Tôi vừa đọc xong tuyển tập
nhiều tác giả này, sau nhiều tháng để đọc khi thư thả. Đôi khit ôi dừng lại vài
ngày, khi đọc tới những trang về một văn nghệ sĩ đã ra đi, những người đi trước
mình về cả văn học và tuổi đời, như khi nhớ tới Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Vũ
Huy Quang, Nghiêm Xuân Hồng, và nhiều người khác. Bởi vì chữ đã gợi lại hình ảnh
của họ trong ký ức của tôi. Tuyển tập 50 năm văn học này có quá nhiều ký ức là
như thế, hẳn là nhiều độc giả khác cũng sẽ thấy tương tự.
Danh sách các tác giả
trong tuyển tập “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại”
là, xin liệt kê nơi đây: Lê Thị Huệ, Nguyễn
Thụy Đan, Phan Thị Trọng Tuyến, Phan Thanh Tâm, Vũ Tiến Lập, Ngu Yên, Đài Sử, Phan
Tấn Hải, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Tuấn Huy, Nguyễn Đức Tùng, Quỳnh Iris Nguyen-De
Prelle, Phan Tấn Uẩn, Vũ Hoàng Thư, Trần Nho Bụi, Thế Dũng, Trần Hạ Vi, Đặng Thế
Kiệt, Bùi Văn Phú, Trịnh Gia Mỹ, Trần Quí-Phiệt, Penelope Faulkner Ỷ Lan, Đỗ
Trường, Phạm Chu Thái.”
Tôi không phải là nhà
phê bình văn học, thêm nữa các bài viết trong tuyển tập đa số là có chủ đề nhìn
về một quãng đường dài nửa thế kỷ văn học hải ngoại, nên cảm nhận nơi đây sẽ rất
là chủ quan, không đủ bao quát, không nêu được đặc sắc riêng của từng ngòi bút.
Nơi đây sẽ là đọc kiểu nhà báo, là những người trong đời thường rất bận rộn,
luôn luôn cứ phải viết cho xong các trang báo để gần tới giờ đóng cửa tòa soạn mỗi
ngày là chuyển bài vở xuống nhà in để ấn hành. Nghĩa là, bài viết sẽ thiếu sót,
nhưng hy vọng cho độc giả một cái nhìn tổng quan về tuyển tập “Tự Do Cùng
Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại.”
Thế là tôi viết bài cảm
nghĩ khi đọc là tháng 10/2026... về nửa thế kỷ văn học hải ngoại kể từ 1975. Thế
rồi, văn học tiếng Việt ngoài nước Việt đã từ từ hình thành một không gian sáng
tạo rộng lớn, đa dạng và sống động. Từ những cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ,
Canada, Pháp, Đức, Anh, Úc, Bỉ, Hòa Lan, Bắc Âu và nhiều quốc gia khác, tiếng
Việt vẫn tiếp tục được viết, được đọc, được yêu thương, được tranh luận, được
gìn giữ và đổi mới từng ngày. Nói một cách “nghiêm và buồn” thì tuyển tập “Tự
Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại” ban đầu là một sáng
kiến của nhà văn Lê Thị Huệ và nhà thơ Vũ Hoàng Thư (theo tôi nhớ), là nỗ lực tập
hợp một số tiếng nói văn học còn lại như một cuộc hội ngộ xuyên thế hệ, xuyên
biên giới và xuyên kinh nghiệm sống.
Nhan đề sách có lẽ đã
nói lên tinh thần cốt lõi của toàn bộ công trình: tự do và ngôn ngữ. Vâng, tự
do. Đối với nhiều người Việt lưu vong, di dân hay định cư xa quê hương, tiếng
Việt không chỉ là một phương tiện truyền thông. Tiếng Việt còn là ký ức, là quê
hương, là gia đình, là tuổi thơ, là căn tính văn hóa. Nói cho lãng mạn, tiếng
Việt là chiếc cầu nối những thế hệ sinh ra tại Việt Nam với những thế hệ lớn
lên tại California, Paris, Berlin, Sydney hay Brussels. Và chính trong không
gian tự do của nhiều xã hội dân chủ, tiếng Việt đã có cơ hội đi vào những vùng
sáng tạo mới, nơi nhà văn được quyền viết điều mình nghĩ, nhà thơ được quyền chọn
hình thức mới, và người đọc được quyền tiếp cận những góc nhìn khác nhau của đời
sống. Mà không cần xin phép bất kỳ ai.
