Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

693 . TT THÁI AN; Mang theo hình ảnh Chàng.

                                                                                                            



Thời tiểu học, có lẽ đứa học trò nào cũng mong cho mau bãi trường để được ở nhà nghỉ ngơi, không cần chúi đầu vào bài vở mỗi ngày, không cần lo làm bài tập ở nhà, không cần lo trả bài cho thầy cô mỗi ngày, không sợ bị thầy cô gọi lên bảng, không sợ bị cha mẹ kiểm soát sách vở và sổ điểm, vân vân.

 Được ở nhà thì làm gì nhỉ? Thỉnh thoảng mấy đứa con trai rủ nhau đi bộ hơi xa, đến nghĩa địa góc đường công lý và đường Tự Đức.  Nghĩa địa này không có tên, và vì nó rất cũ xưa từ thời Pháp, nhiều ngôi mộ của người Pháp không có thân nhân đến săn sóc, tu sửa nên sụp lở, để hở phía trong, cỏ mọc ra ngoài. Lối đi quanh co những ngôi mộ cỏ mọc đầy, cao đến đầu gối. Chúng nó đến đây để tìm bắt dế, đi suốt buổi sáng cũng bắt được chục con. Những con dế bắt được, chúng bỏ vào cái lồng cầm theo. Nhưng cũng có con gái đi theo vì tò mò, muốn xem bắt dế ra sao. Thỉnh thoảng, chúng la lên: “Có rắn, có rắn” rồi chạy tán loạn. Đám con gái hớt hải chạy theo, mặt mày tái mét.

Có vài thằng được trả tiền để cắt một miếng nắp hòm đem về cho mấy chị lớn trong xóm dùng để cầu cơ. Nắp hòm không dễ kiếm, vì phải khoét sâu xuống hơn nửa thước mới đụng tới nắp hòm. Mấy thằng này khoảng 10 hay 11 tuổi thôi. Chúng cấm theo cái quốc nhỏ rồi thay nhau đào, đứa này mỏi tay thì đứa kia thay thế. Vì nghĩa đia bị bỏ hoang, chẳng ai lui tới, nên chẳng ai biết hoặc để ý về việc có mộ bị đào.


 Khi hai thằng giao một miếng gỗ nhỏ của nắp hòm cho chị Lắm, nhìn miếng gỗ thâm đen, chị hài lòng tươi cười. Nhưng lại đề nghị nếu chúng cắt thành hình trái tim và mài nhẵn lại phía mặt dưới cho láng để khi thành miếng cơ sẽ dễ chạy trên tờ giấy. Chung hăng hái bằng lòng, vì chúng thích làm thủ công.  Xong việc, chị Lắm trao cho chúng một số tiền nhỏ, có thể mua được hai ổ bánh mì thịt, mỗi đứa sẽ ăn được một ổ. Thế là chúng vui lắm rồi.

Chị Lắm dùng một tấm giấy to, vẽ các mẫu tự ABC và các con số vào đó theo như sự chỉ dẫn của vài người lớn. Rồi một buổi trưa, 12 giờ chị rủ Quy đến chơi cầu cơ với chị. Chị làm chủ bộ cơ nên chơi trước. Chị đặt tay lên cái cơ rồi lâm râm khấn vái với vong hồn ai đó đang đi ngang qua. Dĩ nhiên chị không nói lớn cho Quy nghe thấy. Xong rồi chị hồi hộp nhìn xuống cái cơ, nó nhúc nhích chút đỉnh khiến chị và Quy hồi hội nhìn chăm chăm vào nó. Rồi nó đứng ì ra, hết cục cựa.

 

Chị Lắm thầm yêu một anh trong xóm, nhà anh ở xê xế trước cửa nhà chị. Lũ trẻ trong xóm hay gọi anh là cậu Bẩy, vì chúng cỡ tuổi bằng bầy cháu của cậu. Cậu Bẩy làm ở rạp hát Casino Saigon, ngày nào cậu cũng đạp xe đi, đạp xe về. Khi đạp ngang qua nhà chị thì cậu hay bóp chuông, nếu có người đang đi gần lối rẽ sẽ nghe thấy mà tránh.  Vì nhà của chị Lắm nằm ngay lối rẽ, ngồi trong nhà, chị nghe thấy tiếng chuông xe đạp của cậu Bẩy là tim chị run lên. Chị chỉ có mỗi mình cậu Bẩy là đối tượng để chị nhìn thấy và mơ mộng đến. Tuổi chị đã mười bẩy, đang mộng mơ.  Cậu Bẩy lại cao ráo, đẹp trai, ít nói, ít cười, ít ra đường trong lúc rảnh rỗi. Vì thế, chị Lắm không có cơ hội làm quen với cậu.  Cậu Bẩy đâu ngờ có người đang thầm nghĩ đến cậu. Chị Lắm có lẽ nhỏ hơn cậu Bẩy 3 hay 4 tuổi gì đó.  Nhan sắc của chị Lắm so với cậu Bẩy thì thua xa. Chị hơi lùn so với chiều cao của cậu Bẩy.

