Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026
878. ĐẶNG MAI LAN - Chiêm bao
877 . ĐINH TỪ BÍCH THÚY Nguyễn Đức Sơn, vòng quay sinh tử
(trong tập Đêm Nguyệt Động)
(trong tập Đêm Nguyệt Động)
NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI - Ngô Thì Nhậm: Viết trong thời ly tán.
Ngô Thì Nhậm: Viết trong
thời ly tán
Phan Tấn Hải
Đất nước Việt Nam đã từng
trải qua những thời kỳ ly tán gay gắt, với nội chiến tàn khốc, như thời Trịnh-Nguyễn
phân tranh của thế kỷ 17 và 18, như thời nhà Tây Sơn với quân đội Nguyễn Ánh của
thế kỷ 18 và 19. Sau nội chiến là trả
thù và truy sát tàn bạo.
Bây giờ, may mắn, chúng
ta đang sống trong thời hậu chiến, nhưng mắt nhìn lẫn nhau không chắc đã thân
thiện. Tuy rằng quê nhà đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn còn ly tán. Chữ nghĩa
có vẻ như là những quả thủy lôi đang thả lơ lửng trên dòng sông Bến Hải, nơi
chúng ta dễ dàng chạm tới là sẽ bị nổ tan xác. Chúng ta đã thấy trong mấy tuần
qua có một số nhà văn trong Hội Nhà Văn VN ở Hà Nội bị bắt vì một tác phẩm ca
ngợi lãnh tụ viết theo một văn phong giới trẻ, chỉ vì không giữ văn phong truyền
thống.
Trong thời kỳ như thế,
tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng là một xuất hiện rất hy hữu, chạm
vào những vết thương của rất nhiều người, gợi những ký ức mà phần lớn dân mình đôi
khi chỉ tạm quên đi và tránh nhắc tới. Hơn nửa thế kỷ qua đã có rất nhiều chiếc
ghe biến mất giữa biển. Hẳn là, sẽ có nhiều người nhìn về tác phẩm “Thuyền” từ
nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người nói sao viết mơ hồ quá, như trên mây, không
chạm được tới những đau đớn của những người đã từng ngồi trên các chiếc ghe liều
thân ra đi. Có người nói đây là văn phong thơ mộng, dòng ý thức. Và vân vân. Tôi
chưa đọc, xin thú thật, nhưng được nhà văn Nguyễn Đức Tùng dặn là cứ lên nói,
nghĩ gì nói đó. Do vậy, xin có vài lời. Bài viết này là những suy nghĩ rải rác
nhiều năm qua trong khi nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm, người cuối đời là Thiền sư
Hải Lượng, bây giờ xin gom lại.
Hãy nhìn về lịch sử quê
nhà. Trong các thời kỳ nội chiến hay sau nội chiến, rất nhiều tác phẩm văn học
không muốn nói tới lịch sử. Phần lớn, tôi nghĩ, tác giả thấy đau đớn quá. Bên
nào cũng có người thân. Thời phân tranh Trịnh-Nguyễn (1627–1775), và rồi thời kỳ
nội chiến giữa nhà Tây Sơn (trong đó có vua Quang Trung) và Nguyễn Ánh (sau là
vua Gia Long) các năm (1771–1802). Sau nội chiến là truy sát, những người sống
sót chạy vào thật xa ở Miền Nam, đổi tên họ và ẩn thân.
Hãy suy nghĩ xem: văn học
trong thời kỳ lòng dân ly tán đó, những gì nên được viết ra và những gì chạm được
vào lòng người? Có nhiều kiệt tác văn học đã xa lìa chính trị để duy trì lập
trường trung lập tuyệt đối, giữ tinh thần
nhân đạo phản chiến hoặc thái độ phản kháng thầm lặng. Bởi vì khi khi bị nhận định
là công khai chống lại triều đình, người viết có thể nguy cơ bị chém đầu và tru
di tam tộc ngay lập tức; đó là lý do các tác giả hiếm khi trực tiếp kêu gọi ân
xá hay hòa giải.
Để hình dung mức độ căng
thẳng, chúng ta có thể nhớ tới chuyện này. Bạn hãy còn nhớ rằng Đặng Trần Thường
(khai quốc công thần của Vua Gia Long) đã dùng roi tẩm thuốc độc đánh Ngô Thì
Nhậm (nguyên Binh bộ Thượng thư triều Tây Sơn) ở Văn Miếu (Hà Nội) năm 1803 để vài
ngày sau, họ Ngô từ trần, bất kể bấy giờ Ngô Thì Nhậm đã xuất gia, trở thành một
nhà sư ẩn dật. Điều bi hài là: Đặng Trần
Thường thời trẻ từng học chữ Nho với cụ Ngô Thì Sĩ, thân phụ của Ngô Thì Nhậm.
Tôi nghĩ rằng, tác phẩm
nói lên mức độ phản chiến cao điểm nhất là "Chinh Phụ Ngâm" của Đặng
Trần Côn. Thi tập này được viết nguyên bản bằng chữ Hán và sau đó được các danh
sĩ như Đoàn Thị Điểm dịch sang chữ Nôm, kiệt tác này là một cột mốc quan trọng
thể hiện tinh thần trung lập và phản chiến. Thay vì ca ngợi các chúa Trịnh hay
chúa Nguyễn vì những chiến dịch quân sự của họ, bài thơ dài tập trung hoàn toàn
vào nỗi đau đớn, sự cô đơn và những tổn thương tâm lý của người vợ có chồng phải
ra trận. Bằng cách gạt bỏ những lý lẽ biện minh cho cuộc chiến và làm nổi bật nỗi
đau thương mang tính nhân bản, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” đã lặng lẽ phơi bày sự
vô nghĩa của các cuộc nội chiến.
