Lâu
lắm rồi ông Lý mới đến thăm ông Tư vào cuối tuần, cả nhà vui vẻ
đón tiếp vị khách đặc biệt, Lam Ngọc chuẩn
bị trà bánh rồi cùng Tân ngồi xuống thăm hỏi trò chuyện. Ông Lý hỏi cậu bé Minh
Châu đâu, Tân thưa:
-Dạ
! Cháu nó hôm nay đến chùa sinh hoạt gia đình Phật tử từ sáng sớm. Nói về nó,
cháu lại có chuyện kể bác nghe. Số là, mấy hôm trước cháu đang tập viết chữ
Nho, thằng bé đứng cạnh nhìn rồi nói :”Sao ba mẫn tiệp thế?” . Cháu giật mình hỏi
nó học được chữ MẪN TIỆP ở đâu ra vậy? Minh Châu cười cười lễ phép trả lời có lần
con học thuộc mấy chữ trong Tam Thiên Tự của Ngô Thời Nhiệm được ông nội khen mẫn
tiệp có nghĩa là thông minh, khéo léo. Hôm nay nhân có ba và bác Lý ở đây, xin
giảng giải cho tụi con có chút hiểu biết về chữ MẪN.
Ông
Lý vui vẻ nói:
-Chữ
Mẫn mang nội hàm rất sâu sắc, là linh hồn cổ xưa. Một trong những chữ Nho cổ được
ghi nhận sớm nhất và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.
Giáp cốt văn xuất hiện vào thời kỳ văn hoá đồng
xanh 1300 TCN (tiếp theo sau là đồng đỏ), tự dạng Mẫn 敏, bên trái chữ Mỗi 每 (chỉ nữ giới hoặc bà mẹ); bên phải bộ phốc 歺 (xưa kia viết là Hựu 又, hoặc Thốn 寸)
động tác tay vỗ nhẹ vào người hay vật. Biểu thị nghĩa gốc 敏 là tay chân nhanh nhẹn, ứng xử linh hoạt,
còn nghĩa rộng là cần cù, gắng sức, cẩn trọng, khang kiện, thông minh, sáng suốt…
Tuy
nhiên, trên Giáp cốt văn (trước đó là Đào văn) một số tự dạng sơ khai được khắc
họa bằng hình ảnh bởi người cổ đại chưa rõ ràng (chữ 敏, 民+歺, cũng không tránh khỏi trong trường hợp ấy),
hoặc bị thời gian lâu dài bào mòn xoá mờ, do đó, người đời sau dựa vào hình dạng
trên để giải thích nên mang những nghĩa khác nhau:
1/
Chữ Mẫn 敏 có hình dạng bên trái chữ 每 (chỉ nữ giới); bên phải bộ 歺(chỉ bàn tay), mang nghĩa nữ giới dùng tay lấy
vật trang sức nhanh nhẹn cài lên mái tóc hoặc búi tóc phía sau đầu.
2/
Chữ Mẫn 敏 biến dạng giống như chữ Độc
毒, có tự dạng trên là chữ
Sinh 生 (sinh sản, chỉ sự sống), hoặc
chữ Thủ 手 (bàn tay); dưới chữ Mẫu 母 (bà mẹ), mang nghĩa khi phụ nữ sinh con, cần
bàn tay bà đỡ nhanh nhẹn, dịu dàng nâng em bé chào đời kịp lúc.
3/
Chữ Mẫn 敏, 每+力)
có dạng bên trái 每
(bà mẹ), bên phải chữ Lực 力
(chỉ sức mạnh), khi người mẹ sinh con, cần bàn tay bà đỡ đủ sức mạnh, cẩn trọng
khéo léo để nâng em bé chào đời, người mẹ cũng cần sức mạnh chịu đựng khó khăn trong giây phút “khai hoa nở nhuỵ”.
4/
Chữ Mẫn 敏 có nghĩa thông với chữ Mẫu 挴 (chỉ
ngón tay cái, hoặc ngón chân cái), mang nghĩa nữ giới dùng ngón tay cái rẽ tóc
hoặc điểm xuyết đồ trang sức trên đầu.
5/
Chữ Mẫn 敏 khi làm hình dung từ là diễn
đạt sự ngây thơ trong trắng của thiếu nữ, và 敏
khi đọc là Hối 悔,
mang nghĩa ăn năn, hối lỗi.