Trong một trích đoạn từ
bài viết của Lê Thị Huệ, nhà văn nữ này đã mô tả văn học hải ngoại như một cuộc
khai phá ngôn ngữ bên ngoài địa lý Việt Nam, một thứ ngôn ngữ được sinh thành tại
Berlin, Melbourne hay Bolsa, mang đặc điểm riêng của các vùng đất mới. Theo bà,
chính quyền tự do lựa chọn đã tạo điều kiện cho văn chương hải ngoại phát triển
theo những hướng khác biệt và đa nguyên hơn.
Hiển nhiên, người đọc sẽ
thấy điều đáng quý nhất của tuyển tập này có lẽ nằm ở tính đa dạng. Các tác giả
đa dạng về lứa tuổi, về xuất thân, về tôn giáo, quan điểm chính trị, kinh nghiệm
sống và cả phong cách văn chương. Người đọc sẽ thấy các tác giả có những người
từng trải qua chiến tranh, tù cải tạo, vượt biển và lưu vong. Nhưng cũng có những
người sinh ra tại nước ngoài, lớn lên bằng hai hay ba ngôn ngữ, mang trong mình
kinh nghiệm của một thế hệ hậu chiến. Có những nhà văn trưởng thành trong nền
giáo dục Việt Nam Cộng Hòa. Có những tác giả xuất thân từ miền Bắc Việt Nam rồi
định cư lâu dài ở châu Âu. Có những cây bút trẻ lớn lên hoàn toàn trong môi trường
phương Tây nhưng vẫn lựa chọn tiếng Việt như một ngôi nhà tinh thần để trở về
(và kỳ lạ, như Nguyễn Thụy Đan tìm học về chữ Nôm, một chữ cổ mà bản thân tôi
đã theo học rồi chịu thua). Thế đấy, các tác giả đang cư trú tại nhiều quốc gia
khác nhau, tạo nên một bản đồ sinh động của văn học Việt Nam toàn cầu.
Đọc tuyển tập này, độc
giả sẽ bắt gặp nhiều dòng chảy văn học cùng hiện diện.
Đó là dòng văn học ký ức
và lịch sử. Những trang hồi tưởng của Phan Thanh Tâm đưa người đọc trở lại buổi
chiều 30 tháng 4 năm 1975 với những rung chấn sâu xa của một xã hội đổi thay, của
những gia đình chia cắt và những hành trình di dân bắt đầu từ biến cố lịch sử ấy.
Đó là dòng văn học lưu
vong. Trong những dòng thơ xuôi của Đài Sử, hành trình vượt biển hiện về với
bão tố, cướp biển, đói khát và nỗi mong manh của thân phận con người giữa đại
dương. Những trang viết ấy không chỉ là tư liệu lịch sử mà còn là chứng từ tinh
thần của một thế hệ đã phải đánh đổi rất nhiều để tìm kiếm tự do.
Đó cũng là dòng văn học
gìn giữ ký ức văn hóa. Khi Vũ Hoàng Thư viết về công trình sưu tầm và phục hồi
di sản văn học miền Nam của Trần Hoài Thư, người đọc nhận ra rằng văn học hải
ngoại không chỉ sáng tác cái mới mà còn đóng vai trò như một kho lưu trữ ký ức
cho cả một nền văn học từng có nguy cơ biến mất.
