Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026
943 . KHUẤT ĐẨU Những đứa trẻ tháng tư
Khuất Đẩu
Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026
942 . NGUYỄN ĐỨC NHÂN 12 bài thơ ngắn gửi những tâm hồn mây trắng.
tặng Nguyễn Sông Ba & Hoàng
Kim Chi
1
Ông cụ H'mông đi vào cõi mù sương
bà cụ lọ mọ hái rau rừng
dưới chân đồi tà dương
2
Lũ chăn bò. dựng ngôi chùa cỏ
nắn một Ông Phật nhỏ
xúm tụng tờ kinh mây
3
Chú tiểu công phu
nhịp nhàng chuông mõ
có khi nào chú gõ nhầm bóng thiên thu
4
Đã cuối thu. cây chuyển mùa nhựa mới
bức tranh thêu trên tường
cây tùng già xác xơ. lá chưa hề thay đổi
5
Giọt sương mai long lanh
tôi chưa nhìn kỹ. đã rơi
ôi. ngắn ngủi kiếp người!
6
Đã chịu đựng quen rồi
người ơi! ai đau khổ
hãy nghiêng trút vào tôi
7
An trú mùa gió mưa
tôi vịn khung cửa sổ
thương cảnh đời gió đẩy mây đưa
8
Ghé thăm mộ bạn
hồn thu thảo trong tôi
vội ngả màu vàng úa
9
Yên ắng buổi trưa hè
con chim nào vừa líu gió
khiến mềm lòng bờ tre
10
Qua thung lũng, suối, khe
bắt gặp mùi hương lạ
như hương mùa thu xưa thoảng về
11
Chim cuốc lẻ đôi
kêu rát ruột cánh đồng
ánh trăng khuya quặn thắt lòng thủy chung
12
Dạo bãi biển mùa đông
cúi nhặt chiếc vỏ ốc. chứa cả hồn hư không
nhỏ không trong. lớn cũng không ngoài
8/2024
941 . PHẠM THÀNH CHÂU Truyện ngắn CHIM ĐÃ BAY
Điểu hoàn nhân diệc chi
(Người vắng bóng rồi, chim đã bay)
Lý Bạch
Năm 1985, tôi ra khỏi tù cải tạo. Trên xe lửa từ Bắc vô Nam, bạn
đồng hành cũng là bạn đồng tù với tôi là anh Thi.
Có một nguyên tắc là trong tù không được hỏi nhau về gốc gác. Làm
gì, ở đâu, cấp bậc...? Và chuyện gia đình nữa. Ngay cả khi biết rõ về một người
nào đó, tuyệt đối cũng không cho người khác biết. Thế nên, trong tù, tuy cùng
chung lán, chung đội lao động, nằm cạnh nhau, tôi cũng không biết gì nhiều về
anh Thi. Khi lên xe lửa, tôi mới hỏi "Anh về đâu?" "Tôi về Sài
Gòn" "Vợ con còn ở đó?" "Có lẽ vậy". Nghe "Có lẽ
vậy", tôi thấy là có vấn đề nên ngưng ngay và tự giới thiệu "Tôi cũng
về Sài Gòn, ngã ba Cây Quéo" "Tôi về Hoàng Hoa Thám" "Vậy
là mình ở gần nhau". Trong tù anh Thi lúc nào cũng vui vẻ, nhưng khi ngồi
trên xe lửa, anh thường nhìn qua cửa sổ vẻ đăm chiêu. Mỗi hoàn cảnh, người tù
phải đối phó một cách riêng. Về đời, bao nhiêu khó khăn đang chờ đợi, khác hẳn
trong tù, vì bất lực nên phải gạt hết mọi suy nghĩ để cười mà sống. Người tù,
muốn sống sót, nhất là những người không được gia đình thăm nuôi như anh Thi,
phải đạt đến cái tâm cảnh của một thiền sư. Phải giữ tinh thần cho vững, phải quên
tất cả, không nghĩ đến những gì ngoài tầm tay của mình, phải biết cười với
người khác thì mới khỏi âu sầu, sinh bịnh, để rồi bị khiêng đi
chôn.
