Bỏ Lại
Sau Lưng
TT-Thái An
Nhà ông bà
Sùng có người bên xuôi gia chạy từ Kon Tum xuống ở nhờ báo cáo tình
hình trên đó trước khi ông bỏ chạy.
Ông bảo thằng cán bộ cộng sản đến ngồi nhà ông để chờ ông
về. Khi ông về gần đến nhà, ông có
linh tính nên len lén nhìn vào và bỏ đi luôn.
Mẹ tôi nghe
lời khuyên của ông tôi nên đến trường nội trú của em trai rước nó
về. Hình như đã nhiều phụ huynh
đến rước con về, trường cũng bắt đầu vắng vẻ.
Về nhà thì
em Nguyên lại hay đi đến nhà hai đứa bạn thân, hầu như mỗi ngày.
Thỉnh thoàng
mẹ lại ghé nhà bà Sùng nghe ngóng tình hình, ai cũng lo Việt cộng
sắp vào đến Sài Gòn rồi, phải tính cách nào, đi hay ở?
Bà Sùng và
mẹ tôi đều quả quyết rằng không thế nào ở với Việt cộng được. Mình đã bỏ miền Bắc năm 1954 cũng chỉ
vì biết chúng nó độc ác thế nào, ăn không cho ăn, mặc không cho mặc,
nói không cho nói. Đã thế nghe nói khi chúng chiếm được hết miền Nam,
chúng sẽ đem người Bắc di cư ra xử tội.
Nhà bà Sùng
có chị Thu là con gái thứ hai đã đi Mỹ khoảng cuối năm 1973. Nghe phong phanh rằng chị lấy chồng Mỹ
nên đi theo chồng. Nhưng nhà bà Sùng thì bảo là chị đi theo chương
trình Caritas gì đó.
Con gái lớn
của bà Sùng là chị Hà, đi thầu cho Mỹ nhiều năm đến năm 1973 thì
hết thầu vì Mỹ rút quân về nước. Chị xoay ra thầu làm cơm sấy cho quân
đội.
Con gái thứ tư của bà Sùng là Hạnh, bạn tôi thì đang có người yêu gắn bó vô cùng. Chàng hơn nó 11 tuổi, đang là sinh viên y khoa năm cuối.
Bà Sùng là người vô tư, ít khi nào thấy bà lo lắng. Nhà con đàn mười một đứa. Mọi việc tài chánh chi tiêu trong nhà đã có chị Hà cung cấp. Ông Sùng làm công chức, lương chẳng thấm vào đâu. Con trai lớn là anh Phi đã có vợ và hai con trai còn nhỏ. Vợ anh Phi rất đẹp, nhìn hoài không chán.
Nhưng lúc
này đã thấy bà Sùng bắt đầu lo. Bà nói với mẹ tôi rằng:
-Nếu Việt
cộng vào Sài Gòn thì tôi chịu chết, nhà đông con thế này làm sao đi
hết? Mà chả biết đi đâu nữa!
Mẹ tôi nói
đại, cố để trấn an bà:
-Hy vọng chị
Hà lúc trước thầu cho Mỹ thì Mỹ sẽ cho chị đưa các em đi.
Riêng phần
mẹ tôi, bà lo lắm, bà cũng muốn bỏ đi nếu Việt cộng vào. Nhưng nhà
tôi chẳng làm ăn buôn bán với Mỹ, cũng chẳng có bà con phục vụ trong
Hải quân hay Không quân, thì làm sao có đường ra đi? Bố tôi trước năm 1957 là Trung Úy trong
quân đội Bảo An, sau chuyển qua quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tuy giải
ngũ từ lâu, nhưng mẹ vẫn lo Việt cộng sẽ tìm bắt bố để xử tội.
Bà bác họ
đến kiếm mẹ tôi. Cho mẹ một cái
túi xách tay loại lớn. Bác nói với mẹ:
-Tôi biếu cô
cái túi này, có lẽ Việt cộng sắp vào rồi, nếu cô chú có bỏ chạy
thì xem như nó là quà kỷ niệm của tôi.
Gia đình tôi đông con quá. Đến 7 đứa, không có điều kiện ra đi. Nói đến đó bác đã rơm rớm nước mắt.
Bác nói
tiếp:
- Tôi nghe
nói nếu Việt cộng vào thì chúng nó bắt tất cả người Bắc di cư đi
bộ về Bắc nên tôi đã mua sẵn cho mọi người trong nhà ba đôi dép để đi
bộ từ đây về Bắc.
Mẹ tôi phân
vân lo lắng, trả lời người chị họ:
-Em cũng
muốn đi lắm, nhưng không biết kiếm đâu ra đường chạy.
Ngồi một
lúc bác quay quả ra về. Mẹ biếu
bác một số tiền để sắm sửa nhu yếu phẩm cho gia đình.
