Có lẽ ít người
biết tới nhạc sĩ Trần văn Nhơn. Ông là người sanh ra và lớn lên tại Cầu Kho,
Sài Gòn nhưng lại lưu lạc ra sống ở Hà Nội từ năm 1948 tới 1952. Sống cùng thời
với các nhạc sĩ Trần văn Lý, Võ Đức Thu, Lê Thương nhưng cái tên Trần văn Nhơn
đã rơi vào quên lãng mặc dù có thời gian ông là trưởng ban Việt Nhạc của Đài
Phát Thanh Hà Nội. Ông là tác giả của hai bản nhạc nổi tiếng Hà Nội 49 và Sài
Gòn Xa Hoa.
Không hiểu sao
tới bây giờ tôi vẫn nhớ được ít câu trong bài Sài Gòn Xa Hoa mà tôi hay nghêu
ngao những ngày còn nhỏ. Có lẽ vì nét nhạc bắt được nhịp sống xô bồ của thành
phố sống về đêm. Ngày đó, tôi còn bé tí sống ở Hà Nội đâu có biết Sài Gòn là chốn
nao. Tôi vào tìm trong mạng lời của bản Sài Gòn Xa Hoa nhưng không thấy, ngay cả
thứ tinh thông như trí tuệ nhân tạo cũng chịu thua. Không có lời của bản nhạc
nhưng tôi lại tìm thấy đĩa hát bài này của “tài tử Ngọc Bảo”. Chịu khó nghe,
tôi ghi lại được một đoạn: “Sài Gòn là viên ngọc trân châu của Á Đông, Sài Gòn
là nơi người viễn khách thường lui tới, tửu điếm, trà đình, Đại Thế Giới, Kim
Chung, nơi vùi chôn xác con người đảo điên. Sài Gòn nơi tưng bừng với lối sống
xa hoa, là chốn người xót xa với kim tiền”. Có lẽ nhạc điệu lả lướt, dồn dập,
nhộn nhịp trong điệu valse dập dìu
khiến tôi say mê nên nhớ tới bây giờ.
Bản nhạc nhắc tới
hai chốn ăn chơi khét tiếng là Kim Chung và Đại Thế Giới. Khi tôi di cư vô Sài
Gòn thì hai nơi này thuộc quyền kiểm soát của Bình Xuyên. Thực ra có tới ba nơi
lận. Nơi thứ ba của hệ thống cơ sở ăn chơi của Bình Xuyên là khu Bình Khang
trên đường Vĩnh Viễn.
Trong bài tùy
bút của Nguyễn Đông A “Sài Gòn-Chợ Lớn: Sòng Bạc, Sông Nước và Những Người Đã
Đi” trên trang mạng Thế Kỷ Mới có đoạn viết về Đại Thế Giới: “Rồi má kể về sòng bài Đại Thế Giới. Giọng bà khi đó trở nên
khác, cũng không hẳn là ngưỡng mộ, mà là cái giọng của người đã sống đủ gần với
một điều gì đó nguy hiểm để hiểu nó, nhưng đủ xa để không bị nó cuốn đi. Sòng bạc Đại Thế Giới được lập ra năm 1937, do tay trùm cờ bạc
Ma Cao tên Lâm Giống đứng ra điều hành, dưới sự bảo trợ ngầm của người Pháp. Nằm
ở góc đường Võ Văn Kiệt – Nguyễn Tri Phương, Quận 5, nơi đây nhanh chóng trở
thành “thỏi nam châm” hút hết các tay máu me đỏ đen từ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và
cả miền Tây. Mỗi ngày, hàng triệu đồng Đông Dương đổ vào đây như nước lũ. Chính
quyền bảo hộ chỉ việc thu thuế; mọi điều hành nằm trong tay dân anh chị. Bên trong sòng bạc, không chỉ có bài bạc, còn có vũ trường, nhà
hàng, phòng trà ca nhạc. Những ca nữ xinh đẹp trong bộ sườn xám thướt tha, cầm
quạt che nửa mặt, cười khúc khích sau những bàn xí ngầu. Má tôi gọi họ là “xẩm
hồ ly”, một danh xưng nửa đùa nửa thật của dân Sài Gòn dành cho những cô gái
làng chơi lai Tàu sang trọng. Nghe cái tên thôi đã thấy trong đó vừa có sự hấp
dẫn, vừa có cái gì như mùi nguy hiểm lảng vảng không tan. Mỗi ngày, tiền thuế của Đại Thế Giới đóng cho chính phủ không dưới
500.000 đồng Đông Dương. Chưa kể các khoản chi ngầm cho quan chức, cảnh sát, và
những tay anh chị hoạt động trong bóng tối. Đó là thứ quyền lực không cần tuyên
ngôn, không cần nghi lễ, chỉ cần tiền và súng. Khi
Bảy Viễn là thủ lĩnh Bình Xuyên, ông nhìn ra miếng bánh béo bở này, nên không
chần chừ mà tìm cách nắm ngay lấy nó. Dưới thời Bảo Đại, Bảy Viễn dâng sòng bạc
cho Quốc trưởng, đổi lấy quyền kiểm soát cảnh sát và quân đội miền Nam. Một số
năm, Đại Thế Giới trở thành địa bàn bất khả xâm phạm của Bình Xuyên. Không một
thế lực nào có thể chen chân vào và cũng không ai dám thử. Thời hoàng kim ấy không kéo dài. Khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền,
Bình Xuyên bị đánh bật khỏi Sài Gòn, sòng bạc Đại Thế Giới bị dẹp bỏ”.
