Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

817 . LÊ ĐỨC LUẬN - NGẪM CHUYỆN XƯA NAY.


 

Ngẫm Chuyện Xưa Nay

   Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý.

     Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa ?”

     Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.

      Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ trong thời gian đầu — hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên những chuyến bay vội vã của chiến dịch “ Gió lốc - Operation Frequent Wind” — hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ. Người ta gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).

      Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử — mỗi bước chân ra đi, dù bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được.

      Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây” — kẻ đến trước, coi thường người đến sau.  Nôm na là “ma cũ coi thường ma mới” — mặc dù cùng chung cảnh ngộ.

      Cái tật: ai hơn mình thì ghét, ai kém mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai. Điều này thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.

      Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy ngẫm: “ Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không. Khách hỏi lý do. Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”

     

       Những chuyện khó quên về người tị nạn Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới tìm ra lối về nhà.

       Một câu chuyện khác - mới nghe tưởng đùa, mà có thật - được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái gì cũng mới lạ - đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh. Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi — hai bàn tay vỗ vỗ vào lưng — rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!” Niên trưởng qua lâu chưa? Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy. Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” — tiếng Anh gọi là “hug”.

      Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim 30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em chưa quên truyền thống Trường Mẹ — gọi tôi “niên trưởng” — làm tôi bồi hồi nhớ lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.

     Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo quần (suspenders), trông rất sang.  Hồi đó chưa có điện thoại di động (cell phone) , anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng. 

     Chúng tôi đối với nhau rất chân tình - điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện tử. 

     Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp với người bản xứ sao cho phải phép — trong đó có một chuyện nhớ đời — chuyện đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo: trông cô khoảng ba mươi — cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!

     Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc, nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp được bà tiên…

     Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.

 

    Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng, mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện. Câu hỏi “anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.

     Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác cũng làm chạnh lòng người. Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học ngành gì? Tốt nghiệp chưa?”

      Người Việt mình có truyền thống hiếu học nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.

      Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc, phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời sống văn hóa phong phú.

     Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng.

     Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành — học hành thành đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ. Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ - hiện diện trong hầu hết mọi ngành nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân đội, truyền thông và cả chính trường…Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.

      Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi dự đám cưới. Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con mình.

      Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng — ra đi để tìm sự sống trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định - con cái cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương - viếng mồ mả cha ông, thăm gặp bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình yêu quê hương.

      Là con người bình thường, ai cũng mong đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang mộ phần của cha ông.

      Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa, nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến thành trò cười cho thiên hạ.

      Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn — “tranh nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố thu nhỏ.

     Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”.

       Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang - tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung vít…

       Nhưng không phải “người Việt hải ngoại” nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo, nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách đối với quê hương đang nghèo khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền không ngờ: Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến 1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn 8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).

      Mới ngày nào những con người trốn chui, trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng - gọi họ là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất mùi là: “khúc ruột ngàn dặm”- làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành người yêu nước.

      Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi. Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi - coi như chuyện nhỏ. Các ông bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước. Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ. Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên bàng quan đưa ra nhận xét như thế)  làm mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…

 

      Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở — dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.

      Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn thấy tương lai.

 

     Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn ý khoe khoang nữa.

     Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất nước Hoa Kỳ.

    

      Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai, nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy chỉ là “Mỹ giấy”

      Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu trong lòng người viễn xứ.

       

LÊ ĐỨC LUẬN      

   (Tháng 6-2026)

(1) Nguồn: World Bank và Statista.   

 

816 .NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI - Nhà thơ Simonova nổi tiếng ở Nhật với 600 bài thơ Haiku viết từ Ukraine

                                                                                   

           

Phan Tấn Hải biên dịch

Nhà thơ nữ Vladislava Simonova, 27 tuổi, nổi tiếng với thể thơ Haiku và được vinh danh tại Nhật Bản nhưng gần như vô danh ngay trên chính quê hương Ukraine của cô. Bản tin AFP ghi lời nhà thơ Simonova rằng trong nhiều năm, cô đã nghiên cứu các bậc thầy Nhật Bản — Basho, Buson, Issa — và sáng tác hơn 600 bài thơ Haiku.

