Thứ Năm, 5 tháng 11, 2026

TRẦN TRUNG ĐẠO - TIN BUỒN VĂN NGHỆ: NHÀ VĂN, NHÀ THƠ LÂM CHƯƠNG QUA ĐỜI, 4-11-2026



Nhà văn TRẦN TRUNG ĐẠO

vừa thông báo tới bằng hữu khắp nơi:

Xin thông báo tin buồn đến quý anh chị văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ Lâm Chương vừa qua đời tại Boston ngày 4 tháng 11, 2026 sau một cơn bịnh kéo dài vài tháng. Anh ra đi trong nhẹ nhàng. Trên internet ghi anh sinh 28 tháng 10, 1942 hay 1945 tại Gò Dầu Hạ, tỉnh Tây Ninh. Trong thời chiến anh là Đại Úy Biệt Động Quân.

Chiều hôm kia, 3 tháng 11, các con anh tổ chức mừng sinh nhật cho anh. Chúng tôi, gồm chị Nguyễn Thị Lộc Tưởng và tôi được mời, được tham gia hát “Happy Birthday” cùng với gia đình. Anh rất vui, bảo chúng tôi ngồi bên anh, cầm tay nhau. Anh ra dấu bảo trong anh chị em thân thiết chỉ còn lại ba người. Thật ra còn cũng khá đông nhưng tản mát khắp nơi. Anh nói nhiều nhưng tiếng được tiếng mất không nghe rõ.

Tôi cố chọc anh cười để chụp một tấm hình kỷ niệm. Anh ráng cười nhưng không cười nổi vì anh yếu lắm rồi. Anh Lâm Chương bịnh, ra vào bịnh viện cũng cả năm nay. Lần này sau khi bị té trên đường đi lọc thận, sức khỏe anh xuống nhanh. Nhân dịp sinh nhật tôi có hỏi anh cho chắc “Anh sinh 1942 phải không”, và anh gật đầu.

Trên báo Trẻ số ra 4 tháng 4, 2025 có ghi tiểu sử vắn tắt của anh: “Lâm Chương sinh năm 1942 tại Gò Dầu Hạ, Tây Ninh. Thuở nhỏ ông đi học muộn. Học xong trung học, ông một mình ra miền Trung, vừa học vừa làm nhiều nghề, rồi nhập ngũ khóa 24 trường sĩ quan Thủ Đức. Sau khi ra trường ông là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ trong binh chủng Biệt động quân. Sau 1975 ông bị đi tù 10 năm. Đến năm 1987 vượt biên sang Hoa Kỳ, hiện định cư tại Boston, tiểu bang Massachusetts.

Người ta thường chỉ biết Lâm Chương là một nhà văn, tác giả những tập truyện ngắn đặc sắc như Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, Lò Cừ, Đi Giữa Bầy Thú Dữ…Ít ai biết ông còn là một nhà thơ, tác giả thi tập Loài Cây Nhớ Gió. Những bài thơ viết buổi khởi đầu văn nghiệp của Lâm Chương mang không khí chiến tranh và thoảng hương vị tình yêu. Ngôn ngữ thơ và hình ảnh trong sáng, dễ đi vào lòng người đọc.

Có thể nói thơ Lâm Chương cũng để lại dấu ấn của một thời kỳ văn học khi Miền Nam đi vào chiến tranh với một lớp người trẻ đi vào lửa khói mà mang theo cả hồn thơ.”

Tạp chí Văn Học Mới do nhà thơ Hà Nguyên Du làm chủ nhiệm, số tháng 6, 2026 được dành để vinh danh nhà văn Lâm Chương. Trong số đặc biệt này có sự góp mặt của nhiều cây bút viết về Lâm Chương như Lương Thư Trung, Du Tử Lê, Hoàng Xuân Sơn, Ngô Nguyên Nghiễm, Nguyễn Vy Khanh, Đoàn Nhã Văn, Đức Phổ, Hà Nguyên Du, Vũ Khắc Tế, Minh Nguyễn v.v…

Anh là bạn thân của các anh đã ra đi như Trần Hoài Thư, Du Tử Lê, Viên Linh v.v… và sáng tác từ khi còn trẻ nên rất nhiều độc giả trong cũng như ngoài nước đã từng đọc văn thơ anh.

Hiện nay chúng tôi chưa có chi tiết về tang lễ anh. Khi có tin gì mới chúng tôi sẽ thông báo cho anh chị văn nghệ sĩ và thân hữu khắp nơi biết.

Điều chúng ta có thể làm được trong lúc này lắng lòng cầu nguyện hương linh nhà văn Lâm Chương được đời đời yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng sau khi đã cống hiến phần lớn cuộc đời mình cho đất nước và văn học Việt Nam.

Trần Trung Đạo



Nhóm chủ trương Tạp Chí VĂN PHONG 

thành kính phân ưu tới tang quyến

và nguyện cầu Nhà Văn nhẹ nhàng siêu thoát.


992 .TIỂU LỤC THẦN PHONG - CHỮ NGHĨA "QUẦN QUÈ"

 


Đường Bà Huyện Thanh Quan buổi sáng trong lành mát mẻ, hàng cây cao hai bên xanh mướt, nhìn suốt con đường đẹp làm sao. Trên đường xe cộ cũng nhiều , người ta tất bật ngược xuôi. Lee còn đang nhìn ngó quanh quất, tâm trí thầm thì: “Người đâu mà đông thế? Đã vậy lúc nào cũng hối hả như thể ai đuổi sau lưng”. Bất chợt thằng Tùng thắng cái két khiến Lee dập mạnh vào lưng nó, nhìn về phía trước thì thấy chiếc xe máy sợt ngang qua chỉ cách chừng gang tay. Hai người đàn ông trên chiếc xe ấy dừng lại và nhảy xổ về phía Tùng, vẻ mặt hùng hổ, xưng xỉa:

- Mày có biết bố mày là ai không? mày mù à? chạy xe bố náo thế!

Tùng Phân bua:

- Hai anh chạy cắt mặt tui, nếu tui không thắng kịp là xảy ra tai nạn rồi!

- Bố mày đếch cần biết, chúng mày tông bố mày là chúng mày toi cả nũ đấy nhá!

