1.
Thuở nhỏ, tôi cứ đinh ninh họ Phan nhà
tôi toàn là người bên lương, không có ai và không có nhà nào theo đạo Thiên
chúa. Đối với tôi, những người bên đạo rất xa lạ bởi không cùng tín ngưỡng thờ
cúng ông bà tổ tiên như mình, mặc dù làng tôi rất gần hai giáo xứ lớn của tổng
Trung Châu, phủ Diên Khánh xưa: Giáo xứ Đại Điền và giáo xứ Cây Vông.
Vậy mà, có đôi lần, cha tôi đã dẫn tôi
đi thăm những người (bà con) bên đạo ở làng Đại Điền Nam, thuộc xã Diên Sơn,
nơi tọa lạc nhà thờ Cây Vông. Tôi chỉ còn nhớ hai người. Một người là một phụ
nữ lớn tuổi mà cha tôi gọi là cô Ba (tôi gọi là bà Ba) và một người đàn ông cao
lớn, mặt rỗ mà cha tôi gọi là anh Tư (tôi gọi là bác Tư). Bác Tư là một viên
chức cảnh sát của chính quyền VNCH, mà hình như cha tôi đang có việc nhờ che
chở. Ở cả hai nhà, tôi chỉ nhớ mang máng là có bàn thờ chúa Jesus rất trang
trọng.
Tôi chỉ nhớ có vậy, không hề nghĩ là có
mối liên hệ gì giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con ấy. Tuổi còn nhỏ, chỉ
lo học và chơi nên tôi chẳng quan tâm hay hỏi cha tôi về mối quan hệ này.
Bẵng đi hàng chục năm, tôi cũng quên đi
những chuyến viếng thăm của hai cha con tôi thuở nào.
Mãi hơn hai mươi năm sau ngày thống
nhất, qua lời kể của cha tôi và những câu chuyện góp nhặt từ những người lớn
tuổi, tôi mới biết được mối liên hệ giữa họ Phan nhà tôi và những người bà con
bên đạo kia.
Họ vốn là những người cháu của bà cao tổ
(bà sơ) họ Phan nhà tôi, một tín đồ Thiên chúa giáo ngoan đạo.
2.
Ông bà cao cao tổ (trên ông bà sơ) chỉ
sinh hạ hai người con. Người con trai đầu là ông cao tổ (ông sơ) Phan Văn Huân.
Người con thứ hai là gái, mất sớm, không có chồng con.
Như vậy, ông sơ tôi là con trai duy nhất
của người đứng đầu chi nhất của họ Phan.
Có lẽ đó là vào những năm giữa thế kỷ
19, dưới triều Nguyễn.
Dưới thời nhà Nguyễn, việc cấm đạo Gia
tô (Thiên chúa giáo) bắt đầu từ thời vua Minh Mạng (1791 - 1841) với các chỉ dụ
cấm đạo năm 1833 và năm 1836 rất khốc liệt. Đến thời vua Tự Đức (1829 - 1883)
việc cấm đạo, diệt đạo càng khốc liệt hơn. Năm 1851, nhà vua tiếp tục ban hành
dụ cấm đạo trên cả nước, ngay trước mối nguy ngoại xâm của phương Tây.
Bà sơ tôi là con trong một gia đình theo
đạo Thiên chúa ở thôn Phú Ân Bắc, xã Diên Phú, phủ Diên Khánh. Trước sự truy nã
gắt gao và bức hại khốc liệt của triều đình, giáo xứ Đại Điền mới hình thành
không lâu hầu như bị xoá sổ: nhà nguyện bị đốt, người bị cột đá thả xuống sông,
nhiều người bị giết, trong đó có mẹ con bà Nguyễn Thị Phiên bị đập đầu bằng đá
đến chết rồi vùi lấp xuống cái giếng lạng ngay trong nhà thờ. Hiện nay trong
nhà thờ vẫn còn ngôi mộ ngay trên cái giếng lạng xưa nơi hai mẹ con bà tử đạo,
đã được xây dựng, có khắc bia đàng hoàng.
Bà sơ tôi là người sống cùng thời với bà
Nguyễn Thị Phiên. Để tránh sự bắt bớ, giết hại của quân lính triều đình, bà
phải trốn vào vùng Đại Điền, giáp với vùng núi Đại An. Chính tại nơi đây, bà đã
gặp ông sơ tôi. Và cũng chính gia đình ông sơ tôi đã cưu mang, che giấu bà sơ
tôi thoát khỏi sự truy đuổi của lính triều đình. Và, hai người, một lương một
giáo đã nên vợ nên chồng.
