Thời
tiểu học, có lẽ đứa học trò nào cũng mong cho mau bãi trường để
được ở nhà nghỉ ngơi, không cần chúi đầu vào bài vở mỗi ngày, không
cần lo làm bài tập ở nhà, không cần lo trả bài cho thầy cô mỗi
ngày, không sợ bị thầy cô gọi lên bảng, không sợ bị cha mẹ kiểm soát
sách vở và sổ điểm, vân vân.
Có
vài thằng được trả tiền để cắt một miếng nắp hòm đem về cho mấy
chị lớn trong xóm dùng để cầu cơ. Nắp hòm không dễ kiếm, vì phải
khoét sâu xuống hơn nửa
thước mới đụng tới nắp hòm. Mấy thằng này khoảng 10 hay 11 tuổi
thôi. Chúng cấm theo cái quốc nhỏ rồi thay nhau đào, đứa này mỏi tay
thì đứa kia thay thế. Vì nghĩa đia bị bỏ hoang, chẳng ai lui tới, nên
chẳng ai biết hoặc để ý về việc có mộ bị đào.
Chị
Lắm dùng một tấm giấy to, vẽ các mẫu tự ABC và các con số vào đó
theo như sự chỉ dẫn của vài người lớn. Rồi một buổi trưa, 12 giờ
chị rủ Quy đến chơi cầu cơ với chị. Chị làm chủ bộ cơ nên chơi
trước. Chị đặt tay lên cái cơ rồi lâm râm khấn vái với vong hồn ai đó
đang đi ngang qua. Dĩ nhiên chị không nói lớn cho Quy nghe thấy. Xong rồi
chị hồi hộp nhìn xuống cái cơ, nó nhúc nhích chút đỉnh khiến chị
và Quy hồi hội nhìn chăm chăm vào nó. Rồi nó đứng ì ra, hết cục cựa.
Chị
Lắm thầm yêu một anh trong xóm, nhà anh ở xê xế trước cửa nhà chị.
Lũ trẻ trong xóm hay gọi anh là cậu Bẩy, vì chúng cỡ tuổi bằng bầy
cháu của cậu. Cậu Bẩy làm ở rạp hát Casino Saigon, ngày nào cậu
cũng đạp xe đi, đạp xe về. Khi đạp ngang qua nhà chị thì cậu hay bóp
chuông, nếu có người đang đi gần lối rẽ sẽ nghe thấy mà tránh. Vì nhà của chị Lắm nằm ngay lối rẽ,
ngồi trong nhà, chị nghe thấy tiếng chuông xe đạp của cậu Bẩy là tim
chị run lên. Chị chỉ có mỗi mình cậu Bẩy là đối tượng để chị nhìn
thấy và mơ mộng đến. Tuổi chị đã mười bẩy, đang mộng mơ. Cậu Bẩy lại cao ráo, đẹp trai, ít nói,
ít cười, ít ra đường trong lúc rảnh rỗi. Vì thế, chị Lắm không có
cơ hội làm quen với cậu. Cậu Bẩy
đâu ngờ có người đang thầm nghĩ đến cậu. Chị Lắm có lẽ nhỏ hơn cậu
Bẩy 3 hay 4 tuổi gì đó. Nhan sắc
của chị Lắm so với cậu Bẩy thì thua xa. Chị hơi lùn so với chiều cao của cậu
Bẩy.
Cậu
Bẩy ở chung nhà của người chị gái. Chị của cậu là cô Sáu. Cô Sáu
có 5 đứa con: Ba gái, hai trai. Đứa con gái lớn của cô Sáu nhỏ hơn
cậu Bẩy 7 tuổi, tên Quy. Vì thế, chị Lắm làm thân với Quy và hay rủ
Quy sang nhà chơi, thường xuyên mời Quy ở lại ăn trưa với chị. Quy thuộc loại đanh đá, dữ dằn. Mỗi khi có ai lỡ đụng chạm
đến mấy đứa em của Quy là Quy tru tréo lên chửi cho cả xóm nghe
thấy. Quy chỉ học hết tiểu học ở
trường Võ Tánh rồi ở nhà trông em, nấu ăn giặt dũ, quét dọn. Cô Sáu
mẹ của Quy ốm yếu gầy gò, lại có bệnh lao nên chỉ trông nom đứa con
nhỏ nhất.
Lắm
và Quy chơi thân với nhau chẳng ai trong xóm để ý, họ chỉ nghĩ có lẽ
ở gần nhau thì chạy qua chạy lại là lẽ thường. Ngay cả Quy cũng không ngờ chị Lắm đang
để ý đến cậu Bẩy của mình. Chị
Lắm tuy chơi thân với Quy nhưng chưa bao giờ cho Quy biết tình cảm của
chị dành cho cậu Bẩy. Chị giữ kín trong lòng, không dám cho Quy biết
vì sợ Quy phản đối.