Gần tối, xuống xe lửa, chúng tôi đi bộ về nhà. Ngang qua một tiệm phở, còn chút tiền, chúng tôi ghé vào. Thấy anh Thi có vẻ tư lự, tôi tìm cách cho anh ta vui nên khi phở bưng ra, tôi xoa tay chào tô phở "Chà! Hơn mười năm mới gặp lại mầy". Anh Thi chỉ mỉm cười nhưng cũng sốt sắng cầm đũa. Trong lúc trò chuyện với chủ hàng phở, chúng tôi mới biết hôm đó là ngày ba mươi tết. Khi ra đường, tôi đề nghị sẽ cùng đi đến nhà anh trước, để biết nhà, sau nầy dễ thăm nhau, sau đó tôi mới về nhà mình. Anh ngần ngừ một lúc rồi đồng ý. Đến đường Hoàng Hoa Thám, chúng tôi vào một con hẻm tối mù. Nhờ ánh đèn các nhà hai bên, chúng tôi dò dẫm đi được một quãng ngắn thì anh Thi bảo "Anh đứng đây chờ tôi. Trước đây chúng tôi ở nhờ bên gia đình vợ, hiện nay không hiểu tình trạng ra sao" "Vâng. Có gì anh ra cho tôi hay" Nói thế nhưng chờ anh ta đi được mấy bước, tôi cũng đi theo, không cho anh ta biết. Anh ta đến một căn nhà gạch nhỏ, còn để đèn, tần ngần một lúc rồi gõ cửa, nách vẫn kẹp cái bọc đồ tù. Một chị đàn bà bồng con đi ra, theo sau là một thằng bé trên mười tuổi. Tôi nghĩ, nếu đó là vợ anh Thi, thì chị ta đã có chồng khác rồi, vì đứa bé trên tay chị ta, độ vài tuổi, không thể là con anh Thi được. Chị đàn bà nói gì đó. Anh Thi không trả lời, quay gót bước ra. Tôi lùi lại chỗ cũ, làm như không thấy gì. Anh ta yên lặng qua mặt tôi. Tôi quay nhìn, thấy chị đàn bà bồng con và thằng bé ra đường đứng nhìn theo. Ra đường lớn, anh Thi hỏi tôi "Anh có thể cho tôi trọ đỡ một đêm được không?" Tôi sốt sắng "Được chứ! Nhưng đây không phải nhà của tôi. Trước ba mươi tháng tư năm 1975, tôi đưa vợ con từ ngoài Trung vào ở nhờ người bà con, sau đó vợ con tôi về lại ngoài Trung, sống với gia đình bên vợ. Tôi sẽ nói với chủ nhà, nếu họ không chịu thì tôi với anh ra ngủ lề đường, rồi sẽ tính sau". Chúng tôi, mỗi đứa ôm một gói đồ tù, quay lại ngã ba Cây Quéo. Khi tìm được nhà người bà con thì thấy nhà đóng cửa, tắt đèn tối thui. Gõ cửa, không ai mở. Họ đi vắng cả rồi.
Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026
940 . VÕ PHÚ - NGÀY KHAI GIẢNG VÀ NHỮNG TIẾNG CƯỜI TRONG LỚP VIỆT NGỮ
Chủ Nhật vừa qua, Trường Việt Ngữ Huệ Quang chính thức khai giảng năm học mới. Mỗi lần nghe hai chữ “khai giảng”, người ta thường hình dung đến một sân trường đông vui, học sinh ríu rít, phụ huynh đưa đón, tiếng trống trường vang lên báo hiệu một năm học mới bắt đầu. Còn lớp Việt Ngữ của chúng tôi thì… khiêm tốn hơn rất nhiều. Năm nay, lớp chỉ có bốn em học sinh. Nhưng, điều đáng mừng là trong bốn em ấy, có đến hai em là học sinh mới. Hai em cũ trở lại trường sau một mùa hè dài. Nhìn các em bước vào lớp, tôi vừa vui vừa có cảm giác như gặp lại những người bạn nhỏ quen thuộc.
Một mùa hè trôi qua, các em đã lớn thêm một chút, cao thêm một chút, và dĩ nhiên… (tôi) cũng hy vọng rằng tiếng Việt của các em đừng quên (hay bớt?) đi chút nào. Hai em mới thì mỗi em mang đến lớp một câu chuyện rất riêng. Một em từ một tiểu bang khác vừa dọn về. Em này mới định cư tại Hoa Kỳ được khoảng hai năm, tiếng Việt khá trôi chảy. Điều này làm tôi rất vui, bởi giữa môi trường mà tiếng Anh hiện diện ở khắp mọi nơi, một em nhỏ vẫn giữ được tiếng Việt, nói chuyện tự nhiên với thầy cô và bạn bè, quả là một điều đáng quý.