Đó là lần
cuối chúng tôi nhìn thấy bác.
Ngày 26
tháng 4, 1975, tự dưng có người đến kiếm mẹ bảo là có đường ra đi,
nhưng phải đóng cho hắn một người là xx lượng vàng. Lúc này mẹ tôi chẳng trả giá, chỉ cần
có người dẫn đường cho đi là mẹ bằng lòng. Người đó dặn cả nhà tôi phải ở nhà
trong những ngày này vì họ sẽ trở lại bất thình lình. Mỗi người chỉ được đem theo một túi cá
nhân đựng vài bộ quần áo, bàn chải đánh răng và nên đem theo vài ổ
bánh mì để ăn dọc đường.
Sáng ngày 27
tháng Tư, bà Sùng đến kiếm mẹ tôi báo tin chị Hà đã dắt hai đứa em
đi sáng nay. Chị được sở Mỹ cho đi
có 3 người thôi. Còn Hạnh sẽ được
anh Phi đến đưa đi chung với gia đình anh trưa nay. Vừa nói bà vừa
khóc:
-Tôi mất một
lúc 4 đứa con. Không biết còn có cơ hội gặp lại nữa không!?
Mẹ tôi cũng
rơm rớm nước mắt khóc theo bà, mẹ an ủi bà:
-Thôi, đứa
nào đi được thì mừng cho đứa đó!
Biết đâu sau này chị Hà còn tiếp tế về để nuôi cha mẹ và các
em. Cháu Hạnh thì được theo gia
đình anh Phi cũng mừng cho cháu không bị chia lìa với anh.
Bà Sùng lại
nức nở:
-Thế là tôi
cho không người ta đấy. Tội nghiệp nó đi theo không, chẳng cưới xin gì
hết.
Mẹ lại an
ủi:
-Thời buổi
loạn lạc, đi chung với nhau được là may mắn lắm rồi, còn hơn là kẻ
ở người đi, đau lòng lắm. Chuyện
cưới xin thì thời bình mới lo được thôi bà ơi!
Ngồi một
lúc, bà vội vã ra về. Đó là lần
cuối cùng chúng tôi gặp bà.
Khoảng một
giờ chiều ngày 27, tháng 4 người dắt đường báo tin khoảng 2 giờ nữa
sẽ có xe đến rước đi.
Mẹ gọi đến
sở bảo bố về ngay.
Em Nguyên
không có nhà. Mẹ tôi quýnh lên sai
em Khánh đi kiếm. Khánh lấy xe Honda
chạy đến nhà Linh bên Bà Chiểu, người bạn thân của Nguyên, Linh bảo
Nguyên vừa ra về, trên đường đến nhà Dũng, hai đứa sẽ đi xem xi nê ở
rạp Rex,
Khánh vội
vã chạy đến nhà Dũng ở sau viện Pasteur thời may gặp Nguyên và Dũng
đang dắt xe ra chuẩn bị đi. Khánh
hối Nguyên về ngay kẻo lỡ chuyến xe người ta sẽ không chờ.
Hai đứa em
về đến nhà, mẹ tôi mừng khôn tả.
Ông ngoại tôi hay tin vội qua nhà để tiễn đưa. Nhà ông cách nhà chúng tôi 5 phút đạp
xe. Nhà của ông là nhà cũ của
chúng tôi đã từng ở. Khi bố mua căn
nhà này dọn đi thì ông ở lại, không dọn theo. Ông thích ở riêng một mình cho yên tịnh,
vì bố tôi hay quát tháo vợ con, ông nghe thấy đau lòng, không chịu
được. Mẹ lại nhắc ông nên đi theo
chúng tôi. Ông cứ bảo để ông ở
lại. Chúng tôi biết ông không thích
đi theo làm gánh nặng cho con gái và con rể. Vì chưa biết sẽ đi đâu, làm gì để
sống.
Mẹ tôi đưa
hết số tiền Việt Nam còn lại cho ông, hơn một triệu. Mẹ cũng đã sắm sẵn mấy tạ gạo, mấy
chai nước mắm, dầu ăn, đường, sữa hộp cho ông. Mẹ bảo đi đến đâu sẽ biên thư cho ông và
gửi tiền về nuôi ông. Xin ông cố
giữ sức khỏe hy vong sẽ gặp lại ông.
Bố vừa về
tới thì xe van cũng tới đón cả nhà.
Bạn xóm cũ
của tôi là Bình vừa đến tìm tôi tình cơ trông thấy xe van đến đón
chúng tôi. Mẹ dúi vào tay Bình vài
trăm ngàn, dặn: “Đem về đưa cho mẹ cháu”.
Mẹ cũng đưa
cho chị Ba, người giúp việc 3 tháng tiền lương, dặn chị lấy được thứ
gì trong nhà thì cứ lấy.
