Ngồi
trên bãi biển Nha Trang khi thủy triều xuống cuốn nước xa bờ để lại vạt cát dài
màu trắng mịn, nắng chiều chiếu xiên trên mặt biển gợn sóng lăn tăn… trông như
dải lụa dát vàng lung linh đến tận các hải đảo xa mờ mây nước, khách nhàn du mê
mẩn với sắc màu kỳ diệu của buổi chiều tà mà quên hết cảnh huyên náo chung
quanh.
Bãi
biển Nha Trang được thiên nhiên ưu đãi với các hòn đảo bao quanh như Hòn Tre,
Hòn Én, Hòn Mun…v…v… che chắn các trận cuồng phong từ ngoài khơi thổi vào, nên
ít khi có sóng lớn - dù lúc triều dâng, mặt biển cũng chỉ gợn lên làn sóng
nhẹ.
Nha
Trang không rõ nét thời tiết bốn mùa mà chỉ có mùa khô từ tháng Giêng đến tháng
Chín, nhiệt độ trung bình 27 độ C; sang mùa mưa từ tháng Chín đến tháng Mười
Hai, nhiệt độ trung bình 24 đến 25 độ C. Cho nên du khách có thể đến Nha Trang
quanh năm - thoải mái với vùng nhiệt đới ảnh hưởng khí hậu đại dương ôn hòa.
Do
đó, du khách trong và ngoài nước đã đến Nha Trang mỗi ngày một đông và được ca
ngợi là vùng biển nghỉ dưỡng lý tưởng cho người cao tuổi.
Quả
là như vậy! Buổi sáng tinh mơ, ra bãi biển, đi chân trần trên cát mịn, nơi bọt
sóng trắng vừa vỗ vào bờ, ta nghe như biển mặn thấm vào da… Rồi chờ mặt trời
nhô lên mặt biển - rực rỡ ánh bình minh! Bấy giờ, gió nam non hiu hiu thổi, vừa
đủ cho mái tóc bồng bềnh - cứ thế ta đi cho đến lúc nắng mai tỏa khắp làm mồ
hôi rìn rịn…ta trầm mình xuống biển. Rồi chiều về, dưới chiếc dù cắm sẵn, ngả
lưng trên chiếc ghế dài ngắm các cô gái mặc bikini hai mảnh - lồ lộ tấm thân
trần ngà ngọc…Ngọn gió nồm mát rượi từ biển thổi vào mơn trớn làn da làm lòng
ta rạo rực…
Ôi! Có tìm lên Thiên đàng tắm biển cũng hấp
dẫn đến thế là cùng…
Mùa
hè năm rồi, ông bà Frank đã chọn phố biển Nha Trang làm nơi nghỉ dưỡng.
Bà
Frank chọn Nha Trang là do tình cờ đọc được quảng cáo về các “Tour Du Lịch Sinh
Thái” ở Việt Nam, còn ông Frank chọn Nha Trang là vì ông muốn tìm lại những kỷ
niệm của mối tình đầu dang dở gần năm mươi năm về trước.
Năm
1972, ông Frank sang Việt Nam làm việc trong Trung tâm huấn luyện không quân
Nha Trang. Nơi đây ông gặp một người con gái trong đêm dạ vũ - nàng có vẻ đẹp
liêu trai với làn tóc mượt mà, óng ả xõa ngang vai làm ông say đắm… ông theo
đuổi… Nhưng không dễ chút nào, vì nàng con nhà lễ giáo, cha nàng là một sĩ quan
cao cấp của trung tâm huấn luyện và rất nghiêm khắc. Vậy mà, tiếng sét ái tình
đã đem đến cho họ một mối tình rất lãng mạn.
Gần
một năm đằm thắm trôi qua, đợi một lễ cưới trang trọng theo ý muốn của cha
nàng. Nhưng cuối năm 1974, tình hình chính trị ở Việt Nam biến chuyển, Frank
được lệnh rời khỏi Việt Nam gấp rút. Họ đành chia tay trong nỗi ngậm ngùi.
