Hôm ấy, một buổi chiều cuối thu, trời trong và se lạnh. Một ông già râu tóc bạc phơ, ước chừng vào tuổi tám mươi, ngồi đăm chiêu trên ghế đá công viên gần Viện dưỡng lão Mission De La Casa ở thành phố San José - lặng lẽ nhìn lá vàng rơi…
-Ông
ngoại ơi! Sao ông ngồi đây một mình, có vẻ buồn thế?
-Ờ!
Ông chỉ có một mình.
Thằng bé liến thoắng, dễ thương, vào
trạc tuổi cháu ngoại của ông mà mấy năm nay ông không được gặp. Một thoáng xúc
động, ông già thân mật hỏi:
-Giờ
này chiều rồi, sao con không ở nhà học bài hay giúp việc cho mẹ con mà ra đây
làm gì cho lạnh.
-Con
ra đây mỗi chiều Thứ Bảy, Chủ Nhật - hy vọng gặp lại ông ngoại của con.
Hơi
ngạc nhiên, ông già hỏi:
-Sao
lại ra công viên tìm ông ngoại? Ông ngoại không ở chung với cha mẹ con à?
Hai giọt nước mắt lăn trên má, thằng bé
thút thít, khóc! Nó mếu máo, nói:
-Ông
ngoại con chết rồi!
Im
lặng! Nghẹn ngào!
Sự ngây thơ của thằng bé làm ông già cảm
thấy ngậm ngùi, ông bảo:
-
Chết rồi thì âm dương ly biệt - ông ngoại con không còn ở trên trần gian này
nữa đâu mà tìm.
-Nhưng
đêm đêm, ông ngoại về trong khi con ngủ; sáng dậy ông ngoại đi đâu mất tiêu.
Con đoán có lẽ ông ngoại đang lang thang trong công viên này.Thằng bé vừa nói
vừa khóc sụt sùi… Ông già rưng rưng, xoay người ôm thằng nhỏ vào lòng - im
lặng!
Ông
thầm nhủ: Làm sao nó hiểu được cái vô thường trong kiếp nhân sinh?
Nắng chiều đã tắt. Sương thu lãng đãng
phủ mờ cánh rừng thông phía trước. Lá vàng nơi các cây phong cổ thụ tiếp tục
rời cành, chao trong gíó. Công viên không còn ai lai vãng. Cảnh vật chung quanh
mờ nhạt, hắt hiu…Một già, một trẻ lặng lẽ ôm nhau trên ghế đá công viên, như
đang thả hồn về với quá khứ đau buồn.
Bỗng tiếng chuông nhà thờ vang lên rồi loãng ra trong buổi chiều tà.
Thằng nhỏ ngước lên, thấy những giọt
nước mắt lăn trên đôi má nhăn nheo của ông già. Nó nắm tay ông già, lắc nhẹ…,
khẽ hỏi:
-Sao
ông lại khóc?
-Ông
đang nghĩ đến “cái sự đời”.
-
Cái sự đời là gì vậy ông? Khi ông ngoại còn sống, hay nói: “cái sự đời” nhưng
con không hiểu nó ra làm sao.
-Sự đời là cái vui, buồn, sướng, khổ; là cái phù du, bất định; là cái chết và sự sống; là cái mơ hồ mộng tưởng và cái thực tế phũ phàng… Bây giờ, con chưa hiểu hết được đâu, lớn lên con sẽ thấu hiểu “cái sự đời.”
Không biết bao nhiêu lần ông già đã kể “cái sự đời” bi thảm của đời ông cho những người ở trong viện dưõng lão, cho bạn bè và cho những ai ông gặp. Tựu trung có ba điều sầu thảm giày xéo tâm can ông: thứ nhất là cái sầu mất nước, thứ hai mất vợ, thứ ba là không được ở cùng con gái để vui chơi với thằng cháu ngoại mà ông thương yêu hết mực và quý như vàng!
