Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

852 . PHAN TẤN HẢI - BÓNG TRÒN: KHI CHẠY THEO BANH LÀ HẠNH PHÚC

                                                                                         


Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.

Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.

Tôi học chơi bóng tròn từ thời trung học cơ sở, chữ xưa gọi là trung học đệ nhất cấp. Tôi nghĩ rằng đó là cơ may rất đẹp và nhiều kỷ niệm, khi một đứa học trò như tôi từ trường Trần Lục ở Sài Gòn được tập ở sân Hoa Lư vào một giờ nào đó vào cuối tuần, theo vị thầy thể dục thể thao ấn định khung giờ trước. Trong những buổi tập đó, thường là từ 7 giờ sáng tới 9 giờ sáng, nếu tôi nhớ không nhầm, cha tôi đánh thức tôi lúc 4 giờ sáng, lấy xe Mobylette, một loại xe hai bánh xưa cổ chạy xăng, chở tôi ra một quán cà phê của người Hoa ở góc đường Lê Văn Duyệt (bây giờ đổi tên thành Cách Mạng Tháng 8) và Tô Hiến Thành (không rõ đổi tên gì) ngồi một chặp, để ba uống ly cà phê và hút xong điếu thuốc, và để tôi ăn xong một cái bánh bao, rồi mới chở tôi tới sân Hoa Lư, nơi theo tôi nhớ là cách Sở  Thú (Thảo Cầm Viên) khoảng 5 hay 7 đoạn đường. Một thời gian sau, ba mua cho tôi cái xe đạp. Từ đó, tôi phải tự tới trường. Nhưng mê bóng tròn vẫn là mê không rời.

Có khi bọn học trò rủ nhau đá banh, mê quá, quên cả trời đất. Lúc đó, thỉnh thoảng, tôi làm thơ lục bát (hồi đó, đệ lục, tức là lớp 7 bây giờ, là phải học làm thơ). Trong đó, có mấy dòng, nhớ mang máng, có chữ vương vướng âm vận, bây giờ chỉnh lại, như sau.

Banh lăn qua cỏ sân trường

Làm cho thằng nhóc mê hồn chạy theo

Đá cho chiều vướng trăng treo

Đá cho nắng sớm cũng trèo vô xem

Pele tới ngó ngoài hiên

Hú trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.

Tôi nhớ những buổi sáng ở sân Hoa Lư, nhiều nhóm học trò từ nhiều trường và nhiều lớp khác nhau chia ra các nơi trên sân cỏ để tập. Hơi sương buổi sáng sớm mang hơi mát ngấm vào người, chạy một chặp thì hơi nóng khắp người. Nhưng cũng nơi sân cỏ, nhiều tháng sau, tôi nhận ra mình không có năng khiếu về bóng tròn, và tự biết có tập cỡ nào cũng luôn luôn thua nhiều bạn. Chạy không nhanh bằng người là hỏng rồi. Kỹ thuật đưa chân lạng qua, lạng lại để lừa banh, dẫn banh không khéo cũng là hỏng. Tuy nhiên, bóng tròn hay tuyệt vời là chỗ, bạn chỉ cần ngồi bên lề và nhìn thấy banh lăn trên sân cỏ là đủ thấy hạnh phúc rồi. Nghĩa là, chỉ ngó banh là đủ để hạnh phúc.

Tuy nhiên, thời gian chơi bóng tròn nơi sân cỏ không nhiều trong niên học. Thời đó, xã hội mình chú trọng điểm học nhiều hơn. Tôi và đám bạn lại tìm ra môn chơi bóng mới: đá banh bàn. Thường là nơi một tiệm tạp hóa, hay một tiệm bi-da vẫn có một hay hai bàn bóng đá. Kiểu chơi cũng đơn giản. Đó là một chiếc bàn hình chữ nhật mô phỏng sân bóng tròn thu nhỏ, có thành băng cao để bóng không bay ra ngoài. Có tổng cộng 8 thanh sắt xuyên qua hai bên thành bàn (mỗi bên 4 thanh). Trên các thanh này có gắn cố định các quân người máy nhỏ bằng nhựa hoặc gỗ đại diện cho cầu thủ. Ở hai đầu bàn có hai lỗ khoét sâu xuống, đóng vai trò là cầu môn của mỗi bên. Quả bóng nhỏ, cứng, có kích thước tương đương hoặc nhỏ hơn quả bóng bàn (ping-pong) một chút, thường làm bằng nhựa cứng hoặc gỗ nhẹ để lăn và nảy tốt. Tôi và đám bạn học thường lui tới các nơi có bàn đá banh bàn ở khu Tân Định. Hễ tan trường là tới chơi chừng nửa giờ rồi mới về nhà. Tuy nhiên, la cà như thế, tôi lại học thêm, biết chơi môn bi-da (Billiards), nhưng chỉ biết môn bi-da loại bàn 3 banh, về sau thấy có loại cả chục quả banh (gọi là bi) thì lạ rồi. Khi chuyển trường sang Chu Văn  An thì tự nhiên tôi mất thói quen chơi banh bàn và bi-da.

Có nhiều lý do. Trong đó, tôi nghĩ là mê đọc nhiều hơn. Sách đã làm tôi lười ra sân cỏ hơn. Tôi mê truyện. Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh, tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh. Thực sự, cha tôi có một máy phát thanh (chữ Miền Bắc gọi là đài, chữ Miền Nam gọi là radio), nhưng tôi không dám đụng tới, vì chủ yếu là cha tôi dùng để nghe tin quốc sự trên các đài BBC, VOA. Và hình như, theo tôi nhớ, có thể là cha nghe cả truyền thanh từ Miền Bắc tới. Tôi đoán là Miền Nam cấm nghe đài Miền Bắc, vì những lúc như thế, ba tôi áp tai sát vào chiếc máy radio hiệu Panasonic của Nhật, mặt rất nghiêm và buồn. Tôi nghĩ rằng cha muốn nghe tin về Hà Tĩnh, nơi cha ra đời, nhưng chẳng bao giờ tôi dám hỏi cha nghe những gì. Thêm nữa, quốc sự là cái gì rất xa lạ với bọn học trò như tôi thời đó.