Cho đến tận bây giờ, tôi cũng vẫn không
hiểu được là tại sao, vào thời ấy, ông bà cao cao tổ nhà tôi lại có thể bao
dung, che chở cho một người con gái bên đạo đang bị truy cùng giết tận bởi
triều đình mà không sợ bị liên lụy và chấp thuận cho làm con dâu nhà họ Phan,
làm vợ người con trai duy nhất của mình? Mãi mãi, đó là câu hỏi không có câu
trả lời.
Cũng vì lấy vợ là một người có đạo mà
ông sơ tôi suýt bị truất mất vị trí đích tôn của chi nhất họ Phan và suýt mất
quyền thừa kế do âm mưu của những người đứng đầu của chi nhì đầy thế lực. May
mà nhờ một tay bà sơ chống chọi, “dẹp loạn” nên ông sơ tôi vẫn đường hoàng giữ
được từ đường hương hỏa của tổ tiên truyền lại từ mấy đời trước.
Tôi cũng nghe kể lại rằng, mỗi khi có
cúng giỗ trong nhà, trong họ, bà sơ đã chuẩn bị cho đáo hết mọi thứ, giao lại
cho ông tôi và con cái rồi lánh sang nhà hàng xóm chứ không ở nhà.
Bà đã sinh hạ cho ông sơ tôi tám người
con: ba người con trai và năm người con gái.
Bà sống đến 75 tuổi, tuổi thọ hiếm hoi vào
thời ấy.
3.
Trong khu mộ của gia tộc Phan (do cha
tôi cải táng và sau đó tôi cùng với mấy anh em tôi trùng tu), có gần đầy đủ mộ
của tổ tiên, từ ông sơ, ông bà cố, ông bà nội, ông ngoại tôi, bà cô tổ… Nhưng
tuyệt nhiên tôi không thấy có mộ của bà cao tổ.
Hỏi ra tôi mới biết là trước khi bà sơ
tôi mất thì bà có di nguyện để lại là muốn được trở về bên Chúa, nơi quê hương
bản quán, bên người thân của bà. Bà được an táng bà ở khu nghĩa trang của giáo
xứ.
Khi biết được điều này, tôi nảy sinh ý
định là phải đi tìm thăm mộ bà cao tổ.
4.
Trong ngôi nhà từ đường, nơi tôi sinh ra
và lớn lên có mấy đồ vật có từ nhiều đời trước, cứ ghi mãi trong ký ức tuổi thơ
tôi.
Thứ nhất là bộ hoành phi gồm ba bức treo
ở ba gian chính của ngôi nhà. Cả ba bức hoành viết bằng chữ Nho nên lúc đó tôi
không hiểu gì. Chỉ duy bức ở giữa thì tôi có nghe một ông khách đến chơi đã đọc
to lên khi đến thăm cha tôi và trầm trồ là chữ viết quá đẹp. Đó là ba chữ PHAN 潘 TỪ 祠 ĐƯỜNG 堂. Chính
bức này, sau đó đã bị một mảnh bom từ trên mái nhà xuyên thủng, rách bươm.
Cả ba bức hoành sau đó đã bị gỡ xuống
hết, phá bỏ hay đem đi đâu tôi không rõ.
Thứ hai là bộ ván ngựa kê ngay bên phải
gian thờ. Bộ ván ngựa dày hơn nửa tấc, gồm 4 tấm, kê trên hai “con ngựa” cũng
bằng gỗ. Bộ ván ngựa, chẳng có gì đặc biệt ngoài công dụng là chỗ ngủ, nghỉ
ngơi của người lớn. Chỉ có chi tiết này: nó rất “linh”, không được phép bất
kính. Nghe nói rằng chính ông bác ruột của tôi, trong một lần nằm ngủ đã bị
quăng xuống đất. Và, chính tôi, tôi chứ không phải ai khác, lúc còn nhỏ khoảng
bảy tám tuổi, trong một đêm cùng ngủ với cha tôi trên bộ ván ngựa này, cũng đã
bị té lăn xuống đất, đau điếng, khóc bù lu bù loa. May mà không việc gì. Cha
tôi phải dỗ dành mãi.
Thứ ba là những đồ tằm tang. Cho đến khi
hơn mười tuổi, tôi vẫn thấy bỏ ngồn ngang phía sau chái nhà. Ban đầu, tôi chẳng
biết là những vật này dùng để làm gì. Sau mới biết đó là những vật dụng cho
nghề nuôi tằm, dệt vải. Nghề này của nhà họ Phan có từ bao giờ? Có mối liên hệ
gì với bà sơ tôi không?
