Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

902 .PHẠM VĂN NHÀN - Đọc Yellow mama và Hoàng Thị Bích Ti

                                                                                    


Đèn soi bóng nhớ 

đêm trầm bước lặng tìm ai

niềm vui không nói

kìa sao nỡ...

một chút riêng tôi

xé ruột thuở mong chờ

 Bốn câu thơ trên trong bài thơ “ một mình ” của nhà thơ Trần Nghi Hoàng đã gợi lên cho tôi phải làm một cái gì đó sau khi đọc xong tác phẩm của Hoàng Thị Bích Ti. Tác phẩm: Yellow Mama. Vâng, xin lỗi Hoàng Thị Bích Ti là: tôi không gọi tác giả bằng bà, bằng cô hay bằng hai chữ “ nhà văn , nhà thơ ” như nhiều người thích xưng tụng cho nhau ở vào thời buổi mà“ văn chương hạ giới rẻ như bèo ” này; mà tôi gọi Hoàng Thị Bích Ti bằng chị trong lối xưng hô để dễ viết về một: Hoàng Thi Bích Ti. 

Tác phẩm Yellow mama vừa đọc xong, tôi thấy: " niềm vui không nói, kìa sao nỡ...một chút riêng tôi, xé ruột thuở  mong chờ ".

Đúng vậy. Kìa sao nỡ.....để một tác phẩm hay phải nằm im trên giá sách của tôi? Kìa sao nỡ... để tôi ích kỷ đọc tác phẩm một mình. Và, chờ mong gì? Chẳng chờ mong gì hơn là khi đọc một tác phẩm “ hay ” theo “ cảm nhận ” của riêng tôi. Nhưng, cảm nhận đó còn tùy theo từng sở thích của mỗi người nữa. Có người thì cho tác phẩm đó ở vào loại trung bình hay hơn một chút. Có người thì vì lý do gì đó cho tác phẩm đó “ tệ ” nếu  có vấn đề với tác giả...Nhưng với tác giả thì khác, họ chấp nhận và đón nhận sự phê bình của đọc giả vì tác phẩm  đã được  “ trình làng ”. Còn tôi, khi đọc một tác phẩm hay là như bắt được một cái gì đó mà chính mình đã đánh mất tự bao năm ( tôi không khen chị đâu nhé, chị Hoàng Thị Bích Ti )  và, vì thế viết ngay trong nỗi thích thú của riêng mình ( viết theo lối cảm nhận, chứ không dám viết theo lối phê bình văn học ) . Ừ! Mà tại sao lại không viết khi đọc một tác phẩm hay? Niềm vui không nói ... câu thơ trong bài thơ của Trần Nghi Hoàng, tôi hỏi: tại sao không nói nhỉ? Đọc một tác phẩm hay là: Một niềm vui. Mà đã là niềm vui thì phải nói, nhiều khi thích quá còn phải la lên nữa là khác. Nói còn “ ít và nhỏ ”lắm. Tôi đang la đây. La là tiếng tán thán để giải quyết lòng mình trong: hĩ, nộ, ái, ố...mà tiếng la của tôi ở đây là” hĩ ”, là” ái ” khi đọc xong Yellow Mama của Hoàng Thị Bích Ti.   

Đâu cần phải quen tác giả mới cảm nhận một tác phẩm. Chỉ cần một tác phẩm hay là ta đã “ ngộ ” được với tác giả rồi. Vâng, đúng vậy, tôi chẳng biết Hoàng Thị Bích Ti là ai. Cuộc sống riêng tư của chị như thế nào? Người Nam hay Băc hay Trung? Cuộc sống bên Mỹ này, chị có bị Mỹ hoá không? ...Từ chỗ không biết cho nên không quen. Nhưng Yellow mama thì tôi quen, gần gũi, vì nó đang ở trước mặt tôi đây, trong gang tấc .

 

**

Bây giờ là mùa thu, lá bắt đầu vàng trên những nhánh cây. Chỉ vài ngày nữa thôi những nhánh, những cành sẽ trơ trụi khi đông về. Một rừng cây rụng lá. Một hàng cây rụng lá. Một cây rụng lá. Chỉ còn lại những nhánh cành khẳng khiu. Cho dù một rừng cây, hay một cây, khi nhìn tưởng cây sẽ chết vì lá không còn nữa để tiếp nhận ánh sáng mặt trời nuôi cây ( nhựa luyện ). Theo lối suy nghĩ của người Phương Đông sự lìa cành của lá ví như người sắp lìa đời. Nhưng không, lá có lìa cành thì lá vẫn  nuôi cây qua quá trình tiến hóa.  Cho nên khi đọc Yellow Mama , một tập truyện ngắn đi kèm với Những bài Thơ Riêng...( in chung ). Tôi đọc ngay những truyện ngắn gồm 10 truyện mà tác giả đã đưa tôi vào  thế giới “ Có/ Không ”. Cái “ Không ”  nhiệm mầu đó đã đưa tôi vào cái “ Có ” không lãng đãng như khói như sương, không che đậy bằng những gam màu để đánh lừa bàng quan thiên hạ,  mà thật  là “ thật ” để  tôi phải rung động theo từng con chữ mà Hoàng Thị Bích Ti đã trải dài ra trên mỗi trang giấy, qua 10 truyện ngắn, gồm khoảng 157 trang.

