Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

705. NGUYỄN MINH NỮU. Chất trí thức và nghệ sĩ trong các bài tiểu luận của Trương Vũ

 



Đầu năm 2019, tôi nhận được một email của Trần Thị Nguyệt Mai: “Anh Trương Vũ có rất nhiều bài tiểu luận hay, đăng rải rác ở các tờ báo giấy và internet, nhiều lần đề nghị anh ấy tập hợp lại để in thành sách nhưng anh ấy làm lơ hoài. Nguyệt Mai đề nghị chúng ta cộng tác với nhau để làm”. Tôi đồng ý ngay.  Và 4 chúng tôi: Trần Thị Nguyệt Mai (Ohio), Duyên (Michigan), Nguyễn Minh Nữu (Virginia), Phạm Cao Hoàng (Virginia) phối hợp với các anh chị Lê Hân (NXB Nhân Ảnh, California) Nguyễn Đồng (California) Nguyễn Thị Hợp (California), Tạ Quốc Quang (Texas) thực hiện và hoàn tất việc xuất bản tập tiểu luận Đuổi Bóng Hoàng Hôn của Trương Vũ vào tháng 5.2019. Đây là quà tặng chúng tôi dành cho tác giả - một người bạn vai anh mà chúng tôi quí mến.

Tập tiểu luận Đuổi Bóng Hoàng Hôn gồm 19 bài, khởi đầu là Đêm Đại Dương  ghi chút ký ức khi phải rời bỏ quê nhà vào năm 1976: “Những ngày kế tiếp, những năm tháng kế tiếp, hơn một triệu đồng bào lần lượt lao mình vào đại dương. Từ hai trăm đến bốn trăm ngàn trong số đó không bao giờ đến nơi, không bao giờ trở về. Nhớ lại bài Oceano Nox (Đêm Đại Dương) của Victor Hugo, tôi không còn chút xúc động nào nữa. Cái bi hùng trong Oceano Nox không nghĩa lý gì với những thảm kịch kinh hoàng đồng bào tôi đang trải qua trên đại dương”.

Và kết thúc là tiểu luận thứ 19: Về Lại Sorrento : “…anh vẫn nhìn thấy đôi mắt em trong những đêm mơ… đừng nói lời vĩnh biệt… hãy về lại Sorrento…” Đây là những lời tôi dịch vội từ bản tiếng Anh, Come Back to Sorrento, phiên bản Dean Martin của bản tình ca bất hủ Torna a Surriento của Ernesto DeCurtis. Tôi mê bản nhạc này từ những ngày mới bước chân vào trung học, qua lời ca tiếng Việt của Phạm Duy, Trở Về Mái Nhà Xưa. Lúc đó, tôi chưa hề thật sự sống xa nhà, chưa thật sự có những mất mát lớn nào, nhưng mỗi lần nghe vẫn thấy thắt ruột, cảm giác như mình đang trong tâm trạng một kẻ tha phương trở về ngôi nhà cũ”.

704. THÂN TRỌNG SƠN . DI CHÚC Truyện ngắn André Maurois, Nhà văn Pháp ( 1885 - 1967 ) - Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu



Tên thật là Émile Salomon Wilhelm Herzog, lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm 1918. Bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm 1938.

703 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG- , Thu Tình Nhạc phổ thơ NGUYỄN MINH NỮU

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

702 . TRẦN HOÀI THƯ. Bay đi những cơn mưa.


Scibilia, chiều mưa - Photo by PCH. 12 January 2018


TỪ NHỮNG CƠN MƯA TA ĐÃ CÓ MẶT BÊN BẠN  BÈ, bằng hữu. Từ những cơn mưa ta đã có mặt bên đồng đội của mình. Và cũng từ những cơn mưa, ta có mặt bên em, để ta còn hiểu đôi khi nước mưa ngọt ngào như giọt lệ. Ôi những cơn mưa từ trời. Nhưng vẫn có những cơn mưa từ lòng, từ mắt, từ môi. Cám ơn một người nữ. Cám ơn em dịu dàng mang cho anh từ tâm từ lượng. Cám ơn em rót xuống đời gian khổ những giọt nứơc cam lồ. 

Khi tìm đến anh, chợ Nhỏ cũng xôn xao, vườn Tao Ngộ cũng rộn ràng lắm lắm. Những chuyến xe lam sẽ rời chợ Bến Thành, sẽ mang những người con gái về một nơi không phải đầy những ước mơ xanh hồng, những tương lai huy hoàng rực rỡ. Trái lại các người con gái Sài Gòn sẽ bắt đầu rước vào một nợ nghiệp. Có phải ?

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

701. THÂN TRỌNG SƠN . THÙNG RƯỢU AMONTILLADO Truyện ngắn Edgar Allan Poe ( 1809 - 1849 )

 

THÙNG RƯỢU AMONTILLADO Truyện ngắn Edgar Allan Poe ( 1809 - 1849 ) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

 

Edgar Allan Poe (1809-1849)
 

Edgar Allan Poe  là một nhà văn nổi tiếng người Mỹ, xuất sắc trong thơ, truyện, tiểu thuyết, tiểu luận, báo chí lãng mạn và phê bình. Tác phẩm của ông nổi bật so với phần còn lại của văn học thời đó do bầu không khí tối tăm và kỳ dị của nó.