Người ta hối
cả nhà lên xe, bố tôi dùng dằng không muốn đi, bố mếu máo:
-Tôi không đi,
không sao hết, chỉ có trung lập thôi.
Tôi không đi đâu hết!
Mẹ biết bố
quyến luyến cô L vì không kịp gặp cô để rủ cô chạy theo.
Mẹ cương
quyết:
-Anh không đi
thì mẹ con tôi đi.
Tôi mừng
thầm vì lúc thường mẹ rất phục tùng, chẳng bao giờ cãi bố. Cả nhà ai cũng sợ bố ghê lắm. Nhưng hôm
nay mẹ khác hẳn. Đứng trước tình
hình miền Nam sắp mất vào tay cộng sản miền Bắc, mẹ đã cứng rắn
bất ngờ, nhất định phải ra đi.
Thế là mẹ
hối chúng tôi lên xe, bố mất hết tự tin, tự động lên xe theo chúng
tôi, vừa lên xe vừa càu nhàu lằm bằm. Trông bố như sắp khóc.
Ông ngoại
tôi, Bình, chị Ba và 3 con chó đứng lại nhìn theo. Xe lăn bánh, chúng tôi cố quay lại nhìn
ông lần cuối. Bình vẫy tay, chị Ba
vẫy tay. Nhưng ông đứng buồn so nhìn
theo như đang cố cầm nước mắt.
Hình ảnh đó
ám ảnh tôi suốt đời!
Đó cũng là
lần cuối chúng tôi nhìn thấy ông, Bình và chị Ba.
Xe van đưa
chúng tôi ra tòa đại sứ Đại Hàn Dân Quốc trên đường Nguyễn Du. Trong sân đã có một đám đông người chen
nhau lên một chiếc xe bus. Xe đã
chật cứng, còn một đám đông nữa chưa được lên xe. Nhưng có người Đại Hàn nói còn một
chiếc xe bus cuối cùng sẽ đến ngay.
Thế là mọi
người yên tâm nhìn chiếc xe bus kia sau khi chất đầy nhóc người đang từ
từ lăn bánh ra khỏi cổng.
Vài phút
sau, chiếc xe bus cuối cùng tiến vào sân.
Mọi người xô nhau để lên xe, không ai muốn bị bỏ lại. Tôi và mẹ không tài nào đến được gần
cửa xe, nhưng hai đứa em trai tôi cố đẩy tôi và mẹ lên. Lúc đó tôi không hiểu sao lọt được qua
cửa. Sau chúng tôi còn người tiếp
tục leo lên. Cuối cùng thì mọi
người trong sân cũng đã chen được lên hết trên xe, Đứng sát nhau không
chỗ cục cựa.
Xe lăn bánh,
có xe của ông Đại Sứ Đại Hàn chạy phía trước dẫn đường đến bến Tân
Cảng của Hải Quân. Ông Đại Sứ đích
thân xuống xe trình giấy tờ cho lính gác cổng. Ông xin phép được đưa Hàn kiều và vợ
con về nước. Vì tình trạng hiện nay vợ con họ quốc tịch Việt Nam
không xin được giấy xuất cảnh cũng không có passport Việt Nam cho Đại
Sứ ký visa cho. Lính gác cổng mở
cổng cho xe vào.
Xe chạy đến
bên một chiếc tàu hải quân của Đại Hàn, đó là loại tàu Há Mồm,
chúng tôi xuống xe và leo lên tàu.
Đã có một chiếc tàu tương tự như thế đã chở đầy Hàn kiều và
vợ con Việt Nam của họ, đậu ngay gần đó.
Khi tất cả
mọi người đã lên tàu, lính kéo cầu thang lên.
Ông Đại Sứ
đứng lại ở bến tàu đưa tay vẫy chào.
Toàn thể dân chúng trên tàu đưa tay vẫy lại, thầm cám ơn lòng
tốt của ông Đại Sứ. Nếu không có
ông đi theo, chắc gì chúng tôi lọt qua cái cổng này. Ông Đại Sứ cũng thừa hiểu số Hàn kiều
và vợ con đi trên hai tàu này chưa tới một nửa, đa số là dân Việt Nam
đi theo.
Chúng tôi
được cho ở trên boong tàu. Mỗi gia
đình tự xúm vào một góc. Những
người đi một mình thì cũng kiếm
cho mình một chỗ. Nhưng số người
đông gấp ba lần dự bị nên mọi người phải ngồi gần nhau, nhưng không
sát lắm.
Cả hai chiếc
tàu hải quân Đại Hàn cùng rời bến Tân Cảng một lượt. Tàu đi ngang bến Bạch Đằng, đường Tự
Do, nhà hàng Maxim. Hoàng hôn bắt
đầu buông, đường phố vắng ngắt, không lên đèn. Nó từng là con đường nhiều ánh đèn
màu khi về đêm, nhiều người ăn mặc sang trọng đi trên đó, nhưng đêm nay
nó là con đường chết, nhà hàng Maxim tắt lịm, tối đen.
