Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

906 . NGUYÊN CẨN - Ngẫu Hứng về những bể dâu trong lịch sử ..

                                                                               


Ngẫu hứng về những bể dâu trong lịch sử ...

Bể dâu ư ? Chẳng có bể dâu nào !
Đời vốn vô thường từ khi có mặt
Những con chữ rỉ buồn như cặn sắt
Rơi rụng dần qua cỗ máy buồn thiu

Từ big bang nhân loại cứ bơ vơ
Tìm lẽ sống trên hành tinh chật chội
Vác thập giá trên hai vai quá mỏi
Muốn ngả mình tìm lại giấc chiêm bao

Trên tháp cao thánh nhân đang bán rao
Lời thuyết giảng về ngày mai--công lý
Bên những tượng đài từ lâu yên nghỉ
Mặc muôn dân đánh vật với lầm than

Người lại nói về ngọn gió mùa xuân
Trong những hoàng hôn đông tàn hiu quạnh
Người gọi nắng mai về trong giá lạnh
Những cơn mơ đánh thuế đến hai lần

Vì ngông cuồng người thế chấp quê hương
Bán trái phiếu niềm tin vô kỳ hạn
Gởi lịch sử vào kho hàng phế phẩm
Hồn núi sông hóa thạch giữa đau thương

Bể dâu ư ? Không, Chỉ có vô thường !
Đang mong đợi ngày chiêm bao bốc cháy
Nghe dưới mồ bùng lên cơn gió đáy
Thổi tung đi oán hận đã ngàn năm

Đêm tan ra từng mảnh vỡ mù sương
Chợt thức giấc sau tiếng gà gáy vội …

Nguyên Cẩn

 

Có nghĩa gì?

 

Có nghĩa gì một mai con thành đạt 

Mẹ đã về trời như bóng mây?

Đóa hồng đau cắm ngập trái tim đầy

Những kỷ niệm một thời lang bạt,

 

Có nghĩa gì một mai con hạnh phúc

Mẹ lại nhạt nhòa trong khói hương bay?

Khoảng không nào trong ký ức hôm nay

Dành cho Mẹ chỗ ngồi trân trọng nhứt 

 

Có nghĩa gì một ngàn ngày vinh hiển 

Hay chỉ là bọt biển giữa trùng dương?

Khi Mẹ giờ xa khuất giữa mù sương 

Nghe quạnh vắng trước thiên đường đối diện 

 

Có nghĩa gì những chiều mưa thành phố 

Bão xô đời phiêu dạt lũ chim côi 

Lối về nhà nay bỗng quá xa xôi ,

Chiếc giường nhỏ xưa Mẹ nằm  cứ  ngỡ  …

 

Có nghĩa gì?  Hoa trắng  cài lên áo   , 

Mẹ đi rồi còn có nghĩa gì đâu?

Cuộc đời này dài lắm những đêm thâu 

Nghe tiếng dép giật mình – con nhớ Mẹ!


Và sẽ hết…

 

Đi cho hết một hoàng hôn trên đất,

Sống cho hết một cuộc đời tất bật,

Nói cho hết những nghĩ suy rất thật,

Rồi sẽ về như một giọt sương mai,

 

Cười cho hết những niềm vui  như Tết,

Thở cho hết  tháng năm dài  thấm mệt,

Khóc cho hết những thân tình đã chết,

Rồi thả lòng bay nhẹ giữa hư không,

 

Viết cho hết những trang đời  diễm ảo,

Dốc cho vơi những tâm tình áo não,

Xét cho tận  tấc lòng  không lỗi  đạo,

Rồi  sẽ  nằm thanh thản giữa hoang vu,

 

Uống cho cạn một hồ trường chất ngất,

Chơi cho trọn ván cờ tàn, dẫu mất,

Chôn  cho sâu hận thù  xưa  trong đất ,

Rồi sẽ ngồi kể lể chuyện chiêm bao,

 

Đi cho hết một  chiều  xuân nắng lạ,

Một sớm  hạ phượng hồng reo giục giã,

Một buổi trưa thu vùi đau dưới  lá,

Rồi nhẹ nhàng bướm mộng khép  đêm đông, 

 

Và sẽ hết  những ngày vàng  trên  đất,

Ngươi sang đò hoa rụng trắng bên sông…

 

Nguyên Cẩn

 

 

905 . LÊ CHIỀU GIANG - Đinh Cường Với Hồ Tịnh Tâm Hay Dòng Sông Potomac

                                                                                                 


 

Lê Chiều Giang

 

 

Sao lòng ta bỗng rộn ràng

Như những toa tàu sắp chạy

Thăm những nhà ga sắp hồi sinh

Những nhà ga sắp thở…”

[Đinh Cường 1969]

 

Anh Đinh Cường gọi phone cho tôi chỉ để hỏi:” Làm sao để thành ...Cá?”.