Edgar Poe họ tên đầy đủ là Edgar Allan Poe sinh ngày 19.1.1809 tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts trong một gia đình nghệ sĩ. Người cha, David Poe, mất khi cậu con trai Edgar chưa chào đời, còn người mẹ Eliza cũng từ trần lúc Edgar Poe mới tròn ba tuổi.

Cậu bé mồ côi được John Allan, một nhà buôn thuốc lá giàu có nhận về nuôi. Rồi Poe ghi danh vào Đại học Virginia, nhưng chỉ theo học được năm đầu và quyết định xung vào quân đội. Đó là khoảng giữa năm 1827, cũng là thời điểm xuất hiện cuốn sách đầu tiên của Poe.

Sau khi giải ngũ với quân hàm trung sĩ vào đầu năm 1829, Edgar Poe cho ấn hành đầu sách thứ hai có tựa đề Al Aaraf gây tiếng vang lớn. Kế tiếp Poe thi đậu vào Học viện Quân sự West Point và lại… bỏ dở để “dốc lòng” theo nghiệp văn chương.

Cuộc đời đầy những mất mát của Poe đã để lại một dấu ấn đậm nét trong những sáng tác của ông, tạo nên một không khí u uẩn và bi thương.

Trong suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố, mẹ, anh trai, mẹ nuôi, đặc biệt là người vợ trẻ Virginia.

Sau một thời gian dài đấu tranh với bệnh lao, người vợ của Edgar đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ vào năm 1847. Một lần nữa, một người phụ nữ yêu dấu đã rời bỏ Edgar mà đi. Một lần nữa, Edgar lại chìm trong đau đớn. Điều này có thể đã để lại những vết thương tâm lý và tình cảm sâu sắc nơi ông, lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết.

Cái chết của người vợ yêu dấu đẩy Edgar Poe tới chỗ kiệt quệ, sức khoẻ suy sụp, bởi Virginia luôn là nguồn sáng tạo mạnh mẽ của Poe, khiến Poe cảm thấy được những ấm áp mà từ nhỏ ông đã không thể có được.

Chỉ 2 năm sau, ngày 7.10.1849, người ta tìm thấy Edgar Poe trong một quán rượu tại Baltimore, quần áo tả tơi, mê sảng, không biết mình ở đâu. Nhà văn được đưa vào bệnh viện và qua đời 4 ngày sau đó, hưởng dương 40 tuổi.

Cái chết của ông cũng mang nhiều bí ẩn như chính những tác phẩm của ông. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.

Truyện ngắn giới thiệu dưới đây được đăng tải lần đầu tiên trong số tháng 11 năm 1846 của tạp chí Godey’s Lady Book.


Bảo tàng Edgar Allan Poe ở Virginia

    Fortunato đã làm tôi chịu nhục rất nhiều và tôi đã phải âm thầm chịu đựng, nhưng nếu hắn còn liều lĩnh làm nhục tôi một lần nữa thì tôi thề là sẽ trả thù cho bằng được. Tuy nhiên, ắt hẳn là bạn là người đã hiểu tính tôi sẽ không tin rằng tôi nói điều này để doạ. Thế nào tôi cũng sẽ phục thù, nhưng tôi muốn hành động hết sức thận trọng. Không những tôi phải trừng phạt nó nhưng phải làm cách nào để khỏi bị tội. Như vậy là vẫn không rửa được thù. Hơn nữa mối thù sẽ không được rửa nếu Fortunato không biết hắn phải trả bằng giá nào và ai thúc đẩy hắn trả giá đó.

    Phải hiểu rằng chưa bao giờ vì một lời nói hay một cử chỉ mà tôi làm cho Fortunato nghi ngờ lòng tốt của tôi. Trước mặt hắn, tôi vẫn mỉm cười và hắn không hề biết rằng nụ cười của tôi lúc này là vì liên tưởng đến việc tôi sẽ giết hắn.   

     Hắn có một nhược điểm mặc dù hắn là một người đáng kính, một kẻ đáng khiếp sợ. Hắn tự hào là rất sành rượu. Ít người Ý sành rượu. Phần nhiều họ chỉ nhiệt thành để sống cho hợp thời và để gạt mấy tay triệu phú người Anh, người Áo thôi. Về lĩnh vực hội hoạ và chạm trổ, cũng như dân xứ hắn, Fortunato không biết cóc khô gì hết, nhưng về rượu lâu năm thì hắn sành thật. Trên phương diện này, tôi chẳng thua gì hắn. Tôi cũng sành về các loại rượu nho của Ý và khi có điều kiện tôi mua khá nhiều.