Biết đụng phải cô hồn miệt ngoài, Tùng đành chịu lép vế, cãi cọ với thứ ấy chỉ thiệt thân, chấp nhận tránh voi chẳng xấu mặt. Hai thằng cô hồn thấy Tùng không nói gì nữa nên cũng bỏ đi nhưng còn thòng thêm câu:

- Lần sau bố mày không tha đâu nhé!

**

Quán cà phê Green Field đông đầy khách, nhóm Tùng ngồi ngoài hiên để ngắm cảnh phố phường. Tùng càm ràm:

- Mới sáng đụng phải cô hồn sống, nó hỏi có biết bố nó là ai không? Mệt với cái tụi này, bực mình hết sức!

Thằng Thọ cười to:

- Mệt thiệt đó, giờ tụi nó có mặt khắp nơi, ngang tàng, côn đồ, chẳng biết phải trái gì cả, chẳng nể già trẻ…đụng ai cũng lôi bố ra dọa.

Nhóm bạn cười rần rật như quên mất thằng Lee. Thằng Vân vỗ vai, hỏi:

- Về hồi nào vậy mậy? ở chơi bao lâu?

- Ờ, được mấy ngày rồi, chắc chơi được ba tuần

- Sao ít vậy? tao thấy nhiều khứa về chơi cả mấy tháng luôn.

- Ờ, thì cũng tùy hoàn cảnh, có lẽ họ làm nghề tự do nên đi bao nhiêu mà chẳng được.

Thằng Đức nói:

- Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi kiểng mày ơi! Hơi đâu so sánh, có nhiêu chơi bấy nhiêu.

- Ờ, thì tao thấy sao nói vậy thôi mà! Tao thấy dạo này “trình” ngôn ngữ của mầy “ngon lành cành đào” quá đấy! ngày xưa đi học đâu có được như vậy, mỗi lần nghe nó nói phát “chán như con gián, oải như con lãi lòi luôn”.

Thằng Quang xía vô:

- “Trình” của nó khác là phải rồi, sống ở nước ngoài đâu có bị “vênh” ngôn ngữ như xứ mình. Lee chưa kịp nói gì, chợt thấy một cô gái dắt em bé đi ngang qua bàn của cả nhóm. Cô gái đẹp và em bé rất xinh khiến thằng nào cũng nhìn và trầm trồ khen. Thằng Vân nhanh nhảu:

- Một “chiếc” em bé rất là “cu te”.

Lee hơi ngớ người ra, không hiểu thằng Vân nói gì tuy nhiên Lee cũng ngờ ngợ là ý Vân muốn nói em bé kia xinh xắn dễ thương. Thằng Quang đoán mò:

- Em chân dài này chắc có “bố đường”?

Đến đây thì Lee bí, bèn quay qua hỏi Vân:

- “Bố đường” là gì vậy mậy?

Cả bàn cà phê cười toáng lên. Thằng Vân khẳng định:

- Đúng là nó sống ở nước ngoài nên “trình” chữ nghĩa của nó khác “trình” tụi mình. “bố đường” nghĩa là sugar dad đó. Giờ xứ mình mấy em chân dài tìm “bố đường” làm cha nuôi để được chu cấp ăn chơi. Mấy anh “sáu múi” thì tìm “mẹ đường” hay “bà đầm già” để đào mỏ. Mấy khứa lão tuy già nhưng có tiền thì tìm “bé đường” để “nuôi”… đây là chuyện thiệt, chuyện hiện thực chứ hổng phải tin “fa ke” đâu nghen mậy!

Lee lại hỏi:

- “Fa ke” là gì?

Thằng Vân cười cười dấm dẳng chứ chưa chịu trả lời. Thằng Thọ chửi:

- Đù má, gì cũng hổng biết hết ráo vậy mậy! “fa ke” tiếng Anh là giả, là xạo sự!

Nghe thế, tự nhiên Lee ngộ ra, trong bụng thầm reo: “Thì ra một “chiếc em bé cu te” là em bé dễ thương, xinh xắn”. Lee vỗ trán:

- Tụi bay giờ nói nhiều từ ngữ chữ nghĩa lạ quá.

Thằng Thọ đáp liền:

- Thời buổi “kỷ nguyên người” phải vậy chứ mậy! nước mình giờ hiên ngang bước vào “kỷ nguyên xanh, kỷ nguyên số, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thịnh vượng…” thì chữ nghĩa cũng phải “hoành tráng” chứ mậy.

Lee không nói gì, nâng ly cà phê chiêu một ngụm nhỏ, nhìn quanh thấy toàn “trai xinh gái đẹp”, chân dài và sáu múi lượn lờ “tăm tia” để “thả thính”. Những ánh mắt liếc quan sát, thăm dò, giao tình…rất dễ nhận ra, tuy nhiên với Lee thì có cái gì đấy khó hiểu, dù cho bọn bạn giải thích nhiều rồi. Lee cũng thấy thích vì ở đây nhiều em đẹp quá, dáng thanh, eo thon, chân dài, ăn mặc toàn hàng hiệu danh tiếng: Gucci, Prada, LV, CK…Không biết họ làm nghề gì mà ăn chơi xài sang như vậy. Thoáng nghĩ thế và Lee nhớ lại ngay chữ “bố đường”, “mẹ đường”… thì ra là vậy! Chiêu ngụm cà phê nữa, công nhận họ pha cà phê rất ngon tuy có hơi mạnh, có lẽ độ đậm của caffein nhiều hơn cà phê Mỹ. Nghe Lee nói cà Phê Việt đậm quá, thằng Vân chê ngay:

- Cà phê Mỹ hay cappuccino của Ý nhẹ hều, tuy có đẹp nhưng uống hổng phê, ngọt và béo quá.

Nó nói đúng, cappuccino khác với cà phê Việt, rõ ràng cà phê Việt rất mạnh. Lee uống một ly là bụng dạ cồn cào, có hôm phải buộc đi vô nhà vệ sinh. Lee uống cà phê Việt từ sáng mà đến chiều vẫn còn hưng phấn, tim đập mạnh, người cứ nôn nao. Lee cầm ly cà phê nhìn ngắm, so sánh hai gu cà phê tây ta. Chợt bàn bên có một giọng nữ chả chớt:

- Ê nói nghe nè bồ! Tui có người thân ở bển dzìa mang theo mớ “hàng xách tay” gồm có “thực phẩm chức năng” và “thực phẩm dưỡng nhan”…bồ có cần tui để lại cho một ít.