Bóng một phụ
nữ lẻ loi, mặc cái robe màu đỏ đi đôi giầy cao, đang đi lặng lẽ trên
con phố vắng. Không biết cô này đi
đâu giờ này? Cô có đang lo kiếm
đường chạy hay không? Ca Vũ trường
Maxim tắt lịm rồi, đâu còn ai ca hát ở đó nữa?
Mọi người
trên tàu cố nhìn cho kỹ con phố này lần chót, nhìn để nhớ đời.
Mọi người
hình như ai cũng bắt đầu cảm thấy đói, lấy thức ăn đem theo ra
ăn.
Có một cô
gái tình cờ đi ngang tòa đại sứ Đại Hàn thấy người ta chen lấn lên
xe thì vội leo lên theo vì biết đây là chuyến xe chở người di tản, vì
thế không có gì đem theo ăn thì đã có người sẽ phần cho. Mẹ đã chia cho một cô một phần bánh mì
và giò lụa như chúng tôi. Cô chưa
hoàn hồn vì đang đi trên đường Nguyễn Du cầu mong xem có tòa đại sứ
nào còn mở cửa cho vào. Gia đình
cô không hề hay biết cô đã lìa xa thành phố, đang lênh đênh trên con tàu
này, chưa biết sẽ đi đâu, về đâu. Cô
đang lo tối nay cha mẹ cô sẽ lo lắng vì chẳng thấy cô về. Cô mặc cái váy bó sát, dài qua đầu
gối và cái áo sơ mi bó sát người bỏ vào trong váy, chân đi san đan
cao gót. Vài người trách cô đã
kiếm đường chạy thì mặc gì cho thoải mái, mặc váy thì quá bất
tiện khi phải ở trên tàu nhiều ngày.
Cô lại thừ người nói “ai ngờ đi được như vầy!”
Tàu chạy qua
rừng sát để ra Vũng Tàu. Mọi
người hồi hộp nín thở vì chỉ sợ Việt cộng từ trong rừng bắn ra
thì chết cả đám. Mẹ cầu nguyện
không thôi. Mẹ nhắc chị em tôi cầu
nguyện xin Chúa che chở để hai con tàu đi lọt.
Sau 10 giờ đêm thì đến Vũng Tàu.
Vũng Tàu như
một thành phố chết. Đường phố hoang vu, không lên đèn, không bóng
người qua lại. Cửa tiệm đóng im ỉm.
Cả hai con
tàu neo lại một ngày ở đây, chờ đến tối nhổ neo đi Phú Quốc. Tối 29 đến Phú Quốc, tàu neo ngoài khơi
cách bãi độ một cây số. Chúng tôi
nhìn lên bờ, có rất nhiều tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và tàu
đánh cá lớn, nhỏ của dân địa phương đang đậu ở đó.
Sáng ngày
30, tháng 4, độ 6 giờ sáng, ông Thuyền Trưởng ra lệnh thả đám người
Nùng đã được họ đưa từ miền Trung vào. Vì ông được lệnh từ cấp trên phải làm
như thế khi nhận chở họ từ miền Trung vào Phú Quốc.
Thủy thủ cho
đám người Nùng xuống hai chiếc ghe nhỏ rồi chở họ vào bờ. Có vài người dùng dằng không muốn đi
nhưng họ bị bắt buộc phải đi. Trông
thấy tôi nghiệp quá, gia tài của họ gồm mấy cái nồi đen thui, móp
mép, vài cái giỏ mây hay túi vải cũ mèm đựng quần áo.
Thuyền
trưởng đứng trên boong tàu thông báo, có người Đại hàn thông dịch sang
tiếng Việt, rằng thuyền neo ở đây chờ tình hình chính trị của miền
Nam ngã ngũ ra sao rồi sẽ quyết định: nếu chánh phủ miền Nam tuyên
bố trung lập thì ông sẽ đưa đám dân Việt trên tàu về Sài Gòn thả
xuống; nếu miền Nam tuyên bố hàng cộng sản miền Bắc thì ông sẽ cho
tàu chở tất cả dân Việt Nam trên tàu về Đại Hàn vì lúc đó chúng
tôi đã được xem là dân tị nạn cộng sản.
Đến khoảng 10:30
sáng ngày 30 tháng Tư, 1975, khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố
hàng trên đài phát thanh Sài Gòn, thì mọi người trên tàu đồng loạt
vỡ oang, khóc rống.