Bởi
thế, chị Lắm chỉ biết tìm cầu ý kiến của những người đã khuất,
đã chết. Chị có nghe người lớn nói đến việc xem bói, xem chỉ tay,
lấy lá số tử vi. Mấy thứ này vừa tốn tiền vừa lộ liễu vì có
người sẽ biết. Cái việc cầu cơ
cũng do người lớn kể lại nên chị biết. Và chị thấy thứ này an
toàn, chỉ có chị và cái người nhập vào cơ biết mà thôi.
Sau
tết Mậu Thân, cậu Bẩy bỏ làm ở rạp Casino. Cậu đăng lính Nhẩy Dù. Ngày cậu lên
đường, cả xóm ra tiễn cậu. Lũ trẻ chạy theo nắm hai tay cậu đi theo
ra tận đầu ngõ, chờ cậu lên cái xe xích lô máy với người anh rể,
nhìn theo cho đến khi cái xe mất hút nơi cuối đường. Chị Lắm biết ngày cậu Bẩy đi nhập ngũ,
chị đứng trước cửa nhà nhìn cậu dơ tay chào như mọi người trong xóm.
Cậu Bẩy trông thấy chỉ gật đầu chào lại, vẫn thờ ơ không nghĩ gì.
Khi đám người tiễn cậu đi ngang qua chị rồi, chị bước theo đuôi đám
người này, nhìn theo lưng cậu Bẩy không chớp mắt. Mấy mẹ con của Quy
cũng sát cánh với cậu Bẩy nên chẳng để ý đến Lắm. Cho đến khi
chiếc xe xích lô máy đã chạy, Lắm mới đến sau lưng Quy an ủi. Quy đang
khóc, quay lại thấy Lắm lại bật khóc to vì hết cầm được. Lắm cũng
rưng rưng nước mắt nhưng ráng cầm lại, mở miệng an ủi Quy và cô Sáu:
“Cậu Bẩy sẽ được bình an trở về. Đừng lo!”
Sau
khi cậu Bẩy đã đi, chị Lắm lại rủ Quy sang cầu cơ. Chị cho Quy cầu
trước, vì Quy có nhu cầu hỏi thăm về cậu Bẩy. Đại khái cơ chỉ trả
lời “không biết”
Sau
khi mãn khóa quân sự tại trung tâm huấn luyện Quang Trung, cậu Bẩy
được đưa vào một tiểu đội tác chiến của Nhẩy Dù, nơi đâu có mặt
trận, nơi đó có đơn vị của cậu. Chiến tranh càng lúc càng leo thang
do quân Việt cộng phương Bắc càng lúc càng xâm nhập nhiều vào miền
Nam. Chị Lắm căng thẳng theo dõi tin
tức trên báo chí mỗi ngày. Chị xin bà chủ đặt báo tháng cho chị
đọc, và nhất là bắt con bà cũng phải đọc báo để tập đọc cho giỏi.
Gần
một năm sau, cậu Bẩy được về phép. Cậu dắt theo một người lính đồng
đội, có lẽ anh này không có thân nhân trong thành phố Saigon nên theo
về để ở chơi vài
ngày. Chiều hôm đó, lũ trẻ trong xóm đang chơi, trông thấy cậu Bẩy
bước vào hẽm với người bạn đồng ngũ, mặc quân phục, đầu đội mũ
đỏ, vội chạy lại nắm hai tay cậu Bẩy reo hò: “Cậu Bẩy về, cậu Bẩy
về!” rồi chúng đi theo cậu về tận nhà, vừa đi vừa reo to “cậu Bẩy
về bà con ơi!”. Người lính đi theo có lẽ cũng thấy ấm lòng khi thấy
bạn mình được lũ trẻ trong xóm hân hoán đón mừng ngày trở về.
Tiếng
reo hò của lũ trẻ vang đến tai của Lắm, đang ngồi trong nhà, nghe
thấy “cậu Bẩy về” Lắm cảm động vui sướng khi thấy người mình yêu
trở về bình an.
Lắm
mở cửa bước ra nhìn theo bóng dáng cậu Bẩy, lúc này cậu mặc bộ
quân phục rằn ri hoa rừng, đầu đội mũ đỏ. Lắm thấy cậu Bẩy oai phong
và hiên ngang quá. Nàng tự hỏi có
bao giờ anh ấy nghĩ đến mình không? Từ đó nàng yêu bản nhạc “Thiên
Thần Mũ Đỏ”,
vừa
nghe vửa nghĩ đến chàng.