“Chinh Phụ Ngâm” dài 476
câu thơ, là một tác phẩm phản chiến lớn hàng đầu, nếu không phải là lớn nhất, của
dân tộc Việt Nam. Cả trong bản chữ Hán và trong bản dịch chữ Nôm đều tuyệt vời.
Bài thơ là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra
độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều
đình chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. Tác phẩm mở đầu
với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người
bước vào chiến trường. Yêu nước tất nhiên ai cũng yêu nước, nhưng cuộc chiến
nào cũng rất mực bi thương.
Thuở trời đất nổi cơn
gió bụi
Khách
má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng
trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi
này
Đặng Trần Côn viết
nguyên tác bằng chữ Hán vào khoảng đầu đời Cảnh Hưng (thập niên 1740), thời vua
Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Doanh. Đây là
giai đoạn cung đình Lê - Trịnh khủng hoảng trầm trọng. Triều đình liên tục phát
động các cuộc hành quân trấn áp, chinh phạt các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng
Ngoài (như khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh
Phương...). Người chồng (chinh phu) bị bắt
lính ra trận không phải để giữ gìn bờ cõi trước giặc ngoại bang, mà là xông pha
vào những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm bảo vệ quyền lực và ngai vàng của
nhà vua. Do vậy, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” mang đậm tinh thần phản chiến.
Xin cảnh giác, tôi không
phải sử gia, tôi chỉ suy luận trong cương vị một người sáng tác. Và không có gì
chắc chắn rằng tôi nhận định đúng 100%, kể cả chuyện xưa và chuyện nay.
Tương tự, "Truyện
Kiều" của Nguyễn Du cũng thế, cũng là một tác phẩm mang tinh thần phản chiến.
Chúng ta còn nhớ rằng gia tộc họ Nguyễn đã chia hai phe – một bên theo Tây Sơn,
và một bên theo Nguyễn Ánh. Cuộc nội chiến dai dẳng tới mức kinh hoàng, có một
thời kỳ Nguyễn Du lưu vong ba năm trên đất Trung Hoa, mặc áo nhà sư du hành tới
các chùa. Bản thân Nguyễn Du đã trực tiếp trải qua sự sụp đổ của triều Lê, sự
hưng vong của triều Tây Sơn và thắng lợi cuối cùng của vua Gia Long. Nguyễn Du
luôn bị giằng xé sâu sắc giữa lòng trung thành với chế độ cũ và việc phải phục
vụ triều Nguyễn mới. Ông đã gửi nỗi trăn trở đạo đức sâu sắc này vào tác phẩm
"Truyện Kiều". Nhân vật chính (nàng Kiều) liên tục bị buộc phải đánh
đổi danh dự và thích nghi với những hoàn cảnh nghiệt ngã, đầy biến động chỉ để
tồn tại.
Hãy thấy, câu chuyện của
nàng Kiều là một ẩn dụ lớn lao về tầng lớp trí thức Việt Nam --- những người phải
xoay xở giữa những cuộc chuyển giao đẫm máu và khắc nghiệt của nội chiến mà
không thể chọn dứt khoát một phe phái chính trị nào. Xin cảnh giác lần nữa: Đây
cũng chỉ là một suy đoán, vì tôi không phải sử gia. Bạn thử suy nghĩ xem: tại
sao lại đoạn trường, đứt ruột? Tại sao nhan đề Truyện Kiều còn là Đoạn Trường
Tân Thanh (tiếng kêu mới đứt ruột)? Phải là người chứng kiến những cuộc thảm
sát giữa gia tộc, giữa các bạn học, và giữa đồng bào mình mới thấy đứt ruột. Chứ
không phải cô Kim Vân Kiều thời nhà Minh nào hết. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Du viết
sơ hở, nếu để bị đấu tố là kể như sẽ bị chém đứt đầu.
Nêu lên những chuyện như
thế để thấy rằng có những vị trí thức đã từ bi, đã suy nghĩ tới những cách hòa
giải nội chiến. Hãy thấy những thảm sát tàn khốc, những chấn thương tâm lý từ nội
chiến và nỗi thống khổ lan rộng trong xã hội đã tác động sâu sắc đến Ngô Thì Nhậm,
và ngài chuyển mình thành một thiền sư và trở thành một tác giả biên soạn sách Thiền;
lựa chọn này là từ một chiến lược lớn lao hơn: hòa giải vì tồn vong của dân tộc
và phương tiện là thống nhất tư tưởng tại Việt Nam.
Ngô Thì Nhậm không tìm đến
Phật giáo như một cách trốn tránh thụ động trước cảnh nội chiến. Thay vào đó, ngài
chủ động lựa chọn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – một dòng thiền bản địa – để xây
dựng điểm tựa tinh thần và văn hóa, nhằm hàn gắn một xã hội đang bị chia rẽ. Ngô
Thì Nhậm là một vị quan tài năng từng phục vụ cả Chúa Trịnh lẫn triều đại Tây
Sơn. Ngài đã tham dự, chứng kiến hàng thập niên biến động quyền lực, đã
phi ngựa trên các xác người, và đã đứng giữa các chiến trường máu chảy thành sông.