Cá bơi xuôi lội ngược, vẫy vùng trong biển lớn, hay quanh quẩn trong hồ ao? Cá đẹp óng ánh bơi ngược dòng, hay lừ đừ chịu trận trong lưới ngày, và ngay cả đang giãy dụa chết bởi những lưỡi câu lờ lững?

Không phải, Anh muốn hỏi tôi về cá khác. Cá Vàng.

Năm 1997, anh Trần Công Sung từ Paris viết bài về chuyến ghé thăm một số bạn bè sống ở California và một vài tiểu bang khác.

Tạp Chí Thế Kỷ 21 gửi xuống San Diego bài viết của Trần Công Sung viết riêng cho Nghiêu Đề, chỉ bởi từ câu nói đùa của anh:” Suốt bao năm, Giang ngắm nhìn tôi như thích một con Cá Vàng”.

Anh Trần Công Sung viết lời ngợi ca, khen tặng tất cả những “Vợ hiền” trên trái đất. Dù có thấp thoáng, lao xao với chút hồn thơ mộng, vẫn không dám chểnh mảng cái trách nhiệm khó khăn muôn đời của “Hội Phụ Nữ” chúng tôi: Bằng mọi giá, phải luôn xây dựng, vun xới quyết liệt cho một gia đình ấm êm, và hạnh phúc…

Anh Đinh cường thắc mắc hỏi tôi làm thế nào mới ra Cá Vàng.

 

Cuối cùng, Anh Nghiêu Đề đau ốm buông bỏ hết mọi thứ, rồi ra đi.

Và trước khi tôi bước những bước dài theo một Nhân Duyên hoàn toàn mới. Trong những chuyến du lịch xa xôi, tôi ghé Virginia thăm ngôi nhà thơ mộng của anh chị Đinh Cường.

Trên chiếc xe nhỏ mầu đỏ, Anh chạy nhiều vòng qua mọi phố, loanh quanh cùng tôi xem những kiến trúc yêu kiều của DC.

Nhớ nhất là lúc tôi ngồi dưới bóng của một tàn cây xanh mát, kiên nhẫn chờ Anh viết cho xong bài thơ bên dòng Potomac. Dòng sông với nước lung linh sáng trong ánh nắng gay gắt giữa trưa. Đúng giờ Ngọ.

Nhìn bóng nước xôn xao, tôi chợt tự hỏi có phải Anh đang nghĩ đến chiếc nhẫn anh đã quăng xuống hồ Tịnh Tâm? Ném đi mất tăm mối tình đầu tan vỡ của anh, ngay giữa dòng nước hồ tịch lặng.

Chiếc nhẫn cũng như đáy hồ, nơi chôn kín bao điều bí ẩn về mối tình xa xưa đó của anh…

Cũng toàn là chuyện tôi được nghe kể lại. Chỉ có điều duy nhất mà tôi còn nhớ,  sau 1975 lúc phải chới với, điên đầu trong than lửa áo cơm nhọc nhằn, anh Nguyên Khai đã tiếc nuối hỏi đùa Đinh Cường :” Mi ném nhẫn đó góc nào? để tau ra Huế, lặn tìm cho ra chiếc nhẫn vàng dưới đáy hồ, sửa soạn một bữa tiệc linh đình, đãi anh em Hội Hoạ Sĩ Trẻ…Anh chỉ im lặng cười phá lên cùng bè bạn.

Lái xe có khi lạc đường, quên lối, nhưng chúng tôi chẳng mấy quan tâm. Anh ghé hai quán Cafe có trưng tranh, treo bán nhiều tác phẩm rất nhỏ anh ký gửi. Tôi thú vị tìm ra cái hay hay của những bố cục muốn vượt hẳn ra ngoài khung tranh, những nét vẽ miên man, bất tận trong một không gian nhỏ hẹp. Rõ ràng tôi đã quen thưởng lãm tác phẩm Đinh Cường qua những tấm canvas lớn. Bóng thiếu nữ dịu dàng đứng bên góc nhà thờ, thanh thoát bay cùng tiếng chuông xa vời, trong những chiều thu im vắng.

Anh dặn dò: ” Hôm nay anh mời, Giang phải uống rất nhiều, có thể uống trăm ly Cafe cho hết tiền của hai bức tranh nhỏ vừa bán”. Tôi cũng hay Cafe sáng, trưa và chiều tối, có khi cả tỷ tỷ ly trong những lúc chán đời, buồn bã từ ngày anh Nghiêu Đề đau ốm rồi ra đi. Nhưng hôm nay, một ngày rất đẹp, rất vui ở DC, chắc tôi không thể không uống như lời anh mời mọc.

Anh tiếp tục lái xe, cứ lạc lối và cứ lạc đường, quyết để tìm mua những chai Red Wine, dưới trăm cái tên mà cả anh và tôi đều chẳng biết rượu ngon hay dở. Anh muốn dùng cho hết tiền tranh vừa mới có, không hết bởi Cafe, thì phải uống thêm rượu đỏ. Uống như sự đãi ngộ, phải như một tưởng nhớ về người bạn thân vừa mới bỏ đời, ra đi...