Với ngòi bút sắc, gọn. Với cái nhìn trực diện vào sự việc một cách khúc chiết, chị đã đem đến cho người đọc một thích thú ngay lúc vào truyện. Thẳng thắn và phải nói là “ trung thực ” của người cầm bút. Người ta nói “ nhà văn ” phải phản ánh được  thực trạng của xã hội đương thời. Đừng bẻ cong ngòi bút mà hướng dẫn lệch lạc để người đọc  không thấy được vấn đề của xã hội lúc ấy. Như trong: Người Bán Chiêm Bao, chị viết:

...." Trò chơi buôn người rồi cũng có hồi kết thúc. Cách mạng lật lừa, bán đứng quê hương. Chánh phủ vô tâm quịt luôn canh bạc cuối cùng để mặc cho các con bài ngơ ngơ ngáo ngáo. Thế là thổ phỉ vùng lên tranh dành lấn đất. Những tên cướp rừng lên làm lãnh tụ. Bố hắn chết trên đường chạy loạn. Như bừng tỉnh sau một giấc ngủ mê man, hắn trở hành một người trôi nổi, tha phương; vô gia đình, vô quê hương, vô chính phủ...”

( trang 15 ). Để rồi cuối cùng Hắn, nhân vật trong truyện cũng trở thành giấc mơ. Giâc mơ viết nên lời. Có lần, nhân vật Hắn mà Hoàng Thị Bích Ti đã cho lời đối thoại với chủ báo:

..." Tôi là con người chân thật. Chữ nghĩa của tôi chỉ để nói lên những lời chân thật...”...” Tôi làm văn chương chứ không làm nghề bán chữ! Đời sống không chỉ có cơm và áo. Nó còn có những cái cao đẹp khác như ước mơ và lý tưởng. Người không có ước mơ, lý tưởng thì có khác gì một con vật đần độn...”( trang 17 ) . 

Hắn, trong truyện: Người bán chiêm bao, tôi không nghĩ phản ánh nhân vật qua tác giả mà thường là như vậy để tác giả gởi gắm mình vào nhân vật trong truyện ( dù là truyện ngắn ). Có thể lắm! Có thể Hắn là chị, là tôi, là những người cầm bút chân chính. Nếu quả đúng như thế, nhà văn phải chân thật với chữ nghĩa và với mình. Chưa một lần biết chị, phải không? Nhưng như thế tôi lại chịu với lối viết thẳng. Mong Hắn trong truyện cũng như Hắn ngoài đời, của chị. 

 

Chữ nghĩa của Hoàng Thị Bích Ti  dùng không như sương như khói, lãng đãng để ru người đọc vào chốn “ mê cung ”. Mà chị nhìn qua sự việc một cách “ chính diện ” không che đậy dưới một lăng kính nhiều màu sắc. Nhiều lúc, nhiều đoạn người đọc nghe đến “ não lòng ”. Nhưng lại lôi cuốn đọc giả một cách lạ kỳ. Như:

..." Đứa con gái im bặt khi thấy ông Dân ngồi từ bao giờ bên cái bàn con gập ghềnh, lỏng chỏng. Tấm màn vàng tơi sau lưng ông rũ xuống rách bươm, ngăn căn nhà ra làm hai ô nhỏ. Phía trên của ông già, phiá bếp là của đứa con gái. Đôi nạng gỗ nằm sóng soãi trên nền xi măng thô cứng. Cái quần ngắn cũ xì phơi đôi chân đứt lìa ngang đầu gối, chằng chịt những đường may trên lớp da non đỏ bóng như hai đòn giò mới chưa kịp cắt chỉ, treo tòng teng trong xe bánh mì ngoài đầu ngõ...” ( cục xà phòng, trang 127 )


 

Chị ví cái chân cụt của ông Dân với lớp da non và những đường chỉ chưa cắt như một đòn giò treo tòng teng trong xe bánh mì ngoài ngõ ( một nhận xét rất tinh tế ,  rất chuẩn xác, nhưng nghe sao đau lòng quá vậy, chị Bích Ti?). Đây này, những từ chị dùng, có mỹ ngữ đâu. Nào: đôi nạng gỗ nằm sóng soãi trên nền xi măng khô cứng, nào cái quần cũ xì, nào đôi chân đứt lìa ngang đầu gối....Nhiêu đó, một câu văn ngắn thôi  cũng  gây cho người đọc nhiều ấn tượng. Như tôi chẳng hạn. Một ấn tượng gây mạnh trong đầu óc tôi ( vì người lính cũ ) lúc nào cũng thấy bạn bè tôi đứt lìa đôi chân, hay đôi tay. Rồi lại: cũng kéo lê đôi nạng gỗ trên từng bước đi rất khổ sở, chẳng có ai đoái hoài tới. Không vẽ nên một bức tranh “ êm đềm- đầy màu xanh của hi vọng , là: “ ngày trở về có anh thương binh chống nạng cầy bừa...”. Khó lắm. Ta hay nghe tiếp:

...." Người đàn ông ngồi giữa những vạt nắng, sờ đầu gãi tai như con chó lác đang liếm vết thương...” ( trang 127 ).