Trước
đêm chia tay, họ trao cho nhau tất cả ân tình… và hẹn ngày tái ngộ. Không ngờ
một lần ân ái, Frank đã để lại giọt máu của mình trong thân thể người đàn
bà.
Rồi
biến cố ngày 30-4-1975 đã cắt đứt mọi mối dây liên lạc. Từ đó, hai mảnh đời son
trẻ rẽ ra hai hướng.
Frank
về Mỹ, mấy năm đầu sống trong sự nhớ thương ray rứt… chàng tìm đủ mọi cách để
trở lại Việt Nam tìm người yêu, nhưng không được vì lúc đó Mỹ đang cấm vận Việt
Nam.
Thất
vọng, chán chường! Ba năm sau, Frank lập gia đình với người bạn gái học cùng
trường thời High School.
Còn
nàng rời khỏi Nha Trang, lên Buôn Mê Thuột, sau khi nhà cửa ở Nha Trang bị tịch
thu và người cha bị đưa vào trại cải tạo.
Chiều
nay, trên bãi biển Nha Trang, ông Frank nhớ đến mối tình đầu trên miền duyên
hải thơ mộng này - ông kể cho vợ nghe. Bà Frank là người dễ tính. Bà nhớ lại
hồi còn học chung trường ở High School: Frank rất đẹp trai. Những đứa bạn của
bà theo tán tỉnh Frank, nhưng Frank không có tính trăng hoa. Từ khi lấy bà,
Frank là người chồng tử tế, chí thú làm ăn, lo cho vợ con, không “mèo chuột”
linh tinh. Bà hiểu đàn ông, mấy ai không có những “mối tình gác trọ”, nên bà
rất thích nghe chuyện tình hiếm hoi của chồng.
Frank đang kể đến chỗ bi thương thì một con
bé khoảng ba tuổi rời tay mẹ nó, chạy lẫm đẫm đến chỗ hai ông bà đang
ngồi, trao cho bà chiếc vỏ sò. Một chút ngỡ ngàng…nhưng bà hiểu ra con bé muốn
tặng cho bà.
Ôi!
Nó đẹp như thiên thần.
Bà
ôm nó vào lòng. Nó tỏ ra sung sướng lắm. Ông Frank nhìn nó cười, rồi vẫy tay
chào: "Hello! Nó lại chạy qua ôm chân ông Frank, rất thân thiện. Mẹ nó
cười buồn nhìn con thầm nhủ: “Sao tự nhiên nó lại thân thiện với ông bà già Mỹ
này như vậy nhỉ?”
Chiều
hôm sau, con bé đòi ra biển sớm để chơi với ông bà già người Mỹ. Mẹ nó chần chừ
— nó khóc! Thế là phải dẫn nó ra biển.
Chiều
hôm ấy, biển vắng! Ông bà Frank nằm trên ghế dài ngó mông ra biển. Con bé
gỡ tay mẹ, lẫm đẫm chạy tới phía sau ông bà lay nhẹ. Ông bà rất vui khi gặp
lại. Bà Frank quay sang ôm nó vào lòng. Bà lấy thỏi kẹo chocolate cho nó. Con
bé cầm thỏi kẹo săm soi, bỗng nói: "Thank you!” Ôi! Sao mà dễ thương quá!
Bà Frank âu yếm vuốt ve, hôn lên mái tóc nó. Người mẹ ngạc nhiên - tại sao nó
nói được tiếng Anh? Có lẽ nó bắt chước những người lớn trong khu nghỉ dưỡng.
Hôm
nay, người mẹ của đứa bé ngồi lại với ông bà già Mỹ khá lâu. Nàng im lặng vì
không nói được tiếng Anh, nhưng ánh mắt và cử chỉ của nàng cho thấy nàng muốn
thổ lộ tất cả tâm tình.
