Ngẫm
Chuyện Xưa Nay
Sau ngày 30-4-1975,
nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị
nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau
thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân,
rồi trả lời theo một trong hai ý.
Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa ?”
Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để
phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra
thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân
tình.
Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ
trong thời gian đầu — hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên
những chuyến bay vội vã của chiến dịch “ Gió lốc - Operation Frequent Wind” —
hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả
để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ. Người ta
gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).
Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã
phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử — mỗi bước chân ra đi, dù
bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được.
Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây” — kẻ
đến trước, coi thường người đến sau. Nôm
na là “ma cũ coi thường ma mới” — mặc dù cùng chung cảnh ngộ.
Cái tật: ai hơn mình thì ghét, ai kém
mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai.
Điều này thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu
hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.
Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy
ngẫm: “ Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không.
Khách hỏi lý do. Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên
gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ
được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị
con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”
Những chuyện khó quên về người tị nạn
Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường
chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng
chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới
tìm ra lối về nhà.
Một câu chuyện khác - mới nghe tưởng
đùa, mà có thật - được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái
gì cũng mới lạ - đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần
đầu ra tỉnh. Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi — hai bàn tay
vỗ vỗ vào lưng — rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!” Niên trưởng qua lâu
chưa? Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì
trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt
mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy. Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ
tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” — tiếng Anh gọi là “hug”.
Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim
30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào
cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em
chưa quên truyền thống Trường Mẹ — gọi tôi “niên trưởng” — làm tôi bồi hồi nhớ
lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi
chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.
Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương
kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ
chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo
quần (suspenders), trông rất sang. Hồi
đó chưa có điện thoại di động (cell phone) , anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ
bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái
gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận
tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng.
Chúng tôi đối với nhau rất chân tình -
điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc
cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện
tử.
Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp
với người bản xứ sao cho phải phép — trong đó có một chuyện nhớ đời — chuyện
đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong
trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo: trông cô
khoảng ba mươi — cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!
Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp
theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến
Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc,
nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp
được bà tiên…
Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra
rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại
những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.
Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người
Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng,
mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con
cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện. Câu hỏi
“anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.
Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác
cũng làm chạnh lòng người. Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học
ngành gì? Tốt nghiệp chưa?”
Người Việt mình có truyền thống hiếu học
nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác
sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh
diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững
vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.
Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người
Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau
nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là
thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như
Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc,
phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời
sống văn hóa phong phú.
Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ
lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham
gia các hoạt động cộng đồng.
Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo
cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành — học hành thành
đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa
Kỳ. Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ - hiện diện trong hầu hết mọi ngành
nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân
đội, truyền thông và cả chính trường…Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa
Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.
Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa
bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi
dự đám cưới. Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức
danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc
cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương
bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý
khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con
mình.
Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi
tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng — ra đi để tìm sự sống
trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định - con cái
cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương - viếng mồ mả cha ông, thăm gặp
bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình
yêu quê hương.
Là con người bình thường, ai cũng mong
đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết:
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và
đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ
muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức
tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang
mộ phần của cha ông.
Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa,
nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến
thành trò cười cho thiên hạ.
Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ
mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn — “tranh
nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và
cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố
thu nhỏ.
Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối
ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một
người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra
Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”.
Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một
phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang - tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung
vít…
Nhưng không phải “người Việt hải ngoại”
nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo,
nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách đối với quê hương đang nghèo
khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền
không ngờ: Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến
1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn
8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).
Mới ngày nào những con người trốn chui,
trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và
tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam
cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế
quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng - gọi họ
là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất
mùi là: “khúc ruột ngàn dặm”- làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành
người yêu nước.
Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở
tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi.
Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái
đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ
những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh
vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi - coi như chuyện nhỏ. Các ông
bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước.
Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải
thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ.
Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên
bàng quan đưa ra nhận xét như thế) làm
mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…
Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn
trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn
dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở
— dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.
Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi
trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán
tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần
giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự
miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm
trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã
chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn
thấy tương lai.
Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị
nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây
giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi
rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn
ý khoe khoang nữa.
Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục
dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu
tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn
thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất
nước Hoa Kỳ.
Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ
đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái
Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai,
nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy
chỉ là “Mỹ giấy”
Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu
trong lòng người viễn xứ.
LÊ
ĐỨC LUẬN
(Tháng 6-2026)
(1)
Nguồn: World Bank và Statista.