Sau cái chết đột ngột của
vua Quang Trung vào năm 1792 và sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Tây Sơn,
Ngô Thì Nhậm nhận ra rằng đất nước cần hòa bình và hàn gắn. Nho giáo thuần túy
đã thất bại trong việc ngăn chặn cảnh huynh đệ tương tàn. Do vậy, Ngô Thì Nhậm ra
sức khôi phục thiền phái Trúc Lâm (có từ thế kỷ 13) – dòng thiền duy nhất mang
đậm bản sắc Việt Nam, hy vọng Phật giáo sẽ làm mọi người xa lìa sát sanh, sẽ bẻ
gãy cung kiếm để nhận lại anh em một nhà. Đó là lý do Ngô Thì Nhậm trở thành một
Thiền sư dòng Trúc Lâm, và viết sách dung hợp Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo
thành một thế giới quan thống nhất, để chữa lành những vết thương lòng của người
dân, khôi phục văn hóa bản địa và dẫn tới hòa hợp hòa giải dân tộc.
Tới thời của chúng ta,
sau nửa thế kỷ thống nhất đất nước, lòng dân còn ly tán, phần lớn còn đau đớn,
chưa hàn gắn hoàn toàn. Theo tôi thấy trong cách chủ quan: Tiểu thuyết “Thuyền”
của nhà văn Nguyễn Đức Tùng (do Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội ấn
hành) chính là một nỗ lực dùng văn chương để dịu dàng hàn gắn giữa một thời đại
mà lòng dân vẫn còn nhiều rạn nứt.
Việc một cuốn sách khai
thác đề tài thuyền nhân---vốn là một trong những vùng ký ức đau buồn nhất lịch
sử Việt Nam hiện đại---được cấp phép và ra mắt chính thức trong nước là một hiện
tượng hy hữu. Tôi chưa đọc cuốn sách này của Nguyễn Đức Tùng, nhưng dư luận cho thấy tính cách hy hữu như
thế. Có người sẽ nói rằng sách chưa đủ rùng rợn, chưa như đời thực. Có thể như
thế, hẳn là như thế.
Tôi nhìn lại dòng lịch sử
dân tộc mình, và đã thấy các tác giả xưa còn tránh né chuyện nhạy cảm rất là
xa, không dám nói minh bạch cho độc giả hiểu. Ngày xưa, các cụ viết văn phản
chiến trong một cách rất xa vời, kiểu như là nói chuyện rất xa xưa bên Trung
Hoa chứ không phải chuyện nước mình. Các cụ Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn
Du... đều hiểu rõ cái giá phải trả rất đắt khi kêu gọi hòa bình trong thời nội chiến,
và các cụ phải viết trong một cách “chỉ về hướng Đông mà nói chuyện hướng Tây”
để tác phẩm có thể được chuyền tay nhau, để mời nhau đọc.
Trong
thời hiện nay, tôi tin rằng nhà văn Nguyễn Đức Tùng đã viết tiểu thuyết “Thuyền”
với một thiện ý. Xin nhắc rằng, tôi chưa đọc, nhưng tôi tin như thế, theo nhận
định của nhiều nhà phê bình, và tôi sẽ đọc đêm nay. Tôi không so sánh anh với
các nhà văn của các thế kỷ trước. Tôi chỉ muốn nói rằng anh đang muốn bước qua
một bãi mìn nơi vĩ tuyến 17 để hàn gắn, để chữa lành.
Tôi hy
vọng rằng, trong một thời gian gần, bao lâu nữa thì tôi không thể biết, tôi tin
rằng thiện ý của tất cả chúng ta sẽ làm rỉ sét, sẽ làm tắt ngúm tất cả các quả
mìn còn sót lại dù ở bất kỳ nơi nào trên quê nhà. Và muốn như thế, đó phải là
thiện ý của tất cả chúng ta.
Hãy cầm
bút lên, và hãy sáng tác với thiện ý. Y hệt như Ngô Thì Nhậm, sau khi rời chiến
trường là về mặc áo nhà sư, cầm bút viết những dòng chữ có thể giúp toàn dân, bất
kể họ đã từng mặc bất kỳ trang phục binh giáp nào, đều có thể yêu thương nhau
hơn, và mở được mắt trí tuệ để nhìn thấu suốt qua bờ giải thoát.
876 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG phổ thơ NGUYỄN MINH NỮU - HÁT RONG GIỮA ĐỜI
874 . LÃNG THANH - MẪU TỬ TÌNH THÂM.
Thời gian nhuộm mái tóc má, giờ trắng phơ như mây trời. Tháng năm xóa đi sự tươi trẻ, làn da nay in đậm những dấu ấn nhăn nheo. Đôi mắt má không còn trong như lúc thanh xuân mà đã mờ nhạt màu mây. Mình đau xương nhức, đi đứng liêu xiêu…
Mỗi làn nói chuyện
với má, ánh mắt má xa xăm diệu vợi như lạc vào cõi hư vô. Giờ má nói chuyện như
một cái máy thâu sẵn, nhớ đâu nói đó, chuyện nọ xọ chuyện kia. Căn bệnh mất trí
nhớ của người già đã làm cho má không còn ý thức được nội dung câu chuyện. Má
chỉ nói theo ký ức còn lưu giữ trong tâm thức. Dường như tất cả những người già
đều sống nhiều với dĩ vãng hơn là hiện tại. Má cũng thế, kể cũng lạ, chuyện trước
mắt thì không nhớ mà chuyện từ xa xăm lại không quên. Điều này chứng tỏ bệnh lú
lẫn của người già không thể xóa hết những ký ức cũ, ký ức cũ chính là “chủng tử”
lưu trong A lại da thức. A Lại Da thức còn được gọi là hàm tàng thức, nghĩa là
cái kho cất giữ lưu chứa tất cả những niệm của con người, có thể là niệm của một
đời, niệm nhiều đời. Cái kho ấy chứa tất cả những hạt giống thiện, ác, trung tính
của mỗi con người.
