Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

935 . NGUYỄN THỊ HOÀNG BẮC - viết về Thầy THẠCH TRUNG GIẢ


 

THẠCH TRUNG GIÃ

Tôi muốn mượn tên thầy để trang trọng đặt tựa đề này cho bài viết. Tôi muốn dùng những dòng chữ này để tưởng niệm một người thầy đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất, nỗi xúc động sâu xa nhất, và lòng thương nhớ lâu bền nhất trong quãng đời đi học của tôi. Dù ngày nay thầy không còn trên quãng đời này nữa...

Tôi vốn không phải là học sinh ròng của Võ Tánh. Vốn dốt Toán, thi vào Võ Tánh hai lần không đậu, tôi học ở Bồ Đề, và sau đó Lê Quý Đôn.

Nhưng tôi có duyên được học với những thầy giáo dạy Việt Văn tiếng tăm nhất thời đó ở Nhatrang. Bồ Đề với thầy Võ Dự, đệ thất, sau đó, thầy Võ Hồng, đệ lục, và ở Lê Quí Đôn, đệ ngũ với thầy Thạch Trung Giã, và kể từ đó, đệ tứ,đệ tam, đệ nhị Võ Tánh đều vẫn học với thầy Giả. Trong một bài phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í đăng ở Bách Khoa trước 75, nhà thơ Sao Trên Rừng, tức là anh học trò Võ Tánh Nguyễn Đức Sơn có đoạn trả lời: “... Ở Nha Trang tôi đã có những giờ học kỳ thú với giáo sư Thạch Trung Giã.” Tôi cho là chữ “kỳ thú”của anh Sơn dùng đã chính xác nhất để nói về những giờ học của thầy. Tôi cũng thế, là đàn em lớp sau của anh Sơn, tôi đã có những giờ học kỳ thú và khó quên với thầy Thạch Trung Giả.

Trường Lê Quí Đôn lúc ấy chỉ là một dãy nhà tôn lụp xụp, cất vội vã để đón đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 54, sau khi mọi người đã được định cư, cơ sở được sử dụng làm trường. Những buổi chiều, mặt trời sắp ngả bóng chiếu những tia nắng quái vàng rực chiếu lên mấy dãy nhà tôn, nhà lá, xóm bãi cát bên kia hàng rào, tôi ngồi ở gần của sổ lớp ngó ra, nghe các bạn trong lớp ồn ào, “kia kìa, coi bắc kỳ di cư thui thịt chó kìa…(!)”, tôi nhìn, nghe, nhưng chẳng thấy gì. Đầu óc mãi còn váng vất, ngây ngất, choáng váng vì bài giảng “Chiếc thuyền lơ lửng bên sông” của thầy về Nguyễn Trãi. Mãi về sau lâu lắm, với kinh nghiệm đi học và dạy học, tôi vẫn đồ chừng, có lẽ chưa có ai thấm thía nỗi cô đơn, và giảng được nỗi cô đơn bằng thầy Thạch Trung Giã. Mười lăm tuổi, chưa mường tượng được hết nỗi cô đơn của một kiếp người, nhưng tôi đã thực sự xúc động. Tôi ngây ngất nhìn nắng quái bên kia rào, và rồi hình ảnh của một chiếc thuyền, một ông lái, và phải chăng, một kiếp người cô đơn ám ảnh…Tôi bắt đầu làm thơ, bài thơ đầu tiên của tôi về một chiếc thuyền:

“như chiếc thuyền trôi lạc bến bờ

tôi tìm an ủi ở vần thơ

tôi nghe gió lộng trong thơ ấy

và sống thần tiên những phút mơ...”