 

Cậu Bẩy ở chung nhà của người chị gái. Chị của cậu là cô Sáu. Cô Sáu có 5 đứa con: Ba gái, hai trai. Đứa con gái lớn của cô Sáu nhỏ hơn cậu Bẩy 7 tuổi, tên Quy. Vì thế, chị Lắm làm thân với Quy và hay rủ Quy sang nhà chơi, thường xuyên mời Quy ở lại ăn trưa với chị. Quy thuộc loại đanh đá, dữ̀n. Mỗi khi có ai lỡ đụng chạm đến mấy đứa em của Quy là Quy tru tréo lên chửi cho cả xóm nghe thấy.  Quy chỉ học hết tiểu học ở trường Võ Tánh rồi ở nhà trông em, nấu ăn giặt dũ, quét dọn. Cô Sáu mẹ của Quy ốm yếu gầy gò, lại có bệnh lao nên chỉ trông nom đứa con nhỏ nhất.

Lắm và Quy chơi thân với nhau chẳng ai trong xóm để ý, họ chỉ nghĩ có lẽ ở gần nhau thì chạy qua chạy lại là lẽ thường.  Ngay cả Quy cũng không ngờ chị Lắm đang để ý đến cậu Bẩy của mình.  Chị Lắm tuy chơi thân với Quy nhưng chưa bao giờ cho Quy biết tình cảm của chị dành cho cậu Bẩy. Chị giữ kín trong lòng, không dám cho Quy biết vì sợ Quy phản đối.

Bởi thế, chị Lắm chỉ biết tìm cầu ý kiến của những người đã khuất, đã chết. Chị có nghe người lớn nói đến việc xem bói, xem chỉ tay, lấy lá số tử vi. Mấy thứ này vừa tốn tiền vừa lộ liễu vì có người sẽ biết.  Cái việc cầu cơ cũng do người lớn kể lại nên chị biết. Và chị thấy thứ này an toàn, chỉ có chị và cái người nhập vào cơ biết mà thôi.

 

Sau tết Mậu Thân, cậu Bẩy bỏ làm ở rạp Casino.  Cậu đăng lính Nhẩy Dù. Ngày cậu lên đường, cả xóm ra tiễn cậu. Lũ trẻ chạy theo nắm hai tay cậu đi theo ra tận đầu ngõ, chờ cậu lên cái xe xích lô máy với người anh rể, nhìn theo cho đến khi cái xe mất hút nơi cuối đường.  Chị Lắm biết ngày cậu Bẩy đi nhập ngũ, chị đứng trước cửa nhà nhìn cậu dơ tay chào như mọi người trong xóm. Cậu Bẩy trông thấy chỉ gật đầu chào lại, vẫn thờ ơ không nghĩ gì. Khi đám người tiễn cậu đi ngang qua chị rồi, chị bước theo đuôi đám người này, nhìn theo lưng cậu Bẩy không chớp mắt. Mấy mẹ con của Quy cũng sát cánh với cậu Bẩy nên chẳng để ý đến Lắm. Cho đến khi chiếc xe xích lô máy đã chạy, Lắm mới đến sau lưng Quy an ủi. Quy đang khóc, quay lại thấy Lắm lại bật khóc to vì hết cầm được. Lắm cũng rưng rưng nước mắt nhưng ráng cầm lại, mở miệng an ủi Quy và cô Sáu: “Cậu Bẩy sẽ được bình an trở về. Đừng lo!”

 

Sau khi cậu Bẩy đã đi, chị Lắm lại rủ Quy sang cầu cơ. Chị cho Quy cầu trước, vì Quy có nhu cầu hỏi thăm về cậu Bẩy. Đại khái cơ chỉ trả lời “không biết”

Sau khi mãn khóa quân sự tại trung tâm huấn luyện Quang Trung, cậu Bẩy được đưa vào một tiểu đội tác chiến của Nhẩy Dù, nơi đâu có mặt trận, nơi đó có đơn vị của cậu. Chiến tranh càng lúc càng leo thang do quân Việt cộng phương Bắc càng lúc càng xâm nhập nhiều vào miền Nam.  Chị Lắm căng thẳng theo dõi tin tức trên báo chí mỗi ngày. Chị xin bà chủ đặt báo tháng cho chị đọc, và nhất là bắt con bà cũng phải đọc báo để tập đọc cho giỏi.