Có những buổi trưa, buổi chiều vui tưng bừng, là khi các bác, các anh trong xóm rủ nhau tới tiệm hớt tóc và nghe trực tiếp truyền thanh các trận banh. Tôi không nhớ chính xác các diễn biến, chỉ nhớ trong ký ức những đứa học trò như tôi cũng vô nghe ké, rồi hô lớn vô, vô, vô... cùng với các bác người lớn. Có khi tôi cầm theo một cuốn sách ra tiệm hớt tóc, vừa ngồi nghe, vừa đọc khi không có những âm thanh vang dội. Nghĩa là, càng lớn, tôi càng nghe một cách lơ là, không kiểu nghe từng lời của bác Huyền Vũ. Bây giờ, tất cả những hình ảnh và âm thanh hiện lên trong trí nhớ như một giấc mơ.

Cầu thủ Pele lúc đó là một huyền thoại, một thiên tài. Hồi xa xưa đó chưa có truyền hình. Bây giờ, có lúc vô YouTube tìm xem Pele, thì phim đen trắng cũ mèm, mờ mờ ảo ảo. Tội nghiệp Pele. Không thể nào như Messi hiện nay, hình màu TV, xem trên YouTube rực rỡ màu sắc âm thanh là dư sức phê rồi. Sau khi nhóm học sinh Trần Lục chuyển trường sang Trung học Chu Văn An, thế là được nâng cấp: tập thể dục thể thao ở sân Phan Đình Phùng (sân này không rõ đổi tên mới là gì). Nhiều thầy nổi tiếng hơn, thế là học trò đứa nào cũng tự thấy trang nghiêm hơn. Thêm nữa, phải lo thi cử. Rồi bẵng đi nhiều năm nữa.

Có mấy dòng thơ còn nhớ mang máng, từ khi tôi nghĩ rằng mình hiểu được lờ mờ Tâm Kinh, lúc đó mừng vô cùng tận, bây giờ chỉnh lại cho ý nghĩa ngay ngắn. Dù vậy, lúc đó tôi vẫn nói chuyện đá banh cho giảm bớt chất thơ mộng.

Banh đi qua tuổi học trò

Lăn theo đồi núi sông hồ biển xa

Sút một cú, trời mưa hoa

Cúng dường vô lượng ta bà sắc không.

Nửa khuya thức ngó mười phương

Thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng.

Rất nhiều năm về sau, khi vào nghề báo, có lúc tôi nghĩ mình nên viết một truyện ngắn có ý nghĩa liên hệ tới bóng tròn. Tôi nhớ rằng trong thời gian Cuộc Chiến Việt Nam 1954-1975, có lẽ đợt ngừng bắn chính thức lâu nhất (ít nhất là trên danh nghĩa) khoảng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định Paris. Nghĩa là, từ ngày 28 tháng 1/1973 trở đi. Thời gian ngưng bắn cũng là hai phía Nam quân và Bắc quân rủ nhau cắm cờ, lấn đất, giành dân... trước khi tiếng súng bùng phát dữ dội trở lại, vì khi hai bên cùng lấn đất thì sẽ đụng nhau để bùng nổ các đợt tấn công mới.

Tôi nghĩ ra một truyện ngắn, nội dung sơ lược là: trong những ngày mới ngưng bắn sau Hiệp định Paris, quân hai miền Nam, Bắc còn choáng váng, còn ngây ngất vì niềm vui ngưng bắn, thì tại một ngôi làng nào đó ở Miền Trung, nơi bọn thanh niên hồi nhỏ học chung trường tiểu học, rồi học lên trung học, có nhiều kỷ niệm khi chia phe đá banh. Tới khi chiến tranh bùng nổ khắp nơi, có lẽ nên ghi là khoảng giữa thập niên 1960s, sau khi quân Mỹ bắt đầu vào Đà Nẵng, thì các thanh niên mới lớn trong làng liền chia đôi, y hệt như thời Rồng Tiên ly dị, một nửa lên núi tòng quân cho VC, và một nửa xuống biển nhập ngũ cho VNCH.

851 . LÂM MINH ANH - XA XƯA CHỮ MẪN

                                                                                           

Lâu lắm rồi ông  Lý mới  đến thăm ông Tư vào cuối tuần, cả nhà vui vẻ đón tiếp vị khách đặc biệt,  Lam Ngọc chuẩn bị trà bánh rồi cùng Tân ngồi xuống thăm hỏi trò chuyện. Ông Lý hỏi cậu bé Minh Châu đâu, Tân thưa:

-Dạ ! Cháu nó hôm nay đến chùa sinh hoạt gia đình Phật tử từ sáng sớm. Nói về nó, cháu lại có chuyện kể bác nghe. Số là, mấy hôm trước cháu đang tập viết chữ Nho, thằng bé đứng cạnh nhìn rồi nói :”Sao ba mẫn tiệp thế?” . Cháu giật mình hỏi nó học được chữ MẪN TIỆP ở đâu ra vậy? Minh Châu cười cười lễ phép trả lời có lần con học thuộc mấy chữ trong Tam Thiên Tự của Ngô Thời Nhiệm được ông nội khen mẫn tiệp có nghĩa là thông minh, khéo léo. Hôm nay nhân có ba và bác Lý ở đây, xin giảng giải cho tụi con có chút hiểu biết về chữ MẪN. 