Nhưng tuyển tập không chỉ
nhìn về quá khứ. Một trong những nét đẹp nổi bật nhất của cuốn sách là sự hiện
diện của các thế hệ trẻ. Như hình ảnh về Nguyễn Thụy Đan: một gương mặt sinh
trưởng tại Bắc California, yêu tiếng Việt từ những lời kinh Công giáo của bà
ngoại, rồi đi vào con đường nghiên cứu lịch sử Việt Nam tại các đại học danh tiếng
của Hoa Kỳ. Câu chuyện ấy cho thấy tiếng Việt không chỉ thuộc về những người
sinh ra tại quê nhà mà còn được truyền lại cho các thế hệ mới thông qua gia
đình, ký ức và tình yêu văn hóa.
Như nhà thơ trẻ Quỳnh
Iris Nguyen-De Prelle, đang sống ở châu Âu, lại mang đến một giọng nói khác.
Thơ của chị cho thấy sự liên hệ tự nhiên giữa người Việt hải ngoại với các biến
động xã hội và chính trị của một thế giới cùng rung chuyển liên kết. Đó là tiếng
nói của một thế hệ toàn cầu hóa nhưng vẫn viết bằng tiếng Việt.
Trong khi đó, Trần Hạ Vi
đại diện cho một hiện tượng văn chương của thời đại mạng xã hội. Chị tự nhận
mình được tạo nên từ Facebook, sống và viết chủ yếu trên Facebook. Điều này cho
thấy văn học tiếng Việt hải ngoại không đứng yên trong các khuôn khổ truyền thống
mà luôn thích nghi với những công nghệ và phương thức xuất bản mới.
Bạn sẽ thấy (tôi hơi chủ
quan để nói) rằng có lẽ ít tuyển tập nào thể hiện được sự đa dạng về thể loại
như cuốn sách này. Ở đây có khảo luận văn học (tuyệt vời là Lê Thị Huệ, Nguyễn
Đức Tùng), hồi ký (tuyệt vời là Phan Thanh Tâm, Phan Thị Trọng Tuyến và Bùi Văn
Phú), phóng sự, biên khảo (tuyệt vời là Trần Quí Phiệt), tiểu luận văn hóa (tuyệt
vời là Bùi Vĩnh Phúc), thơ trữ tình (tuyệt vời là các trích đoạn thơ Trân Sa,
Cao Tần), hội họa (tuyệt vời là Trần Nhọ Bụi), thơ (tuyệt vời là Đài Sử, Hoàng
Xuân Sơn, và trích thơ Quỳnh Iris Nguyen-De Prelle) và nhiều nữa, không thể kể
cho đầy đủ...
Tuyển tập như thế, có thể
hình dung là một cuốn sách lặng lẽ nằm trên mặt bàn. Khi tôi mở sách ra, mọi
chuyện y hệt như một buổi hội ngộ văn nghệ sĩ, nơi đó tuần tự mỗi người lên nói
về chuyện văn học 50 năm qua, nơi đó có những dòng chữ mang tính học thuật, có
những trang ký ức rất đời thường, có tiếng nói của nhà báo, có giọng nghiêm và
buồn của học giả, có tiếng cười sảng khoái của nhà thơ... Nhiều bài viết không
chỉ bàn về văn chương mà còn kể lại những cuộc gặp gỡ, những tình bạn, những
sinh hoạt văn nghệ đã góp phần tạo nên đời sống văn học hải ngoại suốt nhiều thập
niên.
Qua các hồi ức của Phan
Thị Trọng Tuyến, Phan Tấn Hải, Trịnh Gia Mỹ hay nhiều tác giả khác, người đọc
có dịp gặp lại những tên tuổi quen thuộc như Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Huy
Quang, Nghiêm Xuân Hồng, Kiều Duy Vĩnh, Vũ Thư Hiên và nhiều nhân vật đã góp phần
định hình sinh hoạt văn học Việt Nam trong và ngoài nước. Tuyển tập không né
tránh những chủ đề từng bị xem là nhạy cảm.