Cậu
Bẩy giới thiệu với gia đình cô Sáu tên người bạn đồng ngũ là Châu
Văn Tạo. Cũng quê quán Cai Lậy giống cậu nên gặp người cùng quê trong
đơn vị là điều dễ gần gũi. Cả hai đang đeo lon Binh Nhất, vào sinh ra
tử có nhau. Sáng hôm sau cả hai cậu
đón xe ra chợ cũ mua vịt quay, heo quay, bánh mì về đãi cả nhà cô
Sáu ăn chung.
Khi
Quy chạy qua báo cho chị Lắm hay “Hôm nay cậu Bẩy ra chợ Cũ mua vịt
quay và heo quay”, chị Lắm ngỏ lời:
-Cho tao góp chút đỉnh làm quà cho lính xa về thành phố.
Quy
hỏi:
-Chị
góp cái gì?
-Tao
chạy ra tiệm giò chả ở đường Võ Di Nguy mua một đòn chả lụa cho hai
cậu ấy ăn cho ấm lòng. Ở nơi trận mạc làm gì có chả lụa mà ăn.
-Ờ
ha! Chỉ có chị nghĩ ra, em đâu bao giờ nghĩ tới chuyện này. Chắc cậu Bẩy với chú Tạo vui lắm vì
có người tặng quà.
-Chừng
nào tao mua về sẽ cho thằng Tín đem qua nhà cho mày nghe.
Cứ
như thế, mỗi năm cậu Bẩy và chú Tạo về thăm nhà độ hai lần. Mỗi
lần ở hai ngày rồi đi. Chị Lắm lại thấp thỏm mong chờ ngày cậu Bẩy
trở lại kỳ tới.
Khi
Quy được 17 tuổi, tự dưng có bà mai đến hỏi thăm để mai mối cho một
anh bên kia đường, tên Bình. Anh này lớn hơn Quy 5 tuổi, có việc làm
ổn định trong phi trường Tân Sơn Nhất, là anh cả của 3 đứa em gái.
Hóa ra là anh chàng cao cao gầy gầy ở hẽm bên kia đường, vài tuần
trước đây tự dưng đi vào xóm này vài lần, cố ý đi ngang qua nhà Quy
để nhìn Quy cho biết mặt. Thảm nào chàng diện quần áo như đi làm văn
phòng, không giống người đi lang thang trong hẽm. Quy nhớ mấy hôm đó
nàng đang ngồi tán dóc với chị Mai trước cửa nhà. Chị Mai ngồi bên
nhà chị, đối diện với Quy. Vậy mà anh chàng nhìn lướt qua cả hai
rồi chấm Quy hay sao? Chị Mai cũng thuộc loại đẹp gái trong xóm và
cả phố nữa chứ.
Thấy
gia thế chàng Bình khá giả, chàng lại không bị đi lính ra trận. Đã vậy, cha mẹ chàng đã xây xong căn
nhà nhỏ trong cái sân lớn của căn nhà họ để hai vợ chồng mới cưới
ở. Quy không còn mơ ước gì hơn. Thời buổi chiến tranh, được như thế
là cuộc sống quá vững vàng. Cô Sáu và Quy đồng ý ngay; kể cả việc
cho Quy theo đạo Công Giáo của chồng và làm đám cưới ở nhà thờ.
Từ
ngày Quy theo chồng, chị Lắm chẳng còn bạn thân tới lui mỗi ngày trò
chuyện với chị. Mỗi lần cậu Bẩy và chú Tạo về thăm nhà, tiếng lũ
trẻ lại vang lên “Cậu Bẩy về bà con ơi!” khiến chị Lắm nôn nao mở
cửa nhìn theo bóng dáng cậu Bẩy bước vào sân nhà cô Sáu.
Nhưng
lần về phép cuối năm 1973 cậu Bẩy không dẫn theo chú Tạo, mà dẫn về
một người phụ nữ trẻ trạc độ đôi mươi, tay bồng một đứa con gái
khoảng vài tháng tuổi. Lũ trẻ thắc mắc quá nhưng vẫn chạy theo mừng
“Cậu Bẩy về bà con ơi!”
Chị
Lắm mở cửa nhìn theo cậu Bẩy thì giật mình vì nhìn thấy người phụ
nữ kia tay bế đứa con nhỏ xíu. Tim chị Lắm thắt lại, chị biết ngay
đó là người đàn bà đã sinh con cho cậu Bẩy. Cả xóm tò mò ra xem. Người
đàn bà kia riu ríu bước theo cậu Bẩy vào nhà.
