NVS, Lâm Văn Bé và NVK, 3 thành viên trang mạng namkyluctinh
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm sanh năm 1940 tại
Sài-Gòn, trước 1975 là giáo-sư Việt văn và Triết ở các trường trung học Nguyễn
Ðình Chiểu (Mỹ Tho), Petrus Ký và các trường Ðại Học Văn Khoa (Sài-Gòn, về Chữ
Nôm), Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hoà Hảo, Cần Thơ. Ông khởi đầu sự nghiệp với
những công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn-học sử. Các biên khảo của ông đều
lấy chủ đề là văn học miền Nam: Văn Học
Nam Hà: văn-học xứ Đàng Trong (Lửa Thiêng, 1971, tb 1973. 442 tr.), Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (Tựa Thẩm
Thệ Hà, Kỷ Nguyên, 1969. 466 tr.) và Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp
1945-1950 (luận án Cao học Văn-chương Việt-Nam; Lửa Thiêng, 1972.
295 tr.; Xuân Thu tb, 1988) - đã là những đóng góp độc đáo cho mảng văn học
thường không được đánh giá đúng mức này. Không được đánh giá đúng mức, vì sau
1954 ở miền Nam, “kháng chiến” thành kiêng kị, “hồn ma”, rồi xuất hiện con cờ Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông đã đi xa hơn hai cuốn Văn Học Miền Nam của
Phạm Việt Tuyền và Đông Hồ và đã đưa vào văn học sử mảng văn học yêu nước và
kháng chiến của miền Nam, phần nào "chính danh" lại cho những văn
nghệ sĩ miền Nam vốn vẫn bị đảng Cộng sản sử-dụng cho các chiêu bài "yêu
nước" và "dân tộc" của họ!
Ở miền Nam, Thế
Phong là nhà biên-khảo đầu tiên đã giới thiệu giai đoạn văn học kháng chiến này
trong Nhà Văn Kháng Chiến Miền Nam 1945-1950 - tập 3 của bộ Lược Sử
Văn Nghệ Việt Nam xuất bản vào năm 1963 sau khi đã đăng trên tạp chí Văn
Hóa Á Châu, nhưng
Nguyễn Văn Sâm mới là nhà nghiên cứu đánh giá đúng mức tinh thần yêu nước và sự
đóng góp cụ-thể và đáng kể của các nhà văn miền Nam thời kháng chiến, với tập Văn
Chương Tranh Đấu Miền Nam và tập luận án cao học về Văn Chương Nam Bộ Và
Cuộc Kháng Pháp 1945-1950 tiếp theo. Hai tác-phẩm này là một công
trình nghiên cứu dồi dào văn bản, tài
liệu và tham khảo [Mã Giang Lân trong giáo trình Văn-học Việt Nam 1945-1954
đã đánh giá là "quyển sách có nhiều tư liệu quý, hiếm và có những nhận
định thỏa đáng" (tr. 142). Ngoài ra công trình đã được các tác-giả tập
Địa Chí Văn Hóa Thành Phố HCM dùng lại khi trích dẫn các tác-phẩm
xuất-bản vào thời văn-học này].
Thời điểm
1945-1950 đã là thời đặc biệt của văn học kháng chiến và yêu nước ở trong Nam,
ông đã nhận xét xác đáng về "nền" văn-chương tranh đấu: " ...
trước giai đoạn 1945, chúng ta chỉ có những tác phẩm tranh đấu nhưng chưa có
một nền văn-chương tranh đấu vi thời đó chỉ có một vài nhà văn sáng tác lẻ tẻ
khi lòng mình rung động về vấn đề quốc-gia, dân-tộc; nhà văn chưa đặt vấn đề
đường hướng sáng tác để những cây bút đồng thời cùng đánh vào một mục tiêu.
Ngày xưa, Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt ... lạc loài trước bao nhà văn cùng
thời đại. Năm 1945, gần như tất cả văn gia đều hướng về việc tranh đấu, giải
thực (...) Hi vọng vừa bừng nở đã chợt tắt vì ý đồ thực dân của người Pháp
trong việc muốn tái lập chế độ đô hộ xưa, dân chúng vì vậy oán hận, căm thù.