Chiều nhạt nắng với ngàn lá phong rơi rụng, con đường mòn phía sau nhà Anh trải đầy lá úa. Chúng tôi ngồi Cafe, nhắc lại nhiều kỷ niệm từ những ngày còn Hội Họa Sĩ Trẻ, những ngày tôi còn đi học, tôi còn bé xíu.

Tôi nhất định không muốn quên lời khiếu nại trong lần đầu tiên tôi gặp anh,  anh theo dõi bức tranh của Nghiêu Đề. Bức tranh mà khi mang tới phòng triển lãm của Hội Hoạ Sĩ Trẻ ở Alliance Francaise Gallery. Chân dung đẹp mơ màng của tôi với khung tranh chỉ được anh Nghiêu Đề quấn rất vội vàng bằng những sợi dây lạt. Với tôi, đó là một khung tranh khác lạ hay hay, và có thêm cả sự chân tình, dễ thương. Nhưng ngay lập tức, anh Đinh Cường nói với tôi theo một ý nghĩa khác:” Bằng mấy vòng giây lạt đó, “Nó” sẽ trói đời cô vào cái kiếp sống lơ tơ mơ, sống vất vưởng trên cung trăng, sống lang thang bên ngoài trái đất …”

Và lời anh Đinh Cường nói đã như một tiên tri, những sợi dây lạt tưởng như mong manh dễ rớt rơi đó, đã trói buộc tôi với anh Nghiêu Đề, một họa sĩ tài hoa nhưng nghèo nhất nước.  Chúng tôi đã sống chan hòa, sống cùng nhau cho đến hết, và cho cả đến chết.

—---------------

Chị Đinh Cường mời thêm họa sĩ Ngọc Dũng, người có nhà rất gần, một bạn thân mà như hàng xóm. Chiều tà với lá tả tơi bay, lá rụng vàng theo gió sau hiên nhà. Chúng tôi ngồi với Cafe, và những ly rượu đỏ.

“...Ngoài ta ai đón trăng huyền lặn

Mà dẫn đi qua khỏi cửu trùng?...”

[Trần Dần]

Anh Ngọc Dũng đọc thơ Trần Dần, Hữu Loan. Tôi ngâm thơ Hoàng Cầm, Quang Dũng...

“...Vầng trán em vương trời quê hương

Mắt em dìu dịu buồn Tây phương

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

Em có bao giờ em nhớ thương?...”

[Quang Dũng]

Chúng tôi như đang sướt mướt, gọi mời những hồn ma bóng quế trong Nhân Văn Giai Phẩm về đây, ngồi với.

“...Chồng em rách nát chiến bào

Vi vu gió thổi, bay vào Kinh Đô…”

[Hoàng Cầm]

Chút se sắt lạnh của chiều như làm những lời thơ xưa, nửa hùng tráng nửa buồn hơn.

Tôi nhắc anh Đinh Cường bài thơ mới bên dòng Potomac.

Anh tìm trong túi áo, anh ra tìm ngoài xe… Bài thơ chưa thuộc, bài thơ biến mất.

Anh tiếc nuối những vần thơ vừa mất tích.

 Bài thơ anh viết bên dòng Potomac cũng đã thất lạc, chôn sâu dưới dòng nước im lìm.

Nhớ nhớ quên quên, Anh thở những hơi dài trong Pipe thuốc, đọc bài thơ mới làm sáng nay, với nhiều câu nhắc đến chiếc nhẫn đã quăng giữa lòng hồ Tịnh Tâm. Nhìn khói haft & haft mơ màng bay, nghe thơ mà tưởng như đang nghe anh kể lại những kỷ niệm xa vời...

Tránh đi chút nặng nề của quá khứ, anh mời chúng tôi xuống basement, Studio với rất nhiều tranh sơn dầu. Hội Hoạ Sĩ Trẻ chỉ có anh là người vẽ nhiều tranh nhất. Anh có nhã ý tặng bức nào tôi muốn mang về california.

Tranh của anh tôi treo trong phòng khách, vẫn rất mơ màng và u hoài như một bài thơ cổ.

---------

Chỉ một năm, sau lần chúng tôi ngồi Cafe bên khu rừng phong rất đẹp ở nhà anh Đinh Cường. Từ nơi khác xa xôi, tôi biết tin anh Ngọc Dũng ra đi.

Nghiêu Đề, Ngọc Dũng, và rồi Đinh Cường. Những con Cá Vàng như lời ví von của một năm nào, rất cũ. Lần lượt đã theo dòng nước trôi, rồi biến mất tăm, và sẽ quên lãng hết, ngay cả trong lòng người.

Duy nhất anh Đinh Cường, người ước ao biến thành “Cá Vàng”.

Cá vàng đã lững lờ lặn sâu xuống dòng nước cũ, đã tìm cho ra dưới lòng hồ Tịnh Tâm, chiếc nhẫn nào đã ném đi từ những năm xưa.

