Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Quá khứ lịch sử? Đúng vậy.
Tác giả Nguyễn Văn Sâm, người nổi tiếng về truyện ngắn và về nghiên cứu văn học
chữ Nôm, nhìn thấy có sự tương liên giữa sáng tác văn học và lịch sử. Trong tuyển
tập "Chiếc Ba Lô Để Lại," nhà văn Nguyễn Văn Sâm giải thích: "Truyện
ngắn là bài viết ít sự thực, kế đó là hồi ký, trên cùng là bài
viết về lịch sử. Sự thực làm nguồn cho truyện ngắn, bị bóp méo ít
nhiều trong hồi ký, được đào xới, phân tích, giải thích trong các
bài về lịch sử...." (Lời tác giả trước khi vào truyện Khói Thuốc Cả,
trang 244). Nghĩa là, truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm có một phần sự thật, nhiều
hay ít. Phải chăng, chính những phần hư cấu sẽ đã sức mạnh để Truyện Kiều trở
thành cội nguồn thơ mộng của dân tộc, và để Lục Vân Tiên trở thành kho tàng đạo
lý bất tử, và để mối tình Rồng-Tiên đưa dân tộc Việt bay vào huyền sử tình yêu
vĩnh cửu?
Tuyển tập truyện ngắn “Chiếc
Ba Lô Để Lại” của Nguyễn Văn Sâm dày 630 trang, gồm 49 truyện ngắn. Mở đầu
tuyển tập là bài “Giao Cảm Nguyễn Văn Sâm và Dòng Chảy Văn Chương Nam Kì Lục
Tỉnh” (các trang 5-20) của Hoàng Kim
Oanh, viết từ Sài Gòn năm 2016, đưa ra cái nhìn tổng quan về Nguyễn Văn Sâm, từ
một học giả có nhiều công trình biên khảo về văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh
(Ghi chú về cách viết của Hoàng Kim Oanh, tựa đề viết là “Nam Kì” nhưng
trong tiểu đề trong bài lại viết là “Nam Kỳ” – không viết thống nhất,
cũng lạ), tới một Nguyễn Văn Sâm viết “truyện ngắn về đất và người Nam Kỳ Lục Tỉnh”
(cũng chữ Kỳ với y).
Có một điểm dễ nhận ra
khi bạn đọc truyện Nguyễn Văn Sâm là một cảm giác an tâm, nhẹ nhàng mà sâu lắng,
buồn mà không gay gắt, ngay cả khi nổi giận với cái bất thiện cũng là những
dòng la rầy rất nhẹ. Nhưng xuyên suốt trong các truyện là tấm lòng thiết tha của
tác giả với quê hương, nơi đất, người và tín ngưỡng dân gian quyện lại thành những
sợi tơ huyền thoại từ đời này sang đời kia. Bối cảnh truyện hầu hết là ở quê
nhà. Ngay truyện đầu tiên là về mối tình của cô Mỵ với Trị, gắn liền với niềm
tin đơn sơ về Ao Bà Om ở Trà Vinh, nơi có huyền thoại là lời thề trong ngôi
Chùa Âng của các sư Khmer nơi đây được người dân địa phương tin có sức mạnh
linh thiêng, nhưng nhân vật nữ lại ngờ vực. Hay như cuối tuyển tập là truyện
“Tiếng Thầm Quê Mẹ” trong đó một băng giang hồ làm đủ thứ chuyện hình sự, kể cả
nhập nha (đột nhập nhà để trộm hay cướp) như lời một nhân vật trong truyện kể
qua lời ca, “Còng số 8 như vàng mười tám. Anh vào tù như hoàng tử nhập cung.
Coi đấm đá như bài ca vọng cổ” (trang 605) nhưng vẫn tin có “bà độ” (trang
608) khi cầm dao búa xung trận, và một nhân vật trùm băng đảng chợt nhớ tới má:
“Nó nhớ tới thơ má nó mới gởi về “rán ăn ở nhơn đức. Đừng làm chuyện tổn đức
thì Trời Phật sẽ thương cho mẹ con mình đoàn tụ.” Thơ nào cũng vậy. “Ở nhơn đức
cả đời ăn không hết. Chuyện gì cũng qua. Cầu gì cũng được”..."(trang
614). Dù vậy, cuộc đời phần lớn là bất như ý đối với nhân vật Mỹ lai này đang
chờ ngày qua Mỹ đoàn tụ với mẹ.
