Đèn soi bóng nhớ
đêm trầm bước lặng tìm ai
niềm vui không nói
kìa sao nỡ...
một chút riêng tôi
xé ruột thuở mong chờ
Tác phẩm Yellow mama vừa đọc xong, tôi thấy: " niềm vui không nói, kìa sao nỡ...một chút
riêng tôi, xé ruột thuở mong chờ ".
Đúng vậy. Kìa sao nỡ.....để một tác phẩm hay phải nằm im trên giá
sách của tôi? Kìa sao nỡ... để tôi ích kỷ đọc tác phẩm một mình. Và, chờ mong
gì? Chẳng chờ mong gì hơn là khi đọc một tác phẩm “ hay ” theo “ cảm nhận ” của
riêng tôi. Nhưng, cảm nhận đó còn tùy theo từng sở thích của mỗi người nữa. Có
người thì cho tác phẩm đó ở vào loại trung bình hay hơn một chút. Có người thì
vì lý do gì đó cho tác phẩm đó “ tệ ” nếu có vấn đề với tác giả...Nhưng
với tác giả thì khác, họ chấp nhận và đón nhận sự phê bình của đọc giả vì tác
phẩm đã được “ trình làng ”. Còn tôi, khi đọc một tác phẩm hay là
như bắt được một cái gì đó mà chính mình đã đánh mất tự bao năm ( tôi không
khen chị đâu nhé, chị Hoàng Thị Bích Ti ) và, vì thế viết ngay trong nỗi thích
thú của riêng mình ( viết theo lối cảm nhận, chứ không dám viết theo lối phê
bình văn học ) . Ừ! Mà tại sao lại không viết khi đọc một tác phẩm hay? Niềm
vui không nói ... câu thơ trong bài thơ của Trần Nghi Hoàng, tôi hỏi: tại sao
không nói nhỉ? Đọc một tác phẩm hay là: Một niềm vui. Mà đã là niềm vui thì
phải nói, nhiều khi thích quá còn phải la lên nữa là khác. Nói còn “ ít và nhỏ
”lắm. Tôi đang la đây. La là tiếng tán thán để giải quyết lòng mình trong: hĩ,
nộ, ái, ố...mà tiếng la của tôi ở đây là” hĩ ”, là” ái ” khi đọc xong Yellow
Mama của Hoàng Thị Bích Ti.
Đâu cần phải quen tác giả mới cảm nhận một tác phẩm. Chỉ cần một
tác phẩm hay là ta đã “ ngộ ” được với tác giả rồi. Vâng, đúng vậy, tôi chẳng
biết Hoàng Thị Bích Ti là ai. Cuộc sống riêng tư của chị như thế nào? Người
**
Bây giờ là mùa thu, lá bắt đầu vàng trên những nhánh cây. Chỉ vài
ngày nữa thôi những nhánh, những cành sẽ trơ trụi khi đông về. Một rừng cây
rụng lá. Một hàng cây rụng lá. Một cây rụng lá. Chỉ còn lại những nhánh cành
khẳng khiu. Cho dù một rừng cây, hay một cây, khi nhìn tưởng cây sẽ chết vì lá
không còn nữa để tiếp nhận ánh sáng mặt trời nuôi cây ( nhựa luyện ). Theo lối
suy nghĩ của người Phương Đông sự lìa cành của lá ví như người sắp lìa đời.
Nhưng không, lá có lìa cành thì lá vẫn nuôi cây qua quá trình tiến
hóa. Cho nên khi đọc Yellow Mama , một tập truyện ngắn đi kèm với Những
bài Thơ Riêng...( in chung ). Tôi đọc ngay những truyện ngắn gồm 10 truyện mà
tác giả đã đưa tôi vào thế giới “ Có/ Không ”. Cái “ Không ” nhiệm
mầu đó đã đưa tôi vào cái “ Có ” không lãng đãng như khói như sương, không che
đậy bằng những gam màu để đánh lừa bàng quan thiên hạ, mà thật là “
thật ” để tôi phải rung động theo từng con chữ mà Hoàng Thị Bích Ti đã
trải dài ra trên mỗi trang giấy, qua 10 truyện ngắn, gồm khoảng 157 trang.
Với ngòi bút sắc, gọn. Với cái nhìn trực diện vào sự việc một cách
khúc chiết, chị đã đem đến cho người đọc một thích thú ngay lúc vào truyện.
Thẳng thắn và phải nói là “ trung thực ” của người cầm bút. Người ta nói “ nhà
văn ” phải phản ánh được thực trạng của xã hội đương thời. Đừng bẻ cong
ngòi bút mà hướng dẫn lệch lạc để người đọc không thấy được vấn đề của xã
hội lúc ấy. Như trong: Người Bán Chiêm Bao, chị viết:
...." Trò chơi buôn
người rồi cũng có hồi kết thúc. Cách mạng lật lừa, bán đứng quê hương. Chánh
phủ vô tâm quịt luôn canh bạc cuối cùng để mặc cho các con bài ngơ ngơ ngáo
ngáo. Thế là thổ phỉ vùng lên tranh dành lấn đất. Những tên cướp rừng lên làm
lãnh tụ. Bố hắn chết trên đường chạy loạn. Như bừng tỉnh sau một giấc ngủ mê
man, hắn trở hành một người trôi nổi, tha phương; vô gia đình, vô quê hương, vô
chính phủ...”