 

 Không mị và cũng không bẻ cong ngòi bút. Chị dám viết thật. Nếu chị viết về lính. Tôi nghĩ, cái thật “ thật đau lòng ” của những người lính cũ khi đã bỏ lại chiến trường một phần thân thể của mình để bảo vệ cho  một chế độ, một miền Nam. Nhưng thử hỏi, họ có được gì. Có được: ngày trở về có anh thương binh chống nạng cầy bừa không? Hay một miếng đất cấm dùi cũng không có, mà một thời đã qua ta đã thấy và đã nghe. Dù biết trong truyện Cục Xà Phòng không phải chị viết cho lính. Nhưng khi đọc, nhân vật “ Dân ”  đã đập thẳng vào khu não bộ của tôi ngay, và hình ảnh đó là hình ảnh của đồng đội của tôi.  Đúng, còn nỗi buồn nào hơn khi : người đàn ông ngồi giữa những vạt nắng. Có ai đó đã nhìn thấy hình ảnh một người già hay vài ba đứa trẻ ngồi nhìn những vạt nắng nhảy mông lung trên  sân đất  trước hiên nhà mới thấy cái cô đơn, cái tủi buồn kéo dài từ ngày này qua tháng nọ. Tôi đã thấy những đứa bé ngồi nhìn những vạt nắng nhảy múa mông lung trên khoảng sân đất nện ẩm ướt trong  những làng quê mà bom đạn hai bên đổ xuống.  Có lẽ đó là lối chơi của trẻ thơ trong vùng bom đạn? Có lẽ đó là lối suy tư của những người già khi nhìn vạt nắng? Nhưng, mỗi lần nhìn thấy hình ảnh đó, tôi biết những đứa bé đó không bao giờ có được cái hồn nhiên của tuổi thơ mà chỉ thấy trong đó đôi mắt lạc thần, sợ hãi và buồn thảm. 

Một đoạn văn ngắn thôi, cũng làm cho tôi sững sờ, nhớ lại những lần hành quân xa xưa. Dù, nhân vật Dân trong Cục Xà Phòng chưa hẳn là một người lính  mà chị muốn viết. Nhưng ít ra, hình ảnh ấy, không và không bao giờ phai mờ trong trí của tôi.

 

Cái bắt được ở trong truyện của Hoàng Thị Bích Ti là: lãng đãng những vạt nắng, những sợi nắng. Mà những sợi nắng trong truyện : Nắng Vô Ưu...Ta nghe chị viêt: 

.." Tôi nhớ chỗ nằm của tôi ở một nơi nào đó, không còn quan trong nữa. Tạm bợ thôi! Nhưng đó là một chỗ của riêng tôi. Ngày còn bé, tôi vốn là một đứa con nít ưa chạy trốn mọi người! Tất cả đều làm tôi sợ hãi. Tôi luôn luôn tìm thấy sự an toàn nơi một cái gò hoang hay trên một hốc đá. Nơi ấy là chỗ của tôi. Một chỗ không có tiếng người . Không có sự ruồng rẫy. Trong khi những đứa bạn bằng tuổi quanh quẩn trong sân nhà thì tôi lại chui rào qua nhà mệ Tới, ngồi thu người trong ngôi mộ bằng đá xanh của chồng bà ngó ra những sợi nắng đang len lỏi  giữa khoảng vườn xanh màu lá cây, hay táy máy nhìn những vật dụng xếp quanh huyệt mộ, dành riêng cho người chết. Với đầu óc của một thằng bé con cái chết là ngưỡng cửa để đi vào một thế giới phiêu lưu đầy sợ hãi  và cũng không kém phần thú vị... ” ( trang 113 ).

 

Đọc  đoạn văn trên chưa đủ để thấy cái hay của Nắng Vô Ưu mà Hoàng Thị Bích Ti viết. Tuy nhiên, xuyên qua những truyện ngắn trong tập Yellow Mama tôi thấy một nỗi buồn, nỗi cô đơn dâng lên, dâng lên qua từng câu chuyện. Nỗi buồn đó có từ đâu. Thời của bao tiếng khóc . Thời của bao đổ vỡ. Thời của bao tâm hồn “ phiêu bạc ” trong những luồng tư tưởng đỏ xanh đã làm cho quê hương một thời thống khổ dội về từ chiến tranh. Rồi cũng từ chiến tranh bao nhiêu gia đình tan tác. Bao nhiêu gia đình bỏ luống cày, làng mạc ra đi, Cũng trong truyện Nắng Vô Ưu đó, ta nghe tiếp:

..." mệ  quanh quẩn bên bàn thờ con, vừa lau  bụi vừa mắng mỏ:

“ Tổ cha cái thằng ni! Đồ con bất hiếu! Lá già còn ở trên cây mà lá xanh đã rụng xuống rồi! Mi chết trước tau thì làm răng để tang cho mạ được con hè?”

Đôi mắt đỏ lem nhem. Bà cụ thì thầm như một người đang xưng tội:

“ Con ơi...mạ nhớ con nên nói rứa! Đi đi con hỉ! Đi thật xa ! Mạ khôn can chi mô!...Đầu thai kiếp khác đi con ! Chỗ ni gió tanh mưa máu, có chi mô mà luyến tiếc, con hỉ ?...”( trang 114 ) . 

 

Còn có nỗi đau nào hơn cho người mẹ Việt Nam?  Thôi nhé, đừng đại diện cho ai. Đừng nhân danh một mỹ từ nào nữa để đẩy tuổi trẻ đi vào cuộc phiêu lưu vô bổ. Tôi nhớ đến hai câu thơ của Hoàng Trần:

“ Để cho ánh nến tỏa hồng

 Thì thân sáp đã bao dòng lệ rơi ".

