Vào cuối năm 1974, Trịnh Công Sơn – lúc đó đã là một nhạc sĩ nổi tiếng – sáng tác một bài hát với tên "Một Cõi Đi Về". Trong thời cuộc những tháng năm sau đó, bài hát này rơi vào quên lãng cho đến khi ca sĩ Khánh Ly trình bày lần đầu tiên ở hải ngoại vào năm 1977.
Bây giờ thì Trịnh Công Sơn đã ra đi.
Suốt một phần tư thế kỷ, chúng ta không còn người nhạc sĩ từng ghi nhật ký cho
trái tim Việt Nam qua những ca khúc của mình.
Và tôi, sau một đời đã đi loanh quanh,
đã mỏi mệt, một hôm chợt tìm lại lời hát của Một Cõi Đi Về, và xin được
ghi lại một vài cảm xúc của mình.
Lời ca của Trịnh Công Sơn luôn mang chất
thơ và triết lý gói trọn trong những ca từ mờ ảo. Có thể nói rằng nghe nhạc Trịnh
cũng như xem một bức tranh trừu tượng; người nghe cũng như người xem, được mời
gọi để hiểu theo một cách rất riêng. Những gì chia sẻ ở đây cũng chỉ là cảm nhận
cá nhân.
Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời
mỏi mệt
Trịnh Công Sơn nhận xét kiếp nhân sinh
là cứ đi loanh quanh, không
đi tới. Tôi liên tưởng đến một con vật bị buộc dây
ngoài sân:
tưởng rằng chạy rất xa nhưng thực ra chỉ quay quanh một vòng tròn. Nhân sinh
chúng ta dường như cũng vậy, bị ràng buộc bởi những sợi dây vô hình của tham –
sân – si hay cơm áo gạo tiền, đi mãi rồi lại trở về chốn cũ, và cuối cùng chỉ
còn lại sự mỏi mệt.
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi
đi về
Thời gian qua đi, mặt trời rồi mặt
trăng – "đôi vầng nhật nguyệt" – ngày và đêm rọi suốt cuộc đời
("trăm năm"), gợi nhớ đến "Trăm năm trong cõi người ta" của
Nguyễn Du. Từ khi sinh ra ("đi") đến khi chết ("về"), đó là
triết lý "sinh ký tử quy" (sống gửi thác về). "Về" là về với
cõi chết, và cõi sống này chẳng qua chỉ là chốn tạm.
Lời nào của cây lời nào cỏ lạ
Một chiều ngồi say một đời
thật nhẹ ngày qua
Một hôm, con người đó – kẻ vẫn mải miết
đi loanh quanh – chợt nghe được lời của cỏ cây, lời của thiên nhiên và vũ trụ.
Người đó say sưa giữa vạn vật và nhận ra rằng cuộc đời thực chất có thể nhẹ
nhàng đến lạ.
Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ
Một ngày đầu thu nghe
chân ngựa về chốn xa
Sự nhẹ nhàng ấy len lỏi trong từng
ngày qua. Đi qua tuổi trẻ ("mùa xuân"), đến tuổi trưởng thành
("mùa hạ"), rồi bước vào tuổi già ("đầu thu"), khi nghe tiếng
bước chân thời gian đưa mình "về" – tức là về cõi chết, một "chốn
xa".
Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở
lại
Dù đã tìm ra bóng mát của thiên nhiên
("mây che trên đầu"), nhưng vẫn còn gánh nặng của tháng năm ("nắng
trên vai").
Con người rồi cũng phải ra đi. Tất cả rồi cũng ra đi, chỉ còn dòng sông – ẩn dụ của vô thường –
vẫn tiếp tục chảy và không ngừng đổi
thay.
Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện
bóng con người
Thế nhưng, dù có ra đi, tình yêu
thương giữa người với người vẫn mãi mời gọi. Có lẽ tình yêu chính là “con tinh” ấy – một ám
ảnh giữa cuộc đời. Trong cách nói của người Huế, như Trịnh Công
Sơn, chữ “con tinh” đôi
khi được dùng như một lời mắng yêu. Tình yêu nhắc cho người ta nhớ đến một ai
đó, và dù đến những giây phút cuối cùng, ta vẫn không thể quên được "hình
bóng con người".
Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa
Mưa bay trong ta bay từng
hạt nhỏ
Con người mang nặng "ái biệt ly khổ". Đã từng trải qua những ngày
mưa dầm dề ở Huế, tôi lan man nghĩ về một cơn mưa nào đó ở Sài Gòn đã mang Trịnh
Công Sơn trở về với những ký ức xưa, để rồi giọt mưa ngoài trời hóa thành những
giọt nước mắt âm thầm chảy trong lòng.
Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng biết nơi nao là chốn
quê nhà
Sự chia xa kéo dài suốt cuộc đời tưởng
như vô tận ("vô biên"), chưa bao giờ gặp lại ("hội ngộ").
Chốn cũ xa xôi mịt mù, không còn nơi nào mang lại cảm giác ấm áp như quê nhà.