Các bài viết trong sách
mở ra nhiều không gian đối thoại: từ chính trị, lịch sử, nội chiến Nam-Bắc VN,
lưu đày, căn tính, ngôn ngữ, cho tới văn học đồng tính và những tìm kiếm cá
nhân về tự do biểu đạt. Điều đó phản ánh đúng bản chất của một nền văn học trưởng
thành trong môi trường đa nguyên. Thay vì chỉ có một tiếng nói duy nhất, độc giả
bắt gặp nhiều tiếng nói cùng tồn tại, đôi khi tương đồng, đôi khi khác biệt,
nhưng cùng chia sẻ một tình yêu đối với tiếng Việt.
Có thể nói rằng năm mươi
năm văn học tiếng Việt hải ngoại là năm mươi năm của sự gìn giữ, cũng là 50 năm
của đổi mới, của khám phá tiếng Việt, một ngôn ngữ bị các tác giả tạm gác qua một
bên trong đời thường khi họ phải học tiếng nước người khi phải mưu sinh. Những
dòng chảy ngôn ngữ hòa lẫn trong chữ viết của các tác giả. Gìn giữ ký ức, nhưng
không chỉ sống với quá khứ, không ngại bước vào tương lai.
Trong bài viết về thơ hải
ngoại, Nguyễn Đức Tùng nhận định rằng thơ không giải quyết các vấn đề của thời
đại nhưng có thể làm cho con người dấn thân hơn bằng trí thức và cảm xúc, giúp
họ tìm lại nhau trên hành trình đi tìm tự do, đi tìm đoàn kết dân tộc và những
giá trị nhân loại. Nhận định ấy có lẽ cũng tóm lược tinh thần chung của các tác
giả.
Chính tiếng Việt đã biến
những cộng đồng xa quê thành một không gian văn hóa chung vượt lên trên biên giới
quốc gia. Vì thế, tuyển tập “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt
Hải Ngoại” không đơn thuần là một tuyển tập văn chương. Phần nào, đó còn là
một hồ sơ văn hóa hải ngoại của nhiều tác giả Việt Nam trong nửa thế kỷ vừa qua,
ghi lại những mất mát, những khổ đau, những chuyến ra đi và những cuộc đoàn tụ.
*
Sau đây, xin chép lại một
số trích đoạn. Nơi đây người viết bài điểm sách này đã dùng kỹ thuật scan để lấy
từ trang sách giấy một số đoạn cần trích để đưa vào bài viết này.
Trích đoạn bài “Vài Nét
Về Sự Khai Phá Nền Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại” của Lê Thị Huệ, trang 10: “Văn
Học Hải Ngoại là một phiêu lưu khai phá nền sáng tác mới. Ngôn ngữ viết ở ngoài
địa lý Việt Nam. Ngôn ngữ người Việt ở Berlin. Ngôn ngữ đẻ ra ở Melbourne. Ngôn
ngữ khởi dậy ở Bolsa. Dù dưới hình thức nào thì đây là thứ ngôn ngữ tạo dựng
khai phá ở vùng đất mới với quốc tịch bật lên tài sản riêng. Chứ không phải
ngôn ngữ chấp nhận. Chọn lựa hay được quyền chọn lựa tự do làm cho văn chương Hải
Ngoại cách biệt hơn văn chương Việt ở Việt Nam một đẳng cấp. Viết ở Hải Ngoại
không bị các cơ quan nhà nước kiểm duyệt và cho phép viết gì thì mới được viết...”
Lê Thị Huệ nói về thơ
Cao Tần, trích trang 19:
“Thư quê hương như
tên hề ốm nặng
Hồn tang thương sau mặt
nạ tươi cười
Son phấn hán hoan phủ
nghìn cay đẳng
Mắt lệ đầy, miệng bát những
lời vui...”
Lê Thị Huệ nói về Văn
chương Đồng Tính nơi trang 28, bài “Của Linh Hồn”, thơ Trân Sa:
“Tôi đã hẹn gặp em trong
giấc mơ,
Và em, kẻ chẳng bao giờ
phụ lòng tôi,
Em đã tới. Đã ngọt ngào
nằm xuống bên tôi,
Đã âu yếm kề tay cho tôi
gối.
Đôi mắt đen láy của em
tôi đã được nhìn một lần nữa.
Và một lần nữa, em đã
cho tôi nghe tiếng nói.