Quy
hay tin vội chạy về nhà xem mặt “Mợ Bảy”. Cậu Bảy giới thiệu người
đàn bà kia tên Mai Thị Lụa, quê ở Đống Tháp. Mẹ của Lụa có quán cơm
gần chợ nên lính tráng hay ghé ăn mỗi khi ra phố. Lụa phụ mẹ nấu ăn,
bởi vậy cậu Bẩy mới gặp Lụa, và hai người phải lòng nhau. Lỡ có
thai nên Lụa sợ mẹ la mắng, bỏ nhà đi theo không cậu Bẩy. Cậu Bẩy thường
xuyên hành quân, không biết gửi gắm Lụa và con cho ai nên chỉ biết dắt
về gửi chị Sáu của mình, xin chị cho hai mẹ con Lụa ở nhờ cho đến
khi nào có điều kiện cậu sẽ đem hai mẹ con Lụa theo.
Nhưng
sau khi cậu Bẩy đi được hai tháng, Quy đuổi thẳng hai mẹ con Lụa ra
khỏi nhà. Nàng lấy lý do là “Cậu Bẩy tao đâu có cưới hỏi mày! Mày
chỉ đi theo không, ăn bám nhà tao. Mày phải dọn đồ đi ngay, hạn chót
là ngày mai. Nếu không tao gọi cảnh sát tới đuổi”. Quy thấy Lụa ngang
tuổi với mình nên gọi mày xưng tao với Lụa, chẳng nể nang cậu Bẩy
chút nào.
Lụa
khóc lóc van xin cho ở nhờ đến khi cậu Bẩy về phép để đi theo cậu
Bẩy. Nhưng Quy nhất định đuổi. Quy
tính toán lại, gia đình đang gặp khó khăn, tiền lương của cha chẳng
theo kịp vật giá leo thang vùn vụt. Mẹ thì đau ốm không đủ tiền
thuốc thang cho căn bệnh lao thời kỳ cuối. Thế là “hai cái người ăn
bám này phải đi ngay”.
Lụa
bồng con ra đi khi đứa nhỏ chỉ mới 6 tháng tuổi. Vài tháng sau cô Sáu
chết vì bệnh lao.
Ngày
28 tháng Tư năm 1975, Bình báo cho Quy chuẩn bị vài bộ đồ rồi ẵm con ra
phi trường di tản. Lúc đó đứa con gái của hai vợ chồng được gần 3
tuổi. Quy chạy về nhà ôm các em khóc lóc chào từ biệt vì biết khó
lòng gặp lại.
Bà
chủ của chị Lắm đã bán nhà từ đầu năm 1974 để dọn sang một căn nhà
trên đường Võ Di Nguy, nằm ngay đầu một con hẽm. Căn nhà này chỉ cách
xóm cũ đi bộ độ 10 phút. Bà mở
tiệm may Âu/Việt phục phụ nữ, mời thợ may đến và cho chị Lắm tiền
đi học nghề may. Vì bà không có
chồng, bà cần một người không cha mẹ như chị Lắm để ở với bà.
Khi
Quy ra đến phi trường, đông người đang chen chúc, thêm đạn của Việt
cộng pháo kích bừa bãi vào nên nhiều người bị chết, đám đông hoảng sợ bỏ chạy
tán loạn. Nhiều người
ra về, Quy cũng bỏ về nhà vì nghĩ ở lại Việt Nam cũng không sao,
còn được gần các em.
Nhưng
sau ngày 30 tháng 4, 1975 vài tuần.
Bình, chồng của Quy bị bắt đi học tập như bao nhiêu người sỹ
quan của VNCH. Hóa ra Bình là một nhân viên mật vụ bị Việt Cộng ghi
sổ, nên không trốn thoát được với chúng.
Riêng
cậu Bẩy, sau ngày 30 tháng Tư 1975 không thấy cậu trở về. Cả xóm nôn
nóng mọng tin cậu. Chị Lắm trở về xóm cũ nghe ngóng chẳng thấy tin
cậu Bẩy khiến chị bồn chồn, lo lắng.
Sáu
tháng sau, tức tháng 10 năm 1975, chú Tạo tự dưng ghé đến nhà cô Sáu
(lúc này cô đã chết) báo tin cho các con của cô biết cậu Bẩy đã tử
trận đúng ngày 30 tháng 4 khi cùng đơn vị tử thủ vòng đai Sài Gòn.
Chú Tạo, lấy vội cái ví của cậu Bẩy cầm về cho gia đình báo tin.