Ông Lý vui vẻ nói:

-Chữ Mẫn mang nội hàm rất sâu sắc, là linh hồn cổ xưa. Một trong những chữ Nho cổ được ghi nhận sớm nhất và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

  Giáp cốt văn xuất hiện vào thời kỳ văn hoá đồng xanh 1300 TCN (tiếp theo sau là đồng đỏ), tự dạng Mẫn , bên trái chữ Mỗi (chỉ nữ giới hoặc bà mẹ); bên phải bộ phốc (xưa kia viết là Hựu , hoặc Thốn ) động tác tay vỗ nhẹ vào người hay vật. Biểu thị nghĩa gốc là tay chân nhanh nhẹn, ứng xử linh hoạt, còn nghĩa rộng là cần cù, gắng sức, cẩn trọng, khang kiện, thông minh, sáng suốt…

Tuy nhiên, trên Giáp cốt văn (trước đó là Đào văn) một số tự dạng sơ khai được khắc họa bằng hình ảnh bởi người cổ đại chưa rõ ràng (chữ , +, cũng không tránh khỏi trong trường hợp ấy), hoặc bị thời gian lâu dài bào mòn xoá mờ, do đó, người đời sau dựa vào hình dạng trên để giải thích nên mang những nghĩa khác nhau:

1/ Chữ Mẫn có hình dạng bên trái chữ (chỉ nữ giới); bên phải bộ (chỉ bàn tay), mang nghĩa nữ giới dùng tay lấy vật trang sức nhanh nhẹn cài lên mái tóc hoặc búi tóc phía sau đầu.

2/ Chữ Mẫn biến dạng giống như chữ Độc , có tự dạng trên là chữ Sinh (sinh sản, chỉ sự sống), hoặc chữ Thủ (bàn tay); dưới chữ Mẫu (bà mẹ), mang nghĩa khi phụ nữ sinh con, cần bàn tay bà đỡ nhanh nhẹn, dịu dàng nâng em bé chào đời kịp lúc.

3/ Chữ Mẫn , +) có dạng bên trái (bà mẹ), bên phải chữ Lực (chỉ sức mạnh), khi người mẹ sinh con, cần bàn tay bà đỡ đủ sức mạnh, cẩn trọng khéo léo để nâng em bé chào đời, người mẹ cũng cần sức mạnh chịu đựng  khó khăn trong giây phút “khai hoa nở nhuỵ”.

4/ Chữ Mẫn có nghĩa thông với chữ Mẫu (chỉ ngón tay cái, hoặc ngón chân cái), mang nghĩa nữ giới dùng ngón tay cái rẽ tóc hoặc điểm xuyết đồ trang sức trên đầu.

5/ Chữ Mẫn khi làm hình dung từ là diễn đạt sự ngây thơ trong trắng của thiếu nữ, và khi đọc là Hối , mang nghĩa ăn năn, hối lỗi.

6/ Sách Nhĩ Nhã giải thích thêm rằng:

+Phần Thích Nhạc (Lạc) nói: Mẫn trong ngữ cảnh Ngũ Cung âm nhạc phương Đông, là nốt nhạc Thương, quen gọi là Xự tương đương với nốt La thuộc khoá Sol của Thất Cung phương Tây. Biểu tượng nốt nhạc mang âm thanh nặng, người nghe trở nên ngay thẳng, can đảm (Thương vị chi Mẫn - 商謂之敏).

+Phần Thích Huấn nói: Mẫn tức Mẫu (ngón tay cái, hoặc ngón chân cái) là chữ giả tá. Chữ ở đây mượn chữ có âm gần giống nhau để viết, mang nghĩa tay chân mau mắn thận trọng, tâm trí mẫn tiệp, mẫn đạt…Ở dòng thứ 17 còn nói rằng: Theo nguồn gốc bộ tộc nhà Châu, vũ là dấu tích đại nghiệp tiền nhân lưu lại, mẫn là dấu vết ngón chân cái của thượng đế để lại. (Lý đế vũ mẫn, vũ, tích dã, mẫn, mẫu dã - 覆帝武敏武跡也敏挴也). Và ở dòng thứ 97 nói: Chân đạp gấp gáp, và chạy nhanh lẹ gọi là mẫn. (Quyết quyết tích tích, mẫn dã - 蹶蹶踖踖敏也).

850. QUANG ĐẶNG - TẢN MẠN PHÚ YÊN.

                                                                                        



Trung tuần tháng sáu vừa rồi đưa một nhóm bạn Sài Gòn về thăm Phú Yên. Bốn ngày ba đêm quá ít cho một tỉnh duyên hải miền Trung dày đặc cảnh quan và di tích nhưng cũng đủ để khắc họa một Phú Yên quyến rũ trong mắt người phương Nam.

 

Tiếng là dân Phú Yên nhưng sinh trưởng trong chiến tranh sau đó lại đi xa nên những hiểu biết về quê hương rất ít. Chuyến đi lần này phải trông cậy vào cô bạn thân không sinh ra ở đó lại rành đất Phú như trong lòng bàn tay.

-Ngày thứ nhất đi về phía Nam

Rời khách sạn lúc 5h sáng Tuy Hòa còn đang ngái ngủ. Ngang qua cầu Hùng Vương dòng sông Ba lấp lánh những tia nắng đầu tiên. Trên con đường vắng thênh thang thỉnh thoảng vài người đạp xe tập thể dục sớm lướt qua. Xe chạy thêm chút nữa cung đường biển Phước Tân- Bãi Ngà hiện ra trước mắt. Những động cát nối dài, núi trùng điệp một bên, biển loáng bạc nắng sớm một bên. Ai nỡ từ chối những góc ảnh tuyệt vời như thế! Nhưng Bãi Môn- Mũi Điện( hay mũi Đại Lãnh) cung đường ven biển đẹp nhất ở Phú Yên mới khiến ai nấy trầm trồ. Những khúc cua tuyệt vời. Những vách đá cheo leo. Biển xanh thẫm phía đưới. Núi và biển cuộc rượt đuổi không cùng. Một lát sau ngâm chân trong làn nước mát lạnh bên một con lạch nhỏ ở Bãi Môn, ngắm ngọn hải đăng Mũi Điện một trong những nơi đón bình minh đầu tiên trên đất liền Việt Nam thấy lòng mênh mông vô cùng. Trưa hôm đó đoàn nghỉ chân ở Vũng Rô nơi người viết có nhiều kỷ niệm. Trước năm 1975 mỗi khi đi học ở Sài Gòn về xe đò ngang qua đây biết là sắp về đến nhà. Năm 1978 trên một chuyến tàu chợ Tuy Hòa- Nha Trang nhiều chi tiết xảy ra đã viết thành một truyện ngắn(1).

