TƯỞNG NIỆM CUNG
TÍCH BIỀN
Nguyễn Đức Tùng
Khi tôi đọc truyện Bạch Hóa của Cung Tích
Biền lần đầu tiên, miền Nam vừa sụp đổ. Đó là mùa hè năm 1975. Tôi mua được
cuốn Những truyện ngắn hay
nhất của quê hương chúng ta, do Nguyễn Đông Ngạc biên tập, xuất bản
năm 1974, trong chợ Cồn, một chợ trời nổi tiếng ở Đà Nẵng thời ấy. Trong tập có
Cung Tích Biền bên cạnh bốn mươi bốn nhà văn khác của miền Nam, bắt đầu với
Bình Nguyên Lộc và kết thúc với Vũ Khắc Khoan. Truyện do các tác giả tự chọn.
Cầm cuốn sách bìa cứng in rất đẹp trên
tay, mua với giá rẻ mạt, tôi nghĩ đó là món quà của miền Nam tự do gửi lại.
Vào lúc ấy, thật khó khăn để nói về
chiến tranh. Thật khó khăn để nói về cái chết. Khi một người đang ở trong chiến
tranh, giữa những cái chết, những điều ấy lại là những điều khó nói nhất. Buồn
bã, bất an, thương tiếc có mặt khắp mọi nơi. Có những con chó hoang, có những
đường phố tan tác. Đà Nẵng, nơi tôi ở với chị tôi, vừa đi qua những ngày như
thế. Giữa nỗi buồn còn quá mới ấy, từ một truyện ngắn bước ra những điều mà tôi
chưa biết gọi tên: tội ác, sự phản bội, cái chết như một ảo tưởng, quyền lực của
lý tưởng, ảo tưởng cách mạng, sự đánh mất khuôn mặt của mình, sự tan vỡ. Tất cả
làm nên hình ảnh miền Nam thời ấy: thất bại, tủi nhục, buồn bã, mất phương
hướng. Bạch Hóa
ở lại trong tôi từ lần đọc đầu tiên. Và nó còn ở đó mãi.
Thực ra, trước đó vài năm, tôi đã đọc Luống cải vàng của cùng
tác giả, đăng nhiều kỳ trên báo Đời
của Chu Tử. Đó là một truyện dài. Tôi còn nhớ nó, nhưng ký ức về nó đã trở nên
mờ nhòe. Sau này, khi gặp nhà văn Cung Tích Biền ở California, tôi hỏi anh về
truyện ấy, bởi tôi không tìm thấy tài liệu nào nhắc đến nó. Anh xác nhận rằng
quả thật anh đã viết Luống
cải vàng đăng trên báo Đời,
nhưng tác phẩm chưa bao giờ được xuất bản thành sách. Nó thuộc về một nền văn
học mà nhiều văn bản đã thất lạc.
Cung Tích Biền tên thật là Trần Ngọc
Thao, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1936 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Anh viết từ sớm,
nhưng bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện từ những năm 1960. Đó cũng là lúc chiến
tranh bước vào giai đoạn khốc liệt. Đà Nẵng thay đổi với thủy quân lục chiến M
ỹ. Cuộc sống đầy âu lo nhưng cũng sôi nổi, đẹp, rộn ràng. Những truyện ngắn của
anh thời đó: Nỗi buồn thắp
sáng, Ai tỉnh ai điên, Hòa bình nàng tình rỗng. Sau năm 1975, bẵng
đi hơn mười năm, anh trở lại với Thằng
Bắt Quỷ, Xứ Động Vật, Chim Cánh Cụt, Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử.
Cung Tích Biền không phải chỉ là một
nhà văn viết về lịch sử. Anh viết về những gì lịch sử đã làm đối với con người.