Ông
Frank có dịp nhìn kỹ người con gái ấy - trông hao hao giống người yêu của ông
mấy mươi năm trước - cũng mái tóc thề tỏa xuống ngang vai, đôi mắt bồ câu đen
láy biểu lộ nét thông minh, nhưng nước da trắng bệch, thân hình gầy guộc trông
rất thương tâm.
Họ ngồi bên nhau cho đến khi hoàng hôn buông
xuống. Ông Frank cõng con bé trên lưng, rời bãi biển. Khi đến đường Trần Phú
(Duy Tân cũ), ông Frank trao con bé cho mẹ nó. Họ chia tay ở khách sạn, hẹn gặp
lại chiều mai trên bãi biển.
Chiều
hôm sau, mẹ con nàng ra biển muộn. Ông bà Frank có ý mong chờ.
Khi
nắng chiều sắp tắt, mẹ con nàng đến đứng sau hai chiếc ghế. Nàng khẽ để chiếc
túi nhỏ bên cạnh ông Frank. Con bé chạy vòng tới trước, nũng nịu ngã vào lòng
bà Frank. Ông bà Frank nói huyên thuyên, nàng không hiểu hết, nhưng đoán biết
họ đang vui …
Rồi nàng vừa bập bẹ vừa ra dấu cho ông bà
Frank hiểu rằng nàng muốn gởi con bé cho ông bà trông hộ. Nàng trở lại khu nghỉ
dưỡng. Ông bà Frank hiểu ý, gật đầu - OK.
Tiếng
OK làm nàng tin tưởng. Nàng muốn đến trước mặt hai con người nhân hậu này để
gởi gắm đứa con bé bỏng, nhưng nàng không đủ tiếng Anh để giải bày tâm sự -
nàng sợ hai ông bà không hiểu hết nỗi bi thương mà từ chối thì sẽ mất đi cơ hội
để con nàng thoát cảnh bi thương sau khi nàng qua đời. Nên nàng đánh liều để
lại đứa con bé bỏng cho ông bà Mỹ - lặng lẽ ra đi với nỗi lòng xao xuyến thương
con…
Nàng
biết sau giờ phút này, nàng sẽ không còn gặp lại đứa con thơ bé bỏng thân yêu.
Nước mắt cứ ứa ra! Nhưng nàng không muốn hai ông bà người Mỹ và đứa con thân
yêu trông thấy những giọt nước mắt nhỏ xuống.
Nàng
vội quay đi, bước về hướng bắc.
Bãi
biển nơi đây vắng người, nàng bước ra mép nước, nghe tiếng sóng vỗ rì rào… cảm
thấy đời mình không còn lối thoát. Nàng có ý định quyên sinh để không
phải chịu đựng những cơn đau khủng khiếp hành hạ mà không có tiền mua thuốc
giảm đau. Chỉ cần từ mép nước này đi mãi xa bờ, làn sóng sẽ cuốn thân xác nàng
vào lòng biển cả… nàng sẽ thoát cảnh khổ trần ai.
Nhưng
khi nhìn lên tượng Chúa trên đồi La San, nàng nghe như có tiếng thì thầm bên
tai: “Đừng quên lời răn thứ năm của Chúa: Hãy quý trọng thân xác và sự sống của
mình cũng như của người khác.”
Là
con chiên ngoan đạo, nàng bỏ ý định quyên sinh, quay về khu nghỉ dưỡng, kéo
chiếc va li ra khỏi phòng, đi về hướng bến xe. Không ai biết nàng sẽ đi về đâu.
Từ
lúc gởi đứa con cho ông bà già Mỹ đến khi hoàng hôn buông xuống đã gần hai
tiếng đồng hồ, nhưng không thấy nàng trở lại, ông bà Frank hơi lo lắng…Đợi đến
khi phố xá lên đèn cũng vẫn chưa thấy bóng dáng nàng đâu, lúc này ông bà Frank
thực sự bối rối.