Bởi vậy, ông luôn luôn biểu lộ nỗi buồn hiu hắt trên khuôn mặt già nua. Những người trong Viện dưỡng lão gán cho ông cái tên: “Ông Ba Sầu”.
Hôm nay, ông Ba Sầu gặp thằng bé - bổn
cũ soạn lại… ông không cần biết nó có hiểu và có thích nghe chuyện đời bi thảm
của ông hay không - ông cứ kể:
“Sau
năm 1975, Cộng sản bắt ta vào trại cải tạo - cơ cực, nghiệt ngã! Đêm đêm, trong
phòng giam, từ chỗ ngủ của mình, ta nghe một người bạn tù hô lên: “về Sài Gòn
anh em ơi!” Lúc ấy, ta chỉ mơ được về Sài Gòn sum họp với gia đình là thỏa
nguyện lắm rồi.”
“Thế
mà qua chương trình HO, ta được định cư trên nước Mỹ - tự do và sung túc… Nhưng
trong tim ta vẫn ngậm ngùi - mang nỗi sầu mất nước! Cuộc đời như giấc mộng!”
“
Rời bỏ quê hương, ta đem vợ và đứa con gái thân yêu sang đây, tưởng rằng đời ta
sẽ được hạnh phúc, ấm no… Nhưng chỉ được mấy năm, vợ ta qua đời sau cơn bạo
bệnh - ta hụt hẫng! Cuộc sống thật vô thường!”
“Ta
sống trong cảnh cô đơn - gà trống nuôi con! Sau khi con gái ta học xong đại học
- nó ra trường, có việc làm tốt. Tưởng rằng cha con sẽ nương tựa vào nhau để
sống, nhưng sau đó nó lấy chồng người Mỹ, sinh đứa con trai đầu lòng. Ta được
bồng bế đứa cháu ngoại, ta hạnh phúc vô cùng… Nhưng khi được ba tuổi, cha mẹ nó
lên Tiểu bang Virginia, vì theo công việc. Ta muốn đi theo, nhưng thằng chồng
con gái ta không ưng, viện cớ trên đó lạnh lẽo…
“Vợ
chồng nó sắp xếp cho ta vào Viện dưỡng lão Mission De La Casa này. Xa thằng
cháu ngoại ta buồn đứt ruột… Nhưng cũng đành! Con gái ta an ủi, hứa rằng: sẽ
đưa thằng cháu ngoại về thăm ta hằng năm, nhưng sáu, bảy năm nay, chúng nó chỉ
về thăm ta có một lần - ngoài ra ta chỉ trông thấy hình hài thằng cháu ngoại
trên cell phone. Nó không nói được tiếng Việt. Nó xem ta như người xa lạ… Nó
không hiểu được lòng ta yêu nó là dường nào! Năm nay nó cũng vào trạc tuổi của
con. Tình đời bạc bẽo lắm! Con ơi!”
Ông
già rưng rưng nước mắt, than:
-
Đời ta thật bất hạnh, cô đơn!
Thằng
nhỏ không có vẻ gì xúc động, ráo hoảnh, nói:
-Cuộc
đời của ông buồn thật, nhưng không bi thảm bằng ông này đâu.
Nó rút trong túi ra một tờ rơi (flyer)
đưa cho ông Ba Sầu xem. Ông đã biết mọi chuyện. Chiều nay ông ra đây cũng để
mong được gặp lại người bạn cố tri này. Nhưng ông không nói ngay cho thằng nhỏ
biết - lặng lẽ nhìn lá vàng rơi! Và ông đang nghĩ về người bạn tâm giao, một
thằng bạn cùng khóa, cùng trường - cần cù, nhẫn nại, siêng năng, có nhiều sáng
kiến; sống chân thật và sòng phẳng với bạn bè và có tinh thần trách nhiệm trong
mọi công việc…
Ấy
thế, mà đời hắn lắm nỗi gian truân!
Nếu như Nam Cao, Thế Lữ sống lại, nhìn cuộc đời của hắn mà viết nên truyện ngắn thì có thể bi thảm hơn cuộc đời của “Lão Hạc”, “Nhà Mẹ Lê” gấp nhiều lần.