    Một hôm lúc chạng vạng, nhằm lúc mùa hội đang kỳ tấp nập nhất, tôi gặp hắn. Hắn tới gần  chào tôi vô cùng nồng hậu, vì hắn đã uống đâu đó đã nhiều rồi. Hắn phục sức thật sặc sỡ. Hắn mặc một bộ đồ rằn may chẽn, đầu đội một cái mũ có gắn mấy cái chuông nhỏ. Tôi thấy bằng lòng được gặp hắn đến nỗi tôi nghĩ đáng lẽ mình cứ cầm tay hắn mãi chứ đừng buông ra.

    Tôi nói với hắn - “ Hôm nay gặp ông anh là cả một vinh hạnh. Ông anh diện kẻng quá. Mà này, tôi mới kiếm được một thùng rượu mà thiên hạ bảo là rượu Amontillado, nhưng tôi còn ngờ. “

    “ Sao? hắn hỏi, “ Amontillado , một thùng? Vô lý! Vào giữa mùa hội này! “

    “ Tôi còn ngờ mà, “ tôi đáp, “ và tôi dại thật vì tôi không hỏi ý kiến ông anh mà đã trả đúng giá rượu Amontillado. Tôi tưởng là không tìm đâu ra ông anh và tôi sợ chậm sẽ mất mua thùng rượu.”

     “ Rượu Amontillado !”

     “ Tôi bảo tôi còn ngờ mà.”

     “ Rượu Amontillado ! "

     "  Và tôi phải làm họ vừa lòng chứ. “

     “ Rượu Amontillado ! “

    “ Như ông anh đã bảo, bây giờ tôi đến Luchresi. Nếu có ai sành rượu thì phải nhắc đến y. Y sẽ nói cho tôi biết… “

     “ Luchresi không thể phân biệt Amontillado với rượu Sherry.”

    “ Thế mà có mấy thằng gàn cứ cho rằng y nếm rượu có thua gì ông anh đâu. “

    “ Đi, ta đi đã.”

    “ Đi đâu ? “

    “ Đến hầm rượu của ông. “

    “ Không được, ông anh ơi. Tôi không muốn lợi dụng lòng tốt của ông anh đâu. Tôi nghĩ là ông anh đã có cam kết với Luchresi…”

     “ Tôi chẳng có cam kết nào cả. Đi! “

     “ Ông anh ơi, không được. Không phải là chuyện cam kết, nhưng hình như ông anh đang bị cảm nặng. Hầm rượu ướt không chịu nổi. Nitơ dày đặc trong đó. “

     “ Cứ đi thôi. Cảm lạnh ăn thua gì. Ôi, rượu Amontillado ! Ông bị lừa rồi ! Còn gã Luchresi, y không phân biệt rượu Sherry với rượu Amontillado đâu. “

      Nói vậy, Fortunato cầm lấy tay tôi và mang chiếc mặt nạ bằng lụa đen vào và quấn chặt áo choàng vào người tôi, tôi đành để hắn lôi về nhà.

    Không có ai ở nhà. Tụi gia nhân lợi dụng thời gian rảnh rỗi bỏ đi chơi hết. Tôi bảo sáng mai tôi mới về và căn dặn chúng không được bỏ nhà đi chơi. Những lời dặn như vậy tôi thừa biết chỉ làm chúng đi cho mau ngay khi tôi mới vừa quay lưng ra khỏi cổng.

     Tôi lấy hai cây nến lớn, đưa cho Fortunato một cây, dẫn hắn qua hết dãy phòng này đến dãy phòng khác, đến tận hành lang mái vòm hình cung đưa xuống hầm rượu. Tôi đi xuống một cầu thang dài, quanh co và dặn chừng hắn cẩn thận khi theo tôi. Cuối cùng chúng tôi đi hết cầu thang và đứng trên nền đất ẩm ướt trong hầm rượu của dòng họ Montresors.

     Hắn lảo đảo bước và mấy cái chuông kêu reng reng khi hắn bước.

    - Thùng rượu đâu? hắn hỏi.

   - Ở đầu xa kia, tôi đáp. Nhưng hãy coi chừng mấy tấm màn trắng chằng chịt  sáng toả trên những bức tường trong hầm.

    Hắn quay sang tôi và nhìn thẳng vào mặt tôi với cặp mắt đục ngầu vì rượu.

      - Nitơ? Một lúc sau hắn hỏi.

      - Vâng, nitơ, tôi đáp. Ông anh bị ho bao lâu rồi ?

      Ừ ừ ừ….

      Ông bạn khốn khổ của tôi cả mấy phút sau mới trả lời được.

    - Không hề gì, hắn đáp.

    - Này, tôi nói với giọng cứng rắn. Ta đi lui vậy. Sức khoẻ ông anh quí lắm. Ông anh giàu có, được trọng vọng, hâm mộ và mến chuộng, ông anh đang sung sướng giống như tôi xưa kia. Ông anh là người đáng được chờ mong. Tôi thì không kể làm gì. Ta đi trở lại, nếu không ông anh sẽ bị đau và tôi không chịu trách nhiệm được. Vả lại còn có Luchresi…

    - Nói thế đủ rồi, hắn bảo, ho không ăn thua gì đâu, nó không giết tôi đâu. Tôi không thể chết vì ho được.

