Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

912. CUNG TÍCH BIỀN Truyện ngắn NGOẠI Ô, DĨ AN VÀ LINH HỒN TÔI

 



         - Sao, mày có chịu không?
         - Cái gì vậy hả chị?
         - Thì ngủ với thằng cha Lớp-Bơ chớ còn gì nữa.
         - Thôi, em ớn lắm chị.
         - Ðồ ngu, sức mà ở đó giữ trinh với tiết.

         Chị Dĩ An nói với tôi như vậy rồi bỏ đi ngay. Từ một năm nay chị Dĩ An bỏ nhà ra đi hàng tháng. Mỗi lần trở về chị có tiền đưa cho mẹ tôi. Mẹ tôi hỏi chị, chị nói con đi làm sở Mỹ tận Sài Gòn.
         Lần này chị về nhà bảo thẳng với tôi cho ông Lớp-Bơ phá trinh lấy ba trăm đô la. Chị bảo: “Mày ở cái xóm chó ghẻ này tới già cũng không có một xu nhỏ bỏ vào hòm!” Tôi nghe cay đắng những lời nói của chị. Sống gần chị như sống gần một bầu trời đầy giông bão. Tôi cũng không hiểu nguyên do nào làm con người chị tôi mau thay đổi như vậy. Cả cái tên Dĩ An cũng không biết ai đặt cho chị. Chỉ biết lần đầu chị đi Sàigòn về người chị có vẻ xanh xao. Gương mặt chị luôn thảng thốt. Chị có cái nhìn đã hết tinh anh: lầm lì, liều, và hay khóc trong bóng tối. Tôi gọi chị là Liêm – cái tên cha mẹ đặt cho chị – thì chị cãi lại ngay. Chị nói: “Mày nhớ tao là con Dĩ An đây”.
         Nhiều khi chị có vẻ bình tĩnh, và tâm sự với tôi: “Em này, chị muốn trong đời đến sự khổ đau cũng phải có tên gọi. Người ta đã tìm ra chị nơi cái xóm Dĩ An hèn mọn. Người ta thay nhau ngủ với chị, xem chị như mảnh đất có hoa màu và cần phải đặt tên cho nó.”
         Những buổi chiều nước sông dâng lên cao chị thường ra nhìn. Chị nói mình thầm tiếc cái gì đây mà không biết được. Chị thích đi ngược chiều gió. Có khi chị ngủ suốt cả ngày. Chị ăn uống thất thường. Nhận xét của chị về cuộc đời đầy vẻ chua chát.
         Dĩ An là chị ruột của tôi. Năm nay chị hai mươi tuổi. Trước đây hai năm chị là một nữ sinh có nhan sắc, tính tình hiền hậu nhất trường. Ngày đó cha tôi thường nói mai sau thằng nào gặp con Liêm (Dĩ An đó) là có phúc lắm. Và cha mẹ tôi đã cho chị Dĩ An tới trường với tất cả cố gắng về vật chất của mình.
         “Em biết không, nhà mình nghèo lắm”. Chị thường nói với tôi như vậy. Năm học đệ tứ có tháng chị đứng đầu lớp. Cha tôi đạp xích lô. Ai không biết điều đó. Nhưng hầu hết ai cũng thương và kính trọng chị. Bạn trai của chị trong đó có Lân là người theo đuổi chị.

Lân lớn người, học sinh đệ nhất cùng trường. Anh thi trượt hai năm. Buồn, xin vào Thủ Ðức, mãn khóa về ngành Thiết giáp. Mỗi lần về phép Lân đều thăm chị. Có lần anh xin cưới chị, chị từ chối nhưng chị buồn.
         Cái xóm lao động của chúng tôi là một ngoại ô đầy bùn lầy và dấu chân bò. Những mái nhà tôn nóng bức nằm san sát nhau. Từ cái sân nhỏ, con hẻm chật hẹp, hàng cây, nước sơn, cánh cửa sổ đến những ngọn đèn thầm cháy về đêm, cái gì ở nơi đây cũng biểu lộ một vẻ khiêm nhường đáng thương.
         Cha tôi thường đẩy xe về nhà khoảng mười giờ đêm. Cái bóng lặng lẽ tiến vào đầu hẻm đúng lúc chị Dĩ An múc nước vào chậu thau chờ sẵn. Sau đó chị dọn mâm cơm ra bàn. Khi xe được đẩy vào hiên nhà chị mang chiếc khăn ra lau chùi. Chị thường bỏ học nửa giờ để săn sóc cha tôi lẫn chiếc xe.
         Mẹ tôi về nhà khuya hơn với đôi chân mỏi mệt và gánh chè có khi mười một giờ đêm bán chưa hết. Một đêm trời mưa lớn, các em tôi đã ngủ yên, mẹ tôi vẫn còn đi giữa đường phố. Hôm sau về nhà mẹ đau nặng. Lần đó chị tôi khóc nhiều nhất.
         Chị Dĩ An giàu tình cảm. Với ai chị cũng đem lòng giúp đỡ được. Chị lớn hơn tôi hai tuổi nhưng chị khôn hơn tôi rất nhiều. Bây giờ chị đau khổ nhiều cũng vì chị có suy tư và tình cảm.
         Chúng tôi sinh ra và lớn lên từ ngoại ô. Ngoại ô là bức tranh nghèo nàn. Nhưng tôi không xem mình là kẻ bị lưu đày. Tôi mến ngoại ô này như mến thân thể tôi. Thành phố ngoài kia có gì nhiều tôi không cần biết đến. Chị Dĩ An ạ, làm sao những người ngoại ô có thể là con chim quên tổ ấm phải không chị? Tôi nói với chị Dĩ An như vậy. Chị mỉm cười. Những buổi chiều xuống mau, những tia sáng vàng vọt đượm màu thần thoại của tuổi thơ tôi hãy còn đây.