Trên chiếc cổ nho nhỏ, Cá Vàng có mang thêm chiếc nhẫn.

Nhẫn vẫn đẹp rực rỡ và óng ánh sáng như một chiếc kiềng vàng.

Lê Chiều Giang

[Tạp Chí Ngôn Ngữ. 1/2022]

 

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

904 . NGUYỄN VY KHANH - Về NGUYỄN MINH NỮU THỜI HẢI NGOẠI

                                                                                   

 

Nguyễn Minh Nữu là tên thật, sinh ngày 6-1-1950 tại Hà Nội. Di cư vào Nam năm 1954, nhập ngũ năm 1968 giải ngũ năm 1975. Làm thơ viết văn từ 1970, truyện đầu tiên Một Thoáng Mây Phiêu Bạc đăng trên Giai phẩm Văn số mùa Xuân 1971. Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1995 và hiện sống tại Virginia. Sáng lập và thư ký tòa soạn tạp-chí Văn Phong (Washington DC, 1999-2001) và chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ (Washington DC, 1997-2014).

Tác-phẩm văn học đã xuất bản: Lời Ghi Trên Đá (thơ; NXB Văn Nghệ Việt-Nam, 2006); Thương Quá Saigon Ngày trở lại (bút ký và truyện; Văn Nghệ, 2017), Thuồng Luồng Mắt Biếc (truyện và ký; Nhân Ảnh, 2021); Đất Nhớ Người Thương (bút ký; Nhân Ảnh, 2022).

903 . LÂM MINH ANH - Văn Hóa Văn Lang

                                                                                                             


 VĂN  HÓA VĂN  LANG

 Nếu sử dụng bộ “ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” của Lê Ngô Cát (triều Tự Đức) để có cái nhìn sơ lược về lịch sử nước nhà, nhất là để tâm đến giai đoạn khởi sự lập quốc, có lẽ ai cũng thích tìm biết những quốc hiệu có từ thuở ban đầu. Tất nhiên nhiều người sẽ tìm đến tên nước cổ xưa nhất của Việt tộc thời vua Hùng:

         “Hùng Vương đô ở Châu Phong,

          Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang.

          Đặt tên là nước Văn Lang,

          Chia mười lăm bộ, bản chương cũng liền…”

Tại sao tổ tiên người Việt lại đặt tên nước là Văn Lang? “Văn Lang”  [文郎] ngữ nghĩa là gì?

    § Về chữ Văn này [] : theo chiết tự, bên trên là bộ Đầu [], chỉ sự nhất quán; nằm dưới là chữ Nghệ [], chỉ cho việc cai trị, sự an bình, người tài năng…Nói trọn nghĩa, hàm nghĩa trong Văn , được hiểu đã có sự thống nhất về kỹ năng tổ chức cai trị, ổn định trật tự, đem đến sự an lành cho dân chung.

   § Về chữ Lang [] : Văn tự cổ xưa có hình dạng chữ Ấp , và Lương [] làm phù âm 古字形從邑,良聲 sau đó, chữ Ấp đổi thành bộ Phụ []. Theo chiết tự hiện nay, bên trái chữ Lương [], nghĩa là hoàn thiện, hoàn hảo; bên phải là bộ Phụ [], trước kia thuộc Ấp, để chỉ cho một vùng đất đã khai hoang, vỡ hoá, đã thuần dưỡng …Nói trọn nghĩa, Lang là vùng đất đã có thôn trang gia súc quanh nhà, có con người canh tác đồng áng ruộng nương, có sự sinh hoạt xã hội, có tổ chức chính trị… Nói rộng hơn, là một lãnh thổ đã có chủ quyền.

   Trong lịch sử hình thành chữ viết, ban đầu con người mượn, hoặc bắt chước hình dạng của muôn loài. Chẳng hạn hình dạng mặt trời để trở thành chữ Nhật [] trong Nho tự, hoặc hình tượng mặt trăng để tạo thành chữ Nguyệt [] …để khắc (trên khối đá), vẽ (trên vách tường), thắt gút (dây, chỉ sợi)… mà chế tác ra chữ viết, để ghi nhận, chép lại các hoạt động của sự sống chung quanh…

   Đó cũng chính là ý nghĩa chữ Văn [] nguyên thủy (là ký sự) khi hình thành chữ “Văn”.

   Như vậy Văn Lang ở đây được hiểu là vùng đất đã có biên vực, có cư dân, có tổ chức cai trị với mục đích đem đến sự an bình nuôi dưỡng sự phát triển năng lực, năng khiếu con người trong lãnh thổ ấy.

   Đến đây không thể không đề cập ngữ nghĩa vương hiệu triều đại thời lập quốc, tức quốc hiệu của một nước “Hùng Vương” [雄王].

