TIẾNG ĐÀN BẢY TRẠCH
Khi
tôi bắt đầu bước vào nghề cẩn ốc xa cừ trên các loại nhạc cụ dân tộc, Chinh, người thợ cẩn lành
nghề từ Bình Dương dẫn
tôi đi khắp các cơ sở sản xuất liên quan đến cây đàn: nơi làm đàn mộc, nơi bán nguyên liệu trai
– ốc, nơi cung cấp keo Hải Thuyền (loại keo không bong tróc khi gặp nước và bền
với mọi thời tiết), nơi tách nét trên ốc, nơi đánh bóng đàn, và cả nơi làm hộp
nhung đựng đàn. Nhưng ấn tượng nhất vẫn là xưởng đàn mộc.
Có
vài nơi Chinh đưa tôi đến: có nơi là trại mộc lớn, máy móc đủ loại, thợ năm bảy
người; có nơi chỉ ba cha con với cái máy cưa tự ráp. Nhưng tôi có cảm tình nhất
với một cơ sở nằm khá xa thành phố, trong con hẻm sâu ở bến Phạm Thế Hiển, quận
8. Chủ cơ sở là bác Năm, người đậm thấp, mặt phúc hậu, nói chuyện hòa nhã. Con
trai bác tên Long, chừng chưa tới ba mươi, cường tráng, là thợ chính chuyên cưa
xẻ gỗ, am tường công năng và đặc điểm các loại danh mộc làm đàn. Long vui vẻ,
nói chuyện rành rẽ, giải thích từng loại đàn được sản xuất.
Đàn ở đây không đợi có người đặt mới
làm, mà xuất xưởng
hàng loạt từng loại đàn khoảng vài ba chục cây, rôi bắt tay sản xuất loại đàn
khác, thí dụ làm xong ba chục cây đàn Tranh, thì làm ba chục cây đàn Bầu, rồi
ba chục cây đàn Tỳ Bà…Bác Năm nói, làm như vậy, làm như vậy có hàng tích trữ,
khách cần gì cũng có ngay, mà đàn để càng lâu, càng lên nước, gỗ khô dày nên âm
đậm sâu hơn. Xoay qua xoay lại chỉ chừng
5, hay 6 loại thông thường như Tranh, Bầu, Sến,Tỳ Bà, Nguyệt, Tứ và Song Lang
còn các loại khác đàn Nhị, đàn Tam, đàn Đáy, đàn Cò..thì có khi làm ra ba mươi
cái bản cả hai ba năm chưa hết vì ít người dùng.
Người
đến mua đàn như tôi là loại “cò con”: mỗi lần tới lấy bốn cây, đem về cẩn cả
tháng mới quay lại. Nhưng cũng có những cơ sở cẩn ốc lớn, đông thợ, mỗi lần mua
cả chục cây. Vì mua ít nên tháng nào tôi cũng ghé vài lần, thành quen. Có khi
tới chơi, chờ Long làm nốt vài công đoạn cuối, bác Năm kêu tôi vào ngồi đánh cờ
tướng hoặc ăn cơm với gia đình. Thân tình như ruột thịt.
Hôm
đó tôi tới sớm vì cần mua hai cây đàn lạ theo khách đặt. Lạ vì thường người ta
đặt Tranh, Sến, Tỳ Bà, còn lần này khách nước ngoài lại đặt đàn Đáy, loại đàn tôi chỉ
mới nghe tên, chưa thực tế bao giờ . Không biết bác Năm có sẵn hay phải chờ.
Thật
vui, bác Năm nói còn hai cây nhưng thiếu phụ tùng, phải đợi Long làm thêm. Bác
kêu tôi ra phía hiên sau nhà, nơi có cái sàn gỗ nhìn ra bờ ao và cái võng đong đưa.
Đúng
lúc đó, một cụ ông râu tóc bạc phơ, mặc bộ bà ba trắng, đạp xe tới. Bác Năm
nhìn ra, vồn vã: Úy
trời, anh Bảy lâu ngày mới ghé. Mời anh vô chơi, có chuyện gì không?
Ông
cụ cười khà khà: Ừa,
có chuyện mới tới.
Tôi
kính trọng chào. Bác Năm giới thiệu: “Đây là bác Bảy Trạch, nghệ sĩ cổ nhạc lâu
năm, cũng là người làm nghề cẩn đàn. Còn chú em đây có lò cẩn ở Tân Quy.”
Bác
Bảy vỗ vai tôi rồi quay qua bác Năm: — Tui muốn lấy một cây đàn Đáy, còn không?
Bác
Năm ngần ngại: Còn hai cây mà thằng em
này mới lấy. Chắc anh Bảy phải chờ vài bữa.