Cuối cùng là một cái rương gỗ to lớn,
cao đến ngang ngực tôi, chiều dài khoảng mét rưỡi, rộng khoảng sáu tấc, màu xam
xám, có bốn bánh xe bằng gỗ, cái khoá sắt rất lạ và chắc chắn. Đây là một cái
rương đựng đồ đạc, của cải của những nhà có “của ăn của để” thời xưa. Chính cái
rương này là nơi ông sơ đã giấu bà sơ tôi mỗi khi lính triều đình đi lùng sục
bắt người có đạo.
Cái rương này cho đến bây giờ vẫn còn
nhưng đã được di chuyển đến một nơi khác, không còn ở vị trí trang trọng như
trước.
5.
Trời đã về chiều.
Nắng vẫn còn rát mặt.
Sau khi về thăm nhà từ đường thắp nhang
cho tổ tiên, tôi đến thẳng nhà thờ Đại Điền.
Nhà thờ vắng vẻ vì là ngày thường. Tiếp
tôi là vị linh mục của giáo xứ. Tôi lên tiếng chào hỏi và nói mục đích chuyến
viếng thăm của mình:
- Thưa cha, con muốn thăm mộ của bà cao
tổ nhà con. Bà là người Thiên chúa giáo, mất cách đã lâu, có thể đã trên trăm
năm rồi ạ.
Ông nhìn tôi dò xét rồi hỏi:
- Mộ bà chôn ở đâu?
Tôi mạnh dạn trả lời:
- Dạ, thưa cha, con nghe nói ở ngay phía
sau nhà thờ này ạ!
Ông hơi xẵng giọng:
- Không có mồ mả gì trong nhà thờ này
hết!
Tôi hơi bất ngờ về thái độ của vị linh
mục nhưng vẫn nhã nhặn hỏi lại:
- Thưa cha, có thực là không có ngôi mộ
nào trong khuôn viên nhà thờ này ạ?
Ông trả lời ngay:
- Không có. Anh không tin tôi sao?
Ngưng một lúc, ông nói thêm, giọng có vẻ
bực tức:
- Nếu anh muốn tìm mồ mả thì hãy tới
nghĩa trang công giáo phía sau nhà thờ một quãng.
Ông đứng lên, có vẻ như không muốn tiếp
vị khách bất đắc dĩ, đến làm phiền mình không phải lúc.
Tôi lễ phép cám ơn vị linh mục và chạy
xe ra khỏi cổng, theo con đường bên hông nhà thờ, tìm nghĩa trang công giáo.
Thì ra nghĩa trang chỉ cách nhà thờ một
quãng ngắn.
Nghĩa trang không lớn, có vẻ như mới tạo
lập khoảng vài chục năm trở lại. Cỏ dại mọc đầy, có vẻ ít được chăm sóc.
Tôi hầu như bỏ cả thời gian còn lại của
buổi chiều để tìm mộ bà cao tổ. Tôi đã đọc những tấm bia của hầu hết các ngôi
mộ cũ mới, lớn nhỏ, mộ chung hay riêng… trong nghĩa trang mà không hề có tấm
bia nào mang tên bà NGUYỄN THỊ HUỆ, nhũ danh của bà cao tổ nhà tôi, mất vào
khoảng những năm đầu thế kỷ hai mươi.
Trong khuôn viên nhà thờ không có.
Ở nghĩa trang công giáo không có.
Vậy thì mộ của bà sơ tôi ở đâu?
Tôi cảm thấy hơi thất vọng.
6.
Có tiếng điện thoại reo. Tôi bắt máy.
Đó là cuộc điện thoại của đứa em, con
ông chú họ, cùng chung ông cố với tôi.
- Anh Hai ơi, em Thuận con chú Năm Hoà
đây.
- Thuận hả? Lâu quá không gặp em. Có
việc gì không em?
- Em báo cho anh Hai tin này: Đứa em gái
út của em lấy chồng theo đạo ở Diên Phú. Vừa rồi nó gọi cho em nói rằng nhà thờ
Đại Điền đang chuẩn bị cải táng mồ mả phía sau nhà thờ để xây dựng nghĩa đường
gì đó. Nghe nói rằng họ Phan mình có một ngôi mộ của bà tổ cao đời. Họ yêu cầu
phải cải táng để đưa vô nghĩa đường. Anh về gấp để coi sự thể ra sao nhà anh.
Em bận lắm, không đi cùng với anh Hai được.
- Cám ơn em đã báo tin. Anh sẽ thu xếp
về ngay.
Tôi rất mừng khi biết tin này.
Sáng hôm sau, tôi vội vàng về quê và đến
ngay nhà thờ.