Ba Sầu biết hắn từ cái đêm liên hoan đầu
tiên trên đồi 4648 ở Đà Lạt. Đêm ấy, tất cả SVSQ (Sinh viên Sĩ quan) tập họp
chung quanh đống củi xếp ở lưng đồi, bên hông Bộ Chỉ Huy doanh trại. Đêm liên
hoan có vẻ như đêm lửa trại của thời học trò hơn là một buổi lễ được tổ chức
trong quân trường. Khi vị Chỉ Huy Trưởng và quan khách đến - đứng vào vị trí -
tiếng vỗ tay vang vang… rồi từ trên cao, trong màn đêm dầy đặc sương mù, một
ngôi sao từ trên trời rơi ngay vào giữa đống củi - nổ “bùm!”- ánh lửa bùng lên
phừng phực trong đống củi thông… thắp sáng lưng đồi và ấm cả không gian. Tiếng
reo hò vang dội…
Ai
đã làm nên cái cảnh ngoạn mục này?
-
Chính là SVSQ Nguyễn Văn Duyến!
Đó là kỷ niệm đầu đời quân ngũ - hắn
được bạn bè đồng khóa mến mộ và Ba Sầu kết bạn tâm giao với hắn từ đấy.
Nhưng cũng trong bước đầu quân ngũ, hắn mang mối hận suốt đời do cái la bàn gây nên cớ sự (sẽ kể lý do tại sao trong phần sau).
Ba Sầu nhớ lại cái thời: Cả một thế hệ
thanh niên đã hy sinh tuổi thanh xuân cho một cuộc “chiến tranh không cần
thiết”- do các lãnh tụ cộng sản cuồng tín của Miền Bắc gây nên - để bảo vệ nền
tự do dân chủ cho Miền Nam.
Bạn bè cùng khóa với Duyến, ai cũng
phải trải qua: gian nguy nơi chiến trận, khổ nhục trong lao tù và khó khăn bước
đầu trên đất khách… Kể sao cho xiết! Nhắc đến, lại thấy đau lòng!
Khi đến được miền đất hứa - có nhiều cơ
hội để vươn lên mà Thượng Đế đã dành cho những kẻ khốn cùng. Họ xây dựng lại
cuộc đời từ hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống ấm no, hạnh phúc và tự do cho
gia đình và tương lai con cháu.
Nhưng với Duyến thì không! Suốt cuộc
đời cứ mãi gian truân trong nghèo khó, chỉ hưởng được cái tự do để “chửi đổng!”
Bây giờ thì mất tích - không ai biết Duyến ở nơi mô và sống chết thế nào?
Ba Sầu ngậm ngùi nhớ lại cuộc đời gian
truân của người bạn tâm giao: Ra trường, Duyến chọn về Sư đoàn 5 Bộ Binh. Sau
hai năm tác chiến, Duyến được thuyên chuyển về trường Mẹ, giữ chức Đại đội
trưởng SVSQ. Nhưng tính tình xuề xòa, không thích hợp với chức vụ nên được
chuyển qua khối Quân Huấn Vụ - dạy địa hình. Oái oăm thay cái sự đời! Ngày mới
vào quân ngũ cái la bàn (địa bàn) làm hắn ôm hận suốt đời, bây giờ ngày nào hắn
cũng ôm cái la bàn.
Một câu chuyện dài dòng: Trong khi học
môn địa hình ở trường Bộ Binh Thủ Đức (SVSQ/CTCT được gởi học cơ bản quân sự
bốn tháng nơi đây, cùng với Khóa 24, trước khi lên trường chính ở Đà Lạt) , mỗi
SVSQ được phát một cái la bàn, hết giờ học phải nộp lại. Nhưng khi hết giờ học,
huấn luyện viên kiểm tra thấy thiếu một cái, bảo SVSQ tìm khắp nơi, nhưng không
thấy. Ông ta cho lục soát trong ba lô của mỗi SVSQ, để xem anh nào đã “thó”.