Quê hương còn đó nhưng con người sống trên quê hương mình có thể đã trở thành
kẻ lưu vong. Cung Tích Biền không đứng ngoài lịch sử để quan sát và phán xét
nó. Anh trôi nổi theo dòng chảy của lịch sử, sống chết với nó, vừa như một nạn
nhân, vừa như một người quan sát. Theo chính ngôn ngữ của Cung Tích Biền, anh
sống trong phòng đợi của
lịch sử. Văn của Cung Tích Biền không cầu kỳ. Câu thường ngắn,
giản dị, tiết kiệm. Anh không phải là nhà văn chủ tâm làm mới ngôn ngữ. Sức
mạnh của anh nằm ở những ý tưởng bên dưới câu văn, ở khả năng chọn một tình
huống, một hành vi, một chi tiết rất nhỏ để qua đó làm lộ ra sự phi lý của đời
sống và chiến tranh. Sau hơn mười năm im tiếng, khi viết trở lại vào cuối những
năm 1980, Cung Tích Biền vẫn là Cung Tích Biền, nhưng truyện của anh ngày càng
mang tính ngụ ngôn và phi lý. Theo tôi, đó không hẳn là một phương pháp sáng
tác được lựa chọn từ trước. Đó là sự phi lý của chính đời sống sau chiến tranh.
Xứ Động Vật ra
đời trong hoàn cảnh ấy. Con người sống trong một xã hội hòa bình nhưng tan nát,
nơi các giá trị bị đảo lộn. Con người còn là con người đến đâu? Từ một nhà văn
viết bên trong chiến tranh, Cung Tích Biền sống sót để thực hiện một thứ văn
chương khác: văn chương hậu chiến của miền Nam, và sâu xa hơn, một nền văn
chương hậu chấn thương.
Sau năm 1975, nền văn học miền Nam bị
cấm và nhiều nhà văn của nó chìm vào bóng tối, im lặng. Thế giới văn học mà
Cung Tích Biền từng thuộc về gần như biến mất. Nhưng anh vẫn tiếp tục viết
trong vòng vây của những giá trị mới. Chỉ riêng sự tiếp tục ấy đã là một đề
kháng. Khác với Mai Thảo, Võ Phiến hay Nguyễn Đình Toàn, trong Cung Tích Biền
có một nỗi u uẩn của người sinh ra từ một vùng đất chịu đựng sự phân tranh lâu
dài và cay đắng: Quảng Nam và miền Trung. Văn chương của anh mang dấu vết của
một dân tộc bị xô đẩy giữa những chiến tuyến, đánh mất mình nhiều lần và tìm
lại mình nhiều lần. Văn chương ấy có tính phê phán và châm biếm nhưng không
kích động lòng thù hận. Những nhân vật ở phía bên kia trong truyện của Cung
Tích Biền không đơn giản bị biến thành kẻ dễ bị căm ghét. Sau tất cả những gì
chiến tranh gây ra cho người Việt Nam, một nhà văn còn có thể để lại điều gì?
Có lẽ là khả năng nhìn thấy con người ngay cả khi con người bị ý thức hệ che
khuất. Vì vậy, Cung Tích Biền không phải chỉ là một nhà văn miền Nam trước
1975. Anh là một nhà văn Việt Nam, của một dân tộc đã đi qua những đổ vỡ mà đến
nay vẫn chưa hoàn toàn hàn gắn. Anh đã “sống trong phòng đợi của lịch sử” hơn chín
mươi năm. Ngày 9 tháng 9 năm 2026, anh ra khỏi căn phòng ấy. Nhưng những nhân
vật mà anh để lại, Trinh, Dĩ An, Sáu Vu, Đích, vẫn còn ở đó. Và biết đâu cả
chúng ta.
Cung Tích Biền tạo ra những tình huống
và để nhân vật bộc lộ trên nền của hoàn cảnh ấy, trong những mối quan hệ. Hãy
xem cách anh giới thiệu chú Sáu qua mối quan hệ giữa người nông dân ấy và hai
con bò:
“Chiều nào khi mặt trời sắp chôn dưới
chân núi chú Sáu cũng mang hai con bò phân tán ra hai nơi góc vườn, chú kéo cho
mỗi con một mớ rơm để nhai qua đêm, chú nói như thế này để cà nông bắn rủi chết
thì chết từng con một.”