         Rồi chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Chiến tranh trên quê hương này là vết thương khó cứu chữa. Thành phố mở cửa đón những đoàn quân nước bạn. Ngoại ô tôi bắt đầu có những chàng Mỹ trắng Mỹ đen lùng lội tìm của lạ. Linh cảm cho tôi biết ngoại ô này cũng theo thân phận của đất nước. Mọi nếp sống sẽ đổi thay. Mọi tâm hồn sẽ bị lung lay trước sự lung lạc của vật chất. Con sông mở rộng. Sáng hôm đó chuyến tàu đầu tiên rẽ sóng chạy vào. Những người lính viễn chinh lên bờ mang theo tấm thân lực lưỡng, những thèm muốn và tiền bạc. Một chiếc khăn tay nhỏ một đô la. Một cuốc xe ngắn một đô la. Nói được một tiếng Hello, chỉ được con đường tới xóm bình khang một đô la. Tiền bạc tràn ngập. Ðô la đắp lên thành phố khô cằn này. Ngoại ô tôi chìm trong giấc ngủ bỗng thức giấc xao xuyến. Những ngày đầu tiên chị em tôi không dám đi phố. Thôi, nhường cho họ những buổi chiều đại lộ.
         Ngoại ô tôi mất dần những cô gái hiền từ. Con Hiền lấy ông trung sĩ Mỹ, ông ấy cho cha mẹ cô ta một trăm nghìn. Con Tuyết đã bỏ học đi bán bar. Gớm, chị Thuyên thế mà cũng nhảy dù chồng kiếm thêm đô la. Ngoại ô tôi đêm ngày sống trong sự bàn tán xôn xao. Nhiều gia đình nghĩ đến lúc con gái mình cầm lòng không đậu, hư thân mất nết rồi lặn ngụp trong tội lỗi.
         Một hôm Lân từ Peiku về thăm chị Dĩ An. Tình yêu nở ra mãnh liệt. Hôm lên đường đáo nhận đơn vị anh mang theo cái niềm vui chị Dĩ An đã nhận lời làm vợ chưa cưới của anh. Nhưng một tuần sau thì Lân tử trận trong một cuộc hành quân lớn. Thi hài anh Lân được chở về thành phố tràn ngập cuộc vui của gái điếm và du đãng. Lân chết trong rừng để thành phố được tiếp tục cơn động kinh của thời đại.
         Chị Dĩ An như người bị cướp linh hồn: buổi chiều ra thăm mộ anh, buổi tối khóc, sáng đi thơ thẩn. Chị bắt đầu lập cái vạch nối giữa sự thất vọng cùng những cuộc trác táng. Năm đó chị tôi thi hỏng. Cha tôi đi làm được nhiều tiền, nhưng chị lại không chịu đi học nữa. Những đứa em tôi được vào học trường lớn trong thành phố. Chị Dĩ An mặc đjupe. Tôi dùng dù che mỗi khi ra phố. Xuống đại lộ chúng tôi lẫn lộn trong biển người thời đại. Chúng tôi bị lôi cuốn ngấm ngầm như một người nghiện.
        Ngoại ô thân yêu của chúng tôi năm xưa không còn cái vẻ nghèo nàn nữa. Nhưng nó vươn lên một cách học đòi, quê mùa giả tạo. Những chiếc jupe chật, những chiếc áo dài lòe loẹt, những chiếc dù sặc sỡ thấp thoáng trong các con hẻm xưa kia đàn bò lội qua. Mùa xuân đến càng làm cho người ngoại ô tôi sang trọng một cách đáng thương. Lính Mỹ và trẻ em có một thứ ngôn ngữ riêng, có những con lộ riêng, có những xã giao với nhau đầy bí mật. Người Sàigòn cũng thèm đời sống dễ dàng của thành phố này. Những người đến lập nghiệp đầu tiên vẫn là con gái. Họ đều âm thầm tôn thờ một thứ triết lý sống thật là đặc biệt: đi đến thành phố xa làm ăn, khi có tiền trở về quê hương lấy chồng.
         Mãi đến bây giờ tôi vẫn tin nhiều con bạn của tôi đi theo con đường đó. Cũng như dạo nào con gái chủ trương nên yêu một người mà không bao giờ lấy họ làm chồng. Người chồng phải là người lớn tuổi và có tiền. Con gái, nghĩ mà buồn. Sao họ rắc rối lắm vậy.
         Gia đình tôi bắt đầu vượt qua cảnh sống nghèo khó thì cha tôi lâm bịnh nặng. Cha tôi chết trong bệnh viện khi những cơn mưa vẫn kéo dài đến thành phố. Ðêm hôm đó tôi trả tôi về với ngoại ô nước mắt. Chiếc quan tài của cha tôi lướt qua những con đường nóng sốt. Và nghĩa địa đầy vỏ chai la-de, hộp thiết vất bừa, là nơi an nghĩ cuối cùng của một đời người. Chúng tôi thấy bơ vơ trước hoàn cảnh thiếu người che chở. Mẹ tôi khóc suốt ngày. Chị Dĩ An như cánh bèo trôi giạt. Mấy đứa em sắp phải nghỉ học. Những đêm nằm nước mắt tôi ràn rụa. Tôi biết mẹ, chị Dĩ An, em tôi, những linh hồn mai đây không nơi đậu, những chiếc lá đã vàng trên cành. Chiều ngoại ô đã trả tôi nỗi buồn, mái nhà cho tôi nhìn thấy cô đơn; và con đường mùa đông này đã cho tôi những bước đi khó khăn.
         “Chị Liêm – tên cũ chị Dĩ An – em phải xin việc làm thôi”. “Thôi đi em, chị lớn để chị lo”. Mặc dù chị trả lời với tôi như vậy, tôi vẫn đem cái bằng trung học đến các sở xin việc. Nơi nào cũng không nhận vì tôi còn nhỏ tuổi. Có một ông thầu khoán nhận cho tôi làm thơ ký riêng. Nội chiều hôm đó ông đã hôn tôi trong phòng. Tôi tát vào cái mặt dơ bẩn đó, về nhà nghĩ mà thương cho mình.
         Chị Dĩ An thì không có bằng cấp. Với cái chứng chỉ đệ tứ chị chỉ được làm ở sở Mỹ nhờ một người quen bảo lãnh. Nội cái việc bảo lãnh cũng phải trả một giá quá đắt rồi. Thằng khốn nạn nói bóng gió nhưng chị Dĩ An thừa hiểu một cách cay đắng rằng: cho nó ngủ một đêm.
         Làm công như chị Dĩ An sao mà nhiều tiền quá. Mẹ tôi vốn hiền từ tin ở con mình. Riêng tôi, tôi vẫn có một linh cảm chua xót về chị Dĩ An của tôi.
         - Thực tình mày không chịu ngủ với thằng cha Lớp-Bơ hả? Ðồ con chó, sao mày dại vậy?