6/
Sách Nhĩ Nhã giải thích thêm rằng:
+Phần
Thích Nhạc (Lạc) nói: Mẫn trong ngữ cảnh Ngũ Cung âm nhạc phương Đông, là nốt
nhạc Thương, quen gọi là Xự tương đương với nốt La thuộc khoá Sol của Thất Cung
phương Tây. Biểu tượng nốt nhạc mang âm thanh nặng, người nghe trở nên ngay thẳng,
can đảm (Thương vị chi Mẫn - 商謂之敏).
+Phần Thích Huấn nói: Mẫn 敏 tức Mẫu 挴 (ngón tay cái, hoặc ngón chân cái) là chữ giả tá. Chữ 挴 ở đây mượn chữ có âm gần giống nhau để viết, mang nghĩa tay chân mau mắn thận trọng, tâm trí mẫn tiệp, mẫn đạt…Ở dòng thứ 17 còn nói rằng: Theo nguồn gốc bộ tộc nhà Châu, vũ là dấu tích đại nghiệp tiền nhân lưu lại, mẫn là dấu vết ngón chân cái của thượng đế để lại. (Lý đế vũ mẫn, vũ, tích dã, mẫn, mẫu dã - 覆帝武敏武跡也敏挴也). Và ở dòng thứ 97 nói: Chân đạp gấp gáp, và chạy nhanh lẹ gọi là mẫn. (Quyết quyết tích tích, mẫn dã - 蹶蹶踖踖敏也).
Đến
thời kỳ Tây Châu,1045TCN, trên Kim văn chỉ sử dụng theo nghĩa gốc tức chỉ chung
cho động tác nhanh nhẹn mà thôi. Sang đời nhà Tần, cải cách theo tiểu Triện, 敏 theo cấu trúc bộ phốc 歺(ám chỉ đánh khẻ, dùng tay thôi thúc), còn
mang nghĩa dùng gậy xua đuổi, hành động khẩn cấp không được trì trệ. Kịp đến thời
Đông Hán, trong Thuyết Văn, Hứa Thận cũng theo ý trên nhưng thêm: Mẫn thanh
phù, nhóm chữ hình thanh, hội ý, Ngũ hành thuộc Thuỷ. (Mẫn, tật dã, tùng phốc,
mỗi thanh - 敏疾也從歺聲聲).
+Từ
điển Ngọc Thiên, bộ Phốc, thời Nam Lương (năm 543) Cố Dã Vương 顧野王 nói: Mẫn là thái độ kính trọng, dáng mạo
nghiêm chỉnh. (Mẫn, kính dã, trang dã - 敏敬也莊也).
Trong
lúc Lam Ngọc kính cẩn rót trà nhài do cô tự ướp mời cả nhà, ông Tư góp lời:
-Dấu
mốc truyền thừa văn hóa, chữ 敏
được sử sách thư tịch xưa nay diễn nghĩa như sau:
+Kinh
Thi, Đại Nhã, bài thơ Sinh Dân, kỳ 1, 生民,
minh họa nguồn gốc xa xưa chữ Mẫn 敏
thông nghĩa với chữ Mẫu 拇
(ngón chân cái) ca ngợi hình ảnh một người đàn bà, sinh ra và nuôi dưỡng muôn vật:
Quyết
sơ sinh dân, 厥初生民
Thời
duy Khương Nguyên. 時維姜嫄
Lý đế
vũ mẫn hâm…。 履帝武敏歆
Tạm
hiểu: Người bộ tộc Châu được sinh ra,
Chính từ hiền mẫu Khương
Nguyên
Từ khi bà dẫm lên vết tích ngón chân
cái
lưu lại, kinh động như có thượng đế
giao cảm.
+Kinh
Thi, Đại Nhã, cũng từ bài thơ Sinh Dân, kỳ 8, minh hoạ sự kiện chữ Mẫn 敏 khi đọc thành Hối 悔:
Thứ
vô tội hối. Dĩ hất (ngật) vu kim 庶無罪敏 (悔).
以迄于今.(Người bộ tộc Châu
không hối hận vì có lỗi
với Trời, Kể từ trước cho tới tận ngày nay).