Bình
Xuyên bị đánh dạt ra khỏi Sài Gòn vào tháng 4 năm 1955. Năm đó tôi đang học tại
trường Chu văn An chuyển từ Hà Nội vào. Trường không có trụ sở, phải học nhờ
tại trường Petrus Ký vào buổi chiều. Trường Petrus Ký có một khu nhà lầu dùng làm
lưu xá cho học sinh đã bị lính Bình Xuyên trưng dụng làm trại lính. Sau khi Bình
Xuyên rút lui ra khỏi Sài Gòn, ngôi nhà lầu được cấp cho trường Chu văn An làm
trụ sở. Đám học sinh di cư chúng tôi được hưởng thành quả từ đại bại của đám Bình
Xuyên. Bất chiến tự nhiên thành!
Các
cơ sở làm ăn của Bảy Viễn bị Tổng Thống Diệm dẹp hết. Sòng bạc Kim Chung sau
này sớm trở thành khu chợ Dân Sinh. Tác giả Nguyễn Đông A nói về khu Đại Thế
Giới ngày nay. “Ngày nay, khu Đại Thế
Giới nằm im lìm bên đường Võ Văn Kiệt, hoang phế như một kẻ già nua bị người
đời quên lãng. Sau một thời gian làm công viên nước, hoạt động từ năm 1999 đến
tháng 1 năm 2020, nơi này bỏ hoang đã hơn năm năm. Cây cỏ um tùm phủ kín
lối đi, tường vôi nứt nẻ, hồ bơi từng sầm uất giờ chỉ còn một vũng nước đen sì
bốc mùi ẩm mốc. Khu sân khấu nổi, từng vang tiếng ca múa mỗi chiều Chủ nhật,
nay cột bê tông bong tróc, cỏ dại mọc lấn từng tấc. Cái công viên rộng 4.000
mét vuông ấy, từng gắn bó với bao thế hệ người thành phố, giờ trở thành một
vùng đất không ai muốn nhận”.
Khu
Bình Khang lại là một chuyện khác. Đây là nơi từng chôn vùi bao nhiêu cuộc đời
thanh xuân của biết bao nhiêu thiếu nữ. Ngày đó nơi đây dập dìu khách làng chơi
suốt ngày đêm đèn không bao giờ tắt. Tác giả Lê Bá Vận kể lại trên Việt Nam Thời
Báo: “Khu Bình
Khang mặt tiền có trổ cổng lớn ra vào, có lính Bình Xuyên mũ bê rê
xanh ngồi và đứng canh nghiêm chỉnh, không gây sợ hãi mà còn có cảm giác
tin tưởng. Bên cạnh là một quầy bán vé (ticket), mỗi ticket giá 100 đồng.
Cơ sở bán dâm, có bán vé vào cửa, thật độc đáo! Trong suốt thập niên 1950 giá
cả sinh hoạt ổn định. 100 đồng lúc bấy giờ là một số tiền lớn đối với dân
lao động nghèo. Giá một bữa cơm là 4-5 đồng ở hàng quán ăn bình thường.