Mấy cô bạn kia tíu tít hỏi han có vẻ thích thú lắm, ở xứ mình hễ nghe nói “hàng xách tay” là khoái vô cùng. Ai ai cũng chuộng “hàng xách tay” vì tin tưởng chất lượng của những món ấy, nhất là “hàng xách tay” từ Mỹ, Canada, Úc, Nhật.... Lee không hiểu “thực phẩm chức năng” là gì nhưng hỏi nhiều quá tụi bạn nó khi dễ hoặc nó cho mình giả nai nên Lee lặng lẽ lắng nghe và quan sát. Cô gái vừa nói ấy bày ra bàn những hũ vitamin, collagen, glucosamine, protein…Trong bụng Lee thầm reo lên: À, thì ra “thực phẩm chức năng” là những loại này. Lúc bây giờ thằng Thọ nói với tụi bạn:

- Giờ xứ mình ai cũng mê “thực phẩm chức năng” coi nó như thuốc tiên. Người ta tin “thực phẩm chức năng” đem lại sự khỏe và đẹp nên chịu chi để mua. Ngoài ra người ta còn cuồng lên với “chè dưỡng nhan”, “gội đầu dưỡng sinh”, “điêu khắc chân mày phong thủy”…

Nói xong nó nốc vội hết ly cà phê rồi vội vàng đi trước, trước khi đi nó còn bảo thằng Tùng:

- Mầy nhớ đem theo hai cái “áo mưa phương tiện”, Sài Gòn mùa này chợt nắng chợt mưa, mầy ướt cũng không sao nhưng tao lo cho thằng bạn Dziệt kiều ướt mưa Sài Gòn.

Nghe thằng Thọ khịa nhưng Lee cười thôi, giờ “trình’ chữ nghĩa của Lee không đủ để ăn thua đủ với nó. Thằng Thọ bước xuống tam cấp thì một chiếc BMW vô cùng bóng loáng trờ tới, đậu ngay trước cửa quán cà phê, tiếng máy êm ru. Thằng Tùng trầm trồ:

- “Con xe” “bế em về” này không dưới mười “tỏi”, nội tiền lo giấy tờ cũng hết vài chục “củ”, tiền “nuôi” “con xe” hàng tháng cũng vài chục “chai”, ngay cái vị trí nó bao để đậu xe trước quán cũng chục “xị” mỗi lần…

Lee thật sự “điếc”, không biết thằng bạn nói gì. Lee hiểu là giá tiền nhưng cụ thể bao nhiêu thì đành “bó tay chấm cơm”. Từ trong xe BMW bước ra một cặp đúng nghĩa “trai xinh gái đẹp” “chân dài, sáu múi”…Khách uống cà phê ai cũng nhìn với ánh mắt ngưỡng mộ càng làm cho cả hai bước đi điệu đà thêm cứ như là đang đi trên sàn diễn thời trang. Thằng Tùng nói:

- “Diễn sâu” quá! Đời giờ toàn hàng “fa ke”, thật giả khó biết, nhìn thì “xịn mịn”. “sang chảnh như con cá cảnh”, “chất như nước cất” nhưng thực chất khó biết. Báo chí đưa tin nhiều cặp “xịn sò” vậy nhưng té ra toàn buôn “mai thúy”.

Lee buộc miệng:

- Buôn “mai thúy” là gái hả?

Cả bàn lại cười ngặt nghẽo, thằng Vân vỗ má Lee

- Thằng bạn dễ thương gì đâu á! “mai thúy” không phải gái mà là ma túy, thuốc lắc… đó! Mới đây có bốn em chân dài làm tiếp viên hàng không xách “mai thúy” thuê cho trùm ma túy bị bắt quả tang. May là mấy em đó “con cháu các cụ cả” nên không bị tội, chỉ bị khiển trách “thiếu tinh thần trách nhiệm” nên được “hạ cánh an toàn”. Quan chức nói mấy cổ không có “động cơ không trong sáng”, “đạo đức trong veo” hà!

Thằng Vân nói xong, quay qua thằng Tùng:

- Mầy nhớ chở thằng Lee đi ăn “chè dưỡng nhan” quán chè A Xìn “ngon nhức nách”, quán có cô em gái “chân dài tới nách”  con nhỏ tuy “xắc xéo” và “tinh tướng” nhưng “đẹp dã man”. Dân chơi thường ghé đó “ăn sập mặt”. Rảnh thì chở Lee đi “gội đầu dưỡng sinh” để nó biết mùi đặc sản quê mình. Nó ở bển lâu lâu mới dzìa nên giờ hổng kịp “đu trend”. Nếu nó muốn “tút tát” nhan sắc thì chở nó tới mấy tiệm “điêu khắc chân mày phong thủy”, nó sẽ đẹp trai hơn và làm ăn phát tài. “quất” một phát “điêu khắc chân mày phong thủy” chỉ vài “chai” chứ mấy, dziệt kiều nhiêu đó nhằm nhò gì!

Lee giơ hai tay kêu trời:

- Chắc tao phải học thêm một khóa bổ túc để nâng “trình” chữ nghĩa chứ giờ tao theo hổng kịp tụi bay!

Thằng Vân cười:

- Lo gì, chỉ cần mầy ở đây một thời gian ngắn là “trình” chữ nghĩa của mầy cũng sẽ như mọi người thôi, tha hồ “chém gió” hoặc trở thành “anh hùng bàn phím” như chơi.

Cả đám bạn cười thoải mái, Lee kể lại chuyện lúc sáng bị hai thằng côn đồ hỏi “biết bố mày là ai không?” khiến lũ bạn cười to hơn. Thằng Quang nhìn Lee:

- Vậy cũng còn may là nó chưa “tác động vật lý”, nếu nó “tác động vật lý” thì giờ này mầy ở trong bịnh viện hay lên phường “uống trà” để tường trình “sự cố” rồi.

Lee trầm ngâm một lát rồi nói trổng trơ:

- Chắc tao đổi vé máy bay, ở lại lâu sợ lên máu chịu hổng nổi rồi “tác động vật lý” linh tinh thì khổ.