+Kinh
Thi, Tiểu Nhã, Tề Phong, bài thơ Phủ Điền, kỳ 4, 甫田
minh họa sùng thượng thần Đất tức Xã, thần Lúa tức Tắc, quen gọi là “xã tắc”, vốn
là tín ngưỡng nông nghiệp (dĩ nông vi bản) về lúa nước phương Nam của tộc Bách
Việt, thơ rằng:
Hoà
dịch (dị) trường mẫu. 禾易長畝
Chung
thiện thả hữu 終善且有
Tằng
tôn bất nộ 曾孫不恕
Nông
phu khắc mẫn. 農夫克敏
Tạm
hiểu: Ruộng lúa trải dài bát ngát
Tốt tươi hương tỏa bay xa
Cháu chắt bao đời vui thuận
Nông dân chăm chỉ nghiệp nhà.
+Lễ
Ký, thiên Trung Dung minh họa chữ Mẫn 敏
theo nghĩa thông đạt: Đạo lý luôn cần hòa hiệp với con người, vi chính khi thi
hành cần sáng suốt. (Nhân đạo mẫn chính - 人道敏政).
+Tả
Truyện, Hy Công tam thập tam niên, minh họa chữ Mẫn 敏 như là một phẩm đức nhân cách phải có, khi
nói: Thành tâm cung kính khi hành lễ, và thể hiện thêm sự trang trọng.(Lễ thành
gia dĩ mẫn - 禮成加以敏).
+Hoài
Nam Tử, Nguyên Đạo, minh họa chữ Mẫn như là một sự thông suốt cái có không ở đời,
khi biết nhận ra : Từ không đến có, từ có đến không. (Tự vô chích hữu, tự hữu
chích vô - 自無跖有自有蹠無).
+Quốc
Ngữ, Tấn Ngữ: Mẫn được xem như là trí tuệ minh mẫn, nhất là đối với tư tưởng
Nho gia, khi nói, Vua Tấn Văn Công thời Chiến quốc vừa thông tuệ lại vừa có tài
văn chương. (Thả Tấn Văn công mẫn nhi hữu văn - 且晉文公敏而有文).
+Quốc
Ngữ, Tề Ngữ: Mẫn được xem như tài năng mẫn cán, khi nói: Tay chân hết mực mạnh
mẽ nhanh nhẹn, tất thích hợp với công việc làm ruộng. (Tận kỳ tứ chi chi mẫn,
dĩ tùng sự ư điền - 盡其四支之敏以從事於田).
+Hà
Án trong Tập Giải 集解
viết: Lời nói mong muốn nhún nhường nhanh gọn, và hành động kỳ vọng thực hiện
nhanh chóng. (Ngôn dục tốc nhi hành dục tật - 言欲速而行欲疾).
+Hàn
Dũ trong Liễu Tử Hậu mộ chí minh viết: Tử Hậu tức Liễu Tông Nguyên đời nhà Đường,
hồi nhỏ rất minh mẫn, học chẳng điều gì mà không thông hiểu. (Tử Hậu thiếu tinh
mẫn, vô bất thông đạt - 子厚少精敏無不通達).
+Thượng
Quân Thư nói: Muôn dân gấp rút lo việc cày cấy và đánh giặc. (Vạn dân tật ư
canh chiến - 萬民疾於耕戰).
+Quảng
Vận 廣韻 tổng kết ý nghĩa của chữ Mẫn
khi viết: Mẫn, tật dã, kính dã, thông dã, khang dã, cần dã, tiệp dã, đạt dã …敏、疾也敬也聰也康也勤也㨗也達也..