Cuối tuyển tập truyện ngắn
là bài “Thay Lời Bạt: Đôi Dòng Cảm Nghĩ Khi Đọc Truyện của anh Nguyễn Văn
Sâm” của nhà văn Nguyễn Khắc Phụng, trong đó đưa ra cái nhìn tổng quan về
truyện ngắn của nhà giáo, nhà văn đặc chất Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm:
“Bằng một điệu văn đậm
chất Nam bộ anh đã ghi lại những biến chuyển trong đời, trên đất nước quê
hương, trên mảnh đất tạm dung, những cuộc tình dang dở, những mảnh đời bất hạnh,
những hình ảnh êm đềm của những tháng ngày giờ đã xa lắc xa lơ. Nhẹ như gió thoảng,
mơ hồ như sương, như khói. Hình ảnh lung linh, đôi khi sáng rực, đôi khi mờ ảo
như liêu trai.
Hoàn cảnh đã để lại
trong anh những nỗi đau vật chất cũng như tinh thần; những bất hạnh ngoài tầm
tay cứu chữa. Nhưng trong anh người ta không thấy oán hờn; có chăng chỉ là những
lời nhắc nhở dịu dàng. Đâu đó phảng phất âm hưởng sắc-không của Phật giáo, tha
thứ, quên đi quá khứ, hướng về tương lai.
Truyện của anh như một tấm
tranh mosaic. Có lúc là hình ảnh của một người thầy hiểu rộng, biết nhiều, người
thầy che chở đám học sinh thơ dại như sự hy sinh của Thầy Lượng, hay lòng ngưỡng
mộ của đứa học trò với con chim Hán học cuối mùa. Anh tô điểm bức tranh của anh
với những từ ngữ hiếm quý của người Nam bộ đang dần dần thoái hoá. Thêm vào đó
những nét chấm phá của chữ Hán, chữ Nôm; pha thêm tiếng hát câu hò Vân Tiên để
cho tranh có thêm âm nhạc! Muốn hiểu anh, người đọc không thể đọc lướt các truyện
của anh. Đọc rồi, lại muốn đọc thêm truyện khác, như người khát nước đi tìm giọt
nước ngọt trong ngày nắng gắt.”(trang
625-626)
Văn phong truyện ngắn
Nguyễn Văn Sâm nhẹ nhàng như dòng suối khơi nguồn từ huyền thoại Rồng-Tiên chảy
qua miệt Đồng Nai, Gia Định chở theo những niềm vui và nỗi buồn của một dân tộc
từng trải qua nhiều đau đớn lịch sử rồi hòa quyện vào dòng Cửu Long ra biển. Và
rất đặc chất là hình ảnh, ngôn phong Sài Gòn, Lục Tỉnh đang dần dần trôi vào
quên lãng dưới làn sóng đô thị hóa. Thử xem lại truyện “Người Em Xóm Giếng”
(trang 372-387), chúng ta thấy tác giả nhắc tới các hình ảnh: Xóm Giếng, phông
tên nước (trụ dẫn nước trong xóm), xách nước mướn, hình ảnh bàn thờ ông Thiên (thời
xưa, trụ giữa sân trước nhà của dân Miền Nam để thờ trời đất), mả đá vôi, giếng
mội, bót Catina, xe traction đen chở lính kín bố ráp Chùa Hoa Nghiêm, các tên
đường thời Pháp như Blancsube de CauKho... và sử dụng ngôn phong rất miền Nam
như: bù trất, à nhe, cô nào bắt cặp với cậu nào, con gái nhà ai chịu đèn với
con trai nhà nào, trật đâu được, tuổi cũng sồn sồn, để tui lo, dợm cẳng bước
đi, đợi tôi về nha, buồn buồn trong dạ, trơn lu, trớt quớt, đời cố Hỷ cố Lai
nào mà không biết…
Cũng truyện “Người Em
Xóm Giếng” kể về những giao tiếp nam nữ rất hiếm gặp thời nay, khi nhân vật xưng