( trang 15 ). Để rồi cuối cùng Hắn, nhân vật trong truyện cũng trở
thành giấc mơ. Giâc mơ viết nên lời. Có lần, nhân vật Hắn mà Hoàng Thị Bích Ti
đã cho lời đối thoại với chủ báo:
..." Tôi là con người
chân thật. Chữ nghĩa của tôi chỉ để nói lên những lời chân thật...”...” Tôi làm văn chương chứ không làm nghề bán
chữ! Đời sống không chỉ có cơm và áo. Nó còn có những cái cao đẹp khác như
ước mơ và lý tưởng. Người không có ước mơ, lý tưởng thì có khác gì một con vật
đần độn...”( trang 17 ) .
Hắn, trong truyện: Người bán chiêm bao, tôi không nghĩ phản ánh
nhân vật qua tác giả mà thường là như vậy để tác giả gởi gắm mình vào nhân vật
trong truyện ( dù là truyện ngắn ). Có thể lắm! Có thể Hắn là chị, là tôi, là
những người cầm bút chân chính. Nếu quả đúng như thế, nhà văn phải chân thật
với chữ nghĩa và với mình. Chưa một lần biết chị, phải không? Nhưng như thế tôi
lại chịu với lối viết thẳng. Mong Hắn trong truyện cũng như Hắn ngoài đời, của
chị.
Chữ nghĩa của Hoàng Thị Bích Ti dùng không như sương như
khói, lãng đãng để ru người đọc vào chốn “ mê cung ”. Mà chị nhìn qua sự việc
một cách “ chính diện ” không che đậy dưới một lăng kính nhiều màu sắc. Nhiều
lúc, nhiều đoạn người đọc nghe đến “ não lòng ”. Nhưng lại lôi cuốn đọc giả một
cách lạ kỳ. Như:
..." Đứa con gái im bặt
khi thấy ông Dân ngồi từ bao giờ bên cái bàn con gập ghềnh, lỏng chỏng. Tấm màn
vàng tơi sau lưng ông rũ xuống rách bươm, ngăn căn nhà ra làm hai ô nhỏ. Phía
trên của ông già, phiá bếp là của đứa con gái. Đôi nạng gỗ nằm sóng soãi trên
nền xi măng thô cứng. Cái quần ngắn cũ xì phơi đôi chân đứt lìa ngang đầu gối,
chằng chịt những đường may trên lớp da non đỏ bóng như hai đòn giò mới chưa kịp
cắt chỉ, treo tòng teng trong xe bánh mì ngoài đầu ngõ...” ( cục xà phòng,
trang 127 )
Chị ví cái chân cụt của ông Dân với lớp da non và những đường chỉ
chưa cắt như một đòn giò treo tòng teng trong xe bánh mì ngoài ngõ ( một nhận
xét rất tinh tế , rất chuẩn xác, nhưng nghe sao đau lòng quá vậy, chị
Bích Ti?). Đây này, những từ chị dùng, có mỹ ngữ đâu. Nào: đôi nạng gỗ nằm sóng soãi trên nền xi măng khô cứng, nào cái quần cũ
xì, nào đôi chân đứt lìa ngang đầu gối....Nhiêu đó, một câu văn ngắn thôi
cũng gây cho người đọc nhiều ấn tượng. Như tôi chẳng hạn. Một ấn
tượng gây mạnh trong đầu óc tôi ( vì người lính cũ ) lúc nào cũng thấy bạn bè
tôi đứt lìa đôi chân, hay đôi tay. Rồi lại: cũng kéo lê đôi nạng gỗ trên từng
bước đi rất khổ sở, chẳng có ai đoái hoài tới. Không vẽ nên một bức tranh “ êm
đềm- đầy màu xanh của hi vọng , là: “ ngày trở về có anh thương binh chống nạng
cầy bừa...”. Khó lắm. Ta hay nghe tiếp:
...." Người đàn ông ngồi giữa
những vạt nắng, sờ đầu gãi tai như con chó lác đang liếm vết thương...” ( trang 127 ).
Không mị và cũng không bẻ cong ngòi bút. Chị dám viết thật.
Nếu chị viết về lính. Tôi nghĩ, cái thật “ thật đau lòng ” của những người lính
cũ khi đã bỏ lại chiến trường một phần thân thể của mình để bảo vệ cho
một chế độ, một miền
Một đoạn văn ngắn thôi, cũng làm cho tôi sững sờ, nhớ lại những
lần hành quân xa xưa. Dù, nhân vật Dân trong Cục Xà Phòng chưa hẳn là một người
lính mà chị muốn viết. Nhưng ít ra, hình ảnh ấy, không và không bao giờ
phai mờ trong trí của tôi.
