Buổi
chiều ông Hòa ra phía trước hiên nhà ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế dựa. Ông ngả
người nheo nheo cặp mắt. Những ngày này, dọc theo mấy cánh đồng xả lũ, thấy
trắng xóa một màu mênh mông của nước. Nước tràn qua bờ ruộng, lấp lánh ánh mặt
trời trong buổi ban mai, rồi chấp chới sắc vàng dìu dịu lúc chiều tà. Là người
dành cả đời sống cùng mùa lũ, ông cảm nhận rõ nét nhất sự đổi thay của mẹ thiên
nhiên.
Con
sông Vàm Cỏ muôn đời vẫn thế, ít khi dâng lên dữ dội mà chỉ mấp mé bờ trong
những ngày nước lớn. Con sông vòng tay ôm quanh xã Long Hựu từ bao lâu nay,
thời chưa chia ra Đông – Tây như bây giờ. Long Hựu thuộc vùng hạ huyện Cần Đước
là một xã vùng sâu, ngăn cách với thị trấn Cần Đước bởi kênh nước mặn, là xã
cuối cùng của tỉnh Long An, nằm đối mặt với Biển Đông có đồn Rạch Cát. Địa hình
khá bằng phẳng hơi nghiêng về phía biển Đông chia ra làm hai vùng thượng - hạ
ranh giới là nơi kinh Xóm Bồ nối với Rạch Đào. Nơi ông ngồi hôm nay thuộc Long
Hựu tây, phía bắc giáp xã Long Hựu Đông và Phước Đông. Các phía còn lại giáp
tỉnh Tiền Giang.
Vùng
đất này lúc xưa ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản nên người dân riết rồi quen
với việc sống với cả hai phía. Nhiều gia đình có người phục vụ cả hai bên như
gia đình ông Hòa. Ông nhớ thằng Bình, em ông, gương mặt điển trai, ánh mắt luôn
đượm buồn không hiểu vì sao, hay nó đã tiên liệu số phận yểu mệnh của nó. Nó
học giỏi hơn ông nên đậu tú tài xong bị ông già bắt đi lính quốc gia vì ổng sợ
bị lão xã trưởng Khiêm dòm ngó. Gia đình có một thằng đi sĩ quan là an toàn
hơn, trong khi mấy ông chú toàn người phía bên kia. Chú Năm Điệp người đã bày
vẽ cho ông Hòa con đường đến với cách mạng, là một người người sống với lý
tưởng cao đẹp, lúc nào ông cũng ngợi ca xã hội miền Bắc và những người sống
ngoài đó, chừng như ông nằm trong gan ruột họ vậy! Hòa ngả dần theo lý tưởng ấy
lúc nào không biết, anh giả vờ té trật chân, nằm nhà một thời gian và tránh đi
lính vì là người con duy nhất còn lại trong gia đình khi thằng em đã là sĩ quan
quân đội Cộng hòa. Nhưng ban đêm anh đi
xuồng vô trong những căn nhà mái lá núp trong những bụi cây bên kia sông, họp
hành, nghe phổ biến nghị quyết. Ở đó anh đã gặp lại Loan, con bác Ba Tiết, bạn
ông già. Loan mặt mày xinh xắn trắng trẻo, nụ cười như người ta hay nói như hoa
hàm tiếu, liếc nhìn rồi khúc khích cười nên ông đặt cho nàng biệt danh “Loan lý
lắc”, nhưng ban đêm Loan làm giao liên tích cực chuyển gạo thuốc vào vùng giải
phóng cho bộ đội.
Ông
nghĩ ông may mắn được sinh ra và lớn lên cùng mùa lũ. Hồi ấy, dân quê ít ai kêu
“lũ”, họ chỉ quen với “mùa nước nổi”, hay chân chất nữa là “mùa nước lên”. Đời
sống vật chất những năm đó còn thiếu thốn, nhưng mùa nước nổi thì vô cùng hào
phóng. Thời điểm đó, người ta chỉ cần có gạo ăn là yên tâm sống qua mùa lũ, bởi
cái thuật ngữ “chim trời, cá nước” còn đúng lắm. Trong ký ức của ông, bước sang
đầu tháng 5 (âm lịch) thì con nước ngoài sông đã xuất hiện màu đỏ của phù sa.