Bài thơ lúc đó, được ký tên là Lam Kiều, và đăng trong tập báo Tết đặc biệt của Tam C Võ Tánh năm học 1959, năm thầy Phạm Quang Linh dạy Anh văn làm giáo sư hướng dẫn,thầy Thạch Trung Giã dạy Việt Văn, thầy Cung Giũ Nguyên dạy Pháp văn... Tôi nói đặc biệt vì tờ báo của lớp chúng tôi lúc ấy không trình bày như một tờ báo tường mà chúng tôi bỏ công làm dưới dạng tạp chí, tập san đàng hoảng, đóng thành tập, tất cả làm bằng tay, và dĩ nhiên chỉ có một bản duy nhất, độc bản!

Có hình bìa trước, bìa sau, do các “chú điệu” đang tu học tại chùa Phật học Nha Trang là Nguyễn Hữu Lợi (bây giờ là nhà nghiên cứu và dịch thuật Phật giáo Hạnh Cơ), Nguyễn Huệ Khai...rồng bay phượng múa viết chữ Hán bằng bút lông đen trên nền vàng bài thơ thiền “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Tiền đình tạc dạ nhất chi mai”, với toàn tập là công trình viết tay của biên tập viên Nguyễn Hữu Đàm nắn nót!

Bao nhiêu là nước đã chảy qua cầu...

Bây giờ thỉnh thoảng làm thơ, nhưng dẫu sao bài thơ vụng dại nhưng thơ mộng chân tình nhất về một chiếc thuyền gợi lên từ trong những giờ học Văn với thầy Thạch Trung Giã vẫn là bài thơ khó quên nhất của tôi.

Có một chuyện vui vui nhưng đã làm điên đảo tôi thuở ấy, một đứa học trò nhỏ, mười lăm tuổi, nhút nhát, ít bạn bè, ít nói (chứ không phải lắm lời và lắm bạn như tôi tùm lum hiện nay!!!) Một buổi chiều ở lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn, những bạn nào cùng học với tôi có thể cũng còn nhớ, anh trưởng lớp bảo mọi người ở lại để họp lớp, trưởng lớp tên là LMT, tôi nhắc lại để biết việc đó mấy chục năm sau vẫn như còn hiển hiện trước mắt. Cả lớp họp để tố cáo và làm kiến nghị gửi lên thầy hiệu trưởng Cung Giũ Nguyên là thầy Thạch Trung Giã không biết dạy Văn và một tội trạng nữa của thầy là đã quá thiên vị Hoàng Bắc, nghĩa là bất công với cả lớp… Chuyện kiến nghị của bọn trẻ con cũng là một hình thức tập tành dân chủ, rất tiến bộ của tinh thần học sinh miền nam thời ấy, nhưng lúc đó, đã làm tôi sợ điếng hồn, mất ăn mất ngủ suốt cả tuần, cả tháng, thậm chí thấy ai trong lớp cũng sợ, gặp mặt trưởng lớp chỉ muốn lủi trốn. Tôi lại còn đau lòng, và khóc, và lo lắng cho cả thầy nữa! Có lẽ thuở ấy nhìn bọn nhóc làm dân chủ không chừng thầy còn thấy vui vui nữa là khác. Vậy mà tôi hốc hác vì lo cho thầy! Nhưng chỉ là lo lấy một mình mà thôi,tôi nào có biết ăn nói thế nào để gọi là bày tỏ hay chia sẻ gì với thầy đâu!