Gần một năm sau, cậu Bẩy được về phép. Cậu dắt theo một người lính đồng đội, có lẽ anh này không có thân nhân trong thành phố Saigon nên theo về để ở chơi vài ngày. Chiều hôm đó, lũ trẻ trong xóm đang chơi, trông thấy cậu Bẩy bước vào hẽm với người bạn đồng ngũ, mặc quân phục, đầu đội mũ đỏ, vội chạy lại nắm hai tay cậu Bẩy reo hò: “Cậu Bẩy về, cậu Bẩy về!” rồi chúng đi theo cậu về tận nhà, vừa đi vừa reo to “cậu Bẩy về bà con ơi!”. Người lính đi theo có lẽ cũng thấy ấm lòng khi thấy bạn mình được lũ trẻ trong xóm hân hoán đón mừng ngày trở về.

Tiếng reo hò của lũ trẻ vang đến tai của Lắm, đang ngồi trong nhà, nghe thấy “cậu Bẩy về” Lắm cảm động vui sướng khi thấy người mình yêu trở về bình an.

Lắm mở cửa bước ra nhìn theo bóng dáng cậu Bẩy, lúc này cậu mặc bộ quân phục rằn ri hoa rừng, đầu đội mũ đỏ. Lắm thấy cậu Bẩy oai phong và hiên ngang quá.  Nàng tự hỏi có bao giờ anh ấy nghĩ đến mình không? Từ đó nàng yêu bản nhạc “Thiên Thần Mũ Đỏ”,

vừa nghe vửa nghĩ đến chàng.

Cậu Bẩy giới thiệu với gia đình cô Sáu tên người bạn đồng ngũ là Châu Văn Tạo. Cũng quê quán Cai Lậy giống cậu nên gặp người cùng quê trong đơn vị là điều dễ gần gũi. Cả hai đang đeo lon Binh Nhất, vào sinh ra tử có nhau.  Sáng hôm sau cả hai cậu đón xe ra chợ cũ mua vịt quay, heo quay, bánh mì về đãi cả nhà cô Sáu ăn chung.

Khi Quy chạy qua báo cho chị Lắm hay “Hôm nay cậu Bẩy ra chợ Cũ mua vịt quay và heo quay”, chị Lắm ngỏ lời:
-Cho tao góp chút đỉnh làm quà cho lính xa về thành phố.

Quy hỏi:

-Chị góp cái gì?

-Tao chạy ra tiệm giò chả ở đường Võ Di Nguy mua một đòn chả lụa cho hai cậu ấy ăn cho ấm lòng. Ở nơi trận mạc làm gì có chả lụa mà ăn.

-Ờ ha! Chỉ có chị nghĩ ra, em đâu bao giờ nghĩ tới chuyện này.  Chắc cậu Bẩy với chú Tạo vui lắm vì có người tặng quà.

-Chừng nào tao mua về sẽ cho thằng Tín đem qua nhà cho mày nghe.

 

Cứ như thế, mỗi năm cậu Bẩy và chú Tạo về thăm nhà độ hai lần. Mỗi lần ở hai ngày rồi đi. Chị Lắm lại thấp thỏm mong chờ ngày cậu Bẩy trở lại kỳ tới.

Khi Quy được 17 tuổi, tự dưng có bà mai đến hỏi thăm để mai mối cho một anh bên kia đường, tên Bình. Anh này lớn hơn Quy 5 tuổi, có việc làm ổn định trong phi trường Tân Sơn Nhất, là anh cả của 3 đứa em gái. Hóa ra là anh chàng cao cao gầy gầy ở hẽm bên kia đường, vài tuần trước đây tự dưng đi vào xóm này vài lần, cố ý đi ngang qua nhà Quy để nhìn Quy cho biết mặt. Thảm nào chàng diện quần áo như đi làm văn phòng, không giống người đi lang thang trong hẽm. Quy nhớ mấy hôm đó nàng đang ngồi tán dóc với chị Mai trước cửa nhà. Chị Mai ngồi bên nhà chị, đối diện với Quy. Vậy mà anh chàng nhìn lướt qua cả hai rồi chấm Quy hay sao? Chị Mai cũng thuộc loại đẹp gái trong xóm và cả phố nữa chứ.

Thấy gia thế chàng Bình khá giả, chàng lại không bị đi lính ra trận.  Đã vậy, cha mẹ chàng đã xây xong căn nhà nhỏ trong cái sân lớn của căn nhà họ để hai vợ chồng mới cưới ở. Quy không còn mơ ước gì hơn. Thời buổi chiến tranh, được như thế là cuộc sống quá vững vàng. Cô Sáu và Quy đồng ý ngay; kể cả việc cho Quy theo đạo Công Giáo của chồng và làm đám cưới ở nhà thờ.