Cái thẻ bài chú Tạo vẫn để nguyên cho cậu Bẩy đeo vì hy vọng có ai
đó chôn giùm sẽ biết tên mà làm bia mộ cho cậu. Chú Tạo xin lỗi vì
trong ví của cậu Bẩy còn chút tiền nên chú lấy ra để làm lộ phí
kiếm đường về Cai Lậy. Hôm nay sẵn lên Sai Gòn giao hàng nên ghé báo
tin cho cả nhà hay ngày chết của cậu Bẩy. Quy hay tin chạy về khóc thảm thiết.
Nhưng không quên cám ơn chú Tạo vì tình đồng đội cũ mà không ngại
đường xa đến báo tin.
Quy
tìm chị Lắm báo tin dữ vì hai người vẫn còn thân. Chị Lắm bàng
hoàng không thốt ra lời. Một lúc sau chị hỏi:
-Mày
có tính cúng cho cậu Bẩy không?
Không có xác, có hòm, cũng phải cúng cho cậu chứ?
Quy
nhanh nhẹn gật đầu, nói tiếp:
-Chồng
em bậy giờ đi tù, em bán đồ đạc trong nhà xài từ từ. Muốn cúng
cũng khó khăn mới sắm nổi đĩa trái cây. Chưa hết, lấy tiền đâu phóng
tấm hình của cậu Bẩy để bầy trên bàn thờ?
Lắm
đề nghị ngay:
-Tao
có thể đem hình đi phóng to. Mày đưa hình cậu Bẩy cho tao. Tao hối
người ta làm nhanh, ngày mai lấy. Tao sẽ xin bà chủ mua một đĩa trái
cây ủng hộ coi như đi phúng điếu. Còn tao sẽ mua hoa để cắm. Mày lo
nhang đèn thôi.
Thế
là cậu Bẩy cũng có đám tang. Cả
xóm đến thắp hương cho cậu, trong đó có chị Lắm và bà chủ cũng
tới.
Chị
Lắm bảo chủ tiệm ảnh phóng cho chị 2 bức ảnh của cậu Bẩy. Chị trao
lại cho Quy 1 bức có sẵn khung hình do chị mua. Chị giữ lại một bức
để thờ riêng trong phòng của chị. Một bức nhỏ để vào ví mở ra là
thấy ngay.
Nhìn những người bộ đội miền
Bắc
vào Sài Gòn sau 30 tháng Tư
làm Lắm thất vọng. Trông họ ăn mặc nghèo nàn, lôi thôi bèo nhèo so
với bộ quân phục của lính Việt Nam Cộng Hòa mà nàng ưa nhìn và thấy oai phong làm sao. Họ có ve vãn,
nàng cũng không màng. Hình
như trái tim Lắm đã đóng lại vì chỉ có mỗi mình cậu Bẩy ở trong đó thôi.
Bình
bị đi tù cải tạo 8 năm. Sau này được đi HO qua Mỹ năm 1990. Trước khi
đi, Quy bán nhà gom tiền qua Mỹ. Dù lúc đó bán căn nhà chỉ có 2 cây
vàng. Quy đến chào từ biệt chị Lắm lúc này đã thành cô gái lỡ thì ngoài 40 tuổi. Quy ngạc nhiên
trông thấy hình cậu Bẩy trên bàn thờ.
Bây giờ Quy mới biết chị Lắm yêu cậu Bẩy. Quy nói:
-Em
mà biết chị yêu cậu Bẩy em như thế thì em đã tán vào cho cậu Bẩy
cưới chị từ xưa.
Chị
Lắm nói:
-Chắc
có lẽ số chị và cậu Bẩy không có duyên với nhau. Nếu có kiếp sau,
xin cho chị gặp lại cậu Bẩy.
Quy
lắc đầu:
-Em không tin có kiếp sau. Nhưng nếu có, thì cậu Bẩy cũng đi đầu thai
chuyển kiếp từ lâu rồi. Không biết sẽ được đầu thai làm người Việt
Nam nữa không? Hay làm con này con kia ở nơi nào trên thế giới?
Lắm
thở dài, buồn bã nói:
-Thỉnh
thoảng chị nghĩ nếu không còn cơ hội gặp lại cậu Bẩy trên thế gian
này, thì chị mong mỏi được gặp giọt máu của cậu Bẩy, là đứa con
gái của cô Lụa đó.
Quy
sững sờ nhìn Lắm, rồi hỏi:
-Chị gặp nó để làm gì?
-Để
nhìn thấy di vật sống của cậu Bẩy. Chị thấy thương nó, và chị muốn
gặp nó.
Nói
xong chị Lắm khóc nấc lên. Chị nói tiếp:
-Quy
ráng giúp chị, cho chị biết quê của cô Lụa ở đâu?
-Em
nghe loáng thoáng ở Đồng Tháp. Mẹ của Lụa mở quán cơm ở gần chợ
Đồng Tháp. Nhưng xưa quá rồi, chắc gì bả còn bán cơm ở đó.