Tiền ăn ở trọ cho học sinh (sinh viên) là 400 đến 500 mỗi tháng tùy nhà cửa
rộng hẹp. Đi học xa nhà, ăn ở trọ nhiều nơi như Sài Gòn hay Hà Nội thì tôi
tất biết. Có ticket cầm tay, khách vào cổng đi thẳng, chẳng ai gọi khám
xét, hoặc trình giấy tờ. Qua một sân nhỏ bước vào ngôi nhà ngay chính
giữa. Có nhiều cô gái trong căn phòng lớn. Năm sáu cô thấy khách chạy ùa
đến tíu tít, khách vừa ngồi xuống ghế thì các cô kẻ níu tay, người quàng
vai, mời mọc, khó thoái thác. Các cô trông đều trẻ, đều trang điểm đẹp đẽ
sàn sàn ngang nhau, mỗi người một vẻ. Nhưng dù có người đẹp hơn hẳn, tài
mạo song toàn cỡ cô Kiều, đàn ca múa hát đều giỏi thì ở đây cũng vô dụng.
‘Cá đối bằng đầu’ giá cả đồng hạng, là ticket 100 đồng. Gặp lúc đông khách
thì dám hết chọn? Vớ được một cô, khỏi chờ đợi là tốt rồi! Trao ticket cho một
cô vừa ý, khách đi cùng nàng đến một dãy nhà kế cận, vào một căn phòng còn
trống. Mở cửa thấy phòng khá rộng, ước độ 9-10 mét vuông, trang nhã, tươm tất,
dù bày biện khá đơn sơ. Một giường đôi, có nệm gối vải trắng tinh, ngay
ngắn, kê sát tường và có gắn gương soi chạy dọc. Ngoài ra, trong phòng còn
có một tủ gỗ thấp; có nhiều hộc chứa bao gối, khăn trải giường và một bồn
lavabo rửa tay có đặt giỏ rác ở dưới. Thời lượng ngầm của ticket là nửa giờ.
Khu Bình Khang này thấy mở cửa suốt đêm ngày. Tấp nập nhất là từ chiều tối và
ngày lễ. Ngoài bán dâm ở đây không mở dịch vụ nào khác (ca nhạc, ăn
uống…). Khách vào chơi an tâm được pháp luật che chở, nhà cửa, phòng ốc đàng
hoàng và kẻ bán hoa được bảo đảm không ai quấy rầy. Trùm du đãng, băng
đảng giang hồ nào dám đụng chạm vuốt râu hùm lính cảnh sát an ninh Bình
Xuyên, dữ như cọp! Khu Bình Khang được Chính phủ Tổng Thống Diệm ra lệnh chính
thức đóng cửa ngày 1/12/1955, tính ra đã hoạt động chưa trọn ba năm. Khu
Bình Khang cũ bây giờ ra sao, còn dấu tích gi? Tiếc thay tôi không có dịp viếng
lại nơi xưa”.
Khu
Bình Khang bây giờ là một tòa nhà cao tầng kiên cố, trụ sở của trường Đại Học
Hành Chính Quốc Gia. Cơ sở này đã được khởi công xây dựng từ năm 1968, vốn là
cơ ngơi của Trường Công Tác Xã Hội.
Khoảng
năm 1967, cơ quan UNICEF (United Nations
Children’s Fund) của Liên Hiệp Quốc dành một ngân khoản 2 triệu Mỹ kim viện
trợ cho Bộ Xã Hội xây cất một trường đào tạo nhân viên và cán bộ xã hội. Bộ Xã
Hội quyết định chọn khu đất Bình Khang cũ hiện do Bộ quản lý để tiến hành công
tác xây cất. Nghe được tin này, một nhân vật cũ của Bình Xuyên là Ba Đức đã nộp
đơn khiếu nại chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trước đây đã “cưỡng chiếm”
khu đất này một cách trái phép. Một cuộc họp Liên Bộ được Tòa Đô Chánh triệu
tập để giải quyết vấn đề này.
Khi đó
tôi đang phụ trách về pháp chế, kế hoạch và ngoại viện của Bộ Xã Hội, được cử
đại diện Bộ tham dự phiên họp này. Không hiểu sao ông Ba Đức biết được tin này,
đã nhiều lần tới văn phòng của tôi kêu oan và hỏi địa chỉ tư gia của tôi. Tôi
nhấn mạnh tôi chỉ làm việc tại văn phòng.
Để sửa soạn cho buổi họp, tôi truy tìm hồ sơ vụ này. Chuyện khá phức tạp vì hồi
đó chưa có Bộ Xã Hội mà chỉ có Tổng Nha Xã Hội đặt trụ sở tại địa điểm khác.