  § Về chữ Vương []: theo chiết tự, hình dạng ba vạch ngang tượng trưng Trời, Đất và Người, và nét sọc đứng thể hiện sự nối kết “tam tài” 三才 trong vũ trụ là “Thiên Địa Nhân” thành một thể duy nhất, và theo quan điểm Nho gia, người làm được việc đó gọi là Vương. Cho nên trong Thuyết Văn chỉ rằng: Khổng Tử từng nói: “Thiên Địa Nhân” 天地人, “Tam quán vi vương” 三貫為王 là vậy. Nếu tìm hiểu nghĩa gốc xưa, thì trên Giáp cốt văn, hình dạng của chữ Vương là cái búa rìu - “phủ việt” (hối) 斧鉞🪓.

   § Về chữ Hùng [] : theo chiết tự, bên trái là bộ Hoằng [], (được viết giản lược từ chữ )  biểu thị sự to lớn, rộng rãi; bên phải là chữ Chuy [] chỉ tên chung giống chim có đuôi ngắn. Nói trọn nghĩa thì Hùng là lãnh thổ của cư dân lấy giống chim ấy làm vật tổ (totem). Nếu tìm đến nghĩa gốc xưa, thì trên  Giáp cốt văn, hình tượng của chữ Hùng là cánh tay - “thủ tý” 手臂💪.

   Còn theo nghĩa thông thường để giải thích ngữ nghĩa Hùng, Hùng (với nghĩa đen) là vua các loài thú - “ thú trung chi hùng” [獸中之雄].

   Tựu chung, với hai thích nghĩa trên, Hùng Vương có thể hiểu theo nghĩa là người đứng đầu lãnh đạo tộc Việt, của lãnh thổ Văn Lang.

   Xem vậy, nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có một nền văn hoá thậm chí có văn hiến, bởi trải qua 18 đời vua Hùng Vương theo truyền thuyết (?) nên mới thể hiện được Quốc hiệu và Vương hiệu như thế. Có thể nói, Việt tộc lúc bấy giờ đã tiềm ẩn tính VĂN trong đời sống, đã dùng VĂN để giáo hoá con người. Văn Lang đã hội đủ các yếu tố phát triển tiến bước tới văn minh, như đoạn mở đầu của “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” từng nhắc đến:

   “Nghìn thu gặp hội thăng bình,

    Sao khuê sáng vẻ Văn minh giữa trời

    Lan đài dừng bút thảnh thơi,

    Vâng đem quốc ngữ diễn lời sử xanh”…

 Vậy mở rộng nghĩa ra ở đây, Văn nó như thế nào, và Hoá là gì!?

  § Về chữ Văn [] : theo Đào Duy Anh, Văn còn có nghĩa là Người có học vấn, lời văn, là lễ pháp (nghi lễ, phép tắc), là văn vẻ, dáng vẻ bề ngoài … vì bộ Nghệ [] trong chữ Văn [] có hình dạng nét phẩy, nét phiệt giao thoa lẫn nhau, hình thành biểu tượng của nét đẹp, biểu trưng sự cung kính của hai cánh tay chắp vào nhau…

  § Về chữ Hoá []: Hình dạng trên Giáp cốt văn, vẽ ra hình 2 người, một trước một sau, một trên một dưới đảo ngược nhau, tượng trưng trong quá trình biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, thuộc chữ hội ý. Theo chiết tự, bên trái là bộ Nhân đứng [], chỉ người đã trưởng thành; bên phải là chữ Chuỷ [], biểu thị  cái thìa, cái muỗng, dao găm, lưỡi kiếm, mũi tên. Nói rộng ra, Hoá là vũ khí của con người để điều chỉnh cuộc sống chung quanh theo lẽ tự nhiên. Cảm hoá có hai cách: nhẹ nhàng, ngọt ngào (biểu tượng là củ cà rốt), hoặc là trừng phạt (biểu tượng là vũ khí). Ví như, dùng chính trị mà cảm gọi là “Phong hoá” 風化, dùng ân nghĩa mà cảm gọi là “Đức hoá” 德化, dùng lễ giáo mà cảm gọi là “Văn hoá” [文化]. (ngữ nghĩa văn hoá ở đây được diễn giải theo tinh thần phương Đông, chứ không theo ngữ nghĩa “Culture” theo tinh thần phương Tây).

   Tóm lại, Văn hoá là biểu trưng của ân nghĩa, lễ nghi, đạo đức, tư tưởng, tín ngưỡng, văn tự, ngôn ngữ, câu hò điệu hát, đàn ca vũ nghệ …(thuộc tinh thần); y phục, trang sức, nhạc cụ, nhà cửa, cầu cống, công trình kiến trúc, phương tiện đi lại…( thuộc vật chất) trong một xã hội có tổ chức hẳn hoi.