Tôi vào thẳng khu nhà khách và gặp ngay
người phụ trách công việc của họ đạo đang ngồi ghi chép gì đó, chứ không phải
vị cha xứ hôm trước. Tôi chào hỏi và biết được chú tên Thiền và là người quản
lý công việc họ đạo. Ông rất niềm nở khi biết được mục đích của tôi. Ông đưa
tôi ra khu đất phía sau nhà thờ rồi nói:
- Chỉ còn vài ngôi mộ ở đây. Anh ra xem,
tìm ngôi mộ của bà và chuẩn bị cho công việc cải táng. Khu này sẽ xây dựng một
nghĩa đường cho toàn giáo xứ và cho những gia đình nào có nhu cầu đưa tro cốt
người thân đã mất của mình về yên nghỉ ở đây, bên Chúa.
Tôi cám ơn ông rồi bước ra khu mộ.
Quả thật, cả khu đất chỉ còn lại hai ba
ngôi mộ, trong đó có ngôi mộ của bà cao tổ nhà tôi.
Ngôi mộ không có hình thù gì. Chỉ là mặt
đất phẳng, cỏ mọc lưa thưa, trên có đặt một tấm bia đá màu vàng nhạt, cỡ 40 x
60 cm. Trên tấm bia ghi tên thánh MARIA và tên người mất là NGUYỄN THỊ CÚC!
Tôi bất giác hoang mang. Trong gia phả,
tên của bà sơ tôi là NGUYỄN THỊ HUỆ. Sao tên trên tấm bia này lại là một tên
khác. Sực nhớ lại, lúc nhỏ, cha tôi có lần nói ông phải xin một người không đặt
tên CÚC cho con gái của họ vì đó là tên của bà cố (tức là bà sơ tôi). Tôi nhìn
xuống các hàng dưới ghi quê quán, ngày mất theo âm lịch, (không có ngày sinh và
năm sinh, năm mất), tuổi thọ và dòng cuối cùng: “Phan tộc đồng phụng lập” và
khẳng định: Chính xác đây là mộ của bà sơ nhà tôi!
Thì ra, bà tôi ngoài tên thánh MARIA, bà
có hai tên là NGUYỄN THỊ HUỆ và NGUYỄN THỊ CÚC, đều là tên hai loài hoa đẹp và
ý nghĩa.
Tôi cũng có nghe kể lại rằng: họ Phan
cũng đã có lần định cải táng mộ bà nhưng các ông em của ông nội tôi (nội tổ
thúc) không dám tiến hành, chẳng hiểu vì sao.
Sau khi thăm mộ xong, tôi vào bàn với
ông Thiền về việc cải táng bà tôi để đưa bà vô nghĩa đường.
Tôi báo cho người chú họ, đại diện cho
họ Phan, chọn ngày giờ tốt để về nhà từ đường thắp nhang, xin phép tổ tiên cho
chúng tôi được phép đưa bà về nơi an nghỉ mới.
Mọi công việc đều tiến hành thuận đối
với anh em tôi, cho đến khi bà tôi được an vị nơi nghĩa đường vừa được xây dựng
rất đẹp và trang trọng ở khu vực phía sau nhà thờ, nơi khu mộ cũ, trong một
thánh lễ hết sức trang nghiêm và xúc động.
Tôi cũng không có ý định tìm gặp vị linh
mục mà tôi đã gặp lần trước, khi tôi về nhà thờ để tìm mộ bà tôi.
Vợ chồng tôi, khi về quê vào dịp Tết mỗi
năm, vẫn viếng thăm nơi an nghỉ của bà, cầu nguyện cho linh hồn bà mãi mãi bên
Chúa và phù hộ cho con cháu họ Phan.
7.
Một buổi trưa, trong giấc ngủ chập chờn,
tôi có một giấc mơ kỳ lạ.
Một người phụ nữ đã già, mặc một bộ đồ trắng,
khuôn mặt phúc hậu, tay cầm thánh giá màu đen, nói với tôi bằng một giọng ôn
tồn:
- Ta là bà sơ của con. Cám ơn con đã đưa
ta về yên nghỉ nơi ngôi nhà của Chúa một cách đàng hoàng trong một thánh lễ
trang trọng của giáo xứ. Cháu yêu của ta, cháu là đích tôn của chi trưởng họ
Phan. Ta đã bỏ ra cả một đời để cố giữ cho được mồ mả tổ tiên, mảnh đất hương
hỏa, từ đường của dòng họ thì con phải có trách nhiệm giữ gìn để dòng họ Phan
vẫn giữ được gốc tích, không để rơi vào tay người ngoại tộc. Ta nghe có người
còn mưu toan dời mồ mả tổ tiên, hạ giải nhà từ đường, phân chia đất đai hương
hỏa làm của riêng. Họ không biết làm như vậy là có tội lớn với vong linh tiên
tổ hay sao?
Tôi định cất tiếng trả lời thì bất giác
giật mình tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa, bên tai vẫn văng vẳng lời dặn dò của bà cao
tổ.
NP phan