    - Dĩ nhiên, dĩ nhiên rồi, tôi đáp, và thật ra thì tôi không có ý làm ông anh lo vô ích, nhưng ông anh phải cẩn thận. Uống một tí rượu Medoc này để khỏi sợ đất ướt.

    Đến đây tôi đập cổ chai rượu tôi lấy trên hàng rượu kê trên vách.

    - Uống đi, tôi bảo và đưa rượu cho hắn. Hắn đưa chai rượu lên môi, nhếch một nụ cười ham hố. Hắn dừng lại và gật gù nói với tôi rất thân mật trong khi mấy cái chuông kêu reng reng.

    - Tôi uống, hắn nói, để chúc mừng những người chết nằm quanh chúng mình.

    -  Và tôi uống để chúc ông anh sống lâu.

    Hắn lại nắm tay tôi và chúng tôi tiến bước.

    Hắn nói: “ Hầm rượu rộng quá nhỉ! “

    Tôi đáp: “ Dòng họ Montrersors là một gia đình tiếng tăm và đông đảo lắm. “

     - Tôi quên mất biểu hiệu của họ nhà ông.

     -  Một bàn chân khổng lồ bằng vàng trên nền xanh da trời, bàn chân đạp nát một con rắn đang cắn sâu cặp răng nhọn vào gót chân.

    - Và câu châm ngôn là gì nhỉ?

    - Không ai hại ta mà không bị đền tội.

    - Hay lắm ! hắn bảo.

 Rượu sáng ngời trong mắt hắn và mấy cái chuông lại kêu reng reng. Tôi thấy ấm áp hơn nhờ rượu Medoc. Chúng tôi chen qua những bộ xương người chồng chất như những bức tường dài hun hút, đi giữa một đống hỗn loạn nào thùng lớn nào thùng nhỏ, đến tận những ngóc ngách trong hầm rượu. Tôi lại dừng bước và lần này tôi nắm mạnh tay Fortunato ở phía trên cùi chỏ.

    - Nitơ! tôi nói. Xem kìa, nó tăng dần. Nó đọng lại như rêu trên nóc hầm. Ta đang ở dưới lòng sông. Nước ẩm rịn trên đống xương, thấy không. Ta phải trở lại không quá chậm. Ông anh bị ho.

    - Không hề gì, hắn nói, cứ đi đi. Nhưng uống thêm Medoc đã. Tôi khui vỡ chai rượu và đưa cho hắn. Hắn uống một hơi cạn sạch. Mắt hắn sáng ngời dữ tợn. Hắn phá lên cười, ném cái chai lên cao, múa tay múa chân, tôi không hiểu gì cả.

    Tôi nhìn hắn ngạc nhiên. Hắn lại múa tay chân lần nữa và có vẻ sỗ sàng hơn.

    - Ông không hiểu à? hắn hỏi.

    - Không, tôi đáp.

    - Thế là ông không cùng một tôn phái với tôi.

    - Thế nào ?

    - Ông không phải dân thợ nề à ?

    - Phải chứ, tôi đáp, phải mà.

    - Ông? vô lý, ông thuộc dân thợ nề?

    - Thợ nề, tôi đáp.

    - Có gì chứng minh ? hắn hỏi.

    - Cái này này. Tôi trả lời và lấy trong áo choàng ra một cái bay.

    - Ông bông lơn, hắn nói lớn và lùi lại mấy bước. Nhưng cứ đến xem thùng rượu Amontillado đã.

    - Vâng, thì đi, tôi nói. Tôi để cái bay vào lại dưới áo choàng và đưa tay dắt hắn. Hắn nặng nhọc tì tay lên tay tôi. Chúng tôi tiếp tục con đường đi tìm thùng rượu Amontillado. Chúng tôi chui qua một dãy những mái vòm hình cung thấp, đi xuống dần, lại chui qua rồi lại đi xuống nữa, đến một chỗ hầm sâu không khí bẩn thỉu làm hai cây nến cháy yếu ớt.

    Đến nơi tận cùng của hầm rượu, chúng tôi qua một cái hầm hẹp hơn. Hàng đống xương người sắp quanh các bức tường cao đến quá đầu như kiểu các hầm nổi tiếng của Paris. Ba bức tường bên trong hầm này đều đầy xương như vậy cả. Ở phía còn lại, xương người vất bừa bãi thành một đống trên mặt đất, ở một điểm làm thành một gò cùng kích cỡ. Bên trong bức tường đó là một cái hầm nữa, nói đúng hơn là một cái hang dài hơn một thước, rộng khoảng chín tấc và chiều cao gần hai thước. Có vẻ như cái hang này đào ra chẳng dùng vào việc gì đặc biệt cả, nhưng đó chỉ là một khoảng trống ở giữa hai cây cột khổng lồ chống đỡ mái hầm và phía sau là một bức tường đá hoa cương kiên cố chắn ngang.