Thêm vào đó cảnh máu lửa khắp nơi, người chết, nhà cháy, lòng người như một cảm
thấy yêu mến quê hương, dân-tộc hơn. Họ làm mọi điều hữu ích cho quốc-gia không
để ý gì đến những hậu quả tai hại cho chính bản thân và gia đình họ: gia nhập
bộ đội, xung vào ban cứu thương, sáng tác tuyên truyền lòng ái quốc hay phổ
biến những sáng tác đó, muôn người như một (...) văn-chương Nam-Bộ vì vậy được
những người cầm bút lúc đó coi như thể hiện sự đóng góp phần mình vào công cuộc
chung của quốc-gia " (1).
Mở đầu biên-khảo Văn Chương Tranh Đấu Miền
Nam (1969), Nguyễn Văn Sâm khi lược qua những công trình biên-khảo liên
quan đến thời kỳ văn-học này, đã nhận định và ghi lại cho người đọc cái
khuynh-hướng kiêng kị khi tránh viết và nói đến văn-học tranh đấu ở miền Nam
thời 1945-1950. Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa đã cách này hay cách khác, bán chính
thức “kiểm duyệt” những sách báo đề cập đến văn-học thời “kháng chiến” nói
chung ở toàn quốc chớ không riêng gì ở miền Nam, như chúng tôi đã đề cập khi
trình bày về thơ văn thời hậu kháng chiến ở miền Trung và Nam – có thể giới
chính-trị và hữu trách đoán trước sự ra đời của Mặt trận GPMN qua các vụ tập
kết ra Bắc sau Hiệp định Genève tháng 7-1954 và các vụ tấn công, phá hoại của
du kích Cộng-sản ở Trung và Nam.
Ông kết thúc phần mở đầu: “dù nhắm vào
hướng nào, các văn nghệ sĩ được đề cập đến ở đây đều nhắm vào mục đích làm sao
cho người dân ý thức thân phận nhược tiểu của mình mà đứng lên lật đổ cơ cấu xã
hội thuộc địa lúc ấy để có thể tạo một đời sống thoải mái hơn. Có người bảo
rằng như vậy nền văn chương nầy dựa trên căm thù, tạo sự chết chóc, sắt thép.
Tôi cho rằng không cần hỏi văn chương có cần phải nhẹ nhàng tươi sáng… hay căm
thù, mà chỉ cần hỏi ở đây sự căm thù có chính đáng hay không. Tại sao ta lại
cấm đoán văn chương làm sứ mạng lịch sử của nó khi nó có thể làm được mạnh hơn.
Ta có thể bảo rằng chính vì nhờ nền văn chương nầy mà những năm 1945-1950 người
chống Pháp rất nhiều, khiến người Pháp hiểu rõ hơn tinh thần dân Việt Nam, tinh
thần một dân tộc không chịu sống yên trong nô lệ, đã thường nổi dậy suốt trong
những năm cai trị của họ 4 Cuối cùng vấn đề chót đặt ra là móc giới hạn không
gian và thời gian của loạt bài nầy, Trả lời câu hỏi thứ nhất, tôi xin nói ngay
rằng đó chỉ là vấn đề tài liệu. Về giới hạn thời gian thì tế nhị hơn. Năm 1945
có sự thay đổi lớn trong tinh thần dân Việt. Những hy vọng, ôm ấp mong mỏi của
toàn thể mọi người dân từ lâu bây giờ bỗng nhiên thành sự thật. Mọi người đếu
thấy trước một tương lai tươi sáng cho dân tộc hé mở. 1945 là vậy, sau đó sự
thật thế nào như ta đã biết. 1950 cũng là năm quan trọng vì lúc nầy giới lãnh
đạo cuộc chiến tranh của dân tộc đã ra mặt, tỏ rằng mình chiến đấu đảng hơn là
vì dân vì nước. Năm 1950 Việt Nam chia làm hai chính phủ, thật sự đánh nhau với
sự hỗ trợ của hai khối, chiến tranh bây giờ là chiến tranh ý thức hệ chớ không
còn là chiến tranh cách mạng, giải phóng nữa. Văn nghệ sĩ hết còn thấy “hứng”
trong các đề tài cũ nữa. Một giai đoạn của lịch sử văn học bước qua theo chân
của sự chuyển hướng chánh trị. Vậy văn học miền Nam 1945-1950 phát sinh do hoàn
cảnh đặc biệt của dân tộc. Nhiều nước chung quanh ta cũng có trường hợp lịch sử
gần như tương tợ nhưng khi xong thế chiến thứ hai họ không bị nước đế quốc cũ
trở lại và họ được độc lập ngay lúc ấy. Dĩ nhiên nhờ đó họ không bị một cuộc
chiến tranh dai dẳng như nước Việt Nam bây giờ. Nhưng bù lại ta được một nền
văn chương đặc biệt, văn chương ghi lại sức đấu tranh hào hùng của dân tộc .