tôi, thời thơ ấu là chú tiểu Tín đã phải ra đời sau khi sư cụ bị người Pháp bố
ráp, dẹp chùa, và chàng Tín này rất khù
khờ khi cô gái tên Diễm tới tuổi cặp kê (cuối năm cô sẽ thi Tú Tài I, nghĩa là
cô khoảng 16 hay 17 tuổi) đã nói thẳng, khi hai người ngồi trong quán cơm, rằng
“anh cù lần và làm kiểu thầy chùa...” Cô nói rằng cô thương chàng từ thời
thơ ấu, “Tám tuổi mà em biết yêu anh rồi đó.” Rồi cô nói với Tín rằng anh Tín “hiền như cục
bột lò bánh mì, ai muốn nặn sao thì nặn,” vậy mà sao cô không cạy miệng Tín
được một lời cho nên duyên trong kiếp này. Tới một lúc, cô nắm tay chàng bóp mạnh,
nói, “Anh Tín, có cần phải nghe em nói là em yêu anh anh mới chịu hay sao?”
Tín rút tay lại, khi thấy người bồi bàn mang cơm ra. Than ôi, vài chục năm sau,
Tín nhớ lại, “Nhưng mà cha mẹ ơi, hai chục năm lính, hai chục năm sống bất
như ý, hễ khi trời mưa thì tôi nhớ đến chuyện mình với hai người con gái, chuyện
nào cũng lỡ làng...”
Thế đó, sâu thẳm trong
cõi này là một nỗi buồn, như dường không có lời nào mô tả được. Cõi này như thế,
là như thế: cõi này bất như ý. Vui luôn luôn là khoảnh khắc, buồn thường khi là
trọn đời người.
Đọc truyện Nguyễn Văn
Sâm thường khi chúng ta gặp lại nhiều hình ảnh không còn trên cõi đời này nữa.
Những chuyện xảy ra rất xưa, như là từ những kiếp xa xưa nào. Thí dụ như truyện
“Bà Thũng ở Chợ Cây Điệp” (trang 28-39), ngôi chợ nơi góc Bà Hạt và đường Nguyễn
Tri Phương bây giờ đã biến mất, nơi hồi đó mỗi sáng Chủ Nhựt có trò chơi lắc bầu
cua cá cọp, mà các tay lắc là gian lận chuyên nghiệp và có liên hệ tới quân đội
Bảy Viễn. Tất cả những hình ảnh đó bây giờ đã biến mất, y hệt như một giấc mơ rất
xa xưa của tiền kiếp.
Truyện “Lòng Mẹ Bao La”
(trang 286-293) cho độc giả một cảm giác như dường chuyện thật đời người của
tác giả Nguyễn Văn Sâm, có thể nửa phần là hồi ký: xuất thân nhà nghèo, nhân vật
xưng tôi học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từ năm thứ hai khởi tâm muốn nghiên cứu
văn học, lấy vợ giàu, bị gọi nhập ngũ, mỗi khi ra trận đều hướng về má, xem má
như Bồ Tát bổn mạng, để vái van, may mắn được biệt phái về trường cũ ở Cần Đước
để dạy Việt Văn, rồi vượt biên, bốn ngày lênh đênh trên biển, chủ ghe thắp
nhang trao cho mỗi người một cây nhang xin mọi người cầu nguyện theo tôn giáo
riêng trong khi nước biển theo lỗ thủng không bịt hết đang dâng cao tới hông, tới
ngực, và tác giả mơ hồ thấy Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và hình ảnh má hiện ra hòa
nhập hai không mặt mẹ hiền vào nhau... Tới cuối đời, nhân vật xưng tôi nhận ra “Phật
Bà nói chung là má của tất cả mọi người” (trang 293).
Truyện Nguyễn Văn Sâm là
một cảm nhận mạnh mẽ về luật vô thường. Điển hình như truyện ngắn "Tiếng
hát người tín nữ ni sư" (tuyển tập Chiếc Ba Lô Để Lại, trang 575-586).