Tôi sau đó được đổi trường, từ trường Bán công chuyển thẳng vào Đệ Tam C trường Công lập Võ Tánh, một môi trường mới, lại được học lại với thầy. Lúc xếp hàng chờ vào lớp, thấy thầy đang đứng chờ ở cửa, lòng tôi mở rộng reo vui! Chương trình Tam Giáo ở Tam C với thầy, tôi bắt đầu hiểu đạo Phật, theo thầy, ngoài việc là một tôn giáo, còn là một triết lý sống, một khơi nguồn cho những cảm hứng vô biên cho hai nền văn học Lý Trần vĩ đại của văn học Việt. Sau đó là Nhị C Võ Tánh, không hiểu sao thầy Giã thôi không dạy chúng tôi một dạo, và thay vào đó, thầy Nguyễn Tri Tài. (Sau này tôi gặp lại thầy khi học Dự Bị ở Văn Khoa Saigon, thầy Tài dạy Triết ở Dự Bị.) Nhưng tôi chỉ thích học với thầy Giã thôi, tất nhiên, bằng cảm tính, tôi không thích thầy Tài. Cũng là chuyện trẻ con thời ấy, tôi và bạn thân học cùng lớp Lan Xuân, đã “sáng tác chung” một bài thơ... giễu thầy, ngay tại bãi biển Nhatrang, trong lúc hai đứa chúng tôi đi tắm biển:

“nhatrang có Tri Tài

cứng cứng lại dai dai

cái chân hình như... cụt

khi nói miệng đến tai!”

Xin lỗi thầy Tài, nếu vô phước thầy đọc phải những dòng này! Chúng tôi cố phác họa hình ảnh thầy đứng trên bục giảng như chúng tôi thấy: khi giảng bài, thầy luôn luôn đứng sau bàn giáo sư, hai tay chống trên bàn, một chân đứng thẳng, một chân đu đưa, và miệng thì nói liên tục, rồi lâu lâu thầy ngừng hơi, chép miệng, nuốt nước miếng, rồi như nhai nhai cái gì đó trong miệng. Và quả tình khi thầy cười thì miệng rộng... vô song. Nếu thầy có vô phước mà đọc phải những dòng này thì cũng xin thầy rộng lượng tha thứ cho những trò đùa nghịch ngợm của bọn con nít học trò.

Thương thầy Giã nhiều quá, tôi đâm ra “bất công” với những thầy/cô khác cũng là chuyện thường tình. Và cũng có thể, thương tôi nhiều quá, thầy đã có thể bất công với nhiều bạn khác của lớp Đệ Tứ Lê Quí Đôn thời đó. Tôi nhớ thầy nói oang oang trước lớp, “…bảo tôi bênh Hoàng Bắc cũng như trách Khổng tử sao lại bênh Nhan Hồi, Socrates bênh Platon v.v…” Thầy nói chi mà cao xa với một lũ trẻ chỉ 13, 15 tuổi!?

Số phận lại đưa đẩy tôi lại học Sư Phạm ở Saigon rồi trở về Nhatrang làm cô giáo dạy Văn, cũng ở Võ Tánh như thầy. Thuở đó có lệ ở Đại Học Sư Phạm Saigon, sinh viên ra trường được nêu 3 nhiệm sở ưu tiên của mình, tất nhiên là tôi chọn Nhatrang ưu tiên một. Ai cũng biết Nhatrang là nhiệm sở dành cho các bạn ở Đại Học Sư Phạm Huế, không mấy hy vọng cho tôi, nhưng tôi tha thiết với Nhatrang nên cứ ghi vào. Tất nhiên là không được! Nhiệm sở đầu tiên của tôi cũng là một tỉnh miền Trung như yêu cầu nguyện vọng thứ hai, rất gần Saigon, đó là trường Phan Bội Châu Phan Thiết. Cũng là nơi tập tành dạy dỗ đầu đời của mình, với những kinh nghiệm thơ ngây và non nớt. Nhiệm sở thứ hai là hoàn đổi với 1 đồng nghiệp về TH Diên Khánh và cuối cùng là Võ Tánh, là nhiệm sở cuối cho đến 1975 nó đổi tên thành Lý Tự Trọng. Tôi dạy gọi là lưu dung ở đó gần hai năm, rồi vượt biên bị bắt, và tất nhiên bị sa thải v.v…