Lính hải
quân Đại Hàn ra lệnh cho mọi người nằm sấp xuống, trong khi đó lính
xoay hết mấy khẩu đại bác vào hướng bờ đề phòng hờ Việt cộng bắn
ra vì lúc đó lãnh thồ đã thuộc quyền của họ rồi.
Nhìn vào
bờ, tất cả tàu hải quân VNCH, tàu ngư phủ, tàu tư nhân đồng loạt nhổ
neo phóng ra khơi. Có cả ngàn con
tàu lớn nhỏ, đủ cỡ, đủ kiểu, có chiếc chạy nhanh, có chiếc chạy
chậm, nhưng họ cùng đi về một hướng.
Nhìn theo
đoàn tàu cùng nhau bỏ nước ra đi mà đau lòng thắt ruột. Tôi bật khóc tức tưởi, tâm tư hoang mang. Miền Nam mất vào tay Việt cộng phương
Bắc rồi! Ông ngoại tôi giờ này ra
sao? Lính tráng miền Nam giờ này ra
sao? Chúng tôi sẽ ra sao?
Chẳng mấy
chốc bãi biển không còn chiếc tàu nào, để lại sự hoang vắng ghê
rợn. Chiếc tàu của tôi xa dần bờ,
tôi cố nhìn lại bờ cho đến khi cả cái đảo Phú Quốc hiện ra xa xa, nhỏ
bé, rồi nhạt nhòa, và biến mất
trong tầm nhìn.
Quay nhìn
lại đoàn tàu ban nãy, tôi thất vọng vì họ không đi cùng hướng với
hai chiếc tàu của hải quân Đại Hàn.
Tôi nhìn theo đoàn tàu cho đến khi chúng biến mất trên đại dương
mênh mông. Một cảm giác lạc lõng
choáng lấy tôi, tôi cảm thấy chúng tôi đã lạc bầy của mình, tôi lại
khóc thút thít vì cảm thấy một sự bất an nặng nề đang đè nặng trên
mình.
Sáng nay hỏa
đầu quân của tàu dọn mì gói cho dân tị nạn. Vì không trữ đủ nước uống cho số đông
người nên họ chỉ cho tí xíu nước đủ cho mì nở, nhưng cho tất cả các
gói bột nêm vào nên mì rất mặn. Tôi
gọi đó là mì muối ruột; tôi không ăn được, nên tôi gậm miếng bánh mì
còn sót lại từ hôm trước đã khô cứng. Mỗi gia đình được phát cho một ly nước
để uống cả ngày, như thế mỗi người uống một ngụm là hết ly.
Mặt trời
chói chang gay gắt trên đầu, thủy thủ mắc cho mấy cái bạt nylon phía
trên, che bớt phần nào những vạt nắng đang đổ xuống. Họ cũng làm ngay một dãy nhà vệ sinh
giã chiến và phòng tắm giã chiến phía sau đuôi tàu. Họ bơm nước biển lên cho dân chúng tắm
rửa, nên tắm xong sẽ rít chịt, muối còn đọng lại trên da. Nhưng trời nóng gay gắt đành phải đi
tắm cho bớt nóng.
Tàu lênh đênh
trên biển khoảng hơn một tuần thì đi ngang eo biển Đài Loan. Chiều hôm đó khoảng gần 6 giờ, lính
hải quân Đại Hàn ra lệnh cho dân chúng phải xuống tầng hầm ngay vì
có cơn bão sắp đi qua. Thế là mọi
người gom túm vội vã túi bị của mình để theo lính xuống hầm.
Hầm chật
hẹp hơn trên boong, lại hôi hám ẩm thấp, nhất là mùi dầu máy xông lên
thật khó chịu, tiếng máy chạy nghe ồn ào, đèn diện không đủ
sáng. Mọi người còn ngơ ngác, chưa
biết ngồi đâu thì lính tráng đã ra lệnh kiếm chỗ ngồi xuống
ngay. Chật ơi là chật, lúc nhúc
người là người. Tôi ngồi xuống bên
bố mẹ và các em. Tối nay chắc là ngủ ngồi vì không cách chi duỗi
chân ra được. Chưa kịp nghỉ ngơi thì
con tàu lắc mạnh, từng con sóng đập vào thành tàu nghe ầm ầm, dữ
dội. Nhiều người bắt đầu bị say
sóng và nôn mửa, trong đó có tôi.
Giờ thì ngoài mùi hôi của dầu máy và ẩm mốc của hầm tàu,
lại có thêm mùi nôn mửa nữa, thật khủng khiếp.
Mẹ lại nhắc
chúng tôi cầu nguyện xin Chúa cho cơn bão mau qua. Tôi cảm thấy may mắn vì toàn thể dân tị
nạn đã xuống hầm kịp thời trước khi cơn bão đến độ mười lăm phút.
Vài giờ sau
đã thấy yên, không còn tiếng sóng gào và con tàu không còn lắc dữ
dội nữa.