Một chiếc thang máy hay "trở chứng" dẫn lối đến căn hộ chung cư ở miền trung Ukraine của một nữ thi sĩ 27 tuổi — người được vinh danh tại Nhật Bản nhưng lại gần như vô danh ngay trên chính quê hương mình. Với mái tóc màu hồng, chiếc áo len màu tím hoa cà cùng đôi tất đồng màu, Vladislava Simonova kể lại câu chuyện về sự nghiệp đang thăng hoa của mình tại một đất nước cách quê nhà cô 7.800 km (4.850 dặm) — nơi mà cô chưa từng một lần đặt chân tới.

Thế nhưng, ngay tại thành phố Poltava thuộc miền trung Ukraine này, cô lại sống gần một trạm xe điện — vốn chỉ là một trong số những mục tiêu bị máy bay không người lái của Nga nhắm tới; tiếng vo ve không ngớt của chúng luôn khiến cô sống trong tâm trạng căng thẳng, bất an.

Đúng lúc cô vừa thốt lên từ "tiếng nổ" để diễn tả nỗi kinh hoàng trước các đợt tấn công của Nga, một chiếc máy bay không người lái bỗng vụt bay qua đầu cô rồi phát nổ ở phía xa.

Ngay bên cạnh cô, trên một chiếc kệ là 15 cuốn sách với phần gáy đầy màu sắc — một tuyển tập các tác phẩm của những thi sĩ Ukraine đương đại — cùng hai chiếc ấm trà Nhật Bản, ba bức tranh tôn giáo và một bức tượng nhỏ nhân vật Phoebe Buffay trong loạt phim truyền hình "Friends".

"Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ viết về chiến tranh," cô chia sẻ với hãng tin AFP. "Theo thời gian, tôi dần nhận ra rằng... những chi tiết nhỏ bé đôi khi lại có thể truyền tải bi kịch của cuộc chiến vĩ đại này một cách sâu sắc hơn nhiều so với hàng tá bản tin hay bài phóng sự," cô nói thêm.

Simonova là đại diện cho cả một thế hệ nghệ sĩ đang làm chứng cho cuộc xâm lược đã tàn phá đời sống văn hóa của Ukraine.

Simonova cho biết cô đã tìm thấy niềm đam mê với thơ Haiku — thể loại thơ mà cô yêu thích nhất — vào năm 2013, khi cô vẫn còn là một thiếu nữ.

Những bài thơ ba dòng theo thể loại Haiku này, bao gồm 17 âm tiết được sắp xếp theo cấu trúc 5-7-5, đã được định hình thành thể thức chuẩn mực từ thế kỷ 17 tại Nhật Bản nhằm ghi lại vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống thường nhật và những khoảnh khắc thoáng qua một cách đầy giản dị.

Trong suốt nhiều năm, cô đã miệt mài nghiên cứu các bậc thầy thơ Haiku Nhật Bản — Basho, Buson, Issa — và sáng tác hơn 600 bài thơ; theo lời cô kể, những bài thơ này dần dần trở nên bớt "vụng về" hơn theo thời gian:

 

Bước đi thật kiêu hãnh,

Trên những cánh mai mềm,

Chú mèo nhỏ mũm mĩm này.

24.04.2015

Chẳng màng chi mưa gió,

Tôi run rẩy bước về nhà,

Cùng một cây thông non.

16.10.2014

  

‘Sự Giao cảm’

Vào năm 2018, Simonova đã giành chiến thắng trong một cuộc thi do một tổ chức của Nhật Bản tổ chức.

Khi Nga phát động cuộc xâm lược toàn diện vào tháng 2 năm 2022, cô đang sinh sống tại Kharkiv. Lực lượng Nga đã tìm cách chiếm giữ thành phố nằm ở phía đông bắc này, và kể từ khi bị đẩy lùi, họ vẫn liên tục nã pháo vào đây. Trong suốt ba tháng đầu tiên khi quân đội Nga vừa vượt qua biên giới, cô đã sống sót nhờ trú ẩn trong một hầm ngầm.

 

Thay vì trận bão —

Những tiếng nổ ầm vang.

Mùa xuân đã tới.

14.05.2022

Ngôi nhà hoang tàn.

Qua lỗ thủng trên mái,

Các vì sao lấp lánh.

14.05.2022

                                                                      


 

Vào tháng 3 năm 2022, từ nơi trú ẩn của mình, Simonova đã thực hiện một cuộc phỏng vấn qua văn bản với tờ báo The Asahi Shimbun của Nhật Bản.