   Từ đó, Văn theo nghĩa là người có dáng văn vẻ mẫu mực, có học vấn, có cống hiến lợi ích, là người có giá trị cho xã hội…, đó là theo quan niệm Á Đông ngày xưa. Do đó, gần như ai cũng qúy trọng người có học (dù chỉ biết đôi dăm ba kinh sử), thường gọi là “văn nhân” 文人. và không chỉ có ngần ấy thôi, thông thường người có học đều đặt tên với những mỹ từ bằng chữ Văn. Ghế cho văn nhân ngồi được gọi là “văn kỷ” 文几. Giày cho văn nhân mang được gọi là “văn  hài” 文鞋. Tập hợp các trước tác của văn nhân gọi là “văn uyển” 文苑. Giấy mực, bút nghiên của văn nhân sử dụng gọi là “văn phòng tứ bửu” [文房四寶].

  Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam cũng đã có câu bày tỏ ước muốn kết thân với văn nhân qua câu ca dao:

    Chẳng tham ruộng cá ao liền,

    Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ.

  Cái bút cái nghiên của anh đồ đã thể hiện tính VĂN trong đời sống của người Việt, dù trong thời bình hay thời chiến. Khi binh lửa xảy ra, cây bút của Văn nhân không phải là không góp phần trong cuộc chiến, những văn nhân cũng sẵn sàng khoác áo chinh nhân  xông vào khói lửa như hình ảnh chàng tuổi trẻ trong “Chinh Phụ Ngâm”:

   Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,

   Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung…

Nếu nói về cuộc chiến chống ngoại xâm lần đầu tiên của nước Văn Lang, thì chính là cuộc chiến với giặc Ân phương Bắc vào thời Hùng Vương thứ 6. Theo “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” [大越史記全書], Kỷ Hồng Bàng Thị :Có chuyện Phù Đổng Thiên Vương rất oai hùng. Đời sau

 Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng). “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” mặc dù không nói đầy đủ như “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, nhưng cũng thể hiện tính truyền VĂN cho đời sau:

             Sáu đời Hùng vận vừa suy

             Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài

             Làng Phù Đổng có một người

             Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ

             Những ngờ oan trái bao giờ

             Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân

             “Nghe” vua cầu tướng ra quân

              Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang …

   Chỉ cần “Nghe” vua cầu tướng ra quân, cậu bé bỗng nói được, bừng lớn dậy, sẵn sàng xin ra trận. Như thiên tướng, chàng trai Phù Đổng ngày ấy cùng với giáp sắt, ngựa sắt ra uy sấm sét, nhổ tre đằng ngà quét đánh binh tướng giặc Ân. Đến nửa chiều, giặc giẫm đạp lên nhau mà chạy. Bấy giờ “Cậu bé phi ngựa lên trời mà đi (!?).

     Không cần truy sát sinh linh.

     Không cần đón nhận công trạng.

     Không cần ban thưởng tung hô.

     Không cần NGHE những lời xưng tụng của người đời sau…

Nghe - nghe - nghe… Việt Nho có hai chữ là Văn và Thính để diễn đạt chữ Nghe.

   § Về chữ Văn [] : nguyên nghĩa là nghe thấy, ngửi thấy, nghe được âm thanh, thuộc chữ hội ý, biểu thị điều nghe mà biết, lời truyền đạt, tiếng động, nổi tiếng nổi danh…Trên Giáp cốt văn có hình dạng một người dùng tay

kéo một bên trái Tai xuống để lắng nghe. Văn : theo chiết tự, bao quanh bên ngoài là chữ Môn [], chỉ nhà có 2 cánh Cửa (khác với chữ Hộ [], chỉ nhà có một cánh Cửa khép mở); bên trong là chữ Nhĩ [], nghĩa là cái Tai 👂. Đây là cái tai được nghe từ nội tâm con người, cái nghe trọn vẹn trong nhà (theo nghĩa hẹp). Hàm nghĩa: Cái nghe được truyền đi từ cửa nhà này sang cửa nhà khác, từ nơi này đến nơi khác, rồi đi ra khắp nơi… Nói rộng hơn nữa, Lịch duyệt hoặc Hiểu biết của con người đều nhờ Tai (nghe), và Mắt (thấy) với tư duy mà có. Ví như 

  -Nghe nhiều sẽ hiểu rộng - “Bác học đa văn” 博學多聞

  -Nghe ít sẽ nông cạn - “Cô lậu quả văn” 孤陋寡聞.

  -Tiếng nghe động tới cửa trời - “Thanh văn vũ thiên” 聲聞于天      

-Ngửi thấy mùi hương rồi. “Văn kiến hương vị liễu” 聞見香味了

    § Văn với nghĩa “truyền văn”傳聞, lời truyền đạt…lời nghe đồn. “Dự văn” 預聞, đích thân đến tận nơi để nghe. “Lệnh văn” 令聞, gọi là tiếng khen tốt. “Phong văn” 風聞, là những mảng văn được nghe nói tới.

