Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026
756. TIỂU LỤC THẦN PHONG . THƯA RẰNG SON SẮC XUÂN XANH.
Sáng nay vườn ta nở những đóa thủy tiên đầu tiên, trời ơi cái màu
vàng rực rỡ, màu trắng tinh khiết thanh tân.
Đất trời đông giá mà sao thấy sắc xuân long lanh trên đầu ngọn cỏ. Những đóa
thủy tiên nở sớm là dấu hiệu của mùa xuân đang đến.
Thưa rằng xuân
xanh vẫn son sắc vĩnh hằng, có đi đến bao giờ! Nhựa xuân âm ỉ chảy trong từng
thớ gỗ, mạch lá. Sắc xuân ngủ trong củ hoa chỉ đợi khi trời ấm thì bừng lên.
Xuân không đi không đến. Xuân vẫn ngụ giữa trời đông, ẩn trong vô số nụ và chồi.
Xuân có ngay giữa hạ với sắc lá xanh biếc. Xuân hòa trong muôn hồng nghìn tía của
mùa thu. Xuân ở trong đất mẹ, vi vu cùng làn gió vô tận đất trời. Xuân ấm áp
tia nắng và dĩ nhiên róc rách lưu chuyển trong dòng nước miên viễn kia. Xuân chan
hòa khắp nhân gian, sáng rực rỡ dung thông ba cõi mười phương.
Mùa xuân đã không
sanh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm…Cớ sao ta lại bảo
xuân về? Thưa rằng cái tâm cảm em ơi! Vì chúng ta chấp vào cái tướng mà không
thấy cái tánh ấy thôi. Phần nữa vì thế gian này là thế giới đối đãi, thế giới
nhị nguyên. Vì chúng ta thô nên mới sanh tâm ra vậy.
Năm xưa Lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên “Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm”. Cái tâm (soul, spirit, mind, thought…) khi không trụ vào bất
cứ vật gì, việc gì… thì nó trở nên kỳ diệu vô cùng, diệu dụng không sao nói hết
được! Hầu hết mọi người chúng ta tâm trụ vào tiền bạc của cải, nhan sắc sắc dục,
danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ chơi bời. Trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp nên tâm chúng ta không thể dụng được cái diệu. Tâm chúng ta trụ vào ngũ dục
lục trần nên mới sanh tâm xấu – đẹp, đến – đi, tăng – giảm… và từ đó mới có
xuân khứ, xuân lai, xuân đáo, xuân này hơn xuân kia…và dĩ nhiên không thể thấy
đóa hoa mai ngoài sân trong đêm tối như ngài thiên sư Mãn Giác. Càng không thể
“ngộ” đóa hoa sen như ngài Ca Diếp.
755 . NGƯỜI TÙ TRỞ VỀ Truyện ngắn của nhà văn Pháp ANDRÉ MAUROIS (1885-1967) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu
Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026
754 . BÙI HỮU ANH HUY : LOANH QUANH CÙNG TRỊNH CÔNG SƠN TRONG "MỘT CÕI ĐI VỀ"
Vào cuối năm 1974, Trịnh Công Sơn – lúc đó đã là một nhạc sĩ nổi tiếng – sáng tác một bài hát với tên "Một Cõi Đi Về". Trong thời cuộc những tháng năm sau đó, bài hát này rơi vào quên lãng cho đến khi ca sĩ Khánh Ly trình bày lần đầu tiên ở hải ngoại vào năm 1977.
Bây giờ thì Trịnh Công Sơn đã ra đi.
Suốt một phần tư thế kỷ, chúng ta không còn người nhạc sĩ từng ghi nhật ký cho
trái tim Việt Nam qua những ca khúc của mình.
Và tôi, sau một đời đã đi loanh quanh,
đã mỏi mệt, một hôm chợt tìm lại lời hát của Một Cõi Đi Về, và xin được
ghi lại một vài cảm xúc của mình.
Lời ca của Trịnh Công Sơn luôn mang chất
thơ và triết lý gói trọn trong những ca từ mờ ảo. Có thể nói rằng nghe nhạc Trịnh
cũng như xem một bức tranh trừu tượng; người nghe cũng như người xem, được mời
gọi để hiểu theo một cách rất riêng. Những gì chia sẻ ở đây cũng chỉ là cảm nhận
cá nhân.
Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời
mỏi mệt
Trịnh Công Sơn nhận xét kiếp nhân sinh
là cứ đi loanh quanh, không
đi tới. Tôi liên tưởng đến một con vật bị buộc dây
ngoài sân:
tưởng rằng chạy rất xa nhưng thực ra chỉ quay quanh một vòng tròn. Nhân sinh
chúng ta dường như cũng vậy, bị ràng buộc bởi những sợi dây vô hình của tham –
sân – si hay cơm áo gạo tiền, đi mãi rồi lại trở về chốn cũ, và cuối cùng chỉ
còn lại sự mỏi mệt.
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi
đi về
Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026
753 . NGUYỄN VY KHANH : NGUYỄN VĂN SÂM, NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC MIỀN NAM
NVS, Lâm Văn Bé và NVK, 3 thành viên trang mạng namkyluctinh
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm sanh năm 1940 tại
Sài-Gòn, trước 1975 là giáo-sư Việt văn và Triết ở các trường trung học Nguyễn
Ðình Chiểu (Mỹ Tho), Petrus Ký và các trường Ðại Học Văn Khoa (Sài-Gòn, về Chữ
Nôm), Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hoà Hảo, Cần Thơ. Ông khởi đầu sự nghiệp với
những công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn-học sử. Các biên khảo của ông đều
lấy chủ đề là văn học miền Nam: Văn Học
Nam Hà: văn-học xứ Đàng Trong (Lửa Thiêng, 1971, tb 1973. 442 tr.), Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (Tựa Thẩm
Thệ Hà, Kỷ Nguyên, 1969. 466 tr.) và Văn Chương Nam Bộ Và Cuộc Kháng Pháp
1945-1950 (luận án Cao học Văn-chương Việt-Nam; Lửa Thiêng, 1972.
295 tr.; Xuân Thu tb, 1988) - đã là những đóng góp độc đáo cho mảng văn học
thường không được đánh giá đúng mức này. Không được đánh giá đúng mức, vì sau
1954 ở miền Nam, “kháng chiến” thành kiêng kị, “hồn ma”, rồi xuất hiện con cờ Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông đã đi xa hơn hai cuốn Văn Học Miền Nam của
Phạm Việt Tuyền và Đông Hồ và đã đưa vào văn học sử mảng văn học yêu nước và
kháng chiến của miền Nam, phần nào "chính danh" lại cho những văn
nghệ sĩ miền Nam vốn vẫn bị đảng Cộng sản sử-dụng cho các chiêu bài "yêu
nước" và "dân tộc" của họ!
Ở miền Nam, Thế
Phong là nhà biên-khảo đầu tiên đã giới thiệu giai đoạn văn học kháng chiến này
trong Nhà Văn Kháng Chiến Miền Nam 1945-1950 - tập 3 của bộ Lược Sử
Văn Nghệ Việt Nam xuất bản vào năm 1963 sau khi đã đăng trên tạp chí Văn
Hóa Á Châu, nhưng
Nguyễn Văn Sâm mới là nhà nghiên cứu đánh giá đúng mức tinh thần yêu nước và sự
đóng góp cụ-thể và đáng kể của các nhà văn miền Nam thời kháng chiến, với tập Văn
Chương Tranh Đấu Miền Nam và tập luận án cao học về Văn Chương Nam Bộ Và
Cuộc Kháng Pháp 1945-1950 tiếp theo. Hai tác-phẩm này là một công
trình nghiên cứu dồi dào văn bản, tài
liệu và tham khảo [Mã Giang Lân trong giáo trình Văn-học Việt Nam 1945-1954
đã đánh giá là "quyển sách có nhiều tư liệu quý, hiếm và có những nhận
định thỏa đáng" (tr. 142). Ngoài ra công trình đã được các tác-giả tập
Địa Chí Văn Hóa Thành Phố HCM dùng lại khi trích dẫn các tác-phẩm
xuất-bản vào thời văn-học này].
752 . TRƯƠNG VŨ : CUNG GIŨ NGUYÊN : TAC GIẢ và TÁC PHẨM
TRƯƠNG VŨ Cung Giũ Nguyên: tác giả và tác phẩm

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026
751 .VÕ PHÚ - Phỏng vấn NGUYỄN MINH NỮU-NGƯỜI GHI DẤU VĂN CHƯƠNG BÊN DÒNG POTOMAC
TRẢ
LỜI PHỎNG VẤN của Tạp Chí Văn Bút Miền Đông
Nguyễn Minh Nữu – Người Ghi Dấu Văn Chương Bên Dòng Potomac
Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, văn học Việt Nam
Hải Ngoại đã trở thành một dòng chảy đầy màu sắc; nơi những ngòi bút kỳ cựu tiếp
tục miệt mài sáng tác, và những cây bút trẻ âm thầm nối bước, dù còn đó không
ít thử thách. Giữa dòng chảy ấy, nhà văn, nhà báo Nguyễn Minh Nữu hiện lên như
một người lặng thầm nhưng bền bỉ; một “người ghi chép” tận tụy với văn chương,
một “người kết nối” giữa thế hệ, và một “người gìn giữ” hồn dân tộc qua từng
con chữ.
