Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

849 . TT-THAI AN - KHÔNG XIN MÀ ĐƯỢC - Truyện

                                                                             

Sau khi sanh xong đứa con gái, Hường và con được cho vào phòng nằm chung với mấy mẹ con người khác vì phòng dành cho nhiều người nằm chung. 

Năm 1970, bệnh viện Đà Lạt nhỏ, nhưng có khoa hộ sinh dành cho các bà cư trú ở quanh đây đến sinh đẻ.  Riêng Hường từ nơi khác đến đây theo chỉ định của cha mẹ. Sinh xong thì phải trở về nhà.  Vì thế, những bà mẹ khác có chồng hoặc cha me, hoặc chị em đến thăm nuôi, đem cơm vào cho ăn mỗi ngày.  Hường chẳng có ai đến thăm nên phải nhờ mấy bà dọn dẹp ở đây ra phố mua thức ăn đem vào cho nàng.

Cô y tá trưởng tên Nhân khoảng trên dưới năm mươi tuổi, dáng mảnh khảnh, nói năng từ tốn thỉnh thoảng ghé thăm sản phụ đã lưu ý thấy Hường đơn chiếc, chẳng người thăm nuôi nên hay dừng lại hỏi thăm.  Cô Nhân nói chuyện nhẹ nhàng khiến Hường yên tâm trò chuyện với cô.  Hường kể với cô Nhân rằng chồng đi lính, đóng quân ở xa, lại phải ra trận thường xuyên nên chờ lâu mới có thư của chồng.  Cô Nhân thương cảm hoàn cảnh của Hường nên có hôm cô đem thức ăn vào cho Hường.

Bệnh viện cho sản phụ và con ở lại bốn ngày sau khi sanh mà thôi. Vì thế, Hường do dự tìm cách nói với cô Nhân trước ngày phải ra khỏi viện.  Trong thâm tâm, Hường rất phục một người xuất thân từ một gia đình gia giáo như cô. Chỉ nhìn tuổi của cô lớn hơn tuổi của cha mẹ của Hường mà đã học ra y tá chuyên ngành trong khi thế hệ của cô nhiều đàn bà con gái còn chưa biết chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết là tốt lắm rồi.  Cô Nhân không có chồng nhưng cô có nghề nghiệp tốt, đời sống ổn định.

Hường chờ cô Nhân đến bên giường, cô hỏi thăm trước:

-Ngày mai mẹ con cháu xuất viện rồi, có ai đến rước không?

Hường ngại ngùng nói khẽ, không muốn người khác nghe thấy:

-Cô ơi, chẳng ai đến rước hết.  Mới có người ở nhà trọ đem thư của đơn vị anh ấy đến cho cháu bảo rằng anh mất tích từ tuần trước. Cháu phải lên đơn vị anh ấy chờ xem tin tức thế nào.  Cháu mạo muội xin cô giúp cháu một việc, không biết có được không?

-Việc gì cứ nói ra, nếu cô giúp được thì cô sẵn sàng.

-Xin cô cho con gái cháu ở lại trong bệnh viện thêm một tuần, cháu đi khoảng 1 tuần sẽ về đón nó ra. Cô ơi! Cháu không biết nhờ ai nữa. Xin cô giúp cháu, cháu muôn vàn tạ ơn cô!

Chần chừ một lúc, cô Nhân hỏi:

-Cô thấy hoàn cảnh cháu mà thương, không nỡ từ chối.  Thế nhà cháu ở đâu? Cháu làm việc ở đâu, cho cô biết để ghi xuống.  Còn tên tuổi của cháu thì bệnh viện đã ghi sổ, nhưng cháu cũng đọc cho cô ghi xuông đây.

Hường mừng đến phát khóc, nắm ngay tay cô Nhân và cám ơn chân thành. Cô Nhân cũng rơm rớm nước mắt vì thương hoàn cảnh của Hường quá.  Cô thấy cuộc chiến này đã để lại quá nhiều quả phụ và con mồ côi, cô không giúp được gì cho họ. Nhưng hôm nay, đứng trước một thiếu phụ chỉ ngoài hai mươi đang khốn khó vì chồng mất tích, đứa con thơ chưa được gặp cha nên cô không đành từ chối giúp đỡ.