Vài tuần sau đó, nữ thi sĩ danh tiếng Madoka Mayuzumi đã liên hệ với cô. Bà chia sẻ với hãng tin AFP rằng cô Simonova có một "sự thấu hiểu sâu sắc" về bản chất của thơ haiku. "Ngay cả giữa khói lửa chiến tranh, cô vẫn ngước nhìn trăng sao và thưởng ngoạn những đóa hoa... những bài haiku của cô phản chiếu sự giao cảm với thiên nhiên," nhà thơ Mayuzumi nhận định. "Mặc dù mang những chủ đề có phần u buồn, các tác phẩm của cô vẫn toát lên một tinh thần lạc quan," bà Mayuzumi nói thêm.

 

Đàn ong vô tư

Còi hú báo động núp bom

Những cây đoan đang nở hoa.

19.06.2022

 

Cùng với khoảng 10 người khác, nhà thơ Mayuzumi đã hỗ trợ cô Simonova dịch và xuất bản tập sách đầu tay của cô tại Nhật Bản vào năm 2023. Cuốn sách đã nhận được "những lời tán dương nồng nhiệt", theo Mayuzumi cho biết.

Bà nói thêm rằng, xuyên suốt chiều dài lịch sử Nhật Bản, người dân vẫn luôn sáng tác thơ haiku trong những giai đoạn tăm tối, bao gồm cả sau các vụ ném bom nguyên tử năm 1945 và thảm họa sóng thần năm 2011.

“Hoa anh đào”

Vào tháng 8 năm 2022, hầm trú ẩn dưới lòng đất ở Kharkiv, nơi Simonova từng sống, đã bị một tên lửa Nga phá hủy. Cô chuyển đến thị trấn Poltava. Cô xuất bản tập thơ thứ hai tại Nhật Bản vào năm 2024, tiếp theo là một tập khác tại Đan Mạch vào đầu năm 2026. Cô mơ ước được xuất bản một tập thơ ở Ukraine.

Trước chiến tranh, cô viết bằng tiếng Nga. Sau đó, cô chuyển sang tiếng Ukraina. Việc dịch các bài thơ rất phức tạp. Hai ngôn ngữ có liên quan này thường sử dụng các từ có độ dài khác nhau — ví dụ, từ “umbrella” (cái dù, cái ô) chỉ có một âm tiết trong tiếng Nga, nhưng lại có bốn âm tiết trong tiếng Ukraina.

Cô Simonova không đọc văn xuôi, cô chỉ đọc thơ. Và đọc Kinh Thánh. Cô thuộc về cộng đồng Công giáo nhỏ bé ở Poltava.

Trong chuyến thăm của AFP, cô đề nghị đi đến công viên, cô chào tạm biệt chồng — người chồng ở lại nhà — trước khi vội vã xuống cầu thang của khu chung cư thời Liên Xô. Thang máy không hoạt động. Đó là một ngày Chủ nhật mùa xuân lạnh lẽo và công viên gần như vắng bóng người. Cô ngồi trên cành cây gần ao, mặc một chiếc áo khoác phồng nhiều màu.

Từ thơ ấu, Simonova đã mắc bệnh tim nghiêm trọng khiến cô luôn trong tình trạng kiệt sức. Cô phát hiện ra thơ haiku trong một bệnh viện, trong một tuyển tập cũng có cả “thơ Ba Tư” (“Persian poems”).

Khi gió đang thổi, cô đứng dậy và đọc to lần đầu tiên nơi công cộng, đọc mỗi bài thơ hai lần.

Bài thứ nhất cô đọc cho những người bạn không còn hiện diện.

Họ tan tác bay đi,

Như hoa anh đào trong gió

Những người tôi trân quý.

Bài thứ hai là ký ức về Kharkiv.

Tôi siết trong lòng bàn tay

Vài mảnh vỡ tên lửa

Cơn đau không rời tôi.

Cô lật giở tập thơ bìa hồng của cô, rồi chọn ra bài thơ cuối cùng.

Bầu trời tuyệt diệu

Vậy mà từ bầu trời

Mưa tên lửa rơi trên chúng tôi.

 

Bạn cũng có thể xem video của đài NHK Television dài 6:10 phút về nhà thơ nữ Vladislava Simonova:

https://www.youtube.com/watch?v=xd3h816Inw0

Chú ý: video có thể chuyển sang phụ đề tiếng Việt hay tiếng Anh bằng cách chọn cc: rồi điều chỉnh bằng nút răng cưa.