Khi đó, cá linh non xuất hiện ở chợ quê, trong tiếng lèo xèo cười nói của các
bà, các mẹ. Ông không biết cá linh non thời điểm đó thành đặc sản hay chưa,
nhưng với đám con nít quê thì nó là món ăn quen thuộc. Cứ thấy chảo cá linh kho
ớt bốc khói thơm lừng trong mâm cơm chiều, là sà xuống mâm, chở cơm nóng. Những
ngày ấy sao vui và hồn nhiên quá. Nếu không có chiến tranh! Than ôi chiến tranh
đi qua để lại bao tang thương và trong lòng ông đầy những vết xước dù ông được
phong anh hùng, dù ông đeo huy chương bao lần, ông vẫn không nuốt nổi nỗi buồn
khi nghĩ đến cái chết của thằng Bình.
Từ
ngày về hưu, mỗi chiều, ông ngồi nhìn ra bờ sông Vàm Cỏ, dõi mắt nhìn theo
triền sông màu vàng rực bông điên điển. Theo những người dân miền Tây, điên
điển ngày xưa là cây hoang dã, thuộc họ đậu thân gỗ nhỏ, dễ thích nghi với môi
trường và có sức sống mãnh liệt ở vùng ngập nước theo mùa. Bông có màu vàng
tươi, là thức ăn giàu dinh dưỡng cho hương vị thơm, giòn, bùi, béo. Từng chùm
bông điên điển nở vàng rực khắp các bờ đê, ven sông. Mỗi mùa điên điển, nhìn
người ta chống xuồng trong từng bờ rạch, bờ đê hái những chùm bông vàng rực để
làm rau ăn trong mỗi bữa cơm. Chính cuộc sống khó khăn từ xa xưa đã tạo nên sự
sáng tạo trong từng bữa cơm của người dân miền sông nước Nam Bộ mỗi mùa nước lũ
tràn về trên khắp các cánh đồng. Cây điên điển mọc ở các đầm ao, hay trồng theo
các bờ ranh hoặc đất trống. Cây phát triển rất nhanh, điều đặc biệt không cần
chăm sóc, hay đầu tư phân thuốc mà vẫn cho bông rất sai, nhờ vậy đã giúp rất
nhiều người dân nghèo ở vùng lũ tăng thêm thu nhập.
Ông
thèm một bữa cơm gia đình với dưa chua, gỏi, điên điển xào với gỏi tép đồng…,
hoặc ăn sống chấm cá kho, nhúng lẩu chua, ăn kèm với bún cá..., nhất là khi
bông điên điển nở vàng rực cũng là lúc những con cá linh theo dòng nước lũ đổ
về, tràn khắp các sông và ao rạch. Từ những thứ sẵn có này, người dân đã khéo
léo kết hợp các món ăn mang ăn đậm hương đồng gió nội. Nhưng bà vợ ở lại thành
phố không về quê. Sau khi con gái chết, ông về Long Hựu mua một mảnh đất gần
sông và cất lên một căn nhà cấp 3 có hiên để buổi chiều ngắm dòng sông.
Ông
bắt đầu nhớ đến những ngày ông còn trẻ, háo hức theo cách mạng, lòng tràn đầy
lý tưởng như chú Năm Điệp nói về một xã hội tương lai giàu lòng nhân ái, người
sống cho người, chỉ có yêu thương không còn thù hận!
Ngày
ấy ông đã yêu Loan, dù Bình cũng thích Loan nhưng nó nhút nhát không dám nói.
Những đêm nằm trong lán chờ Loan tiếp tế gạo, thuốc, lòng ông luôn cảm thấy một
niềm vui khó tả khi gặp nàng. Những câu chuyện ban đầu vu vơ về sông nước, sau
là những đêm tâm sự dài hơn. Loan kể về
tuổi thơ khó khăn của cô khi phải xa chị, sống với dì ghẻ, khổ cực trăm bề.