Tôi chợt nhớ câu thơ của Hàn Dũ: "Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại / Tuyết
ủng Lam Quan mã bất tiền" (Mây giăng đỉnh núi Tần, nhà ta đâu? / Tuyết lấp quan Lam, ngựa chẳng
đi). Ý thơ này cũng từng được Nguyễn Du bất tử hóa qua hình ảnh "mây Tần"
trong Truyện Kiều: "Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa".
Trịnh Công Sơn, cũng như Nguyễn Du hay Hàn Dũ, nhắc đến quê hương không chỉ như
một nỗi nhớ, mà là niềm tiếc nuối khi tương lai cũng mờ mịt không kém.
Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy
Một bờ cỏ non một bờ mộng
mị ngày xưa
Cuộc đời cứ thế loanh quanh, mỏi mệt đến
mức làm tiều tụy thân người. Đôi khi, ta lại nghe đâu đó lời của
thiên nhiên, lời của vũ trụ bao la, chợt xao xuyến nhớ về "một chiều ngồi
say" cùng vạn vật thuở nào.
Từng lời tà dương là lời mộ địa
Từng lời bể sông nghe ra
từ độ suối khe
Khi vào mùa thu của
cuộc đời, mỗi buổi hoàng
hôn ("tà dương") lại nhắc nhớ về sự mong manh của kiếp người. Dòng
sông vô thường luôn ở đó, hiện hữu ngay từ khi nó chỉ mới là khe, là suối.
Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển
rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng
độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt
xuân thì
Trong giây phút cuối cùng, con người lại thoáng nhớ về cuộc đời
vừa qua ("ta về lại nhớ ta đi"). Một cuộc đời đã từng "lên non
cao", đã từng "về biển rộng", nhưng cũng đầy khắt khe vì nhân
gian "chưa từng độ lượng". Một đời cô đơn; nỗi cô đơn như một
"ngọn gió hoang vu" thổi suốt những năm tháng thanh xuân.
Năm 1974, Trịnh Công Sơn còn khá trẻ. Ở
tuổi 35, ông vẫn còn khá trẻ để nói nhiều đến sự mỏi mệt của đời người. Nhưng
như đã nói, ông viết thay cho một quê hương đau khổ trong chiến tranh, và viết
thay cho thân phận con người trong bể khổ trầm luân.
Tôi thả hồn về Sài Gòn những ngày cuối
năm 1974. Là một đứa trẻ vô tư vừa lên 11 tuổi, tôi nào biết ngoài kia một cơn
bão đã bắt đầu. Cơn bão đó đã cuốn tôi ra đi, và hôm nay, tôi là một người
ngoài 60 tuổi, ở xa quê hương nửa vòng trái đất. Cuộc đời tôi đã trải qua bao
nhiêu buồn vui, và biết bao lần lòng nghe những "hạt nhỏ" mỗi khi nhớ
về những cơn "mưa xa".
Một Cõi Đi Về kết thúc bằng hai câu:
Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn
Để sớm mai đây lại tiếc
xuân thì
Cuộc đời là vậy, nhân sinh là vậy,
nhưng hình như Trịnh Công Sơn vẫn để lại một lời nhắc nhở? Tôi nghĩ ông muốn nhắn
nhủ rằng dù có cô đơn, mỏi mệt hay tiều tụy, chúng ta vẫn phải sống. Và ngày
nào còn sống, hãy sống trọn vẹn cho hôm nay để ngày mai không phải hối tiếc vì
tuổi trẻ đã phí hoài.
Với tôi, hai câu chót này như một ngọn nến
thắp lên giữa đêm dài tăm tối của cuộc đời.
Ở Chicago nơi tôi đang sống, trời còn
khá lạnh, nhưng mặt hồ nhỏ sau nhà đã tan băng và đàn chim thiên di đã trở về tắm
táp, tìm ăn sau vườn. Tôi đang đọc lại cuốn 1984 của George Orwell, và
trong khi nghiên cứu thêm, tôi tìm thấy một cuốn sách khác: Brave New World
(Thế Giới Mới Can Đảm) của Aldous Huxley.
Hai cuốn sách này làm tôi liên tưởng đến thân phận con người trong
Một Cõi Đi Về.
Cả hai cuốn sách đều mô tả những xã hội
đầy đau khổ. Nhưng nếu trong 1984, cái khổ đến từ sự áp bức, thì trong Brave
New World, cái khổ lại đến từ sự hưởng thụ khoái lạc hời hợt. Nỗi khổ của
con người đôi khi đến từ bên ngoài, nhưng cũng có khi do chính chúng ta tạo ra. Liệu có cách nào để thoát khỏi cái vòng luẩn
quẩn này không?
Có thể, con đường giải thoát đã được
thắp sáng bởi hai câu cuối của Một Cõi Đi Về. Dù đời là thế, dù nhân
sinh là thế, hãy cứ yêu đời và yêu luôn cả sự vô thường của nó.
Trong cái phù du của vạn vật, xin nguyện sống trọn vẹn trong sát-na này.
Tháng 3/2026
Bùi Hữu Anh Huy