         Chị Dĩ An vừa đắp phấn lên mặt vừa nói như vậy. Chị mặc đồ lót đứng trước gương soi không chút ngại ngùng. Tôi nói:
        - Thôi chị, em không thể làm được.
        - Nghèo mà ham, ở đó thờ phụng cuộc đời. Mày có bồ rồi hả?
        - Em không có bồ bịch nào hết nhưng em chẳng thể nghe theo lời chị được, mặc dù em vẫn thương chị như bao giờ.
        - Sức mấy mà thương với ghét.
        Chị Dĩ An trả lời như xối gáo nước lã, đi lại giường nằm dang hai tay ra như người chờ đợi. Buổi tối ông Lớp-Bơ đến. Cửa phòng chị đóng kín đến gần hai giờ sáng mới mở ra. Khi xe đưa ông Lớp-Bơ về rồi, tôi nghe thấy chị khóc nhỏ. Sáng hôm sau Dĩ An thức dậy trễ. Trong dáng điệu mệt mỏi chị nói với tôi:
         - Em đi phố với chị nghe. Bữa nay chị cho em tha hồ mua sắm.
         Tôi đi với chị. Ðại lộ từng làn sóng người. Chị Dĩ An trang điểm kỹ lưỡng. Chưa bao giờ tôi thấy chị đẹp như hôm nay. Nhưng thành phố không dành cho chị cái cảm tình nào nữa. Họ xem chị như một món thời đại nặn sinh ra. “Em Bích Ty ạ, miền Trung mình đã quá cực khổ rồi”. Chị Dĩ An nói như thế với giọng bồn chồn khắc khoải.
        Mua sắm xong chúng tôi xuống bến tàu ngồi. Ngọn núi Sơn Trà dựng lên bên kia sông. Xa Xa năm ngọn Ngũ Hành Sơn chìm trong làn mây mờ. Biển ăn sâu vào thành phố mang theo cơn gió ngọt. Chúng tôi ngồi ghế đá yên lặng. Chị Dĩ An thỉnh thoảng thở ra nhè nhẹ. Dĩ An nói:
         - Em có nghĩ một con đĩ có tâm sự buồn là một con đĩ đau khổ nhiều nhất không?
         Tôi không trả lời được. Dĩ An tiếp:
         - Chị bán linh hồn chị rồi. Em thương chị không? Dĩ An nói rất nhiều trên bờ sông thầm lặng.