Chiến tranh Việt nam có biết bao nhiêu: thì thân sáp đã bao dòng lệ rơi . Nhiều lắm. Có đến hàng trăm , ngàn ngàn người mẹ già nua đã làm:

...." thỉnh thoảng những hôm trời nắng đẹp, người con dâu đem khăn áo trong hòm ra phơi, trắng cả một khoảng vườn. Hàng xóm nhìn thấy đều xanh mặt. Đầu năm 75, người con trai đi trận vẫn không về. Vành khăn tang cho mệ được xếp ngay ngắn bên bát hương của anh...” ( trang 113 ) cùng truyện.

 

Chiến tranh. Bao nỗi đớn đau lớn nhất của người mẹ, người vợ khi mất con, mất chồng. Chiến tranh đến với thôn xóm, làng mạc không chừa một nơi nào. Mà nơi đó có biết bao nhiêu cái chết “ dị hình  dị tướng ” do bom đạn gây nên. Chết ở đâu, nơi nào cũng là nỗi dằn vặt lớn nhất của mệ Tới:

...." nỗi dằn vặt lớn nhất của bà cụ là đứa con yêu chắc đã chết ngoài ruộng đồng. Chết dưới hầm mộ nông, không có chút nắng soi sáng. Cửa nhà của mệ đã bắt đầu suy sụp, người ta rinh đi sạch hết những đồ qúi báu. Tuy nhiên, cái hòm vẫn còn đó! Đối với mệ, chừng đó là đủ rồi! Rinh chi thì rinh, miễn sao còn chừa cho mệ một chỗ nằm...” ( trang 114 ).

 

Một chỗ nằm. Ôi! Nghe sao ấm cúng quá. Người già coi cái chết đến thường lắm. Nhất là trên quan điểm của Phật giáo. Cõi sống hôm nay chỉ là cõi tạm. Cho nên mệ Tới chẳng màng chi những thứ  chung quanh mệ. Cứ mang đi hết đi. Cứ lấy đi hết đi. Chỉ để lại cho mệ một chỗ nằm...đó là cái hòm. Đủ rồi. Quan điểm của mệ Tới cũng là quan điểm chung của những người già: sống có cái nhà chết có nấm mồ. Một chỗ nằm. Để rồi, chị viết:

..." Thèm một chỗ nằm ghê gớm! Một gò đất trọc. Một hốc đá thân quen. Nhưng tôi không còn chỗ nằm nào của riêng tôi nữa hết! Tôi cũng không còn nơi để tới và không có chốn để về. Vuốt mặt. Kéo tấm drap trắng xuống, vuốt mặt cho mình lần sau chót. Bỏ da. Bỏ tóc. Trả máu cho cha. Trả xương cho mẹ. tôi lần bước ra khỏi cuộc đời bằng những bước chân vất vưởng. Trời vẫn còn đang mưa. Và những vạt nắng, vẫn chưa về...” ( trang 125 ).

 

Để kết thúc cho một truyện ngắn: Nắng Vô Ưu. Tôi thật ray rứt với bảy chữ mà Hoàng Thị Bích Ti đã dùng: Và những vạt nắng, vẫn chưa về... Những vạt nắng vô ưu ấy vẫn còn đọng trong tôi khi đọc xong Năng Vô Ưu của chị. Một trong những truyện thật hay.  

 

Còn nữa. Một cái truyện của Hoàng Thị Bích Ti viết mà tôi đọc như qua tác giả đã đưa tôi về với không gian, thời gian của cái tuổi 7, 8 ngày nào. Tôi cứ ngỡ chị cùng quê với tôi, cho nên chị mới viết để gợi lại một kỷ niệm chăng? Truyện: Đêm Trăng Bỏ Xứ. Đọc xong truyện, tôi gấp tập Yellow Mama lại, cái mùi khai khái quen thuộc của quê hương tôi, của thành phố tôi lại gắn bó đời tôi cho mãi đến khi tôi ra đi định cư trên xứ người. Cái mùi đó làm sao tôi quên được,  mà hôm nay chị lại dẫn tôi trở về cái tuổi thơ ngày nào. Thành phố Phan Thiết của tôi. Vâng. Mùi nước mắm. Trên tóc, trên áo quần, trên sách vở đều phảng phất mùi  nước mắm. Đến nỗi khi tôi còn học tiểu học, một vị thầy giáo  người Huế gọi tôi lên , thầy hỏi: bộ em không tắm sao, mà áo quần, sách vở nghe cái mùi khăm khẳm vậy. Thầy ơi! Quê em là vậy đó. Nhưng tôi nào dám nói. Im lặng. Mà quả thật, đến đâu cũng nghe cái mùi đậm đà quê hương này. Truyện: Đêm Trăng Bỏ Xứ,  Hoàng Thị Bích Ti không nói gì đến cái mùi nước mắm quê tôi. Nhưng chỉ những đoạn văn mà chị miêu tả, từ cái đình làng mà thuở nhỏ tôi hay “ ngồi lê ” trước sân để nghe hát chầu văn. Có ai nghe hát chầu văn bao giờ chưa? Mê lắm, mê giọng hát, tiếng kèn, mê đến vóc dáng của cô hát chầu. Đừng nghĩ đó là “ mê cô đồng, mụ bóng ”. Vâng. Tôi mê từ điệu múa tới giọng ca mà chị đã đưa tôi về cái tuổi thơ ngồi lê trước sân đình ở quê tôi. Chị viết đúng và nói đúng, nơi đó chỉ là những người dân chài ít học. Nhưng bản chất thì hiền lành lắm. Chẳng có dữ dằn như những mùa biển động đâu.    