Loan nói em muốn lấy chồng xong bỏ xứ đi vì em chán cái xứ này quá, sống sao
chui rúc, ngột ngạt ghê nơi. Hòa an ủi cô, nói ráng đi, hòa bình chiến thắng đế
quốc xong mình sẽ có một đời ấm no hạnh phúc. Một đêm, trời bỗng đổ mưa lớn, cả
lán trại đi phục kích hết chỉ còn mình ông trực, ông giữ Loan ở lại vì sợ về
ghe bị lật vì sông đang mù mịt trong mưa. Nhìn bộ ngực phập phồng sợ hãi, ông
bỗng mạnh dạn quàng tay qua vai Loan siết mạnh và hôn lên môi nàng. Loan rùng
mình và đờ ra, nàng mặc cho ông ôm siết và họ đã sống môt đêm say đắm cùng
nhau, quên cả đất trời. Loan đã dâng hiến đời con gái cho anh mà quên rằng hậu
quả có thể xảy ra, nghiêm trọng biết dường nào… Họ quấn lấy nhau đến gần sáng,
anh mới giục nàng về vì sợ anh em quay trở lại…
Loan
hằng đêm vẫn đem cơm gạo và thuốc men cho anh em du kích. Một cuộc tình rất
đẹp. Ông nhớ ánh mắt sắc sảo nụ cười tươi tắn hàm răng trắng và đều khắp. Nhớ
vành môi mà ông đã hôn nhiều lần lên đó và nhớ mãi cái đêm mưa gió ấy. Cho đến
một ngày Loan ụa mửa nhiều, thèm chua, mua me và cóc để đầy nhà. Không biết sao
lúc đó tay Khiêm, Xã trưởng cảm giác ông Hòa hay đi đêm, chắc vào vùng giải
phóng nên hay ghé thăm nhà xét lúc nửa khuya. Bà mẹ Loan thấy con gái ụa mửa
nhiều, đã tra hỏi tận tình và Loan phải khai ra. Mẹ Loan sau vài đêm suy nghĩ,
lo lắng cho Loan, cho cả ông Hòa nên đã ra một quyết định vô cùng táo bạo. Bà
đã gọi Bình đến và hỏi ý Bình có muốn lấy Loan không? Bình ngạc nhiên nhưng khi
mẹ Loan nói bác muốn nó yên bề gia thất trong lúc chiến tranh dịch giã này.
Bình gật đầu vì anh cũng thầm thương Loan từ lâu. Lấy Bình là Loan yên thân vì
Bình đang là sĩ quan tham mưu cho Đồn trường Vinh, phụ trách địa phương quân ở
Long Hựu. Một đám cưới diễn ra đơn giản nhưng đúng thủ tục của nghi lễ miền quê
cũng có hai họ ăn uống rình rang hết một ngày. Loan hạ sinh một cậu trai kháu
khỉnh, đặt tên là Hợp. Bình vui quá. Anh cũng mang về cho ông Hòa nhiều thông
tin quý giá về hoạt động của phe VNCH, thậm chí anh cho ông Hòa biết cả quân số
và cách bố trí hệ thống phòng vệ… Nhưng ông Hòa không ngờ cái ngày du kích tấn
công Đồn thất bại vì tay Trưởng đồn Vinh quá khôn ngoan mưu trí thì thằng Ba
Công, đội trưởng lại nhắm sang Bình, cho rằng Bình lừa họ. Cho đến một đêm du
kích mai phục vây nhà bắt Bình khi anh lẻn về thăm vợ vì họ nghe nói đêm nay
Loan không ra tiếp tế được vì Bình hẹn về. Hai gã du kích đã bắt sống Bình và
lôi chàng qua bên kia sông. Hai ngày sau, họ tuyên bố xử tử chàng và thông báo
anh em đi xem xử án ban đêm. Quân quốc gia hoàn toàn bất ngờ không ứng cứu kịp.
Ông Hòa cay đắng khi nghe Ba Công nói: “Ông có đi coi trảm thằng em ông không?
Bọn Tề ngụy này giết sạch đi đất nước này mới độc lập được.” Ông lắc đầu: “Tao
bị sốt, mày đi đi.” Ông nằm ở lại chòi lá, hai dòng lệ tuôn trào. Ông nhớ gương
mặt Bình hồi còn nhỏ. hai anh em chơi đánh đáo và chơi u, ông khỏe hơn nên vật
nó té hoài. Nó cứ la lên: “Anh hai chơi ăn gian!” Bao nhiêu là kỷ niệm! Ông
quặn lòng khi nghe thằng Trường du kích xã nói: “Ghê quá ông ơi, chặt tới ba
lần cái đầu nó mới đứt, đầu nó cứng hay dao cùn hổng biết?”.
Ông
không dám về nhà nhìn mặt mẹ cha. Có một đêm ông lẻn về lấy đồ, gặp mẹ, mặt bà
lạnh băng: “Tụi bây giải phóng kiểu gì mà ác thấy mẹ!”.