Chiều muộn xe ghé biển Làng Lò Hòa Hiệp rồi hồ Hóc Răm Hòa Tân. Một ngày mệt nhoài với nhiều điểm đến nhưng ai nấy đều thích thú với các cảnh sắc hùng vĩ, thơ mộng, hữu tình của Phú Yên.Trên xe về lại Tuy Hòa ai đó hát một câu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang: “ Đường đi đưa tới phía Nam…”(2).

-Ngày thứ hai đi về phía Bắc

Nếu vùng biển phía Nam để lại nhiều kỷ niệm thì vùng biển phía Bắc mang nhiều tiếc nuối. Năm 1977 học xong khóa I trường CĐSP Nha Trang về nhận nhiệm sở đầu tiên ở xã An Chấn sau đó là xã An Hòa. Ba năm đi dạy thời bao cấp, những bước chân chập chững vào đời thiếu thốn cả tinh thần lẫn vật chất tâm trạng nào quan tâm đến cảnh đẹp. Hiện tại trên bản đồ du lịch Phú Yên Tuy An là vùng biển tập trung nhiều thắng cảnh. Xe chạy qua các điểm du lịch nổi tiếng Cầu Gỗ Ông Cọp, Nhà Thờ Mằng Lăng, Gành Đá Dĩa, Hòn Yến cũng đổng thời chạy qua những địa danh gắn bó một thời như Đầm Ô Loan, An Hòa, Nhơn Hội, Phú Thường để rồi tiếc nuối sao mình biết về vùng đất này muộn thế! Nhớ một đêm năm 1979 ngoài trời tối đen như mực, có tiếng động nhẹ ở ngoài sân. Hỏi cô bạn trọ cùng nhà, dạy cùng trường làm gì thế? Cậu học trò lớp Chín dưới Yến tặng con cá ngừ. Lúc đó cứ ngỡ Yến là một nơi xa xôi nào lắm. Giờ lặng người khi đứng trước Hòn Yến. Chưa có cảnh biển nào gây xúc động đến thế! Hai khối đá lớn nhỏ sừng sững giữa trời mây có cảm giác với tay là chạm được. Nước biển thì như một bức tranh phối màu có chủ đích. Phía xa là xanh dương đậm, gần hơn là màu rêu của đá, trắng của san hô. Đúng là một tuyệt tác của thiên nhiên. Càng tiếc hơn nữa khi cô em họ đổi về An Hòa sau đó mấy năm bảo, thập niên 80 Hòn Yến còn đẹp hơn bây giờ rất nhiều đồng thời tiết lộ Yến(3) chỉ cách trường cấp II An Hòa nơi chị dạy hơn một cây số có thể đi bộ được.

Xe rời An Hòa đi ngang qua địa phận xã An Chấn những cái tên như Phú Quý, Long Thủy lại thấy bồi hồi. Ôi Tuy An một thời tuổi trẻ!

 

Bên cạnh các thắng cảnh phía Nam và phía Bắc các bạn Sài Gòn còn dành nhiều tình cảm cho thành phố Tuy Hòa. Hiền hòa, không chặt chém, ồn ào thậm chí kẹt xe chẳng khác gì Sài Gòn như nhiều thành phố du lịch biển khác. Tuy Hòa tạo cho người nơi khác đến cảm giác được sống chậm, bình yên. Chì là một buổi tối ngồi trên chiếc ghế lười cạnh tháp Nghinh Phong ngắm ánh đèn nhấp nháy ngoài khơi. Chì là một buổi sáng uống Café Tùng, đi dọc đường Tản Đà nghe bạn kể tuổi thơ với những chùm chim chim, dúi dẻ nơi căn nhà của ngoại dưới chân núi. Chỉ là khoảnh khắc đứng trên núi Nhạn nhìn ngọn Chóp Chài rồi dòng sông Ba tuôn mình ra biển lớn thầm thì, bạn có biết quê bạn thơ mộng lắm không? Và sau hết thảy thay cho lời khen ngợi là câu hứa sẽ trở lại Phú Yên nói chung, Tuy Hòa nói riêng lần nữa.

Phú Yên trong con mắt người phương xa như thế còn người gốc ở đó ra sao? Khẩu vị, thói quen, tâm hồn dù lưu lạc bao nhiêu năm vẫn là người con xứ biển. Số lần trở về nhiều hơn khi du lịch phát triển. Tự hào khi thấy hình ảnh quê hương xuất hiện trong các bộ phim nổi tiếng như Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh, Ngày Xưa Có Một Chuyện Tình, Hẹn Em Ngày Nhật Thực. Thế nhưng bên cạnh niềm vui còn vài nỗi băn khoăn. Có cần thiết phải làm một con đường trang trí màu sắc lòe loẹt dẫn vào Gành Đá Dĩa, những hàng quán nhếch nhác cản trở tầm nhìn ở Hòn Yến, những lồng bè buôn bán luộm thuộm ở Vũng Rô, cảnh giả ở các khu du lịch. Mong sớm có một bàn tay tổng đạo diễn nếu không làm cho Phú Yên đẹp hơn xin hãy trả lại vẻ đẹp tự nhiên vốn có của thiên nhiên ban tặng.

 

Hôm chia tay Tuy Hòa xe qua khỏi cầu Đà Rằng hỏi các bạn nghĩ thế nào về Phú Yên? Thay cho câu trả lời là hàng loạt câu hỏi địa phương từng đến tên gì, quán ăn đó ở địa chỉ nào, chả dông là chả ra sao, mùa nào du lịch Phú Yên thuận tiện nhất. Ông bạn nhà văn quê Đồng Tháp còn khoe cuốn sổ tay ghi chi chít các chi tiết cho loạt bài Phú Yên Du Ký sắp ra mắt. Cô bạn gốc Chợ Mới An Giang lo xa, lần sau đi Phú Yên sẽ đến những điểm nào? Biển trời Phú Yên rộng mở khắc đi khắc đến!

 

QUANG ĐẶNG

 

1/Truyện ngắn Ở Lại Cung Đường trong cuốn Muôn Nẻo Đường Về của QĐ

2/Bài hát Chiều Qua Tuy Hòa của NS Nguyễn Đức Quang

3/Yến tên gọi tắt Hòn Yến của dân địa phương    

 

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

849 . TT-THAI AN - KHÔNG XIN MÀ ĐƯỢC - Truyện

                                                                             

Sau khi sanh xong đứa con gái, Hường và con được cho vào phòng nằm chung với mấy mẹ con người khác vì phòng dành cho nhiều người nằm chung. 