Và , quê tôi cũng lắm huyền thoại. Như đoạn văn dưới đây:

 ..." Sông này bắt nguồn từ trên ngàn rồi chảy ra biển mà! Lụt lội hoài đó chứ! Cả tỉnh mà chỉ có một cây cầu thôi. Cách đây mấy năm, có lần mưa trút xuống cả tháng. Cây trên ngàn đổ xuống từng bè. Gió bão dầm dề. Ai ai cũng sợ sập cầu. Người ta bảo nhau là mấy ông dưới thủy cung về chở gỗ. Nửa đêm mưa gào, gió thét; dân chúng hai bên bờ sông nghe chiêng trống ầm ầm, lại nghe có tiếng hỏi:

“ Đi trên cầu hay dưới cầu?”. Và có tiếng trả lời: “ Dưới cầu! Đi trên cầu chết hết bá tánh!” Sáng ra, trời quang mây tạnh; mấy bè cây biến mất tiêu. Cây cầu vẫn còn đó..” ( trang 58 ).

 

Có phải là một huyền thoại không? Tôi nghĩ là không, vì người dân quê tôi ai cũng nói về sự việc mà Hoàng Thị Bích Ti đã tả lại qua đoạn văn trên. Tại sao, câu chuyện này, chị biết mà viết thành một truyện hay? Ngay cả cụm từ: cây trên ngàn . Đáng lẽ phải nói là: cây trên rừng. Người dân quê tôi không dùng từ “ rừng” mà dùng từ “ ngàn ” mỗi khi muốn nói đến “ một linh thiêng ” nào đó mà họ phải gọi trệch ra. Để rồi, đọc tiếp những dòng chữ kế tiếp, quả đúng như vậy, chị đã đưa tôi về lại một miền quê hương dấu yêu của một thời mà tôi “ bay nhảy ”. Như đoạn văn sau đây:

..." Người đàn bà bán hàng gầy ốm ngồi dựa lưng vô gốc cây, mắt nhìn ra bến sông, gương mặt im lìm như những con ốc hương đang nằm trong rỗ. Gió trên sông thổi đùa mấy sợi tóc  rối trên gương mặt rạm màu nắng biển, cằn cỗi. Cô bé khoảng mười hai, mười ba đang quệt chút mắm ruốc lên miếng bánh đa ướt cho khách hàng. Hai người con gái mặc quần ống loa, áo thun bó sát, móc bóp trả tiền còn dùng dằng chưa cất bước. Cô bé bán hàng chỉ những trái chùm ruột xanh nằm kề bên chén mắm ruốc trộn với những khoanh ớt chín đỏ và mấy miếng tỏi trắng bóc, ân cần mời khách bằng một giọng  Trung lơ lớ:

“ Mấy chị ăn chùm ruột nghen. Chùm ruột chín cây, mẹ em mới hái sáng nay “.

Hai người con gái lắc đầu ngoe ngoẩy xoay lưng:

“ Mới sáng mà ăn cái đồ quỷ này cho chết sớm ”.

Đi ngang qua chỗ  người đàn bà bán ốc hương cô này bảo cô kia:

“ Mộng Cầm kìa! ”.

“ Gì ”.

“ Mộng Cầm!...Người yêu của Hàn Mặc Tử đó ”.

“ Đâu? ”.

“ Đó! Bả đó ”.

“ Xạo mầy! sao mày biết?”.

“ Vậy mới hay! Hổng tin mày hỏi bả coi!”.

“ Mộng Cầm gì ...xấu hoắc dzậy?”.

“ Thì bây giờ bả ...già...chứ bộ! Xí! Bộ máy tưởng thằng cha Hàn Mặc Tử đẹp trai lắm hả? Chả mà đẹp trai là tao cùi sức móng ”.

“ Đồ quỷ! Xạo ke!...”( trang 64 ).

 

 Nhiêu đó thôi. Tưởng quê hương chỉ còn trong trí nhớ của riêng mình. Không ngờ, hôm nay : Đêm Trăng Bỏ Xứ lại đưa tôi về với một miền quê của thời rất nhỏ ấy : bánh tráng( quê tôi không gọi bánh đa ) quệt mắm ruốc  của cái thuở học trò, nhất là đám học trò nữ sinh, nam sinh cùng lứa. Hoàng Thị Bích Ti ơi! Chị làm cho tôi thèm nhỏ nước giải rồi đây nhé. Mắm ruốc hồng tươi, điểm thêm vài lát ớt xắc mỏng, vài tép tỏi trắng ngần ăn với bánh tráng là tuyệt hảo. Chỉ có quê tôi mới có món ăn “ bình dân ” này cho cái đám: nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò. Rồi còn gì nữa: Ốc Hương. Một đặc sản của quê tôi mới có loại ốc này. Rồi còn gì nữa: hình ảnh của Mộng Cầm mà chị đưa vào Đêm Trăng Bỏ Xứ. Chỉ có Phan thiết mới có Mộng Cầm. Một Mộng Cầm chứ không có hai. Chị ơi, Mộng Cầm già lăm chị ơi, và bà cũng khổ lắm sau cái ngày ...hôm ấy. Cảm ơn chị đã gợi nhớ trong tôi những hình ảnh quê ngày nào, mà hôm nay, tôi nghe lại những bài hát chầu văn ( vẫn thường hay nghe ) tôi lại mê như ngày nào còn bé ngồi lê trước sân đình. Thôi: " Vầng trăng trên đầu tỏa rạng. Bó nhang chờn vờn trên tay, sánh như một đóm sao băng. Và không hiểu sao, chàng vội vàng cắm cúi bước nhanh hơn về phiá con đường lớn. Thành phố còn đang say ngủ. Đêm, vẫn đầy một màu trăng...”. Những câu cuối của truyện mà chị viết lên, để cho tôi. Vâng: Đêm, vẫn đầy một màu trăng trên xứ người để nhớ mãi một cõi quê yên tĩnh một thời.

