Sau khi sanh xong đứa con gái, Hường và con được cho vào phòng nằm chung với mấy mẹ con người khác vì phòng dành cho nhiều người nằm chung.
Năm 1970, bệnh
viện Đà Lạt nhỏ, nhưng có khoa hộ sinh dành cho các bà cư trú ở
quanh đây đến sinh đẻ. Riêng Hường
từ nơi khác đến đây theo chỉ định của cha mẹ. Sinh xong thì phải trở
về nhà. Vì thế, những bà mẹ khác
có chồng hoặc cha me, hoặc chị em đến thăm nuôi, đem cơm vào cho ăn mỗi
ngày. Hường chẳng có ai đến thăm
nên phải nhờ mấy bà dọn dẹp ở đây ra phố mua thức ăn đem vào cho
nàng.
Cô y tá
trưởng tên Nhân khoảng trên dưới năm mươi tuổi, dáng mảnh khảnh, nói
năng từ tốn thỉnh thoảng ghé thăm sản phụ đã lưu ý thấy Hường đơn
chiếc, chẳng người thăm nuôi nên hay dừng lại hỏi thăm. Cô Nhân nói chuyện nhẹ nhàng khiến
Hường yên tâm trò chuyện với cô.
Hường kể với cô Nhân rằng chồng đi lính, đóng quân ở xa, lại
phải ra trận thường xuyên nên chờ lâu mới có thư của chồng. Cô Nhân thương cảm hoàn cảnh của Hường
nên có hôm cô đem thức ăn vào cho Hường.
Bệnh viện
cho sản phụ và con ở lại bốn ngày sau khi sanh mà thôi. Vì thế,
Hường do dự tìm cách nói với cô Nhân trước ngày phải ra khỏi
viện. Trong thâm tâm, Hường rất phục
một người xuất thân từ một gia đình gia giáo như cô. Chỉ nhìn tuổi
của cô lớn hơn tuổi của cha mẹ của Hường mà đã học ra y tá chuyên
ngành trong khi thế hệ của cô nhiều đàn bà con gái còn chưa biết chữ
hoặc chỉ biết đọc biết viết là tốt lắm rồi. Cô Nhân không có chồng nhưng cô có nghề
nghiệp tốt, đời sống ổn định.
Hường chờ cô
Nhân đến bên giường, cô hỏi thăm trước:
-Ngày mai mẹ
con cháu xuất viện rồi, có ai đến rước không?
Hường ngại
ngùng nói khẽ, không muốn người khác nghe thấy:
-Cô ơi, chẳng
ai đến rước hết. Mới có người ở
nhà trọ đem thư của đơn vị anh ấy đến cho cháu bảo rằng anh mất tích
từ tuần trước. Cháu phải lên đơn vị anh ấy chờ xem tin tức thế nào. Cháu mạo muội xin cô giúp cháu một
việc, không biết có được không?
-Việc gì cứ
nói ra, nếu cô giúp được thì cô sẵn sàng.
-Xin cô cho
con gái cháu ở lại trong bệnh viện thêm một tuần, cháu đi khoảng 1
tuần sẽ về đón nó ra. Cô ơi! Cháu không biết nhờ ai nữa. Xin cô giúp
cháu, cháu muôn vàn tạ ơn cô!
Chần chừ
một lúc, cô Nhân hỏi:
-Cô thấy
hoàn cảnh cháu mà thương, không nỡ từ chối. Thế nhà cháu ở đâu? Cháu làm việc ở
đâu, cho cô biết để ghi xuống. Còn
tên tuổi của cháu thì bệnh viện đã ghi sổ, nhưng cháu cũng đọc cho
cô ghi xuông đây.
Hường mừng
đến phát khóc, nắm ngay tay cô Nhân và cám ơn chân thành. Cô Nhân cũng
rơm rớm nước mắt vì thương hoàn cảnh của Hường quá. Cô thấy cuộc chiến này đã để lại quá
nhiều quả phụ và con mồ côi, cô không giúp được gì cho họ. Nhưng hôm
nay, đứng trước một thiếu phụ chỉ ngoài hai mươi đang khốn khó vì
chồng mất tích, đứa con thơ chưa được gặp cha nên cô không đành từ
chối giúp đỡ.