 

PHOTO 1:

Nhà thơ Vladislava Simonova ngồi trước hình ảnh Ukraine đổ nát vì bom, dòng chữ tiếng Anh là bài thơ haiku của cô: “Với giới nghiêm, mất điện / Chưa bao giờ trong đời tôi / Đã thấy nhiều ngôi sao như thế.” (Hình: YouTube NHK)

PHOTO 2:

Nhà thơ Vladislava Simonova (Hình: YouTube NHK)

 

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

815. NHẬT CHIÊU- CHÙM THƠ THÁNG SÁU





NẺO THƯƠNG MỘT CÕI

 

Nẻo thương một cõi em về 

mà nghe nẻo tưởng 

vai kề vai đi

Nẻo buồn lá rụng khuê ly 

nẻo mê ta bỗng 

ôm ghì một ta

Nẻo nào mây trắng đường xa

nẻo thơm mỗi bước 

em là hoa bay

 

1.6.2026


 

 

TA VỀ HỌC LÁ ĐỀ THƠ

Ôi lá dâu tằm lá bạc hà
và bao nhiêu lá thả xanh ra

Bạc đầu lại thấy ta thơ dại 
xanh mắt thì em hãy cứ hoa

Mùa vui lại đến khổ qua 
thương người mộng mị thương ta mê mờ 

Ta về học lá đề thơ
trên tàn phai cũ dựng mùa mới xanh

 

3.6.2026

 

 

TA CHÀO BÌNH YÊN

Nửa tôi trong cõi người ta
nửa tôi trong cõi 
mùa hoa nội đồng 

Ta về trú xứ bên trong 
lắng nghe một chiếc 
lá hồng đang bay 

Ở chung với núi cùng mây
ở riêng trong giấc 
mộng dài với em

Hương tình thơm nức hoa thiêng 
chúa tiên đến với 
người hiền hay sao 

Nửa ta trong cõi ba đào 
mà nghe một cõi 
ta chào bình yên 

 

5.6.2026

 

 

RẠNG TRƯỚC BÌNH MINH 

Tim ta là một vũ đài
em lên điệu múa 
vần xoay lạ lùng 

Tim ta là vịnh bao dung 
em dong thuyền ghé
hát cùng sóng reo

Tim ta là cõi dấu yêu 
em thiêm thiếp ngủ 
ta chiều lặng yên

Tim ta là trú xứ huyền
để em lạc lối 
vào thiên thu tình 

Tim ta rạng trước bình minh 

 

7.6.2026

 

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

814. ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên)- NĂM BÀI THƠ

                                                                                                        


NHỚ

Tự nhiên nhớ bánh - vẽ - chế - lan - viên
Hay chế - lan - viên - bánh - vẽ
Nhà thơ chiêm bái ngưỡng mộ bánh vẽ
Nhà thơ kính cẩn xưng tụng tung hô bánh vẽ
Nhà thơ lan truyền, lan tỏa bánh vẽ
Tên tuổi nhà thơ lấp lánh rộn ràng bánh vẽ
Thơ ca bánh vẽ réo rắt bổng trầm thâm nghiêm trí tuệ sâu sắc triết lí triết luận rạo rực say mê giang tay đấm ngực ân hận khóc than rưng rưng nước mắt...
Ôi! Bánh vẽ nhà thơ nhà thơ bánh vẽ
Con gà - Quả trứng
Quả trứng - Con gà
Trước - Sau
Sau - Trước
Câu hỏi hư vô
Câu hỏi siêu hình
Câu hỏi hiện thực
Câu hỏi siêu thực
Nến cháy và nến tắt
Đẹp như vẽ một thủa vương giả chi lan nơi vườn thượng uyển yên tĩnh cùng náo loạn...

Bánh vẽ từ đâu?
Nhà thơ biết
Nhà thơ thành thuộc lòng tay
Ngất ngây
Tận hiến ngôn từ rưng rưng ngôn từ hướng thượng
Chàng Từ Thức lạc chân nơi thượng giới
Thượng giới nhân tạo ngôn từ
Chàng Từ Thức không có phép màu cổ tích
Cũng ngẩn ngơ già
Giật mình muộn
Theo vết trượt tiếp tục giả vờ
Triết lí triết luận triết học bơ vơ ốc mượn hồn dập dềnh sóng nước
Bãi cát dài mắc cạn
Hoá bơ vơ

Bánh vẽ nhà thơ
Bánh vẽ thơ
Hết mùa
Xác xơ hoa tàn tạ hoa
Vườn giả
Người làm vườn cùng những hạt giống chằng nảy mầm.