Chiến tranh ở đây không bắt đầu bằng
một trận đánh. Nó bắt đầu bằng việc một người nông dân phải nghĩ cách đặt hai
con bò ở hai chỗ khác nhau để nếu đạn pháo rơi xuống thì chúng không chết cùng
một lúc. Đó là một chi tiết nhỏ, nhưng trong những chi tiết nhỏ như vậy, chiến
tranh hiện ra. Điều đáng sợ của chiến tranh không phải chỉ là cái chết. Điều
đáng sợ hơn là nó thay đổi các mối quan hệ của con người: tình bạn, tình làng
xóm, tình anh em, tình cha con.
Sáu Vu, con của Hương Đằng, nói với
cha:
“Ông
là cha riêng tôi chứ không phải cha của cả dân tộc này…Lão Hương Đằng nhổ một bãi nước bọt vào mặt
Sáu Vu”.
Một đứa con đi làm cách mạng trở về
không còn nhìn thấy người đàn ông trước mặt là cha mình nữa mà nhìn thấy kẻ thù
của dân tộc, của giai cấp. Đối xứng với nó là một đứa con khác, một người lính
Cộng hòa, trở về tìm cha nhưng không còn nhận ra xác cha giữa những xác chết
chiến tranh. Một người mất cha vì ký ức và tình cảm đã bị ý thức hệ tẩy xóa.
Một người mất cha vì chiến tranh đã tẩy xóa khuôn mặt của người chết.Người lính
nhìn thấy xác một người đàn ông nằm dưới mương, đã bốc mùi, khuôn mặt không còn
nhận ra được. Trên người xác chết là chiếc áo viện trợ từ Chicago. Một vật từ
nơi rất xa được gửi đến Việt Nam rồi cuối cùng mục rã trên xác một người Việt. Đích
hỏi người bạn:
“Mày có dầu Nhị Thiên Đường cho tao
một ít.”
Anh xoa dầu lên mũi vì xác chết hôi
quá. Rồi sau đó, như chợt nhớ ra, Đích hỏi:
“Hồi nãy có đứa nào chịu khó chôn lão
già không bây?”
Tôi đặc biệt chú ý hai chữ chịu khó. Chính sự
bình thường hóa cái chết mới làm người đọc kinh hãi.
Bạch hóa là tẩy xóa căn cước.
Bạch hóa là tẩy xóa tình cha con,
nghĩa làng xóm, tình đồng bào.
Con người Việt Nam cuối cùng không còn
nhận ra nhau.
Thế giới văn chương Cung Tích Biền đầy
những ẩn dụ và ngụ ngôn như vậy. Đối với hiện thực, anh đôi khi giống một chiếc
máy ảnh ghi lại đời sống, nhưng đó là một chiếc máy ảnh biết lựa chọn. Vì thế
nghệ thuật chọn chi tiết là một trong những phẩm chất đặc sắc nhất của truyện
ngắn Cung Tích Biền. Trong Những
truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, Cung Tích Biền nói về
nghệ thuật của mình:
“Hầu hết truyện ngắn của tôi, cốt
truyện được nghĩ ra thật nhanh, thoáng vụt, chỉ như của trực giác. Sau đó khi
cầm bút viết, cần trải đáy lòng, soi tìm những xúc tích thâm thúy, những vì sao
lạ trong ngôn ngữ. Tôi thường nghĩ tới công việc của những nhà điêu khắc.”
Bạch Hóa không bắt đầu bằng một người lính hay
một nạn nhân chiến tranh. Nó bắt đầu bằng hai con bò. Hai con bò ấy không có
lập trường cộng sản hay quốc gia. Chúng là đời sống của người nông dân, những
người làm nên lịch sử và rồi thường bị lịch sử bỏ quên. Đối với người nông dân,
chiến tranh không phải một biến cố. Nó trở thành đời sống.
Con bò đực chết nguyên vẹn vì một mảnh
đạn.
Con bò cái chết đau đớn hơn, cái đầu
văng đi nhưng phần còn lại còn nguyên.