Từ ngày Quy theo chồng, chị Lắm chẳng còn bạn thân tới lui mỗi ngày trò chuyện với chị. Mỗi lần cậu Bẩy và chú Tạo về thăm nhà, tiếng lũ trẻ lại vang lên “Cậu Bẩy về bà con ơi!” khiến chị Lắm nôn nao mở cửa nhìn theo bóng dáng cậu Bẩy bước vào sân nhà cô Sáu.

Nhưng lần về phép cuối năm 1973 cậu Bẩy không dẫn theo chú Tạo, mà dẫn về một người phụ nữ trẻ trạc độ đôi mươi, tay bồng một đứa con gái khoảng vài tháng tuổi. Lũ trẻ thắc mắc quá nhưng vẫn chạy theo mừng “Cậu Bẩy về bà con ơi!”

Chị Lắm mở cửa nhìn theo cậu Bẩy thì giật mình vì nhìn thấy người phụ nữ kia tay bế đứa con nhỏ xíu. Tim chị Lắm thắt lại, chị biết ngay đó là người đàn bà đã sinh con cho cậu Bẩy. Cả xóm tò mò ra xem. Người đàn bà kia riu ríu bước theo cậu Bẩy vào nhà.

Quy hay tin vội chạy về nhà xem mặt “Mợ Bảy”. Cậu Bảy giới thiệu người đàn bà kia tên Mai Thị Lụa, quê ở Đống Tháp. Mẹ của Lụa có quán cơm gần chợ nên lính tráng hay ghé ăn mỗi khi ra phố. Lụa phụ mẹ nấu ăn, bởi vậy cậu Bẩy mới gặp Lụa, và hai người phải lòng nhau. Lỡ có thai nên Lụa sợ mẹ la mắng, bỏ nhà đi theo không cậu Bẩy. Cậu Bẩy thường xuyên hành quân, không biết gửi gắm Lụa và con cho ai nên chỉ biết dắt về gửi chị Sáu của mình, xin chị cho hai mẹ con Lụa ở nhờ cho đến khi nào có điều kiện cậu sẽ đem hai mẹ con Lụa theo.

Nhưng sau khi cậu Bẩy đi được hai tháng, Quy đuổi thẳng hai mẹ con Lụa ra khỏi nhà. Nàng lấy lý do là “Cậu Bẩy tao đâu có cưới hỏi mày! Mày chỉ đi theo không, ăn bám nhà tao. Mày phải dọn đồ đi ngay, hạn chót là ngày mai. Nếu không tao gọi cảnh sát tới đuổi”. Quy thấy Lụa ngang tuổi với mình nên gọi mày xưng tao với Lụa, chẳng nể nang cậu Bẩy chút nào.

Lụa khóc lóc van xin cho ở nhờ đến khi cậu Bẩy về phép để đi theo cậu Bẩy.  Nhưng Quy nhất định đuổi. Quy tính toán lại, gia đình đang gặp khó khăn, tiền lương của cha chẳng theo kịp vật giá leo thang vùn vụt. Mẹ thì đau ốm không đủ tiền thuốc thang cho căn bệnh lao thời kỳ cuối. Thế là “hai cái người ăn bám này phải đi ngay”.

 

Lụa bồng con ra đi khi đứa nhỏ chỉ mới 6 tháng tuổi. Vài tháng sau cô Sáu chết vì bệnh lao.

Ngày 28 tháng Tư năm 1975, Bình báo cho Quy chuẩn bị vài bộ đồ rồi ẵm con ra phi trường di tản. Lúc đó đứa con gái của hai vợ chồng được gần 3 tuổi. Quy chạy về nhà ôm các em khóc lóc chào từ biệt vì biết khó lòng gặp lại.

Bà chủ của chị Lắm đã bán nhà từ đầu năm 1974 để dọn sang một căn nhà trên đường Võ Di Nguy, nằm ngay đầu một con hẽm. Căn nhà này chỉ cách xóm cũ đi bộ độ 10 phút.  Bà mở tiệm may Âu/Việt phục phụ nữ, mời thợ may đến và cho chị Lắm tiền đi học nghề may.  Vì bà không có chồng, bà cần một người không cha mẹ như chị Lắm để ở với bà.

Khi Quy ra đến phi trường, đông người đang chen chúc, thêm đạn của Việt cộng pháo kích bừa bãi vào nên nhiều người bị chết, đám đông hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Nhiều người ra về, Quy cũng bỏ về nhà vì nghĩ ở lại Việt Nam cũng không sao, còn được gần các em.

Nhưng sau ngày 30 tháng 4, 1975 vài tuần.  Bình, chồng của Quy bị bắt đi học tập như bao nhiêu người sỹ quan của VNCH. Hóa ra Bình là một nhân viên mật vụ bị Việt Cộng ghi sổ, nên không trốn thoát được với chúng.