Năm 1970, bệnh viện Đà Lạt nhỏ, nhưng có khoa hộ sinh dành cho các bà cư trú ở quanh đây đến sinh đẻ.  Riêng Hường từ nơi khác đến đây theo chỉ định của cha mẹ. Sinh xong thì phải trở về nhà.  Vì thế, những bà mẹ khác có chồng hoặc cha me, hoặc chị em đến thăm nuôi, đem cơm vào cho ăn mỗi ngày.  Hường chẳng có ai đến thăm nên phải nhờ mấy bà dọn dẹp ở đây ra phố mua thức ăn đem vào cho nàng.

Cô y tá trưởng tên Nhân khoảng trên dưới năm mươi tuổi, dáng mảnh khảnh, nói năng từ tốn thỉnh thoảng ghé thăm sản phụ đã lưu ý thấy Hường đơn chiếc, chẳng người thăm nuôi nên hay dừng lại hỏi thăm.  Cô Nhân nói chuyện nhẹ nhàng khiến Hường yên tâm trò chuyện với cô.  Hường kể với cô Nhân rằng chồng đi lính, đóng quân ở xa, lại phải ra trận thường xuyên nên chờ lâu mới có thư của chồng.  Cô Nhân thương cảm hoàn cảnh của Hường nên có hôm cô đem thức ăn vào cho Hường.

Bệnh viện cho sản phụ và con ở lại bốn ngày sau khi sanh mà thôi. Vì thế, Hường do dự tìm cách nói với cô Nhân trước ngày phải ra khỏi viện.  Trong thâm tâm, Hường rất phục một người xuất thân từ một gia đình gia giáo như cô. Chỉ nhìn tuổi của cô lớn hơn tuổi của cha mẹ của Hường mà đã học ra y tá chuyên ngành trong khi thế hệ của cô nhiều đàn bà con gái còn chưa biết chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết là tốt lắm rồi.  Cô Nhân không có chồng nhưng cô có nghề nghiệp tốt, đời sống ổn định.

Hường chờ cô Nhân đến bên giường, cô hỏi thăm trước:

-Ngày mai mẹ con cháu xuất viện rồi, có ai đến rước không?

Hường ngại ngùng nói khẽ, không muốn người khác nghe thấy:

-Cô ơi, chẳng ai đến rước hết.  Mới có người ở nhà trọ đem thư của đơn vị anh ấy đến cho cháu bảo rằng anh mất tích từ tuần trước. Cháu phải lên đơn vị anh ấy chờ xem tin tức thế nào.  Cháu mạo muội xin cô giúp cháu một việc, không biết có được không?

-Việc gì cứ nói ra, nếu cô giúp được thì cô sẵn sàng.

-Xin cô cho con gái cháu ở lại trong bệnh viện thêm một tuần, cháu đi khoảng 1 tuần sẽ về đón nó ra. Cô ơi! Cháu không biết nhờ ai nữa. Xin cô giúp cháu, cháu muôn vàn tạ ơn cô!

Chần chừ một lúc, cô Nhân hỏi:

-Cô thấy hoàn cảnh cháu mà thương, không nỡ từ chối.  Thế nhà cháu ở đâu? Cháu làm việc ở đâu, cho cô biết để ghi xuống.  Còn tên tuổi của cháu thì bệnh viện đã ghi sổ, nhưng cháu cũng đọc cho cô ghi xuông đây.

Hường mừng đến phát khóc, nắm ngay tay cô Nhân và cám ơn chân thành. Cô Nhân cũng rơm rớm nước mắt vì thương hoàn cảnh của Hường quá.  Cô thấy cuộc chiến này đã để lại quá nhiều quả phụ và con mồ côi, cô không giúp được gì cho họ. Nhưng hôm nay, đứng trước một thiếu phụ chỉ ngoài hai mươi đang khốn khó vì chồng mất tích, đứa con thơ chưa được gặp cha nên cô không đành từ chối giúp đỡ.


848. HOÀNG KIM OANH - ROMA, VÓ NGỰA BUỒN TRONG LỚP LỚP THỜI GIAN

                                                                                   


    R o m a,  v ó  n g ự a  b u ồ n  
t r o n g  l ớ p  l ớ p  t h ờ i  g i a n


Roma. Roma.
Nắng vẫn vàng. 
chiều tháng 6 thành Rome
sau lưng tôi
Piazza di Trevi* rực nắng mật ong dát từng viên đá cổ 
thầm thì 
thời gian bỗng chùng lại
quên chính mình
hóa thân 

849 .TRƯƠNG VŨ . BÓNG MA TRONG VƯỜN CŨ - Tranh.

 


BÓNG MA TRONG VƯỜN CŨ

Chất liệu hổn hợp trên bố, phác hoạ tại Việt Nam năm 2014, hoàn tất tại Mỹ năm 2026.

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

847 . HOÀNG XUÂN SƠN - RƠI TRÊN GỐI- thơ.

                                                                                              



 

Ngã nhào không chiến tuyến

Đường cắt nắn nét màu*

Những que diêm thời phục hưng lụi tàn trong bể ải

 

 

Chiếc gạt đời khô lâu rồi những mấu đất

Ai nâng máu xương lên hàng phẩm vật

Hiến tế đêm nay

Cả phật phần tro cốt

 

 

Áo lụy đường di

Ai nào chép thơ cho đời sạm

Tư vãn

Xám não trời buồn

Giọt mùa [âm]

 

Âm âm từng cội ấm

                                                 nâu già

Níu lỏng tràng xanh khuya

 

 

Câu đắm hồn quả tú

Đăm đắm kẽ trời

Mắt sen

 

 

Từng bó ôm vào lòng

Địu sơn hành an tịnh

Thức

Đêm hương

Nùi tàn diêm sinh trên gối

 

 

Đọc một chút thanh bình

Từ giấc sen vua.