Duyến nộp rồi, nên yên chí ngồi nghỉ ngơi. Nhưng oái oăm thay: cái la bàn nằm trong ba lô của Duyến! Duyến
ngỡ ngàng, ngơ ngác - “thanh minh thanh nga”... thề sống chết! Thì ra, tên phải
tội là thằng bạn kế bên nhanh tay bỏ cái la bàn vào ba lô của Duyến. “Tình ngay
lý gian!” Nhưng Sĩ quan huấn luyện viên cho qua - chẳng phạt vạ gì…
Nhưng
Duyến cảm thấy nhục…và để lại trong lòng hắn mối hận suốt đời. Từ đó, cái tình
“huynh đệ chi binh” chết hẳn trong lòng Duyến và nghi ngờ sự tử tế của mọi
người. Hắn luôn có những lời cay cú, ngang phè với bạn bè cùng khóa.
Như hôm, hay tin Duyến bị ung thư mũi
(?) anh em cùng khóa đến thăm. Hắn chẳng xúc động và cảm ơn mà buông lời phũ
phàng: “Tụi bay nghe tao bịnh, đến phúng điếu đó hã?”.
Một
chuyện khác cũng rất buồn cười: Khi biết vợ Duyến là em ruột của một người khoá
đàn em, anh bạn cùng khóa với Duyến hỏi chơi: “Ra ngoài, thằng anh vợ gọi mày
là niên trưởng, vậy về nhà mày gọi nó là gì?” - “Gọi gì kệ cha tao! Mày hỏi làm
gì?”.
Đó là ngôn ngữ của Duyến đối với bạn bè
cùng khóa, làm một số anh em phiền trách. Nhưng “trách vẫn trách mà thương vẫn
thương!”
Ba Sầu nhớ lại cái thưở mới ra tù: đứa
nào cũng rách như xơ mướp… nhưng cố bám bám lấy thành phố. Riêng Duyến lên tận
vùng núi rừng Long Khánh - đốt than, đốn củi - khổ nhọc nhưng kiếm chẳng được
bao nhiêu tiền lại mang bệnh sốt rét - thân tàn ma dại! Đúng là: “Ma đưa lối,
quỷ đưa đường/ Cứ tìm những lối đoạn trường mà đi…” (ND)
Một người đàn em khoá 2 thấy vậy đem về
nuôi ăn, nuôi ở…Ngày ngày chỉ có công việc lái xe Honda, đưa vợ anh khoá 2 này
đi giao hàng và thu tiền. Một chuyện mới nghe thì cười, nhưng ngẫm ra mới thấy
thảm: khi vợ anh khóa 2 vào gặp khách hàng, Duyến dựng xe chờ bên ngoài. Người
khách hàng trông thấy Duyến, bèn hỏi: “Ông già của chị đó hả?” - “Không, anh ta
là bạn của chồng tôi.”
Ôi! Lúc đó Duyến chưa đến tuổi bốn mươi.
Thế mới biết: Duyến đã tàn tạ đến mức nào
trong những ngày cơ cực ở núi rừng Long Khánh!
Thời gian trôi qua, cũng chính người đàn
em khóa 2 này đứng ra tổ chức đám cưới cho Duyến. Một cái đám cưới nghe như
chuyện “phong thần”. Vậy mà thực sự đã diễn ra vừa xúc động vừa xôm tụ: Chàng
rể không có nhà, phải mượn căn nhà của một ông cựu Thiếu tá - rộng rãi để rước
dâu và mời khách. Các bà vợ của các bạn
cùng khóa đến trang hoàng, sửa soạn bữa tiệc cưới khá xôm tụ vào cái thời “gạo
châu củi quế…” và bọn công an khu vực luôn theo dõi sinh hoạt của đám “ngụy
quân, ngụy quyền” mới ra tù. Ấy vậy mà đám cưới được ông cựu Đại tá Chỉ Huy
Trưởng của trường đứng ra làm chủ hôn - có cả ông Chỉ Huy Phó cùng mười lăm anh
em Khóa 1, hai mươi anh em Khóa 2, một số đàn em Khóa 3, Khóa 4 và quý phu nhân
tham dự.