Riêng cậu Bẩy, sau ngày 30 tháng Tư 1975 không thấy cậu trở về. Cả xóm nôn nóng mọng tin cậu. Chị Lắm trở về xóm cũ nghe ngóng chẳng thấy tin cậu Bẩy khiến chị bồn chồn, lo lắng.

Sáu tháng sau, tức tháng 10 năm 1975, chú Tạo tự dưng ghé đến nhà cô Sáu (lúc này cô đã chết) báo tin cho các con của cô biết cậu Bẩy đã tử trận đúng ngày 30 tháng 4 khi cùng đơn vị tử thủ vòng đai Sài Gòn. Chú Tạo, lấy vội cái ví của cậu Bẩy cầm về cho gia đình báo tin. Cái thẻ bài chú Tạo vẫn để nguyên cho cậu Bẩy đeo vì hy vọng có ai đó chôn giùm sẽ biết tên mà làm bia mộ cho cậu. Chú Tạo xin lỗi vì trong ví của cậu Bẩy còn chút tiền nên chú lấy ra để làm lộ phí kiếm đường về Cai Lậy. Hôm nay sẵn lên Sai Gòn giao hàng nên ghé báo tin cho cả nhà hay ngày chết của cậu Bẩy.  Quy hay tin chạy về khóc thảm thiết. Nhưng không quên cám ơn chú Tạo vì tình đồng đội cũ mà không ngại đường xa đến báo tin.

Quy tìm chị Lắm báo tin dữ vì hai người vẫn còn thân. Chị Lắm bàng hoàng không thốt ra lời. Một lúc sau chị hỏi:

-Mày có tính cúng cho cậu Bẩy không?  Không có xác, có hòm, cũng phải cúng cho cậu chứ?

Quy nhanh nhẹn gật đầu, nói tiếp:

-Chồng em bậy giờ đi tù, em bán đồ đạc trong nhà xài từ từ. Muốn cúng cũng khó khăn mới sắm nổi đĩa trái cây. Chưa hết, lấy tiền đâu phóng tấm hình của cậu Bẩy để bầy trên bàn thờ?

Lắm đề nghị ngay:

-Tao có thể đem hình đi phóng to. Mày đưa hình cậu Bẩy cho tao. Tao hối người ta làm nhanh, ngày mai lấy. Tao sẽ xin bà chủ mua một đĩa trái cây ủng hộ coi như đi phúng điếu. Còn tao sẽ mua hoa để cắm. Mày lo nhang đèn thôi.

Thế là cậu Bẩy cũng có đám tang.  Cả xóm đến thắp hương cho cậu, trong đó có chị Lắm và bà chủ cũng tới.

Chị Lắm bảo chủ tiệm ảnh phóng cho chị 2 bức ảnh của cậu Bẩy. Chị trao lại cho Quy 1 bức có sẵn khung hình do chị mua. Chị giữ lại một bức để thờ riêng trong phòng của chị. Một bức nhỏ để vào ví mở ra là thấy ngay.

Nhìn những người bộ đội miền  ́c vào Sài Gòn sau 30 tháng Tư làm Lắm thất vọng. Trông họ ăn mặc nghèo nàn, lôi thôi bèo nhèo so với bộ quân phục của lính Việt Nam Cộng Hòa mà nàng ưa nhìn và thấy oai phong làm sao. Họ có ve vãn, nàng cũng không màng. Hình như trái tim Lắm đã đóng lại vì chỉ có mỗi mình cậu Bẩy ở trong đó thôi.

 

Bình bị đi tù cải tạo 8 năm. Sau này được đi HO qua Mỹ năm 1990. Trước khi đi, Quy bán nhà gom tiền qua Mỹ. Dù lúc đó bán căn nhà chỉ có 2 cây vàng. Quy đến chào từ biệt chị Lắm lúc này đã thành cô gái lỡ thì ngoài 40 tuổi. Quy ngạc nhiên trông thấy hình cậu Bẩy trên bàn thờ.  Bây giờ Quy mới biết chị Lắm yêu cậu Bẩy. Quy nói:

-Em mà biết chị yêu cậu Bẩy em như thế thì em đã tán vào cho cậu Bẩy cưới chị từ xưa.

Chị Lắm nói:

-Chắc có lẽ số chị và cậu Bẩy không có duyên với nhau. Nếu có kiếp sau, xin cho chị gặp lại cậu Bẩy.

Quy lắc đầu:
-Em không tin có kiếp sau. Nhưng nếu có, thì cậu Bẩy cũng đi đầu thai chuyển kiếp từ lâu rồi. Không biết sẽ được đầu thai làm người Việt Nam nữa không? Hay làm con này con kia ở nơi nào trên thế giới?

Lắm thở dài, buồn bã nói:

-Thỉnh thoảng chị nghĩ nếu không còn cơ hội gặp lại cậu Bẩy trên thế gian này, thì chị mong mỏi được gặp giọt máu của cậu Bẩy, là đứa con gái của cô Lụa đó.