 

Để rồi. Một nhân vật khác, cô Kim người Mỹ. Kim là tên viết tắt của Kimberly ( trong truyện Yellow Mama ) đã làm cho tôi xúc động mạnh khi đọc xong. Cũng như những truyện trước trong cùng một tác phẩm của Hoàng Thị Bích Ti. Dù truyện chị viết lấy bối cảnh từ Việt nam, quê nhà, hay bối cảnh từ nơi xứ người thì mỗi truyện, chị đều mang vào đó một “ vạt nắng ” . Vạt nắng, nghe nó buồn man mát làm sao. Cái buồn đó, thể hiện qua một truyện ngắn tuyệt vời: Yellow Mama mà chị chọn làm cho tên tập truyện.

 

Vâng. Kim từ đâu mà có trong cõi đời này. Ta đọc:

..." Kim là một đứa con hoang. Trong cơn mây mưa của một người đàn ông và một người đàn bà, con đực và con cái, nàng được kết tinh thành hạt giống không tên tuổi, tình cờ rơi xuống cõi người ta, nẩy mầm, ngoi ngóp lớn lên như loài cỏ may trên phần đất khô cằn, độc địa. Nàng thuộc thành phần di dân bất hợp pháp. Từ thuở nhỏ, Kim đã ở với hai vợ chồng người bà con lạ hoắc nào đó. Họ sống lây lất trong vũng bóng tối  đầy tội ác của thành phố Nữu Ước dưới những căn hầm lúc nào nước cũng lút đến mắt cá, chuyên làm giá sống cho mấy tên Tàu tài phiệt gốc Hồng Kông. Nàng  trốn chui trốn nhũi với lũ chuột cống trong bóng tối. Khi cặp vú đã bắt đầu lu lú dưới làn áo lúc nào cũng ươn ướt và da thịt đã bắt đầu thơm mùi con gái thì “ thằng bà con ” trong một đêm cùng đường nản chí bèn quyết định mang con bé ra xổ xui. Đứa con gái bị hi sinh cái màng trinh để  cứu nguy “ gia đình ”. Lễ tế thần diễn ra hằng đêm trong khi bà thím ngủ vùi sau mỗi ngày làm việc quần quật. Cũng may ông chú già thuộc loại “ liệt âm, liệt dương ”nên những hạt giống ung thối gieo trong cửa mình con bé đều chết tiệt. Đứa con gái trốn đi đứng hết ngã tư này đến ngã ba nọ...” ( trang 39 )

 

Cuộc đời của nhân vật Kim mà Hoàng Thị Bích Ti đưa lên trong Yellow Mama bắt đầu từ đó. Kiếm sống bằng cái nghề mà: các cô gái đứng đường thèm cái địa vị của Kim trong các hộp đêm ở Nữu Ước. 

 

Ở đây, tôi không phải là nhà phân tích tâm lý nhân vật qua một truyện ngắn hay truyện dài. Tôi chỉ là một người đọc truyện và, thấy hay ghi vội lên trang giấy như mấy câu thơ của Trần Nghi Hoàng: 

đèn soi bóng nhớ

đêm trầm bước lặng tìm ai

Tìm ai để giải bày tâm sự khi đọc một truyện ngắn hay. Chỉ còn cách viết lên trang giấy như chính mình giải bày tâm sự của chính mình. Cái hay của Yellow Mama mà Hoàng Thị Bích Ti đã dùng những câu văn miêu tả thực để dắt dẫn  người đọc đi đến chỗ chiêm nghiệm về hình ảnh thật giữa hai “ lưỡng cực ”: sống và chết. 

 

Phải tìm đọc cho được Yellow Mama mới thấy hết cái tâm trạng của người bị kết án “ death penalty ” qua nhiều hình thức khác nhau. Tại sao Kim không chọn cho mình một cái chết là “ chích thuốc độc ” để đi vào một giấc ngủ êm ái cho thân xác có phải hơn không? Hay là, không một hình phạt nào gây ấn tượng mạnh nơi người con gái “ hồng nhan bạc mệnh ” này. Một loại hình phạt ghê gớm mà nơi Kim (nhân vật truyện ), hay nơi tác giả ( muốn trình bày một ấn tượng đi vào cảm xúc mạnh ) để cho câu chuyện hay hơn thì phải là: lên ghế điện. ( mà tôi nghĩ: lên ghế điện mới lột hết cái hay của câu chuyện ). Nếu, chích thuốc độc ư?  Tầm thường quá. Nếu, treo cổ ư? chẳng khác nào như thời trung cổ. Chỉ còn sự chọn lựa của người tử tội là Kim qua nét bút ( hành văn ) của Hoàng Thị Bích Ti. Ở đây Hoàng Thị Bích Ti đã làm tôi liên tưởng đến một ngọn nến hồng ( là Kim ) qua quá trình thắp sáng ngọn nến ( cuộc đời của một cô gái đẹp trong một hộp đêm ở Nữu Ước ) lụn tắt, chẳng khác nào quá trình sống, chết của một kiếp nhân sinh. Một quá trình đi từ hóa thân này đến hoá thân khác trong cái trần gian đầy khổ lụy này. Đọc truyện của Hoàng Thị Bích Ti, tôi thấy Bích Ti vẽ nên một gam màu buồn man mát. Những vệt nắng lại trở về trong “ cuộc sống “ của mỗi nhân vật mà Hoàng Thị Bích Ti đưa lên. 