Sau một chuyến vượt biển cuối thành công, tôi đến Mỹ, và sau đó tình cờ gặp thầy Từ Mẫn tức là ông Võ Thắng Tiết, người chủ trương Nhà Xuất Bản Lá Bối,Saigon và sau này NXB Văn Nghệ ở California,ông Tiết cho biết thầy Thạch Trung Giã đang giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh Saigon thì xảy ra biến cố 75, thầy đã tự vẫn bằng độc dược…Tôi đã sững sờ thương tiếc…

Ở Mỹ, tôi đã hai lần đăng báo tìm kiếm các con của thầy, hy vọng nối lại chút liên lạc với gia đình thầy, nếu được đến thắp nén hương bái biết lần cuối với thầy…nhưng mãi vẫn chưa có tăm hơi. Tôi nhớ tên thật của thầy là Hoàng Ngọc Lộc, và tên cậu con trai lớn của thầy là Hoàng Sơn Mộc. Sơn Mộc ở đâu, xin liên lạc với người học trò cũ của thầy, vì không lẽ, gặp nhau chỉ một lần trong đời rồi không bao giờ còn cơ hội gặp lại để nói lời bái biệt tạ ơn THẦY một lần hay sao?

Tôi vẫn không quên đã học hỏi được sự nhiệt tình, say mê, và lối giảng dạy như đang trò chuyện với học sinh của thầy. Tôi đã có được những giờ học như là với một người bạn lớn tuổi có cùng niềm say mê văn chương to lớn và muốn chia sẻ hạnh phúc này với những người bạn nhỏ tuổi hơn của mình. Trong những giờ học của thầy, tôi tưởng thầy đang “rút ruột” ra để truyền“bí kíp văn chương” cho chúng tôi hơn là đang giảng dạy cho học sinh. Có lẽ lối giảng của thầy không đúng với cái gọi là “phương pháp sư phạm” theo cái nghĩa chật hẹp cứng nhắc nhất của nó, như tôi đã được học sau đó, và có lẽ lối dạy của thầy thích hợp với cách dạy sinh viên ở đại học hơnlà áp dụng cho học sinh ở trung học. Nhưng những ai sớm biết say mê văn chương học thuật, nếu có cơ duyên được học với thầy, những giờ học kỳ thú với thầy sẽ là niềm khơi dậy, sự đánh thức nỗi say mê văn chương đang tiềm ẩn trong mỗi con người. Chẳng trách những người học trò xuất sắc môn Văn ở trung học của thầy sau này đã trở thành những văn nhân, thi sĩ tiếng tăm.Những tên tuổi Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng... tất cả đều đã từng là môn đệ một thời của Thạch Trung Giã

Có nhiều kỷ niệm vui buồn với nhiều học sinh của tôi. Có biết bao thế hệ học sinh đã học Văn với tôi trong khoảng thời gian hơn 10 năm đi dạy học? Có bao nhiêu học sinh đã thương yêu tôi như tôi đã đặc biệt thương quý thầy Thạch Trung Giã? Chắc là không bao nhiêu, may ra, có thể có vài em đã rắn mắt làm thơ giễu tôi, như tôi đã từng làm thơ giễu thầy Tài… Nếu có nghe được, biết được, tôi cũng chỉ cười thôi, vì tuổi trẻ làm gì cũng đáng yêu và đáng được tha thứ. Thậm chí, lắm khi ôn lại cuộc đời đi dạy của mình, dù là vô tình hay cố ý, tôi cũng đã phạm nhiều sai lầm đối với các em học sinh của tôi. Mong tất cả các em, nếu có thể, tha lỗi cho tôi. Cuộc đời đi dạy của tôi không cách gì có thể so sánh được với cuộc đời đi dạy của thầy Thạch Trung Giã, nếu tôi dám mạo muội so sánh! Nhiều lắm thì cũng chỉ là như “con giun ngước lên trời, yêu trăng xa vời vợi…” (Phạm Duy)

Hôm nay tôi đang nhớ Thầy. Những buổi chiều vàng Nhatrang. Và nắng quái.

Virginia, tháng 6 năm 2022