Truyện viết như hư, như thực. Chúng ta đọc và ngờ ngợ, không rõ bao nhiêu phần
thực, bao nhiêu phần hư cấu. Thực tế đời thường, những gay cấn trong cuộc đời
như trong truyện dĩ nhiên là có. Mối tình có vẻ như ngang trái, cô gái bán bánh
mứt chợ Tết Sài Gòn có tên là Nguyện, xưng hô kiểu Nam Bộ hơi dị thường, tự gọi
là "cưng" và gọi người đối thoại (chàng trai tên Song, người mà cô ưa
thích) là "mình" -- tự nhiên là xa nhau, khi chàng nhập ngũ (có lẽ vì
mấy ai đi mà tin chắc là có ngày trở lại).
Truyện ghi lời cô Nguyện
nói với chàng Song, theo lời Song kể với tác giả, "Chắc cưng phải đi lấy
chồng. Cưng còn ba má già và 6, 7 đứa em nhỏ phải lo. Lông bông hoài ba má rầy
rà quá. Mình đi dạy chắc thế nào rồi cũng gặp được cô nào đó dễ thương hơn cưng."
Rồi chàng Song suy đoán, nói với tác giả, "Sau đó Nguyện không cho mình
gặp nữa. Hình như lấy một ông sắp tốt nghiệp Quân Y!” (trang 579).
Tuy nhiên, hơn một thập
niên sau, đột nhiên Song thấy một phụ nữ mù, mặt có mấy vết sẹo bị dao chém, đứng
hát ngoài chợ, tay cầm tấm bảng mang hình cô Nguyện xinh đẹp với nụ cười hớp hồn.
Song cầm một nắm tiền nhờ một thanh niên tới dúi vào tay phụ nữ mù, và cô Nguyện
nhận ra ngay là Song, nên gọi nhưng chàng im lặng, lùi xa và biến mất. Một thời
gian sau, truyện kể rằng cô Nguyện đã trở thành một vị ni sư già nói chuyện với
tác giả.
Lời tâm sự của ni sư già
với tác giả rất dài, mở đầu bằng những đoạn như mơ như thực, ghi lời một vị trưởng
lão râu dài tóc trắng bước ra từ sau lưng tượng Đức Phật, nói với vị ni sư (người
khi chưa xuất gia là cô Nguyện) về luật nhân quả, trích:
"Tôi đương ngồi
đọc kinh trước Phật đài thì thấy một ông lão tóc bạc phơ, dài chấm ót, mặc áo
dài trắng, bước ra từ sau lưng tượng Phật, không, hình như là xuất ra từ tượng
Phật, gương mặt thiệt quen thuộc nhưng tôi không thể nhớ là ai.
Tôi đứng dậy chào ông.
Ông tới trước mặt tôi, ra dấu biểu ngồi xuống lại rồi ông chậm rãi ngồi xuống một
cái ghế tràng kỷ sau cái bàn trà trước mặt tôi. Tôi hơi ngờ ngợ, bộ tràng kỷ chạm
lộng mỗi ngày tôi lau chùi cẩn thận bằng cả tấm lòng mình, được đặt ở khách
phòng chớ đâu phải ở trước Phật đài đâu, nhưng sự ngạc nhiên không ở lâu trong
trí tôi vì ông lão đã cất giọng ôn tồn hỏi:
“Con đọc kinh mà có hiểu
không?”
“Dạ, con không hiểu nhiều,
đọc chỉ mong cho lòng con không dao động mà thôi.”
“Con dao động vì xót xa
đời con nhiều chướng nghiệp. Ta biết! Nhưng chướng nghiệp người đời ai mà không
có đâu con. Chướng nghiệp tới không do con tạo kiếp này thì nên quên nó và tha
thứ cho người gây hại; chướng nghiệp tới do con huân tập kiếp nầy thì nên thành
tâm sám hối. Không nên dùng kinh kệ để mong quên bất cứ điều gì.”