    Đưa cây nến lên cao, Fortunato cố nhìn vào trong hang nhưng chẳng thấy gì cả. Ánh sáng lờ mờ không cho chúng tôi thấy được cái hang đến chỗ nào thì hết.

    - Đi vào đi, tôi bảo, sẽ thấy thùng rượu Amontillado. Còn Luchresi thì…

    - Y là một thằng ngu, hắn cắt ngang, loạng choạng bước tới, trong khi tôi theo sát gót hắn. Một lát sau hắn đến chỗ cuối cùng của cái hang và thấy một tảng đá lớn chắn ngang trước mặt, hắn dừng lại, ngẩn ngơ, bối rối. Liền đó tôi trói ngay hắn vào bức tường đá. Trên bức tường có hai chiếc móc sắt cách nhau khoảng sáu, bảy tấc theo chiều ngang. Một sợi dây xiềng ngắn gắn chặt vào một móc, còn trên móc kia là một ổ khoá! Cột chặt hắn vào cái xiềng quanh lưng hắn chỉ còn vài giây nữa là xong việc. Hắn ngạc nhiên đến nổi không còn sức chống cự nữa. Rút xong chìa khoá tôi quay lui ra khỏi hang.

 

    - Sờ bức tường thử xem, tôi bảo. Mày làm sao tránh mùi nitơ. Hầm ướt quá nhỉ. Mày cho phép tao một lần nữa được van mày quay trở lại. Không à ? Thôi tao phải để đó vậy. Nhưng trước khi đi tao phải đem hết cố gắng ra săn sóc mày một lần cuối.

    - Rượu Amontillado! Hắn hét lên và chưa hết ngạc nhiên.

    - Vâng, tôi đáp, rượu Amontillado.

    Trong khi nói thế, tôi bận rộn với đống xương tôi nói lúc nãy. Ném chúng qua hai bên, tôi đào lên một mớ đá và hồ để xây. Với những vật liệu này và cái bay, tôi bắt đầu xây một bức tường trám cửa hang lại.

    Tôi mới xây được một bức đá thì thấy Fortunato tỉnh rượu. Điều trước tiên cho tôi thấy như vậy vì nghe trong hang vọng ra những tiếng rên nho nhỏ. Đấy không phải là tiếng kêu của một người say rượu. Sau đó lại im phăng phắc. Tôi xây bức đá thứ hai, thứ ba rồi thứ tư, rồi tôi nghe hắn lay chiếc xiềng giận dữ. Tiếng động kéo dài suốt mấy phút trong khi tôi thích thú lắng nghe, tôi ngừng tay và ngồi xuống trên đống xương. Khi tiếng rổn rảng của cái xiềng rất yếu, tôi cầm cái bay lên và xây một hơi hết cả bực đá thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Bức tường bây giờ cao gần đến ngực. Tôi lại nghỉ và đưa cây nến qua khỏi bức tường mới xây rọi những tia sáng le lói hắt hiu vào khuôn mặt bên trong.

    Một tràng những tiếng kêu la rú lên xé cả tai thình lình vọt ra khỏi cổ họng hắn như muốn ném lại cho tôi một cách dữ dội. Tôi ngần ngại một lúc, tôi rùng mình. Rút cây dao găm ra khỏi vỏ, tôi quờ quạng mò vào trong hang, nhưng ý nghĩ trong một thoáng làm tôi vững tâm. Tôi đưa tay sờ bức tường đá kiên cố và cảm thấy an lòng. Tôi trở lại bức tường đang xây dở. Tôi trả lời những tiếng rên rỉ trong hang. Tôi nhại lại, thêm vào, cố la cho to và mạnh hơn. Tôi làm như vậy và tiếng rên im bặt.

    Bây giờ đã nửa đêm và công việc của tôi cũng gần xong. Tôi đã xây hết bực đá thứ tám, thứ chín và thứ mười. Tôi hoàn thành một phần bực cuối cùng và bực thứ mười một , chỉ còn đặt một viên đá nữa và trám lại là xong. Tôi ráng sức bưng một viên đá lên và đặt vào gần chỗ đã định. Nhưng bây giờ có tiếng ai cười nghe xa xa ngoài cửa hầm làm tôi dựng tóc gáy. Tiếp theo là một giọng nói buồn buồn mà tôi phải khó nhọc lắm mới nhận ra là giọng của ông bạn Fortunato quý hoá này. Hắn bảo:

    - Ha, ha, ha! Hi, hi, hi! đùa hay thật, đùa tuyệt thật. Mình sẽ có dịp kể lại và tha hồ mà cười khi về nhà. Hi, hi, hi! Khi mình nhậu với nhau. Hi, hi, hi !

     - Uống rượu Amontillado! tôi nói.

     - Hi, hi, hi ! Hi, hi, hi! Vâng, uống rượu Amontillado. Nhưng khuya lắm chưa? Không biết ở nhà có chờ tụi mình không? Mình về cho rồi.

    - Vâng, tôi đáp, mình về cho rồi.

    - Lạy Chúa, về đi thôi, Montresor.

     - Vâng, lạy Chúa. Về đi thôi.