Như vậy, coi như huy hoàng trong thời
mạt vận! Mấy ai có được cái vinh dự như thế!
Có một giai thoại cười ra nước mắt (!?),
do vài anh bạn kể lại: Trước ngày đám cưới, Duyến trốn ra từ bệnh viện - tấm
thân tiều tụy, mũ áo xác xơ, chân mang dép xẹp… Anh em xúm nhau “tân trang” chú
rể để ra chụp hình với cô dâu và quan khách. Tấm hình khá đẹp, chú rể tươi vui!
Sau đám cưới, vợ chồng dắt díu nhau về
khu Xóm Mới Gò Vấp, cắt rau muống đem bán cho dân “Bắc Kỳ hai nút”* - bấy giờ
tràn ngập Thành Hồ. Công việc nhọc nhằn: buổi sáng chồng kéo, vợ đẩy…chiếc xe
ba gác chở mấy cần xế rau muống đi vào thành phố bán - chiều về chỉ đủ cho bữa
cơm độn khoai với rau muống chấm tương. Nhưng thôi cũng đành! Vì thời đó, đám
công dân hạng bét là “ngụy quân, ngụy quyền” mới ra tù - ai mà chả khổ!
Chuyện đến tai “Anh Sáu Vẹc Ni”, một
người bạn cùng khóa và cùng phục vụ ở SĐ5BB. Anh này khởi nghiệp nhờ bán vẹc ni
ở Ngả Tư Bảy Hiền mà trở nên giàu có, đã tìm đến Duyến, rủ về làm trong lò nấu
rượu cồn của anh ta. Sáu Vẹc Ni rất tốt bụng, luôn luôn giúp đỡ các bạn đồng
môn… Với Duyến, dĩ nhiên có ưu đãi đặc biệt. Cuộc sống của Duyến bớt khổ và
tương đối đầy đủ hơn.
Nhưng chỉ được thời gian, công việc làm
ăn của Sáu Vẹc Ni đi xuống vì Liên Xô không nhập rượu cồn nhiều như trước. Một
hôm, vợ Sáu Vẹc Ni vô tình nói chơi: “Từ ngày có mặt ông Duyến, công việc làm
ăn cứ ì ạch…”
Thế là Duyến lặng lẽ ra đi, không lời từ
giã.
Sáu Vẹc Ni tìm kiếm khắp nơi để kéo Duyến về, vì Duyến là bạn cùng khóa và là một tay đắc lực, giúp Sáu Vẹc Ni nhiều việc. Rồi một hôm gặp nhau trong chợ Tân Bình, Duyến đang ngồi bán quần áo cũ, Sáu Vẹc Ni năn nỉ, bảo Duyến trở về. Nhưng Duyến nhất định không nghe. Sáu Vẹc Ni than: - Cái thằng tự ái to bằng Trời - “Nói ngọt không ưa, nói vừa không chịu!”
Rồi chương trình HO cứu vớt đời Duyến!
Một anh bạn cùng khóa bảo trợ Duyến sang Nam CA.
Đa số anh em trong diện HO, bước đầu trên
đất khách, ai cũng đi làm “thợ đụng” (đụng việc gì làm việc đó). Ba Sầu nhớ
lại: qua thời “thợ đụng” thì mua được xe, kiếm được nhà ở. Còn thằng Duyến - lạ
lùng thay: “đụng” đâu “bể” đó! Cuộc sống cứ lêu bêu…
Một anh bạn khác, cũng cùng khóa với
Duyến, thấy vậy, rủ Duyến về Louisana - nơi cá biển, tôm đầm… bám trụ một thời
gian, nhiều người trở thành triệu phú, như anh bạn của Duyến chẳng hạn. Thế mà
Duyến bỏ một nơi có nhiều cơ hội tốt để tìm cuộc sống ổn định. Duyến về San
Jose.