Một lần nữa em đã
Duỗi chiếc chân ăm áp để
gác lên mình tôi.
Một lần nữa tôi lại vùi
mặt mim cười
Trong tóc em thơm ngát...
Đêm nay tôi lại thèm gặp em biết bao
Trong giấc mơ. Và em, kẻ
chẳng bao giờ phụ lòng tôi,
Em hãy tới. Tôi sẽ đi sớm
hơn hôm qua,
Về điểm hẹn của chúng
ta.” (ngưng trích)
Nhà văn Phan Thị Trọng
Tuyến viết bài “Tản Mạn 50 Năm... Văn Học Hải Ngoại,” trong đó có viết về Vũ
Huy Quang, trích trang 80: “Đó cũng là những ngày cuối cùng ở Garden Grove
hay Westminster, tôi gặp anh Vũ Huy Quang. Hai anh em ngồi uống cà phê, nói
chuyện chẳng đầu đuôi, xen kẽ những câu anh mắng nhiếc "chúng nó".
Anh chỉ chiếc xe anh mới mua, xì port, rất độc thân, anh lái đi về đây từ chỗ
anh ở Pacifica, dẫn chúng tôi về nhà khoe tượng Phật thời cổ. Anh nói anh đang
bệnh nặng được chăm sóc có cô bạn chăm lo sức khoẻ thuốc men. Không dám hỏi tới
nhưng tôi nghĩ là mình ý thức được căn bệnh ấy, dù tôi không nhìn thấy nó, anh
vẫn cười nói rất có duyên, kể chuyện vui của "chúng nó"...”(ngưng
trích)
Cũng trong bài Phan Thị
Trọng Tuyến có chỗ viết về kỷ niệm với Kiều Duy Vĩnh, trích nơi trang 87:
“Lần ghé thăm Kiều
Duy Vĩnh rất đáng nhớ. Anh ái ngại khi thấy sự bàng hoàng của tôi: lần đó tôi đến
thăm anh theo địa chỉ anh Vũ Thư Hiên cho, khi anh đưa tôi ra khỏi ngõ nhà anh,
thì một đứa bé độ mươi mười hai tuổi, từ phía sau, vượt bước ngang ra, nhổ toẹt
trước mặt chúng tôi một bãi nước bọt. Anh kéo tay tôi, an ủi: "trẻ con Hà Nội
bây giờ mất dạy thế đấy, em đừng chú ý".
Thật ra tôi xốn xang vì
lòng căm thù khinh khi biểu lộ ở đứa bé này. Hẳn là anh Vĩnh đang bị canh giữ,
theo dõi từ ngày bị kết án "xét lại". Nếu là công an chuyên nghề canh
cửa phản động xét lại thì nói gì, nghiệp vụ của họ thôi, nhưng đây là một đứa
bé, con cái nhà hàng xóm, và thời bấy giờ, 1997, đất nước thanh bình và thống
nhất, hòa giải và hòa hợp. Hoá ra anh vẫn bị bị trù dập, quản thúc theo dõi từ
những năm cuối 1960, anh thuộc nhóm phản động, xét lại, những người khi đó chưa
hẳn thuộc về muôn năm cũ, giỏi tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tàu, như Lê Bầu, Vũ
Huy Cương... như nhóm Nhân Văn giai phẩm trước họ, những con người bị truy cùng
quét tận với những bản án chung thân khổ sai không thành văn.”(ngưng trích)
Trong bài “Dòng Đời Đưa
Đẩy,” nhà báo Phan Thanh Tâm kể lại một kỷ niệm, trích trang 104:
“Chiều ngày đó
30/4/1975 tôi rời sở VTX (Việt Nam Thông Tấn Xã), nằm trên đường Hồng Thập Tự,
bên hông dinh Độc Lập cùng lúc với anh cảnh sát Rớt. Trên đường về, tôi thấy có
vài xác chết nằm vất vưởng bên lề đường và vài chiếc xe jeep bị bắn cháy. Sau
đó Saigon hoảng loạn.
Cả một xã hội bị bật gốc.