 

Nhưng tại sao lại là Yellow Mama? Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh hành quyết một  “ tử tội ” bao giờ. Có nghe chăng cũng trên đài hay qua báo chí. Chưa nghe nói ghế điện để giết người lại mang cái trên thật là “ đáng kính ”. Đó là Mẹ! Một người đàn bà dầu là đen hay trắng hay da vàng cũng đều là người sinh ra những con người cho thế giới này càng ngày càng đông càng vui. Sinh ra trong lòng  Mẹ, rồi lại chết đi cũng trong vòng tay của Mẹ ư ?  Hay là ai đó đã đặt cho cái phương tiện dùng để giết người là Mẹ. Quả thật như thế thì đau lòng lắm. Mẹ là mẹ muôn thuở vẫn hiền cơ mà. Đâu có mẹ nào nỡ giết con trên cõi đời này, cho dù người mẹ đó có điên. Ta hãy nghe giọng đùa cợt của Kim:

..." Tớ sẽ là người đàn bà thứ nhất lên ghế điện trong suốt hơn ba mươi năm nay! Đã lâu lắm rồi người ta chưa xử tử một người đàn bà nào, trong khi bọn tù đàn ông thì bị giết không chút thương xót. bây giờ bắt được tớ làm sao tha được? Thời buổi này nam nữ bình quyền mà! Không giết tớ, chính phủ sẽ mang tiếng là...kỳ thị! Người ta sẽ không thẳng tay với những người đàn bà như tớ vì lí do ...nhân đạo! Dù sao đi nữa chúng tớ  cũng là những bà mẹ. Loài động vật có vú. Là những người cứu mang  và đẻ ra những đứa con, cưu mang sự sống cho nhân loại. Ai lại làm việc phản đạo đức, nỡ giết đi những Eve đẻ ra nhân loại  bao giờ?”. ( trang 35 )

Và:

..." Yellow Mama!”. Cái tên cũng hay đáo để phải không Trâm Anh? Tại sao không là Má đen hay Má đỏ Trâm Anh nhỉ? Ối, Má đỏ thì nghe có vẻ khát máu quá phải không? Chẳng có tí gì nhân bản cả! Trâm Anh hãy tưởng tượng đi! Tớ sẽ được chết trong lòng Má vàng như một đứa con ngoan. Nghe nói ngày hôm nay tớ sẽ được cởi trói. Không xiềng. Không xích. Tớ sẽ được rữa sạch hết tội lỗi. Được ăn một bữa ăn cuối cùng như Chúa và ra khỏi đời sống này với hai bàn tay không. Không tình. Không còn bé Linh và không còn Tony nữa. Phủi hết! Phủi sạch...” ( trang 35 )

 

Còn nữa, vẫn cái giọng nói của người tử tội là Kim. Hình như  cô gái trong truyện  tự tại, bình thản và an vui trước cái chết đang chờ; mặc dù, qua lời nói, có chút gì mĩa mai:

.." Buồn cười! Vậy mà hay Trâm Anh ạ! Tớ từ trong bụng một người mẹ chui ra thì bây giờ có cái bụng của một bà mẹ khác để chui trở vô. cái bụng gỗ! Cái bụng gỗ của Má vàng. Ôi! bà mẹ da vàng với tâm hồn gỗ cứng, không có trái tim. Chào đời với manh tả trắng. Ra khỏi cuộc đời cũng với tả trắng! Có mấy ai có một cái chết đầy thi vị như vậy hả Trâm?” ( trang 37 )

 

Vâng, lọt lòng mẹ với những tiếng khóc đầu đời như chấp nhận “ cuộc đời là bể khổ ” trong kiếp nhân sinh. Nhưng, cũng chào đời với những manh tả trắng . Có ai mà không mang tả một lần trong lúc ra đời trong vòng tay của Mẹ? Thật oái ăm, đến khi chết lìa bỏ cuộc sống hiện hữu trong kiếp nhân sinh này, Kim lại được mang một manh tả như lúc mới chào đời . 

 

Có ai mà không khóc cho một “ cơ thể ” sống sắp sửa ngưng tiếng thở. Dù là người không quen, không bạn bè, thân thuộc. Trong tình huống này Trâm Anh ( nhân vật trong truyện ) hay chính là tác giả cũng phải phát điên và run rẩy khi nghe những lời nói thật bình thản, tự tại của Kim:

..." Tôi run rẩy. Hai bàn tay nắm chặt, cố dùng hết nghị lực để bứt tôi ra khỏi cơn điên cuồng của Kim. Tôi hét lên:

“ Thôi đủ rồi! Đủ rồi Kim, câm họng lại đi ! ”

Kim sựng lại nhìn tôi. Đôi mắt thoáng ngạc nhiên, thoáng buồn bã. Tôi lao ra khỏi phòng thăm nuôi, bỏ mặc Kim ngồi đó...” ( trang 37 ) 

 

Cái bình thản trong câu nói của Kim ( tử tội ) đã làm cho  tôi khâm phục. Nàng không sợ chết, không nuối tiếc kiếp nhân sinh ngắn ngũi. Và còn tác giả nữa. Tôi phải phục mới được. Phục tác giả ở chỗ nào trong câu chuyện mà tác giả đưa ra. Đó là phép so sánh giữa hai hình ảnh: một hình ảnh mới sinh ra và một hình ảnh lìa bỏ cuộc sống đi vào cõi chết. Cái hay là ở chỗ đó. Hoàng Thị Bích Ti đã viết rất rõ qua hình ảnh: manh tả trắng khi chào đời. 