Cái bắt được ở trong truyện của Hoàng Thị Bích Ti là: lãng đãng
những vạt nắng, những sợi nắng. Mà những sợi nắng trong truyện : Nắng Vô
Ưu...Ta nghe chị viêt:
.." Tôi nhớ chỗ nằm của
tôi ở một nơi nào đó, không còn quan trong nữa. Tạm bợ thôi! Nhưng đó là một
chỗ của riêng tôi. Ngày còn bé, tôi vốn là một đứa con nít ưa chạy trốn mọi
người! Tất cả đều làm tôi sợ hãi. Tôi luôn luôn tìm thấy sự an toàn nơi một cái
gò hoang hay trên một hốc đá. Nơi ấy là chỗ của tôi. Một chỗ không có tiếng
người . Không có sự ruồng rẫy. Trong khi những đứa bạn bằng tuổi quanh quẩn
trong sân nhà thì tôi lại chui rào qua nhà mệ Tới, ngồi thu người trong ngôi mộ
bằng đá xanh của chồng bà ngó ra những sợi nắng đang len lỏi giữa khoảng
vườn xanh màu lá cây, hay táy máy nhìn những vật dụng xếp quanh huyệt mộ, dành
riêng cho người chết. Với đầu óc của một thằng bé con cái chết là ngưỡng cửa để
đi vào một thế giới phiêu lưu đầy sợ hãi và cũng không kém phần thú vị...
” ( trang 113 ).
Đọc đoạn văn trên chưa đủ để thấy cái hay của Nắng Vô Ưu mà
Hoàng Thị Bích Ti viết. Tuy nhiên, xuyên qua những truyện ngắn trong tập Yellow
Mama tôi thấy một nỗi buồn, nỗi cô đơn dâng lên, dâng lên qua từng câu chuyện.
Nỗi buồn đó có từ đâu. Thời của bao tiếng khóc . Thời của bao đổ vỡ. Thời của
bao tâm hồn “ phiêu bạc ” trong những luồng tư tưởng đỏ xanh đã làm cho quê
hương một thời thống khổ dội về từ chiến tranh. Rồi cũng từ chiến tranh bao
nhiêu gia đình tan tác. Bao nhiêu gia đình bỏ luống cày, làng mạc ra đi, Cũng
trong truyện Nắng Vô Ưu đó, ta nghe tiếp:
..." mệ quanh quẩn bên
bàn thờ con, vừa lau bụi vừa mắng mỏ:
“ Tổ cha cái thằng ni! Đồ con bất
hiếu! Lá già còn ở trên cây mà lá xanh đã rụng xuống rồi! Mi chết trước tau thì
làm răng để tang cho mạ được con hè?”
Đôi mắt đỏ lem nhem. Bà cụ thì
thầm như một người đang xưng tội:
“ Con ơi...mạ nhớ con nên nói rứa!
Đi đi con hỉ! Đi thật xa ! Mạ khôn can chi mô!...Đầu thai kiếp khác đi con !
Chỗ ni gió tanh mưa máu, có chi mô mà luyến tiếc, con hỉ ?...”( trang 114 ) .
Còn có nỗi đau nào hơn cho người mẹ Việt
“ Để cho ánh nến tỏa hồng
Thì thân sáp đã bao dòng lệ rơi ".
Chiến tranh Việt nam có biết bao nhiêu: thì thân sáp đã bao dòng
lệ rơi . Nhiều lắm. Có đến hàng trăm , ngàn ngàn người mẹ già nua đã làm:
...." thỉnh thoảng
những hôm trời nắng đẹp, người con dâu đem khăn áo trong hòm ra phơi, trắng cả
một khoảng vườn. Hàng xóm nhìn thấy đều xanh mặt. Đầu năm 75, người con trai đi
trận vẫn không về. Vành khăn tang cho mệ được xếp ngay ngắn bên bát hương của
anh...” ( trang 113 ) cùng truyện.
Chiến tranh. Bao nỗi đớn đau lớn nhất của người mẹ, người vợ khi
mất con, mất chồng. Chiến tranh đến với thôn xóm, làng mạc không chừa một nơi
nào. Mà nơi đó có biết bao nhiêu cái chết “ dị hình dị tướng ” do bom đạn
gây nên. Chết ở đâu, nơi nào cũng là nỗi dằn vặt lớn nhất của mệ Tới:
...." nỗi dằn vặt lớn
nhất của bà cụ là đứa con yêu chắc đã chết ngoài ruộng đồng. Chết dưới hầm mộ
nông, không có chút nắng soi sáng. Cửa nhà của mệ đã bắt đầu suy sụp, người ta
rinh đi sạch hết những đồ qúi báu. Tuy nhiên, cái hòm vẫn còn đó! Đối với mệ,
chừng đó là đủ rồi! Rinh chi thì rinh, miễn sao còn chừa cho mệ một chỗ nằm...”
( trang 114 ).
Một chỗ nằm. Ôi! Nghe sao ấm cúng quá. Người già coi cái chết đến
thường lắm. Nhất là trên quan điểm của Phật giáo. Cõi sống hôm nay chỉ là cõi
tạm. Cho nên mệ Tới chẳng màng chi những thứ chung quanh mệ. Cứ mang đi
hết đi. Cứ lấy đi hết đi. Chỉ để lại cho mệ một chỗ nằm...đó là cái hòm. Đủ
rồi. Quan điểm của mệ Tới cũng là quan điểm chung của những người già: sống có
cái nhà chết có nấm mồ. Một chỗ nằm. Để rồi, chị viết:
..." Thèm một chỗ nằm
ghê gớm! Một gò đất trọc. Một hốc đá thân quen. Nhưng tôi không còn chỗ nằm nào
của riêng tôi nữa hết! Tôi cũng không còn nơi để tới và không có chốn để về.