Hôm sau y như
hẹn, cô Nhân vào phòng thăm Hường để chào tạm biệt. Hường bồi hồi bồng đứa con trên tay một
lúc lâu rồi lau nước mắt trao nó vào tay cô Nhân. Cô Nhân đưa tay ra
nhận và nói lời trấn an Hường:
-Cháu yên
chí đi tìm cha của bé Phước. Cô giữ lại nhà thương thêm một tuần
không sao đâu. Ở đây có các cô y tá cho bú và thay tã cho mỗi
ngày. Cô sẽ mua sữa cho bé, cháu
đừng ngại gì cả.
Hường nấc
lên cố dằn lại tiếng khóc rồi nói:
-Cháu đặt
tên nó là Lê Hữu Phước, hy vọng nó sẽ luôn được phước.
Hường cúi
xuống hôn lên má con nhiều lần trước khi rời phòng sản phụ. Rồi nàng cúi xuống xách túi hành lý
nhỏ, quay lưng đi nhanh ra cửa.
Cô Nhân đưa
cái nôi của bé Phước vào một phòng dành riêng cho các bé, không có
các bà mẹ ở chung. Mỗi ngày đích
thân cô vào thăm nom bé Phước như đã nhận lãnh trách nhiệm với mẹ
nó.
Một tuần
trôi qua nhanh chóng, vẫn chưa thấy Hường trở lại. Cô Nhân vẫn yên tâm
chờ đợi vì nghĩ rằng đường đi khó khăn, chưa chắc Hường kiếm được
tin tức của chồng ngay. Nhưng gần 10
ngày, vẫn không thấy Hường trở lại, bệnh viện phải hỏi cho ra lẽ. Cô
Nhân phải cho người đi kiếm địa chỉ của Hường, chủ nhân căn nhà đó
chẳng biết Hường là ai. Đến cái trường tiểu học mà Hường bảo là
dạy ở đó, họ cũng chẳng biết Hường là ai.
Bây giờ cô
Nhân và mọi người làm việc ở nhà thương đều hiểu rằng Hường cố
tình bỏ con lại cho cô Nhân nuôi.
Mọi người xúm nhau vào khuyến khích cô Nhân:
-Thôi thì người ta bỏ cho mình thì mình không cần xin cũng được. Cứ
xem như Trời cho. Trời mà cho thì
Trời sẽ giúp cô nuôi nó thành người tử tế, thành con hiếu thảo.
Cô Nhân vốn sẵn có lòng nhân từ, nay nghe
thêm mọi người tán vào, nên gật đầu nói:
-Thôi thì tôi
cứ nuôi giúp bé Phước cho cô Hường, khi nào cố ấy về đây kiếm nó,
tôi sẽ giao lại. Có lẽ cô Hường có
hoàn cảnh khó khăn không nói ra được nên đành bỏ con lại đây. Tôi chỉ
sợ không hoàn tất được thiên chức làm mẹ.
-Úi dào, cô
Nhân khéo lo! Tánh cô luôn cẩn thận kỹ lưỡng, chẳng khi nào sơ ý việc
gì thì một khi cô muốn lo cho nó thì chắc chắn cô có đủ khả năng để làm.
Cô Nhân chậm
rãi đáp:
-Thôi thì
nuôi bé Phước tôi hy vọng nó được Phước như mẹ nó mong muốn.
Mọi người
vỗ tay reo vui và chúc mừng cô Nhân có được đứa con Trời cho.
Theo thủ tục
pháp lý, cô Nhân phải làm giấy khai sanh cho bé Phước, vì Hường chưa
làm khai sanh cho con đã bỏ đi rồi.
Cô Nhân đứng tên là mẹ trên khai sanh của bé Phước, và bé mang
họ Cao của cô. Cô đặt tên cho con gái nuôi là “Cao Hữu Phước”
Từ ngày đem
bé Phước về, cô Nhân phải thuê vú em về nuôi bé vì cô phải đi làm
mỗi ngày. Người em gái ở chung với
cô tên Từ cũng đi làm mỗi ngày nên chỉ buổi tối hai chị em mới có
thì giờ chơi với bé Phước.
Khi bé Phước
bắt đầu đi mẫu giáo, cô Nhân và cô từ đều sắm sửa quần áo và sách
vở, bút màu cho bé. Bé Phước thật
là có phước vì hầu như nó có hai bà mẹ cùng lo cho nó. Bà mẹ nào
cũng nói năng nhỏ nhẹ với nó, trong nhà chẳng bao giờ có tiếng nói
lớn huống gì là tiếng quát tháo thì tuyệt nhiên không có.