Hôm sau y như hẹn, cô Nhân vào phòng thăm Hường để chào tạm biệt.  Hường bồi hồi bồng đứa con trên tay một lúc lâu rồi lau nước mắt trao nó vào tay cô Nhân. Cô Nhân đưa tay ra nhận và nói lời trấn an Hường:

-Cháu yên chí đi tìm cha của bé Phước. Cô giữ lại nhà thương thêm một tuần không sao đâu. Ở đây có các cô y tá cho bú và thay tã cho mỗi ngày.  Cô sẽ mua sữa cho bé, cháu đừng ngại gì cả.

Hường nấc lên cố dằn lại tiếng khóc rồi nói:

-Cháu đặt tên nó là Lê Hữu Phước, hy vọng nó sẽ luôn được phước. 

 

Hường cúi xuống hôn lên má con nhiều lần trước khi rời phòng sản phụ.  Rồi nàng cúi xuống xách túi hành lý nhỏ, quay lưng đi nhanh ra cửa.

 

Cô Nhân đưa cái nôi của bé Phước vào một phòng dành riêng cho các bé, không có các bà mẹ ở chung.  Mỗi ngày đích thân cô vào thăm nom bé Phước như đã nhận lãnh trách nhiệm với mẹ nó.

Một tuần trôi qua nhanh chóng, vẫn chưa thấy Hường trở lại. Cô Nhân vẫn yên tâm chờ đợi vì nghĩ rằng đường đi khó khăn, chưa chắc Hường kiếm được tin tức của chồng ngay.  Nhưng gần 10 ngày, vẫn không thấy Hường trở lại, bệnh viện phải hỏi cho ra lẽ. Cô Nhân phải cho người đi kiếm địa chỉ của Hường, chủ nhân căn nhà đó chẳng biết Hường là ai. Đến cái trường tiểu học mà Hường bảo là dạy ở đó, họ cũng chẳng biết Hường là ai.

Bây giờ cô Nhân và mọi người làm việc ở nhà thương đều hiểu rằng Hường cố tình bỏ con lại cho cô Nhân nuôi.  Mọi người xúm nhau vào khuyến khích cô Nhân:
-Thôi thì người ta bỏ cho mình thì mình không cần xin cũng được. Cứ xem như Trời cho.   Trời mà cho thì Trời sẽ giúp cô nuôi nó thành người tử tế, thành con hiếu thảo.

 

 Cô Nhân vốn sẵn có lòng nhân từ, nay nghe thêm mọi người tán vào, nên gật đầu nói:

-Thôi thì tôi cứ nuôi giúp bé Phước cho cô Hường, khi nào cố ấy về đây kiếm nó, tôi sẽ giao lại.  Có lẽ cô Hường có hoàn cảnh khó khăn không nói ra được nên đành bỏ con lại đây. Tôi chỉ sợ không hoàn tất được thiên chức làm mẹ.

-Úi dào, cô Nhân khéo lo! Tánh cô luôn cẩn thận kỹ lưỡng, chẳng khi nào sơ ý việc gì thì một khi cô muốn lo cho nó thì chắc chắn cô có đủ khả năng để làm.

Cô Nhân chậm rãi đáp:

-Thôi thì nuôi bé Phước tôi hy vọng nó được Phước như mẹ nó mong muốn.

 

Mọi người vỗ tay reo vui và chúc mừng cô Nhân có được đứa con Trời cho.

Theo thủ tục pháp lý, cô Nhân phải làm giấy khai sanh cho bé Phước, vì Hường chưa làm khai sanh cho con đã bỏ đi rồi.  Cô Nhân đứng tên là mẹ trên khai sanh của bé Phước, và bé mang họ Cao của cô. Cô đặt tên cho con gái nuôi là “Cao Hữu Phước”

 

Từ ngày đem bé Phước về, cô Nhân phải thuê vú em về nuôi bé vì cô phải đi làm mỗi ngày.  Người em gái ở chung với cô tên Từ cũng đi làm mỗi ngày nên chỉ buổi tối hai chị em mới có thì giờ chơi với bé Phước.

Khi bé Phước bắt đầu đi mẫu giáo, cô Nhân và cô từ đều sắm sửa quần áo và sách vở, bút màu cho bé.  Bé Phước thật là có phước vì hầu như nó có hai bà mẹ cùng lo cho nó. Bà mẹ nào cũng nói năng nhỏ nhẹ với nó, trong nhà chẳng bao giờ có tiếng nói lớn huống gì là tiếng quát tháo thì tuyệt nhiên không có.