Ở đây, được một người bạn cùng khóa nữa
giúp đỡ: hướng dẫn chia xẻ công việc cắt cỏ. Công việc này, lúc đầu xem qua
tưởng là “làm chơi” mà về sau trở thành “ăn thiệt” - đã giúp bao nhiêu người
Việt nên cơ nghiệp. Duyến cũng thế - nghề cắt cỏ giúp Duyến mua được cái Mobile
Home. Rồi sau đó bắt được cái job - lái xe cho trường học (School bus driver) -
cái nghề, tuy không phải là sang cả, nhưng với anh em HO - lỡ thầy, lỡ thợ, lỡ
culi… thì đó là cái Job thơm!
Anh em đồng môn mừng cho Duyến và nghĩ
rằng Duyến đã qua khúc sông định mệnh bần cùng. Đời sẽ lên hương!
Nhưng không hiểu lý do gì mà sau đó Duyến không giữ được nhà, mất luôn cả cái Job thơm?
Một ngày nọ, người ta thấy Duyến bày một
cái bàn nhỏ ở góc chợ trời San Jose - làm nghề cắt chìa khóa. Nghề này do người
đàn em Khóa 2 huớng dẫn và giúp đỡ mua đồ nghề.
Ai
làm nghề này cũng kiếm sống được, nhưng với Duyến chẳng khác Ông Đồ Già của Vũ
Đình Liên:
Mỗi khi chợ trời mở/ Lại thấy
ông Việt Nam
Bày đồ nghề cắt khóa/Bên chợ
đông người qua
Bao nhiêu người thuê cắt/ Tấm
tắc khen khéo tay
Nhưng mỗi ngày một vắng/ Người
thuê cắt nay đâu?
Máy cắt buồn không mở/ Mẫu khóa
treo lung lay
Ông già vẫn ngồi đó/ Khách qua
đường không hay
Năm nay chợ trời mở/ Chẳng thấy
ông già đâu!?…
Người ta thường ví von rằng: “Ở Mỹ - đói và làm giàu khó ngang nhau.” Đúng là như vậy! Duyến không đói nhưng đã bước xuống nấc thang cuối cùng trong xã hội Mỹ - được cơ quan An Sinh Xã Hội cấp cho nhà ở (housing) và nhu yếu phẩm vừa đủ sống - trừ phi, Duyến muốn đọa đày đời mình để tìm “cái thú đau thương” của nhân loại mới bi thảm hơn mà thôi.
Ba Sầu xem xét thằng bạn tâm giao không
có ý tưởng đó. Cứ xem cách đặt tên cho đứa con trai đầu lòng với người vợ cả
(đã qua đời khi Duyến ở trong tù) thì biết hắn vẫn có những ước mơ đầy tham
vọng: Nguyễn Kỳ Đại Thức.
Ba Sầu thương cho số phận người bạn tâm
giao đã ở nấc thang cuối cùng trong xã hội, vẫn chưa yên thân - người vợ (cưới
sau ngày ra tù) bị ung thư ngực, lại mất
trí nhớ (alzheimer) phải đưa vào nursing home. Duyến ở nhà đâm ra lẩn thẩn…Bấy
giờ cơ quan An Sinh Xã Hội cung cấp mỗi ngày hai bữa ăn, có người mang đến tận
nhà. Một hôm người đưa cơm phát hiện: Duyến không có mặt ở trong nhà - đã đi
đâu… mất tích!
Ba Sầu thở dài… thầm hỏi: Hắn sinh ra
đời nhằm ngôi sao xấu hay lòng lành của Chúa đã lãng quên?
-Ông
có thấy: người ta treo giải thưởng năm ngàn đô la cho ai tìm được ông Duyến?
Ông cháu mình cùng đi tìm nghe ông. Tiền sẽ chia đôi.
-
Ờ! Nếu tìm ra, ông sẽ cho con lãnh hết.
-Không
được! Như thế không fair.