    Nhưng rồi tôi chẳng nghe hắn trả lời nữa. Tôi hết kiên nhẫn. Tôi kêu to:

     - Fortunato!

     Không có tiếng trả lời. Tôi lại kêu:

     - Fortunato!

     Vẫn không có tiếng trả lời. Tôi ném cây nến qua lỗ hổng còn lại và để rơi vào bên trong. Tôi chỉ nghe vọng ra tiếng chuông reng reng. Tim tôi đau nhói - vì hầm rượu ướt quá. Tôi vội vã kết thúc công việc. Tôi nhét mạnh viên đá cuối cùng vào vị trí của nó và trám hồ lại. Tôi chất lại đống xương dọc theo bức tường mới xây suốt nửa thế kỷ nay chẳng ai động đến đống xương đó cả. Cầu cho mày yên nghỉ!

THÂN TRỌNG SƠN
 dịch và giới thiệu
 ( tháng 10/2023 )

Nguồn:

https://americanliterature.com/author/edgar-allan-poe/short-story/the-cask-of-amontillado

700. NGUYỄN MINH NỮU . Gặp gỡ cuối năm.

 

 NGUYỄN MINH NỮU Gặp gỡ cuối năm

Photo by Phạm Cao Hoàng, February 3, 2019

Miền Đông Hoa Kỳ  vừa trải qua những ngày băng giá, tuyết lạnh. Nhiệt độ âm 12 độ C. Cuối tuần này bỗng dưng có chút nắng ấm. Anh Nguyễn Tường Giang hẹn mấy anh em ra Saigon Quán trưa Chủ Nhật 29 tháng chạp để cùng uống với nhau ly rượu tất niên.

Dễ chùng đã hơn hai năm chúng tôi mới gặp lại nhau ở Saigon Quán. Ngồi lại vị trí mà  bao nhiêu lần trước đã ngồi mỗi khi có dịp hẹn nhau quanh cái bàn tròn này.Rồi như từ ký ức, gọi những món ăn mà anh Đinh Cường thường gọi mỗi khi đến đây. Đậu hũ rang muối, đậu hũ chiên giòn, nghêu nướng mỡ hành, mì xào giòn, bún chả Hà Nội Ngồi vào bàn là nhớ. Nhớ rất nhiều người, nhưng nhớ nhất là người họa sĩ ở đường Natick.

Anh Nguyễn Tường Giang nhắc lại bữa cơm trưa cuối cùng với Đinh Cường ở đây. Hôm đó có cả nhà thơ Viên Linh, Đinh Cường mệt, ít nói chỉ cười hiền hòa nhìn chung quanh.

Anh Nguyễn Mạnh Hùng nhắc về những ngày ở Singapore hơi lâu, Đinh Cường cứ điện thoại hỏi sao mà đi lâu vậy.

Phạm Cao Hoàng nhắc lại dáng đi chầm chậm của Đinh Cường khi đưa ông về. Đinh Trường Giang chạy vội lên đón và dìu ông vào nhà.

Còn tôi thì nhớ cái hẹn đi Việt Nam cùng Đinh Cường nhưng chưa kịp thực hiện chuyến đi thì ông đã vĩnh biệt trần gian.

Đinh Trường Chinh nhắc về những bài thơ nhìn lên kệ sách, những bài thơ cuối khi Đinh Cường không còn viết được, đọc cho Chinh đánh máy.

Câu chuyện tất niên quanh bàn ăn lan man qua những con người từng ngồi quanh đây, trong trí nhớ từng nụ cười lóe lên và từng tia mắt thân tình nhớ lại. Tiếc là chiều nay vắng các anh Trương Vũ, Phạm Nhuận, Đặng Đình Khiết vì các anh hoặc là đang ở xa hoặc là đang bận bịu với những công việc khác.

Đinh Trường Chinh và GS Nguyễn Mạnh Hùng, photo by Phạm Cao Hoàng

Nguyễn Minh Nữu và BS Nguyễn Tường Giang

Rời Saigon Quán, anh Nguyễn Mạnh Hùng rủ cả nhóm đi uống cà phê ở Xpo – một quán cà phê kiểu Pháp. Câu chuyện tiếp tục rôm rả với chuyện kể của anh Nguyễn Tường Giang về thời kỳ làm tạp chí Văn Chương trước 1975 cũng như những ngày tháng sinh hoạt cùng nhóm Thái Độ của Thế Uyên.

Và cũng như những lần gặp gỡ trước đây, chúng tôi rất muốn nghe GS Nguyễn Mạnh Hùng phân tích những sự kiện đáng chú ý về tình hình nước Mỹ và thế giới. Lần này anh nói về chuyện ông Donald Trump, chuyện có nên xây bức tường ở biên giới Mỹ - Mexico hay không, chuyện Mỹ có nên rút quân khỏi Syria và Afghanistan hay không. Anh là người uyên bác,  có nhiều kinh nghiệm về nhiều lĩnh vực nên những đều anh trình bày rất bổ ích và lý thú.