Có điều bé Phước không hiểu tại sao lại gọi mẹ Nhân bằng “Cô” vì bé thấy các bạn khác có mẹ thì gọi mẹ.  Bé Phước hỏi mẹ:
-Tại sao bạn con gọi mẹ chúng nó là mẹ, mà con gọi mẹ là “cô”?

-Tự vì còn cô Từ nữa, gọi “Mẹ Nhân” mà gọi “Cô Từ” thì sợ cô Từ buồn. Thôi con cứ gọi cô cho cô Từ không thấy bị phân biệt nhé.

 

Bé Hữu Phước bằng lòng với lời giải thích của mẹ Nhân nên tiếp tục gọi “cô Nhân” để cô Từ không buồn.

Vì cô Từ làm giáo sư dạy cấp ba trường trung học nên cô kèm bé Phước học bài mẫu giáo và cấp tiểu học dễ dàng.  Hơn thế nữa cả hai cô đểu không có chồng nên cả hai cô đều yêu quý bé Phước như nhau.  Vì từ ngày có bé Phước về nhà ở chung, trong nhà luôn có thêm việc, thêm tiếng nói tiếng cười khiến hai cô cảm thấy đời đáng yêu biết mấy.  Hai cô có thêm trách nhiệm nuôi nấng cho một đứa bé sao cho nên người, nói năng lễ phép, lịch sự, siêng năng việc nhà việc học, tư cách đạo đức tốt và được học hành đến nơi đến chốn để có được một tương lai ổn định kinh tế, tự lo được cho bản thân nó là điều hai cô an lòng.

 

Năm 1975, Hai mẹ gặp khó khăn khinh tế vì miền Nam đã đổi chủ. Chính phủ Cộng Sản từ miền Bắc vào tiếp thu miền Nam đã bắt các giáo sư trung học và giáo viên tiểu học đi học tập đường lối mới. Sau đó giáng chức của cô Từ từ hiệu trưởng xuống thầy giáo mà thôi.  Vì chức hiểu trưởng được giao cho 1 cán bộ từ miền Bắc mới vào tiếp thu trường. 

Chức ý tá trưởng của cô Nhân cũng bị hạ xuống y tá mà thôi. Vì nhiều cán bộ miền Bắc vào tiếp thu bệnh viện đã lấy hết chức “Trưởng” của các bác sỹ, y tá nhân viên quản lý và lấy luôn chức giám đốc bệnh viện.

Tuy nhiên hai cô vẫn cố gắng nuôi bé Phước trong khả năng của một người mẹ.  Khổ cách mấy thì con gái của hai me vẫn có cơm, khoai và rau ăn no mỗi ngày, dù không được thịt thà mỗi ngày như trước kia.

 

Có đôi khi các bạn trong lớp hỏi bé Phước:

-Sao tụi tao không nghe mày nói đến bố bao giờ?

-Vì mẹ Nhân nói bố tao mất lâu rồi, từ khi tao chưa ra đời.

-Thế tại sao mày không gọi mẹ mà gọi cô?

- Vì mẹ tao có em là cô Từ cũng thương tao như con nên mẹ tao muốn tao gọi “Cô” để cô Từ không buồn.  Thôi! Chúng mày biết rồi, từ nay đừng hỏi nữa nhé.

 

Đó là cách hai cô Nhân và Từ dạy bé Phước trả lời các bạn. Hai cô biết trẻ con vô tư lắm, thấy lạ thì hỏi, chẳng kiêng nể gì vì chúng không có ác ý.

Bé Phước được cả hai mẹ săn sóc, dạy dỗ từ nhân cách đến việc học hành. 

Năm 1982, khi bé Hữu Phước lên lớp Sáu, trung học cấp hai.  Bé Phước phải mặc đồng phục quần tây xanh, áo sơ mi mầu trắng như các bạn cùng trường. Nhưng hai cô Nhân và Từ vẫn cố gắng mua vải cho Phước may được một cái áo dài mầu để thỉnh thoàng đi đâu thì có áo mà mặc.  Hai mẹ luôn luôn nhắc nhở Phước rằng con gái phải biết mặc cái áo dài dân tộc. Hai cô rất buồn vì nữ sinh trung học không còn được mặc áo dài trắng như thời Việt Nam Cộng Hòa trước tháng 4, 1975. Vì thế hai cô luôn mong rằng con gái của hai cô vẫn còn biết mặc áo dài.