Ông
Frank đi tìm viên chức coi an ninh khu vực, trình bày sự việc. Viên công an bảo
ông Frank đem đứa bé giao cho Phường, rồi họ sẽ xúc tiến công việc đi tìm người
mẹ.
Ông
bà Frank xin được chăm sóc đứa bé đêm nay, để chờ kết quả tìm kiếm mẹ nó như
thế nào. Viên công an đồng ý.
Ông
Frank xin viên công an viết giấy chứng nhận để tránh trường hợp vu cáo “bắt cóc
trẻ con”.
Hắn lấy
giấy nguệch ngoạc mấy chữ, đưa cho ông Frank.
Về lại
khách sạn, con bé khóc tìm mẹ… Bà Frank vỗ về, cho nó uống sữa, ăn bánh cookie,
tắm rửa…rồi dỗ nó ngủ. Bấy giờ ông Frank mới lấy túi nhỏ mà ban chiều người mẹ
đứa bé để cạnh bên ông ra xem. Trong đó có mấy bộ quần áo trẻ con, tã lót, bình
sữa và phong bánh kẹp, dưới cùng có hai phong bì.
Ông Frank
mở ra đọc: lá thư thứ nhất viết bằng tiếng Anh, lá thứ hai viết bằng tiếng
Việt. Ông đọc lá thư tiếng Anh cho vợ nghe. Nội dung như sau:
“Kính thưa Ông Bà.
Trước tiên, con xin Ông Bà rộng lòng tha thứ
cho con về việc gửi đứa con bé bỏng cho Ông Bà - ra đi mà không nói rõ lý do.
Ông bà ơi! Cho phép con giãi bày tâm sự: Con
bị ung thư phổi đến thời kỳ cuối - bác sĩ cho biết không chữa trị được nữa và
chỉ còn sống khoảng bốn, năm tháng nữa thôi. Nghĩ đến những ngày sau khi con
chết, người ta sẽ gửi đứa con bé bỏng của con vào Viện Mồ Côi hay nó sẽ bơ vơ
trên cõi đời oan nghiệt - lòng con đau như xé… tim con thắt lại! Nên hằng đêm
con cầu xin Đức Mẹ soi sáng, dẫn đường cho con gặp được người nhân hậu để gởi
gắm đứa con bé bỏng, trước khi con rời cõi nhân gian.
Ông bà ơi! Đức Mẹ đã nhận lời cầu xin của con
để buổi chiều hôm ấy, mẹ con con gặp được ông bà trên bãi biển.
Con bé Linh (tên của nó) rất sợ người lạ. Ai
thấy nó dễ thương muốn bồng bế, nó khóc và ôm lấy mẹ. Thế mà chiều hôm ấy nó tự
động gỡ tay con, chạy đến tặng cho bà chiếc vỏ sò nó nhặt được trên bãi biển
mấy hôm trước và cất giữ như món đồ chơi quý giá.
Linh tính báo cho con biết: Chúa và Đức Mẹ đã
tìm được cho con nơi gởi gắm đứa con thơ bé bỏng.
Ông Bà ơi, xin thông cảm cho con - con không
đủ tiếng Anh để giải bày hoàn cảnh bi đát và nỗi thương tâm… Nên đêm qua con ngồi viết lá thư này và nhờ người dịch ra
tiếng Anh để Ông Bà đọc, với hy vọng đứa con bé bỏng của con sẽ được lớn lên
trong vòng tay yêu thương và nhân hậu của Ông Bà.
Đọc xong thư này, ông bà lật dưới đáy túi
xách để xem tấm hình và sợi dây chuyền vàng là chứng tích của hai cuộc tình bi
thảm của bà ngoại và của con. Con phải dấu kín vì sợ công an bắt gặp tấm hình;
họ sẽ kết tội con làm gián điệp; còn sợi dây chuyền, sợ bọn bất lương đánh
cắp.”
Ông
Frank gỡ cặp kính lão, lau nước mắt, lật đáy túi xách lấy ra phong thư, trong
đó có tấm ảnh đã phai màu và một sợi dây chuyền vàng gắn tấm ‘lắc’ hai chữ NL.