Đến con bò con thì nó tan ra hàng ngàn
mảnh.
Vũ khí càng tiến bộ, cái chết càng tan
tác. Mùa hè năm 1975, khi trở về đứng ở thành cổ Quảng Trị, tôi đã đến rất gần
với ý tưởng ấy. Chiến tranh không chỉ giết người. Cuộc nội chiến lần lượt làm
chúng ta mất ruộng, mất bò, mất nhà, mất mồ mả. Và ngay cả khi chiến tranh đã
kết thúc, quá trình ấy vẫn tiếp diễn: chúng ta mất ký ức quê hương, mất những
trật tự cũ, mất cả những con người mà mình từng biết. Tôi đã từng mất một người
thầy cũ như thế. Lẳng lặng chia tay. Hiện thực không chỉ trở nên phi lý mà có
lúc gần siêu thực.
Từ Bạch
Hóa trước 1975 đến Thằng
Bắt Quỷ sau 1975 là một quá trình kéo dài của sự phá hủy. Trước khi
con người bị tiêu diệt, những giá trị của họ bị tiêu diệt. Trước khi một xã hội
biến mất, ngôn ngữ của nó bắt đầu thay đổi. Cha không còn là một cái tên đủ sức
bảo vệ. Chúng ta không thể thay đổi lịch sử, nhưng chúng ta có thể thay đổi
thái độ đối với lịch sử. Chiến tranh kết thúc nhưng những câu hỏi do nó để lại
chưa kết thúc. Đọc Cung Tích Biền là đọc những câu hỏi ấy. Nếu Bạch Hóa được viết trong
chiến tranh thì Thằng Bắt
Quỷ được viết sau chiến tranh. Bạch
Hóa là con người bên trong chiến tranh. Thằng Bắt Quỷ là con người Việt Nam sau chiến
tranh. Tiếng súng đã ngừng nhưng cái chết tinh thần vẫn tiếp tục. Nghèo đói,
mại dâm, ăn xin, quyền lực, trộm cắp, tham nhũng, bước vào đời sống. So với Bạch Hóa, Thằng Bắt Quỷ mang nhiều tính
ngụ ngôn hơn. Nhân vật trung tâm của truyện không phải Thằng Bắt Quỷ mà là
Trinh. Trinh sống ở xóm Nhà Ma, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Cô tìm một con đường
sống và chọn làm người mẫu khỏa thân cho Chiêu. Chiêu có tiền, yêu nghệ thuật,
dùng cái đẹp để làm ra tiền, trong khi Thằng Bắt Quỷ biến Trinh thành kẻ xấu
cũng để làm ra tiền. Trong một xã hội đánh mất những thước đo văn hóa, các
đường biên bắt đầu biến mất: người mẫu hay mại dâm, quan chức hay kẻ cắp, ăn
mày hay thường dân. Khi Trinh nằm với Chiêu, tấm gương lớn nứt một đường dài,
chia hình ảnh cô làm đôi. Đó là một trong những hình ảnh đẹp và đau đớn. Con
người Việt Nam từng bị chia thành hai phía: Nam và Bắc, quốc gia và cộng sản,
trong nước và hải ngoại, chính thống và ngoại biên. Nhưng sự phân chia cuối
cùng đi vào bên trong mỗi cá nhân, chia đôi căn cước của họ, chia đôi thân xác
và tâm hồn. Cuối cùng Trinh chết khi mới ngoài hai mươi tuổi. Một đứa trẻ nói:
“Chị Trinh
có mộ mà không có nhà.”
Câu nói ấy không chỉ dành cho một cô
gái. Ở đó, bi kịch cá nhân trở thành một thứ ngụ ngôn về lịch sử. Lịch sử có
thể thay đổi được không? Không. Nhưng nhà văn vẫn muốn viết. Người kể chuyện
trong Cung Tích Biền nói: Ta muốn biến Nước Lửa thành Lời. Cung
Tích Biền vừa là một nhà tiểu thuyết, vừa là một tác giả truyện ngắn.