Trong cái rủi cũng có cái may! Cuộc chiến kéo dài càng làm cho nền chiến tranh
mà ta đang khảo sát đây thêm mơ hồ, khó hiểu; khó hiểu vì bị lợi dụng, vì tài
liệu thiếu thốn… Chúng tôi hy vọng là người vạch những gì bao bọc nền văn
chương nầy để nó được coi như bất cứ một nền văn chương nào khác mà thôi, người
muốn tìm hiểu cứ bước vào khỏi phải e dè rào đón”.
Sau khi lược qua 24 tác-giả của thời văn-học
này, ông nhận định ở cuối biên khảo: “Kết luận chúng tôi chỉ tóm tắt rằng
văn học Miền Nam giai đoạn 45-50 rất phồn thịnh và thấy rằng mình có bổn phận
giới thiệu sự phồn thịnh đó, còn đặt giá trị của nền văn chương nầy trong vị
trí văn học Việt Nam thì xin nhường quyền lại cho sự lựa lọc của thời gian. Chỉ
xin thêm rằng: Theo nhận định lệch lạc, chủ quan của một số người thì văn nghệ
miền Nam rất nghèo nàn hay không có một quá khứ văn nghệ. Tập sách nầy viết ra không
nhằm trả lời - mục đích chỉ giới thiệu. Vì hình như không ai muốn khai thác tìm
hiểu văn chương Miền Nam. Và văn chương tranh đấu miền Nam cho tới lúc nầy hình
như vẫn còn là một khu rừng cấm đối với giới thưởng ngoạn, phê bình” (2).
Trong Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp
1945-1950, khi kết luận về “Vai trò của văn-chương Nam-Bộ”, Nguyễn Văn Sâm nhận xét rằng: “Một thế hệ
văn-học không đầy năm năm trong vòng kiềm tỏa của thực dân, trong hoàn cảnh
chiến-tranh, sản xuất được nhiều tác-phẩm trội là điều đáng hãnh diện (…) Về
mặt tư tưởng, đề tài của văn-chương Nam Bộ … đã góp thật nhiều cho quốc-gia. Đó
là tiếng nói phẫn uất, gào thét của lớp người bị áp bức, đó là tiếng thúc dục
lên đường xóa tan những bất công (…) Văn-chương bước chân ra ngoài đời để làm
sứ mạng lịch-sử, để đóng một vai trò tích cực. (…) Vậy chúng tôi nghĩ mọi sự
khảo sát tường tận về nền văn-chương này đều cần thiết và công bằng. Cần thiết
vì chúng ta sẽ hiểu rõ ràng về văn-chương cách-mạng, văn-chương chống Pháp.
Công bằng vì trước đây những nhà văn-học sử chỉ khảo cứu những khuynh-hướng
khác của văn-chương, cố tình bỏ qua văn-chương tranh đấu. Tình trạng bỏ ngõ đó
có thể góp phần tạo nên sự mai một của một nền văn-chương quá gần với chúng ta
và chúng ta, hơn ai hết, sẽ gánh lấy trách nhiệm đó. Mặt khác, sự lơ là nầy sẽ
tạo tình trạng cho những cuộc nghiên cứu có tính cách phe nhóm, lập trường kéo theo
những xác định sai lệch phục vụ cho những định kiến sẵn. (…)
Chọn đề tài nầy, chúng tôi muốn gây lên tiếng
vang để những người còn e dè bước chân vào khu rừng hoang dã khám phá
thêm.những cái hay tiềm ẩn mà lâu nay chúng ta chưa nhìn thấy hầu đặt đúng giá
trị của nền văn-chương tranh đấu của Việt-Nam nói chung, của Miền Nam nói riêng
(…) Cho đến ngày nay có thể có người đã mất đi lòng tin tưởng nơi tiền đồ của
dân-tộc, nhưng chắc ai cũng nhận rằng những cớ chính để những người của giai
đoạn 1945-1950 tin tưởng ở sự thành công của dân-tộc Việt-Nam là văn-chương đã
hỗ trợ tích cực cho công cuộc giải phóng và hỗ trợ với một nghệ-thuật tinh tế.