         Tối hôm đó nước mắt tôi ràn rụa. Tôi thương chị Dĩ An, thương cha mẹ tôi, thương bầy em nhỏ dại không ai nuôi dưỡng. Tôi thương xót hết thảy. Ôi ngoại ô, quê hương, linh hồn tôi. Các em tôi vẫn tiếp tục học hành nhờ đồng tiền của chị Dĩ An. Mẹ tôi sống nhàn rỗi hơn những ngày trước. Tuy nhiên tôi vẫn thấy một cái gì đè nặng lên đời sống mình. Tôi chán ngán. Thực tại là một giấc mơ kinh hoàng. Chị Dĩ An bây giờ đã thay đổi quá nhiều. Tính tình chị thất thường. Khi vui khi buồn. Chị khóc tự nhiên. Nụ cười hết tinh anh. Lớp-Bơ vẫn đến mỗi tối. Lớp-Bơ cỡ người cao lớn. Ông đeo kính cận, tóc quăn, khuôn mặt đẹp, trông thông minh. Lớp-Bơ yêu thương chị, muốn cưới chị mang về Hoa kỳ. Dĩ An từ chối. Nhiều khi tôi nghĩ sau lưng chị còn mồ mả cha ông và bầy em không cơm áo. Chị như mảnh đất nghèo nàn nằm trên quê hương này để nuôi dưỡng những người mới lớn. Em tôi sẽ nghĩ như thế nào nếu mai sau nó biết được nó sống nhờ vào những tờ giấy trăm sột soạt trao nhau trong phòng tối. Chúng nó có thương những người chị tàn phai nhan sắc vì cơn gió thổi đến quá phũ phàng hôm nay.
         Anh Lân đã chết. Cha tôi đã chết. Ðến lượt mẹ tôi già. Em tôi lớn. Những hàng cây ngoại ô đổi thay. Bãi biển thêm những ngày cát bồi và gió mặn. Tôi cảm thấy bơ vơ giữa biển đời sâu rộng. Chị Dĩ An trôi chơi vơi trong dòng băng rã cuồn cuộn. Không một tiếng gọi nào có thể làm cho thành phố này chú ý. Những người bạn trai đã bỏ đi xa. Cuộc sống ồn ào nhưng thê thiết lạ lùng. Một buổi tối chị Dĩ An lại bảo tôi:
         - Bích Ty ạ, mày nên có chồng đi là vừa.
         - Em ngán lắm chị ơi.
         - Mày thì cái gì cũng ngán với ngao. Một nước có thể có hai anh hùng nhưng trong nhà hai chị em không nên làm đĩ cả hai mày hiểu chưa?
         - Thôi mà chị, cay đắng với em làm gì.
         Chị Dĩ An bỗng quay phắt lại:
         - Ðồ con chó này sao cứ xem ta như kẻ chán đời.
         Chị Dĩ An ngồi xuống giường mình, ngã tới phía trước, tay cầm bàn chải đưa tới trước mặt tôi, chị tiếp:
        - Này, em phải lấy chồng. Thằng nào cũng được. Có gia đình là tự nhiên có hạnh phúc. Gia đình, nơi đó em trốn được nỗi buồn con gái.
         Tôi cúi mặt yên lặng. Tôi thương chị tôi, người trôi dạt cần một chiếc phao. Chị đã chán chường những đêm ái ân qua đường, chán những ngày không đợi chờ mà khoái lạc vẫn đến. Khoái lạc như ngọn lửa lan trên da thịt. Nhiều chàng trai đã ôm chị tôi trong lòng. Họ hôn chị sau đêm hành quân về. Họ hỏi chị về quá khứ, khen chị đẹp, ve vãn chị nhiều, nhiều lắm. Nhưng tất cả những âu yếm tạm bợ là những nhát chém xuống đời chị tôi. Từ ngày anh Lân chết đi không ai chịu nhận chị Dĩ An làm vợ nữa. Không ai quỳ xuống để ca ngợi một sắc đẹp trong bùn lầy.
          Từ ngày anh Lân chết đi, thành phố này đối với chị là một nghĩa trang. Chị thường ra sân ga nhìn những toa tàu nằm chết trong đường. Cây cầu hoen rĩ không dấu xe qua. Chị đến bãi biển ngồi thầm lặng. Hoàng hôn xuống buồn. Có khi khuya lắm chị mới trở về nhà. Chuyến xe trở về ngoại ô lặng lẽ làm chị nhớ tới ba tôi. Tội nghiệp chị, một đời nước mắt.
         Tôi đi trên con đường lầy lội đêm mưa này không biết gọi tên ai. Chị Dĩ An đã vào trong biệt thự. Anh Lân, cha tôi, đã có cuộc hành trình riêng lẻ. Thằng em tôi lớn lên mỗi ngày nó càng lầm lì. Nó muốn tìm hiểu chị Dĩ An nhưng nó làm sao hiểu. Một hôm nó về hỏi thẳng với tôi: “Chị Dĩ An làm đĩ hả?” Tôi không trả lời được. Em tôi gắt gỏng: “Ai đặt cho chị Liêm cái tên Dĩ An đó?” Tôi cúi mặt đi vào phòng, nước mắt ràn rụa. Em tôi bỏ đi. Buổi chiều tôi thấy nó uống la-de say mềm trong quán. Nó đập lộn với bạn bị cảnh sát bắt về đồn. Tôi đến đồn. Ông đồn trưởng nói thẳng vào mặt tôi:
         - Cái gia đình này bầm dập lắm, con thì làm đĩ, thằng thì du đãng.
         Tôi trả lời:
         - Ông không nên bôi nhọ kẻ khác một cách vô cớ như vậy.
         - Cô là chị thằng cao bồi này hả?
         - Em tôi không như ông tưởng. Nó là học sinh.
         - Học sinh như cô vậy phải không?

         Viên đồn trưởng nói xong nhe răng cười với bọn cảnh sát. Họ thúc cùi chỏ với nhau làm như đã thấy tôi ở đâu trong xóm bình khang. Rồi em tôi đi lính. Một buổi chiều tôi tìm nó ở trại nhập ngũ. Tôi van:
         - Em ở nhà với chị. Nhà mình không còn ai đâu.
         - Em đã lập hồ sơ xong xuôi cả. Chị ơi, cho em trăm bạc, hết tiền rồi.
         Tôi cho nó một trăm đồng (tiền này vẫn là của chị Dĩ An). Nó cầm lẹ rồi đi về phía quán nước làm như quên mất rằng có chị đang đau khổ vì nó ở đây. Tôi đứng tựa vào thân cây bên cổng. Ánh nắng chói chang, Một lát sau thằng em trở ra với điếu Ruby và nụ cười hiu hắt trên môi. Tôi nói:
         - Lâm, em buồn mấy chị phải không? Tụi chị xin lỗi em đây.
         - Chị Bích Ty ơi, sao chị ác vậy. Không bao giờ em có ý nghĩ đó.
         Lâm có vẻ buồn. Anh Lân ngày xưa nói thật đúng. Theo anh, tuổi trẻ hôm nay có quá nhiều nỗi buồn. Tiếng cười của họ thay tiếng khóc. Em tôi cười nhiều khi trông thật đáng thương.