- Không sao. Dầu có sẵn cũng phải làm lại. Khách này đặc
biệt, đòi mặt đàn là gổ Ngô Đồng và thân đàn phải bằng gỗ Cẩm Lai. Gỗ có sẵn không? Chờ mấy bữa cũng được.
Bác
Năm cười: Có sẵn. Long làm ngay thì năm
bữa là có. Bữa nay anh ghé thì ngồi lại uống ly rượu giải nghễ, sẵn có con cá lóc
nướng trui và thằng em này nữa.
Bác
Bảy gật đầu: Ngồi
chiều mát rồi về, trời nắng quá.
Bác
nắm tay tôi, dắt ra sau hè, dáng vẻ quen thuộc như người đã đến đây nhiều lần.
Bác hỏi:
- Chú em lấy đàn Đáy về cẩn hả?
- Dạ, lần đầu con cẩn loại đàn này.
- Vậy ha. Người đặt chắc dân miền Bắc?
- Dạ không, miền
Trung. Sao bác hỏi vậy?
- Đàn Đáy là nhạc cụ cổ truyền nhưng thường dùng cho các
điệu hát Bắc Bộ như Chèo, Hát nói, Ca trù. Miền Trung, miền Nam ít dùng.
-Vậy
miền Nam không ai dùng đàn Đáy sao bác?
- Có chớ, nhưng ít lắm. Tiếng đàn Đáy trầm, mạnh, dứt khoát,
ít độ rung, không hợp với lối luyến láy mềm mại của Nam Bình, Nam Ai, Văn Thiên
Tường.
Tôi
kêu lên: Trời ơi, hay quá. Bữa nay con gặp kỳ nhân cổ nhạc rồi.
Bác
Bảy cười lớn: Bây nói gì cao siêu vậy, Qua chỉ nói chuyện bình dân ai trong nghề
cũng biết.
Bác
Năm dọn chén đũa, cá nướng trui lên sạp, rót rượu mời: Bữa nay chú em gặp may. Anh Bảy đây là tay
thiện dụng đàn Đáy đó giờ. Lát nữa hứng lên không chừng chú em được nghe vài
bài.
Bác
Bảy nhẹ nhàng: Đờn mà có người muốn nghe cũng vui.
Một
lát sau, có tiếng chào ngoài trước. Bác Năm reo lớn: Chu cha, lâu ngày gặp lại Tư. Còn lịch sự hơn
xưa nghen.
Người
phụ nữ bước ra, chào mọi người. Bác Năm giới thiệu: Đây là nghệ sĩ Thùy Hương,
gần bốn mươi năm trước là đào chánh đoàn hát… nay về hưu ở Long An. Hồi đó bác cũng làm nhạc công cho đoàn hát đó.
Tôi
lễ phép: Con chào cô. Xưa đọc báo con có
thấy tên cô.
Cô
cười hiền. Bác Bảy nói: Chú em đây làm
nghề cẩn ốc, đang hỏi chuyện cổ nhạc, muốn hiểu thêm về đàn Đáy.
Cô
Thùy Hương vui vẻ: Vậy là gặp thầy rồi. Anh Bảy Trạch đây là danh thủ đàn Đáy
hiếm có ở Nam Bộ.
Bác
Năm đem cây đàn Đáy còn lại ra, gắn dây, đưa bác Bảy. Bác lên dây, thử vài nốt
rồi trầm ngâm.
Đàn
Đáy có cần dài cả
thước, thùng đàn nhỏ, ngang hơn ba tấc, dài năm tấc, ba dây (xưa bằng tơ, nay
bằng nylon). Phím tre, khoảng cách không đều. Đặc biệt đàn không có đáy, chỉ có
mặt đàn và bốn vách.
Bác
Bảy nói: đàn Đáy không có điệu riêng để độc tấu. Nó hòa với đàn Sến, đàn Bầu và
song lang, dẫn lời cho giọng ca. Sẵn dịp gặp nhau, thôi anh Năm lấy cây Sến ra,
Tư Hương ca cho chú em nghe.
Tôi
nâng ly cảm tạ rồi ngồi ra ngoài sạp.
Cô
Hương hỏi: Ca bài gì anh Bảy?
Bác
gảy vài nốt: Ca Võ Đông Sơ -
Bạch Thu Hà
đi. À chú em biết Võ Đông Sơ này là ai không?
Tôi
ú ớ. Bác giảng Võ
Đông Sơn mới đúng. Con của Phò Mã Võ Tánh. Chuyện tình với Bạch Thu Hà được soạn giả
Viễn Châu viết lại thành vở cải lương đó. Bài này có đủ các làn điệu Nam Bộ:
Văn Thiên Tường, Nam Ai, Nam Bình, Khốc Hoàng Thiên…
Cô
Hương ngồi ngẩn người một chút như đang nhớ bài, rồi gật đầu. Bác Bảy Trạch đưa tay vuốt
nhẹ lên cần đàn dài, như người chạm vào một vật quen thuộc đã gắn bó cả đời.