Quy sững sờ nhìn Lắm, rồi hỏi:
-Chị gặp nó để làm gì?

-Để nhìn thấy di vật sống của cậu Bẩy. Chị thấy thương nó, và chị muốn gặp nó.

Nói xong chị Lắm khóc nấc lên. Chị nói tiếp:

-Quy ráng giúp chị, cho chị biết quê của cô Lụa ở đâu?

-Em nghe loáng thoáng ở Đồng Tháp. Mẹ của Lụa mở quán cơm ở gần chợ Đồng Tháp. Nhưng xưa quá rồi, chắc gì bả còn bán cơm ở đó.

-Tiệm cơm tên gì? Bà mẹ của Lụa tên gì?

-Quán cơm ở chợ chắc không có bảng hiệu, tên tuổi gì đâu. Nhưng em nghe chú Tạo nói bả tên bà Tư Dâu.

 

Sau khi gia đình Quy đi Mỹ, chị Lắm thu xếp đi Đồng Tháp. Chị đến chợ hỏi thăm quán cơm của bà Tư Dâu ngày xưa trước 1975 bây giờ ở đâu. Nhiều người không biết, nhưng cuối cùng một bà lớn tuổi bán rau ở cuối chợ tên Hai Lục biết ngay. Vì bà này lúc trước hay bỏ mối rau củ cho bà Tư Dâu. Mái tóc bà Hai Lục đã ngã bạc trắng xóa. Chị Lắm hỏi:

-Bác có biết bà Tư Dâu bây giờ ở đâu không? Con gái bả tên Lụa có còn sống ở đây không?

-Bà Tư Dâu chết mấy năm trước rồi. Con Lụa đi đâu cả năm rồi bồng một đứa con gái về ở nhờ mẹ. Bà Tư Dâu thương cảnh con cháu bơ vơ nên đùm bọc. Chứ quanh đây người ta bàn tán dữ lắm. Nhưng hơi đâu để ý miệng thiên hạ. Họ có lo gì cho mình đâu, mình phải tự lo cho mình thôi.

Lắm nghe chừng bà bán rau này cởi mở, không cố chấp nên hỏi thăm chắc không khó. Lắm hỏi:
-Đứa con gái của cô Lụa chắc lớn rồi hả cô?

-Ừ, nó chừng 17 hay 18 gì đó. Nó phụ mẹ nó giữ em, rồi phụ mẹ nó mở tiệm bún nước lèo.

-Cô chỉ đường cho con đến thăm mẹ con cô Lụa được không cô?

-Dễ mà, chút nữa con tôi đem cơm ra cho tôi, tôi nói nó dắt đường cho cô đi theo.

 

Lắm cám ơn bà Hai Lục rồi biếu bà số tiền nhỏ gọi là tạ ơn. Bà nhất định không lấy.

Lắm đi theo con gái bà Hai Lục, nhưng xin ghé sạp trái cây mua chục xoài để làm quà cho cô Lụa.

Đi bộ độ 20 phút, đến trước một quán ăn chuyên bán bún nước lèo, Thủy chỉ tay nói cô Lụa đang bán hàng ở trong. Lắm cám ơn rồi chờ cho Thủy đi khỏi mới bước vào tiệm.  Ngồi vào bàn, Lắm quan sát và nhìn ra một cô gái khoảng 17-18 tuổi đang bưng bàn. Khi cô hầu bàn đến hỏi “Cô ăn gì?” thì Lắm gọi 1 tô bún nước lèo cho đủ thứ. Người đàn bà đang ngồi múc bún có lẽ là cô Lụa.

Khi cô gái mang tô bún trở lại. Lắm tìm cách hỏi chuyện:
-Cháu làm thuê ở đây hả? Cháu còn trẻ lắm, có đi học không?

Cô hầu bàn vui vẻ trả lời:
-Tiệm này của mẹ cháu. Cháu học hết tiểu học rồi ở nhà phụ mẹ giữ em, rồi phụ mẹ coi tiệm.

-Mẹ cháu giỏi quá. Cháu tên gì? thứ mấy? Cháu có mấy đứa em?

-Cháu là chị Hai. Cháu tên Bạch. Cháu có 2 đứa em còn đi học.

Đang chuyện trò thì có khách vào, Bạch lại tiếp tục làm việc.

 

Lắm ăn xong thì khách cũng thưa bớt. Lắm gọi Bạch lại nói chuyện tiếp. Lụa cũng bước ra chào khách. Chờ cho Bạch vào bếp, Lắm nhẹ nhàng bưng cái bao có chục xoài đến biếu Lụa, và mời Lụa đến ngồi chung để hỏi thăm. Lụa thấy lạ vì người khách chưa quen đã biếu quà cho nàng. Nhưng thấy khách lịch sự, có vẻ dân thành phố đến chơi nên vui vẻ ngồi xuống.