         Lần thứ hai tôi đến trại nhập ngũ thì em tôi chuẩn bị lên đường. Tôi đứng ở cổng nhìn đoàn xe chạy qua. Lâm mặc bộ đồ nhà binh màu vàng rộng xềnh xoàng, tóc hớt cao, vẫy tay chào tôi. Bụi đường bay vút lại sau xe như sương mù.
         Em tôi lên đường mà chi Dĩ An không tới thăm nó. Chị đưa tôi hai chục nghìn đồng và nói: “Mày bảo nó vào trong ấy khi nào cần tiền thì cứ viết thư về cho tao, còn việc đến trại nhập ngũ thì tao không bao giờ”. Tôi thừa biết chị Dĩ An đã một lần tới đây tiễn đưa anh Lân rồi. Bây giờ chị sợ khung cảnh ấy.
         Nhà tôi vắng vẻ lại càng vắng vẻ thêm vì thiếu Lâm. Dĩ An bắt đầu một sa đọa mới: đánh bạc. Tiền trong nhà băng được rút ra để chị đốt trong sòng bài mỗi đêm có tới hàng chục nghìn. Ai cũng biết chị nhiều tiền. Thời gian đầu có tháng chị kiếm ra trên trăm ngàn. Bây giờ đâu lại bắt đầu vào đấy. Người chị trông xanh xao. Những thằng ma cô làm khó dễ chị. Họ lăn lóc trong các vùng đam mê tàn lụi đó. Chúng nó có thừa nghệ thuật làm chị bị kích thích, ngây ngất. Bao nhiêu tiền cũng về tay chúng nó.
         Bây giờ Dĩ An như người không còn trí tuệ. Chị không chú trọng tới nhân cách nữa. Gặp bạn đồng nghiệp với chị, chị văng tục nghe mà xanh dờn.
         Lâm từ quân trường viết thư về bảo tôi tìm cách giết chị Dĩ An đi. Tôi đọc thư bằng nước mắt. Nghĩ mà thương cho hết thảy kiếp người. Tại sao thân phận nào cũng dai dẳng những đau khổ triền miên, cũng vướng lầy nợ nần trả trọn đời không hết.

          Ngọai ô tôi bây giờ cũng mất linh hồn như chị. Dĩ An tôi say sưa, đàng điếm, dối trá, sống theo những bản năng rừng rú không bằng. Tôi muốn rời thành phố nhưng không đủ can đảm. Rồi Lâm từ quân trường trở về với cái lon trung sĩ. Ở ngoài bước vào tôi không nhận ra. Lâm đen và mập hơn xưa kia rất nhiều. Nỗi khắc khổ đã làm cho Lâm trở thành người lớn. Em tôi hỏi:
         - Chị Dĩ An dạo này ở đâu?

         Tôi nói:
         - Chị không rõ lắm. Chị ấy hai tháng nay không về nhà.
         Rồi tôi òa lên khóc. Cái gì nức nở đau thương vỡ ra trong tim tôi lênh láng. Lâm ôm lấy tôi nói:
         - Em van chị, đừng làm em buồn.
        Nói xong Lâm quay mặt đi, giấu những giọt nước mắt lăn trên má. Ðứa em ngang tàng của tôi hôm nay trở về chứng kiến sự tang tóc của gia đình.

         Mấy tháng nay mẹ tôi phải đi rong phố với gánh chè trên vai. Tôi đi làm để tìm đủ mọi cách cho mấy đứa nhỏ còn ngồi được trong trường. Lâm lãnh mấy tháng lương đầu dành dụm gởi về cho tôi. Nhưng trong lúc này chị Dĩ An đã tiêu phá đời mình, đã đốt hàng chục ngàn trong một canh bài. Trong lúc này chị phải phiêu bạt phương trời. Chị có nhớ lại quá khứ êm đềm của ngọai ô? Chị có tưởng đến kỷ niệm tuổi thơ? Chị Dĩ An, chị đã đánh mất tương lai, mất cả quá khứ.
         Sáu ngày phép trở lại thăm nhà Lâm dành trọn để tìm kiếm chị Dĩ An. Chúng tôi không biết địa chỉ ông Lớp-Bơ. Gặp người Mỹ nào quen với chị ngày trước họ cũng đều lắc đầu: “We don’t know.”
         - Chị Bích Ty ạ, Dĩ An mà chết đi chắc chúng ta phải ân hận suốt đời.
          Tôi nghe câu nói của Lâm như nghe điệu buồn vô tận. Mây ngoài trời vẫn bay mau. Những chiếc lá vẫn xanh trên cành. Riêng chị Dĩ An đã lạc loài quá nhiều. Rồi Lâm lên đường. Người lính trẻ tìm cuộc hành trình riêng cho mình. Tôi trả tôi về vớùi những ngày tháng nay âu lo.
         Ba tháng sau, một đêm trời mưa tầm tã, chị Dĩ An trở về. Mẹ tôi mừng ôm chị khóc òa. Chị có vẻ khác xưa. Da tươi thắm hơn, gương mặt thầm lặng chứa nét đẹp kín đáo như thuở nào. Ðặc biệt chị có dáng dấp của một người con gái vừa mới sinh con đầu lòng. Chị ở nhà một đêm sáng hôm sau chị đi ngay.Trong gia đình này không có mãnh lực nào giữ chị lại được hết. Chị đi Sàigòn sinh con, cho cô nhi viện nuôi rồi trở về tiếp tục con đường cũ. Chỉ có trời xuống đây mới lập lại được cuộc đời của chị Dĩ An. Tôi thấy mình mất hết cả rồi. Không hy vọng gì ở chị Dĩ An nữa. “Bích Ty, cho mày hay tao không phải là con cái gì trong cái nhà này nữa. Mày đi làm có tiền để nuôi các em mày nếu mày muốn!”
         Chị Dĩ An vất cho mẹ tôi một chục ngàn rồi đi luôn. Hình ảnh cuối cùng của một người chị trong đời tôi như vậy đó. Tôi buồn và bắt đầu đi lang thang trong những cánh rừng thông bãi biển. Chiều nay tôi âm thầm đạp xe đến cổng một hotel mà cuộc đời chị ném sâu trong đó. Hoàng hôn xuống thành phố. Trên từng lầu thứ ba đèn sáng qua các ô cửa. Chị Dĩ An tôi trên đó. Tiếng cười điên loạn trên đó.
         Ngọn đèn pha trên núi Sơn Trà vàng vọt cô đơn. Ðêm tối đã bắt đầu trong vùng biển. Gió ngọt xua trên bãi cát vắng. Linh hồn tôi đã lạnh. Tôi lặng lẽ đạp xe về. Ôi, ngoại ô một khung trời buồn.