Có điều bé
Phước không hiểu tại sao lại gọi mẹ Nhân bằng “Cô” vì bé thấy các
bạn khác có mẹ thì gọi mẹ. Bé
Phước hỏi mẹ:
-Tại sao bạn con gọi mẹ chúng nó là mẹ, mà con gọi mẹ là “cô”?
-Tự vì còn
cô Từ nữa, gọi “Mẹ Nhân” mà gọi “Cô Từ” thì sợ cô Từ buồn. Thôi con
cứ gọi cô cho cô Từ không thấy bị phân biệt nhé.
Bé Hữu
Phước bằng lòng với lời giải thích của mẹ Nhân nên tiếp tục gọi “cô
Nhân” để cô Từ không buồn.
Vì cô Từ
làm giáo sư dạy cấp ba trường trung học nên cô kèm bé Phước học bài
mẫu giáo và cấp tiểu học dễ dàng.
Hơn thế nữa cả hai cô đểu không có chồng nên cả hai cô đều yêu
quý bé Phước như nhau. Vì từ ngày
có bé Phước về nhà ở chung, trong nhà luôn có thêm việc, thêm tiếng
nói tiếng cười khiến hai cô cảm thấy đời đáng yêu biết mấy. Hai cô có thêm trách nhiệm nuôi nấng cho
một đứa bé sao cho nên người, nói năng lễ phép, lịch sự, siêng năng
việc nhà việc học, tư cách đạo đức tốt và được học hành đến nơi đến chốn để có được
một tương lai ổn định kinh tế, tự lo được cho bản thân nó là điều hai
cô an lòng.
Năm 1975, Hai
mẹ gặp khó khăn khinh tế vì miền Nam đã đổi chủ. Chính phủ Cộng
Sản từ miền Bắc vào tiếp thu miền Nam đã bắt các giáo sư trung học và giáo viên tiểu học đi học tập đường lối mới. Sau đó giáng
chức của cô Từ từ hiệu trưởng xuống thầy giáo mà thôi. Vì chức hiểu trưởng được giao cho 1 cán
bộ từ miền Bắc mới vào tiếp thu trường.
Chức ý tá
trưởng của cô Nhân cũng bị hạ xuống y tá mà thôi. Vì nhiều cán bộ
miền Bắc vào tiếp thu bệnh viện đã lấy hết chức “Trưởng” của các
bác sỹ, y tá nhân viên quản lý và lấy luôn chức giám đốc bệnh viện.
Tuy nhiên hai
cô vẫn cố gắng nuôi bé Phước trong khả năng của một người mẹ. Khổ cách mấy thì con gái của hai me
vẫn có cơm, khoai và rau ăn no mỗi ngày, dù không được thịt thà mỗi
ngày như trước kia.
Có đôi khi
các bạn trong lớp hỏi bé Phước:
-Sao tụi tao
không nghe mày nói đến bố bao giờ?
-Vì mẹ Nhân
nói bố tao mất lâu rồi, từ khi tao chưa ra đời.
-Thế tại sao
mày không gọi mẹ mà gọi cô?
- Vì mẹ tao
có em là cô Từ cũng thương tao như con nên mẹ tao muốn tao gọi “Cô” để
cô Từ không buồn. Thôi! Chúng mày
biết rồi, từ nay đừng hỏi nữa nhé.
Đó là cách
hai cô Nhân và Từ dạy bé Phước trả lời các bạn. Hai cô biết trẻ con
vô tư lắm, thấy lạ thì hỏi, chẳng kiêng nể gì vì chúng không có ác
ý.
Bé Phước
được cả hai mẹ săn sóc, dạy dỗ từ nhân cách đến việc học hành.
Năm 1982, khi
bé Hữu Phước lên lớp Sáu, trung học cấp hai. Bé Phước phải mặc đồng phục quần tây
xanh, áo sơ mi mầu trắng như các bạn cùng trường. Nhưng hai cô Nhân và
Từ vẫn cố gắng mua vải cho Phước may được một cái áo dài mầu để
thỉnh thoàng đi đâu thì có áo mà mặc.