 

Sau vài năm khó khăn, tự dưng một hôm vào năm 1977, hai mẹ nhận được thư của người anh cả từ Mỹ gửi về.  Truyền thống của gia đình hai mẹ rất kỷ cương, rất chặt chẽ nên anh em quý mến nhau.  Người anh cả được các em kính trọng, trái lại anh cả cũng lo đùm bọc các em khi anh thấy các em gặp khó khăn.  Hai mẹ của bé Phước không hề nhờ vả anh cả giúp đỡ vì họ tự ái, không nhờ vả ai bao giờ. Thế mà anh cả vẫn nhất định tháng tháng gửi quà về tiếp tế cho hai em và cháu gái Hữu Phước.  Hai mẹ của Phước lại đem chia bớt, san sẻ cho vài người khác vì họ còn khó khăn hơn.

 

Đến năm 1980 anh cả thi đậu quốc tích Mỹ thì bắt đầu làm giấy tờ bảo lãnh hai em gái cùng bé Phước, là con gái của em Nhân.  

Gần 10 năm sau thì bé Hữu Phước cùng hai cô Nhân và Từ được qua Mỹ theo diện bảo lãnh.

Bé Phước đã gần 20 tuổi, vẫn có thể tiếp tục học lên đại học như mong muốn của hai mẹ và đó cũng là truyền thống của gia đình hai mẹ mà.  Mẹ Nhân và mẹ Từ đều tốt nghiệp đại học, mà con gái của hai mẹ không chịu lên đại hoc thì coi sao được.  Hơn nữa, vì được hai mẹ giáo dục kỹ từ nhỏ, nên bé Phước luôn quyết chí học hành.  Đây là cơ hội tốt để vào một trường đại học của Mỹ, nên bé Phước nắm bắt ngay.

 

Từ khi khôn lớn, bé Phước có nhiều lúc nhận ra có một cái gì đó không bình thường về thân phận của mình.  Nhưng không muốn làm hai mẹ buồn nên Phước cứ bỏ qua, không dám hỏi.

Sau khi tốt nghiệp đại học, bé Phước kiếm được việc làm tốt.  Như bao nhiêu cô gái vừa ra trường, có việc làm ổn định thì nghĩ đến hôn nhân.  Chú rể là một sinh viên Việt Nam học cùng trường nhưng trên Phước 2 lớp. 

Chồng của Phước là Lộc. Lộc tò mò về gia cảnh của Phước nên có lần đã hỏi tại sao Phước có hai mẹ nhưng gọi là cô, không gọi là mẹ khi hai người còn hẹn hò, nhưng Phước không muốn bàn tới.

Nhưng sau khi đã thành hôn, Lộc lại đem chuyện của vợ ra hỏi lại.  Lộc thành thật khuyện vợ:

-Em có thắc mắc về thân phận mình thì cứ hỏi mẹ Nhân, vì mẹ Nhân nắm giữ tin tức chính xác.  Hơn nữa, mẹ Nhân là người đạo đức, đã hết lòng nuôi em nên người được như ngày nay thì mẹ sẽ không buồn giận vì bị em hỏi đâu.

 

Phước nghe lời khuyên của chồng nên một hôm về nhà mẹ một mình để tiện nói chuyện.  Sau khi nghe con gái trình bầy tự sự.  Cô Nhân đã nắm lấy tay Phước và nói:

-Cô quyết định sẽ nói cho cháu hết sự thật khi đã đúng lúc vì cô không muốn cháu buồn lúc cháu còn nhỏ quá rồi lại đâm ra xa cách với cô và cô Từ; như thế không tốt cho cháu.  Nhưng bây giờ cháu đã trưởng thành, đã có gia đình riêng, cháu có thể nghe và hiểu được thì cô yên tâm nói chuyện với cháu.