Ông cúi đầu, quỳ xuống: “Con xin má bớt
buồn. Con không làm gì được hết má à! Tổ chức buộc tội thằng Bình. Con thề
trước vong linh nó, con không giết em con.” Sau đó ông ít về thăm nhà, mà gia
nhập quân đội chính quy, vào các sư đoàn lớn hơn, mở rộng trận địa chiến đấu
cho đến ngày giải phóng, ông đã mang quân hàm đại úy. Còn Loan sau khi Bình bị
giết đã bỏ lên Sài Gòn và không có tin tức gì. Cô không còn làm giao liên vì
căm hận, vì cảm thấy lý tưởng bị phản bội dù không yêu Bình nhưng cô không tha
thứ cho những người giết chàng.
Ông
tiếp tục cuộc hành trình theo con đường cách mạng lên đến trung tá, giữ nhiều
địa vị quan trọng trong quân đội nhưng ông cũng cảm nhận nỗi bất hạnh của riêng
mình khi cuộc hôn nhân chính thức của ông với một nữ cán bộ ngoài Bắc vào sau
ngày giải phóng lại không được suôn sẻ vì cô ấy làm trong một công ty thương
mại, lợi dụng chồng là một sĩ quan chỉ huy nên cô đã dùng xe ông và uy tín ông
buôn lậu và thực hiện nhiều thương vụ chuyện khuất tất sau lưng ông. Ông khuyên
bảo cô nhiều lần nhưng nàng chỉ bĩu môi: “Đứng dạy con này làm quan phải liêm
nhé, chẳng khác nào nói gái điếm còn trinh.” Nhưng ông nhịn nhục vì hai đứa con
đang lớn, chi tiêu nhiều mà lương ông cũng chưa thấm vào đâu so với mức xài của
cô ấy và hai đứa con nhất là thằng Long, con trai lớn. Nó được mẹ chiều, chu
cấp nhiều nên đâm ra nghiện ngập, hút xách, lêu lổng chẳng chịu học hành, khiến
cho ông nhiều đau khổ. Trời còn vùi dập con tim đang không vui của ông khi đứa
con gái Loan Nhi ngoan ngoãn chăm chỉ thì lại bất ngờ ra đi trong một ngày
thành phố chuẩn bị phong tỏa vì cô- vít. Cô xách xe đi mua rau nhưng đi vội
không mang mắt kính dù bị loạn thị nặng, thế là tông vào con lươn ngã rồi chết
ngay. Khi ông đi tìm cô, đến chỗ người ta bu lại, ông đã linh cảm điềm chẳng
lành và quả nhiên ông thấy gương mặt khả ái của Loan Nhi bê bết máu… Ông gục
xuống như bị ai bắn sau lưng. Quá thất vọng ông không biết tìm đâu ra sự khuây
khỏa cho nỗi đau buồn trong lòng mình. Cùng với nỗi cô đơn như vết thương mưng
mủ khi nhìn thằng Ba Công, du kích xã bây giờ là Tổng giám đốc một công ty quốc
doanh quặt quẹo mà nhà nó thì như biệt phủ. Xung quanh ông không thấy lí tưởng
ngày xưa khi bạn bè chỉ chạy theo quyền lực, theo những phi vụ làm ăn và giẫm
đạp lên tất cả. Họ vì bản thân họ nhiều hơn là vì một lý tưởng cao đẹp mà họ đã
từng rao giảng. Chú Năm Điệp sau này đâm ra lẩm cẩm suốt ngày cứ càm ràm cái
đám con nít cách mạng này làm hỏng bét cả cơ đồ, làm lãng phí tài nguyên đất
nước, xói mòn lòng tin nhân dân…
Cho
đến hôm giỗ cha, ông mạnh dạn về vì tin rằng mọi người sẽ nhìn nhau bằng cặp
mắt khoan dung hơn. Khi ông bước vào, họ cũng chào hỏi, sẵn họ cho ông biết
thím Loan bên Mỹ cũng về. À hóa ra Loan đi nước ngoài, không biết theo diện gì?
Ủa, anh hổng biết hả? Thằng Trường du kích bây giờ là Chủ tịch Câu lạc bộ hưu
trí nói: “Thím đi theo thằng Hợp. Nó học giỏi lắm, được học bổng qua bển rồi
lấy vợ, vô quốc tịch, rước mẹ sang. Mấy năm rồi bả nuôi nó cũng cực khổ trần
thân. Hồi nhỏ nó bệnh dữ lắm!”.