Khoa học nói:
“Năng lượng không tự sinh ra và cũng không mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này
sang dạng khác”. Ví như điện có trong than đá, dầu lửa, nước, gió…Con người chế
ra những máy móc để “bắt” được nguồn điện và dùng điện vào sản xuất hay sinh hoạt
của đời sống. Dòng điện khi được xài thì nó sẽ chuyển thành nhiệt năng, cơ
năng… chứ nó đâu có mất đi. Con người ta cũng thế, khi thân xác này tan hoại
nhưng những ký ức từ A lại da thức đâu có mất đi, nó sẽ chuyển biến từ dạng thức
sống này sang dạng tức sống khác, hình tướng khác…cũng như dòng điện chuyển từ
dạng này snag dạng khác. Dòng điện vốn không có sẵn nhưng vẫn hiện hữu trong
gió, nước, than đá. Sự sống sanh ra nhưng thật là không sanh, sự sống mất đi
nhưng thật chẳng mất mà chỉ chuyển từ thân này thành thân khác. Cơ chế hoạt động
của tâm thức rất vi diệu, khoa học hiện đại cũng không làm sao biết được cho dù
có dùng đến những phương tiện máy học hiện đại như điện não đồ hay các loại máy
móc tinh vi nhất. Khoa học chỉ có thể nói mất trí nhớ là do những tế bào thần
kinh chết đi mà những tế bào mới sanh ra không bù đắp được. Không thể biết trước
khi về già ai sẽ minh mẫn đến phút cuối hay ai sẽ bị bệnh mất trí nhớ.
Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026
872. LÃM THÚY (1952-2026): 5 BÀI THƠ
MÙA ĐÔNG ĐẤT KHÁCH
Buổi sáng uống ly trà
lạnh
Nghe mùa đông chợt dài
hơn
Chiều về nghe chim vỗ
cánh
Chạnh lòng ta nhớ cố
hương
Chẳng biết xưa người lữ
khách
Châm điếu thuốc buồn ra
sao?
Chẳng biết xưa nơi đất
Trích
Tráng sĩ sầu như thế
nào?
Chỉ biết ta buồn quá đỗi
Ngó mây bay cũng nhớ nhà
Đêm nằm, lặng nghe gió
thổi
Thương gì thương đến xót
xa !
Nhiều khi thoáng nghe
đâu đó
Mùi hương nguyệt
quế trong vườn
Nhiều khi trên từng lá
cỏ
Chở đầy nỗi nhớ quê
hương
Nhớ nhánh sông mùa nước
lũ
Nhớ bờ lau sậy lưa thưa
Nhớ cây Bằng lăng vườn
cũ
Mương bèo, rụng tím mùa
hoa
Chiều lạnh, mùa đông đất
khách
Thương cha, nhớ mẹ,
nghẹn ngào
Chẳng biết chim nào chim
Vịt
Kêu chiều, thảm não như
nhau.
ĐÊM Ở SÀI GÒN QUÁN
Đêm ở Sài gòn Quán
Gặp gỡ người tài hoa
Nghe Đinh Cường khen
tặng
Thơ Mẹ, tình thiết tha.
Cảm ơn Nguyễn Minh Nữu
Và Mai, cô vợ hiền
Nhắc chuyện mười năm cũ
Đọc câu thơ hồn nhiên (
1 )
Nghe chuyện Kim Các Tự
Nhà sư trẻ đốt chùa
Cảm ơn anh Trương Vũ
Nói những điều sâu xa…
Xưa, thuở còn trẻ dại
Đọc. Chẳng hiểu
chi nhiều
Chỉ biết nhà sư ấy
Chà đạp người diễm kiều
Phải chăng vì quá yêu
Người ta muốn hủy diệt
Để muôn đời mang theo
Sâu kín niềm tưởng tiếc?
Cảm ơn Phạm Cao Hoàng
Tiếng trầm như nốt nhạc
Thắp lên niềm hân hoan
Giữa miền sầu chất ngất.
Đọc mấy câu “Tàn
Thu” ( 2 )
Hỏi người bao nhiêu
tuổi?
Hăm mấy mà làm như
Hơn nửa đời tàn rụi!
Đêm ở Sài Gòn Quán
Nói chuyện thơ, chuyện
người
Với chị Sơn mới gặp
Mà như quen lâu rồi
Về một mình, đêm lạnh
Gió thu làm bâng khuâng
Nghe niềm vui chắp cánh
“Chắt chiu những ân
cần”.
Maryland 17-11-2014
( 1 ) Thơ Lãm Thúy:
Sáng nay thức dậy hết hồn
Người xa ta vạn dặm đường, còn đâu.
( 2 ) Thơ Phạm Cao Hoàng:
Ngậm ngùi nghe gió mùa thu
tạt.
Ngó lại đời ta đã nửa đời
THƯ CHO ÚT PHỦ
Từ lâu. Chị vẫn thường
ấp ủ
Những mong nói với Út
đôi lời
Anh chị bây giờ xa cách
cả
Chuyện nhà, trông cậy Út
mà thôi
Chị biết lắm khi em bực
dọc
Thân trai tù túng việc
tề gia
Em ơi! Hãy nhớ niềm lao
nhọc
Một đời. Cha mẹ đã vì
ta…
Em còn trẻ quá, cần bay
nhảy
Nuôi người bệnh hoạn. Dễ
gì đâu!
Khổ nỗi, nhà mình đơn
chiếc vậy
Không nhờ em, còn biết
làm sao?
Cha mẹ già thường sinh
cáu gắt
Cũng đừng hờn giận. Chị
xin em
Mỗi ngọn lửa hờn em dập
tắt
Là một hồng ân trên
phước duyên.