Em còn lại là một học sinh trung học (lớp 11) đến từ quận Fairfax, cách trường chúng tôi khoảng hai giờ lái xe. Nghe đến “hai giờ lái xe”, tôi đã thấy phục cả em lẫn cha mẹ em. Hai giờ đi và hai giờ về cho một buổi học Việt ngữ vào ngày Chủ Nhật quả thật, đó không chỉ là sự cố gắng của một học sinh mà còn là cả một tấm lòng của gia đình. Tôi nói với em rằng tôi rất cảm ơn em, và cũng xin cảm ơn cha mẹ em đã không ngại thời gian, đường sá và khoảng cách địa lý để đưa em đến Trường Việt Ngữ Huệ Quang.
Bởi lẽ, ngay tại Fairfax, nơi có cộng đồng người Việt khá đông và cũng có nhiều trường Việt Ngữ, gia đình em vẫn chọn đưa em vượt một quãng đường xa để đến đây học. Điều đó khiến tôi càng trân trọng em hơn. Tôi đùa với em rằng: “Đi học Việt ngữ mà phải lái xe hai tiếng thì bài học đầu tiên của em chắc chắn không phải là chính tả hay văn phạm, mà là… bài học về lòng kiên nhẫn!” Nhưng đằng sau câu nói đùa ấy là một niềm vui rất thật. Bởi trong cuộc sống bận rộn nơi xứ người, khi một gia đình vẫn dành thời gian và công sức để đưa con mình đi học tiếng Việt, đó là một cách rất đẹp để gìn giữ tiếng mẹ đẻ và những giá trị văn hóa của gia đình.
Tôi tự nhủ; với một học sinh phải vượt qua quãng đường xa như vậy để học tiếng Việt, mình nhất định không thể để em cảm thấy hai giờ lái xe ấy là vô ích. Vì thế, ngày đầu tiên nhập học, thay vì lập tức mở sách, mở bài, viết bảng rồi bắt đầu giảng bài như các thầy cô khác, tôi quyết định… không dạy theo sách vở. Tôi chỉ trò chuyện với các em. Tôi hỏi bằng tiếng Việt:
“Các em hè vừa rồi đi đâu chơi?”
“Có vui không?”
“Năm học mới có gì mới?”
“Các em thích môn học nào nhất?”
Ban đầu, các em hơi dè dặt. Có em trả lời rất ngắn. Có em nhìn tôi rồi nhìn bạn, như thể đang suy nghĩ xem nên trả lời bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Tôi cứ kiên nhẫn chờ. Thỉnh thoảng, nếu thấy các em thật sự không hiểu, tôi nói thêm vài câu tiếng Anh. Nhưng nguyên tắc của tôi trong ngày đầu tiên rất đơn giản: cứ nói tiếng Việt được bao nhiêu thì nói. Những câu nói không cần phải thật đúng ngữ pháp, từng chữ cũng không cần thật rõ ràng, các em cũng chẳng cần phải nói như người lớn. Điều quan trọng nhất là các em dám nói, chịu nói và cố gắng nói bằng tiếng Việt.
Chỉ cần các em mở lời, dù còn vụng về, dù đôi lúc phải ngập ngừng tìm chữ, thì đó cũng đã là một bước tiến đáng quý. Bởi nếu các em sợ sai, các em sẽ không dám nói. Mà không dám nói thì làm sao có thể giỏi tiếng Việt? Dần dần, không khí trong lớp trở nên thoải mái hơn. Các em bắt đầu nói nhiều hơn. Có em còn tranh nhau, dơ tay xin được nói (kể chuyện), từ nói vài câu, các em nói thành đoạn. Từ trả lời câu hỏi của thầy, các em bắt đầu hỏi ngược lại thầy… Một trong những điều tôi kể cho các em nghe trong buổi học đầu tiên là câu chuyện về người bạn Trần Khải Hoài và bác sĩ Dan Moore.
