Trong một lần trao đổi,
bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay
tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện
huyền ảo về Xứ động vật của ông.
Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn
không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
Cung Tích Biền là nhà văn Miền Nam độc lập, ông thú nhận, sau năm 1975 “Tôi tự
cô lập bằng cách sống ẩn mình,…đoạn tuyệt với những mối quan hệ không cần
thiết, trong hòa đồng xã hội…giữ vị thế cô đơn để trọn vẹn cuộc Hành nghiệp”.
Sau thời hậu chiến, ông lặng lẽ chiêm nghiệm, miệt mài sáng tác và hơn 30 năm
sau, tự mình xuất bản chỉ để lưu lại cho đời Bộ Tổng Tập Văn chương gồm trên 10
quyển, non 7.000 trang sách.
Tôi gặp ông cũng thật bất ngờ, buổi chiều hôm ấy thật đông bạn bè. Đặng Hiền về
thăm, có Lê Thánh Thư, Thận Nhiên, Lý Đợi, Inrasara, Đami… Đặng Hiền phone mời
ông đến, tôi không thể nghĩ người đàn ông tóc bạc phơ, với khuôn mặt tươi trẻ,
nụ cười rạng rỡ toát lên vẻ yêu đời, bên cạnh một cô gái cháy bỏng lại là ông.
Một nhà văn ít xuất hiện trước đám đông, giọng văn cay độc, với cách nhìn đời
lão luyện quá thâm sâu, tôi nghĩ phải là một nhà hiền triết, không thể là một
“Lão ngoan đồng” như vậy. Nhưng tôi đã sai. Đúng là Văn và Người hoàn toàn tách
biệt. Sau này, Trần Vũ kể ông thích khiêu vũ và nhảy rất điệu nghệ. Có lần Vũ
và ông đi hộp đêm, Cung Tích Biền thuê cave quay valse và tango điêu luyện.
Sau vài ly rượu, Lê Thánh Thư cao hứng ký họa ngay trên bàn rượu hình ảnh của
Cung Tích Biền, Thận Nhiên và tôi…Đặng Hiền đòi giữ bản quyền cho HL khi có bài
in. Không biết bây giờ có còn không? Nhìn là vậy, nhưng ông chỉ mỉm cười ngồi
nghe mấy kẻ hậu sinh tranh nhau luận bàn, tôi ngồi im nhìn ông. Và tò mò nhìn
cô gái cùng đi rất điệu nghệ chăm sóc ông chu đáo. Ông nói sẽ gửi cho tôi các
tập sách đang in và đã giữ lời hứa. Một năm sau, tôi nhận được 5 tập sách ông
gửi. Tập hợp hầu hết những trước tác của đời ông. Sách in đẹp, với lời đề từ
trang trọng. Ông tự in ấn, với phần ghi chú rỏ ràng, khẳng định quyền xuất bản
của nhà văn không cần ai kiểm duyệt. “NXB Một mình. Có mục đích bảo lưu tác
phẩm và tác quyền của tác giả. Việc phổ biến có giới hạn, không lệ thuộc vào
bất cứ điều luật nào hạn chế việc Tự do phổ biến Tác phẩm”.
Lời đề từ đặc biệt “ngạo đời” như tính cách của ông.
Trong một lần phỏng vấn,
nhà văn Cung Tích Biền đã nói:
“ Tác phẩm, mới là cái
Có-Mặt. Mới là thường -trực- trả- lời. Một thường- trực- trả- lời, trong hoàn
cảnh Việt Nam hôm nay, phải là
một trung- thực- chịu-
nạn”.
Trước năm 1975, tôi chỉ là một cô bé, truyện của ông quá tầm tay với, tôi chỉ
mới đọc những truyện dành cho thiếu nhi của Duyên Anh, Nhật Tiến, nhiều lắm là
Văn chương Tự lực Văn đoàn, còn văn chương của ông với tôi là một xa lạ…Sau năm
1975, càng xa vời vì tôi chưa từng nghe nhắc trong trường học, hay được bày bán
ở các hiệu sách. Văn chương Miền Nam tuyệt nhiên vắng bóng. Tủ sách bé con của
tôi không có chổ cho ông. Lần đầu tiên tôi đọc ông là truyện Bạch Hóa đăng trên
Hợp lưu năm 2005, nó bày ra thảm cảnh kinh hoàng của chiến sự Việt Nam trong
lòng đất nước, giọng văn ráo hoảnh, khô khốc, lạnh băng.
