TA BUỒN NHƯ ĐÁ- LẠNH NGÀN NĂM…
(Đọc tập thơ Mênh
mông chiều của Lê Thị Ái Niệm)
Xao
xuyến vì ai những đêm rằm
Những
bước chân xa không dừng lại
Ta
buồn như đá – lạnh ngàn năm…
(Bài
thơ tặng ngày sinh nhật)
Đá vốn là một vật thể cứng rắn vô tri. Nhưng thẳm sâu trong cội nguồn thần thoại của đá,
“linh hồn con người và đá có một mối liên quan chặt chẽ (...) Đá không phải là
những khối vô hồn; những tảng đá sống rơi từ trên trời xuống, sau khi rơi xuống
chúng vẫn là những vật sống (...) Đá và người đại diện cho sự vận động theo hai chiều: đi
lên và đi xuống”[i]… Những hòn đá thô là biểu tượng của tự do, trăm năm ngàn
năm lặng lẽ giữa đất trời ấy, hấp thụ mọi tinh khí của vũ trụ, đã biến thành một
vật thiêng. Ví nỗi buồn như “đá” khiến nỗi buồn của chủ thể “ta” lồng lộng lạ
thường, nhưng
cũng là nỗi câm lặng cô đơn tột cùng tuyệt nhiên không thể chia sẻ, giãi bày.
Tác giả còn nhấn mạnh tiếp
ở vế sau: “lạnh ngàn năm”. Cái số nhiều không xác định, không đo đếm được ấy thực sự đã gợi lên một cái gì vừa
lớn lao sâu đậm, vừa vĩnh cửu, vĩnh hằng.
Phải chăng đó cũng là nỗi buồn trót “mang nặng kiếp người” được thức nhận trong
cái vô cùng của vũ trụ mênh mông?
Câu
thơ buồn nhất tập thơ ấy đã mở ra trong tôi một thi giới Mênh mông chiều vừa phản kháng âm thầm mà quyết liệt, vừa xót xa
cay đắng mà khắc khoải đến nao lòng của một cõi thơ nồng nàn yêu thương, khát khao dâng hiến đến tận cùng, cả “cỏ hoa và sỏi đá” tim mình. Để rồi, tự
trói đời mình, đời thơ trong hành trình câm lặng nhưng đầy ắp bão giông giữa
đôi bờ nghịch lý có có
-không không.
Tôi chưa biết gì về những nắng mưa đời chị. Duyên gặp gỡ quá tình cờ, ngắn ngủi thoáng qua, ấn tượng duy nhất của lần gặp
đầu tiên đó là một người phụ nữ mạnh mẽ, sôi nổi, nồng nàn giàu tình thương khi
chị cùng về xứ núi quê tôi ngay buổi đầu hạnh ngộ. Đọc thơ
chị, cảm nhận ban đầu ấy càng lúc càng đậm nét. Với tính chất tự kể, tự thuật trải dài những
niềm vui nỗi nhớ, những trăn trở khát khao, những dằn vặt xót xa…, Mênh
mông chiều như
một bản tự thuật, một bức chân dung tự hoạ nhiều nét chấm phá khó thể lẫn vào
ai.
Thơ Lê Thị Ái Niệm nói gì?
Đó là tâm tình một người phụ nữ đôn hậu,
giàu yêu thương, hết sức chân thành với mình, với người, nồng nàn đến mức đa
đoan và đậm hơn cả vẫn là tiếng yêu muộn màng nhiều khát khao, trắc trở, ngậm
ngùi…
Nếu không dan díu với tình
Em đâu trăn trở theo tinh
cầu nầy
(Tạ
tình 2)
Cô nữ
sinh Đồng Khánh một thời áo trắng ấy đã từng có những ngày hoa mộng “tay che
vành nón nghiêng/đời như trang giấy đẹp” mà “Ở đó thuở trái tim/Bắt đầu rung
thương nhớ.” Nhưng, ngày đẹp đã thoáng qua mau trong bi kịch loạn ly chung của
dân tộc:
Qua bao nhiêu năm trời
Quê hương tôi khói lửa
Người tình ơi đâu rồi
Tôi tìm không thấy nữa
(Huế)
Ngác
ngơ bao nhiêu buổi đi-về, xa Huế, những kỷ niệm trước sau lũ lượt…, một mình chị
ở lại cùng nỗi nuối tiếc vô bờ giữa xứ Huế yêu thương:
Sông không lớn mà tình bỗng
rộng
Thành không cao mà tưởng
khuất nhau rồi
Tay không nắm mà biết bao
khắng khít
Em đi về buổi ấy Huế mưa
rơi!