Tôi nhớ Luống cải vàng là một truyện dài viết về đời
sống hậu chiến, hòa bình, rất thơ mộng. Sau năm 1968, với chiến thắng tạm thời,
đẩy lui đối phương ra khỏi Sài Gòn, Huế và tất cả các thành phố, người dân miền
Nam nghĩ đến hòa bình. Mơ về hòa bình. Nguyễn Mạnh Côn viết cuốn sách dày “Hòa bình, nghĩ gì? làm gì?” Ngày nay,
không còn những cuốn sách tiểu thuyết ấy trong tay người đọc, chúng ta chỉ gặp
Cung Tích Biền qua truyện ngắn. Đó là một điều đáng tiếc. Nhưng cũng chính ở
truyện ngắn, tài năng của ông hiện ra một cách đặc biệt. Nếu tiểu thuyết có thể
làm người ta giàu có thêm vì những thế giới rộng lớn và đôi khi cũng làm người
ta buồn ngủ, thì truyện ngắn đánh thức. Truyện ngắn: vẻ đẹp, suy tưởng, câu
hỏi, tình huống, bi kịch, sự ham muốn tìm thấy một điều chưa biết, sự lạ và
ngạc nhiên. Truyện ngắn không phải một mảnh đời sống được cắt ra, như một viên
gạch lấy khỏi bức tường. Truyện ngắn là một
cách nhìn về đời sống. Nó bổ sung vào đời sống một điều chưa
từng có trước khi câu chuyện được viết ra. Nó có thể làm lộ ra sự phá hủy của
những tầng văn hóa, sự thất lạc của những trật tự xã hội, sự đảo lộn của các
giá trị. Vì vậy người đọc tìm đến truyện ngắn không chỉ để nghe kể một câu
chuyện. Họ tìm đến nó như một hình thức của sự tỉnh thức. Đối với tôi, truyện
ngắn gần với thơ ca. Vấn đề của lịch sử, và cũng là vấn đề của một nền văn học
lớn, không chỉ nằm ở việc kể lại các biến cố. Văn học phải kể được những phân
vân, ngờ vực, những câu hỏi, những phút chán nản và buồn rầu, những xung đột
bên dưới các biến cố ấy.
Văn chương giữ lại không chỉ những gì
đã xảy ra. Nó còn giữ lại cách
con người đã sống bên trong những gì xảy ra. Tiểu thuyết mở
rộng gần như không ngừng: thêm nhân vật, thêm biến cố, thêm những lớp đời sống.
Người viết truyện ngắn tiết chế. Anh ta chỉ có một lúc, một xung đột, đôi khi
chỉ một hình ảnh hay một câu nói. Nhiều năm nữa, từ ngày hôm nay, một người nào
đó có thể tình cờ tìm thấy trên kệ sách cũ những cuốn sách của những người như
Cung Tích Biền. Chúng nằm im ở đó, ngủ từ lâu. Người ấy mở chúng ra và bỗng
giật mình nhận ra một thời gian đã mất. Nhưng điều làm người ấy ngạc nhiên hơn
là thời gian ấy chưa hoàn toàn mất. Trong những truyện ngắn ấy vẫn còn chiều
sâu của một đời sống, sự rộng rãi của những đề tài, vẻ đẹp và sự tàn nhẫn của
một thời đại. Một người đọc một truyện được viết cách đây năm mươi năm và bất
ngờ gặp trong đó câu hỏi mình đang có hôm nay, nỗi bất an, một câu chuyện chính
mình vẫn muốn kể. Đó là lý do tôi trở lại với truyện Cung Tích Biền. Người viết
truyện ngắn, theo nghĩa ấy, đặt cược vào một khoảnh khắc. Anh ta không có hàng
trăm trang để giải thích nhân vật của mình. Anh ta phải làm cho một khoảnh khắc
có khả năng chứa một đời người.
Lịch sử đi lướt qua họ.
Nhưng văn chương giữ họ lại.
Chính trong cái riêng tư ấy, lịch sử
còn sống.
Nguyễn Đức Tùng