     § Văn [ với nghĩa là tiếng tăm, danh vọng, nổi tiếng nổi danh…Ví như, chỉ  nghe qua danh tiếng mà chưa thấy được người, hoặc nghe tiếng mà không thấy hình dáng

Đời Tấn (Nam Bắc Triều), Trong Trang Tử, Thiên Vận,天運 

    Ngoại thiên, Quách Tượng chú giải:

    “Thính chi bất văn kỳ thanh” 聽之不聞其聲

     “Thị chi bất kiến kỳ hình”.    視之不見其形

Trong “Xuất Sư Biểu” của Gia Cát Lượng thời Tam quốc (Nguỵ, Thục, Ngô) có câu: Chẳng cần tiếng tăm truyền đến các nước chư hầu. - Bất cầu văn đạt vu chư hầu. 不求聞達于諸侯. Ở đây, cách hành xử của Thừa tướng nhà Thục Hán (Khổng Minh) gặp được tính Văn của Phù Đổng Thiên Vương Việt tộc trong việc: Không cần đón nhận công trạng, không cần Nghe lời xưng tụng của người đời sau…

§Văn là pháp môn tu của Phật giáo trong Tam Vô Lậu Học; Văn, Tư, Tu: Nghe, suy ngẫm, thực hành. Đức Phật thật công bằng và từ bi , Ngài luôn khuyến khích các môn đồ hãy nghe và suy nghiệm cẩn thận bất cứ điều gì kể cả những gì Phật dạy, sau đó tự thân thấy đúng thì mới làm theo, niềm tin mù quáng chỉ đem lại phiền não mà thôi.

   § Về chữ Thính [] : theo chiết tự, bên trái kết hợp với hai bộ Nhĩ [] và Vương [] ; bên phải có bộ Nhất [ ], bộ Tâm []; nằm dưới là chữ Thập []và chữ Mãnh [ ]. Như vậy, Thính là nghe, nhưng dùng tai để nghe trực tiếp người đối thoại bằng sự cảm nhận, chăm chú, tập trung từ đó đưa ra phán đoán đúng đắn: nên đồng tình hay không. Thí dụ:

- Nghe sách là Thính thư [聽書].

- Thuận theo, vâng theo là Thính giáo [聽教]; 

- Nghe theo lời nói và kế sách (của họ) - “Ngôn thính kế tùng” [言聽計從].

-Nơi nghe hoà nhạc là Thính phòng [聽房].

-Nơi toà xử kiện là Thính sự [聽事]. Phép xử kiện đời nhà Chu trải qua ba lần thẩm: sơ thẩm, tái thẩm và chung thẩm gọi là Tam thính [三聽].

-Không vâng theo, mặc cho tự nhiên.- “Thính kỳ tự nhiên”

         聽其自然.

-Mặc kệ, đi đâu thì đi - “Thính kỳ sờ chi”. [聽其所之].

§ Với Thính theo nghĩa là Tai mắt. Tuân Tử có câu: Người   nhân cái trị một nước mười dặm vuông,  thì sẽ có con mắt đạt thấu tới trăm dặm. - “Thả nhân nhân chi dụng thập lý chi quốc, tắc tương hữu bách lý chi thính”. [且仁人之用十里之國則將有百里之聽].

§ Với Thính theo nghĩa nghe bằng cảm nhận, bằng tiếng lòng…Ví như, chỉ cần nghe tiếng đàn đã biết được chí hướng của người. - “Thính huyền thanh tri nhã ý” [聽弦聲知雅意]. Xưa kia, Chung Tử Kỳ chỉ nghe qua tiếng đàn của Bá Nha đã thấu suốt tiếng lòng Bá Nha. Cái nghe của Tử Kỳ đã đưa hai người thành đôi bạn tri âm tri kỷ.

   Như vậy, Văn và Thính đều có nghĩa là Nghe, nhưng nghe với hai cách thế khác nhau. Thính là Nghe trong không gian hẹp, tiếp nhận bằng sự chọn lọc, còn Văn là Nghe với không gian rộng, thu nhận mọi thông tin. Tuy nhiên, Văn và Thính về sau, đều được kết hợp, sử dụng hài hoà với tính VĂN trong đời sống.

    Khởi đầu thời kỳ Xuân Thu, Quản Trọng một chính trị gia phò tá Tề Hoàn Công chấn hưng thiên hạ, trong Tứ Duy, dùng Lễ Nghĩa Liêm Sỉ [禮義廉恥] là 4 thứ đạo đức để truyền Văn (hóa) cho người đời sau. Riêng về Liêm Sỉ, dường như thời đại này, ít thấy ai xem trọng. Có lẽ người đời nay chưa kết hợp sử dụng hài hoà giữa Liêm và Sỉ trong Thính và Văn . Cho nên, Liêm và Sỉ đã thiếu tính Văn [] trong đời sống.

   Giữa thời kỳ Xuân Thu, Khổng Tử một nhà giáo dục để vãn hồi trật tự xã hội trong bối cảnh trăm nhà trăm tư tưởng đã chủ trương và chú trọng đến Lễ nhạc, Phép tắc, Văn hóa, lòng Nhân. Nhờ đó, tính Văn của Nhân Lễ Nghĩa Lễ Tín Trí [仁禮義信智] tự nó vẫn còn sức sống, vẫn chưa mai một hẳn cho tới tận hiện nay.