Khảo sát sự hỗ trợ nầy là đề tài của quyển sách đang ở trong tay quý vị” (3).
Văn Học Nam Hà của Nguyễn Văn
Sâm là một biên-khảo chuyên biệt về văn chương một vùng, nhưng văn chương khu
vực này có vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu tuồng thời Nguyễn giai đoạn
các Chúa. Tác giả trong phần viết về tính chất chung của văn học Nam Hà đã đề
cập: “Văn học Nam Hà đặc biệt về phương diện tư tưởng cũng như hình thức. Tư
tưởng gắn liền với thời thế và tạo một ý thức mới cho người Đàng Trong. Gắn
liền bằng những sáng tác phẩm phản ảnh sự qua phân phe nhóm, nhắc đến nỗi khổ
của dân chúng trong thời đại loạn lạc, ca tụng những người lãnh đạo cùng phía
với mình, ngợi khen đất nước, phong cảnh mà họ đang sống, đang phục vụ. Ý thức
ở chỗ kêu gọi bảo vệ và mở mang bờ cõi cũng như chống lại bất cứ mọi hình thức
bàng quan nào kể cả hành vi có tính cách thiêng liêng nhất: tu niệm. Hình thức
mới được thể hiện trong thể văn, thể tuồng, thể vè, thể vãn, trong chữ dùng đặc
biệt của những người sống từ vùng Thuận Hóa trở vào Nam” (4).
Sau biến cố
30-4-1975, G.S. Nguyễn Văn Sâm định cư ở Hoa-Kỳ năm 1979; sau một thời gian dạy
học, ông bước qua lãnh vực sáng-tác và tiếp tục nghiên cứu, hiệu đính và công
bố một số văn bản cổ-văn và tuồng chữ Nôm- Ông còn là thành viên chủ động ở Viện Việt Học ở Quận
Cam, Nam California. Sau
gần 50 năm sống xa sách vở chữ Nôm chữ Hán, chúng tôi không còn đủ khả năng
nhận xét và phê phán con chữ thời lịch triều, chỉ biết ghi nhận các đóng góp
của giáo sư:
-
Trương Ngáo (tức
Người Đi Đòi Nợ Phật; Viện Việt Học, 2008);
-
Tội Vợ, Vợ Chịu (Westminster CA: Viện Việt Học 2010),
-
Người Hùng Bình Định (Viện Việt Học, 2012),
-
Mà Lòng Tôi Thương (Viện Việt Học, 2013),
-
Tỉnh Mê Một Cõi (Viện Việt Học 2015);
-
Báo Ứng Nhân Quả (Gió Việt, 2016).
-
Truyện Chàng Lía, tức Văn Doan Diễn Ca (Viện Việt
Học, 2021);
-
Tuồng Kim Vân Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh (Gió Việt, 2022);
-
Quan Âm Tế Độ Diễn
Nghĩa Ca (Gió Việt; Nhân Ảnh, 2022);
Từ cuối
thập niên đầu của thế kỷ XXI, ông đã biên dịch, chú giải và giới thiệu một số
tác phấm của người Công giáo Nam-kỳ lục tỉnh. Trong phần Mở đầu bài “Mảng tác
phẩm Công Giáo của văn chương Nam Kỳ đầu thế kỷ 20”, ông ghi lại quan điểm của
ông về mảng văn học Công giáo: “Văn học
Công Giáo là những tác phẩm nói những chuyện liên quan đến đời sống Công Giáo
như đạo nạn, các thánh tông đồ, những suy nghĩ của người đương sống đạo, hoặc
là những sinh hoạt mà nhân vật là những người tuẫn đạo, thuần đạo… – Tác giả
không nhứt thiết là người đạo, nhưng thường 100% là ở trong trường hợp nầy –
trong tác phẩm của họ tính chất văn học hiện diện đã đành nhưng tính chất tôn
giáo cũng đồng thời có mặt… Trong văn học Việt Nam, những tác giả Công Giáo như
những ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản,
Hàn Mạc Tử… không thuộc nhóm nầy vì tác phẩm của họ nói về chuyện chung của
người Việt Nam và tính chất tôn giáo rất ít không có hay là khó thấy. Do đó
người viết văn học sử đã xếp những vị nầy vô nhóm những nhà văn Việt
Nam nói chung.