Người bảo: Hai vai ta
dẫu cõng
Mẹ cha đi khắp cả tinh
cầu
Cũng chưa đền được ơn
sâu nặng
Huống gì nhịn nhục một
đôi câu…
Em còn được ở bên cha mẹ
Là phước ngàn đời. Em
biết không?
Lỡ khi ngày tắt, chiêu
dương xế
Đời ta. Bóng tối sẽ vô
cùng!
Ai không được ở gần cha
mẹ
Là mất đi suối mật, rừng
hương
Là nỗi thiệt thòi không
xiết kể
Là niềm bất hạnh, là tai
ương!
Chị vốn không may: đời
bạc phước
Tự năm mười tuổi đã xa
nhà
Tuổi thơ thiếu mẹ sầu
như nước
Bao chiều ngồi khóc, ngó
về xa…
Thảm cảnh. Làm sao em
hiểu được
(Một đời bên gối mẹ nâng
niu!)
Có đâu như chị mười năm
ngót
Thiếu vắng vòng tay mẹ
sớm chiều…
Thuở ấy, mỗi năm về hai
bận
Hè đi. Đợi mãi tận sang
xuân
Ngày vui bên mẹ sao mà
ngắn
Mỗi lần đi, đứt ruột một
lần!
Những sớm còn vương hơi
ấm mẹ
Còi xa. Tàu dã giục lên
đường
Hành trang trĩu nặng vai
thơ trẻ
Ngập ngừng chân bước, lệ
tuôn tuôn…
Những cuộc chia ly về
sáng ấy
Buồn không thể tả. Buồn
vô biên.
Ba mươi năm. Giòng đời
trôi chảy
Niềm rưng rưng ấy vẫn
còn nguyên
Đời chị có bao lần chia
biệt
Đã trăm lần tiễn, vạn
lần đi
Nhưng hồi còi cũ buồn
thê thiết
Của chuyến tàu khuya còn
khắc ghi.
Đời. Qua bằng
những lần ly biệt
Kéo dài như thế suốt
mười năm
Trở về bên mẹ. Vui chưa
hết
Lại lấy chồng. .Xa đến
mấy lần!
Mười năm, cũng bởi đời
dâu bể
Được về nương náu với từ
thân
Mười năm. Chị nuốt bao
nhiêu lệ
Bởi đời cay đắng, bởi
thăng trầm!
Rồi lại thêm lần chia
biệt nữa
Ngày đi. Ôm mẹ, chẳng
đành buông
Cứ xa thêm mãi, giờ xa
quá
Tính lại đường bay, chợt
hết hồn!
Đã muôn trùng vậy, làm
sao gặp?
Nửa vòng trái đất_ mấy
trùng dương…
Nhớ nhà, ra đứng trông
trời đất
Đâu biết phương nào vọng
cố hương!
Anh chị mỗi người đi mỗi
chỗ
Nhọc nhằn phụng dưỡng để
mình em
Ơn ấy ngàn đời xin ghi
nhớ
Chưa biết làm sao để đáp
đền.
Chị biết: em là
người hiếu đạo
Không nề khó nhọc, chẳng
than van
Nói đây, không phải lời
khuyên bảo
Tự dưng tâm sự bỗng tuôn
tràn
Có lẽ chiều nay trời trở
lạnh
Xui lòng nhớ quá nắng
chiều quê
Xót Út chốn quê mùa
quanh quẩn
Trách nhiệm hai vai gánh
nặng nề
Út
à. Giờ cha già mẹ yếu
Chuyện
nhà phó thác một tay em
Nhân sinh hữu hạn, mong
em hiểu
Gắng giữ giùm nghe,
những ngọn đèn!
TỪ NAY THẾ GIỚI VẮNG ĐINH CƯỜNG
Chị Ý báo tin buồn. Thứ bảy
Lặng người không nói . Nói gì hơn?
Anh không ở nữa thì thôi vậy
Từ nay thế giới vắng Đinh Cường!
Có nghĩa là không còn nét vẽ
Những người thiếu nữ dáng như mơ
Những người thiếu nữ xanh như liễu
Rất mỏng manh và rất đỗi Thơ!
Có nghiã từ đây Sài Gòn Quán
Sẽ trống đi thêm một chỗ ngồi
Gặp nhau , dù có bao nhiêu bận
Không ai còn có thể nào vui!
Sẽ nhớ , dù sức tàn , lực kiệt
Cũng gom tàn lực để mà đi
Cố đến cùng bạn bè thân thiết
Chua xót nhìn nhau biết nói gì?
Có nghiã lần sau ra mắt sách
Không còn ai viết tặng bài thơ
Nét vẽ vội vàng trong khoảnh khắc
Gói lòng trân quý có ai ngờ!
Có nghiã từ đây trên kệ sách
Những người thiên cổ đã tương phùng
Chỉ có riêng mình ta thống trách
Giận rằng không gặp lúc lâm chung!
Giận không gửi bài thơ viết sẵn
Bây giờ còn biết gửi cho ai ?
Bảo biết lâu rồi đời ngắn lắm
Vậy mà để muộn mãi không hay!
Đêm nay gió lạnh nhiều , Anh ạ
Mở cửa ra nhìn bông tuyết bay
Chợt nhớ , lòng sao sầu thảm quá
Chỗ ấy đêm nay chắc lạnh đầy!
Cõi ấy , một mình đêm buốt giá
Từ nay sẽ lạnh đến thiên thu
Nhưng niềm thương tiếc bao la quá
Mong ấm lòng Anh cuộc viễn du.