Sinh năm 1950 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn và định cư tại
Hoa Kỳ từ năm 1995, ông không chỉ là người cầm bút mà còn là một người khởi
xướng và tạo không gian văn hóa chữ nghĩa đến với văn học và độc giả. Từ Tuần
báo Văn Nghệ Washington DC đến Tạp chí Văn Phong, từ Lời Ghi Trên Đá đến bộ
sách đồ sộ Viết Bên Dòng Potomac (tập 1 và 2)... mọi dấu ấn mà ông để lại đều
thấm đẫm tình yêu với văn học, với quê hương, và với di sản văn hóa Việt.
Đặc biệt, hai tập sách Viết Bên Dòng Potomac, vừa mới xuất bản và
ra mắt độc giả, quy tụ hơn 98 tác giả và hơn 800 trang viết, không chỉ là tuyển
tập văn chương quy mô lớn, mà còn là một kho tư liệu sống động, phản ánh tâm
thức của người Việt xa xứ: những hoài niệm về quê nhà, những trăn trở về ngôn
ngữ và bản sắc, và cả những đối thoại thầm lặng với thời cuộc.
Với tất cả những đóng góp sâu rộng và không mệt mỏi đó, chúng tôi,
Tạp chí Văn Bút Miền Ðông, xin trân trọng gửi tới quý độc giả một cuộc phỏng
vấn đặc biệt với nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Minh Nữu. Đây là những câu
hỏi không chỉ xoay quanh tác phẩm, mà còn chạm đến hành trình sống, trải nghiệm
sáng tác, và niềm tin vào sứ mệnh văn chương mà ông đã theo đuổi suốt hơn nửa
thế kỷ.
Tạp chí Văn Bút Miền Đông (VBMÐ):
1.
Trước hết xin ông
cho biết về tiểu sử của ông và quá trình cầm bút từ năm 1970; điều gì đã thôi
thúc ông chọn văn chương?
NMN: Năm 1965 là năm nở rộ
sinh hoạt Thi văn đoàn ở miến nam Việt Nam. Lúc đó, từ các nhật báo đều dành ra một phần cho sáng
tác thiếu nhi, và rất nhiều tờ báo dành cho thanh thiếu niên ra đời với đông
đảo đọc giả, có thể nhớ như Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông… Niềm vui của tuổi
mới lớn đó không có TiVi, không có internet má chỉ có sách báo và trò chơi
thiên nhiên. Tôi cũng như nhiều bạn đồng trang lứa lập các Thi Văn Đoàn rồi làm
thơ viết văn gửi đăng báo …là niềm vui
lớn nhất. Các bạn đó, bây giờ, vẫn còn cầm bút như Linh Phương (tác giả Kỷ vật Cho Em) Trịnh Y Thư ( Có thời
làm Chủ Nhiệm Tạp Chí Văn Học Cali) …Tôi cũng vậy. Đó là một thời thật đẹp của
thời thiếu nên. Sau đó , đến tuổi trưởng thành, nhập ngũ vẫn theo đuổi những ham thích đó cho các tạp
chí lớn hơn…Cho tới năm 1971, tôi mới có truyện được đăng tải trên Tạp Chí Văn
thơi do Nguyễn Xuân Hoàng làm thư ký tòa soạn.
2.
Là người sáng lập
và điều hành Tuần báo Văn Nghệ và Tạp chí Văn Phong ông nhìn nhận vai trò
của báo chí văn học Việt tại hải ngoại như thế nào?
NMN: Vì nhu cầu kiếm sống
bằng những gì mình biết trên xứ người , tuần báo Văn Nghệ ra đời. Vì thỏa mãn
đam mê chữ nghĩa và nhu cầu kết giao với
bạn tri âm cùng niềm yêu thich, Tạp chí Văn phong ra đời. Vai trò của báo chí
văn học hải ngoại vượt quá tầm suy nghĩ của tôi.
749. TT-THÁI AN - BA ÔNG THẦY ĐẶC BIỆT
Hè năm 1968,
khi đến chơi nhà người chị họ, tôi thấy quyển truyện “Đời Phi Công”
của Toàn Phong thì mở ra xem. Chị họ bảo sách do chú Á tặng chị. Trong bụng tôi nghĩ thầm có lẽ vì chú
Á là phi công, một sỹ quan không quân nên mua sách này tặng chị đây.