Tôi ngờ ngợ về lời
khuyên đó. Vậy thì tôi phải quên bất hạnh xé nát đời tôi do những nhát mã tấu
ghen tuông mà người đàn bà đanh ác kia dàn dựng hay sao? Và tôi phải tha luôn tội
ác của bà khi quả quyết rằng sự chà lê quết xảm của chồng bà ta ở nhà tôi là do
tôi quyến rũ, chớ không phải do lòng ham hố và sự ỷ quyền cậy thế của ông
ta?" (trang 582-583)
Dĩ nhiên, vị ni sư già
không còn oán hận gì cuộc đời khi tin sâu vào luật nhân quả. Tuy nhiên, trả giá
luôn luôn là đau đớn. Và xuyên suốt các truyện Nguyễn Văn Sâm là những niềm vui
rất ngắn, nhớ thương thì rất dài, và bất như ý là vô tận. Vô thường là sức mạnh
làm tan vỡ tất cả những tường thành vững chắc nhất trong cõi này.
Như khởi đầu truyện tình
"Khói Thuốc Cả" (trang 244-256) về các diễn biến ngỡ như là tình
yêu giữa nhân vật xưng tôi và nàng Ngoạn
Nguyệt là dòng chữ: "Biểu đừng:
Muốn hôn em mà em cứ bảo đừng. Đến bây giờ thì hai đứa đã trở
thành người dưng mất rồi..." (trang 244)
Xin chú ý: cách dùng chữ
"biểu" là văn phong Nam Kỳ (nếu là văn phong Bắc Kỳ thì nói là
"bảo"). Tuy nhiên, "hôn" là nói giọng Bắc, trong khi lẽ ra
cho thống nhất dòng văn, hẳn là "hun" theo giọng Nam. Nguyễn Văn Sâm
viết trong sách tràn ngập chữ giọng Nam, tại sao lại dùng chữ "hôn"
nơi đây? Phải chăng vì lúc nhà văn muốn nói kiểu "nghiêm và buồn" cho
mối tình trầm trọng thích nghi?
Nhân vật tôi kể chuyện gặp
cô bé, khi cô bé còn bé tí, cùng gia đình di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam đang
trú ngụ ở sân một ngôi trường, và nhiều năm sau, gặp lại năm cô học lớp đệ nhất,
năm cuối trường nữ trung học Trưng Vương. Nhân vật “tôi” lúc đó là một vị thầy
nổi tiếng ở Petrus Ký, được các học sinh sắp xếp cho khiêu vũ với Ngoạn Nguyệt
để khai mạc một bữa tiệc. Trong khi khiêu vũ, tới một lúc chàng, bất kể là một
người thầy nổi tiếng trong nhiều trường, thì thầm với cô: "Ngoạn
Nguyệt cho anh hôn lên tóc nha." Và nàng từ chối... Hóa ra, chúng ta
thấy câu này, tác giả văn chương Nam Bộ viết chữ "hôn" là vì nói chuyện
với cô gái Bắc.
Nhưng sợi dây giữa họ cùng là một nỗi lo về tình hình đất nước, khi nàng Ngoạn Nguyệt nói về một bài thơ trong Giải Phẩm Xuân Trung Học Hoàng Diệu, trong đó cò bài thơ mà Ngoạn Nguyệt, không nhớ của ai, nhưng cô đã học thuộc khi tình cờ đọc tới, và cô khóc khi đọc cho nhân vật tôi nghe:
...Trời vào Thu, trời lớp
lớp mưa bay,
Tôi 16 tôi vào đời con
gái,
16 tuổi yêu không ngần
ngại,
Người yêu tôi anh thiếu
úy không quân.
...
Mây có buồn đâu sao mây
rũ khăn tang,
Trời vào thu trời tiếc
thương chàng,
Tôi 19 tôi vào đời quả
phụ...
Truyện rất buồn, y hệt
như nhiều truyện khác trong tuyển tập. Trong truyện, tới một lúc, cô Ngoạn Nguyệt
nói về tính phù vân trong đời y hệt như những hạt khói được rọi sáng thành làn
khói mỏng khi ánh đèn vũ trường lướt qua: "Ngoạn Nguyệt nói trong tiếng
thở dài: Khói thuốc cả."