Tân
nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Tật dã tức tần tật diễn tả
sự nhanh nhẹn bỗng nhớ đến trong Thương Ngô Trúc Chi Ca của Nguyễn Du từng miêu
tả: Lãng hoa song trạo tật
như phi 浪花雙棹疾如飛. Nghĩa là hai mái
chèo tung sóng hoa, thuyền lướt nhanh như bay. Rồi lại đưa ra nhận xét:
-Thưa
bác Lý và ba, theo thiển nghĩ của con, chữ Mẫn 敏,
ngoài nghĩa gốc chân tay nhanh nhẹn, đầu óc phản ứng linh động, người cổ đại phải
ứng phó bén nhạy thích nghi trong môi trường sống, khi thiên nhiên còn khắc
nghiệt hoang dã, vì muốn sinh tồn con người tự thân phải nỗ lực tìm kiếm cái ăn
trước hết (bụng đói chân bò), như thu nhặt hoa quả chung quanh từ hang động, mò
cua bắt ốc ven sông ven suối, hoặc bên đầm lầy ao hồ, hoặc săn bắn thú hoang
nơi núi cao rừng sâu (công việc này đòi hỏi động tác phải hết sức nhanh lẹ, cẩn
trọng và gan dạ, chưa kể là sự quyết đoán cần minh mẫn để săn hạ hoặc bắt con mồi
và giữ gìn bản thân an toàn) nhờ đó, có thể bảo đảm đủ lương thực cho đời sống
hằng ngày của cả một bộ lạc. Nói đến đời sống tức là nói đến sinh hoạt 生活 loài người. Ý nghĩa chữ sinh 生 (tức sống); mà hoạt 活
(mang nghĩa động 動),
với sự sống thì phải thực hiện hoạt động 活動.
Cho nên chữ Mẫn 敏
đã sớm có mặt trong lịch sử cấu thành và phát triển văn tự của loài người.
Ông
Tư cười khi nghe Tân nêu ra những điều trên, rồi vui vẻ góp lời tiếp:
-Chữ
Mẫn theo nghĩa “mẫn tiệp” được minh họa rất sát nghĩa qua bài thơ Bất Kiến-Cận
Vô Lý Bạch Tiêu Tức 不見-近無李白消息 (Lâu rồi không biết tin tức của Lý Bạch)
của Đỗ Phủ. Miêu tả mối thân tình bằng hữu qúy mến tài năng lẫn nhau (có lẽ
cùng là thi sĩ nên dễ cảm nhận, cảm thông) giữa thi tiên Lý Bạch và thi thánh Đỗ
Phủ, thơ rằng:
Bất
kiến Lý sinh cửu, 不見李生久
Dương
cuồng chân khả ai ! 佯狂真可哀
Thế
nhân giải dục sát, 世人皆欲殺
Ngô
ý độc lân tài. 吾意獨憐才
Mẫn
tiệp thi thiên thủ 敏㨗詩千首
Phiêu
linh tửu nhất bôi 飄零酒一杯
Khuông
sơn độc thư xứ 匡山讀書處
Đầu
bạc hảo quy lai. 頭白好歸來
Tạm
dịch:
Đã
lâu không gặp Lý sinh
Xót
thương cho bạn phiêu linh giả khùng !
Người
đời mong bạn mệnh chung,
Ngậm
ngùi ta nhớ xưa cùng tài nhau
Ngàn
thơ ý đẹp ra mau,
Chân
trời góc bể rượu sầu nhấp môi.
Núi
Khuông xưa đọc sách thôi
Giờ
đây tóc bạc về nơi quê nhà.
Ở nước
ta, trong bài thơ Cảm kỳ (thị) Hoàng tử Miễn 感示黃子勉
của Nguyễn Hữu Cương (Cang) 阮友岡
diễn đạt Mẫn như sau:
Nỗ lực
sự nghiệp đang, 努力事業當
Cập
thử minh mẫn thời. 及此明敏時
Tự
năng hữu bất hủ, 自能有不朽
Trường
dữ thiên địa thuỳ. 長與天地垂
Tạm
dịch:
Gắng
hoàn thành sự nghiệp,
Tất
minh mẫn có ngày.
Năng
lực không mai một,
Cùng
trời đất dài thay.
+Nghe
đến văn thơ nước nhà, Tân biết Lam Ngọc thế nào cũng có ý kiến góp phần nên ướm
lời hỏi, quả nhiên cô nàng vui vẻ nói ngay:
-Dạ!
Con rất thích văn chương Việt Nam nên nghe ba, bác Lý và anh Tân nãy giờ bàn về
chữ Mẫn làm con nhớ đến lời đối đáp dễ thương mẫn tiệp của bà Đoàn Thị Điểm với
anh trai Đoàn Doãn Luân. Khi ông này đi dạo ngoài vườn, chợt nhìn thấy em mình
đang trang điểm liền trêu:
Đối
kính hoạ mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm
(Soi gương kẻ lông mày, một nét hoá ra hai nét). Ở đây có chữ Điểm là tên bà
Đoàn
Thị Điểm đối lại:
Lâm
trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân
(Tới
ao ngắm trăng, một vầng hoá ra hai vầng). Trong đó có chữ Luân là tên của ông
anh*. Thế mới biết “ Đàn bà dễ có mấy tay” (Thơ Nguyễn Du).