Phòng Văn Khố của Bộ không tìm thấy hồ sơ nào dính líu tới vụ này. Tôi nhấn
mạnh hồ sơ từ Tổng Nha thời Đệ Nhất Cộng Hòa, họ cho biết có thể trong phòng
lưu trữ đã từ lâu không ai đụng tới. Tôi cho một số nhân viên cùng tôi xuống
tìm. Khi mở cửa phòng, mùi ẩm mốc xông lên, bụi bám đầy cả núi hồ sơ. Phải mất
vài ngày chịu đựng khung cảnh thiếu vệ sinh này, nhân viên của tôi mới tìm được
tập hồ sơ mỏng lét gồm tờ trình và một tờ giấy học trò do chính ông Ba Đức viết
tay và ký tên đồng ý giao khu đất cho chính phủ sau khi được xóa bỏ khoản thuế
khổng lồ tồn đọng trong thời gian dài cùng một số đền bù khác.
Khi
tôi tới phòng họp tại tòa Đô Chánh thì Ba Đức đã ngồi trước cửa phòng. Chủ tọa
cuộc họp là đại diện tòa Đô Chánh phát biểu đầu tiên nhấn mạnh vào lẽ công
bằng, yêu cầu Bộ Xã Hội không nên ép buộc đương sự. Các đại diện các bộ và cơ
quan khác phát biểu tiếp theo, cùng một luận điệu. Có lẽ họ đã được ông Ba Đức
tìm gặp. Tôi là người trình bày cuối cùng, đưa cho mọi người coi tờ giấy do
chính ông Ba Đức ký để chứng minh ông ta đã giao quyền sở hữu khu đất cho chính
phủ sau khi được đền bù thỏa đáng. Trước chứng cớ này, các đại diện đã phải công
nhận là chuyện đã được giải quyết từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi vội ra về trước
ánh mắt trừng trừng của ông này. Sau đó tôi đã phải hàng ngày thay đổi lộ trình
và giờ giấc tới sở.
Lễ
đặt viên đá đầu tiên xây cất trường Công Tác Xã Hội diễn ra vào ngày 5/9/1968
do Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa. Sau 2 năm thi công, lễ Khánh Thành
trường được cử hành vào ngày 24/11/1970 do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa.
Trường
được xây rất kiên cố với tòa nhà hành chánh, các giảng đường rộng lớn, thư viện
chuyên ngành xã hội để các khóa sinh tham khảo. Khu vực thực hành có các phòng
mô phỏng các trung tâm xã hội, phòng tư vấn tâm lý và khu huấn luyện kỹ năng
phát triển cộng đồng.
Các
khóa sinh được tuyển chọn khắt khe qua các kỳ thi tuyển. Trường đã đào tạo được
nhiều Kiểm Sự Xã Hội và Phó Kiểm Sự Xã Hội được bổ dụng làm việc tại các ty xã
hội và các cơ sở như cô nhi viện, viện dưỡng lão, trung tâm cộng đồng. Ngoài
việc học lý thuyết về xã hội học, tâm lý học, kỹ thuật công tác xã hội, các học
viên còn phải đi thực tế, viết báo cáo thực tập, nghiên cứu và thực hiện các kỹ
thuật chuyên ngành.
Giám
Đốc đầu tiên của trường là Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh, tốt nghiệp Xã Hội Học tại
Mỹ và Philippines. Bà Oanh còn có thời gian làm Giám Đốc Cư Xá Thanh Quan dành
cho nữ sinh viên trên đường Hiền Vương mà các thanh niên nhiều người thường lui
tới. Bộ Xã Hội cũng đã cử các nhân viên trẻ du học về công tác xã hội và phát
triển cộng đồng tại Mỹ và Philippines . Sau khi tốt nghiệp văn bằng Master, họ
đã về tham gia giảng dậy và giữ các chức vụ điều hành trường.
Từ
khi có trường Công tác Xã Hội, các hoạt động của bộ Xã Hội được tiêu chuẩn hóa,
không chỉ còn là cứu trợ và từ thiện mà đã được nâng cấp thành một hoạt động có
bài bản, mang lại lợi ích không nhỏ cho các thành phần dân chúng cần sự giúp đỡ
và chăm sóc của chính phủ.
Cũng
vui khi một nơi của tệ nạn xã hội trở thành một nơi của những người có chức
năng cải tạo xã hội. Chỉ tiếc một điều là sau 1975, nơi này biến thành Trung
Tâm Hành Chánh Quốc Gia chứ không còn dính dáng chi tới cải tạo xã hội nữa.
08/2026
Website: www.songthao.com