Hai mẹ luôn luôn nhắc nhở Phước rằng con gái phải biết mặc cái
áo dài dân tộc. Hai cô rất buồn vì nữ sinh trung học không còn được
mặc áo dài trắng như thời Việt Nam Cộng Hòa trước tháng 4, 1975. Vì
thế hai cô luôn mong rằng con gái của hai cô vẫn còn biết mặc áo dài.
Sau vài năm
khó khăn, tự dưng một hôm vào năm 1977, hai mẹ nhận được thư của người
anh cả từ Mỹ gửi về. Truyền thống
của gia đình hai mẹ rất kỷ cương, rất chặt chẽ nên anh em quý mến
nhau. Người anh cả được các em kính
trọng, trái lại anh cả cũng lo đùm bọc các em khi anh thấy các em
gặp khó khăn. Hai mẹ của bé Phước
không hề nhờ vả anh cả giúp đỡ vì họ tự ái, không nhờ vả ai bao
giờ. Thế mà anh cả vẫn nhất định tháng tháng gửi quà về tiếp tế
cho hai em và cháu gái Hữu Phước.
Hai mẹ của Phước lại đem chia bớt, san sẻ cho vài người khác
vì họ còn khó khăn hơn.
Đến năm 1980
anh cả thi đậu quốc tích Mỹ thì bắt đầu làm giấy tờ bảo lãnh hai
em gái cùng bé Phước, là con gái của em Nhân.
Gần 10 năm
sau thì bé Hữu Phước cùng hai cô Nhân và Từ được qua Mỹ theo diện
bảo lãnh.
Bé Phước đã
gần 20 tuổi, vẫn có thể tiếp tục học lên đại học như mong muốn của
hai mẹ và đó cũng là truyền thống của gia đình hai mẹ mà. Mẹ Nhân và mẹ Từ đều tốt nghiệp đại
học, mà con gái của hai mẹ không chịu lên đại hoc thì coi sao
được. Hơn nữa, vì được hai mẹ giáo
dục kỹ từ nhỏ, nên bé Phước luôn quyết chí học hành. Đây là cơ hội tốt để vào một trường
đại học của Mỹ, nên bé Phước nắm bắt ngay.
Từ khi khôn
lớn, bé Phước có nhiều lúc nhận ra có một cái gì đó không bình
thường về thân phận của mình. Nhưng
không muốn làm hai mẹ buồn nên Phước cứ bỏ qua, không dám hỏi.
Sau khi tốt
nghiệp đại học, bé Phước kiếm được việc làm tốt. Như bao nhiêu cô gái vừa ra trường, có
việc làm ổn định thì nghĩ đến hôn nhân.
Chú rể là một sinh viên Việt Nam học cùng trường nhưng trên
Phước 2 lớp.
Chồng của
Phước là Lộc. Lộc tò mò về gia cảnh của Phước nên có lần đã hỏi
tại sao Phước có hai mẹ nhưng gọi là cô, không gọi là mẹ khi hai
người còn hẹn hò, nhưng Phước không muốn bàn tới.
Nhưng sau khi
đã thành hôn, Lộc lại đem chuyện của vợ ra hỏi lại. Lộc thành thật khuyện vợ:
-Em có thắc
mắc về thân phận mình thì cứ hỏi mẹ Nhân, vì mẹ Nhân nắm giữ tin
tức chính xác. Hơn nữa, mẹ Nhân là
người đạo đức, đã hết lòng nuôi em nên người được như ngày nay thì
mẹ sẽ không buồn giận vì bị em hỏi đâu.
Phước nghe
lời khuyên của chồng nên một hôm về nhà mẹ một mình để tiện nói
chuyện. Sau khi nghe con gái trình
bầy tự sự. Cô Nhân đã nắm lấy tay
Phước và nói:
-Cô quyết
định sẽ nói cho cháu hết sự thật khi đã đúng lúc vì cô không muốn
cháu buồn lúc cháu còn nhỏ quá rồi lại đâm ra xa cách với cô và cô
Từ; như thế không tốt cho cháu.
Nhưng bây giờ cháu đã trưởng thành, đã có gia đình riêng, cháu
có thể nghe và hiểu được thì cô yên tâm nói chuyện với cháu.