-Tiệm
cơm tên gì? Bà mẹ của Lụa tên gì?
-Quán
cơm ở chợ chắc không có bảng hiệu, tên tuổi gì đâu. Nhưng em nghe chú
Tạo nói bả tên bà Tư Dâu.
Sau
khi gia đình Quy đi Mỹ, chị Lắm thu xếp đi Đồng Tháp. Chị đến chợ
hỏi thăm quán cơm của bà Tư Dâu ngày xưa trước 1975 bây giờ ở đâu.
Nhiều người không biết, nhưng cuối cùng một bà lớn tuổi bán rau ở
cuối chợ tên Hai Lục biết ngay. Vì bà này lúc trước hay bỏ mối rau
củ cho bà Tư Dâu. Mái tóc bà Hai Lục đã ngã bạc trắng xóa. Chị Lắm
hỏi:
-Bác
có biết bà Tư Dâu bây giờ ở đâu không? Con gái bả tên Lụa có còn
sống ở đây không?
-Bà
Tư Dâu chết mấy năm trước rồi. Con Lụa đi đâu cả năm rồi bồng một đứa
con gái về ở nhờ mẹ. Bà Tư Dâu thương cảnh con cháu bơ vơ nên đùm
bọc. Chứ quanh đây người ta bàn tán dữ lắm. Nhưng hơi đâu để ý miệng
thiên hạ. Họ có lo gì cho mình đâu, mình phải tự lo cho mình thôi.
Lắm
nghe chừng bà bán rau này cởi mở, không cố chấp nên hỏi thăm chắc
không khó. Lắm hỏi:
-Đứa con gái của cô Lụa chắc lớn rồi hả cô?
-Ừ,
nó chừng 17 hay 18 gì đó. Nó phụ mẹ nó giữ em, rồi phụ mẹ nó mở
tiệm bún nước lèo.
-Cô
chỉ đường cho con đến thăm mẹ con cô Lụa được không cô?
-Dễ
mà, chút nữa con tôi đem cơm ra cho tôi, tôi nói nó dắt đường cho cô đi
theo.
Lắm
cám ơn bà Hai Lục rồi biếu bà số tiền nhỏ gọi là tạ ơn. Bà nhất
định không lấy.
Lắm
đi theo con gái bà Hai Lục, nhưng xin ghé sạp trái cây mua chục xoài
để làm quà cho cô Lụa.
Đi
bộ độ 20 phút, đến trước một quán ăn chuyên bán bún nước lèo, Thủy
chỉ tay nói cô Lụa đang bán hàng ở trong. Lắm cám ơn rồi chờ cho
Thủy đi khỏi mới bước vào tiệm.
Ngồi vào bàn, Lắm quan sát và nhìn ra một cô gái khoảng 17-18
tuổi đang bưng bàn. Khi cô hầu bàn đến hỏi “Cô ăn gì?” thì Lắm gọi 1
tô bún nước lèo cho đủ thứ. Người đàn bà đang ngồi múc bún có lẽ
là cô Lụa.
Khi
cô gái mang tô bún trở lại. Lắm tìm cách hỏi chuyện:
-Cháu làm thuê ở đây hả? Cháu còn trẻ lắm, có đi học không?
Cô
hầu bàn vui vẻ trả lời:
-Tiệm này của mẹ cháu. Cháu học hết tiểu học rồi ở nhà phụ mẹ
giữ em, rồi phụ mẹ coi tiệm.
-Mẹ
cháu giỏi quá. Cháu tên gì? thứ mấy? Cháu có mấy đứa em?
-Cháu
là chị Hai. Cháu tên Bạch. Cháu có 2 đứa em còn đi học.
Đang
chuyện trò thì có khách vào, Bạch lại tiếp tục làm việc.
Lắm
ăn xong thì khách cũng thưa bớt. Lắm gọi Bạch lại nói chuyện tiếp.
Lụa cũng bước ra chào khách. Chờ cho Bạch vào bếp, Lắm nhẹ nhàng bưng
cái bao có chục xoài đến biếu Lụa, và mời Lụa đến ngồi chung để
hỏi thăm. Lụa thấy lạ vì người khách chưa quen đã biếu quà cho nàng.
Nhưng thấy khách lịch sự, có vẻ dân thành phố đến chơi nên vui vẻ
ngồi xuống.
Lắm
tự giới thiệu tên mình, ở Sài Gòn xuống chơi, rồi hỏi dò:
-Chồng
chị có thương Bạch như con không?
Lụa
ngạc nhiên nhìn sững Lắm. Rồi hỏi:
-Sau chị biết Bạch là con riêng của tôi?