(Nói với
hoàng thành)
Dòng
đời cuốn người đi, và cuộc mưu sinh giữa cõi người ta “ngậm ngùi đen trắng” đã
phá tan giấc mộng vàng tuổi mộng. Rồi giữa bao nhiêu sóng gió bể dâu, chị cũng
đã gặp, đã yêu, đã đặt vào tình yêu bao ước mơ chân thành:
Sao biết được mưa nguồn
không chớp bể
Mà lòng ta khi chớp bể mưa
nguồn
Anh có phải là trang hào sĩ
Che chắn giùm em trong cõi
gió mưa tuôn?
(Mưa nguồn)
Thương làm sao. Người con
gái nào không một lần “mộng bình thường” như thế. Cả chị. Cả tôi. Cả những ai
một lần mơ ước chuyện đường dài… Đừng cho rằng đó là mặc cảm tự ti, nhỏ bé, phụ
thuộc, yếu đuối. Các nhà nữ quyền luận lên án phụ nữ khổ vì bản thân mình đầy
mặc cảm không dám tự vùng lên làm chủ đời mình, cần phải vượt thoát ám ảnh chỉ
là “một cái xương sườn” của người đàn ông mà Chúa đã tạo ra… Nhưng không, nếu
phải ước thêm lần nữa, tôi cũng ước như chị, một lần thôi, một trang hào sĩ của
đời mình…
Chân thành, thao thiết, rộn
rã đến với tình yêu. Nhớ thương thương nhớ, hạnh phúc đủ đầy. Rồi phong ba. Rồi
ngăn trở. Rồi lỡ làng. Đời không là cõi mộng. Chỉ còn lại những não nề thất
vọng đớn đau khi một mình mình đối mặt với hiện thực phũ phàng: “Có lẽ mộng tàn
theo năm tháng/ngày qua cơm áo lại qua ngày”. Đâu đó, giữa những trang viết
ngậm ngùi, buổi xuân thì phôi pha cũng là một ám ảnh lẩn khuất ẩn hiện.
Ai níu được thời gian trên mái tóc
Hương tình yêu như tiếng sóng nghẹn ngào
(Hạ
vàng)
Thời gian cứ đến và đi. Ai biết ai hay, âm
thầm lá cứ rụng… Xót xa lắm những dòng thơ trắng đêm tự cười tự khóc mộng trăm
năm:
Có lẽ buồn nhiều vui không
lại
Hàng cây rụng lá cứ âm thầm
Sáng ra nằm gắng mà không
ngủ
Khóc cười hư thực chuyện
trăm năm.
(Tự sự)
Yêu đương. Mộng ước. Lắng lo. Sám hối. Tin
tưởng. Hy vọng. Tuyệt vọng. Ký ức tình yêu trong Mênh mông chiều cứ loay hoay bế tắc trong vòng xoáy tâm trạng không
dứt, dứt không đành… ấy.
Ta dừng lại bên sông nhìn
nước biếc
Muốn quên nhau nghe chừng
cũng không đành
(…)
Người có đi qua cũng đừng ngoái lại
Những bước đời ta đã quá lao
đao
(Một sáng xuân qua)
Có lúc, trong tột cùng nỗi chênh vênh, “lòng
nghiêng mộng cũ”, đành mượn cả rượu mà thảng thốt khóc với tình:
Người của ta yêu đã đâu rồi
Nghìn trùng cách biệt tháng ngày trôi
Về đây ngó lại mùa dâu bể
Mây trắng ngàn năm vẫn trắng trời
(Bài thơ uống rượu)
Có lúc, ngậm ngùi một nỗi buồn trách sâu thẳm
dịu dàng mà cam chịu thê thiết, cay đắng tột cùng không sao kể hết. Ai ‘hăm hở
núi sông” để rồi bạc bẽo trôi hết…, trôi hết… bao nhiêu là ước hẹn đá vàng…
Người ạ! Hôm nay ngày sinh nhật
Trôi chút nhớ thương của cõi người
Hăm hở núi sông lời ước hẹn
Âm thầm nước chảy đá vàng phai.
(Bài thơ tặng ngày sinh nhật)
Nhưng, đáng quý là dẫu cuộc
đời đen trắng đến đâu, trong tận cùng nỗi bất hạnh trớ trêu, thơ Lê Thị Ái Niệm
vẫn giữ được nét đẹp tâm hồn cô gái Huế dịu dàng lắng sâu, chừng mực… Không cay
cú, bỡn cợt, chua chát, buông thả với cuộc đời mà thức nhận được lẽ phải trái,
biết dừng bước, biết chấp nhận quy luật vô thường. Trái tim chị vẫn nồng ấm
tình người, tình đời và tình thơ. Thơ là cõi mộng mà cũng là người tri kỷ sẻ
chia nỗi tiếc xuân trong cõi trần gian nghiệt ngã này, như một cứu rỗi duy nhất
của chị.
Ta chỉ còn chút thơ thơ thôi
đó
Bể trầm châu đã nát ngọc tan
vàng
Ngày hệ luỵ gian nan đâu đã
hết
Đêm chong đèn ngồi tiếc mộng
xuân tan!