Hai câu chuyện khác nhau nhưng cùng cho thấy rằng học một ngôn ngữ mới cần niềm yêu thích, sự cố gắng và lòng kiên trì. Tôi kể các em nghe về người bạn Trần Khải Hoài, một người có mẹ là người Mỹ da trắng, sinh ra và lớn lên trong môi trường Mỹ, nơi tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Thế nhưng, vì tình yêu tiếng Việt và mong muốn tìm hiểu cội nguồn, văn hóa và căn tính của mình, Khải Hoài đã kiên trì học tiếng Việt. Anh không chỉ nói tiếng Việt thành thạo mà còn trở về Việt Nam, dùng chính tiếng Việt để giảng dạy lịch sử Việt Nam cho người Việt. Tôi nói với các em: “Các em thấy không? Một người lớn lên trong môi trường Mỹ mà vẫn có thể học tiếng Việt thật giỏi. Vậy các em, những người có cha mẹ hoặc ông bà là người Việt, lại càng có nhiều cơ hội để giữ gìn tiếng mẹ đẻ của mình. Đừng để lợi thế ấy mất đi chỉ vì chúng ta ngại học!”
939 . SONG THAO - CHUYỆN CŨ GIỜ MỚI KỂ
Có lẽ ít người
biết tới nhạc sĩ Trần văn Nhơn. Ông là người sanh ra và lớn lên tại Cầu Kho,
Sài Gòn nhưng lại lưu lạc ra sống ở Hà Nội từ năm 1948 tới 1952. Sống cùng thời
với các nhạc sĩ Trần văn Lý, Võ Đức Thu, Lê Thương nhưng cái tên Trần văn Nhơn
đã rơi vào quên lãng mặc dù có thời gian ông là trưởng ban Việt Nhạc của Đài
Phát Thanh Hà Nội. Ông là tác giả của hai bản nhạc nổi tiếng Hà Nội 49 và Sài
Gòn Xa Hoa.
Không hiểu sao
tới bây giờ tôi vẫn nhớ được ít câu trong bài Sài Gòn Xa Hoa mà tôi hay nghêu
ngao những ngày còn nhỏ. Có lẽ vì nét nhạc bắt được nhịp sống xô bồ của thành
phố sống về đêm. Ngày đó, tôi còn bé tí sống ở Hà Nội đâu có biết Sài Gòn là chốn
nao. Tôi vào tìm trong mạng lời của bản Sài Gòn Xa Hoa nhưng không thấy, ngay cả
thứ tinh thông như trí tuệ nhân tạo cũng chịu thua. Không có lời của bản nhạc
nhưng tôi lại tìm thấy đĩa hát bài này của “tài tử Ngọc Bảo”. Chịu khó nghe,
tôi ghi lại được một đoạn: “Sài Gòn là viên ngọc trân châu của Á Đông, Sài Gòn
là nơi người viễn khách thường lui tới, tửu điếm, trà đình, Đại Thế Giới, Kim
Chung, nơi vùi chôn xác con người đảo điên. Sài Gòn nơi tưng bừng với lối sống
xa hoa, là chốn người xót xa với kim tiền”. Có lẽ nhạc điệu lả lướt, dồn dập,
nhộn nhịp trong điệu valse dập dìu
khiến tôi say mê nên nhớ tới bây giờ.
Bản nhạc nhắc tới
hai chốn ăn chơi khét tiếng là Kim Chung và Đại Thế Giới. Khi tôi di cư vô Sài
Gòn thì hai nơi này thuộc quyền kiểm soát của Bình Xuyên. Thực ra có tới ba nơi
lận. Nơi thứ ba của hệ thống cơ sở ăn chơi của Bình Xuyên là khu Bình Khang
trên đường Vĩnh Viễn.