Thất nghiệp tràn lan. Bạn bè kẻ bị tù tội, kẻ trốn chui trốn nhủi. Tôi phải tìm
đường vượt biên. Đất nước hoà bình và thống nhất sao lại bỏ nước ra đi? Hoà
bình nhưng chỉ có hoà bình cho kẻ thắng cuộc. Bên thua cuộc, sống trong lo sợ,
hơn cả thời đại bác đêm đêm dội vào thành phố. Dân Nam thành công dân hạng hai.
Tôi có ba ông anh, một
bà chị xa cách từ năm 1945, ba người ở Hà nội vô, gặp lại (một anh đi bộ đội
qua đời vì phi cơ Pháp năm 1951). Đúng là 30 năm mới có ngày này. Sau đó anh đường
anh, tôi đường tôi. Tình nghĩa chúng tôi vẫn tốt thôi. Không có hoa hợp hai miền.
Hơn nữa, chính quyền mới giở đủ trò ăn cướp: quy chụp phản động, Việt gian, đày
đọa giới trí thức trung lưu miền Nam qua học tập cải tạo, bắt đi kinh tế mới, đổi
tiền, đánh tư sản mại bản, bao cấp cơ chế, độc tài đảng trị, đốt sách báo, phân
biệt đối xử trong công ăn việc làm và nhất là chính sách ngăn chặn việc học
hành của các công dân miền Nam, đã khiến "cột đèn cũng muốn bỏ nước ra đi.
Một bi kịch cuộc nội chiến là khi tôi rời sở cạnh dinh Độc Lập chiều ngày 30/4
cũng là lúc anh tôi vô dinh Độc Lập. Ông vô Nam để tiếp thu Bộ Giáo dục...”(ngưng trích)
Nhà thơ Đài Sử trong bài
thơ xuôi, dài, nhan đề “50 Năm, Lưu Vong Và Tiếng Việt,” trích nơi trang 143:
“còn nhớ. từng bước.
từng người. chúng tôi đi. chúng tôi vượt biển, tìm một vùng đất khác. tìm những
con người khác. và cái giá phải trả. nó thật quá đắt.
45 người, trên một con
tàu. dài 25 mét. ngang 8 mét, gần cả tháng lênh đênh trên biển. bị cướp, mất
phương hướng. bão tố. cạn kiệt đồ ăn thức uống
đêm. đêm kín mịt. một
màu đen kịt. cái đen của một con quái vật. không hình dáng
rồi mưa. bão. những lằn
chớp. cắt xé tấm màn đen. xé vụn cái màu đêm bưng bít
ôi. ôi. những cột nước
cao ngất trời. con tàu nằm trên đầu ngọn sóng. nó chơi vơi quá. rồi rơi xuống,
tiếng gầm của mưa. tiếng thét của gió. tiếng sôi sục của biển. 45 con người xào
xốc vào nhau. nước biển. nước mưa. nước mắt. và máu. địa ngục chắc cũng chỉ có
vậy. con người sao quá nhỏ bé, một đen kín bủa vây, một sâu hoắm không đáy...”(ngưng trích)
Nhà văn Phan Tấn Hải
trong bài “Hạnh Phúc Là Đang Sống Với Chữ,” cũng kể lại một kỷ niệm với Vũ Huy
Quang và cụ Nghiêm Xuân Hồng, trich trang 160:
“...Có nhiều năm, người
tôi gần gũi nhất là Vũ Huy Quang. Anh có khiếu nói chuyện tuyệt vời, ứng biến nhanh
nhẹn của dân Hà Nội. Nhưng vì lòng anh cực kỳ thơ mộng, nên Vũ Huy Quang có lẽ
là người thường trực kẹt tiền, xe hư và công việc đổi liên tục giữa những thời
gian dài thất nghiệp. Những năm cuối đời, Vũ Huy Quang sống nhờ công việc chăm
sóc mẹ (chính phủ California trả lương cho người thân chăm sóc). Vũ Huy Quang
là người có vài mối tình thơ mộng nhất cõi này, và cũng rất mực sóng gió; dĩ
nhiên tôi không kể ra làm chi. Khi cụ Nghiêm Xuân Hồng còn sinh tiền, cứ mỗi
tháng, khi lãnh tiền già xong, cụ Hồng điện thoại, bảo anh Vũ Huy Quang rủ Phan
Tấn Hải ra quán ăn cơm, một hình thức cụ Hồng làm từ thiện (mà đúng ra, phải gọi
là bố thí). Trong những buổi cơm trưa hàng tháng đó, không phải cơm chay, mặc
dù cụ Nghiêm Xuân Hồng đang giảng kinh hàng tuần ở một ngôi chùa và tôi vẫn viết
những bài nghiên cứu về Phật học, phần lớn là anh Vũ Huy Quang nói chuyện.