 

Vâng. Có đứa trẻ nào mới sinh ra mà mẹ không cho mang tả? Mang tả cho con cũng là hình ảnh “ rất dễ thương ” của người mẹ “ ấu yếm ” nhìn con mình. Hãy nhắm mắt lại và hình dung xem  thử coi. Tôi nói có đúng không. Tình thương của người Mẹ gói hết trong “ manh tả đầu đời ” của đứa con đó. Trong manh tả đó có: cả bầu trời, có cả tương lai và có cả tiếng chim hót cho con mình sau này. Không có người Mẹ nào lại nghĩ đến một vạt nắng trong manh tả đó. Lại một vạt nắng trong đầu óc tôi. Để rồi lại một manh tả khác mà Kim vẫn nói đều đền như chuyện bình thường: người ta sẽ bịt mắt và mang tả cho tớ...

Mang tả lần này là một vệt nắng vàng vọt đang đổ xuống cho một kiếp nhân sinh. Rõ ràng Hoàng Thị Bích Ti đã đưa lên một hình ảnh rất thật để so sách một kiếp người: chào đời và giả biệt.

Vâng. Còn gì ghê gớm hơn khi mà một dòng điện cực mạnh chạy ngang qua thân thể yếu đuối của người con gái “ hồng nhan bạc mệnh ” này. Còn gì trong cơ thể con người. Tất cả những thứ mà đời cho là dơ dáy, bẩn thỉu hay tinh túy nhất cũng phải tuôn ra từ cơ thể của con người,  khi những tên đao phủ đưa tay kéo chốt điện lên. Ta nghe tác giả nói:

..." Tôi ôm lấy ngực. Trái tim quặn thắt từng cơn. tay chân bủn rủn. hàm răng đánh vào nhau lập cập. Mồ hôi rịn ra trên sống lưng. Mắt căng lớn. Những ngón tay bấu chặt lấy thành ghế. Những ngón tay buông xuôi. Những ngón tay lạnh ngắt. Những ngón tay đưa lên nút điện. hàng loạt tia điện xẹt ra từ mấy cái niềng sắt như mớ hào quang tỏa sáng chung quanh Kim. chiếc giầy đỏ văng bắn ra. Người tội nhân quằn quại. Giẫy giụa. Giẫy giụa. Như con sâu đang bị loài quạ đen rỉa, rứt ra từng khúc thịt. Như bầy cua bấn bần trên lò lửa nóng. Thịt da cháy xém. Quần áo tả tơi. Hình như mùi hơi người đang phảng phất đâu đây. Tôi hình dung ra mùi thịt nướng, mùi mỡ  cháy của những buổi picnic ngoài trời trong những trưa hè vàng nắng hay ngày lễ Độc lập. Ngón tay đưa lên nút điện một lần nữa. Nước mắt trào ra. Máu trào ra. Ông bác sĩ quay đi. Người linh mục có tìm thấy hình ảnh Chúa trong những trang kinh? Tấm màng cửa được kéo qua thật nhanh, thật nhanh...Một linh hồn vừa bỏ rơi địa ngục. Vài tiếng thở phào hoan hô công lý. Tôi ngã xuống. Hồn xác bay lên chơi vơi...chơi vơi...bồng bềnh như chiếc quan tài lơ lửng trong vũng địa ngục tối. Lạy trời! Lạy phật! Lạy con người! Và lạy cả tôi! Xin cho tôi đừng bao giờ tỉnh nữa...” ( trang 51 ).

 

Vâng. Mọi sinh vật đều khóc cho một sinh vật khác vừa mới ngưng nhip thở. Cho dù sinh vật đó đang mang bản án “ death penalty ”. Tại sao thế giới không bình để cho tâm an bình, mọi sinh vật an bình. Một quá khứ trước 75 và hôm nay, trên phần đất tạm dung này, có an bình không trong cuộc sống?  Ở đâu, “ vạt nắng ” trong những câu chuyện kể của chị vẫn còn đọng trong tâm trí tôi, từ khi tôi mới bước chân vào quân ngũ cho đến hôm nay trên đầu hai thứ tóc: những đứa bé thơ , những cụ già từ những làng quê đầy bom đạn không có tương lại. Chỉ nhìn thấy vạt nắng buồn từ ngày này qua ngày khác. Tựa nhự vạt nắng ấy đùa giỡn với chính mình.  Với cái nhìn rất “ sắc bén ” của một cây bút nữ dưới mọi khía cạnh của xã hội, Hoàng Thị Bích Ti chắc chắn không làm người đọc  “ nản lòng ” khi đọc tới tác phẩm của chị. 

 

Gấp tập truyện lại, hình ảnh quê nhà như còn chung quanh tôi. Hình ảnh cuả người tử tội: Kim vẫn còn đâu đây trong căn phòng tôi làm việc . Và, vạt nắng vẫn còn lảng vảng trong tôi. Cảm ơn tác giả đã cho tôi đọc một tác phẩm hay.