Cầm
tấm hình lên xem, ông Frank ôm đầu, nấc lên rồi bật khóc! Trời ơi! Đó là tấm
hình chụp ông với Loan, người tình đầu trên bãi biển Nha Trang mấy mươi năm
trước.
Bà
Frank ôm vai chồng, ôn tồn nói:
- Đây là
thánh ý Chúa! Frank bình tĩnh lại, đưa lá thư cho tôi đọc tiếp xem nào. Bà đọc
tiếp lá thư cho chồng nghe:
“Ông Bà ơi! Sau đây là những lời bà ngoại nói
với mẹ con, rồi mẹ con kể lại con nghe và con nhớ mãi đến bây giờ: ‘Tháng
3-1975, Việt Cộng chiếm Nha Trang. Họ đuổi gia đình bà ngoại ra khỏi khu villa
xinh đẹp. Ông cố của con bị bắt và chết trong tù. Bà cố dẫn bà ngoại về
đồn điền cà phê của gia đình ở Buôn Ma Thuột, trong lúc bà ngoại đang mang bầu
được bảy tháng. Bà ngoại sinh mẹ con vào tháng 7 năm 1975. Ba tháng sau, đồn
điền bị tịch thu. Bà ngoại làm lao công trong đồn điền cà phê của mình. Bà ngoại
và mẹ con sống trong cơ cực, thiếu thốn. Đến năm 1987, Chính phủ Mỹ cho phép
con lai Mỹ được định cư ở quê cha. Lúc đó bà ngoại phải nuôi dưỡng bà cố già
yếu, nên không đi Mỹ. Có người đến đề nghị mua mẹ con để họ lập sơ giả đi Mỹ,
nhưng bà ngoại nhất định không bán và mẹ con cũng nhất định không rời bà ngoại.
Thời gian trôi qua, mẹ con lớn lên lai Mỹ rất đẹp. Năm 25 tuổi, mẹ con lấy
chồng, một người chồng hiền lành, tốt bụng, cùng làm việc trong đồn điền. Con
được sinh ra tháng 9 năm 2001 ở trong khu đồn điền này.
Khi con lên hai thì bà ngoại con qua đời.
Trước lúc lâm chung, bà ngoại đưa cho mẹ con tấm ảnh và căn dặn giữ kỹ tấm ảnh
này để có ngày tìm được người cha rất tốt bụng… nhưng vì hoàn cảnh phải chia
ly.’
Cha mẹ con làm cu li trong đồn điền, cơ cực
quá… nên bỏ Buôn Ma Thuột xuống Nha Trang làm nghề khai thác tổ yến trên các
hải đảo ngoài khơi biển Nha Trang. Bất hạnh thay, trong một đêm mưa to, gió
lớn, thuyền của cha mẹ con bị chìm. Cha mẹ con chết mất xác. Lúc đó con lên
chín tuổi, nhưng thân hình nhỏ như đứa bé lên sáu.
Trong cảnh mồ côi cha mẹ, một ông già mù lòa,
không có vợ con, nhận con làm con nuôi. Con theo ông về túp lều vải gần ga xe
lửa. Con chỉ mang theo một cái xách tay của cha mẹ con để lại, trong đó có mấy
bộ quần áo của con và một hộp nhỏ đựng ít tiền và tấm ảnh này. Từ khi làm con
nuôi ông già mù lòa, ông rất thương yêu con. Ngày ngày ông cháu dẫn nhau đi hát
dạo trên bãi biển, trong công viên - kiếm sống… Ông có giọng ca rất truyền cảm.
Ông dạy con nhạc lý và tập luyện giọng. Chỉ một thời gian ngắn, ông cháu
song ca rất mùi. Khách qua đường cho khá nhiều tiền. Nhưng bốn năm sau, ông già
qua đời, con lại bơ vơ… Lúc đó con ở tuổi mười ba.