Ngôn ngữ anh Quang là cực
tả, nhưng không nên hiểu là cộng sản, chỉ nên hiểu như tư tưởng của Bernie
Sanders trên chính trường Hoa Kỳ. Cụ Nghiêm Xuân Hồng thì thoát tục rồi, thường
là ngồi im lặng cười (tôi không nghĩ là cụ lắng nghe gì cả, bởi vì cụ có vẻ như
thường trực đang sống trong cõi Phật nào đó)...”(ngưng trích)
Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn
trong bài “Tôi Viết” đã ghi nhận, trích nơi trang 171: “Nhớ một lần trò chuyện
văn nghệ trên Gió-O, có câu hỏi là: Bạn có tin là thi ca có thần cú không?
Câu trả lời (đại ý) là Có. Trong đời làm thơ bạn thỉnh thoảng viết được những
câu hay, tuyệt bút. Nhưng đó chẳng phải là thần cú trời ban cho. Mà chỉ là do
công phu hàm dưỡng tu tập của bạn. Thần cú ấy đã nằm trong tiềm thức bạn. Và kịp
thời xuất phát đúng lúc đúng chỗ mà thôi!”
Sau đây là một nhà thơ
thế hệ trẻ (thế hệ 8x), Quỳnh Iris Nguyen-De Prelle đang định cư ở Châu Âu
nhưng thi ca của chị vẫn có lúc nhìn về chính trị Hoa Kỳ. Một bài thơ của chị
nơi trang 235, trích như sau:
“Như một người không
bao giờ chọn Trump
Như một người vi phụ nữ
và trẻ em
Như một người tự kỷ vô hại
và tài năng
Yêu thương vô điều kiện
Không tranh chấp và biết
ngẳng cao đầu
Không ngừng đầu tranh vì
ngày hôm nay, ngày mai tốt đẹp hơn...”(ngưng trích)
Trong bài “50 Năm
Sau...” nhà thơ Vũ Hoàng Thư viết về nhà văn Trần Hoài Thư, người gom lại những
trang giấy đang bị đốt ở quê nhà, trích nơi trang 262:
“...Không thể không
nhắc đến nhà văn Trần Hoài Thư một mình một ngựa, gìn vàng giữ ngọc bằng cách
sưu tầm và phổ biến lại tài liệu, văn thơ của văn học Việt Nam Cộng Hòa trước
1975. Hà nội chẳng thể tiêu diệt được nền văn học đó với chính sách đốt sách vở,
học đòi chiêu thức phần thư khanh nho từ thời Tần Thủy Hoàng, từ đám vệ binh đỏ
Maoism sau khi "giải phóng" miền Nam. Nền văn học đó vẫn hiên ngang tồn
tại ở hải ngoại.”
Trần Hạ Vi là một tác giả
trẻ, trong bài “Sống Và Viết Trên Facebook” đã tự nhìn về bản thân chi, trích
đoạn cuối, nơi trang 311:
“...Trần Hạ Vi là một
cái tên được tạo nên từ facebook, sống và viết chủ đạo ở Facebook. Rồi tôi có
tiếp tục sử dụng Facebook không, hay tôi sẽ làm gì khi Facebook đóng cửa như
Blog Yahoo 360 ngày xưa? Không có chuyện gì trên đời này là không thể xảy ra.