Cô Nhân chậm
rãi kể lại từ đầu câu chuyện mẹ ruột của Phước, người phụ nữ tên
Lê Thị Hường, sinh ngày x, tháng, năm x theo như hồ sơ của bệnh viện
Đà Lạt ghi lại. Cô cho Phước cái
địa chỉ mà Hường cho cô năm xưa vì đó là tất cả dữ liệu cô còn giữ
được. Cô Nhân khuyên Phước nên về
Việt Nam tìm lại mẹ. Có thể mẹ
đang có một gia đình hạnh phúc, cũng có thể mẹ đang gặp nhiều khó
khăn. Nhưng Phước nên tìm ra mẹ để
mẹ con trùng phùng.
-
Nếu
mẹ cháu cần giúp đỡ thì nên giúp đỡ mẹ vì dù sao mẹ cũng đã đem
cháu vào đời thay vì phá thai, thì cháu đâu có mặt trên cõi đời
này.
-
Dạ,
cháu xin nghe lời cô. Cô dạy điều gì cũng phải.
Hai vợ chồng
Phước dắt nhau về Viết Nam bắt đầu hành trình tìm kiếm mẹ ruột cho
Phước. Sau một tháng tìm kiếm,
chẳng ra tông tích của mẹ “Lê Thị Hường”.
Phước thất vọng não nề, ngày nào Lộc cũng phải an ủi vợ
“Ráng thêm tí nữa họa may ra manh mối của mẹ”. Nhưng ngõ cụt rồi, không còn manh mối
nào để truy tìm nên Phước và Lộc chịu thua, đành “tay không” trở về
Mỹ.
Sau 1975 tại
miền Nam, vật đổi sao dời. Người trên cao tràn xuống thấp, người dưới
thấp tràn ra biền Đông vượt biên bằng ghe tàu, vượt cạn bằng đường
bộ. Người ngoài Bắc, ngoài Trung
tràn vào Nam. Có thể gia đình của
mẹ Lê Thị Hường cũng nằm trong số này? Hoặc mẹ Hường đã chết trên
đường vượt biên? Đã chết trong một hoàn cảnh quá khốn khó, thiếu
thuốc men?
Trở về Mỹ,
Lộc lại bàn với Phước:
-Tại sao em
không nói thẳng với cô Nhân rằng cô nên cho em gọi bằng mẹ, gọi cô Từ
bằng mẹ luôn vì cả hai cô đều nuôi em như con. Như thế cô Từ không buồn
và hai cô cùng vui. Em sẽ là người vui nhất vì có hai mẹ một lúc.
-Nhưng em sợ
cô Nhân nghiêm túc quá. Cô nghĩ là
cô không có chồng bao giờ sợ cho em gọi bằng con thì thiên hạ sẽ nghĩ
là cô không có chồng mà có chửa, đẻ con hoang, mất danh dự của cô.
-Cũng có
thể ngày xưa còn trẻ cô nghĩ như thế, nhưng bây giờ trên 70 rồi. Hơn
nữa, chúng ta đang ở Mỹ, có ai biết lai lịch gia thế của cô đâu. Nhưng có biết đi chăng nữa, chẳng ai chê
bai việc con nuôi hay con đẻ không có cha.
Khối gì những người mẹ đơn thân nuôi con một mình trên nước Mỹ
này, có sao đâu!
Nghe chồng
khích lệ, một ngày nọ Phước đến thăm cô Nhân với mục đích này. Nhưng
lần này Phước hồi hộp lạ lắm.
Phước thưa
với cô Nhân:
-Cô ơi, cháu
cám ơn cô đã cho địa chỉ và tin tức của mẹ đẻ của cháu. Nhưng cháu
vẫn kiếm không ra. Dù vậy, cháu vẫn không thất vọng. Cháu nghĩ có lẽ Ông Trời không cho cháu
mẹ đẻ, nhưng cho cháu mẹ nuôi là cô.
Cháu ước mong một điều là cô cho cháu được gọi cô một tiếng
mẹ, cháu cũng sẽ gọi cả cô Từ là mẹ luôn, như thế cháu có đến hai
bà mẹ. Cháu thật lòng đội ơn hai
cô đã nuôi dưỡng cháu nên người, đã gả chồng cho cháu. Cháu không ao ước gì hơn được gọi hai cô
là mẹ, sau này các con của cháu sinh ra sẽ gọi hai cô là “bà Ngoại”.
Chúng nó sẽ có hai bà ngoại, như thế cháu sẽ hạnh phúc lắm. Cô nhé!? Cô cho cháu gọi là mẹ, cố
nhé!?