Thằng Vân la to:

- Mầy “tào lao bí đao” dễ sợ, chuyện đâu còn có đó, ngôn từ “xịn sò” vậy mà bày đặt chịu hổng nổi! dzìa bển làm gì có thức ăn đường phố “ngon nhức nách” tha hồ “ăn sập chợ”. Ở bển có gái đẹp “chân dài tới nách” nhưng làm gì có cái dzụ “hát karaoke mỏi tay”, ráng ở cho đủ ba tuần để “chữa lành” rồi dzìa bển cày, còn nhiều chuyện “cười tẹc ga” luôn chứ hổng phải “cười rô đa” đâu nha mậy!

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0626

 

Chữ trong “…” là ngôn từ hiện giờ rất thịnh hành ở trong nước

990 . nguyễn minh diễm - Cuộc gặp gỡ một buổi chiều thu

                                                                                                        

Người đàn ông ấy to, cao, có khuôn mặt dài, đôi mắt màu xanh đục, mớ tóc dầy và bộ râu rậm màu xám xỉn. Mặc quần và đội mũ vải gin xanh đã bạc, áo sơ mi sọc, mầu sáng nhưng không thể xác định rõ là mầu gì, bỏ ngoài quần, mang giầy thể thao trắng (dễ đoán như vậy vì loại giầy này không có nhiều mẫu cho lắm), ông có một dáng đi đau khổ mặc dù vẫn bước từng bước dài.

Điều gì đã khiến ông toát ra vẻ đau khổ, để hễ nhìn vào ông là phải mủi lòng, làm như ông là một diễn viên giỏi, đóng vai thương khó trong một vở kịch câm? Có lẽ vì vai ông hơi rùn thấp khiến lưng còng xuống và cổ như rụt lại, mặt ngước lên như muốn thổ lộ một tâm sự, nhưng tia mắt lại nghiêng xuống như muốn tìm kiếm cái gì đó nằm khoảng ba thước phía trước?

Hay có thể là vì đôi mắt vô hồn lơ láo, hay đôi chân bước đi như lê trên mặt đất, hay hai khóe môi xệ xuống? Hai tay ông cầm - không, bưng thì đúng hơn, một miếng bìa cứng hình chữ nhật kích thước khoảng 30cm x 20cm, trên viết nguệch ngoạc hàng chữ: không nhà cửa, thợ mộc bị ăn trộm hết đồ nghề, Chúa phù hộ cho bà con cô bác. (Chữ viết trên tấm bảng chỉ là “you”, nhưng xin mạn phép diễn tả ra dài dòng như thế vì ngay khi nhìn vào hàng chữ ấy, tôi hiểu rằng ông ta làm cái nghề mà ta gọi là “ăn mày”, mà hễ cứ là ăn mày, thì dù đông tây kim cổ gì thì cũng phải kêu gọi lòng hảo tâm và thương cảm của bà con cô bác).

Điều khác với các đồng nghiệp của ông mà tôi từng thấy nhiều lần ở Việt Nam là ông ta không nói gì cả mà chỉ đi tới đi lui. (Mới đầu tôi cứ tưởng là vì ăn mày ở Mỹ lịch sự hơn, sau tôi thấy ngay là ông có nói cũng không ai nghe vì mọi người đều ngồi trong xe - lên kính, nhưng sau cùng tôi mới biết ăn mày thì không được nói là luật của xứ này.)

Ông đi rất nhiều, nhưng cự ly di chuyển thì chỉ khoảng 50 mét. Bắt đầu từ chân một cột đèn xanh đỏ, ngay một ngã tư nườm nượp xe cộ, ông từ tốn bước dọc theo hàng xe đang chờ đèn đổi mầu, như một vũ nữ diễu qua trước khán giả, rồi lại vội vàng quay trở về nơi xuất phát, làm như xấu hổ vì đã quay lưng lại những người mình rất kính trọng, và khởi sự một vòng khác. Đôi khi có người lái xe giơ tay ra hiệu, thì ông đi tới, vẫn có vẻ chậm rãi, hình như e ngại là nếu tỏ ra vồn vã quá thì có thể bị khinh rẻ. Ông làm điều đó một cách tự nhiên chứ không có vẻ gì là phải cố gắng tự chế, có lẽ vì tin rằng một người đã ra hiệu mời ông đến thì tất là không thể đổi ý bất ngờ nữa.

Tôi thấy ông một sáng mùa thu, khi mới đặt chân lên đất Mỹ chưa được hai tuần. Mang nỗi lòng hoang mang vừa của một kẻ lưu đầy, vừa của một người thoát nạn, tôi nhìn xứ Mỹ như một nơi cứu rỗi. Từ những phi trường tạm dừng chân cho đến thành phố này, tôi thấy toàn những biểu hiện của văn minh tiến bộ, hợp lý, tự do và giàu có. Tôi không khỏi so sánh với sự nghèo nàn, vô lý và o ép của nơi mình vừa rời bỏ, rồi lòng cảm phục cứ tăng dần khi thấy cảnh đẹp mênh mông, đời sống dư thừa và thoải mái. Ai cũng lịch sự, sạch và đẹp cho đến khi tôi thấy ông - một người tây phương mắt xanh mũi lõ đi ăn mày trong lúc tôi đang ngồi trong xe hơi, trên con đường trải nhựa phẳng lì.

Tôi theo dõi ông, nhưng mỗi khi ông đến gần, tôi lại đổi hướng nhìn thẳng, làm như chăm chú theo dõi xem đèn đã đổi mầu chưa. Tôi không dám cho ông ta tiền vì không biết phải cho bao nhiêu mới xứng đáng với một người ăn mày lịch sự như thế. Tôi cảm thấy một chút hối tiếc, không hiểu việc quốc gia giầu có này mở rộng vòng tay với mình có liên quan gì đến hoàn cảnh khốn khó của người đàn ông kia hay không? Liệu có phải vì lo viện trợ và cứu giúp các nước khác nên Hoa Kỳ đã không còn đủ thì giờ và tiền bạc để cưu mang tất cả con dân của mình hay không? Tôi bỗng có một thứ mặc cảm tội lỗi, tương tự như hồi năm 1975, khi đang còn ở trong trại tù cải tạo. Các cán bộ quản giáo, tức những người coi tù đều nhỏ con và vô học. Họ cứ nhắc đi nhắc lại tội lỗi của chúng tôi đến nỗi có khi tôi đã thấy “xấu hổ” với vóc dáng cao lớn và việc được học hành chút đỉnh của mình. (Mãi cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại cái xấu hổ lúc bấy giờ của mình, tôi vẫn không khỏi cảm thấy xấu hổ vì cái xấu hổ ngớ ngẩn và vô lý của mình thời ấy!)