Vuốt mặt. Kéo tấm drap trắng xuống, vuốt mặt cho mình lần sau chót. Bỏ da. Bỏ
tóc. Trả máu cho cha. Trả xương cho mẹ. tôi lần bước ra khỏi cuộc đời bằng
những bước chân vất vưởng. Trời vẫn còn đang mưa. Và những vạt nắng, vẫn chưa
về...” ( trang 125 ).
Để kết thúc cho một truyện ngắn: Nắng Vô Ưu. Tôi thật ray rứt với
bảy chữ mà Hoàng Thị Bích Ti đã dùng: Và
những vạt nắng, vẫn chưa về... Những vạt nắng vô ưu ấy vẫn còn đọng trong
tôi khi đọc xong Năng Vô Ưu của chị. Một trong những truyện thật hay.
Còn nữa. Một cái truyện của Hoàng Thị Bích Ti viết mà tôi đọc như
qua tác giả đã đưa tôi về với không gian, thời gian của cái tuổi 7, 8 ngày nào.
Tôi cứ ngỡ chị cùng quê với tôi, cho nên chị mới viết để gợi lại một kỷ niệm
chăng? Truyện: Đêm Trăng Bỏ Xứ. Đọc xong truyện, tôi gấp tập Yellow Mama lại,
cái mùi khai khái quen thuộc của quê hương tôi, của thành phố tôi lại gắn bó
đời tôi cho mãi đến khi tôi ra đi định cư trên xứ người. Cái mùi đó làm sao tôi
quên được, mà hôm nay chị lại dẫn tôi trở về cái tuổi thơ ngày nào. Thành
phố Phan Thiết của tôi. Vâng. Mùi nước mắm. Trên tóc, trên áo quần, trên sách
vở đều phảng phất mùi nước mắm. Đến nỗi khi tôi còn học tiểu học, một vị
thầy giáo người Huế gọi tôi lên , thầy hỏi: bộ em không tắm sao, mà áo
quần, sách vở nghe cái mùi khăm khẳm vậy. Thầy ơi! Quê em là vậy đó. Nhưng tôi
nào dám nói. Im lặng. Mà quả thật, đến đâu cũng nghe cái mùi đậm đà quê hương
này. Truyện: Đêm Trăng Bỏ Xứ, Hoàng Thị Bích Ti không nói gì đến cái mùi
nước mắm quê tôi. Nhưng chỉ những đoạn văn mà chị miêu tả, từ cái đình làng mà
thuở nhỏ tôi hay “ ngồi lê ” trước sân để nghe hát chầu văn. Có ai nghe hát
chầu văn bao giờ chưa? Mê lắm, mê giọng hát, tiếng kèn, mê đến vóc dáng của cô
hát chầu. Đừng nghĩ đó là “ mê cô đồng, mụ bóng ”. Vâng. Tôi mê từ điệu múa tới
giọng ca mà chị đã đưa tôi về cái tuổi thơ ngồi lê trước sân đình ở quê tôi.
Chị viết đúng và nói đúng, nơi đó chỉ là những người dân chài ít học. Nhưng bản
chất thì hiền lành lắm. Chẳng có dữ dằn như những mùa biển động đâu.
Và , quê tôi cũng lắm huyền thoại. Như đoạn văn dưới đây:
..." Sông này bắt
nguồn từ trên ngàn rồi chảy ra biển mà! Lụt lội hoài đó chứ! Cả tỉnh mà chỉ có
một cây cầu thôi. Cách đây mấy năm, có lần mưa trút xuống cả tháng. Cây trên
ngàn đổ xuống từng bè. Gió bão dầm dề. Ai ai cũng sợ sập cầu. Người ta bảo nhau
là mấy ông dưới thủy cung về chở gỗ. Nửa đêm mưa gào, gió thét; dân chúng hai
bên bờ sông nghe chiêng trống ầm ầm, lại nghe có tiếng hỏi:
“ Đi trên cầu hay dưới cầu?”. Và
có tiếng trả lời: “ Dưới cầu! Đi trên cầu chết hết bá tánh!” Sáng ra, trời
quang mây tạnh; mấy bè cây biến mất tiêu. Cây cầu vẫn còn đó..” ( trang 58 ).