Tôi chỉ tin rằng ngọn lửa tình yêu văn thơ đã được khơi lên từ cuối năm 2015,
giấc mơ quý giá của bản thân tôi, tiếng Việt của tôi và tự do của tôi sẽ theo
tôi đến suốt cuộc đời.”
Tác giả Bùi Văn Phú,
trong bài viết “Tiếng Mẹ Đẻ, Tiếng Anh Của Tôi” đã tự nhìn về mình, trích nơi
trang 348:
“Tôi được học dưới
mái trường Việt Nam Cộng Hoa nên viết "Thuỷ Quân Lục Chiến" chứ không
viết "Lính thuỷ đánh bộ", "trực thăng" thay cho "máy
bay lên thẳng", "phi công" chứ không phải "giặc lái",
"Bạch Ốc" thay cho "Nhà Trắng" v.v... Tôi viết "nước Mỹ",
không phải "nước Mĩ, "Hoa Kỳ" không phải "Hoa Ki". Giới
chức trong nước soạn chương trình học tiếng Việt đổi i dài thành i ngắn đã đưa
đến chuyện cười ra nước mắt, như tên Thanh Thuý.”
Nhà thơ Trịnh Gia Mỹ
trong bài “Những Mối Duyên Văn Nghệ Với Văn Chương Hải Ngoại” đã kể lại vài kỷ
niệm, trích trang 359:
“Hôm lễ tang Mai Thảo
ở Peek Family, hiện diện hầu hết những người yêu mến Ông. Cây tích trượng gõ mạnh
xuống nền gạch của Hòa Thượng Mãn Giác như tiếng chuông thức tỉnh người nằm đó
và cho cả người sống. Sinh ký, tử quy. Từ nay, "nơi góc tường sẽ không cỏn
in cái bóng gầy" nữa. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác buồn bã, "Mai Thảo là
người cô đơn nhất trong thế giới lưu vong".
Dường như căn nhà ở đường
McClure, thành phố Westminster, của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là nơi mà tôi được
gặp nhiều người viết nhất trong dòng văn học hải ngoại...” (ngưng trích)
Nhà văn Đỗ Trường, sinh
năm 1960 ở Miền Bắc khi Việt Nam còn chia đôi và đi lao động ở Đức năm 1987 và ở
luôn tới bây giờ, có bài viết “Mai Thảo – Người Giữ Lửa Cho Văn Học Việt Hải
Ngoại” đã viết nơi trang 420:
“Tôi nghĩ, văn thơ
Mai Thảo sẽ còn sống mãi, nếu người đọc vẫn còn yêu cái đẹp, và rung động trước
nó. Và trên hết, ta thấy cái tình của ông đối với văn chương, đối với bạn bè.
Đó là cái giá trị sâu sắc, lâu dài của Mai Thảo. Và cho đến nay, với tôi, chưa
có ai có thể thay thế vai trò: NGƯỜI GIỮ LỬA CHO VĂN HỌC VIỆT HẢI NGOẠI của Mai
Thảo, trong lòng người đọc.”
Nhìn chung, người điểm
sách xin nói rằng, trang nào của tuyển tập cũng có giá trị văn học riêng, không chỉ vì giá
trị văn chương mà cả sử học. Nếu vừa đọc, vừa suy nghĩ, một độc giả ưa thích
văn học hẳn là phải hơn một năm mới đọc xong cuốn sách này.
Bạn có thể tìm mua tuyển
tập nhiều tác giả “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ: 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại”
trên mạng Amazon, nơi lghi giá mỗi cuốn là 30 USD:
https://www.amzn.com/dp/B0GYVBN9DK
Nếu bạn hỏi cuốn sách
nào tuyệt vời nhất trong 50 năm qua, hiển nhiên tôi sẽ đáp rằng tuyển tập này
là một trong vài cuốn sách nên đọc, và nên lưu giữ nơi tủ sách gia đình, và nơi
các thư viện cộng đồng.
-- Phan Tấn Hải.
California, tháng
10/2016