CÓ GÌ ĐÓ Ở PHÍA SAU SỰ KIỆN

Có gì đó như hoang vu ngớ ngẩn
Như mủn mòn mục rữa rã rời
Như trống rỗng hoang liêu trì độn
Không tài nào hiểu nổi! Tôi ơi!

"Không tin được dù đó là sự thật"(*)
Cái câu thơ nổi tiếng của một thời
Giờ nhan nhản phơi ra - hình hài khác
Xấu hổ tận cùng! Tôi của tôi ơi!

Như huyễn tưởng! Cứ như trò hí lộng
Chúa ở trên cao nổi hứng đặt bày
Đám con của Người thông minh như cũ
Xôm tụ diễn trò ngớ ngẩn! Tuyệt hay.

Những rổn rảng ba hoa gào ông ổng
Những cờ đèn kèn trống cứ ứ tràn
Những ngạo nghễ tưng bưng mùi trống rỗng
Những tấn phong nhếch nhác tựa bọt tan.

Tấn kịch hề nhôm nhoam tuồng tích cũ
Nhờ truyền thông tỏ rõ mặt ươn ao
Hớn hở. Ngây ngô. Láu tôm láu cá
Tôi cứ cố mà không hiểu vì sao.

Ừ có lẽ do mùa hè nắng xối
Ung ung khắp xứ - địa ngục mùa
Loạn óc loạn hồn - ngả nghiêng bật gốc
Oái oăm phi lí ma dẫn quỷ đưa.

Có gì đó ở phía sau...! Kinh hãi
Muốn gào lên. Muốn đập phá...Rã rời
Muốn cấm khẩu. Ngoác miệng cười hoang dại
Mắt như vô hồn! Tôi của tôi ơi!
(*) Câu thơ nổi tiếng một thời!

813 . HOÀNG XUÂN SƠN - HOA LÊ .

                                                                        


HOA LÊ

 

Tôi dừng lại mà hoa lê bước

Trắng cả khung trời trắng cả xuân 

Chúng ta đuổi theo nhau không kịp

Chấp chới dương quang ngất lịm hồng 

 

Trắng thơm em ơi

Gùi thảo dã

Hương tự nhiên tôi và em

Đắm chìm 

Bạn xưa viết, tình yêu in tuồng thế 

Hình như hình như hai đứa mình *

 

Những chiếc cầu không gian mưa bụi

Ta kháo đời nhau trên lá nõn chồi

Nụ biếc nụ biếc.         ôi

Biếc nụ

Tưởng như mình vừa mới yêu nhau 

 

Mái tóc em níu thời gian đen tuyền

Trên đầu anh hoa lê vội vã 

Thương vai nồng tấm áo còn nguyên 

Triệu triệu năm sau hồn đất đá

 

h o à n g x u â n s ơ n 

812. PHAN TẤN UẨN - VIẾT CHO VUI

                                                                                        


Viết Cho Vui có thể coi là một hình thức của nghệ thuật vị nghệ thuật (Art for Art’s Sake).Trong thể loại nầy, văn chương không cần phải có chức năng giáo dục, chính trị hay đạo đức. Giá trị văn chương nằm ở cái đẹp nội tại của nó, ở sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, kỹ thuật và nghệ thuật. Sáng tạo nhưng không quan tâm tác động của nó đến xã hội hay người đọc, không bắt buộc phải phục vụ nhân sinh. Người viết có thể tìm kiếm tự do tuyệt đối trong sáng tạo, tập trung vào cái đẹp, sự mới lạ và cảm xúc thẩm mỹ.

 

Với nhiều người, viết là công cụ để chinh phục đỉnh cao danh tiếng hay phê phán xã hội, nhưng đối với tôi, việc cầm bút lúc nầy không phải để tìm kiếm sự công nhận hay truyền tải thông điệp gì. Tôi viết, đơn giản vì niềm vui. Vào những năm cuối đời, khi áp lực của tuổi trẻ và sự nghiệp không còn, việc viết văn có thể mang đến cho tôi cảm giác thư giãn, bình yên và làm sống lại những cảm xúc, kỷ niệm quý.Nó giúp cho sức khỏe tinh thần vững vàng để duy trì trí nhớ, giúp tôi cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn …

 

Trong ba năm gần đây (2021-2024) ,tôi viết hai truyện dài thuộc loại Viết Cho Vui đã đăng trên internet và giới thiệu trên báo. Đó là “Chuyện Viễn Mơ Thời Chiến” (gần 400 trang, sau đổi tựa là Dật Sự ) và “ Hình Bóng Biển Trời” (***).