Có phải là một huyền thoại không? Tôi nghĩ là không, vì người dân
quê tôi ai cũng nói về sự việc mà Hoàng Thị Bích Ti đã tả lại qua đoạn văn
trên. Tại sao, câu chuyện này, chị biết mà viết thành một truyện hay? Ngay cả
cụm từ: cây trên ngàn . Đáng lẽ phải nói là: cây trên rừng. Người dân quê tôi
không dùng từ “ rừng” mà dùng từ “ ngàn ” mỗi khi muốn nói đến “ một linh
thiêng ” nào đó mà họ phải gọi trệch ra. Để rồi, đọc tiếp những dòng chữ kế
tiếp, quả đúng như vậy, chị đã đưa tôi về lại một miền quê hương dấu yêu của
một thời mà tôi “ bay nhảy ”. Như đoạn văn sau đây:
..." Người đàn bà bán
hàng gầy ốm ngồi dựa lưng vô gốc cây, mắt nhìn ra bến sông, gương mặt im lìm
như những con ốc hương đang nằm trong rỗ. Gió trên sông thổi đùa mấy sợi tóc
rối trên gương mặt rạm màu nắng biển, cằn cỗi. Cô bé khoảng mười hai,
mười ba đang quệt chút mắm ruốc lên miếng bánh đa ướt cho khách hàng. Hai người
con gái mặc quần ống loa, áo thun bó sát, móc bóp trả tiền còn dùng dằng chưa
cất bước. Cô bé bán hàng chỉ những trái chùm ruột xanh nằm kề bên chén mắm ruốc
trộn với những khoanh ớt chín đỏ và mấy miếng tỏi trắng bóc, ân cần mời khách
bằng một giọng Trung lơ lớ:
“ Mấy chị ăn chùm ruột nghen. Chùm
ruột chín cây, mẹ em mới hái sáng nay “.
Hai người con gái lắc đầu ngoe
ngoẩy xoay lưng:
“ Mới sáng mà ăn cái đồ quỷ này
cho chết sớm ”.
Đi ngang qua chỗ người đàn
bà bán ốc hương cô này bảo cô kia:
“ Mộng Cầm kìa! ”.
“ Gì ”.
“ Mộng Cầm!...Người yêu của Hàn
Mặc Tử đó ”.
“ Đâu? ”.
“ Đó! Bả đó ”.
“ Xạo mầy! sao mày biết?”.
“ Vậy mới hay! Hổng tin mày hỏi bả
coi!”.
“ Mộng Cầm gì ...xấu hoắc dzậy?”.
“ Thì bây giờ bả ...già...chứ bộ!
Xí! Bộ máy tưởng thằng cha Hàn Mặc Tử đẹp trai lắm hả? Chả mà đẹp trai là tao
cùi sức móng ”.
“ Đồ quỷ! Xạo ke!...”( trang 64 ).
Nhiêu đó thôi. Tưởng quê hương chỉ còn trong trí nhớ của
riêng mình. Không ngờ, hôm nay : Đêm Trăng Bỏ Xứ lại đưa tôi về với một miền
quê của thời rất nhỏ ấy : bánh tráng( quê tôi không gọi bánh đa ) quệt mắm ruốc
của cái thuở học trò, nhất là đám học trò nữ sinh, nam sinh cùng lứa.
Hoàng Thị Bích Ti ơi! Chị làm cho tôi thèm nhỏ nước giải rồi đây nhé. Mắm ruốc
hồng tươi, điểm thêm vài lát ớt xắc mỏng, vài tép tỏi trắng ngần ăn với bánh
tráng là tuyệt hảo. Chỉ có quê tôi mới có món ăn “ bình dân ” này cho cái đám:
nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò. Rồi còn gì nữa: Ốc Hương. Một đặc sản của quê
tôi mới có loại ốc này. Rồi còn gì nữa: hình ảnh của Mộng Cầm mà chị đưa vào
Đêm Trăng Bỏ Xứ. Chỉ có Phan thiết mới có Mộng Cầm. Một Mộng Cầm chứ không có
hai. Chị ơi, Mộng Cầm già lăm chị ơi, và bà cũng khổ lắm sau cái ngày ...hôm
ấy. Cảm ơn chị đã gợi nhớ trong tôi những hình ảnh quê ngày nào, mà hôm nay,
tôi nghe lại những bài hát chầu văn ( vẫn thường hay nghe ) tôi lại mê như ngày
nào còn bé ngồi lê trước sân đình. Thôi: " Vầng trăng trên đầu tỏa rạng. Bó nhang chờn vờn trên tay, sánh như một
đóm sao băng. Và không hiểu sao, chàng vội vàng cắm cúi bước nhanh hơn về phiá
con đường lớn. Thành phố còn đang say ngủ. Đêm, vẫn đầy một màu trăng...”.
Những câu cuối của truyện mà chị viết lên, để cho tôi. Vâng: Đêm, vẫn đầy một
màu trăng trên xứ người để nhớ mãi một cõi quê yên tĩnh một thời.
Để rồi. Một nhân vật khác, cô Kim người Mỹ. Kim là tên viết tắt
của Kimberly ( trong truyện Yellow Mama ) đã làm cho tôi xúc động mạnh khi đọc
xong. Cũng như những truyện trước trong cùng một tác phẩm của Hoàng Thị Bích
Ti. Dù truyện chị viết lấy bối cảnh từ Việt nam, quê nhà, hay bối cảnh từ nơi
xứ người thì mỗi truyện, chị đều mang vào đó một “ vạt nắng ” . Vạt nắng, nghe
nó buồn man mát làm sao. Cái buồn đó, thể hiện qua một truyện ngắn tuyệt vời:
Yellow Mama mà chị chọn làm cho tên tập truyện.