Và trôi

Như hồng bụi

 

 

)(

hoàng xuân sơn

25.12.21

* nắn nét, chữ Gió-O

 

846 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - HOẠN NƯƠNG GHEN VÀ SỰ TRẢ THÙ TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

                                                                                                             


Truyện Kiều còn có tên là Đoạn Trường Tân Thanh,  đây là tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng và phổ biến sâu rộng nhất ở Viêt Nam. Có lẽ không ai là không biết, cho dù đó là trí thức hàn lâm hay bình dân lao động, ngay cả những người không biết chữ cũng biết và thuộc dăm ba câu thơ Kiều, thậm chí nhiều người thuộc làu làu nhiều đoạn hoặc thuộc lòng cả tác phẩm.

Truyện Kiều là tác phẩm phóng tác, chuyển thể từ tác phẩm Vương Thúy Kiều của nhà văn Trung Hoa, Thanh Tâm tài nhân (còn gọi là tài tử). Cái tài tình của cụ Nguyễn Du là sử dụng ngôn ngữ một cách nhuần nhuyễn, điêu luyện, mượt mà…để chuyển thể một tác phẩm văn xuôi thành thơ, đưa thể thơ lục bát lên đến độ phát triển hoàn thiện nhất. Truyện Kiều in sâu vào tâm thức của bao thế hệ người Việt yêu văn chương, thơ ca. Nội dung truyện Kiều có lẽ ai cũng biết nên không cần phải nói làm gì. Trong phạm vi bài viết này chỉ tản mạn chút về cái ghen của người đàn bà. Cơn ghen của nhân vật Hoạn Thư trong Truyện Kiều như thể đã là hình tượng tiêu biểu cho máu ghen của đàn bà: “Nổi máu Hoạn Thư”.

Hoạn Thư và hình ảnh “sư tử Hà Đông” là điển cố văn học, là biểu tượng cho cái sự ghen tuông của người đàn bà. Thật sự thì cái ghen của Hoạn Thư khác hẳn với cái ghen của phần đông đàn bà ở thế gian này. Cái ghen của Hoạn Thư nó “văn hóa” hơn, “cao cấp” hơn và cũng “nghệ thuật” hơn hẳn cái ghen của hầu hết nhi nữ thường tình. Những người đàn bà ở thế gian này hễ thấy hay nghi ngờ chồng mình quen, cặp bồ hay ăn ở với người khác là lập tức lồng lộn lên, làm ầm ĩ, đánh ghen và làm bao nhiêu việc khác. Chuyện đó rất bình thường, bởi vậy mà Hoạn Thư cũng từng nói: “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” hoặc là “Chồng chung đâu dễ ai chìu cho ai”. Đọc truyện Kiều ta thấy cái ghen của Hoạn Thư khác hẳn với cái lối ghen tuông thường tình kia, không dễ gì có người đàn bà thứ hai nào ghen một cách “thượng đẳng” như thế. Có lẽ do sự giáo dục trong gia đình, do hấp thụ văn hóa trong môi trường của nhà quan lại bộ thượng thư, một dòng dõi trâm anh thế phiệt. Hoạn Thư ghen nhưng không hề lồng lộn, la mắng, chửi rủa, đánh ghen ồn ào…Hoạn Thư tuyệt nhiên im lặng, biết rõ chân tơ kẽ tóc nhưng giả tảng như không có gì (mặc dù trong lòng như lửa đốt), thậm chí còn bịt kín mọi tin tức về cuộc tình vụng trộm của chồng. Khi có kẻ mách tin để lập công. Hoạn Thư lập tức:

“Vội vàng xuống lệnh ra uy

Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”

Thât bản lãnh cao tay, không dễ có người đàn bà thứ hai nào có thể làm được. Hoạn Thư biết rõ  từng cử chỉ hành vi của cuộc tình Thúc Sinh và Thúy Kiều nhưng vẫn đóng vai người vợ thủ phận an thường, không hay biết việc gì. Khi Hoạn Thư ra tay thì vượt lên trên lẽ thường tình, cứ như thể một tay trùm chính trị ra tay với đối thủ của mình. Hoạn Thư cho tay chân bộ hạ bắt cóc Thúy Kiều về dinh và sung vào đội ngũ thị tỳ. Đợi đến khi Thúc Sinh về thăm nhà mới sai Kiều ra hầu rượu, hầu đàn “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt dâng tận mặt, bắt mời tận tay”, bắt khoan bắt nhặt đủ điều khiến cho Thúc Sinh tan nát cõi lòng, Thúy Kiều cũng chết dở sống dở, cả hai nhìn nhau mà không dám nhận nhau, không thể thốt nên lời. Hoạn Thư như thể một tay phù thủy còn Thúc Sinh và Thúy Kiều như hai con rối, mặc sức điều khiển, hành hạ cho bõ công ghen tức âm thầm bấy lâu nay. Hoạn Thư ngồi thưởng thức vở bi hài kịch do chính mình dựng nên. Hoạn Thư hả dạ để cho thỏa nỗi đau ngầm xưa nay, quả thật một tay cao thủ vượt lên trên sự ghen tuông, đánh ghen thông thường của đàn bà. Hoạn Thư dùng thuật tâm công, đánh vào lòng, đánh cho đau đớn vật vã mà nạn nhân không thể thốt nên lời, không sao chống đỡ được. Hoạn Thư chơi trò mèo vờn chuột, không giết nó, không ăn nó, chỉ vờn cho nó sống không được, chết không xong.

845 . THÂN TRỌNG SƠN : dich và giới thiệu CHIẾC CHUÔNG của Hans Christian Andersen

                                                                                                                                                                





Hans Christian Andersen sinh ngày 2 tháng 4 năm 1805 tại Odense, Đan Mạch, trong một gia đình nghèo khó. Cha ông là một người thợ đóng giày, người đã nuôi dưỡng trí tưởng tượng của con trai bằng những câu chuyện dân gian và tự làm cho ông một sân khấu đồ chơi. Mẹ ông là một người giặt thuê.