 

Tôi viết hai truyện dài chỉ để tự vui với mình, không có bất cứ mục tiêu hay sứ mệnh nào như đã nói trên. Thật ra, tôi cũng muốn thử xem mình có thể viết được  truyện dài hay không, vì tôi thấy phần lớn tác giả hiện giờ  chỉ tập trung viết truyện ngắn và làm thơ. Họ không có khả năng viết truyện dài ? Với tinh thần đó, việc viết hai truyện dài như một cuộc phiêu lưu nhỏ.

 

Nếu bạn có hứng thú, hãy dành chút thời gian đọc qua. Nếu không, cũng không sao . Tôi không kỳ vọng chúng sẽ làm thay đổi điều gì, chỉ hy vọng rằng, ai đó trong số các nhà văn kia có thể tìm thấy chút cảm hứng để thử sức với một câu chuyện dài hơi thay vì cứ mãi viết truyện ngắn ! Biết đâu, hai truyện dài Viết “Cho Vui” có thể đem lại điều gì đó mới mẻ hơn những gì nhàm chán hiện nay !.

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

811 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI: KHI THƠ TRỞ THÀNH LÁ CỜ CHO MÂY TRẮNG.

 


 Mây trắng là hình ảnh của cái vốn không có hình dạng sắc màu nhưng biến hiện ra vô cùng hình dạng sắc màu. Mây trắng là hình ảnh của vô thường, của sinh và diệt không ngừng, của xa lìa tất cả các nhãn hiệu bất kể là căn cước của da vàng hay da trắng, của Nam hay Bắc, của Việt hay Tây, Tàu, Mỹ, Nhật... Mây trắng là hiển lộ của tự do, của bình an. Nơi mây trắng không có bạo lực, không có níu kéo buộc ràng hay uốn nắn gắng gượng. Thơ của Lê An Thế là thơ của những ước mơ mây trắng, là lá cờ của mây trắng thong dong như thế.

Nhà thơ Lê An Thế  trong các năm gần đây đã ấn hành hai thi tập để tặng. Thơ không bán, vì thực ra không mấy ai làm thơ để bán. Khi Lê An Thế về thăm Quận Cam những ngày đầu tháng 3/2026, anh mang theo hai thi tập -- Vòng Không, ấn hành năm 2022; và Bản Thảo Từ Những Khoảng Trống, ấn hành năm 2025 -- để tặng một số bằng hữu.

Tôi nhìn bìa tập thơ Vòng Không, một vòng tròn biểu tượng của Thiền Tông, và năm ấn hành, năm 2022 là năm của cao điểm đại dịch COVID-19, nghĩ ngay tới hình ảnh một nhà thơ luôn luôn sống cận kề nỗi chết. Bản thân tôi từ đầu năm  2020 tới ba năm sau vẫn luôn luôn tự thúc giục mình phải viết khẩn cấp điều này hay điều kia, vì luôn luôn tự ý thức rằng mình có thể sẽ chết trong đại dịch. Có lẽ, theo tôi nghĩ, có lẽ Lê An Thế làm những bài thơ trong tập Vòng Không cũng trong tâm thức như thế. Một vòng luân hồi vô tận của cõi này nhưng trong thực tướng là một vòng của rỗng rang, vô tướng. Không thấy và không sống được với thực tướng là Không thì sẽ kẹt mãi ở cõi này.

Bài thơ đầu trong tập Vòng Không là bài Bát Nhã nơi trang 5. Nơi đây, chúng ta sẽ giữ cách viết của nhà thơ Lê An Thế, dùng chữ hoa cho tựa đề bài thơ, và sẽ giữ khoảng cách như anh trình bày.

  

BÁT NHÃ

Nếu đi ngược lại

tôi sẽ đẩy mẹ xa bố trong đêm tạo hình

 

Tôi sẽ không biết tên những quốc gia những màu cờ

tôi sẽ không biết tên những dòng sông những ngọn núi

 

tôi sẽ không biết người

tôi sẽ không biết tôi

 

Nếu đi ngược lại

tôi có thể đu trên cành

thèm ăn trái ngọt

 

Nếu đi ngược lại đêm nay

tôi sẽ nghe

dĩa CD tụng kinh Bát Nhã cho đến sáng.

-- California Jan 10, 2022