Nhân dịp này, anh Nguyễn Tường Giang gửi tặng những người có mặt mỗi người một cuốn sách thuộc loại nặng ký cà về hình thức lẫn nội dung: cuốn Văn Học Việt Nam của Trần Bích San do nhà xuất bản Cỏ Thơm vừa phát hành. Một món quà bất ngờ. Một cuốn sách giá trị. Sách in ấn rất đẹp, dày 1200 trang, nặng gần 2 ký. Qua bản tin văn nghệ này, chúng tôi xin gửi lời cám ơn đến GS Trần Bích San và xin chúc mừng ông về sự ra đời của cuốn sách.

Văn Học Việt Nam của Trần Bích San, nxb Cỏ Thơm, 2018

Một buổi gặp gỡ tất niên thú vị với nhiều điều đáng nhớ. Năm mới xin chúc mọi điều tốt đẹp đến các anh và bạn đọc thân mến.

NGUYỄN MINH NỮU
Virginia, 29 tháng chạp Mậu Tuất

699. PHẠM CAO HOÀNG . Tôi đi giữa trời Đông Bắc

 

Tôi đi dưới trời Đông Bắc,


 

bây giờ mùa đông trở lại

rừng xơ xác ngọn điêu tàn

bầy chim bay xa trốn tuyết

trong sương mù tôi lang thang

 

ôm đàn qua thung lũng Fox

so dây ghi lại đời mình

một thời chiến tranh - tuổi trẻ

một thời Đà Lạt và em

 

ôm đàn đứng bên vách núi

so dây chơi một đoạn buồn (*)

đoạn cho một thời xa xứ

đoạn thương và nhớ quê hương

 

bây giờ mùa đông trở lại

rừng xao xác gió sang mùa

tôi đi dưới trời đông bắc

thương và nhớ quá ngày xưa


PHẠM CAO HOÀNG

Virginia, December 14, 2015

(*) Trong bài hát MỘNG VỀ của Hà Thúc Sinh.


Bài thơ đã được nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ thành ca khúc "Dưới trời Đông Bắc" với tiếng hát Ngọc Quy:



Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

698 . NGUYỄN MINH NỮU . Bên Đại Hồng Chung

Đại hồng chung - Nguồn ảnh: Pinterest 

Là tiếng sấm giữa mưa, mùa biển động
Gọi hồn người hòa nhập với hư không
Ai bước đi mà cả vùng nhan sắc
Đã vàng son trong hừng hực vầng đông
Tôi ở đây hơi thở chừng như ngợp
Và trôi theo từng tiếng Đại Hồng Chung.
Là tiếng sóng nhẹ nhàng trên bãi vắng
Một đêm trăng tĩnh lặng đã lâu rồi
Hình như lúc đời còn là ốc biển
Thoát ra ngoài sinh tử xác khô phơi
Nghe rõ được từng vi trần rời rã
Rất nhẹ nhàng về với đất tinh khôi.
Là tiếng mẹ thở dài khi vĩnh biệt
Hay lời em tha thiết gối chăn thơm
Hay lá rơi, hay bước chân hành giả
Hay chỉ là ...tim loạn nhịp chơi vơi
Đừng nói gì nghe, vì ngay lúc này: Tôi
Đang biến mất vào hải triều lồng lộng
Là một cái gì giữa cõi người vọng động
Mà thiêng liêng hào phóng gửi cho đời
 
Cho tôi nhìn thấy được chính tôi trôi...
 
NGUYỄN MINH NỮU

697 . SONG THAO . VIẾT BÁO

                                                                                                            


VIẾT BÁO

 Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.

 Đầu tiên bài báo được thảy cho thợ xếp chữ. Ngày tôi bắt đầu viết báo ở Sài Gòn tất cả các báo vẫn còn in theo  lối typo. Thợ sắp chữ lựa từng con chữ bằng hợp kim, dùng một chiếc kẹp xếp vào một cái khuôn đúng kích thước một cột báo. Cái khó là họ phải sắp ngược chữ. Muốn biết ngược ra sao, chúng ta có thể để một trang báo trước gương rồi nhìn vào gương. Không quen không đọc được. Có đọc được thì cái đầu sẽ nhức như búa bổ. Thợ sắp chữ phải học để có thể đọc ngược một cách thành thạo. Xếp xong phần bài báo được giao phó, giao cho ông sếp thợ chữ, gọi là sếp typo. Ông này dùng mực quét lên bề mặt và ịn vào một tờ giấy thấm mực. Bài báo trở lại chữ xuôi như thường. Bản in này được đưa lên ông thầy cò để sửa. Ông thầy cò nhìn vào bản viết tay của bài báo so với bản vỗ để sửa từng chữ từng câu, từng cái dấu chấm dấu phẩy. Cái khó của ông thầy cò là đọc cho ra bản viết của tác giả. Ngày đó người viết đa số viết bằng tay. Mỗi người một kiểu chữ, rồng bay phượng múa hay chân chỉ hạt bột, mỗi ông một trường phái, điểm chung là chữ viết thường rất khó đọc. Gặp bài của mấy ông bác sĩ chỉ có nước khóc ròng. Chẳng lẽ mang ra tiệm thuốc tây nhờ các ông dược sĩ đọc giùm! Đọc không thông thì đoán, may ra thì trúng, không may thì trật, trúng là hồng phúc, trật thì bị nghe cằn nhằn khi báo phát hành. Tôi khởi viết trên bán nguyệt san Thời Nay từ thời còn là sinh viên. Cuối tuần tôi hay la cà tới tòa báo để nhậu nhẹt. Chẳng có chầu nhậu nào mà không bị ông Hoài Thương, thầy cò ngày đó, nắm áo hỏi chữ này chữ kia. Lúc đó tôi cun cút đọc lại bản thảo của mình, chỉ chữ sửa đúng mà không dám cằn nhằn vì bị phá quấy trong lúc nhậu. Bởi vì ông Hoài Thương còn ấm ức hơn, chưa rảnh để cụng ly với anh em. Đụng vào ông ấy không đúng thời điểm dễ bị xỉ vả lắm.