Cả
nhà bật cười vì câu nói tinh nghịch của Lam Ngọc. Ông Lý tiện tay nâng ly nhấp
mấy ngụm trà nóng, nói tiếp:
-Bây
giờ bàn về chữ Mẫn 敏,
trích trong Luận
Ngữ được
ghi lại như
sau:
+Thiên
Học Nhi, Khổng Tử khuyên nhủ: Quân tử làm việc cần minh mẫn, và lời nói nên thận
trọng. (Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn - 敏於事而慎於言).
+Thiên
Lý Nhân, Khổng Tử nhắc nhở: Quân tử nói năng nên từ tốn, mà thực hành thì nhanh
nhẹn. (Quân tử dục nột ư ngôn nhi mẫn ư hành - 君子欲訥而敏於行
+Thiên
Công Dã Tràng, Tử Cống hỏi: Do đâu mà Khổng Văn đặt tên thụy là “văn”? Khổng Tử
nói: Ông ta thông minh lại ham học, không cho là nhục khi cần hỏi người ở dưới
mình. (Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn - 敏而好學不恥下問).
+Thiên
Thuật Nhi, Khổng Tử nói: Ta sinh ra chẳng phải đã biết đạo lý, do yêu thích văn
hoá cổ mà cần mẫn tìm kiếm học hỏi vậy nên. (Ngã phi sinh nhi tri giả, hiếu cổ
mẫn dĩ cầu chi giả dã - 我非生而知者好古敏以求之者也).
+Thiên
Dương Hoá, Tử Trương hỏi về đạo nhân. Khổng Tử nói: Một trong 5 điều mà “mẫn
cán” thì có công. (Mẫn tắc hữu công - 敏則有功).
Còn 4 điều
kia là: Cung, khoan, tín,
huệ - 恭寛信惠).
Như
trên cho thấy, cùng nêu ra một câu hỏi, nhưng câu trả lời của Khổng Tử lại khác
nhau. Thực ra, Khổng Tử là một vị thầy rất nhạy bén (tinh tế mẫn tiệp) về giáo
dưỡng, tuỳ theo trình độ, tuổi tác, cá tính, nghề nghiệp, sở thích… của mỗi học
trò mà đưa ra những lời hướng dẫn khác nhau. Cho nên xưa nay được tôn xưng là
bậc “ vạn thế sư biểu”.
Ông
Tư nhỏ giọng như muốn gửi gắm tâm sự:
-Thật
rõ như người xưa nói, “văn dĩ tải đạo, nghệ dĩ tu tâm”- 文以載道,藝以修心, văn
chương và
nghệ thuật
là phương
tiện, là
nơi chuyên
chở, duy trì
đạo
lý, cảm
hoá giúp
con người thanh lọc
tâm hồn.
Cái hay, cái
đẹp
không chỉ
ở
cảm quan, mà
luôn gắn
liền với
cái lý
của đạo
đức.
Và dù
cái tôi
có lớn
đến
đâu
cũng phải
nhỏ lại
trước chân
lý (quy luật
cuộc sống
khi già thì
phải biết
cẩn trọng
giữ thân
và tâm
thức). Do đó,
bác Lý
ơi!
Với tụi
nhỏ thì
thao tác, đầu óc đều
ứng
xử nhanh nhẹn,
chứ tụi
mình tuổi
đã
già, không
chỉ tai mắt chẳng tinh tường, đi đứng khó khăn, cử chỉ chậm chạp đã đành mà tâm
trí lại lúc “quên trước quên sau”. Thôi thì chỉ còn lại chút sức lực thừa, hằng
ngày siêng năng hoạt động và cố gắng đọc sách sử thánh hiền, tìm hiểu về kinh
kệ, coi như chịu khó “tắm mát” hay “khơi ấm” trí óc, may ra còn ít nhiều Mẫn
Tiệp mà thôi.
Lâm
Minh Anh