January 12, 2016
MẸ ƠI, VĨNH BIỆT
Mẹ
ơi, con về không kịp
Giấc
dài mẹ đã hôn mê
Đôi
mắt thân yêu đã khép
Mẹ
đâu hay biết con về!
Con
đi đầu non, cuối bể
Mấy
mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ
sao lạnh lùng quá thể
Gọi
hoài, mẹ vẫn trơ trơ!
Mẹ
ơi, lòng đau như cắt
Chuyến
phà đêm chở xác về
Có
một tinh cầu vừa tắt
Lạnh
lùng sông chảy dòng khuya…
Sáng
nay, người ta khâm liệm
Áo
quan đóng nắp lại rồi
Từ
đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu
còn thấy nữa, Mẹ ơi!
Thân
xác vùi trong lòng đất
Mẹ
nằm giữa một đồi hoa
Mẹ
ơi, mộ vừa mới lấp
Từ
đây đất lạnh là nhà!
Từ
đây tuyệt vô hy vọng
Quê
hương mất dấu thiên đường
Mẹ
mang theo niềm vui sống
Lấp
cùng dưới đáy mồ chôn!
Mẹ
ơi, xác thân yêu dấu
Vùi
trong đất lạnh đời đời
Hồn
con không nơi nương náu
Biết
tìm đâu nữa, Mẹ ơi!
Lặng
nhìn bàn thờ nghi ngút
Di
ảnh mờ trong khói hương
Thấm
nỗi đau buồn tang tóc
Còn
gì mà tiếc, mà thương!
Mẹ
ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên
thu
Nghĩa là muôn đời, muôn
kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!
Lãm Thúy
Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026
TIN BUỒN: NHÀ THƠ LÃM THÚY ĐÃ ĐI XA,
Nhà thơ LÃM THÚY ( 1952-2026)
TIN BUỒN.
Tin mới nhận, Nhà thơ Lãm
Thúy, một tác giả rất quen thuộc với giới cầm bút Hoa Kỳ vừa đột ngột rời xa
chúng ta ngày hôm qua. Bản tin ngắn do Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Miền
Đông Hoa Kỳ vừa thông báo ngắn rằng:
"Vô cùng đau buồn thông báo đến tất cả
anh chị em trong GIA ĐÌNH VBVNHN VÙNG ĐÔNG BẮC HK:
Thủ quỹ LÃM THÚY một hội viên tài năng, dễ
thương, hiền hòa thân yêu của chúng ta đã ra người thiên cổ. LÃM THÚY đã đột
ngột bỏ chúng ta ra đi một cách bất ngờ. Tuy LÃM THÚY bỉ bệnh đã lâu nhưng vẫn
OK KHÔNG CÓ DẤU HIỆU GÌ ĐỂ CÓ THỂ NGHĨ LÀ LÃM THÚY SẼ BỎ CHÚNG TA RA ĐI NHANH
CHÓNG , BẤT NGỜ NHƯ VẬY.
Xin các anh chị cầu nguyện cho LÃM THÚY
được về cõi niết bàn. Có CÁO PHÓ hoặc tin tức gì thêm HT sẽ xin thông báo
tiếp.Thân mến
Hồng Thủy".
Chúng tôi đang chờ tin tức cụ thể và cáo phó của gia đình.
Chân Thành chia buồn cùng tang quyến và
thương tiếc tiễn đưa một bạn văn thân thiết vừa rời xa chúng ta .
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
Nhà thơ LÃM THÚY ( 1952-2026)
871. TRÚC TIÊN ( PARIS) Ngồi quán cà phê Paris,
Ngồi quán cà phê Paris,
người ta có thể một mình mà không cô độc.”
– Jean-Paul Sartre.
Có lẽ vì thế
mà nhiều người rời Paris rồi vẫn nhớ những quán cà phê của thành phố này. Không
phải vì ly “café noir” nhỏ trên bàn, mà vì cảm giác được ngồi thật lâu giữa đời
sống đang trôi qua trước mắt mình. Một người ngồi xoay nhẹ tách cà phê trong
tay. Một ông lão im lặng bên tờ báo sáng. Những chiếc ghế quay ra vỉa hè như
thể điều quan trọng nhất không nằm trong quán, mà là thành phố ở phía trước
mặt.
Và có lẽ, chính trong những khoảnh khắc rất bình thường ấy, người ta hiểu
Paris nhiều hơn bất kỳ cuốn sách hướng dẫn du lịch nào.
“Nếu tuổi trẻ của bạn từng thuộc về Paris, thì suốt phần đời còn lại,
Paris sẽ luôn ở trong bạn”. Ernest Hemingway
Những chiếc ghế luôn quay ra đường
Buổi sáng ở Paris bắt đầu khá chậm. Khoảng tám giờ, các quán cà phê quanh
boulevard Saint-Germain bắt đầu đông dần. Người phục vụ kéo ghế ra ngoài
terrasse, lau những chiếc bàn tròn còn lạnh hơi sương đêm. Một ông lão mang
theo cuốn tiểu thuyết còn gấp dở dưới cánh tay. Một cô sinh viên đặt máy tính
xuống bàn rồi gọi café crème. Một người đàn ông mặc vest đứng uống nhanh ly
espresso ở quầy rồi đi mất.
Cà phê Kléber – place Trocadéro
Nhưng cũng có những người ngồi lại rất lâu. Điều đặc biệt ở các quán cà
phê Paris là cách người ta nhìn ra phố. Những hàng ghế ngoài terrasse gần như
luôn hướng về phía dòng người qua lại, nơi tiếng xe buýt, tiếng giày trên vỉa
hè và những cuộc trò chuyện nhỏ hòa lẫn vào nhau. Thành phố trở thành một phần
của quán cà phê – hay có lẽ, quán cà phê chỉ là một cách khác để ngồi giữa
thành phố.