Tôi thực sự lạc vào mê cung khi đọc những truyện ngắn của ông khi nhận được
sách ông gửi tặng.
Lâu lắm rồi, mới có những câu truyện hút hồn tôi bắt tôi đọc không ngơi nghỉ
hằng đêm như vậy. Với ngôn từ ma lực, không gian hư ảo tôi lang thang đi từ Dị
Mộng, Qua Sông, Thằng bắt quỷ, Ngoại ô Dĩ an và linh hồn tôi, Đêm hoang tưởng,
Thừa Dư, Mùi của gió mùa, Một phần khí hậu, Xứ động vật mưa hồng, Xứ động vật
vào ngôi, Xứ động vật màu huyết dụ…tôi rợn mình khi lạc vào thế giới đầy ma
quái, huyễn ảo trong khu vườn âm u, sương khói của ông.
Ngọn lửa hồng cha con Trần Liêu đốt trong đêm đen kỳ bí, hiểm nguy rình rập để
đi tìm vùng đất mới trong “Qua sông” :
“Ngọn lửa kia đã tàn trong thiên thu. Con cháu Người-Đốt-Lửa hãy còn. Lửa ấy
không chỉ là một thứ ánh sáng vô cảm, trong một xã hội máy móc, lạnh lùng. Lửa
ấy cũng không siêu nhiên xa lạ, cũng không nằm chết trong ý nghĩ hạn hẹp hiện
thực của lửa. Nó có thể đã biến thành một dạng ánh sáng khác: đậm đà như ca
dao, rực rỡ như lời ca hạnh phúc, hay ngậm ngùi như tiếng hát gọi nát lòng của
những thân phận hẩm hiu của Mẹ, của Giao Châu.
Ngọn lửa thiên thu kia đã có một linh hồn và một tác động vĩnh cửu. Chúng ta
ghi nhớ lại, cũng có nghĩa là sẽ đốt lên.
Và, chúng ta chẳng hề quên câu nói tiềm vọng của Liêu: “Chúng ta sẽ bắt đầu làm
lại tất cả. Dẫu rằng trong bóng tối mịt mùng, nhưng trên quê nhà, hôm nay chúng
ta đốt một ngọn lửa hồng”.
Liệu ngọn lửa hồng mà
cha con Trần Liêu ngày xưa đốt lên hôm nay đã đẩy lùi được bóng tối?
Truyện của ông thường là
những Bóng, Xác, Máu, Xương…những huyễn ảo kỳ bí đưa người vào những mê cung
sâu thẳm.
Hãy xem cuộc đối thoại giữa nhà văn với nhân vật “Cô mơ bay”:
“Mơ Bay nói. Mơ Bay tâm sự. Tiếng cô nói hình như không đi từ miệng cô tới lỗ
tai người nghe trước mặt. Nó lang thang, vòng vo. Như ai nói ở xa kia trong trà
trộn đủ thứ tạp âm đời, quanh đây.
Tâm sự của cô, như âm
vang đi tới từ cái ghế đá, hốc cây, từ viên gạch lót đường. Như đất đai đau,
đành cất tiếng. Đôi mắt Mơ Bay là khá hoang mị. Chừng như cả tinh lực kia đang
chìm trong cái ý tưởng rất hư hoang mà cô diễn bày:
“ Em là thiên thần sờ nắm
được giấc mơ. Phải dựng mộng dậy. Gắn xương cốt cho mộng. Mỗi cơn mộng phải là
một Có Thực. Như cây trên đồi. Như vật thể hiện ra quanh đây. Mộng phải thấm
được nước. Bốc cháy khi gặp lửa. Ta nói thì mộng phải biết nghe. Ta thổ lộ niềm
mong ước, mộng phải OK. Anh ạ, ‘Nó,’ cái vô hình hiện ra đó. Giấc mơ, ‘Nó’ đang
bước tới. ‘Nó’ chào và bắt tay em.”