Mặc dù vậy, tự đáy lòng, tôi bỗng cảm thấy một niềm vui nho nhỏ len lén dâng lên. Niềm vui ấy có thể là độc ác vì nó xuất phát từ nỗi đau khổ của người khác, nhưng nó đơn sơ và chân chất vì đã hình thành một cách tự nhiên. Tôi cảm thấy rằng tôi, da vàng mũi tẹt, dân một nước nhược tiểu từng bị những người mắt xanh mũi lõ đô hộ hàng trăm năm và coi như một thứ nhân loại hạng nhì, thì nay đã được nâng lên một vị thế cao trọng, ít nhất thì cũng cao hơn ông ăn mày kia.

Bao nhiêu lý thuyết về sự bình đẳng giữa các giống dân cũng không có sức mạnh thuyết phục bằng sự hiện diện của người ăn mày đang đi đi lại lại trước mặt tôi lúc bấy giờ. Sự có mặt của ông mới thực là sự cứu rỗi bởi đã giải thoát tôi khỏi những “mặc cảm da vàng”, những “nỗi buồn nhược tiểu” chồng chất từ bao đời, và luôn luôn được gia cố thêm qua những năm tháng học hành sách vở, khi thấy từ triết học cho đến mọi ngành khoa học đều được xây dựng và phát triển bởi những nhân vật mắt xanh, mũi lõ và râu rậm.

Cũng trong buổi sáng mùa thu năm đó, tôi thấy rõ được vai trò quyết định của tổ chức xã hội trong việc thành hình con người. Nhận thức ấy có ngay và đưa tôi vào tận trung tâm của vấn đề chứ không quanh co qua các lý cứ và luận thuyết tràng giang đại hải tưởng như có giá trị thuyết phục, nhưng chỉ dẫn ta đi vòng vòng Xin cảm ơn ông ăn mày đã gặp trong một buổi chiều thu.

NGUYỄN MINH DIỄM

Văn Phong. Số Tân Thiên Kỷ - tháng Giêng 2000.

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

991 . NGUYỄN MINH NỮU Bài thơ và một đời thơ.

 

Nhà thơ Lê Thị Ý - Ảnh PCH, Virginia, 15.8.2015


Bài thơ Thương Ca số 10 của Lê Thị Ý xuất hiện năm 1970, là lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang rộng khắp miền Nam, nhất là sau trận Mậu Thân 1968. Chiến tranh, tang tóc, thương đau  là những điều mà ai cũng nhìn thấy mỗi ngày.  Thời điểm đó Phạm Duy vừa phổ biến bài Kỷ Vật Cho Em, thơ của Linh Phương và   bài Tưởng Như Còn Người Yêu phổ từ bài thơ Thương Ca 10 của Lê Thị Ý. Cả hai bài  nhanh chóng được mọi người đón nhận với cảm xúc chia sẻ nỗi đau thương không viết hết bằng lời cái tâm trạng buồn đau của sự chia lìa, mất mát bởi chiến tranh:

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu.


Lúc đó , và nhiều năm sau nữa, ca khúc này ai đó chỉ nghe một lần là đã nhớ, có thể không phải trọn bài, nhưng vài ba câu thì ai cũng nhớ. Đi thẳng vào trái tim người nghe không chỉ bởi âm giai buồn hiu hắt mà còn từ lời thơ đầy cảm xúc khi bắt ngờ gặp đâu đó một lễ tang tử sĩ rất đỗi buồn.

Bài thơ đó của Lê Thị Ý, một tác giả rất mới, ít xuất hiện trên văn đàn và khá kín tiếng; từ đó, có ba điều mọi người hiểu sai về bà.

-   Đây là một góa phụ trong chiến tranh.

-   Đây là bài thơ duy nhất của bà.

-   Và thứ ba, có lẽ tác giả là một phụ nữ tâm tư sầu hận, u buồn như một tưởng tượng theo lời nhạc “… tôi nay khép kín trong tà áo đen... chao ơi thèm nụ hôn quen...”

Tôi gặp chị Lê Thị Ý lần đầu khoảng năm 1998 ở Virginia. Lúc đó chị đang là một thành viên của Câu lạc bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng Hoa Thịnh Đốn.

Cảm giác đầu tiên nhận được là một phụ nữ đoan trang hiền dịu nhưng rất cá tính.  Nói chuyện thẳng thắn bộc trực và rất dễ gần.  Khi đó, tôi đang có dự tính thực hiện một tờ tạp chí văn học ở miền Đông Hoa Kỳ.  Chị Ý hỏi ngay, “Em định lấy tên là gì?” – “Tạp chí Văn Phong, chị tham gia vào Ban Biên Tập với em không?”.  Chị Ý thoải mái gật đầu. Lê Thị Ý là một trong 28 người cầm bút ở vùng Hoa Thịnh Đốn đã trở thành cổ đông và Ban Biên Tập của Tạp Chí Văn Phong suốt 17 số báo ra mỗi tháng. Chị Lê Thị Ý là một thành viên tích cực đóng góp bài đều đặn cho mỗi số báo, ngoài ra, mỗi lần họp mặt, chị  đóng góp ý kiến xây dựng, cổ vũ và vun đắp tình thân giữa những người cầm bút trong vùng.

Sau này Văn Phong đình bản nhưng chúng tôi  vẫn có những buổi hẹn nhau cà phê ăn trưa kể chuyện ngày xưa…

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống văn hóa, Lê Thị Ý gọi học giả Phạm Quỳnh là Bác, vì phu nhân học giả Phạm Quỳnh là chị ruột của Mẹ Lê Thị Ý.

Gia đình đông con trong đó có tới 4 người cầm bút.  Trên Lê Thị Ý là nhà thơ Phượng Kiều, rồi tới nhà thơ Vương Đức Lệ và em Lê Thị Ý là nhà văn Lê Thị Nhị.  Vương Đức Lệ tên thật là Lê Đức Vượng, đoạt giải thưởng văn học toàn quốc về Thơ năm 1970 với tập thơ in chung với Mai Trung Tĩnh.