Lắm tự giới thiệu tên mình, ở Sài Gòn xuống chơi, rồi hỏi dò:

-Chồng chị có thương Bạch như con không?

Lụa ngạc nhiên nhìn sững Lắm. Rồi hỏi:
-Sau chị biết Bạch là con riêng của tôi?

-Tôi xin lỗi chị vì đường đột đến thăm chị và cháu. Chị không quen biết tôi. Nhưng tôi biết chị và cháu khi nó mới vài tháng tuổi. Tôi luôn nhớ đến chị và cháu nhưng hôm nay mới có dịp tìm đến đây để thăm mẹ con chị. Hoàn cảnh đất nước thay đổi, cuộc sống của ai cũng khó khăn, vì vậy muốn đi từ tỉnh này qua tỉnh khác tìm kiếm nhau không dễ.

Lụa ngạc nhiên hỏi lại:

-Nhưng chị là ai? Sao lại kiếm mẹ con tôi?

Lắm thủng thỉnh trả lời:
-Chị đừng lo, tôi không phải là người xấu. Tôi là hàng xóm của cậu Bẩy ở Phú Nhận trước năm 1975.

Lụa à lên một tiếng rồi mím môi. Hình như nàng đang nghẹn. Tôi lo lắng cho mẹ con chị không nơi nương tựa sau khi rời nhà cô Sáu nhưng bất lực không giúp được gì cho mẹ con chị lúc đó.  Sau này khi cậu Bẩy về không thấy mẹ con chị cậu la rầy Quy rồi trở lại đơn vị ngay. Hình như cậu nói đi kiếm mẹ con chị. Chị có gặp lại cậu Bẩy sau đó không?

Lụa rưng rưng nước mắt. Chuyện đã quá lâu, nỗi đau đã qua, Lụa tưởng mình chẳng còn nghĩ đến cậu Bẩy nữa. Nhưng bỗng dưng kỷ niệm ùa về. Lụa trả lời:

-Em không biết anh Bẩy ở đâu mà kiếm. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, đơn vị anh di chuyển luôn. Em bơ vơ nên liều mình ẵm con trở lại nhà xin mẹ tha thứ mà cho mẹ con em nương nhờ. Em cũng hy vọng anh Bẩy sau này quay lại đây kiếm em. Nhưng sau tháng Tư năm 1975 chiến tranh chấm dứt không thấy anh đến kiếm. Em chờ đợi mỏi mòn rồi tuyệt vọng.

Lắm nói ngay:

-Có lẽ em không biết tin cậu Bẩy đã tử trận đúng ngày 30 tháng Tư, năm 1975?

Lụa sững sốt nhìn Lắm, hỏi ngay:

-Thật vậy sao? Ai báo tin cho gia đình cô Sáu biết?

-Khoảng tháng 10 năm 1975, chú Tạo, người đồng đội của cậu Bẩy đã ghé thăm nhà cô Sáu để báo tin này. Chú Tạo cũng gửi trả lại cho gia đình cô Sáu cái ví của cậu Bẩy còn căn cước và một tấm ảnh của em trong đó.

Lụa òa khóc nức nở. Nghe đến tên “Tạ̃o” nàng nhớ ngay khuôn mặt quen thuộc này. Lúc trước hai người này rất thân với nhau, ngoài tình đồng đội, còn tình đồng hương nữa.

Lắm chỉ biết vỗ vỗ bờ vai của Lụa an ủi:

-Thôi, xem như số phận đã như thế. Em và cậu Bẩy không ở đời được với nhau. Tôi cầu mong cho em được hạnh phúc với người chồng sau. Chồng em có tốt không?

-Em gặp chồng em sau tháng Tư năm 1975.  Ảnh cũng là lính chế độ cũ trở về nhà.  Nhưng em chờ anh Bẩy đến kiếm em nhưng chờ hoải không thấy anh Bẩy trở lại.  Đến cuối năm 1976 em mới nhận lời lấy anh Tú. Ảnh không chê em có một đứa con gái riêng mà cũng tốt với con em nên em cũng xem như hạnh phúc rồi. Nhưng em vẫn nhớ anh Bẩy, dáng người và khuôn mặt đẹp hơn nhiều người đàn ông khác. Tánh anh Bẩy ít nói, ít nhậu nhẹt. Em thích người như vậy.

-Con Bạch có biết nó là con riêng của em không?

-Nó mới biết. Em chờ nó đủ lớn khôn rồi mới nói. Nó cứ hỏi em có hình của ba nó thì cho nó coi. Nhưng em không có tấm nào vì hồi đó đâu nghĩ đến ra tiệm chụp tấm ảnh cho hai cha con.