Sợ
thằng nhỏ mất hứng, bỏ cuộc, ông Ba Sầu gật đầu, nói:
-Ờ!
Thì chia đôi.
Tấm lòng ngay thẳng của thằng nhỏ làm Ba
Sầu nghĩ về nền giáo dục ở Mỹ mà nó được hấp thụ - cái gì cũng sòng phẳng. Ông
ôm chặt nó vào lòng, nói:
-Vậy,
ngày mai chúng ta bắt đầu đi tìm. Nhưng con phải xin phép cha mẹ con trước và
sáng mai cha hoặc mẹ con dẫn con ra đây gặp ông mới được.
-Dạ!
Dễ thôi! Ba con biết ông Duyến mà. Lúc trước, khi ông ngoại con còn sống, thỉnh
thoảng ông Duyến có sang chơi. Ông ngoại con thường nói: “Thời trai trẻ, ông
Duyến ngon lành lắm: Cả hai ngàn người dự thi vào một trường ở Đà Lạt - ông
ngoại con cũng dự thi - nhưng rớt! Ông Duyến được đậu trong số hai trăm người
được tuyển chọn.” Qua đây, ông Duyến lái xe School Bus - ổng có cái oai nghe
ông - mỗi khi tụi con ồn ào nghịch phá, ông hét một tiếng như trời gầm là tụi
con hết hồn, êm re, chẳng đứa nào dám hó hé! Nhưng có khi ổng rất dễ thương,
thân mật và phát kẹo cho tụi con. Bọn học sinh Mỹ và Mễ thường gọi lén: “Crazy
old man!”
Đèn công viên bật sáng. Ông già chia tay
thằng nhỏ, lững thững đi về phía nhà dưỡng lão. Thằng bé theo ngã rẽ về nhà.
Hẹn ngày mai gặp lại để thực hiện cuộc “Tìm Người Mất Tích”.
Ba tháng trôi qua, sự tìm kiếm không có
kết quả!
Nhưng trong cuộc tìm kiếm này giúp Ba
Sầu ngộ được ý nghĩa của hai chữ “tư do và hạnh phúc”.
Bảo những người homeless bất hạnh? Chưa
chắc đúng đâu! Đi vào sinh hoạt của người homeless: thăm hỏi, chuyện trò… Ba
Sầu nhận thấy: Tuy mỗi người một cảnh ngộ …và tùy duyên mà định phận… nhưng họ
là những người đã tìm được sự tự do tuyệt đối và hạnh phúc đích thực cho cuộc
đời mình.
Mấy ông lãnh tụ chính trị thường bảo: sẽ đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi người dân, đều là tán phét! Vì tự do và hạnh phúc đến từ cảm nhận tự phát trong con tim, khối óc của mỗi con người.
Ngày cuối cùng sau ba tháng tìm kiếm,
ông Ba Sầu ngậm nguì nói với thằng nhỏ:
-Có
lẽ ông ta sinh ra đời nhằm ngôi sao xấu và lòng lành của Chúa cũng đã lãng
quên. Chỉ còn lại cái tình người… mà tình người đối với ông ta đến thế là cùng
rồi, con ạ!
-Chúng
ta đành bỏ cuộc sao ông? Thằng bé hỏi.
-Ừ!
Cũng đành thôi con ạ!
-Nhưng
nếu hôm nào, gặp được ông Duyến, dẫn ổng về, mình có nhận được tiền thưởng,
không ông?
-Chuyện
đó, con hỏi Hội Ái Hữu của ông ta, ông không biết!!!
Một già, một trẻ chia tay nhau trong
nỗi ngậm ngùi!*
LÊ
ĐỨC LUẬN
(10 Tháng 2/2024)
*Người
Bắc vào miền Nam sau năm 1975.
*Chúng
tôi viết truyện này là chuyện có thật - những mong bạn đọc nào biết được trường
hợp tương tự xin vui lòng liên hệ với người viết (703-216-2971) để giúp chúng
tôi tìm được “ một người bạn tri kỷ đã mất tích”.