Đọc qua vài trang, tôi thấy lôi cuốn nên định bụng cuối tuần sẽ ra
Khai Trí tìm mua.
Chị họ bảo
rằng chú Á kể cho chị nghe Toàn Phong là bút hiệu thôi. Tên thật của
tác giả là Nguyễn Xuân Vinh, từng là Tư Lệnh Không Quân của VNCH từ
nằm 1958-1962. Sau đó ông từ chức
và qua Mỹ du học. Năm 1968 ông
Nguyễn Xuân Vinh đã có bằng Tiến Sỹ Không Gian và là giáo sư tại Đại
Học bên Mỹ. Nghe thế, tôi càng háo
hức mua cho được quyển truyện này. “Đời
Phi Công” được xuất bản lần đầu năm 1959, sau đó tái bản 6 lần, và
đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.
Rồi tôi cũng
mua được quyển Đời Phi Công của Toàn Phong. Năm đó tôi còn nhỏ, khoảng
14 thôi, chưa mơ mộng lãng mạn như bà chị họ nhưng đọc xong thì tôi
thấy bà chị yêu chú Á cũng phải.
Thời gian
trôi nhanh. Bỗng chốc đến tháng 4, 1975.
Miền Nam VNCH tan hàng, triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong
đó có gia đình tôi. Người ta vượt
thoát bằng mọi cách, đi mọi nơi trên thế giới. Gia đình tôi đã đến được trại tị nạn
Bushan của Đại Hàn nhưng sau đó cha tôi lại bắt vợ con theo đến Đài
Loan.
Ở Đài Loan
hơn 3 năm, cha tôi lại giắt vợ con qua Bolivia, tôi cũng từng đi theo gần
3 tháng rồi bỏ về Đài Loan.
Ở Đài Loan
từ 1975 đến cuối hè năm 1982 thì được anh Chăn, một người Việt Nam
đang dạy học ở một trường đại học cộng đồng ở thành phố Tân Trúc
báo tin có giáo sư Nguyễn Xuân Vinh từ Mỹ qua dạy ở Đại Học Tinh Hoa,
một đại học lớn có danh của Đài Loan.
Anh Chăn mời được gia đình giáo sư Vinh đến nhà dùng cơm, tiện
thể gặp gỡ các anh em Việt Nam bên đó.
Thế là còn
khoảng chục anh em Việt Nam quanh vùng Đài Bắc, họ là những sinh viên
từ miền Nam Việt Nam được học bổng của chánh phủ Đài Loan trước
1975, giờ thì đã ra trường và đã có việc làm ổn định, cùng nhau
đến nhà anh chị Chăn dưới Tân Trúc để gặp gỡ giáo sư Nguyễn Xuân
Vinh. Vì đám sinh viên Việt Nam qua Đài Loan khoảng năm 1970-1975 là
những người đã từng nghe tên tuổi của Tư Lệnh Không Quân Nguyễn Xuân
Vinh, cũng là nhà văn Toàn Phong.
Chồng tôi là
một trong những sinh viên du học Đài Loan trước 1975 nên tôi bế con đi theo
chồng đến nhà anh chị Chăn để gặp giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Đối với tôi và tất cả anh em Việt Nam
còn sót lại ở Đài Loan là một niềm hạnh phúc “tha hương ngộ cố
nhân” dù ông chẳng biết chúng tôi là ai.
Giáo sư
Nguyễn Xuân Vinh là một người thấp bé so với kích thước trung bình
của đàn ông Việt Nam. Tôi cứ tưởng là phi công thì phải cao trên trung
bình nên tôi hơi ngạc nhiên khi vừa trông thấy ông. Ông có cái mũi mà người ta thường gọi
là mũi lân, nghĩa là đầu mũi to tròn, và đầu mũi của ông có nhiều
đường gân máu màu đỏ nổi dưới lớp da thấy rõ. Có lẽ người ta bảo
đó là tướng làm lớn. Ông mặc cái
áo sơ mi trắng ngắn tay và cái quần tây màu đen.
748 . HỒ ĐÌNH NGHIÊM - NHỮNG LINH HỒN LẠC LỐI
Khi
sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa,
thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối
tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất
tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập
kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại
trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái
đi.
Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.
Cả bọn
có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ
khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông
“tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không
xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi,
không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa?
Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra:
Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà
muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt,
hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ
duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới
nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc,
nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần
gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi
vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và
ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng
đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.