Giờ này ai cũng
mệt lũi rồi mà tôi vẫn không ngủ được vì bụng đói cồn cào. Cả mấy hôm nay tôi chỉ uống nước, khi
mẹ dỗ lắm thì tôi cố ăn được hai gắp mì gói cầm hơi, hoặc không ăn
gì hết. Tôi nằm gác tay nhìn lên
mấy cái đà ngang dọc phía trên mà tưởng tượng hết món này đến món
kia rồi nuốt nước bọt. Bỗng dưng
mắt tôi đụng vào cái lon giống như đồ hộp nằm trên một cái đà. Tôi dụi mắt nhìn nó một lúc, không tin
có ai đó cất một lon đồ hộp trên cái đà cao ngất kia làm gì. Tôi gọi một đứa em rồi chỉ nó nhìn
lên. Nó nhìn lên rồi nói ngay “Chắc
là đồ hộp rồi!” Sau đó nó gọi anh
Ngọc chỉ anh cái lon. Anh Ngọc đi
chung với vài người bạn, gia đình cha mẹ còn ở lại. Anh Ngọc tỉnh nguyện leo lên lấy cái lon
xuống. Mẹ và tôi thấy leo trèo từ
dưới lên bám từ cái đà này chuyền qua cái đà kia nguy hiểm quá nên
nói anh đừng leo làm gì, không đáng đâu, lỡ té gãy xương thì nguy. Nhưng anh vẫn khăng khăng phải lấy nó
xuống cho được.
Anh đã lấy
được cái hộp ném xuống cho em tôi chụp rồi anh leo xuống dễ
dàng. Cái lon chẳng có nhãn hiệu
gì, nhưng anh Ngọc có đem theo đồ khui nên mở ra ngay. Ồ! Ai
nấy hớn hở khi thấy đó là hộp cá hồi.
Thế là chia ngay cho mỗi người một miếng, tuy chẳng thấm vào
đâu nhưng thấy vui vì có miếng ăn trong lúc không ngờ.
Tờ mờ sáng
hôm sau những người thanh niên đã leo trở lên boong tàu dù còn ướt
sũng trên đó. Bố và các em tôi
cũng lên theo để xem tình hình. Một
lúc sau bố và một đứa em chạy xuống dắt mẹ và tôi lên boong cho
thoáng. Mọi người còn lại cũng
trở lên boong, chẳng ai muốn ở lại cái hầm này.
Trên tàu có
một cậu bé khoảng 10 tuổi, con út của một bà mẹ độc thân gồm 4
người con. Cậu bé này tự nhiên mọc lên một cái mụt nhọt trên mũi,
càng ngày càng to ra khiến cậu nóng sốt và kêu đau. Bác sỹ trên tàu cho cậu vào phòng y tế
để mổ lấy cái mụn ra. Sau đó cậu
mê man rơi vào tình trạng nguy kịch.
Bác sỹ cho cậu ở lại phòng hồi sinh và chỉ cho người mẹ vào
thăm mà thôi. Mẹ cậu lo lắng không
dám nói nhiều. Ai biết chuyện cũng
bảo rằng cái mụn nhọt đó là đinh dâu, chớ đụng đến mà nguy hiểm. Nhưng lỡ rồi!
Sau 12 ngày
trên biển, bác sỹ trên tàu cho phép những phụ nữ lớn tuổi được
truyền nước biển vì họ biết đa số ai cũng thiếu nước quá nhiều
ngày. Họ dùng khoảng giữa của
boong tàu cho các bà nằm xuống sàn rồi y tá đến máng bình nước
biển lên một cái cây có móc treo. Thêm
phần, tàu chỉ còn hai ngày là cặp bến Pushan nên họ không cần lưu
giữ nước biển nữa. Sau khi các bà
đã truyền xong nước biển thì đến lượt các cô gái, ai muốn vào nước
biển thì cứ đến. Bố mẹ khuyên tôi
nên vào nước biển cho lại sức vì tôi yếu quá rồi.
Khoảng giữa
tháng 5, tàu cặp bến Busan. Mọi
người đều được đưa xuống hầm tiến đến gần cửa. Khi cửa hạ xuống thì đúng với cái tên
“tàu há mồm”, mọi người chưa được bước ra, nhưng thấy bên ngoài đã
ngập các ký giả, xe cứu thương, xe bus đến đón dân tị nạn.
Trời giữa
tháng 5 nhưng khí hậu còn lành lạnh.
Dân Việt Nam chưa quen nên co ro vì cảm thấy lạnh.
Có một ông
người Việt đang sống tại Seol xin được phép để lên tàu hỏi thăm xem
có thấy vợ con ông trong đám người di tản này không. Ông làm ở tòa đại sứ Việt Nam Cộng
Hòa, mọi người đã được giấy phép đi Mỹ tị nạn, nhưng ông nán lại
để cầu mong gặp được vợ con trong hai chuyến tàu này. Nhưng ông thất vọng não nề, không ai
biết tên của vợ con ông trong chuyến tàu này.