Cô Nhân chậm rãi kể lại từ đầu câu chuyện mẹ ruột của Phước, người phụ nữ tên Lê Thị Hường, sinh ngày x, tháng, năm x theo như hồ sơ của bệnh viện Đà Lạt ghi lại.  Cô cho Phước cái địa chỉ mà Hường cho cô năm xưa vì đó là tất cả dữ liệu cô còn giữ được.  Cô Nhân khuyên Phước nên về Việt Nam tìm lại mẹ.  Có thể mẹ đang có một gia đình hạnh phúc, cũng có thể mẹ đang gặp nhiều khó khăn.  Nhưng Phước nên tìm ra mẹ để mẹ con trùng phùng.

-          Nếu mẹ cháu cần giúp đỡ thì nên giúp đỡ mẹ vì dù sao mẹ cũng đã đem cháu vào đời thay vì phá thai, thì cháu đâu có mặt trên cõi đời này.

-          Dạ, cháu xin nghe lời cô. Cô dạy điều gì cũng phải.

 

Hai vợ chồng Phước dắt nhau về Viết Nam bắt đầu hành trình tìm kiếm mẹ ruột cho Phước.  Sau một tháng tìm kiếm, chẳng ra tông tích của mẹ “Lê Thị Hường”.  Phước thất vọng não nề, ngày nào Lộc cũng phải an ủi vợ “Ráng thêm tí nữa họa may ra manh mối của mẹ”.  Nhưng ngõ cụt rồi, không còn manh mối nào để truy tìm nên Phước và Lộc chịu thua, đành “tay không” trở về Mỹ. 

Sau 1975 tại miền Nam, vật đổi sao dời. Người trên cao tràn xuống thấp, người dưới thấp tràn ra biền Đông vượt biên bằng ghe tàu, vượt cạn bằng đường bộ.  Người ngoài Bắc, ngoài Trung tràn vào Nam.  Có thể gia đình của mẹ Lê Thị Hường cũng nằm trong số này? Hoặc mẹ Hường đã chết trên đường vượt biên? Đã chết trong một hoàn cảnh quá khốn khó, thiếu thuốc men?

 

Trở về Mỹ, Lộc lại bàn với Phước:

-Tại sao em không nói thẳng với cô Nhân rằng cô nên cho em gọi bằng mẹ, gọi cô Từ bằng mẹ luôn vì cả hai cô đều nuôi em như con. Như thế cô Từ không buồn và hai cô cùng vui. Em sẽ là người vui nhất vì có hai mẹ một lúc.

-Nhưng em sợ cô Nhân nghiêm túc quá.  Cô nghĩ là cô không có chồng bao giờ sợ cho em gọi bằng con thì thiên hạ sẽ nghĩ là cô không có chồng mà có chửa, đẻ con hoang, mất danh dự của cô.

 

-Cũng có thể ngày xưa còn trẻ cô nghĩ như thế, nhưng bây giờ trên 70 rồi. Hơn nữa, chúng ta đang ở Mỹ, có ai biết lai lịch gia thế của cô đâu.  Nhưng có biết đi chăng nữa, chẳng ai chê bai việc con nuôi hay con đẻ không có cha.  Khối gì những người mẹ đơn thân nuôi con một mình trên nước Mỹ này, có sao đâu!

 

Nghe chồng khích lệ, một ngày nọ Phước đến thăm cô Nhân với mục đích này. Nhưng lần này Phước hồi hộp lạ lắm. 

Phước thưa với cô Nhân:

-Cô ơi, cháu cám ơn cô đã cho địa chỉ và tin tức của mẹ đẻ của cháu. Nhưng cháu vẫn kiếm không ra. Dù vậy, cháu vẫn không thất vọng.  Cháu nghĩ có lẽ Ông Trời không cho cháu mẹ đẻ, nhưng cho cháu mẹ nuôi là cô.  Cháu ước mong một điều là cô cho cháu được gọi cô một tiếng mẹ, cháu cũng sẽ gọi cả cô Từ là mẹ luôn, như thế cháu có đến hai bà mẹ.  Cháu thật lòng đội ơn hai cô đã nuôi dưỡng cháu nên người, đã gả chồng cho cháu.  Cháu không ao ước gì hơn được gọi hai cô là mẹ, sau này các con của cháu sinh ra sẽ gọi hai cô là “bà Ngoại”. Chúng nó sẽ có hai bà ngoại, như thế cháu sẽ hạnh phúc lắm.  Cô nhé!? Cô cho cháu gọi là mẹ, cố nhé!?