Cô Nhàn ngồi
yên nghe mà nước mắt lăn dài trên đôi má đã có nếp nhăn. Cô trả lời:
-Cô luôn
nhường ngôi vị làm mẹ cho mẹ đẻ của cháu là bà Lê Thị Hường, chứ
không phải cô không muốn cháu gọi cô là mẹ. Nhưng nếu số phận đã
không cho cháu gặp lại mẹ đẻ của mình thì cô sẵn sàng gọi cháu là
con và cũng muốn cháu gọi cô là mẹ.
Nhưng dù sao cháu cũng nên nhớ ơn mẹ đẻ của mình đã can đảm
gửi gắm cháu cho cô vì mẹ cháu có linh tính của một người mẹ, biết
nhìn người nào có thể yêu thương cháu và lo cho cháu thật lòng. Nhất là mẹ cháu đã chọn giải pháp sinh
cháu ra rồi cho, thay vì phá thai cho dễ xử, khỏi vướng bận.
Phước òa
khóc, hỏi lại:
-Thật hả cô?
Cô Nhân đưa
đôi tay về phía Phước, cô cũng òa lên khóc, rồi nói:
-Phải gọi
là mẹ chứ con gái của mẹ!
Phước nhào
vào đôi tay của mẹ Nhân và nói ngay:
-Con cám ơn
mẹ nhiều ạ. Hôm nay vui quá, con sẽ
chở mẹ sang nhà mẹ Từ để con được gọi cô Từ là mẹ Từ luôn thể. Con sẽ gọi cho anh Lộc báo tin để anh đưa
cả nhà ra tiệm ăn mừng hôm nay.
Mẹ Nhân vui
vẻ đỡ Phước và nói tiếp:
-Tháng tới,
hai mẹ sẽ làm tiệc đãi cả họ hàng bên mẹ để hai mẹ giới thiệu con
chính thức là con gái của hai mẹ một lần nhé. Từ rày về sau con được cả họ ghi nhận là
con gái của mẹ, dòng họ Cao.
Ba mươi năm
sau, mẹ Từ đã qua đời, nhưng mẹ Nhân vẫn còn sống, đã được 100
tuổi. Mẹ ở trong một căn chung cư
của chánh phủ cho người già ở.
Sức khỏe mẹ yếu nhiều, thỉnh thoảng mẹ té chẳng ai hay. Nhưng
mẹ vẫn nhất quyết không xin dịch vụ cho người săn sóc tại gia vì
không muốn tốn tiền của chánh phủ. Nhưng cô xã hội nhất định cho
người đến săn sóc mẹ mỗi ngày vì thấy mẹ thật sự cần.
Nhưng cuối
tuần Phước vẫn nấu thức ăn mang đến cho mẹ Nhân vì biết mẹ ăn uống
thế nào. Đó là những món mẹ Nhân
hay nấu cho Phước ăn lúc còn ở nhà với mẹ. Phước biết những món mà mẹ Nhân và mẹ
Từ thích ăn, họ nêm nếm theo lối Bắc, rất ít cho đường.
Phước sợ
nhân viên săn sóc nấu theo ý họ thì mẹ Nhân không ăn được. Thỉnh thoảng Phước dắt các con vào thăm
bà cho bà vui.
Từ khi có
con, Phước lại đổi cách xưng hô với mẹ Nhân; kỳ này Phước gọi theo
các con là “Bà” xưng “cháu”. Vì theo lễ giáo trong những gia đình
người Bắc theo lối cổ, khi con gái hay con trai đã có con thì phải
gọi cha mẹ của họ theo các cháu nội hoặc cháu ngoại gọi là “Ông và
Bà”. Điều này không làm Phước
buồn, trái lại Phước thấy đó là bổn phận làm con khi đã trưởng
thành.
Có những
người sinh ra nhưng cả đời không biết cha mẹ ruột của mình. Ở Việt
Nam thời xưa làm con nuôi rất khổ vì người ta nhận con nuôi với mục
đích lợi dụng thì nhiều, giúp đỡ tận tình thì ít. Nhưng trường hợp của Phước thật là có
phước y như cái tên mà người mẹ đẻ của cô đã đặt cho cô “Lê Hữu
Phước”.
TT-Thái An
7/4/2022