Và
ông bàng hoàng khi gặp Hợp trong ngày giỗ. Thằng bé hơn 30 cao ráo đẹp trai
thành đạt ở xứ người. Gương mắt của nó giống ông nhiều hơn Bình. Sóng mũi cao,
ánh mắt sáng nhưng thân thiện hơn ông vì ngày xưa ông cũng là một người đàn ông
quyến rũ đối với các cô thôn nữ. Ông muốn nắm tay nó, muốn hôn lên vầng trán
thông minh của nó muốn nói cho nó biết rằng chính ông mới là người sinh ra nó.
Ông mới là người cha ruột của nó. Ông muốn được một lần nó nhìn nhận điều đó.
Nhưng ông ngại. Ông sợ khi ông nói với Loan ý định đó thì cô ta nhìn ông với
ánh mắt căm thù nói rằng chính các anh đã giết anh Bình, rằng các anh là những
kẻ miệng rêu rao cách mạng nhưng hành động hết sức tàn ác và không có sự nhân
nhượng ở đây đâu anh đừng hy vọng gì hết tôi không bao giờ để nó nhìn mặt anh.
Nên ông chỉ nhìn lén thằng Hợp, lòng vui nhưng cũng phảng phất chút buồn và
tiếc nuối. Ông bước đến gần nó, nhẹ nhàng dù cũng hơi run rẩy: “Ở bển dìa hả
con?” Hợp lí nhí: “Dạ, Bác Hai phải hôn?” Loan từ xa nhìn thấy, nàng bước lại
và nói: “Hợp dô thắp nhang cho ông nội đi con.” Và nói giọng chỏng trơ: “Anh
khỏe hôn?” Hòa bối rối: “Cảm ơn thím, cũng hổng khỏe mấy. Bệnh lai rai hoài.”
Ông không dám kể ông bị đủ thứ bệnh trong người từ tiểu đường đến thấp khớp lại
thêm suy thận nên thời gian còn lại trong cuộc đời này không còn nhiều. Ông
muốn thằng Hợp quay trở về nhìn nhận ông một lần để ông thanh thản ra đi không
biết lúc nào. Nhưng ông như cứng họng ấp úng hồi lâu rồi trở về bàn, ngồi thừ
ra, ăn uống qua loa rồi cáo từ. Ông đi ngang qua Loan nói: “Hôm nào rảnh em cho
cháu ghé nhà anh chơi?” Loan nói: “Hổng hứa anh à! Mai nó đi thăm mộ ba nó,
xong em đưa nó ra Huế chơi cho biết rồi chuẩn bị về Mỹ. Nó được nghỉ có mấy
tuần à!” Ông khẽ hỏi: “Nhìn sông Potomac, thím có nhớ sông Vàm Cỏ không?” Loan
cúi đầu, khẽ nói: “Làm sao quên được, em lớn lên ở đó mà!” Rồi lùi vào trong.
Thì ra ngần ấy năm Loan vẫn không lấy chồng, ở vậy nuôi con, phí cả một thanh
xuân. Ông thấy tiếc cho nàng.
Ông
bước ra phía trước nhà. Cũng con sông Vàm Cỏ, con sông đưa cuộc đời đi đến
những chân trời vô định, lòng ông thả trôi như bóng mây lặng chìm trong nước.
Nhớ bài hát trong kháng chiến “Anh mãi gọi với lòng tha thiết/Vàm Cỏ Đông, ơi
Vàm Cỏ Đông”. Dòng sông ấy đã loang máu bao thế hệ vì những cuộc chiến nhiều
khi ông không biết có ý nghĩa gì không? Chiến tranh đã làm vết xước trong ông
không lành được khi nhớ đến Bình. Mình như có tội với Loan với cả thằng Hợp.
Ông
bỗng nảy ra một ý định điên rồ là nhờ cô Thắm, chị của Loan đứng ra dàn xếp nói
hộ làm cách nào đó để thằng Hợp nó nhìn mặt ông một lần trước khi nhắm mắt
không biết có được không. Nghe đám nhỏ rộn ràng mở karaoke hát, có đứa hát vọng
ra.
Dòng
sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa
thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng
hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về
đồi sim, ta nhớ người vô bờ.
Đồi
sim hay triền sông bông điên điển? Ông nghe như nó đang nói hộ lòng mình.
Ngày
mai ôi những ngày mai lặng lẽ, với những buổi chiều ngồi trước dòng sông, cái
dòng sông cuồn cuộn cuốn trôi cả những niềm vui. Ông thấy đắng miệng. Nhớ Loan
Nhi, hình như ông đã khóc…
Nguyên Cẩn