Khi cha qua đời vào năm 1816, cậu bé Hans Christian mới 11 tuổi gần như phải tự lập. Năm 14 tuổi, cậu bé cao lớn, vụng về ấy một mình đến Copenhagen, quyết tâm trở nên nổi tiếng — với tư cách là diễn viên, ca sĩ hoặc vũ công. Ông thử giọng tại Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch nhưng bị từ chối.

Tài năng thô sơ của Andersen đã thu hút sự chú ý của Jonas Collin, một giám đốc của Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch, người sau này trở thành ân nhân suốt đời của ông. Collin sắp xếp để Andersen trẻ tuổi được học tại trường ngữ pháp ở Slagelse và sau đó là Helsingør.

Đó là một trải nghiệm nhục nhã đối với một thiếu niên khi phải học cùng những học sinh nhỏ tuổi hơn nhiều. Ông chịu đựng sự bắt nạt và một hiệu trưởng nổi tiếng khắc nghiệt. Dù trải qua những khó khăn ấy, Andersen vẫn kiên trì và vào Đại học Copenhagen năm 1828, mặc dù trước đó ông đã bắt đầu xuất bản thơ và văn xuôi.

Andersen gần như là người đã tạo ra cách viết eventyr — tức truyện cổ tích phiêu lưu hay truyện kỳ ảo — bằng cách phá vỡ mạnh mẽ truyền thống văn học thời đó.

Trong khi anh em nhà Grimm sưu tầm và kể lại những truyện dân gian có sẵn, Andersen sáng tạo ra những câu chuyện cổ tích văn học hoàn toàn mới, được viết bằng ngôn ngữ đời thường, giống như giọng kể của một người kể chuyện đang trò chuyện với trẻ em.

Đây là một cuộc cách mạng: trước đó, chưa có một tác giả nghiêm túc nào viết cho trẻ em bằng ngôn ngữ gần gũi, hằng ngày như vậy. Những truyện cổ tích đầu tiên của ông xuất hiện vào năm 1835 gồm: Hộp quẹt” (The Tinder-Box), Cô bé Tí hon” (Thumbelina), Công chúa và hạt đậu” (The Princess and the Pea), và “Claus lớn và Claus nhỏ” (Little Claus and Big Claus).

Trong bốn thập kỷ tiếp theo, ông viết khoảng 156 truyện cổ tích, được dịch ra hơn 125 ngôn ngữ, khiến ông trở thành một trong những tác giả được dịch nhiều nhất trong lịch sử.

Những câu chuyện nổi tiếng nhất của Andersen vẫn là những tác phẩm nền tảng của văn học thế giới.

Nàng tiên cá” (The Little Mermaid, 1837) — một câu chuyện buồn về sự hy sinh và tình yêu đơn phương — đã truyền cảm hứng cho nhiều vở ba lê, phim ảnh và bức tượng đồng nổi tiếng ở Copenhagen.
Vịt con xấu xí” (The Ugly Duckling, 1843) — thường được xem là câu chuyện mang tính tự truyện — biến những đau khổ thời thơ ấu thành một bài học phổ quát về việc khám phá bản thân.

Nữ hoàng băng giá” (The Snow Queen, 1844) — truyện cổ tích dài nhất và tham vọng nhất của ông — sau này trở thành nguồn cảm hứng cho bộ phim Frozen của Disney.

Bộ quần áo mới của Hoàng đế” (The Emperors New Clothes, 1837) đã tạo ra một ẩn dụ lâu dài về sự tự lừa dối của cả tập thể.

Còn Cô bé n diêm” (The Little Match Girl, 1845) vẫn là một trong những câu chuyện Giáng sinh cảm động nhất từng được viết.

Những truyện được yêu thích khác gồm: “Đôi giày đỏ” (The Red Shoes, 1845), Chim họa mi” (The Nightingale, 1843), Chú lính chì dũng cảm” (The Steadfast Tin Soldier, 1838), Bầy thiên nga hoang dã” (The Wild Swans, 1838), và “Cây thông Noel” (The Fir-Tree, 1844).

Thiên tài ca Andersen nằm ở việc sử dụng sự mỉa mai, hài hước, cách trò chuyện trực tiếp với người đọc, cũng như khả năng đặc biệt trong việc trao tiếng nói cho những vật vô tri — đồ chơi, hoa cỏ, vật dụng trong nhà — biến chúng thành nhân vật chính trong những câu chuyện có sức lay động với độc giả mọi lứa tuổi.

Truyện cổ tích của ông bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa về xã hội, sự châm biếm và những cảm xúc phức tạp.

Khác với truyện của anh em nhà Grimm, nơi kẻ xấu thường bị trừng phạt và người tốt chiến thắng, truyện của Andersen thường kết thúc bằng sự mơ hồ hoặc nỗi buồn.

Nàng tiên cá tan biến thành bọt biển; cô bé n diêm chết cóng; cây thông bị đốt cháy. Những kết thúc vừa ngọt ngào vừa cay đắng này phản ánh chính những đấu tranh của Andersen với sự cô đơn, địa vị xã hội và những khát khao không được đáp lại.

Andersen chưa từng kết hôn và cũng không có con. Ông từng trải qua một vài mối tình mãnh liệt nhưng không được đáp lại, và những trải nghiệm ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm của ông.

Ông có một tình cảm gắn bó sâu sắc với Edvard Collin, con trai của ân nhân Jonas Collin, và từng say mê Jenny Lind, nữ ca sĩ nổi tiếng được mệnh danh là “Chim họa mi Thụy Điển” (Swedish Nightingale), người xem ông như một người anh trai.

Những cuốn nhật ký và thư từ của ông cho thấy một con người giàu cảm xúc, luôn phải đấu tranh với sự cô đơn trong suốt cuộc đời.

Năm 1847, trong chuyến thăm Anh lần đầu tiên, Andersen gp Charles Dickens.

Ông viết trong nhật ký: Chúng tôi đã bước ra hiên nhà, tôi vô cùng hạnh phúc khi được nhìn thấy và trò chuyện với nhà văn còn sống của nước Anh mà tôi yêu quý nhất.”

Cả hai tác giả đều lên tiếng bảo vệ những người nghèo khó và những người bị thiệt thòi, sáng tác những câu chuyện về sự vượt qua nghịch cảnh nhờ nỗ lực, lòng tốt và may mắn.

