nếu đã quyết định làm bậy, phải làm rốt
ráo, nghĩa là tìm một đứa con trai luôn em à ! Thầy nói gia đình thầy mấy đời độc
đinh nghĩa là có một trai thôi và cô làm ác chỉ để tìm cái thằng độc đinh ấy. May sao đêm đó
có bà đẻ con trai. Lúc đó cô cho trời giúp cô!” Tôi còn gắng hỏi thêm một câu “Sao
tráo được cô?” Cô nói “Mày khờ quá! Trong nhà thương tỉnh lẻ, khi sanh xong, lại
ban đêm, nhiều bà mệt quá đâu biết con mình sống hay chết. Y tá làm hết nên nó ẵm
sẵn đứa nhỏ chết , tráo vô . Họ có biết gì đâu! Dưới đó họ đẻ như gà, mai mốt họ
đẻ đứa khác. Khóc bù lu bù loa rồi mấy bữa quên hết à! “ . Cô lại dừng lại uống
nước rồi nói tiếp:” Chắc em nghĩ cô ác quá phải không? Đời sống đôi lúc không
cho mình chọn lựa em à! Bây giờ em còn trẻ chưa có gia đình nên mọi thứ em thấy
đều phải có ngăn nắp, đạo đức nhưng để rồi sau này càng lớn em sẽ thấy cuộc đời
không rạch ròi thiện ác vậy đâu? Cô cũng tính sau này ổn định gia đình tạm xong
rồi cô sẽ quy y, sám hối vì nghĩ mình cũng tệ quá! Nhưng hoàn cảnh mà! “Cô thở dài, tiếng thở dài cho sự vô nghĩa của
một việc trái lương tâm.
Cuối cùng cô nói:” Thôi, cô trò mình sắp
chia tay, cô về quê đây. Cô tặng em cây viết Parker của thầy làm kỷ niệm, viết này
của Việt Nam Thương Tín tặng thầy , ngòi nghe nói mạ vàng ? Nhưng quý là cây viết
của thầy. Chúc em ở lại mạnh giỏi, khi nào lấy vợ nhớ mời cô, còn hôm nào rảnh
xuống Phong Điền chơi với cô và mấy em.” Tôi chào cô và chúc cô may mắn nuôi dạy
hai đứa nhỏ nên người.
Nói rồi cô quay vào nhà trong gói đồ để chuẩn
bị về nhà ông bác ở tạm một đêm. Tôi tần ngần cầm cây viết lặng lẽ bước xuống cầu
thang, ra về. Tôi chợt nhớ đoạn cuối bài thơ hôm nghe thầy mất.
Em khóc thầy chung một nỗi đau
Người về bến trước kẻ về sau
Vậy đó mà trời cao gọi đất
Nhưng đến vô cùng lại gặp nhau.
Ngoài đường thành phố đã lên đèn. Thành phố
chìm ẩn thấp thoáng dưới cơn mưa lất phất. Có hay chăng một linh hồn vừa từ giã
trần gian về phương xa thẳm?
nada
y pues nada y nada pues nada Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người.
Nguyên
Cẩn