Trong bài tùy
bút của Nguyễn Đông A “Sài Gòn-Chợ Lớn: Sòng Bạc, Sông Nước và Những Người Đã
Đi” trên trang mạng Thế Kỷ Mới có đoạn viết về Đại Thế Giới: “Rồi má kể về sòng bài Đại Thế Giới. Giọng bà khi đó trở nên
khác, cũng không hẳn là ngưỡng mộ, mà là cái giọng của người đã sống đủ gần với
một điều gì đó nguy hiểm để hiểu nó, nhưng đủ xa để không bị nó cuốn đi. Sòng bạc Đại Thế Giới được lập ra năm 1937, do tay trùm cờ bạc
Ma Cao tên Lâm Giống đứng ra điều hành, dưới sự bảo trợ ngầm của người Pháp. Nằm
ở góc đường Võ Văn Kiệt – Nguyễn Tri Phương, Quận 5, nơi đây nhanh chóng trở
thành “thỏi nam châm” hút hết các tay máu me đỏ đen từ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và
cả miền Tây. Mỗi ngày, hàng triệu đồng Đông Dương đổ vào đây như nước lũ. Chính
quyền bảo hộ chỉ việc thu thuế; mọi điều hành nằm trong tay dân anh chị. Bên trong sòng bạc, không chỉ có bài bạc, còn có vũ trường, nhà
hàng, phòng trà ca nhạc. Những ca nữ xinh đẹp trong bộ sườn xám thướt tha, cầm
quạt che nửa mặt, cười khúc khích sau những bàn xí ngầu. Má tôi gọi họ là “xẩm
hồ ly”, một danh xưng nửa đùa nửa thật của dân Sài Gòn dành cho những cô gái
làng chơi lai Tàu sang trọng. Nghe cái tên thôi đã thấy trong đó vừa có sự hấp
dẫn, vừa có cái gì như mùi nguy hiểm lảng vảng không tan. Mỗi ngày, tiền thuế của Đại Thế Giới đóng cho chính phủ không dưới
500.000 đồng Đông Dương. Chưa kể các khoản chi ngầm cho quan chức, cảnh sát, và
những tay anh chị hoạt động trong bóng tối. Đó là thứ quyền lực không cần tuyên
ngôn, không cần nghi lễ, chỉ cần tiền và súng. Khi
Bảy Viễn là thủ lĩnh Bình Xuyên, ông nhìn ra miếng bánh béo bở này, nên không
chần chừ mà tìm cách nắm ngay lấy nó. Dưới thời Bảo Đại, Bảy Viễn dâng sòng bạc
cho Quốc trưởng, đổi lấy quyền kiểm soát cảnh sát và quân đội miền Nam. Một số
năm, Đại Thế Giới trở thành địa bàn bất khả xâm phạm của Bình Xuyên. Không một
thế lực nào có thể chen chân vào và cũng không ai dám thử. Thời hoàng kim ấy không kéo dài. Khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền,
Bình Xuyên bị đánh bật khỏi Sài Gòn, sòng bạc Đại Thế Giới bị dẹp bỏ”.
Bình
Xuyên bị đánh dạt ra khỏi Sài Gòn vào tháng 4 năm 1955. Năm đó tôi đang học tại
trường Chu văn An chuyển từ Hà Nội vào. Trường không có trụ sở, phải học nhờ
tại trường Petrus Ký vào buổi chiều. Trường Petrus Ký có một khu nhà lầu dùng làm
lưu xá cho học sinh đã bị lính Bình Xuyên trưng dụng làm trại lính. Sau khi Bình
Xuyên rút lui ra khỏi Sài Gòn, ngôi nhà lầu được cấp cho trường Chu văn An làm
trụ sở. Đám học sinh di cư chúng tôi được hưởng thành quả từ đại bại của đám Bình
Xuyên. Bất chiến tự nhiên thành!
Các
cơ sở làm ăn của Bảy Viễn bị Tổng Thống Diệm dẹp hết. Sòng bạc Kim Chung sau
này sớm trở thành khu chợ Dân Sinh. Tác giả Nguyễn Đông A nói về khu Đại Thế
Giới ngày nay. “Ngày nay, khu Đại Thế
Giới nằm im lìm bên đường Võ Văn Kiệt, hoang phế như một kẻ già nua bị người
đời quên lãng. Sau một thời gian làm công viên nước, hoạt động từ năm 1999 đến
tháng 1 năm 2020, nơi này bỏ hoang đã hơn năm năm. Cây cỏ um tùm phủ kín
lối đi, tường vôi nứt nẻ, hồ bơi từng sầm uất giờ chỉ còn một vũng nước đen sì
bốc mùi ẩm mốc. Khu sân khấu nổi, từng vang tiếng ca múa mỗi chiều Chủ nhật,
nay cột bê tông bong tróc, cỏ dại mọc lấn từng tấc. Cái công viên rộng 4.000
mét vuông ấy, từng gắn bó với bao thế hệ người thành phố, giờ trở thành một
vùng đất không ai muốn nhận”.