-Tôi
xin lỗi chị vì đường đột đến thăm chị và cháu. Chị không quen biết
tôi. Nhưng tôi biết chị và cháu khi nó mới vài tháng tuổi. Tôi luôn
nhớ đến chị và cháu nhưng hôm nay mới có dịp tìm đến đây để thăm mẹ
con chị. Hoàn cảnh đất nước thay đổi, cuộc sống của ai cũng khó
khăn, vì vậy muốn đi từ tỉnh này qua tỉnh khác tìm kiếm nhau không
dễ.
Lụa
ngạc nhiên hỏi lại:
-Nhưng
chị là ai? Sao lại kiếm mẹ con tôi?
Lắm
thủng thỉnh trả lời:
-Chị đừng lo, tôi không phải là người xấu. Tôi là hàng xóm của cậu
Bẩy ở Phú Nhận trước năm 1975.
Lụa
à lên một tiếng rồi mím môi. Hình như nàng đang nghẹn. Tôi lo lắng cho
mẹ con chị không nơi nương tựa sau khi rời nhà cô Sáu nhưng bất lực
không giúp được gì cho mẹ con chị lúc đó. Sau này khi cậu Bẩy về không thấy mẹ
con chị cậu la rầy Quy rồi trở lại đơn vị ngay. Hình như cậu nói đi
kiếm mẹ con chị. Chị có gặp lại cậu Bẩy sau đó không?
Lụa
rưng rưng nước mắt. Chuyện đã quá lâu, nỗi đau đã qua, Lụa tưởng mình
chẳng còn nghĩ đến cậu Bẩy nữa. Nhưng bỗng dưng kỷ niệm ùa về. Lụa
trả lời:
-Em
không biết anh Bẩy ở đâu mà kiếm. Chiến tranh càng ngày càng khốc
liệt, đơn vị anh di chuyển luôn. Em bơ vơ nên liều mình ẵm con trở lại
nhà xin mẹ tha thứ mà cho mẹ con em nương nhờ. Em cũng hy vọng anh Bẩy
sau này quay lại đây kiếm em. Nhưng sau tháng Tư năm 1975 chiến tranh
chấm dứt không thấy anh đến kiếm. Em chờ đợi mỏi mòn rồi tuyệt
vọng.
Lắm
nói ngay:
-Có
lẽ em không biết tin cậu Bẩy đã tử trận đúng ngày 30 tháng Tư, năm
1975?
Lụa
sững sốt nhìn Lắm, hỏi ngay:
-Thật
vậy sao? Ai báo tin cho gia đình cô Sáu biết?
-Khoảng
tháng 10 năm 1975, chú Tạo, người đồng đội của cậu Bẩy đã ghé thăm
nhà cô Sáu để báo tin này. Chú Tạo cũng gửi trả lại cho gia đình cô
Sáu cái ví của cậu Bẩy còn căn cước và một tấm ảnh của em trong
đó.
Lụa
òa khóc nức nở. Nghe đến
tên “Tạ̃o”
nàng nhớ
ngay khuôn mặt quen thuộc
này. Lúc trước
hai người này rất thân với nhau, ngoài tình đồng đội, còn tình đồng hương nữa.
Lắm
chỉ biết vỗ vỗ bờ vai của Lụa an ủi:
-Thôi,
xem như số phận đã như thế. Em và cậu Bẩy không ở đời được với nhau.
Tôi cầu mong cho em được hạnh phúc với người chồng sau. Chồng em có
tốt không?
-Em
gặp chồng em sau tháng Tư năm 1975.
Ảnh cũng là lính chế độ cũ trở về nhà. Nhưng em chờ anh Bẩy đến kiếm em nhưng
chờ hoải không thấy anh Bẩy trở lại.
Đến cuối năm 1976 em mới nhận lời lấy anh Tú. Ảnh không chê em
có một đứa con gái riêng mà cũng tốt với con em nên em cũng xem như
hạnh phúc rồi. Nhưng em vẫn nhớ anh Bẩy, dáng người và khuôn mặt đẹp
hơn nhiều người đàn ông khác. Tánh anh Bẩy ít nói, ít nhậu nhẹt. Em thích người như vậy.
-Con
Bạch có biết nó là con riêng của em không?
-Nó
mới biết. Em chờ nó đủ lớn khôn rồi mới nói. Nó cứ hỏi em có hình
của ba nó thì cho nó coi. Nhưng em không có tấm nào vì hồi đó đâu
nghĩ đến ra tiệm chụp tấm ảnh cho hai cha con.
Lắm
vui vẻ nói ngay:
-tôi
có một tấm ảnh của cậu Bẩy, tôi có thể cho cháu Bạch xem rồi chụp
lại cho cháu giữ để sau này muốn thờ cúng thì cũng tiện.