Tôi nói:
“Bắt tay được với một
Cái-Trống-Rỗng, thì phải đáng rùng mình.”
Mơ cười:
“ Chính giấc mơ nó sử
dụng em. Cũng như anh, anh nhà văn ạ, anh bị huyền hư sử dụng. Rồi anh sẽ vẽ
lại giấc mơ của em qua những giọt màu có thật.”
Một ngày cận Tết, những
mầm hoa đang ủ hương trong búp. Chờ vỡ òa trong nắng đầu xuân. Mơ Bay nói: “Khi
những nụ mai tàn, em bay.”
Sao là tàn một mùa nở
rộ, em mới bay?
***
Có một người đàn ông bước chậm rãi lên thang lầu. Bước vào phòng ngủ. Đã quen
cái cách của Mơ Bay, ông không bật đèn. Qua ánh sáng đèn đường rọi vào ông thấy
một sự bày biện khá lạ lùng. Mền gối chăn mùng giày dép, áo quần đồ trang điểm
của Mơ Bay được thu gom vào cái bao tải bự. Ngoài, có hàng chữ: “Đồ ve chai.”
Có một là thư dằn trên
mặt bàn:
“Anh ạ, em Ra-Khỏi rồi.
Hồn ra khỏi. Xác em là ve chai trong bao tải.
“ Hồi đầu em trèo lên
ngọn cây sọ khỉ, nhưng cành lá nhiều quá không cất cánh được. Em lên nóc một
cao ốc, nhìn thành phố bên dưới như một bãi tha ma trắng, những nhà cao tầng là
những ngôi mộ lớn, em lại thôi, cất cách nơi này chẳng thơ mộng chút nào.
“Em lên cao nguyên. Bên
vực thẳm giữa hai hẻm núi, em bay. Anh yên chí, em không hề rơi xuống vực sâu.
Chính đôi mắt ta nhìn hẻm núi thăm thẳm bên dưới. Sợ hãi kia, thay vì đầu hàng
rơi xuống, sẽ giúp em mạnh mẽ bay lên cao.
“Anh sẽ thấy trong trời mùa Xuân này một con chim lạ. Em đấy. Khi một con chim
biến ra một con người là số phận không may. Con người biến được thành con chim
mới là hạnh phúc, là ân sủng của Tự do.
Hôn anh.
Em của anh
Mơ Bay”
III
Giấc mơ bị bể sọ não.
Một cái vô hình bị
thương tích.
Một cái vô hình đang
được chỉnh sửa.
Rất mong manh hồi sinh.”
…
Truyện của Cung Tích
Biền là vậy, rất kén người đọc, nhiều khi sẽ rất khó hiểu và không hợp “gout”
với loại bạn đọc chỉ muốn tìm những truyện tình lãng mạn để tiêu khiển thời
gian. Truyện của ông mang âm hưởng siêu hình, đậm chất hiện sinh với không gian
hoài niệm, nỗi cô đơn, bi kịch của kiếp người trong cuộc bể dâu.
Bước vào tác phẩm của ông, người đọc luôn hoang mang, dằn vặt. Hiểu về truyện
của ông ư, nói thật đến bây giờ tôi cũng mơ hồ. Tôi đi lạc vào ma trận của ông
mà chưa tìm được lối ra.
Thứ lỗi cho tôi, tôi vẫn còn nợ ông bài viết.
Cung Tích Biền là tác
giả Miền Nam tôi chưa với tới. Hãy cho tôi thêm thời gian.
TB: Chiều nay 11.9.2026
vừa hay tin ông mất, tôi đã chưa làm được lời hứa của mình. Kính tiễn ông một
nhà văn đáng kinh của dòng VHVN về miền cực lạc, tâm an không còn những thao
thức về nỗi khổ của kiếp con người.