CUNG TÍCH BIỀN
Cần Thơ 12/19/1965
DĨ AN, NGOẠI Ô VÀ LINH HỒN TÔI là một trong những truyện ngắn hay nhất của nhà văn Cung Tích Biền. Có thể nói đây là truyện ngắn đã tạo nên tên tuổi của ông. (PCH)

910 . MINH LƯƠNG - Gặp gỡ PHẠM CAO HOÀNG, Chủ biên trang Văn Học Nghệ Thật Phạm Cao Hoàng.

                                                                      

GẶP PHẠM CAO HOÀNG CHỦ BIÊN TRANG VĂN HOC NGHỆ THUẬT PHẠM CAO HOÀNG.

Vừa tới Mỹ thì anh Nguyễn Minh Nữu gọi điện cho tôi vẽ ra chương trình rất hấp dẫn là đưa tôi đến thăm anh Phạm Thanh Châu, Phạm Cao Hoàng và anh Truơng Vũ. Nghe đến tên Phạm Cao Hoàng là tôi nôn nao muốn đi ngay, vì tôi thường đọc trang Văn Hoc Nghệ Thuật phamcaohoang .com, thế nên bảo con gái tôi chở đi liền. Trưa hôm đó, tôi đi gặp anh Nữu ở Eden Center.  Anh bảo là chiều nay tụi mình đến nhà anh Hoàng ở gần đấy 25 phút. Nói là đi liền chứ báo trước thì chị Cúc Hoa (bà xã anh Hoàng) sẽ tổ chức bữa ăn gây phiền phức cho chị. Tôi đồng ý với anh Nữu, anh chạy về nhà, cho tôi rửa bụi đường trên mặt rồi đi luôn. Thế nhưng, khi về tới nhà thì có thông tin mới là anh Hoàng không đồng ý gặp hôm nay, yêu cầu ngày mai hãy đến,  để có thời gian trò chuyện dài hơn, buổi gặp được nhiều hơn.

 Sáng hôm sau, đến nhà anh Phạm Thanh Châu, và tiếp theo là đến nhà anh Phạm Cao Hoàng. Đến nơi thì thấy không khí tiệc tùng đã chuẩn bị sẳn. Chị Cúc Hoa đã dọn bàn cho buổi ăn trưa. Anh Nữu có nói với tôi, không phải chị Cúc Hoa đối xử với Lương Minh, người bạn mới ở Việt Nam qua  mà với ai cũng vậy, người bạn nào của anh Hoàng cũng được anh chị quý mến mời ăn trưa. Hôm nay, chị Cúc Hoa cho chúng tôi ăn phở do chị  nấu ở nhà . Anh Hoàng rất vui mời chúng tôi vào bàn, vừa ăn vừa nói chuyện. Những câu chuyện trong làng văn ở trong nước, hỏi thăm bạn bè và chuyến đi Tuy Hòa của chúng tôi năm ngoái. Anh cùng quê với nhà văn Trần Huiền Ân và tỏ vẻ mến phục nhà Phú Yên học này. Phải nói  là tô phở của chị Hoa nầu rất ngon, hơn các quán phở Việt mà tôi ghé ở Mỹ, cũng như lần đầu tiên tôi gặp anh Hoàng và chúng tôi nói chuyện rất là thân tình. Anh Hoàng năm nay 77 tuổi hơn tôi 3 tuổi . Anh trước đây là giáo viên Anh văn dạy ở Tuy Hòa. Bình Thuận, Lâm Đồng.. Anh chơi thân với thầy Trần Huiền Ân, làm thơ từ năm 1972 và có xuất bản hai tâp thơ trước 1975. Anh định cư tại    (Hoa Kỳ) từ năm 1999. Khi có công việc ổn định anh tiếp tục sự nghiệp văn chường, làm Chủ biên trang Blog năm 2012, mở ra   trang Văn Hoc Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng năm 2017.

Anh chụp hình chung với chúng tôi để làm kỷ niệm, ngồi gần anh anh quở: Mình không nhỏ con nhưng chụp hình với Lương Minh sao xem nhỏ lại. Anh muốn nói tôi mập quá. Thật ra không phải một mình anh nói mà BS Đỗ Hồng Ngọc dã đặt tôi với danh hiệu Big Minh- một danh hiệu dành cho ông tướng !

Ngồi trên bàn ăn nhưng rôi thấy anh để sẳn cuốn Ngôn Ngữ số đặc biệt về Phạm Cao Hoàng bên cạnh, chờ tôi buông đủa thì anh trao. Người tặng sách cho tôi thì nhiều, nhưng không hiểu sao lần này tôi cảm động bởi sự chuẩn bị ký tên trước giống như thầy Trần Huiền Ân tặng sang cho chúng tôi khi ghé Tuy Hòa. Phải chăng đó là tính cách của người Phú Yên?