Ngón cái và ngón trỏ của bác kẹp lấy miếng gảy nhỏ, rồi bác rải một đường đầu
tiên xuống ba sợi dây. Âm thanh bật ra không giống bất kỳ
loại đàn nào tôi từng nghe. Nó không
ngân dài, không luyến láy, mà đập vào tai một cách chắc nịch,
như tiếng gỗ khô va vào nhau, nhưng lại có một độ trầm sâu khiến người nghe
thấy như âm thanh phát ra từ lòng đất. Mỗi dây một sắc: dây hàng thì đục và
mạnh, dây trung thì ấm mà gằn nhẹ, dây liễu thì sáng hơn chút nhưng vẫn giữ cái
chất trầm đặc trưng.
Bác
rải thêm một lượt nữa, lần này ngón tay trái của bác bấm xuống các phím tre cao
thấp không đều. Tiếng đàn đổi sắc ngay lập tức, âm thanh gằn lại, rồi bật lên, rồi chùng xuống, như hơi
thở của một người đang kể chuyện bằng tiếng đàn chứ không bằng lời. Mỗi nốt bác
gảy đều dứt khoát, không dư, không thiếu, nghe như tiếng chân người lính đi
trên nền đất cứng, từng bước một, không lạc nhịp.
Rồi
bác bất ngờ gõ nhẹ vào mặt đàn. Tiếng gõ khô, vang, hòa vào tiếng dây tạo thành
một nhịp lạ lùng, vừa
như tiếng trống nhỏ, vừa như tiếng gió đập vào vách gỗ. Cả không gian sau hè
như khựng lại. Tôi thấy rõ từng sợi dây rung lên, nhưng cái rung ấy không mềm
mại như đàn Tranh hay đàn Sến, mà rung
ngắn, gọn, mạnh, giống như người đàn đang nén cả sức lực vào
từng nhịp. Cô Hương cất giọng
cao vút:
“Trời ơi, bởi sa cơ giữa chiến trường
thọ tiễn, nên Võ Đông Sơn đành chia tay vĩnh viễn… Bạch Thu Hà.. Bạn tình ơi đừng mòn mỏi đợi chờ, hãy gọi tên anh giữa
những chiều sương lạnh khi cánh nhạn bay về cuối nẻo trời xa.”
Tiếng
đàn chuyển nhịp lơi, nhẹ nhàng. Đàn Sến rung nhịp ba cho điệu Nam Ai:
“Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi… Đường dài mịt mù em không
đến nơi…”
Tiếng
đàn Đáy theo từng chữ, chậm dần rồi dứt. Không gian chùng xuống. Cô Hương cúi
mặt, hình như lau nước mắt. Tiếng đàn như mở ra một cánh cửa dẫn vào thế giới
cổ nhạc nào khác nó
trầm, sâu, nghiêm, và có chút gì đó linh thiêng. Tôi ngồi nghe mà gai sống lưng
nổi lên từng đợt, cảm giác như tiếng đàn đang gọi mình vào một câu chuyện đã có
từ trăm năm trước.
Tôi
choáng ngợp bởi âm thanh trầm đục mà dũng mãnh của đàn Đáy, chao đảo theo tiếng
đàn Sến và giọng ca đầy đặn của cô Hương. Một lúc sau mới bàng hoàng vỗ tay.
Bác
Bảy nhìn tôi:
Chú em có lòng với cổ nhạc dữ ha.
Bác
đứng dậy: Mát
trời rồi, qua về. Nhà qua ở ngay chân cầu Chữ Y. Khi nào rảnh chú ghé chơi.
Tôi
đưa bác ra cửa, lòng thương kính một ông già hơn bảy mươi, dáng thanh thoát như
tiên ông mà tiếng đàn lúc mạnh mẽ như quân reo, lúc trầm đục như mưa rơi, lúc
nỉ non như vọng thiên thai.
Bỗng
tôi chợt hiểu, Đàn
nào cũng chỉ là nhạc cụ. Cái làm nên thần tình quyến rũ người
nghe chính là người cầm
đàn với cái tâm vì nghệ thuật, cái hồn truyền
vào tiếng rung. Lần đó, ôm hai cây đàn về nhà, dù chỉ mới là cây đàn mộc
chưa có dây, chưa có phím, mà âm vang từ lòng tôi vẫn chập chùng nghe thấy
tiếng mưa rơi ...
Nguyễn Minh Nữu