Những chiếc ghế luôn quay ra đường…
Một tách cà phê kéo dài cả buổi sáng
Paris không hẳn có cà phê ngon nhất thế giới. Người Ý có thể phản đối.
Người Việt Nam chắc cũng không đồng ý. Nhưng điều Paris có, là nghệ thuật ngồi
với ly cà phê của mình. Một tách espresso nhỏ có thể nằm trên bàn suốt cả tiếng
đồng hồ. Người phục vụ không thúc giục. Không ai nhìn người khác khó chịu vì
ngồi quá lâu. Dường như ở đây, thời gian được kéo dài ra thêm một chút.
Café Central – 40 rue Cler – Paris 7
Có lần tôi ngồi gần hai tiếng ở một quán nhỏ gần Café de Flore. Bàn bên
cạnh là một cô gái trẻ đang đọc tiểu thuyết. Cô gần như không gọi thêm gì ngoài
một ly cappuccino đã nguội từ lâu. Thỉnh thoảng cô ngẩng đầu nhìn dòng người
ngoài phố vài giây rồi lại cúi xuống đọc tiếp. Không ai làm phiền cô. Không ai
hỏi vì sao cô ngồi lâu đến thế. Ở nhiều thành phố khác, việc ngồi lâu như vậy
dễ khiến người ta cảm thấy áy náy. Nhưng ở Paris, đó gần như là chuyện bình
thường.
“Paris lúc nào cũng là một ý tưởng đẹp” – Audrey Hepburn
Những quán cà phê và giới văn nghệ sĩ
Từ rất lâu, quán cà phê ở Paris không chỉ là nơi để uống cà phê, mà còn là
nơi để viết, để tranh luận và trao đổi ý tưởng. Có những bài báo, bản thảo văn
chương, thậm chí cả tư tưởng chính trị đã từng được bàn luận quanh những chiếc
bàn nhỏ ngoài vỉa hè, giữa tiếng muỗng chạm vào thành tách và dòng người qua
lại ngoài phố.
Cà phê Flore lúc 10g sáng
Café de Flore – nơi người ta ngồi để suy
nghĩ: Café de
Flore ra đời từ cuối thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là một quán cà phê nhỏ ở
Saint-Germain-des-Prés. Nhưng theo thời gian, quán dần trở thành điểm hẹn của
giới văn nghệ sĩ và trí thức Pháp. Sau Thế chiến thứ hai, Jean-Paul Sartre và
Simone de Beauvoir thường ngồi ở đây hàng giờ để viết, tranh luận và nhìn dòng
người qua lại ngoài phố.
Điều đặc biệt ở Café de Flore không chỉ nằm ở lịch sử hay những tên tuổi
từng ngồi ở đó, mà ở cảm giác quán gần như không thay đổi giữa một Paris luôn
chuyển động. Mái hiên đỏ, những hàng ghế sát boulevard Saint-Germain, ánh đèn
vàng bên trong – tất cả vẫn giữ lại không khí của một Paris trí thức và văn
chương xưa cũ.
Người ta đến Café de Flore không hẳn để tìm một ly cà phê ngon nhất Paris,
mà để ngồi giữa một nơi từng chứng kiến biết bao cuộc trò chuyện, bản thảo và
suy nghĩ đã đi qua thế kỷ XX.
Les Deux Magots là hiện thân của một Paris văn chương và quán cà phê. Mở
cửa từ năm 1885
Les Deux Magots – quán cà phê của văn
chương: Chỉ cách
Café de Flore vài bước chân là Les Deux Magots. Tên quán nghe lạ. “Deux Magots”
nghĩa là “Hai pho tượng Trung Hoa”, vì bên trong quán từng có hai pho tượng
trang trí từ thời nơi này còn là một cửa hàng bán lụa phương Đông. Nhưng theo
thời gian, cái tên kỳ lạ ấy lại trở thành một phần lịch sử văn học Pháp.
Trước chiến tranh, nhiều nhà văn và nghệ sĩ đã chọn nơi này làm điểm hẹn:
Ernest Hemingway, Pablo Picasso, Albert Camus… Khác với Café de Flore có vẻ trí
thức và chính trị hơn, Les Deux Magots mang không khí văn chương rõ hơn. Người
ta đến đó để viết, để đọc, để ngồi nhìn mưa rơi trên Saint-Germain trong nhiều
giờ liền.
Đến nay, quán vẫn trao giải văn học Prix des Deux Magots hằng năm – như
một cách giữ lại mối liên hệ giữa quán cà phê và văn chương Paris.
Hai pho tượng Trung Hoa ở Les deux Margots
La Closerie des Lilas – nơi Ernest
Hemingway từng viết: “Nếu
Saint-Germain là khu của những triết gia và trí thức Pháp, thì La Closerie des
Lilas lại thuộc về các nhà văn Mỹ lưu vong đầu thế kỷ XX”.
Nằm gần Montparnasse, quán từ lâu đã là điểm hẹn của nhiều nhà văn và nghệ
sĩ thế giới. Người ta vẫn còn giữ nguyên chiếc bàn Hemingway từng ngồi viết,
với một tấm bảng đồng nhỏ khắc tên ông trên mặt gỗ sẫm màu.
Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở chiếc bàn ấy, mà ở ý nghĩ rằng giữa
một quán cà phê rất bình thường của Paris, một phần văn học thế kỷ XX đã từng
được viết ra trong mùi cà phê nóng và khói thuốc lá.