 Lê Thị Ý từ nhỏ bị bệnh lao phổi, ốm yếu và bác sĩ cho rằng sẽ không sống được quá sáu tháng, cho nên gia đình để ở nhà chăm lo và không được đi học như những trẻ em khác. Sau này khi thế giới tìm ra loại thuốc chữa trị, chị là một trong những bệnh nhân chấp nhận thí nghiệm chữa trị bằng loại thuốc này. May mắn Lê Thị Ý lành bệnh và bắt đầu đi hoc.

Lê Thị Ý kể lại, “Vào lớp học, thấy bạn chung lớp toàn nhỏ hơn mình cả năm bảy tuổi. Vui lắm!”.

Vương Đức Lệ là nhà thơ nổi tiếng và có mối giao du rất rộng rãi với văn thi hữu khắp nơi,  Lê Thị Ý thường theo anh mình tham dự các sinh hoạt văn nghệ.  Những giao tình đó nửa phần giống như bạn hữu, nửa phần giống như anh em.

Lê thị Ý xác nhận chị có những giao tình dường như trên mức tình bạn một chút với nhà thơ Mai Trung Tĩnh và nhà văn Huy Trâm (Người cũng đoạt giải thưởng văn học cùng năm với Vương Đức Lệ về biên khảo) nhưng chưa phải tình yêu mà chắc chỉ là tri âm tri kỷ.

Bài thơ Thương Ca số 10 được viết vào khoáng cuối thập niên 1960. Khi đó Lê Thị Ý đang sống ở Pleku, nhà nằm cạnh phi trường quân sự Pleiku.  Ở đó thường ngày, những chuyến bay quân sự lên xuống  có cả các chuyến bay tản thương binh từ chiến trường về, và cả những chuyến bay đón thân nhân tử sĩ lên nhận xác thân nhân. Chứng kiến những thảm cảnh não lòng đầy xúc động, có khi Mẹ già lên nhận xác con, vợ trẻ lên nhận xác chồng đã thành những dòng nước mắt viết xuống thành thơ.  Bài thơ đưa cho Vương Đức Lệ đăng trên một tờ báo do anh và nhóm bạn chủ trương. Bài thơ tìm được sự đồng cảm của những người chủ trương nên chuyền tay tới nhạc sĩ Phạm Duy.  Có thể lúc đó Phạm Duy vừa phổ bài Kỷ Vật Cho Em của Linh Phương, nên dòng cảm xúc liên đới ngay tới bài thơ bi thiết này và bản nhạc ra đời. Năm đó, Lê Thị Ý ba mươi tuổi, chưa lập gia đình và cũng chưa có người yêu.

Trọn vẹn bài thơ như thế này:

Ngày mai đi nhận xác chồng

Say đi để thấy mình không là mình

Say đi cho rõ người tình

Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ,

 

Cao Nguyên hoang lạnh ơ hờ

Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son

Tình ta không thể vuông tròn

Say đi  mà tưởng như còn người yêu

Phi cơ đáp xuống một chiều

Khuôn mây bàng bạc mang nhiều xót xa

Dài hơi hát khúc thương ca

Thân côi khép kín trong tà áo đen

Chao ơi thèm nụ hôn quen

Đêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau.

Bây giờ anh phủ cờ mầu

Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng.

Em không nhận được xác chàng

Anh thêm lon giữa hai hàng nến trong

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Nghĩa trang mà tưởng như phòng riêng ai…

(Bản gốc bài thơ do tác giả gửi)


Bài thơ khi phổ nhạc và phổ biến rộng rãi mà tác giả Lê Thị Ý vẫn không ai biết thân thế ra sao nên mới có những đồn đoán như đã ghi ở đầu bài.  Thì nay trong bài viết ngắn này xin xác thực ba điều.

Thứ nhất, bài thơ được viết xuống như dòng lệ xót đau thân phận phụ nữ thời chiến chinh.  Như người vợ của nhà thơ Hữu Loan chết khi chồng đang ở chiến trường xa,  Như người chiến binh sau chiến tranh trở về trên chiếc xe lăn hay trở về bằng hòm gỗ cài hoa như trong thơ Linh Phương. Nhưng đó là tâm sự người lính chiến khi ra đi đã chấp nhận “Hàng hàng lớp lớp chưa về hàng hàng tiếp nối câu thề gìn giữ quê hương”  như nhạc Nguyễn Văn Đông. 

Còn đây là tâm sự u uất của một phụ nữ,  xót xa, đắng cay và bão giông cho đến cuối đời.  Bài thơ được viết từ một người nữ chưa lập gia đình, chưa từng lập gia đình cho tới bây giờ.

Thứ hai, đây không phải bài thơ duy nhất của Lê Thị Ý. Bởi vì ngay tên bài thơ là bài Thương Ca số 10 chúng ta đã đoán được ít nhất đây cũng là một trong 10 bài Thương Ca. Dù chỉ in một tập thơ duy nhất nhưng  Lê Thị Ý vẫn âm thầm làm thơ, ít phổ biến khi còn trong nước và xin giới thiệu nơi đây một bài thơ của chị : Lá Xanh Thay Màu đăng trên tạp chí Văn Phong số 4, xuất bản tháng 11 năm 1999:

Mười lăm mười tám yêu nhau

Trời xanh xanh ngắt một màu mộng mơ.

Sáng mong chiều đợi đêm chờ

Áo dài hoa tím gió lùa tóc mây

Xuân thu nắng phủ vai gầy

Say men tình ái, tháng ngày thênh thang.

Em là điểm tụ hào quang

Dấu chân em nở hoa vàng chiều xưa

Những ngày phố nhỏ giăng mưa

Đôi môi đọng nụ hôn vừa chớm yêu.

Người đi mắt biếc trông theo

Quãng đời thơ mộng đã vèo bay qua...


Và thứ ba , là một mẫu người phụ nữ cứng rắn, nhiều cá tính, không hề ủy mị nhìn đời bi thảm. Lê Thị Ý sống mẫu mực và tự lập. Trước 1975 là một người kinh doanh thành đạt từng có xe hơi riêng, và bây giờ ở tuổi 85 vẫn nhẹ nhàng di chuyển và chuyện trò minh mẫn. Hiện nay, Chị đang trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và liên tục tham dự các sinh hoạt văn chương tại vùng Hoa Thịnh Đốn.