Cậu bé 10
tuổi được xe cứu thương đến đón đưa thẳng vào bệnh viện. Người mẹ
được phép đi theo. Ba đứa con lớn
thì phải lên xe bus vào trại tị nạn.
Sau đó
thuyền trưởng cho phép mọi người bước ra, có lính hướng dẫn đến
từng chiếc xe bus đang xếp hàng dài bên lề đường. Tất cả người Việt và Hàn kiều đều
được đưa vào trại tị nạn.
Trại là một
trường trung học đang lúc đóng cửa nên không có học sinh. Họ dọn bàn ghế trống trơn. Mỗi phòng học được chia cho 5 hoặc 6 gia
đình ở chung.
Nhân viên hội
Hồng Thập Tự tình nguyện đến giúp phân phối chăn gối, nệm, thau rửa
mặt, bàn chải đánh răng, xà bông tắm và một bộ quần áo tay dài,
loại mặc để đi bộ hay mặc ở nhà vào mùa đông, cho từng người.
Mỗi người
nhận được một tấm nệm cao su để lót nằm, một tấm mền nỉ màu nhà
binh, một cái chăn bông để đắp. Căn
phòng mà gia đình tôi được cho đến ở lầu hai, bên ngoài phòng là
hành lang có thể trông ra con đường bên ngoài.
Chúng tôi
được lệnh phải lên văn phòng trại để làm thẻ đeo trên ngực áo, mỗi
người được phát cho một con số gắn vào thẻ này. Số của tôi là
533.
Hôm sau người
mẹ của đứa bé trai 10 tuổi từ bệnh viện trở về với cái tin đứa bé
đã chết tối hôm trước. Bà về báo
tin và được phép dẫn mấy đứa con khác vào nhà thương nhìn em lần
cuối trước khi đem xác nó đi thiêu.
Chúng tôi
chỉ biết an ủi, chia buồn với bà.
Bà chỉ im lặng khóc thút thít nhưng không nói gì.
Mỗi ngày,
những người phụ nữ Đại Hàn trong hội Hồng Thập Tự (HTT) đến nấu
cơm, dọn dẹp nhà bếp, có mấy bà Việt Nam tị nạn cũng tình nguyện
vào giúp.
Đến giờ cơm,
họ yêu cầu mọi người xếp hàng từ hành lang đến phòng ăn, mỗi người
sẽ tự lấy một cái mâm plastic có chia ra vài ngăn. Người của hội HTT sẽ múc thức ăn vào
mâm cho dân chúng.
Buổi sáng
họ phát bánh mì gối và một cục bơ magarine, chỉ có nước trà bằng
bắp rang, chẳng có trà xanh hay trà Tàu.
Buổi trưa và
buổi tối chỉ có bo bo nấu thay cơm ăn với kim chi muối buổi sáng, trưa
ăn ngay. Buổi tối cũng chỉ có bo bo
và kim chi. Chẳng có gạo tẻ như ở
Việt Nam, cũng không có thịt hay cá.
Đa số người Việt không quen ăn bo bo nên có người bỏ dở nguyên
mâm cơm của mình.
Khi ăn xong,
mọi người tự đem mâm vào bếp, đổ thức ăn thừa vào thùng phi rồi xếp
mâm vào thùng sẽ có người tình nguyện rửa. Khi trông thấy dân tị nạn đổ cả mâm bo
bo vào thùng phi, họ lắc đầu bất mãn vì thấy dân tị nạn phí phạm
quá.
Vì thế, có
những người tị nạn lớn tuổi đứng ra khuyên mọi người nên cẩn thận
khi lấy thức ăn, nên lấy vừa đủ ăn không nên lấy quá nhiều rồi đổ đi. Đừng để người Đại Hàn chê mình là
hoang phí vì không phải là của mình mua nên không tiếc.
Những người
làm thiện nguyện Đại Hàn cũng ăn như người tị nạn. Họ quen ăn bo bo nên bà nào cũng ăn cả
mâm cơm đầy với kim chi. Trông họ ăn
ngon lành, chẳng cần thịt cá gi cả.
Mỗi tuần,
ái nữ của tồng thống Phác Chánh Hy biếu tặng cho trại thị gà quay,
loại gà Hen, con nhỏ bên Mỹ. Họ xẽ mỗi con làm hai phát cho mỗi
người một nửa con. Hôm đó thấy ai
cũng hớn hở.
Chiều chiều
sau khi ăn trưa, lũ trẻ chúng tôi hay ra lan can bên ngoài phòng, ở lầu
hai để nhìn ra con đường bên ngoài.