 

Cô Nhàn ngồi yên nghe mà nước mắt lăn dài trên đôi má đã có nếp nhăn.  Cô trả lời:

-Cô luôn nhường ngôi vị làm mẹ cho mẹ đẻ của cháu là bà Lê Thị Hường, chứ không phải cô không muốn cháu gọi cô là mẹ. Nhưng nếu số phận đã không cho cháu gặp lại mẹ đẻ của mình thì cô sẵn sàng gọi cháu là con và cũng muốn cháu gọi cô là mẹ.  Nhưng dù sao cháu cũng nên nhớ ơn mẹ đẻ của mình đã can đảm gửi gắm cháu cho cô vì mẹ cháu có linh tính của một người mẹ, biết nhìn người nào có thể yêu thương cháu và lo cho cháu thật lòng.  Nhất là mẹ cháu đã chọn giải pháp sinh cháu ra rồi cho, thay vì phá thai cho dễ xử, khỏi vướng bận.

Phước òa khóc, hỏi lại:

-Thật hả cô?

Cô Nhân đưa đôi tay về phía Phước, cô cũng òa lên khóc, rồi nói:

-Phải gọi là mẹ chứ con gái của mẹ!

 

Phước nhào vào đôi tay của mẹ Nhân và nói ngay:

-Con cám ơn mẹ nhiều ạ.  Hôm nay vui quá, con sẽ chở mẹ sang nhà mẹ Từ để con được gọi cô Từ là mẹ Từ luôn thể.  Con sẽ gọi cho anh Lộc báo tin để anh đưa cả nhà ra tiệm ăn mừng hôm nay.

Mẹ Nhân vui vẻ đỡ Phước và nói tiếp:

-Tháng tới, hai mẹ sẽ làm tiệc đãi cả họ hàng bên mẹ để hai mẹ giới thiệu con chính thức là con gái của hai mẹ một lần nhé.  Từ rày về sau con được cả họ ghi nhận là con gái của mẹ, dòng họ Cao.

Ba mươi năm sau, mẹ Từ đã qua đời, nhưng mẹ Nhân vẫn còn sống, đã được 100 tuổi.  Mẹ ở trong một căn chung cư của chánh phủ cho người già ở.  Sức khỏe mẹ yếu nhiều, thỉnh thoảng mẹ té chẳng ai hay. Nhưng mẹ vẫn nhất quyết không xin dịch vụ cho người săn sóc tại gia vì không muốn tốn tiền của chánh phủ. Nhưng cô xã hội nhất định cho người đến săn sóc mẹ mỗi ngày vì thấy mẹ thật sự cần. 

Nhưng cuối tuần Phước vẫn nấu thức ăn mang đến cho mẹ Nhân vì biết mẹ ăn uống thế nào.  Đó là những món mẹ Nhân hay nấu cho Phước ăn lúc còn ở nhà với mẹ.  Phước biết những món mà mẹ Nhân và mẹ Từ thích ăn, họ nêm nếm theo lối Bắc, rất ít cho đường.

Phước sợ nhân viên săn sóc nấu theo ý họ thì mẹ Nhân không ăn được.  Thỉnh thoảng Phước dắt các con vào thăm bà cho bà vui. 

Từ khi có con, Phước lại đổi cách xưng hô với mẹ Nhân; kỳ này Phước gọi theo các con là “Bà” xưng “cháu”. Vì theo lễ giáo trong những gia đình người Bắc theo lối cổ, khi con gái hay con trai đã có con thì phải gọi cha mẹ của họ theo các cháu nội hoặc cháu ngoại gọi là “Ông và Bà”.  Điều này không làm Phước buồn, trái lại Phước thấy đó là bổn phận làm con khi đã trưởng thành.

 

Có những người sinh ra nhưng cả đời không biết cha mẹ ruột của mình. Ở Việt Nam thời xưa làm con nuôi rất khổ vì người ta nhận con nuôi với mục đích lợi dụng thì nhiều, giúp đỡ tận tình thì ít.  Nhưng trường hợp của Phước thật là có phước y như cái tên mà người mẹ đẻ của cô đã đặt cho cô “Lê Hữu Phước”.

 

TT-Thái An

7/4/2022