Vâng. Kim từ đâu mà có trong cõi đời này. Ta đọc:
..." Kim là một đứa con
hoang. Trong cơn mây mưa của một người đàn ông và một người đàn bà, con đực và
con cái, nàng được kết tinh thành hạt giống không tên tuổi, tình cờ rơi xuống
cõi người ta, nẩy mầm, ngoi ngóp lớn lên như loài cỏ may trên phần đất khô cằn,
độc địa. Nàng thuộc thành phần di dân bất hợp pháp. Từ thuở nhỏ, Kim đã ở với
hai vợ chồng người bà con lạ hoắc nào đó. Họ sống lây lất trong vũng bóng tối
đầy tội ác của thành phố Nữu Ước dưới những căn hầm lúc nào nước cũng lút
đến mắt cá, chuyên làm giá sống cho mấy tên Tàu tài phiệt gốc Hồng Kông. Nàng
trốn chui trốn nhũi với lũ chuột cống trong bóng tối. Khi cặp vú đã bắt
đầu lu lú dưới làn áo lúc nào cũng ươn ướt và da thịt đã bắt đầu thơm mùi con
gái thì “ thằng bà con ” trong một đêm cùng đường nản chí bèn quyết định mang
con bé ra xổ xui. Đứa con gái bị hi sinh cái màng trinh để cứu nguy “ gia
đình ”. Lễ tế thần diễn ra hằng đêm trong khi bà thím ngủ vùi sau mỗi ngày làm
việc quần quật. Cũng may ông chú già thuộc loại “ liệt âm, liệt dương ”nên
những hạt giống ung thối gieo trong cửa mình con bé đều chết tiệt. Đứa con gái
trốn đi đứng hết ngã tư này đến ngã ba nọ...” ( trang 39 )
Cuộc đời của nhân vật Kim mà Hoàng Thị Bích Ti đưa lên trong
Yellow Mama bắt đầu từ đó. Kiếm sống bằng cái nghề mà: các cô gái đứng đường
thèm cái địa vị của Kim trong các hộp đêm ở Nữu Ước.
Ở đây, tôi không phải là nhà phân tích tâm lý nhân vật qua một
truyện ngắn hay truyện dài. Tôi chỉ là một người đọc truyện và, thấy hay ghi
vội lên trang giấy như mấy câu thơ của Trần Nghi Hoàng:
đèn soi bóng nhớ
đêm trầm bước lặng tìm ai
Tìm ai để giải bày tâm sự khi đọc một truyện ngắn hay. Chỉ còn
cách viết lên trang giấy như chính mình giải bày tâm sự của chính mình. Cái hay
của Yellow Mama mà Hoàng Thị Bích Ti đã dùng những câu văn miêu tả thực để dắt
dẫn người đọc đi đến chỗ chiêm nghiệm về hình ảnh thật giữa hai “ lưỡng
cực ”: sống và chết.
Phải tìm đọc cho được Yellow Mama mới thấy hết cái tâm trạng của
người bị kết án “ death penalty ” qua nhiều hình thức khác nhau. Tại sao Kim
không chọn cho mình một cái chết là “ chích thuốc độc ” để đi vào một giấc ngủ
êm ái cho thân xác có phải hơn không? Hay là, không một hình phạt nào gây ấn
tượng mạnh nơi người con gái “ hồng nhan bạc mệnh ” này. Một loại hình phạt ghê
gớm mà nơi Kim (nhân vật truyện ), hay nơi tác giả ( muốn trình bày một ấn
tượng đi vào cảm xúc mạnh ) để cho câu chuyện hay hơn thì phải là: lên ghế
điện. ( mà tôi nghĩ: lên ghế điện mới lột hết cái hay của câu chuyện ). Nếu,
chích thuốc độc ư? Tầm thường quá. Nếu, treo cổ ư? chẳng khác nào như
thời trung cổ. Chỉ còn sự chọn lựa của người tử tội là Kim qua nét bút ( hành
văn ) của Hoàng Thị Bích Ti. Ở đây Hoàng Thị Bích Ti đã làm tôi liên tưởng đến
một ngọn nến hồng ( là Kim ) qua quá trình thắp sáng ngọn nến ( cuộc đời của
một cô gái đẹp trong một hộp đêm ở Nữu Ước ) lụn tắt, chẳng khác nào quá trình
sống, chết của một kiếp nhân sinh. Một quá trình đi từ hóa thân này đến hoá
thân khác trong cái trần gian đầy khổ lụy này. Đọc truyện của Hoàng Thị Bích
Ti, tôi thấy Bích Ti vẽ nên một gam màu buồn man mát. Những vệt nắng lại trở về
trong “ cuộc sống “ của mỗi nhân vật mà Hoàng Thị Bích Ti đưa lên.
Nhưng tại sao lại là Yellow Mama? Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh
hành quyết một “ tử tội ” bao giờ. Có nghe chăng cũng trên đài hay qua
báo chí. Chưa nghe nói ghế điện để giết người lại mang cái trên thật là “ đáng
kính ”. Đó là Mẹ! Một người đàn bà dầu là đen hay trắng hay da vàng cũng đều là
người sinh ra những con người cho thế giới này càng ngày càng đông càng vui.