(Nói với thơ thơ)
Tuy
không phải không có những ngổn ngang rối bời:
Em về giữa gió mông lung
Câu thơ quặn thắt ra từng lời yêu.
Từ
bài Tự hoạ đầu tiên đến bài cuối cùng của tập thơ, không gò bó lắm
bởi thi luật, thể thơ, vần, nhịp, số câu số chữ khá linh hoạt tự do, song ấn tượng
sâu lắng Mênh mông chiều để lại là giọng
điệu ngậm ngùi giằng xé khắc khoải dường như cũng là giọng điệu chính của tiếng
thơ Lê Thị Ái
Niệm. Tâm thế buồn vẫn cố làm vui, trong
khổ đau trào nghẹn vẫn cợt cười số phận ấy cứ cắt cứa, khắc chạm vào lòng người đọc. Sự trợ
thủ đắc lực trong cách chọn lựa từ ngữ, hình ảnh ngỡ không trau
chuốt, cứ tự nhiên tuôn trào theo mạch cảm xúc nhưng lại điêu luyện lạ lùng, đã đóng vai chính tạo nên ấn tượng giằng xé
phân mảnh này. Trong mỗi bài thơ, mỗi dòng thơ đều rải rác có những hình ảnh,
những cặp động từ, tính từ, danh từ hợp nghĩa đi liền nhau thành những cặp đôi
đối lập, tạo ra nhiều nét nghĩa mới: cười-khóc,
đất-trời, vơi-đầy, đen-trắng, ấm-lạnh, thăng-trầm, vơi-đầy, hay cuối bãi - đầu ghềnh, gió cuốn - mây bay, chớp
bể-mưa nguồn, bể dâu-dâu bể…
Giọng điệu giằng xé ấy còn
thể hiện qua lời nhân vật trữ tình. Thử nhìn qua tần số xuất hiện những đại từ
nhân xưng này: Em (38), Ta (25), Tôi (8), Mình-Chúng mình (2), Cô-chị (2). Đi
theo dòng tự sự, trong cả tập thơ, tác giả vô tình hay hữu ý chỉ chọn ngôi thứ
nhất để bộc bạch, nhắn gửi nỗi niềm. Đại từ nhân xưng ‘ta” vốn mang một chút
ngang tàng tự tin kiêu bạc khí phách nam nhi và giọng điệu tự vỗ về khoả lấp
khoan dung nhưng thiên tính nữ vẫn đậm nét qua số lần xuất hiện nhiều nhất của
tiếng ‘em” dịu dàng đằm thắm. Ta, tôi,
hay em… vừa là phương tiện thể hiện
vừa là cách tự phân tích tâm trạng, phân tích những nếm trải của chính mình. Có
chút gì vừa kìm nén, vừa phản kháng; vừa cam chịu, vừa tự khẳng định mình…
Mênh mông chiều còn mang đặc trưng không gian đôi bờ yêu thương xứ Huế-xứ Quảng, một nơi chôn nhau cắt rốn và một nơi cưu mang ân tình của nhà thơ qua hệ thống hình ảnh núi và sông được dùng thật linh hoạt như những ám dụ tâm trạng được vận dụng nhuần nhuyễn tự nhiên trong hầu hết các dòng thơ. Cảm xúc yêu đương cứ tuôn trào dào dạt như “sông” (58 lượt), “biển” (23), “đại dương” (3). Và, cứ mơ hồ như “sương-khói” (25), thênh thang như “gió-mây” (29-15), thơ mộng như “trăng-sao” (26), vời vợi trong không gian bao la rộng lớn “đất trời-trời đất” (31)… khiến nỗi buồn của đá cũng mang chiều kích vũ trụ bao la đến bất tận và quạnh hiu cô độc đến vô cùng.
Và
cho dẫu cuộc đời có bao nhiêu mưa nắng nắng mưa dập vùi, bao nhiêu thua thiệt đắng
cay, tuyệt vọng, tâm hồn thơ Lê Thị Ái Niệm vẫn trong veo một “tin yêu tràn cuộc
sống”, “vẫn cháy bỏng nỗi đời”.
Mỗi ngày qua là cộng thêm
một ít
Muối trong hồn cứ mặn nữa
muối ơi!
(Khi anh đến)
Ôi những hạt ngọc kết tinh
từ biển cả, là sự hoà tan của cái Tôi cá nhân nhỏ bé trong cái Ta rộng lớn của
cõi người. Muối có thể hoà tan. Muối có thể tẩy uế những xấu xa dơ bẩn, chống
lại mọi sự hư hỏng tàn phá của thời gian vật chất và bảo vệ những gì đẹp đẽ
nhất, tinh tuý nhất của hồn người…
Thị Nghè,
Tháng 3.2019
Hoàng
Kim Oanh
[i] Jean Chevalier,
Alain Gheerbrant, 1997, Từ điển biểu tượng
văn hoá thế giới, Nxb Đà Nẵng & Trường Viết văn Nguyễn Du, tr. 268