Trong một hình ảnh rất dễ
gặp trong các truyện truyền kỳ, tác giả kể trong truyện Khói Thuốc Cả về một
trò chơi bọn trẻ nhỏ rồng rắn mà đi, vừa ịn chân vào nền đất ẩm, vừa hát nơi
sân trường thơ dại, trong đó có những câu hát, trích:
"Dưới trời kỳ
quái sao cùng/ Chân đâu còn vết ở trong đá này/Ví đem sắc tướng tin
đây/ Như Lai chưa dễ thấy ngay được ngài...
...Bể oan lai láng
trên đời/ Xưa nay ai vớt hết người trầm luân/Mong cho ngọn nước chảy
lần/ Lòng mê ta rửa dần dần tỉnh ra..." (trang 249)
Các câu hát trên có vẻ
như trích từ Kinh Phật diễn Nôm, hay từ truyện thơ Nôm của một nhà sư nào đó.
Cõi này buồn như thế đó. Bể oan không ai làm cạn nổi cho cõi này.
Trong khi đó, truyện ngắn
“Chiếc Ba Lô Để Lại” (trang 54-) – tựa đề truyện này cũng dùng làm nhan đề tuyển
tập truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm – có một cốt truyện vừa xúc động, vừa huyền bí. Nhân
vật tôi nói chuyện với một người đàn ông còm cõi phụ vợ bán bánh giò ở một góc
đường Sài Gòn. Người này tên Thanh, kỹ lưỡng giữ gìn tư cách, từ chối tất cả
các khoản tiền dư mà khách cho. Sau nhiều lần nói chuyện, nhân vật tôi mới được
Thanh kể chuyện, rằng anh nguyên là Trung Úy Biệt Động Quân, năm 25 tuổi đánh
trận Hạ Lào, bị bao vây, bị lựu đạn nổ mất nửa bàn tay mặt, dự kiến rạng sáng
thì trực thăng bốc về hậu cứ, ưu tiên thương binh. Nửa khuya, Trung sĩ Tánh (đệ
tử ruột của Thanh) trúng đạn pháo kích rất nặng, máu ra không cầm được, khó sống.
Trung sĩ Tánh nhờ Thanh đưa chiếc ba lô về cho vợ Tánh, cô đang có thai được ba
tháng. Rạng sáng, trực thăng tới hạ cánh để bốc thương binh, đạn trung liên Bắc
quân từ bốn phía bắn như mưa. Trung úy Thanh chỉ huy cuộc di tản, đưa thương
binh lên sàn trực thăng, và Thanh là người cuối của nhóm thương binh, được hai
người trên trực thăng đang cất cánh nắm hai tay anh kéo lên trong khi đạn bắn
sát bên tai. Hai người trên trực thăng tuột cả hai tay Trung úy Thanh, thì một
ai đó nắm được quai chiếc ba lô [của Trung sĩ Tánh mà] Thanh đang đeo, kéo lên.
Truyện kể lại khoảnh khắc Thanh rơi và ai đó chụp được quai ba lô:
“Một người thương binh
nào đó đã cố nhoài mình ra nắm được hai cái quai đeo của ba lô. Chắc chắn. Mọi
người reo hò khi viên Trung Úy được kéo lọt vô sàn. Bên ngoài đạn vẫn vẽ những
lằn đỏ cong cong. Tiếng người phi công nói: "Anh may mắn cùng mình, những
trường hợp như vừa rồi một trăm phần trăm là rớt xuống.' Viên Trung Uy lột ba
lô ra, cúi xuống vỗ vỗ, nói trong sự ngạc nhiên của những người không biết chuyện
Trung sĩ Tánh: *Cám ơn em đã cứu anh, anh sẽ làm tròn lời hứa... chắc chắn như
đinh đóng cột." (trang 61)
Cái ba lô đã cứu mạng
cho Thanh. Thỉnh thoảng, Thanh lại nhớ tới Tánh và mơ thấy hình ảnh cũ, khi
Tánh nói, “Em lạnh quá...” Thanh quyết định không nộp đơn đi diện H.O.
vì muốn ở lại xem đất nước Việt Nam rồi sẽ bị đẩy đi về đâu.