Thơ Lê Thị Ý không cường điệu mà tràn đầy cảm xúc rất thật, rất người, cho nên bài thơ  ngay lập tức làm động tâm người thưởng ngoạn . Do đó bài thơ sống đời. Nếu gọi là cùng tâm trạng có lẽ chúng ta sẽ nhớ hai câu thơ của thi Sĩ Đông Hồ, trong bài giảng tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Khi mô tả tâm trạng của Trưng Vương sau khi trả được thù nhà, lên ngôi ở Mê Linh đã than thở:

 “Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá,

 một bóng trăng tàn, thiếp lẻ loi”


 Hai câu thơ đọc trong nước mắt và nhà thơ đã đột quỵ ngay tại giảng đường cùng nỗi bi thương cảm xúc quá đầy.

NGUYỄN MINH NỮU
Tháng 10/2024

Bấm vào đường dẫn dưới đây
để nghe Khánh Ly trình bày ca khúc
TƯỞNG NHƯ CÒN NGƯỜI YÊU
Thơ Lê Thị Ý - Nhạc Phạm Duy.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

989 . TRẦN DZẠ LỮ (1949-26.1.2024) Mười bài thơ.

 

Nhà thơ Trần Dzạ Lữ (1949-26.1.2024)


HÁT DẠO BÊN TRỜI

Ôm nửa vầng trăng lạnh
ta về bên trời cao
hát điên đời hiu quạnh
chống gậy nhìn mưa mau

Tuổi nay gần tam thậpsống lẻ như đá mònbằng hữu mù tăm tắptình nhân như dao đâm

Mấy năm rồi không gặphồn nứt nỗi âm thầmnhất túy buồn thêm đậmca ngâm vời cỏ cây

Cùng chỉ màu khói sươngngẫm nghĩ hoài hương đỏmắt mờ đường chiêm baongắt một cành hoa nhỏnhớ thu biếc hôm nàohồn ta chao chớn giónay biết về nơi đâu?
*1973

 

BÀI THƠ TẶNG CHỊ  Ở ĐÀ NẴNG
                            
Đứa lang bạt mà giờ đây tóc trắng
Phiêu linh về Đà Nẵng một  đêm xanh
Gặp lại chị - người xưa, nay tri kỷ
Ngỡ như mơ! Ngơ ngác hương Quỳnh… 
 
Đêm phả lạnh xuống đêm trần thế
Chị đắp mền cho đứa chiêm bao
Nhỏ nhít đâu! Hỡi người tri kỷ
Em thắp đèn mơ mộng nữa rồi sao? 
 
Xa xứ bao nhiêu năm rồi chị nhỉ
Mà ngày về vẫn nhớ tuổi mười lăm?
Chị cột tóc đuôi gà  bên bờ giếng
Chờ người tình mỏi mắt đăm đăm!
 
Đăm đăm suốt một đời trầm quế
Chị không lấy chồng-nhặt nhạnh cô đơn
Đắp cho cao núi sầu trong mắt
Và biển buồn len lén trong tim… 
 
Gặp lại chị-Em vẫn còn thảng thốt
Đà Nẵng ơi! Hồi niệm chửa phai màu
Nơi bờ giếng, một đêm trăng  ngày cũ
Chị chờ ai đau đáu thuở yêu đầu?

 

BÀI THƠ TẶNG BẠN CŨ Ở HUẾ
 
(Tặng Hà Thúc Quyết , Viêm Tịnh, Nguyễn Đức Cương )
 
Ôi chao! Răng mi lâu ngày rứa
Biền biệt mô không thấy dáng hình ?
Tau vẫn ở bên trời lận đận
Cuộc lữ này –gió bụi buồn tênh!
 
Ba mươi năm-nhắc chuyện tụi mình
Tau thảng thốt như vừa gặp lại
Túy Vân sơn-ngày xưa xa ngái
Rứa mà gần chỉ một gang tay…
 
Ôi chao! T vẫn như mây bay
Tau đuổi bắt thì nàng tan loãng
Bạn phụ trợ, không cách chi được
Đôi khi thèm tay nắm bàn tay…
 
Mộng ngày xưa chừ qúa hao gầy
Thanh xuân vèo qua như lá rớt
Đứng giữa đồng trung niên choáng ngợp
Quê nhà ơi! Hun hút màu mây…
 
Phương Nam hành! Mình gặp nhau đây
Ừ , cạn chén tao phùng đi hí !
Say cho quên những ngày cùng bí
Ôi những ngày lểnh lãng qua sông !
 
Ôi những ngay thèm chút mắt trong
Của T xưa, nhưng làm răng có được?
Thôi cạn chén, rồi mai xuôi ngược
Vó ngựa tình còn nhịp phách phương mong?

 

VÀ NHỚ HUẾ

*Tặng Phạm Đình Dương

Ở đây cũng là ngoại ô
dấu chân thổ mộ cũng thưa thớt chiều
cũng người áo tím liêu xiêu
cũng đêm nguyệt bạch lá vèo sang thu...
vậy mà - vẫn nhớ quê xưa
ai qua Vỹ Dạ tình đưa đón tình?
tóc thề thả gió trâm anh
liếc mắt Tôn Nữ nghiêng thành quách tôi !
mười năm biết có đền bồi
chút hương hoa cũ đâu rồi người ơi !
*Gò Vấp 2005.

 

NGÀY TÀN CUỘC

Gửi hương hồn Vũ Hữu Định.

Ngày tàn cuộc người về thăm quê quánđồng cỏ mừng đón vó ngựa hồng xưachuyện chiến tranh coi như là dĩ vãngsông Thanh Bình tấp nập bến đò đưa

Mẹ ra ngõ chờ con trai trở lạisau nhiều năm đi biệt dáng chim cògiọt lệ mừng và tay vui vẫy gọibếp lửa hồng nhúm lại buổi hoang sơ

Cha chống gậy nhìn trời cao hy vọngsớm mai xanh trên những lối đi vềtiếng ha hả ai đang cười nối mộngcó anh hồi hương tất tả đường quê

Có chị hồi sinh tuổi xưa rực rỡphơi tóc chiều xuân bên giậu hoa vàngbứt lá thẹn thùng như cô dâu mớingậm tình nồng trong răng ngọc thương thương

Ở rừng cao khi giã từ vũ khíta tuôn về ôi rất đỗi hân hoanmười năm giang hồ làm...lất-bất sĩsẽ coi nhu chuyện mây khói bên ngàn

Để ta thắp tình ngợi ca Tôn Nữnụ hôn nào thơm hương sứ hương sen?đường vào nội thành mùa xuân trải chiếuta ru em bằng điệu hát Nam Bình...