Sinh ra trong lòng Mẹ, rồi lại chết đi cũng trong vòng tay của Mẹ ư
? Hay là ai đó đã đặt cho cái phương tiện dùng để giết người là Mẹ. Quả
thật như thế thì đau lòng lắm. Mẹ là mẹ muôn thuở vẫn hiền cơ mà. Đâu có mẹ nào
nỡ giết con trên cõi đời này, cho dù người mẹ đó có điên. Ta hãy nghe giọng đùa
cợt của Kim:
..." Tớ sẽ là người đàn bà
thứ nhất lên ghế điện trong suốt hơn ba mươi năm nay! Đã lâu lắm rồi người ta
chưa xử tử một người đàn bà nào, trong khi bọn tù đàn ông thì bị giết không
chút thương xót. bây giờ bắt được tớ làm sao tha được? Thời buổi này nam nữ bình
quyền mà! Không giết tớ, chính phủ sẽ mang tiếng là...kỳ thị! Người ta sẽ không
thẳng tay với những người đàn bà như tớ vì lí do ...nhân đạo! Dù sao đi nữa
chúng tớ cũng là những bà mẹ. Loài động vật có vú. Là những người cứu
mang và đẻ ra những đứa con, cưu mang sự sống cho nhân loại. Ai lại làm
việc phản đạo đức, nỡ giết đi những Eve đẻ ra nhân loại bao giờ?”. ( trang 35 )
Và:
..." Yellow Mama!”. Cái
tên cũng hay đáo để phải không Trâm Anh? Tại sao không là Má đen hay Má đỏ Trâm
Anh nhỉ? Ối, Má đỏ thì nghe có vẻ khát máu quá phải không? Chẳng có tí gì nhân
bản cả! Trâm Anh hãy tưởng tượng đi! Tớ sẽ được chết trong lòng Má vàng như một
đứa con ngoan. Nghe nói ngày hôm nay tớ sẽ được cởi trói. Không xiềng. Không
xích. Tớ sẽ được rữa sạch hết tội lỗi. Được ăn một bữa ăn cuối cùng như Chúa và
ra khỏi đời sống này với hai bàn tay không. Không tình. Không còn bé Linh và
không còn Tony nữa. Phủi hết! Phủi sạch...” ( trang 35 )
Còn nữa, vẫn cái giọng nói của người tử tội là Kim. Hình như
cô gái trong truyện tự tại, bình thản và an vui trước cái chết đang
chờ; mặc dù, qua lời nói, có chút gì mĩa mai:
.." Buồn cười! Vậy mà
hay Trâm Anh ạ! Tớ từ trong bụng một người mẹ chui ra thì bây giờ có cái bụng
của một bà mẹ khác để chui trở vô. cái bụng gỗ! Cái bụng gỗ của Má vàng. Ôi! bà
mẹ da vàng với tâm hồn gỗ cứng, không có trái tim. Chào đời với manh tả trắng.
Ra khỏi cuộc đời cũng với tả trắng! Có mấy ai có một cái chết đầy thi vị như
vậy hả Trâm?” ( trang 37 )
Vâng, lọt lòng mẹ với những tiếng khóc đầu đời như chấp nhận “
cuộc đời là bể khổ ” trong kiếp nhân sinh. Nhưng, cũng chào đời với những manh
tả trắng . Có ai mà không mang tả một lần trong lúc ra đời trong vòng tay của
Mẹ? Thật oái ăm, đến khi chết lìa bỏ cuộc sống hiện hữu trong kiếp nhân sinh
này, Kim lại được mang một manh tả như lúc mới chào đời .
Có ai mà không khóc cho một “ cơ thể ” sống sắp sửa ngưng tiếng
thở. Dù là người không quen, không bạn bè, thân thuộc. Trong tình huống này
Trâm Anh ( nhân vật trong truyện ) hay chính là tác giả cũng phải phát điên và
run rẩy khi nghe những lời nói thật bình thản, tự tại của Kim:
..." Tôi run rẩy. Hai
bàn tay nắm chặt, cố dùng hết nghị lực để bứt tôi ra khỏi cơn điên cuồng của
Kim. Tôi hét lên:
“ Thôi đủ rồi! Đủ rồi Kim, câm
họng lại đi ! ”
Kim sựng lại nhìn tôi. Đôi mắt
thoáng ngạc nhiên, thoáng buồn bã. Tôi lao ra khỏi phòng thăm nuôi, bỏ mặc Kim
ngồi đó...” ( trang 37 )
Cái bình thản trong câu nói của Kim ( tử tội ) đã làm cho
tôi khâm phục. Nàng không sợ chết, không nuối tiếc kiếp nhân sinh ngắn
ngũi. Và còn tác giả nữa. Tôi phải phục mới được. Phục tác giả ở chỗ nào trong
câu chuyện mà tác giả đưa ra. Đó là phép so sánh giữa hai hình ảnh: một hình
ảnh mới sinh ra và một hình ảnh lìa bỏ cuộc sống đi vào cõi chết. Cái hay là ở
chỗ đó. Hoàng Thị Bích Ti đã viết rất rõ qua hình ảnh: manh tả trắng khi chào
đời.