Khu
Bình Khang lại là một chuyện khác. Đây là nơi từng chôn vùi bao nhiêu cuộc đời
thanh xuân của biết bao nhiêu thiếu nữ. Ngày đó nơi đây dập dìu khách làng chơi
suốt ngày đêm đèn không bao giờ tắt. Tác giả Lê Bá Vận kể lại trên Việt Nam Thời
Báo: “Khu Bình
Khang mặt tiền có trổ cổng lớn ra vào, có lính Bình Xuyên mũ bê rê
xanh ngồi và đứng canh nghiêm chỉnh, không gây sợ hãi mà còn có cảm giác
tin tưởng. Bên cạnh là một quầy bán vé (ticket), mỗi ticket giá 100 đồng.
Cơ sở bán dâm, có bán vé vào cửa, thật độc đáo! Trong suốt thập niên 1950 giá
cả sinh hoạt ổn định. 100 đồng lúc bấy giờ là một số tiền lớn đối với dân
lao động nghèo. Giá một bữa cơm là 4-5 đồng ở hàng quán ăn bình thường.
Tiền ăn ở trọ cho học sinh (sinh viên) là 400 đến 500 mỗi tháng tùy nhà cửa
rộng hẹp. Đi học xa nhà, ăn ở trọ nhiều nơi như Sài Gòn hay Hà Nội thì tôi
tất biết. Có ticket cầm tay, khách vào cổng đi thẳng, chẳng ai gọi khám
xét, hoặc trình giấy tờ. Qua một sân nhỏ bước vào ngôi nhà ngay chính
giữa. Có nhiều cô gái trong căn phòng lớn. Năm sáu cô thấy khách chạy ùa
đến tíu tít, khách vừa ngồi xuống ghế thì các cô kẻ níu tay, người quàng
vai, mời mọc, khó thoái thác. Các cô trông đều trẻ, đều trang điểm đẹp đẽ
sàn sàn ngang nhau, mỗi người một vẻ. Nhưng dù có người đẹp hơn hẳn, tài
mạo song toàn cỡ cô Kiều, đàn ca múa hát đều giỏi thì ở đây cũng vô dụng.
‘Cá đối bằng đầu’ giá cả đồng hạng, là ticket 100 đồng. Gặp lúc đông khách
thì dám hết chọn? Vớ được một cô, khỏi chờ đợi là tốt rồi! Trao ticket cho một
cô vừa ý, khách đi cùng nàng đến một dãy nhà kế cận, vào một căn phòng còn
trống. Mở cửa thấy phòng khá rộng, ước độ 9-10 mét vuông, trang nhã, tươm tất,
dù bày biện khá đơn sơ. Một giường đôi, có nệm gối vải trắng tinh, ngay
ngắn, kê sát tường và có gắn gương soi chạy dọc. Ngoài ra, trong phòng còn
có một tủ gỗ thấp; có nhiều hộc chứa bao gối, khăn trải giường và một bồn
lavabo rửa tay có đặt giỏ rác ở dưới. Thời lượng ngầm của ticket là nửa giờ.
Khu Bình Khang này thấy mở cửa suốt đêm ngày. Tấp nập nhất là từ chiều tối và
ngày lễ. Ngoài bán dâm ở đây không mở dịch vụ nào khác (ca nhạc, ăn
uống…). Khách vào chơi an tâm được pháp luật che chở, nhà cửa, phòng ốc đàng
hoàng và kẻ bán hoa được bảo đảm không ai quấy rầy. Trùm du đãng, băng
đảng giang hồ nào dám đụng chạm vuốt râu hùm lính cảnh sát an ninh Bình
Xuyên, dữ như cọp! Khu Bình Khang được Chính phủ Tổng Thống Diệm ra lệnh chính
thức đóng cửa ngày 1/12/1955, tính ra đã hoạt động chưa trọn ba năm. Khu
Bình Khang cũ bây giờ ra sao, còn dấu tích gi? Tiếc thay tôi không có dịp viếng
lại nơi xưa”.
Khu
Bình Khang bây giờ là một tòa nhà cao tầng kiên cố, trụ sở của trường Đại Học
Hành Chính Quốc Gia. Cơ sở này đã được khởi công xây dựng từ năm 1968, vốn là
cơ ngơi của Trường Công Tác Xã Hội.