Một bà chủ nhà hàng thương tình cho con vào
rửa chén và làm những việc lặt vặt… được bao ăn, ở. Trong thời gian làm việc ở
nhà hàng, con được ăn uống đầy đủ, nên trổ mã - cao lớn rất nhanh.
Một hôm, tình cờ thấy trên TV thông báo tuyển
lựa tài năng mới. Con đánh liều, trốn bà chủ đi thi thử. Không ngờ được chấm
hạng nhất. Từ đây đời con bước vào ngã rẽ mới. Nhiều nơi gọi con đi hát, được
trả ‘cát sê’ rất cao và con trở thành ca sĩ nổi tiếng, kiếm rất nhiều tiền.
Nhưng đường tình duyên của con không được may
mắn. Năm mười chín tuổi, con gặp một anh Việt kiều trong một đêm ca nhạc;
trông anh ta rất hiền lành, lịch sự, đẹp trai, ngỏ lời yêu thương và muốn cưới
con đem về Mỹ. Lúc đầu con sợ lòng người dối trá, nhưng sự theo đuổi say đắm
của anh ta làm con ngã lòng và vì sự khờ khạo của tuổi trẻ, con đã cho anh tất
cả. Khi hay tin con có bầu, anh ta về Mỹ hứa sẽ trở lại làm đám cưới và bảo
lãnh con sang Mỹ, nhưng rồi biệt tăm. Không hiểu anh ta phụ tình hay gặp tai
nạn? Con vô cùng đau khổ và sinh bé Linh trong cô đơn.
Khi bé Linh gần ba tuổi, thì con bị bịnh ung
thư phổi vào thời kỳ cuối. Bao nhiêu tiền kiếm được trước đây đổ vào bệnh viện,
nhưng không qua khỏi căn bệnh ung thư. Đời con sao mà lắm nỗi thê lương!?
Ông bà ơi! Xin rộng lòng thương xót mà bảo
bọc đứa con bé bỏng của con. Khi nó lớn lên, ông bà đưa cho nó sợi dây chuyền
mà cha nó tặng cho con và giải thích về tấm ‘lắc’: N là viết tắt của chữ Ngọc -
tên của cha nó và L là viết tắt của chữ Liên - tên của con. Đây là chứng tích
một cuộc tình… may ra nó sẽ tìm được người cha đang sống ở CA.
Thư đã dài, con xin chấm dứt ở đây. Khi về
bên kia thế giới, con sẽ dõi theo và phù hộ ông bà cùng đứa con thân yêu của
con.
Xin đội ơn…Vĩnh biệt Ông Bà!
Liên.”
Ông Frank
chống tay lên cằm, nước mắt ứa ra theo từng lời đọc của vợ và bà Frank cũng đầm
đìa nước mắt, nói với chồng:
-Đây là sự an bài của Thượng đế. Bằng mọi
cách phải đưa con bé Linh theo mình về Mỹ, ông ạ.
Ngày
hôm sau, ông bà Frank liên lạc với Tòa Đại Sứ Mỹ, trưng dẫn những bằng chứng và
tiến hành mọi thủ tục.
Cuối
mùa hè năm ấy, ông bà Frank dẫn bé Linh theo ông bà về Mỹ và nhờ Tòa Đại Sứ tìm
giúp người mẹ của bé Linh. Ông bà Frank cũng cố gắng tìm người cha của bé Linh,
nhưng chưa có kết quả.
Bốn
tháng sau, ông bà nhận được thư báo tin từ Tòa Đại Sứ Mỹ ở Hà Nội: “Bà Nguyễn
Thị Ngọc Liên đã yên nghỉ nghìn thu bên ngôi mộ của bà ngoại Hoàng Bích
Loan.”
Kèm
theo lá thư là tấm hình chụp hai ngôi mộ nằm song song dưới chân đồi một đồn
điền cà phê thơ mộng.
(Tháng 3 - 2024)