Anh mở màn hình cho tôi nghe những bản nhạc mà anh viết nhạc cả lời. quả là người tài hoa !

Lật nhanh từng trang của tap chí Ngôn ngữ tôi gặp những bạn bè trước đây như  Cao Thoại Châu những bạn bè viết chung trong Quán Văn như : Nguyễn Minh Nữu, Hoàng Kim Oanh, Nguyên Minh, Trương Vũ, Trương Văn Dân, Nguyễn An Bình…Còn lại là những người nghe danh nhưng chưa có duyên gặp mặt ngoài đời.

Khu nhà anh ở cũng không đông, phía sau là vườn cây rất đẹp, anh Nguyễn Minh Nữu kéo tôi ra phía sau chụp hình để nhớ nhiều về ngôi nhà này. Anh nói với tôi, nhà này đã tiếp đó nhiều văn sĩ trong và ngoài nước đến, nó như một địa chỉ văn nghệ của Virginia và vùng phụ cận. Tôi chợt nghĩ vui, nếu chủ nhân có làm bảng đồng kỷ niệm ghi những người từng đến nhà này thì chắc tôi cũng được nằm ở cuối bảng.

Chuyến đi Mỹ làn này, tôi cám ơn Nguyễn Minh Nữu đã đưa tôi đến đây và anh chị Phạm Cao Hoàng đã cho tôi một kỷ niệm tuyệt vời.

Lương Minh

Sai gòn 9-9-2026

911 . NGUYÊN CẨN - ĐỘC ĐINH.

                                                                                  


         

 Buổi chiều xuống dần. Thành phố bắt đầu chen chúc những người đi làm về và học sinh tan học. Nhưng bỗng dưng mọi người nửa muốn ngừng lại mặc áo mưa nhưng một nửa vẫn đi tới vì một cơn mưa lất phất, những hạt nhẹ rơi qua kẽ tay. ThầyViệt nhìn tôi thầm dò xét xem tôi có phải về ăn cơm chiều không. Tôi nói khẽ:” Thầy sắp tới giờ cơm chưa, em về?” Thầy nói, “Thôi, ngồi với nhau mười mười lăm phút nữa.” Thầy thích nói, thầy say sưa nói mỗi lần gặp tôi vì thầy cảm thấy như đang hụt hẫng thiếu người tâm sự mọi chuyện. Thầy nói với một sự lôi cuốn của một giáo sư giỏi hồi ấy. Thầy phân tích chính trị khá sâu sắc, từ thế giới đến quốc nội Thầy lại giỏi tiếng Anh, nghe VOA, BBC trực tiếp được, dù ngày ấy phải “nghe lén “. Tôi thăm thầy từ lúc 3 giờ và thầy trò nói chuyện đến gần 6 giờ. Như một sự tình cờ, nhà ông chú tôi bán cà phê đối diện bệnh viện Chợ Rẫy, thầy lại đang là bệnh nhân ngoại trú ở đây, trọ ở dãy nhà của bệnh viện. Một lần đang đạp xe ra từ nhà ông chú thì thấy thầy xuống uống cà phê, tôi chào thầy và hỏi:” Thầy là thầy Việt phải khôn? “Thầy gật đầu và nói:” “Thấy em rất quen. Tôi nói “Em học sinh Pétrus Ký học Anh văn năm lớp 10 với thầy “Thầy nói :“ Nhớ rồi , thằng Nguyên phải không  ?” Thầy nhớ tôi là vì mỗi khi thầy ra bài tập, phần dịch thường rất khó, thầy lại hay lấy các tác phẩm lớn ra cho dịch nên mấy đứa trong lớp nó ‘né’ lên bảng nhưng tôi lại có vẻ thích thú. Có lần tôi nhớ thầy lấy một đoạn trong “Good Earth “của Pearl Buck ra cho dịch. Tôi nhớ có câu “In the afternoon, O-Lan stared at the other side of the river …” Tôi dịch là “Mỗi chiều, O Lan nhìn chòng chọc qua bờ kia của con sông.” Thầy gọi tôi lên nói ‘Mày giết chết văn chương rồi con ạ, ‘stare’ không thể dịch là ‘nhìn chòng chọc’ mà phải dịch là ‘Mỗi chiều , O Lan đăm đăm nhìn qua bên kia sông ‘.”Ngày ấy nền học vấn theo khuynh hướng khai phóng và tự do nên các thầy muốn lấy sách nào ra đề thì ra , không nhất thiết dựa vào bộ “ English for today “ , nên cái học phóng khoáng và có phần bay bổng ..