Chúng tôi tò mò muốn biết đường phố và dân chúng ở đây ra sao
nhưng không được phép ra khỏi trại. Tôi
thấy có một xe tải chở trứng đến bỏ hết xuống ở bên kia đường,
chẳng thấy ai ra lấy. Bỏ xong, xe
tải chạy đi. Chúng tôi thắc mắc
không ai ra lấy mà không bị ăn trộm tới khuân đi hay sao? Đến chiều tối mới có người ra khuân vào.
Có những
học sinh trung học vừa trai vừa gái đi ngang qua đứng lại dơ tay vẫy
chào chúng tôi. Họ rất hiếu khách, họ biết chúng tôi là dân tị nạn,
không được phép ra ngoài.
Con trai mặc
đồng phục là một bộ quần áo xanh dương, áo sơ mi bên trong màu trắng,
áo vest bên ngoài mầu xanh.
Qua chiều hôm
sau, có loa phóng thanh gọi số 533 lên văn phòng trại có người muốn
gặp. Tôi ngạc nhiên quá đỗi, nhưng
cũng phải lên văn phòng. Đến nơi,
họ chỉ tôi một nam sinh trung học đang mặc đồng phục cầm theo một túi
thật to. Tôi ngơ ngác chào anh kia,
lòng thầm nhủ không biết họ có gọi nhầm số hay không. Người đàn ông hỏi anh kia có phải anh
muốn gặp tôi hay không, anh kia trả lời đúng là tôi vì anh trông thấy
tôi chiều hôm qua khi anh đứng bên kia đường vẫy tay.
Sau đó anh
trao cho tôi cái túi quà, anh bảo tôi mở ra. Chao ôi! Mấy cái quần tây mùa hè, mấy
cái áo mùa hè và nhiều quà bánh.
Tôi cảm động quá, cám ơn anh bằng tiếng Anh. Anh tự giới thiệu tên rồi hỏi tôi tên
gì. Tôi còn nhớ anh họ Choi, tên
thì tôi quên rồi. Anh nói anh là
học sinh lớp 12, vừa 17 tuổi. Anh
hỏi tôi bao nhiêu tuổi. Tôi nói thật
với anh rằng tôi đã 20, hơn anh 3 tuổi. Anh cười nói không sao, chúng ta
là bạn. Ngồi nói chuyện với nhau
bằng tiếng Anh bập bẹ, tôi không thấy thoải mái. Nhất là sợ anh thất vọng khi biết tôi
hơn anh 3 tuổi, tự dưng đem quà biếu bà chị thay vì em gái có phải
hay hơn không? Ngồi độ 20 phút anh
đứng dậy ra về. Tôi thở phào nhẹ
nhõm cầm túi quà về phòng chia kẹo bánh cho cả nhà và cho mấy đứa
bé cùng phòng. Mẹ chỉ cười và
nói người Đại Hàn tốt quá.
Nhưng hai hôm
sau tôi lại được gọi lên văn phòng.
Anh Choi lại đến đem theo quà cho tôi. Lại thêm quần áo và bánh
kẹo.
Tôi nghĩ
thầm tôi chỉ ở tạm trong trại chờ ngày đi nước khác, khi đi khỏi đây
chắc gì anh còn gặp lại tôi. Nghĩ
thế, tôi thấy cảm phục tấm lòng của anh, vì anh cũng biết thế mà
vẫn đến thăm tôi. Choi cho tôi địa
chỉ nhà anh, dặn rằng đi đâu thì biên thư liên lạc với anh.
Sau gần 3
tháng ở trại, bố quyết định đưa cả nhà đến Đài Loan. Chị em chúng tôi muốn đi Canada nhưng bố
không cho đi riêng, bảo là “Tao ở đâu thì chúng mày phải ở đó.”
Ngày tòa
lãnh sự Đài Loan đem xe van đến trại rước gia đình chúng tôi, những
người quen từ trên con tàu há mồm tiễn chân chúng tôi đến cửa xe. Xe lăn bánh, tôi cố quay lại nhìn mọi
người lần cuối. Choi không biết
được hôm nay tôi rời trại.
Sau khi đến
Đài Loan một tháng, tôi biên thừ báo tin cho Choi, anh biên thư cho tôi
ngay và gửi kèm vài tấm ảnh mới chụp.
Tôi biên thư cho Choi thêm vài lần rồi thôi, chẳng biết nói gì
thêm. Nhưng tôi xin cảm ơn tấm lòng
thương người tị nạn của anh. Anh đã
đem đến cho tôi một kỷ niệm đẹp.
Sau đó hai
tháng, trại tị nan Busan đóng cửa vĩnh viễn vì tất cả dân tị nạn
đã được các nước Mỹ, Canada, Pháp hay Đức cho đi tị nạn.
TT-Thái An
4/30/2020