Rồi mình sẽ ở đời đời với Huếhương xuân reo thuở có lại quê nhàdù đói dù no tình người vẫn mới
phải không em,người yêu dấu của ta?

*1974
(trước đề tặng VHĐ.sau gửi hương hồn VHĐ)

 

GỌI TÌNH BÊN SÔNG


Có một lần nhớ quá
ra sông đứng gọi tình
tình xa,người hoá lạ
chiều mồ côi cánh chim...

Có một đời xưa quenđã mù sa cổ tíchkỷ niệm sầu chia nhánhĐịa Ngục và Thiên Đàng 

Rạng đông màu mắt emsực nức hương buổi sớmhoàng hôn túa trong anhtừ ngày chia biệt mộng

Qua sông hề sông rộngsoi bóng dài chiêm baobiết tìm nhau nơi đâugiữa mù khơi đời sống?

Có đôi lần đứng ngóngngày tình nhân chia lìavỗ đàn mà hát hỏngnhớ sum vầy xưa kia...

Có nhiều lúc chơi vơihôn Cúc vàng thầm lặngthương ơi tờ lụa mỏngem biệt dạng bên trời.
*1990
(trích HDBT)

 

CẢNH TƯỢNG THÁNG GIÊNG


Về đây mỏi cánh chim trời
ngó sông khói đụn,trông đời dần thưa
mùa xuân ngắt tạnh như tờ
én trong mưa bụi bay khờ lẻ loi

Về đây đời cắt thành đôiđêm tôi bó rọ,ngày phơi tật nguyềntay đàn rung nhớ tình emtrăm năm buồn nỗi bất bình thế gian

Về đây cảnh tượng điêu tànmơ mơ nhân ảnh,bẽ bàng gương xưahồn buồn vọng những âm mưaáo xanh Tôn Nữ bây giờ về đâu?bất cần sao vẫn còn đaumùa tôi dựng tóc lạnh màu thanh niên...
*1973
(trích HDBT)

 

KHI QUA GIỐC MẠ ƠI Ở BA LÒNG

Trong đám đi tìm trầmchốn thâm sơn cùng cốccó người là nông dânbỏ cày lên mạn ngượccó kẻ ở thị thànhbẻ bút làm hảo hớncũng có "anh hùng tận"vác rựa lên sườn noncó tay đời lận đậntìm kiếm phút huy hoànglại có người là thánhcó kẻ là ma vươngtất cả đều thượng sơncô hồn chung một lũngày rừng chan mưa lũrâu tóc ướt phiêu bồngnói chung,đám tìm trầmvì đói cơm rách áongười yêu coi như khôngvợ con như gió thoảngchiều nay,qua Ba Lòngvì đâu,mà thương nhớđâu phải giò phong lantim tím chiều mắt ngó?cũng không phải chùn chântrước núi rừng muông thúnhưng mà,cả binh đoànđều rưng rưng nước mắtlúc leo qua con dốccó tên là Mạ Ơidốc còn cao mong đợitình còn sầu chơi vơiriêng ta,thì em ơinhớ miền Nam tha thiếtSàigòn có em biếtnỗi đau của mưa rừng?không ngãi cũng tìm trầmđó là điều có thật.
*BaLòng 1985.
(trích Hát Dạo Bên Đời)

 

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN VỚI VỢ
 
Bốn mươi năm cứ bịn rịn bên người
Ôi Bồ Tát của lòng anh lúc đến
Bốn mươi năm có lúc tình nín nhịn
Khi lìa đời, đâu biết trước ai đây?
 
Bốn mươi năm, hạnh phúc mình không hay
Nhưng vẫn cứ đeo nhau như đĩa đói
Chuyện chúng mình ,thật tình rất đáng nói
Hôn phối này là giọt sương mai…
 
Nhiều khi anh bay theo núi thẳm sông dài
Em ở lại, vẫn đợi chờ chung thủy
Ôi Bồ Tát của lòng anh đó hỉ?
Thêm xuân này đã rụng bớt tóc mai!
 
Có bão giông mới biết đêm dài
Mưa lâu ngày mới dần dà thấm đất
Sống với một người có trái tim chân thật
Hóa ra mình lỡ vận, vẫn còn may…
 
Hóa ra em vẫn có những ngày
Khi nằm bệnh, anh âm thầm giặt áo
Có gì đâu-mà trách con Tạo?
Hãy vuông tròn cùng cuối giữa trần ai!
 
Đã từ lâu anh cứ làm việc miệt mài
Sáng tinh mơ, chiều đỏ-đèn-đen- đất
Em cắc củm từng đồng bạc cắc
Lo toan cùng, chờ hé lộ ngày mai…
 
Đã từ lâu, mình mới có một ngày
Rất thanh thản- anh chồng em vợ
Bồ Tát ơi! Xin em hãy nhớ
Bài thơ này, anh viết tặng cưng đây!
 Sài Gòn tháng giêng năm 2012

                       

SINH NHẬT EM NGƯỜI TRI KỶ

Hai tay nâng chén rượu …tình
Anh mời em uống, ngày sinh nhật nì !
Hoàng ơi ! Em rất nhu mì
Đêm nay thỏ thẻ lời chi rứa hè ?

Ở mô rồi cũng thương quêMắt em là ánh sao khuya dẫn đường…Suốt đời tri kỷ nghe khôngĐể hương cau ngát bên lòng anh đây!Uống đi ! Cạn nốt ly nàyĐể anh thấy Huế trong ngày sinh em … 

Trần Dzạ Lữ
(1949-2024)

Ghi chú: 10 bài thơ trên được trích từ trang VUÔNG CHIẾU - LUÂN HOÁN.
https://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm-12-4-5.htm