Vâng. Có đứa trẻ nào mới sinh ra mà mẹ không cho mang tả? Mang tả
cho con cũng là hình ảnh “ rất dễ thương ” của người mẹ “ ấu yếm ” nhìn con
mình. Hãy nhắm mắt lại và hình dung xem thử coi. Tôi nói có đúng không.
Tình thương của người Mẹ gói hết trong “ manh tả đầu đời ” của đứa con đó.
Trong manh tả đó có: cả bầu trời, có cả tương lai và có cả tiếng chim hót cho
con mình sau này. Không có người Mẹ nào lại nghĩ đến một vạt nắng trong manh tả
đó. Lại một vạt nắng trong đầu óc tôi. Để rồi lại một manh tả khác mà Kim vẫn
nói đều đền như chuyện bình thường: người ta sẽ bịt mắt và mang tả cho tớ...
Mang tả lần này là một vệt nắng vàng vọt đang đổ xuống cho một
kiếp nhân sinh. Rõ ràng Hoàng Thị Bích Ti đã đưa lên một hình ảnh rất thật để
so sách một kiếp người: chào đời và giả biệt.
Vâng. Còn gì ghê gớm hơn khi mà một dòng điện cực mạnh chạy ngang
qua thân thể yếu đuối của người con gái “ hồng nhan bạc mệnh ” này. Còn gì
trong cơ thể con người. Tất cả những thứ mà đời cho là dơ dáy, bẩn thỉu hay
tinh túy nhất cũng phải tuôn ra từ cơ thể của con người, khi những tên
đao phủ đưa tay kéo chốt điện lên. Ta nghe tác giả nói:
..." Tôi ôm lấy ngực.
Trái tim quặn thắt từng cơn. tay chân bủn rủn. hàm răng đánh vào nhau lập cập.
Mồ hôi rịn ra trên sống lưng. Mắt căng lớn. Những ngón tay bấu chặt lấy thành
ghế. Những ngón tay buông xuôi. Những ngón tay lạnh ngắt. Những ngón tay đưa
lên nút điện. hàng loạt tia điện xẹt ra từ mấy cái niềng sắt như mớ hào quang
tỏa sáng chung quanh Kim. chiếc giầy đỏ văng bắn ra. Người tội nhân quằn quại.
Giẫy giụa. Giẫy giụa. Như con sâu đang bị loài quạ đen rỉa, rứt ra từng khúc
thịt. Như bầy cua bấn bần trên lò lửa nóng. Thịt da cháy xém. Quần áo tả tơi.
Hình như mùi hơi người đang phảng phất đâu đây. Tôi hình dung ra mùi thịt
nướng, mùi mỡ cháy của những buổi picnic ngoài trời trong những trưa hè
vàng nắng hay ngày lễ Độc lập. Ngón tay đưa lên nút điện một lần nữa. Nước mắt
trào ra. Máu trào ra. Ông bác sĩ quay đi. Người linh mục có tìm thấy hình ảnh
Chúa trong những trang kinh? Tấm màng cửa được kéo qua thật nhanh, thật
nhanh...Một linh hồn vừa bỏ rơi địa ngục. Vài tiếng thở phào hoan hô công lý.
Tôi ngã xuống. Hồn xác bay lên chơi vơi...chơi vơi...bồng bềnh như chiếc quan
tài lơ lửng trong vũng địa ngục tối. Lạy trời! Lạy phật! Lạy con người! Và lạy
cả tôi! Xin cho tôi đừng bao giờ tỉnh nữa...” ( trang 51 ).
Vâng. Mọi sinh vật đều khóc cho một sinh vật khác vừa mới ngưng nhip
thở. Cho dù sinh vật đó đang mang bản án “ death penalty ”. Tại sao thế giới
không bình để cho tâm an bình, mọi sinh vật an bình. Một quá khứ trước 75 và
hôm nay, trên phần đất tạm dung này, có an bình không trong cuộc sống? Ở
đâu, “ vạt nắng ” trong những câu chuyện kể của chị vẫn còn đọng trong tâm trí
tôi, từ khi tôi mới bước chân vào quân ngũ cho đến hôm nay trên đầu hai thứ
tóc: những đứa bé thơ , những cụ già từ những làng quê đầy bom đạn không có
tương lại. Chỉ nhìn thấy vạt nắng buồn từ ngày này qua ngày khác. Tựa nhự vạt
nắng ấy đùa giỡn với chính mình. Với cái nhìn rất “ sắc bén ” của một cây
bút nữ dưới mọi khía cạnh của xã hội, Hoàng Thị Bích Ti chắc chắn không làm
người đọc “ nản lòng ” khi đọc tới tác phẩm của chị.
Gấp tập truyện lại, hình ảnh quê nhà như còn chung quanh tôi. Hình
ảnh cuả người tử tội: Kim vẫn còn đâu đây trong căn phòng tôi làm việc . Và,
vạt nắng vẫn còn lảng vảng trong tôi. Cảm ơn tác giả đã cho tôi đọc một tác
phẩm hay.