Bài kệ trên vách tường
phương trượng Huỳnh Mai khiến đồ chúng xôn xao. Ngũ tổ xem xong liền nói: “Cũng
chưa thấy tánh” và lấy dép xóa ngay. Hành động và lời nói của ngài khiến chúng
ta thấy ngũ tổ đang che giấu sự vui mừng vô hạn, hoan hỷ vô cùng. Ngài thấu hiểu
lòng người, dù là trong đạo hay ngoài đời. Ngài sợ bài kệ kia sẽ sanh biến tâm
loạn động nên mới vội xóa.
Buổi đầu gặp mặt,
ngũ tổ đã nhận ra Huệ Năng là bậc pháp khí, tuy nhiên với nhân dáng và nhân
thân như vậy thì chưa thể dùng ngay được. Ngũ tổ sai Huệ Năng xuống nhà trù giã
gạo, bửa củi cũng là cách giữ an toàn cho Huệ Năng, thuật ngữ chính trị gọi là
“Thao quang dưỡng hối”, có nghĩa là dùng ngay bóng tối để che bớt ánh sáng khi
mà nhân duyên thời tiết chưa thuận lợi. Ngũ tổ dùng ngay thân phận của Huệ Năng
để che mắt kẻ khác, giúp Huệ Năng tránh khỏi sự đố kỵ thậm chí có thể bị làm hại.
Chế độ tòng lâm Trung Hoa kéo dài đã lâu, tạo nên một sự quan liêu, nặng hình
tướng và danh văn lợi dưỡng. Người ở chùa không vì pháp mà tranh y đoạt bát,
tranh ngôi vị, kết bè phai, tranh giành ảnh hưởng…Bởi vì vậy mà sau khi truyền
y bát cho Huệ Năng, ngũ tổ bảo đến đây phải chấm dứt việc này.
Một lần ngũ tổ quở:
“Các ông trọn ngày lo cầu phước điền, không cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh
nếu mê thì phước nào có thể cứu?”. Đây cũng là duyên do để xuất ra bài kệ kiến
tánh nổi tiếng trong lịch sử thiền tông Đông Độ.
Bồ đề bổn vô thụ
Sao bảo cây bồ đề
không có cây? Câu này khiến cho ta nhớ một vị thiền sư cũng đã từng nói: “Núi
sông không phải là núi sông”, cả hai đồng một nghĩa. Bồ đề vốn không phải là
cây, nó chỉ là duyên tụ của đất – nước – gió – lửa. Một khi duyên tan thì cây,
lá, rễ sẽ về lại đất; nhựa sẽ về lại nước; gió lại hòa vào gió; lửa sẽ quyện
vào ánh nắng. Khi duyên tan thì cây bồ đề ở đâu? Chỗ nào? Thế nhưng rõ ràng cây
bồ đề sừng sững kia mà! Ấy là giả tướng, có đấy nhưng mà là không, không nhưng
lại có. Cây bồ đề không phải không có và nó cũng không phải không không. Măc
khác bồ đề là tánh giác, giác ngộ…Giác ngộ tìm đâu ra hình tướng? Giác ngộ cũng
là duyên, có người vì nhân duyên nào đó mà hốt
nhiên giác ngộ. Ví như ngài A Nan, trong lúc băn khoăn vì không được
tham dự kết tập kinh, tâm trí mãi suy tư, trong lúc vừa toan đặt lưng nằm xuống
thì bừng lên giác ngộ. Giác ngộ là sự chuyển biến trong tâm. Tánh giác là biết
rõ mọi sự tướng thế gian và xuất thế gian. Giác ngộ là biết rõ khổ, không, vô
thường, vô ngã…trái với giác ngộ là mê, tuy nhiên giác và mê vốn không hai
nhưng cũng chẳng là một. Người giác ngộ thì không tham – sân – si, người mê thì
ngược lại. Giác hay mê cũng một niệm tâm, niệm tâm thì không có hình tướng, tuy
không có hình tướng nhưng hiện ra ở hành động, nói năng, suy nghĩ. Mê hay giác
cũng đều là duyên mà duyên vốn không. Vậy thì tìm đâu để thấy cây bồ đề?
Minh kính diệc phi
đài
Kính là vật để
soi, nhìn. Kính là ý nghĩa biểu trưng muốn nói sự phản ảnh của tâm. Sơn hà đại
địa, vạn vật muôn loài, hình thể to nhỏ, dáng ngoài đẹp xấu cho đến trắng, đen,
xanh, đỏ… như thế nào thì kính phản chiếu như thế ấy. Tâm người cũng thế, tâm
mê hiện ra ảnh mê, tâm giác xuất ra dáng giác. Mê hay giác biểu hiện rõ qua lời
nói, hành động, suy tư. Đôi khi có người cố tình làm màu, ngụy tạo, che đậy
nhưng với người có biệt nhãn thì nhận ra ngay. Tâm người vốn vô hình, vô tướng
vậy thì làm sao có đài gương? Tâm vốn là không nhưng không tâm lại không có người.