 Thầy Dư Siêu Việt kể chuyện đời mình, cũng ly kỳ nhiều tập. Có những cái không tin cũng phải tin dù thầy chẳng tin vào số phận. Lúc gặp lại tôi thầy chỉ nói cái nguyên nhân thầy vào bệnh viện, cái nguyên nhân thầy kẹt lại Việt Nam, như thể con người ta sau cái vận hên là đến cái hạn đen. Nhưng sau này có người kể lại gia đình thầy cực kỳ giàu có và nhân đức, một gia đình bán vàng nổi tiếng từ Hà Nội vào Nam và thầy giống như một cậu ấm “ lên xe xuống ngưa “ , kẻ ăn người ở đầy nhà , những món ăn  hiếm ngày ấy như sơn hào hải vị ,như yến  nào có thiếu . Bố thầy đã xây lên một ngôi chùa lớn giữa lòng quận 3 và ông còn mở ra một nghĩa trang chung, nhất là giúp những người nghèo khó, tất cả mang tên Phước Hòa. Cuộc đời thầy  đó luôn êm ả, tốt nghiệp Đại học sư phạm đệ nhị cấp, về An Xuyên dạy khoảng mười năm, chuyển về Sài Gòn dạy tại Pétrus Ký, một ngôi trường danh giá. Thời gian sau khi dạy tôi, thầy được cất nhắc làm công cán ủy viên Bộ Giáo dục, rất quyền uy. Nhưng nỗi ám ảnh thiếu con trai nối dõi đeo đẳng thầy khôn nguôi và định mệnh lên tiếng trong một lần xuống Cần Thơ công tác. Khi thầy bước qua hàng chào danh dự có các nữ sinh cầm hoa vẫy chào thì bắt gặp ánh mắt thán phục của một cô nữ sinh cao ráo, xinh xắn. Không thán phục sao được vì lúc ấy thầy mới ngoài 40 còn rất phong độ. Tướng thầy không cao nhưng gương mặt thanh tú, dáng đi nhanh nhẹn, sóng mũi thẳng, mặt xương, cặp mắt sáng dưới cặp kính cận nhìn là biết trí thức. Sau bữa tiếp đón của trường nữ Đoàn Thị Điểm, thầy tản bộ ra ngoài và nói: “Để tôi đi ngắm cái trường này một tí.“ Và xui khiến sao thầy  đi về phia ánh mắt hồi nãy thì không gặp ai , thầy hỏi thầy giám thị “ Lớp nào phân công cầm hoa vẫy chào  tôi vậy ?” Thầy giám thị nói:” Dạ 2 lớp 11A1 và A2. Vừa lúc ấy học sinh ra và thầy lại thấy cô nữ sinh ấy dắt xe đạp ra cổng. Thầy tiến lại gần và hỏi:“ Em học lớp nào ? “Cô lí nhí: “Dạ ,11 A2.” “Em tên gì?”  Dạ, Vân.” “Gì Vân?” “Dạ, Thu Vân” Thầy cười: “À, mây mùa thu, tên đẹp đấy. Nhà em ở đâu?” “Dạ cách đây mấy cây số, ở dưới Mỹ Khánh.  “Thầy nói: “Thôi, em về đi kẻo trễ.” Nàng đỏ mặt vì đám bạn đứng chờ vì thấy ông công cán ủy viên hỏi thăm cô nữ sinh tỉnh lẻ.

9/11 NEVER FORGET

 


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

908 . VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975: BÙI GIÁNG - Sưu tầm và giới thiệu: HUỲNH ÁI TÔNG

 


VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975

Sưu tầm và giới thiệu:
HUỲNH ÁI TÔNG
____________________________________________

BÙI GIÁNG

(1926-1998)



Chân dung bùi Giáng - dinhcuong




Bùi Giáng sinh ngày 17.12.1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Thân phụ của ông là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con thứ hai của ông Bùi Thuyên với bà Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Do vậy bạn bè thuở nhỏ, gọi ông là Sáu Giáng.

Sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa, đang học thì thế chiến thứ hai nổ ra, rồi cuộc Cách mạng mùa Thu năm 1945. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung.

Năm 1944, Bùi Giáng cưới vợ là bà Phạm Thị Ninh nổi tiếng xinh đẹp, nhưng chỉ vài năm sau, bà bị bệnh, sinh non và cả 2 mẹ con cùng chết. Nhiều người cho rằng đây là một trong những lý do khiến Bùi Giáng bị điên từ lúc trẻ.

Rồi Bùi Giáng theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương. Sao đó ông về đi chăn dê 15 năm ở Trung Phước.

Rồi Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn, ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa kế để lấy tiền in sách. Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm...Ông nổi tiếng sáng tác nhanh: tập thơ Mười hai con mắt được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel năm 1992.

Từ năm 1962, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

Năm 1969, do hỏa hoạn, tất cả sách vở cùng với nhà cửa của ông bị thiêu trụi. Ông bị sốc nặng, từ đó trở đi ông là bệnh nhân quen thuộc của bệnh viện Biên Hòa.

Sau 1975 ông vẫn tiếp tục sáng tác rất nhiều thơ, nhưng thời gian này ông bị bệnh tâm thần nặng. Ông thường rong chơi nghịch ngợm ngoài đường với bộ đồ rách rưới, dơ dáy.

Bùi Giáng chỉ có một vợ là bà Phạm Thị Ninh. Bà qua đời sớm, để lại cho ông nhiều đau khổ. Đó là lý do để trong thơ của ông sau này thường xuyên nhắc đến sự mất mát, sự chia ly, một hình bóng cũ.

Ngoài người vợ đầu, Bùi Giáng cũng có những đối tượng khác để yêu, để làm thơ. Ngoài mối tình đơn phương nổi tiếng dành cho nghệ sĩ Kim Cương, còn phải kể đến những mối tình đơn phương vượt không gian với những mỹ nhân Tây Phương như Marilyn Monroe, Brigitte Bardot. Ngoài ra trong thơ ông còn có hình bóng của ca sĩ Hà Thanh, Thái Thanh, ni cô Trí Hải  (dịch giả Phùng Khánh, ông gọi là Mẫu thân Phùng Khánh), hay cả những nhân vật tiểu thuyết Marguerite, A Châu, A Tử.

Riêng mối tình đơn phương đối với Kim Cương được cho là sâu đậm nhất, và đã để lại khá nhiều giai thoại.

Tháng 10 năm 1998, trong một lần đi chơi ông bị té và bị chấn thương sọ não. Bệnh viện Chợ Rẫy quyết định mổ cho ông, song ông đã qua đời vào ngày 7.10.1998.