Trái lại tác giả Hồ Ngọc Cẩn, tác giả tuồng
Sébastien, tác giả Jacques Lê Văn Đức, tác giả Trịnh Khánh Minh, tác giả Trịnh
Khánh Tân, tác giả Nguyễn Quang Minh… là những người thuộc nhóm tạo thành văn
học Công Giáo Việt Nam. Nhóm nầy hầu hết xuất hiện ở Miền Nam thời đầu thế kỷ
20 nên chúng tôi gọi họ là những nhà văn Công Giáo Miền Nam giai đoạn 1860-1930. Tác phẩm của họ nói về chuyện đạo nhưng được viết
ra với nhiều tính cách văn chương. Thường là bằng thơ lục bát hoặc tuồng, văn
xuôi là số ít, nội dung nhắm tới việc đưa ra những sự kiện về bắt đạo, tử đạo
hoặc dạy cho người đọc sống phù hợp với lẽ đạo nói riêng và con người thuần
lương nói chung. Có thể là khi sáng tác, những vị nầy chủ yếu nhắm mục tiêu
viết cho đồng đạo nhiều hơn cho độc giả bình thường nhưng chắc chắn rằng ai đã
đọc thì thế nào cũng học được điều gì đó tốt lành …” (5)
GS
Nguyễn Văn Sâm đã có công chú giải và giới thiệu một số tác phẩm của người Công
giáo – bên cạnh “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký và thơ ngụ ngôn của Trương Minh Ký và những tuồng cổ như đã nói ở
trên, trong số có Tuồng Joseph, 1887, của
nhà văn miền Nam Trương Minh Ký (2013, 54 tr.). Tiếc là ông chỉ chú trọng
khai thác văn bản về mặt phương ngữ và ngôn ngữ sử dụng vào thời trước ở miền
Nam. Chúng tôi nghĩ mở hơn, trong Sơ thảo
Văn-học Công-giáo Việt-Nam vừa xuất bản đầu tháng 7-2023, chúng tôi “tự giới hạn đề tài dấu ấn đạo Chúa trong
văn-học chữ quốc ngữ với các tác giả Công-giáo loan báo, sống Tin Mừng cũng như các vị có tác phẩm chịu ảnh
hưởng đạo Thiên Chúa – các nhà nghiên cứu hoặc viết văn làm thơ. Vì chủ đích
của biên khảo “văn-học Công-giáo”, do đó chúng tôi đã đưa vào và gọi là nhà văn
“Công-giáo” trong khi phần lớn chỉ muốn đơn thuần là nhà văn “Việt-Nam” hoặc là
người Công-giáo. Chúng tôi muốn khai phá và nhận định về lịch sử văn học Công
giáo Việt Nam như đã xảy ra. Văn học Công giáo Việt Nam dĩ nhiên là thành phần
của Văn học Việt Nam vì nền văn học quốc gia này đã và sẽ có những nguồn mạch,
dòng chảy, những xu hướng có thể khác nhau nhưng sẽ làm đa dạng và phong phú
cho nền văn học chung. Hơn nữa, các văn bản và tác phẩm mà chúng tôi đề cập,
phân tích, mang tính văn học / văn học sử và một số đã không nhất thiết phải
mang tính sáng tạo văn chương nghệ thuật. Với chúng tôi, văn bản quan trọng và
đích thực hơn là tiểu sử bao nhiêu phần
trăm Công-giáo…” (6).
Chúng
tôi “thân thiết” với Nguyễn Văn Sâm ban
đầu qua các tác phẩm biên luận về văn học miền Nam, đến khi ra hải ngoại được
“gặp” và liên lạc qua email, các nhóm liên-mạng thời thập niên 1990, 2000 cũng
như cùng chung cộng tác biên tập trang namkyluctinh với các thành viên khác, và
cuối cùng mới gặp người thật khi ông đến Montréal khi tôi sắp về hưu năm 2011 và
sau này ở Toronto.
Chú-thích
1. Nguyễn Văn Sâm. Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp
1945-1950 (Los Alamitos CA: Xuân Thu tb, 1988), tr. 21-22.
2. Nguyễn Văn Sâm. Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam. Bản điện tử.
3. Nguyễn Văn Sâm. Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp 1945-1950.
Sđd, tr. 254-258.
4. Nguyễn Văn Sâm. Văn Học Nam Hà. Bản điện tử, tr 67-68.
6. Sơ thảo Văn-học
Công-giáo Việt-Nam (Toronto: Nguyễn Publishing; lulu.com, 2023),
tr. 9, 10.