Tuy nhiên, tình bạn của họ sau đó trở nên không còn tốt đẹp khi Andersen ở lại nhà Dickens, Gads Hill Place, trong chuyến thăm năm 1857 lâu tới năm tuần — khiến Dickens phải để lại một tờ giấy trong phòng khách ghi rằng:

Hans Andersen đã ngủ trong căn phòng này suốt năm tuần, khoảng thời gian dường như dài bằng cả một thời đại đối với gia đình.”

Những câu chuyện của Andersen đã truyền cảm hứng cho vô số vở kịch, opera, ba lê và phim ảnh — nổi bật nhất là các bộ phim của Disney như “Nàng tiên cá” (The Little Mermaid, 1989, 2023) và “Frozen” (2013).

Những câu chuyện của ông vượt qua ranh giới về tuổi tác và văn hóa, vẫn giữ nguyên sức sống cho đến ngày nay như khi chúng lần đầu được kể lại.

Giải thưởng quốc tế Hans Christian Andersen, do Hội đồng Quốc tế về Sách dành cho Thanh thiếu niên (IBBY) thành lập, là danh hiệu quốc tế cao quý nhất dành cho các tác giả và họa sĩ minh họa sách thiếu nhi.

Ngày sinh của ông, ngày 2 tháng 4, được kỷ niệm trên toàn thế giới là Ngày Sách Thiếu nhi Quốc tế.

Andersen qua đời vào ngày 4 tháng 8 năm 1875 tại Copenhagen, hưởng thọ 70 tuổi. Ông chưa bao giờ hoàn toàn hồi phục sau một chấn thương xảy ra do bị ngã khỏi giường hai năm trước đó. Ông được an táng tại Nghĩa trang Assistens (Assistens Cemetery) ở Copenhagen.
Hans Christian Andersen là một trong những nhà văn cổ tích nổi tiếng nhất thế giới, với nhiều tác phẩm không chỉ dành cho trẻ em mà còn chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc sống. Truyện ngắn Chiếc chuông “ là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện quan niệm ca Andersen về khát vọng hướng tới cái đẹp, sự thật và những giá trị tinh thần cao quý. Qua hình ảnh một chiếc chuông bí ẩn vang lên giữa thiên nhiên, tác giả gửi gắm nhiều thông điệp về hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của con người.

Trước hết, hình tượng chiếc chuông là biểu tượng trung tâm của tác phẩm. Ban đầu, tiếng chuông vang lên từ một nơi xa xôi, khiến nhiều người tò mò và muốn tìm kiếm nguồn gốc của nó. Tuy nhiên, không ai biết chính xác chiếc chuông nằm ở đâu, bởi âm thanh của nó dường như vừa gần gũi vừa khó nắm bắt. Chiếc chuông không chỉ là một vật thể thông thường mà trở thành biểu tượng cho những điều cao đẹp mà con người luôn khao khát: chân lý, vẻ đẹp, sự hoàn thiện và lý tưởng sống. Nó đại diện cho tiếng gọi của tâm hồn, thúc đẩy con người vượt qua giới hạn của bản thân để đi tìm những giá trị lớn lao hơn.

Bên cạnh đó, hành trình tìm kiếm chiếc chuông thể hiện khát vọng khám phá và vươn lên của con người. Những người tìm kiếm chiếc chuông xuất phát từ nhiều tầng lớp khác nhau, mỗi người có một cách cảm nhận riêng về âm thanh ấy. Có người tìm kiếm vì tò mò, có người vì mong muốn chứng minh bản thân, nhưng cũng có những người thực sự bị dẫn dắt bởi một niềm tin vào cái đẹp. Andersen cho thấy rằng con người chỉ có thể chạm tới những giá trị cao quý khi họ có sự kiên trì, lòng chân thành và một tâm hồn nhạy cảm.

Một ý nghĩa quan trọng khác của tác phẩm là sự đối lập giữa vẻ đẹp bên ngoài và giá trị bên trong. Nhiều người trong truyện bị hấp dẫn bởi những thứ dễ nhìn thấy, dễ đạt được, nhưng chiếc chuông thật sự lại gắn với một trải nghiệm tinh thần sâu sắc. Qua đó, Andersen phê phán thói quen đánh giá mọi thứ bằng vẻ bề ngoài và nhấn mạnh rằng những điều quý giá nhất thường không dễ dàng nhận ra. Con người cần biết lắng nghe bằng trái tim thay vì chỉ bằng giác quan.

Ngoài ra, Chiếc chuông ” còn thể hiện tư tưởng nhân văn của Andersen về sự trưởng thành. Hành trình đi tìm tiếng chuông cũng là hành trình con người khám phá chính mình. Khi vượt qua khó khăn, họ không chỉ đến gần hơn với mục tiêu mà còn trở nên tốt đẹp hơn. Chiếc chuông vì thế không chỉ nằm ở một nơi cụ thể mà còn tồn tại trong tâm hồn mỗi người, như một lời nhắc nhở về việc luôn hướng tới điều thiện và cái đẹp.

Về nghệ thuật, Andersen sử dụng lối kể chuyện giàu tính biểu tượng và chất thơ. Tiếng chuông trong truyện vừa có tính hiện thực vừa mang màu sắc huyền ảo, tạo nên không khí đặc trưng của truyện cổ tích. Cách xây dựng hình ảnh biểu tượng giúp tác phẩm vượt ra ngoài một câu chuyện đơn giản để trở thành một bài học về đời sống tinh thần.

Tóm lại, Chiếc chuông ” của Andersen là câu chuyện về hành trình con người đi tìm cái đẹp và ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Chiếc chuông không chỉ là một âm thanh bí ẩn mà là biểu tượng của lý tưởng, niềm tin và khát vọng hoàn thiện bản thân. Qua tác phẩm, Andersen nhắn gửi rằng những giá trị cao quý không phải lúc nào cũng hiện hữu trước mắt; chúng chỉ được tìm thấy bởi những người có lòng kiên trì, sự trong sáng và khả năng cảm nhận bằng tâm hồn.