696. ĐẶNG TIẾN (Thái Nguyên) TRANG THƠ

                                                                                             


SAO?
(Để trả lời một người bạn...)
---

Sao?
Tôi có bổn phận gì với bạn?
Ồ! Khai sáng
Khai minh
Mở óc...
Google siêu hạng
Thêm đủ các nhà mạng
Thêm đủ các nền tảng AI...
Vô số các cánh cửa từ lâu đã mở
Vô số mở ra những chân trời
Giăng giăng những cánh chim bay
Hỏi tôi có bổn phận gì với bạn?

Bạn kêu mạng xã hội là cái chợ trời đầy hiểm họa
Bạn kêu Google là cạm bẫy đáng ngờ
Bạn khẳng quyết các nền tảng AI là không thể tin
Vô số sách bản cứng bản mềm hợp pháp hợp lệ bạn chưa từng ngó...
Bạn tự nhốt mình trong những cũi những chuồng sơn phết giả trang những điều thiêng liêng
Bạn không tự bay mà mưu toan bay ké
Bạn cũng là một loại chim cự tuyệt những chân trời...

Sao?
Tôi có bổn phận gì với bạn?
Xót thương ư?
Như Lỗ Tấn?
Không...
Hào hiệp vô tư ư?
Như Phúc lộc Nhĩ đặc, Mạnh đức, Lư Thoa, Phúc trạch Dụ cát ư?
Không
Tuyệt đối không.

Bạn lớn tiếng đòi quyền tồn tại
Tốt thôi, chẳng ai có ý định cản ngăn
Tôi - tư - duy - nghĩa - là - tôi - tồn - tại!
Với bạn là điều không cần
Nói, bạn mượn giọng
Nhìn, bạn mượn mắt
Nghe, bạn mượn tai
Và mượn óc khi cần phải nghĩ...
Vâng
Bạn tồn tại như là chân lí
Một hòn đá tảng như tự nó sinh ra
Gánh vác sứ mệnh ù lì
Vĩnh viễn không về cùng cát bụi
Và bạn bất tử

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

695 . LÊ ĐỨC LUẬN . TÌM MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH

                                                                                                       


                   Hôm ấy, một buổi chiều cuối thu, trời trong và se lạnh. Một ông già râu tóc bạc phơ, ước chừng vào tuổi tám mươi, ngồi đăm chiêu trên ghế đá công viên gần Viện dưỡng lão Mission De La Casa ở thành phố San José - lặng lẽ nhìn lá vàng rơi…

       Bỗng từ xa, một thằng bé khoảng chín, mười tuổi chạy đến nắm tay ông, hỏi:

-Ông ngoại ơi! Sao ông ngồi đây một mình, có vẻ buồn thế?

-Ờ! Ông chỉ có một mình.

       Từ ngày ông ngoại thằng bé qua đời, nó thường ra đây tìm lại bóng hình ông ngoại. Trông xa, hễ thấy ông già nào râu tóc bạc phơ là nó chạy đến nắm tay thân mật kêu lên: “ông ngọại!” Tiếng kêu đó hình như làm nguôi ngoai nỗi nhớ thương… lúc nào cũng đầy ắp trong tâm hồn nó. 

       Thằng bé liến thoắng, dễ thương, vào trạc tuổi cháu ngoại của ông mà mấy năm nay ông không được gặp. Một thoáng xúc động, ông già thân mật hỏi:

-Giờ này chiều rồi, sao con không ở nhà học bài hay giúp việc cho mẹ con mà ra đây làm gì cho lạnh.

-Con ra đây mỗi chiều Thứ Bảy, Chủ Nhật - hy vọng gặp lại ông ngoại của con.

Hơi ngạc nhiên, ông già hỏi:

-Sao lại ra công viên tìm ông ngoại? Ông ngoại không ở chung với cha mẹ con à?

       Hai giọt nước mắt lăn trên má, thằng bé thút thít, khóc! Nó mếu máo, nói:

-Ông ngoại con chết rồi!

Im lặng! Nghẹn ngào!