   Nếu chỉ nói riêng về địa hạt văn hoá y phục, trang sức, ẩm thực không thôi, với khởi nguyên đời nhà Chu từ công lao cải cách đầu tiên của Chu Công Đán đề ra những điều căn bản, thì Quản Trọng là người có công giữ gìn được nếp y quan (phục), văn vật .Tập quán phục sức (ăn mặc) đặc trưng này, từng được Khổng Tử nhắc lại trong Luận Ngữ, thiên Hiến Vấn, rằng: Nếu không có Quản Trọng, có lẽ chúng ta đã xoã tóc và cài vạt áo bên trái (như người man di) mất rồi. - “Vi Quản Trọng, ngô kỳ bị phát tả nhậm hỹ” [微管仲吾其被髪左衽矣].

   Như vậy, tính Văn trong đời sống, không những ghi nhận Văn là người có học vấn, là lời văn, là văn vẻ nơi dáng người, là điều nghe biết, lời truyền đạt, sự cảm nhận…, mà còn ghi nhận sự kiện, truyền đạt thông tin bằng phán đoán, bằng chọn lọc… Văn chính là cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hoá mà có, nó mang vẻ đẹp rực rỡ của văn hoá tiến đến văn minh.

   Tuy nhiên, mặc dầu Ca dao Việt Nam có câu ví von đề cao “cái bút cái nghiên anh đồ”, nhưng bên cạnh lại cũng có câu khác cân bằng hai mặt của một sự việc, thể hiện tính Văn trong đời sống:

           “ Ai ơi đừng lấy học trò,

             Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”.

   Nhưng nói cho cùng, Văn luôn luôn là biểu tượng của cái Đẹp. Những chữ Văn khác,  tuy không cùng tự dạng với Văn và Văn bên trên, thì cũng nói lên cái Đẹp, thuộc về thế giới tự nhiên, thế giới vật thể…:

   -Chữ Văn [] vốn thông với chữ Văn  [] này, chỉ những nét vân trên sự vật, ví như những đường vân trên gấm lụa, vải vóc. Với bạc nén có vân trên mặt gọi là Ngân văn [銀紋]. Với đá có nổi nét vân gọi là Thạch vân [石紋]. Với vân sóng nước lăn tăn gọi là Ba văn [波紋].

   -Chữ Văn [] : Nghĩa là màu sắc rực rỡ, xanh đỏ lẫn lộn. Điều này nhắc nhở, trong nguyên lý 3 màu: Đỏ, xanh (lá cây), xanh (da trời) tạo nên muôn sắc màu khác tuỳ theo tỷ lệ ít hay nhiều của trong 3 màu pha trộn lẫn nhau, theo chứng minh từ Scottish physicist and mathematician James Clerk Maxwell (1831-1879).

    -Chữ Văn [] : Nghĩa là những đám mây có hình hoa văn.

Cho nên cái đẹp trong Văn chương, mức cảm thụ Chân thiện mỹ của Văn chương không thể thiếu tính Văn trong đời sống. Văn học là khoa học nghiên cứu về Văn chương, như vậy Văn học không thể không mang tính Văn. Do đó, con người dùng Văn làm phương thức biểu đạt nhân tính và thế giới nội tâm. Văn cũng chính là biểu trưng cho người là vậy.

     Trong Kinh Dịch, quẻ Sơn Hoả Bí nói: Thiên văn (văn vẻ của trời) và Nhân văn (văn vẻ của người). Thiên văn là chỉ quy luật vận hành tự nhiên biến đổi. Nhân văn là chỉ Thi Thư Lễ Nhạc … giáo hoá đạo đức. Cho nên có câu: Quán hồ thiên văn dĩ sát thời biến; Quán hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ - [觀乎天文以察時變; 觀乎人文以化天下].

    Nói chung, người Tây phương cũng đã có cùng góc nhìn về chữ Văn , về tính Văn trong đời sống, như Johanson người Anh từng nói:

-Văn học là ánh sáng lý trí, nó giống như mặt trời, đôi khi có thể làm cho chúng ta nhìn thấy những thứ mà chúng ta không thích. (Literature is the light of reason, sometimes, can be able to make us see things we do not like).

      Huxley, một người Anh khác cũng đã có câu:

-Văn học có thể giống như ánh sáng, chỉ cần mọi người sử dụng một cách thích hợp, nó có thể hiểu thấu mọi thứ. (Literature can be as the light just like people used appropriately, it can penetrate everything).

 Đông phương và Tây phương tuy có hai nền văn hoá khác nhau nhưng Tính Văn thì không khác: đó là vẻ đẹp muôn màu muốn vẻ của đời sống từ thể chất lẫn tinh thần.  Thế giới này càng thăng tiến theo chiều hướng  thiện mỹ nếu con người hiểu biết duy trì Tính Văn cùng lúc với việc phát triển khoa học kỹ thuật.  Chính điều này may ra mới có thể cứu vãn và hồi phục lại một thế giới hòa bình.

       Lâm Minh Anh