Lụa
ngạc nhiên hỏi:
-Em
quên hỏi chị có họ hàng gì với anh Bẩy không? Sao chị có hình của
ảnh?
Lắm đau lòng, nhưng bình tĩnh trả lời:
-Tôi
thương thầm cậu Bẩy nhiều năm. Gia đình cô Sáu và cậu Bẩy không hề
biết. Xem như em có phước hơn tôi vì em còn giữ được di vật của cậu
Bẩy. Tôi chỉ giữ được có tấm ảnh.
Lụa
hỏi lại:
-Em
có giữ được di vật gì đâu?
-Có,
con gái của em với cậu Bẩy là di vật quý giá nhất mà cậu Bẩy để
lại trên thế gian này. Chị xin phép em cho chị nhận cháu Bạch làm con
nuôi nhé; nhận trên danh nghĩa thôi để thỉnh thoảng chị xuống thăm em
và cháu.
Lụa
thẫn thờ nhìn lắm:
-Chị thương anh Bẩy dữ vậy sao?
-
Thời mới lớn, thanh niên trong xóm chỉ̉ có mình cậu Bẩy là ở gần nhà chị. Hơn nữa, chị hay so sánh cậu Bẩy với những thanh niên khác, thấy ai cũng không đẹp trai và oai
phong bằng
cậu Bẩy.
Lụa
gọi Bạch đến bảo nhìn vào tấm ảnh của cậu
Bẩy và hỏi:
-Con
thấy người này có quen không?
Bạch
ngờ ngợ trả lời:
-Tấm
hình trắng đen này cũ quá rồi, người này mặc quân phục thời nào
vậy?
Lắm
trả lời thay:
-Quân
phục của lính Nhẩy Dù của miền Nam trước 1975. Nếu là hình màu, con
sẽ thấy cái mũ mầu đỏ. Con nhìn khuôn mặt người này xem có quen quen
không?
Bạch
chăm chú nhìn từng nét trên khuôn mặt rồi nói:
-Hình như cái sống mũi và cái miệng giống con.
Nói
rồi Bạch nhìn Lắm và mẹ chờ trả lời.
Lụa thờ dài, nói:
-Đúng
rồi, con rất giống người này. Vì người này là cha con đó.
Bạch
nắm chặt bức ảnh rồi hỏi:
-Cha
con giờ ở đâu?
Lắm
trả lời:
-Cha
con đã chết từ tháng Tư năm 1975. Bởi vậy, cha con không thể đến đây
kiếm con.
Bạch
thút thít khóc. Lắm phải nhẹ nhàng an ủi. Lụa nói với Bạch về
việc Lắm muốn nhận Bạch làm con nuôi và Lụa đã đồng ý điều này.
Bạch cảm động nhận lời. Lụa bảo Bạch gọi Lắm là mẹ ngay lúc đó
cho Lắm vui.
Thấm thoát đã 50 năm từ ngày cậu Bẩy mất. Lắm cũng đã thành một bà lão ngoài 70 tuổi. Bà chủ nhà đã đi Mỹ theo diện
con lai vào năm 1989. Căn nhà bà để lại cho Lắm ở. Giờ này, Lắm gọi Bạch lên để ra quận làm di chúc để lại cho Bạch sau khi Lắm qua đời. Tấm ảnh của cậu Bẩy vẫn còn trên bàn thờ. Lắm nhờ Bạch một điều, khi nàng chết thì bỏ tấm ảnh của cậu Bẩy vào quan tài thiêu chung. Sau đó
đem tro về
quê cậu Bẩy ở Cai Lậy rắc xuống sông gần nhà cũ của mẹ cậu. Mà hiện giờ các con cô Sáu đang sống vì sau 1976 ở Sài Gòn khó sống, chúng bán nhà về Cai Lậy ở.
Lắm ân cần nhắc Bạch phải về Cai Lậy kiếm lại quê cha và nhìn lại các con của cô Sáu, là anh chị
họ của Bạch. Bạch ngại ngùng nói: “Biết họ có chấp nhận con hay không?”. Lắm nói ngay:
-Lúc
trước họ còn nhỏ dại,
suy nghĩ
khác. Bây giờ
đứa nào cũng trên dưới 60 hết rồi. Con cũng đã có chồng con, có gia đình đầy đủ, đời sống ổn định. Kiếm cội nguồn đâu phải để nhờ vả họ. Có gì để họ phải lo lắng mà không muốn nhận con?
Bạch
ân cần nhận lời và thấy thương người mẹ nuôi này quá đỗi.
TT-Thái An
4/23/2025