Tâm là có nhưng rõ ràng là không, không có ai có thể nắm bắt hay miêu tả được
hình dáng tâm. Tâm vốn là chân không nhưng rất diệu hữu, từ một tâm mà tạo tác
ra đủ thứ. Bởi vậy mà nhà Phật mới nói: “Nhất thiết duy tâm tạo”, “Tâm chủ tể,
tâm tạo tác”…Tâm là không thì làm gì có kiếng với đài, đài gương ở đâu? Cũng
không ngoài một tâm. Đừng nói chi kiếng với đài, vạn vật cũng đều từ một tâm và
rồi vận vật cũng đều là không thì nói chi đến đài gương.
Bổn lai vô nhất vật
Đến đây thì đạt đến
cái không tuyệt đối, tánh không mà nhà Phật nói đến, muôn kinh vạn quyển ghi chép
- giảng giải. Hư không vốn không hình không tướng, không trước không sau, không
trên không dưới. Hư không không có đông – tây – nam – bắc nhưng hư không cũng
không ngoài bốn phương ấy. Hư không không phải tứ duy hay trên – dưới – giữa
nhưng hư không cũng không ngoài tứ duy và trên – dưới – giữa. Hư không không có
một vật nhưng mọi vật cũng không ngoài hư không. Con người, vạn vật muôn loài,
sơn hà vũ trụ… đều không ngoài hư không nhưng hư không vẫn cứ là không. Câu kệ
nói cái không tuyệt đối, đã không có một vật gì để gọi là vật độc lập, tất cả đều
là duyên. Mặc khác đã không có một vật gì thì làm gì có dơ – sạch, tăng – giảm,
thiện – ác, mê – ngộ…đây là cảnh giới tuyệt đối, không còn ở thế giới nhị
nguyên, đối đãi nữa. Người giã gạo, chẻ củi, gánh nước lại không biết chữ nên
nhờ người viết giúp thế mà đạt tới cảnh giới này thì rõ ràng không phải hạng thường
tình.
Hà xứ nhạ trần ai
Bồ đề đã không có
thân, kiếng không có đài, ngay cả một vật cũng không có thì bụi dính chỗ nào? Dính
vào đâu? Tâm vốn không thế mà lại dính, vì dính bụi trần nên mới mê mờ, đau khổ,
trầm luân sanh tử luân hồi. Bụi trần là tài – sắc – danh – thực – thùy, đã
không có một vật nhưng làm sao có bụi? bụi cũng không nhưng lại có, cũng tại vì
duyên. Tham đắm ngũ dục lục trần ấy là tâm dính bụi. Thân này không nên sáu căn
cũng không, đó chỉ là duyên hợp mà thành. Sáu trần cũng không, đó cũng chỉ là
duyên tụ. Sáu căn không, sáu trần không nhưng sáu trần dính chặt sáu căn, vì dính
sáu trần mà mê mờ đi trong sanh tử luân hồi. Đức Phật cũng từng bảo ông A Nan
“Cái gì làm cho ông sanh tử luân hồi? ấy chính là sáu căn của ông”. Hư không vô
cùng vô tận, bụi trần cũng vô biên, tâm mê vô giới hạn. Bồ đề đã không có thân,
gương không có đài, thật sự cũng không có một vật thì bụi dính chỗ nào? Và vì vậy
thì hà cớ gì phải ngày ngày lau chùi? Nếu đã ngộ thì ngay đó mà ngộ!
Quả thật bài kệ
khiến lòng người xôn xao, bài kệ như một ánh chớp lóe lên, như tiếng sấm cảnh tỉnh.
Bài kệ vượt qua cái lối thông thường của người mê ngày ngày gõ mõ đánh chuông,
nếu mê thì có gõ mõ đánh chuông suốt đời vẫn cứ mê. Huệ Năng lúc này với thân
phận giã gạo, chẻ củi nhưng không mê. Xét người không thể nhìn bề ngoài, không
thể căn cứ vào hình tướng. Người có xấu – đẹp, sang – hèn, giàu – nghèo, trí –
ngu…nhưng tánh giác không phụ thuộc ở những điều ấy. Những đặc điểm ấy chỉ là
cái quả tựu thành từ cái nhân trong quá khứ. Những đặc điểm ấy cũng chỉ là
duyên khi đủ điều kiện nên tụ lại. Không là bản chất, tự tanh vốn không. Tướng
tuy có nhưng là giả tướng, là duyên tựu thành. Tánh không tướng có, không thật
tướng giả, không mà là có, có nhưng lại là không, thật vi diệu làm sao.
Lãng Thanh
Ất Lăng thành,
0426