Closerie des lilas 1900 và ngày nay
Le Procope – quán cà phê lâu đời nhất
Paris: Ra đời từ
năm 1686, Le Procope thường được xem là quán cà phê lâu đời nhất Paris. Vào thế
kỷ XVIII, khi cà phê còn là một thức uống mới lạ ở châu Âu, Le Procope đã trở
thành nơi gặp gỡ của giới triết gia thời Khai sáng.
Voltaire, Jean-Jacques Rousseau hay Denis Diderot từng ngồi ở đây tranh
luận về tự do, lý trí và xã hội. Có một chi tiết rất Paris: nhiều ý tưởng về
Cách mạng Pháp đã từng được nói ra trong các quán cà phê trước khi xuất hiện
ngoài quảng trường. Ở Paris, quán cà phê không chỉ là nơi nghỉ chân. Nó từng là
nơi người ta nghĩ về cách thay đổi thế giới.
Le procope đầu thế kỷ 19
Ở khu Montparnasse, Le Dôme Café từng là điểm hẹn quen
thuộc của giới họa sĩ và nghệ sĩ nhập cư đầu thế kỷ XX. Amedeo Modigliani, Marc
Chagall hay nhiều họa sĩ trẻ nghèo thời ấy thường ngồi ở đây suốt nhiều giờ với
rất ít tiền trong túi. Paris khi ấy không chỉ là thành phố của ánh sáng, mà còn
là nơi người ta mang theo giấc mơ nghệ thuật của mình để sống, dù nghèo đến
đâu.
Le Dome 2026
Còn La Rotonde, với những hàng ghế đỏ đặc trưng ở boulevard du
Montparnasse, từ lâu đã gắn với không khí bohemian của Paris đầu thế kỷ XX.
Người ta kể rằng chủ quán từng cho các họa sĩ nghèo ngồi lì hàng giờ chỉ với
một ly café, thậm chí cho họ ký nợ bằng tranh vẽ. Nhiều bức tranh ngày ấy về
sau lại trở thành tác phẩm có giá trị lớn.
Le Dome 1928
Dọc theo bờ Seine, những quán cà phê nhỏ nối tiếp nhau dưới
hàng cây. Vào cuối buổi chiều, khi ánh sáng bắt đầu đổi màu trên mặt nước,
người ta ngồi ở đó rất lâu – trước một ly vang, một tách espresso hay chỉ để
nhìn những chiếc bateau-mouche chậm rãi đi qua.
Café La Rotonde – Paris 6
Ở khu Saint-Michel hay gần Ile de la Cité,
nhiều terrasse mở thẳng ra phía sông. Từ đó có thể nhìn thấy những nhịp cầu đá,
những quầy sách cũ màu xanh của các bouquinistes dọc bờ Seine,
và phía xa là bóng Notre-Dame hiện lên giữa trời chiều.
Amedeo Modigliani, Pablo Picasso và André Salmon trước quán cà phê La
Rotonde năm 1916
Paris có một từ rất đặc biệt: flâner. Khó tìm một từ tiếng Việt thật tương
đương. Nó không hẳn là đi dạo, cũng không phải lang thang. Đó là cách bước chậm
lại để nhìn, để quan sát, để thành phố tự hiện ra trước mắt mình mà không cần
một mục đích rõ ràng. Những quán cà phê Paris dường như sinh ra cho điều đó.
Người ta có thể flâner ngay cả khi chỉ ngồi yên trước một tách
cà phê và nhìn phố xá trôi qua.
Bouquiniste paris 1900
Thành phố như một sân khấu nhỏ
Ngồi ở terrasse một quán cà phê Paris vào cuối buổi chiều, người ta bắt
đầu hiểu vì sao thành phố này sinh ra nhiều nhà văn đến thế.
Ngoài kia, đời sống đi qua liên tục như một bộ phim không có kịch bản. Một
người phụ nữ ôm baguette bước nhanh dưới hàng cây. Một ông lão dắt chó đi dạo.
Một người kéo violin ở góc đường. Một đôi tình nhân cãi nhau rất khẽ rồi im
lặng nhìn nhau.
Bouquinistes paris 1934
Người ngồi ở quán không cần tham gia vào tất cả những điều đó. Chỉ cần
nhìn. Có lẽ chính từ những khoảnh khắc rất nhỏ ấy mà văn chương Paris được tạo
ra.
Nghệ thuật ở một mình giữa đám
đông
Có một điều rất Paris: người ta có thể một mình mà không cô độc. Trong
những quán cà phê ngoài vỉa hè, giữa dòng người đi ngang và tiếng phố chậm rãi
trôi qua, mỗi người dường như vẫn giữ được cho mình một khoảng riêng rất yên
tĩnh.
“Cà phê làm thơm mọi khoảnh khắc của cuộc đời” – Honoré de Balzac
Ở nhiều thành phố hiện đại, con người luôn bị thúc phải bận rộn và đi
nhanh hơn. Nhưng ở Paris, người ta vẫn cho phép mình có một khoảng thời gian
“vô ích” – chỉ để ngồi xuống, nhìn thời gian trôi qua và nghe thành phố thở
quanh mình.
Có lẽ đó chính là điều làm nên vẻ lãng mạn thật sự của Paris. Có những
thành phố khiến người ta muốn đi nhanh hơn. Paris, đôi khi, chỉ khiến người ta
muốn ngồi xuống.
La Javelle nằm cách công viên Parc André Citroen chỉ vài bước chân, Paris
15.
Trúc Tiên (
Tác giả )
Paris, ngày
26 tháng 5 năm 2026