Người ta đã gọi tác giả
Nguyễn Văn Sâm bằng nhiều danh hiệu, và lời nào cũng đúng, cũng trang trọng:
nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà dịch thuật… Nhưng có một cách gọi khác,
Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần từ Paris viết rằng Giáo sư Nguyễn Văn Sâm là người giữ
Hồn Nước. Và thực tế, xuyên suốt tất cả những tác phẩm của Nguyễn Văn Sâm là một
tấm lòng thiết tha với quê nhà, và viết là để lắng nghe rõ hơn những chữ nghĩa
sâu thẳm nhất của tiền nhân.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần
đã nhận định: “…cũng như chữ Hán, chữ Nôm là kho tàng gìn giữ một phần quan
trọng văn hóa dân tộc. Muốn tiếp xúc với văn hóa dân tộc, phải biết chữ Hán và
chữ Nôm. Muốn học chữ Nôm, phải biết chữ Hán. Nhưng chưa đủ, mà còn phải biết lịch
sử, đời sống xã hội, cách cấu tạo chữ Nôm qua các thời kỳ… Cách nay vài năm, cứ
mỗi năm vào mùa thu, Giáo sư Hán Nôm Nguyễn Văn Sâm vẫn đều đặn qua Paris một
tháng, dành nhiều thì giờ vào thư viện tìm những bản văn Nôm của tác giả xứ Nam
kỳ để diễn dịch ra quốc ngữ với thêm chú giải. Cách nay hai năm, vì không kịp đọc
tại chỗ, ông in lại hơn 3000 trang ôm về Huê Kỳ đọc và phiên dịch. Ông nói thấy
ham quá nhưng bây nhiêu đây cũng phải mất nhiều thì giờ mới làm xong. Năm rồi
ông không qua Paris được vì dịch Vũ Hán. Người nghiên cứu, phiên âm, chú giải
chữ Nôm ra quốc ngữ để phổ biến là người giữ hồn dân tộc. Giữ Hồn Nước!”
Sau đây là vài dòng tiểu
sử của Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, theo Viện Việt Học.
Sanh tại Sài gòn, 1940.
Từng dạy ở trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Đại Học Văn Khoa (Sài
gòn) và các trường Đại Học Vạn Hạnh, Cao Đài, Hoà Hảo, Cần Thơ. Sang Mỹ từ năm
1979, sống bằng nghề dạy học. Viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của
người Việt. Thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn. Trưởng ban Văn
chương, Viện Việt-Học. Hiện cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.
Trước 1975 chuyên viết về
biên khảo văn học. Đã in: Văn Học Nam Hà (1971, 1973), Văn Chương Tranh Đấu Miền
Nam (1969), Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp (1972).
Qua Mỹ viết truyện ngắn
vì những thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận
người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương. Đã in ở Mỹ: Câu Hò Vân
Tiên (1985), Ngày Tháng Bồng Bềnh (1987), Khói Sóng Trên Sông (2000).
Gần đây, GS Nguyễn Văn
Sâm trở về gia tài cổ của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện
thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm
trong các thư viện lớn ở Âu Châu: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lôi Phong Tháp, Sơn Hậu
Diễn Truyện, Trương Ngáo v.v...
Độc giả quan tâm, xin
liên lạc với tác giả Nguyễn Văn Sâm qua email Trần Ngọc Ánh: ngocanh6955@yahoo.com
Được biết, tác giả Nguyễn
Văn Sâm cũng vừa in xong bộ nghiên cứu văn học ba tập, lấy nhan đề là: Thày
Lay Văn Học I, II, và III. Dự kiến, các sách này sẽ ra mắt vào khoảng tháng
3/2026.
PHOTO:
Tuyển tập truyện ngắn
“Chiếc Ba Lô Để Lại” của nhà văn Nguyễn Văn Sâm.
GS Nguyễn Văn Sâm (trái,
đang cầm 1 ấn bản tập truyện) và phu nhân là nhà văn Trần Ngọc Ánh hôm
18/12/2025.