Lắm vui vẻ nói ngay:

-tôi có một tấm ảnh của cậu Bẩy, tôi có thể cho cháu Bạch xem rồi chụp lại cho cháu giữ để sau này muốn thờ cúng thì cũng tiện.

Lụa ngạc nhiên hỏi:

-Em quên hỏi chị có họ hàng gì với anh Bẩy không? Sao chị có hình của ảnh?
Lắm đau lòng, nhưng bình tĩnh trả lời:

-Tôi thương thầm cậu Bẩy nhiều năm. Gia đình cô Sáu và cậu Bẩy không hề biết. Xem như em có phước hơn tôi vì em còn giữ được di vật của cậu Bẩy. Tôi chỉ giữ được có tấm ảnh.

Lụa hỏi lại:

-Em có giữ được di vật gì đâu?

-Có, con gái của em với cậu Bẩy là di vật quý giá nhất mà cậu Bẩy để lại trên thế gian này. Chị xin phép em cho chị nhận cháu Bạch làm con nuôi nhé; nhận trên danh nghĩa thôi để thỉnh thoảng chị xuống thăm em và cháu.

Lụa thẫn thờ nhìn lắm:

-Chị thương anh Bẩy dữ vậy sao?

- Thời mới lớn, thanh niên trong xóm chỉ̉ có mình cậu Bẩy là ở̀n nhà chị. Hơn nữa, chị hay so sánh cậu Bẩy với những thanh niên khác, thấy ai cũng không đẹp trai và oai phong bằng cậu Bẩy.

Lụa gọi Bạch đến bảo nhìn vào tấm ảnh của cậu Bẩy và hỏi:

-Con thấy người này có quen không?

Bạch ngờ ngợ trả lời:

-Tấm hình trắng đen này cũ quá rồi, người này mặc quân phục thời nào vậy?

Lắm trả lời thay:

-Quân phục của lính Nhẩy Dù của miền Nam trước 1975. Nếu là hình màu, con sẽ thấy cái mũ mầu đỏ. Con nhìn khuôn mặt người này xem có quen quen không?

Bạch chăm chú nhìn từng nét trên khuôn mặt rồi nói:
-Hình như cái sống mũi và cái miệng giống con. 

Nói rồi Bạch nhìn Lắm và mẹ chờ trả lời.  Lụa thờ dài, nói:

-Đúng rồi, con rất giống người này. Vì người này là cha con đó.

Bạch nắm chặt bức ảnh rồi hỏi:

-Cha con giờ ở đâu?

Lắm trả lời:

-Cha con đã chết từ tháng Tư năm 1975. Bởi vậy, cha con không thể đến đây kiếm con.

 

Bạch thút thít khóc. Lắm phải nhẹ nhàng an ủi. Lụa nói với Bạch về việc Lắm muốn nhận Bạch làm con nuôi và Lụa đã đồng ý điều này. Bạch cảm động nhận lời. Lụa bảo Bạch gọi Lắm là mẹ ngay lúc đó cho Lắm vui.

 

Thấm thoát đã 50 năm từ ngày cậu Bẩy mất. Lắm cũng đã thành một bà lão ngoài 70 tuổi. Bà chủ nhà đã đi Mỹ theo diện con lai vào năm 1989. Căn nhà bà để lại cho Lắm ở. Giờ này, Lắm gọi Bạch lên để ra quận làm di chúc để lại cho Bạch sau khi Lắm qua đời. Tấm ảnh của cậu Bẩy vẫn còn trên bàn thờ. Lắm nhờ Bạch một điều, khi nàng chết thì bỏ tấm ảnh của cậu Bẩy vào quan tài thiêu chung. Sau đó đem tro về quê cậu Bẩy ở Cai Lậy rắc xuống sông gần nhà cũ của mẹ cậu. Mà hiện giờ các con cô Sáu đang sống vì sau 1976 ở Sài Gòn khó sống, chúng bán nhà về Cai Lậy ở.

́m ân cần nhắc Bạch phải về Cai Lậy kiếm lại quê cha và nhìn lại các con của cô Sáu, là anh chị họ của Bạch. Bạch ngại ngùng nói: “Biết họ có chấp nhận con hay không?”. Lắm nói ngay:

-Lúc trước họ còn nhỏ dại, suy nghĩ khác. Bây giờ đứa nào cũng trên dưới 60 hết rồi. Con cũng đã có chồng con, có gia đình đầy đủ, đời sống ổn định. Kiếm cội nguồn đâu phải để nhờ vả họ. Có gì để họ phải lo lắng mà không muốn nhận con?

 

Bạch ân cần nhận lời và thấy thương người mẹ nuôi này quá đỗi.

 

TT-Thái An

4/23/2025