Khoảng
năm 1967, cơ quan UNICEF (United Nations
Children’s Fund) của Liên Hiệp Quốc dành một ngân khoản 2 triệu Mỹ kim viện
trợ cho Bộ Xã Hội xây cất một trường đào tạo nhân viên và cán bộ xã hội. Bộ Xã
Hội quyết định chọn khu đất Bình Khang cũ hiện do Bộ quản lý để tiến hành công
tác xây cất. Nghe được tin này, một nhân vật cũ của Bình Xuyên là Ba Đức đã nộp
đơn khiếu nại chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trước đây đã “cưỡng chiếm”
khu đất này một cách trái phép. Một cuộc họp Liên Bộ được Tòa Đô Chánh triệu
tập để giải quyết vấn đề này.
Khi đó
tôi đang phụ trách về pháp chế, kế hoạch và ngoại viện của Bộ Xã Hội, được cử
đại diện Bộ tham dự phiên họp này. Không hiểu sao ông Ba Đức biết được tin này,
đã nhiều lần tới văn phòng của tôi kêu oan và hỏi địa chỉ tư gia của tôi. Tôi
nhấn mạnh tôi chỉ làm việc tại văn phòng.
Để sửa soạn cho buổi họp, tôi truy tìm hồ sơ vụ này. Chuyện khá phức tạp vì hồi
đó chưa có Bộ Xã Hội mà chỉ có Tổng Nha Xã Hội đặt trụ sở tại địa điểm khác.
Phòng Văn Khố của Bộ không tìm thấy hồ sơ nào dính líu tới vụ này. Tôi nhấn
mạnh hồ sơ từ Tổng Nha thời Đệ Nhất Cộng Hòa, họ cho biết có thể trong phòng
lưu trữ đã từ lâu không ai đụng tới. Tôi cho một số nhân viên cùng tôi xuống
tìm. Khi mở cửa phòng, mùi ẩm mốc xông lên, bụi bám đầy cả núi hồ sơ. Phải mất
vài ngày chịu đựng khung cảnh thiếu vệ sinh này, nhân viên của tôi mới tìm được
tập hồ sơ mỏng lét gồm tờ trình và một tờ giấy học trò do chính ông Ba Đức viết
tay và ký tên đồng ý giao khu đất cho chính phủ sau khi được xóa bỏ khoản thuế
khổng lồ tồn đọng trong thời gian dài cùng một số đền bù khác.
Khi
tôi tới phòng họp tại tòa Đô Chánh thì Ba Đức đã ngồi trước cửa phòng. Chủ tọa
cuộc họp là đại diện tòa Đô Chánh phát biểu đầu tiên nhấn mạnh vào lẽ công
bằng, yêu cầu Bộ Xã Hội không nên ép buộc đương sự. Các đại diện các bộ và cơ
quan khác phát biểu tiếp theo, cùng một luận điệu. Có lẽ họ đã được ông Ba Đức
tìm gặp. Tôi là người trình bày cuối cùng, đưa cho mọi người coi tờ giấy do
chính ông Ba Đức ký để chứng minh ông ta đã giao quyền sở hữu khu đất cho chính
phủ sau khi được đền bù thỏa đáng. Trước chứng cớ này, các đại diện đã phải công
nhận là chuyện đã được giải quyết từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi vội ra về trước
ánh mắt trừng trừng của ông này. Sau đó tôi đã phải hàng ngày thay đổi lộ trình
và giờ giấc tới sở.
Lễ
đặt viên đá đầu tiên xây cất trường Công Tác Xã Hội diễn ra vào ngày 5/9/1968
do Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa. Sau 2 năm thi công, lễ Khánh Thành
trường được cử hành vào ngày 24/11/1970 do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa.
Trường
được xây rất kiên cố với tòa nhà hành chánh, các giảng đường rộng lớn, thư viện
chuyên ngành xã hội để các khóa sinh tham khảo. Khu vực thực hành có các phòng
mô phỏng các trung tâm xã hội, phòng tư vấn tâm lý và khu huấn luyện kỹ năng
phát triển cộng đồng.
Các
khóa sinh được tuyển chọn khắt khe qua các kỳ thi tuyển. Trường đã đào tạo được
nhiều Kiểm Sự Xã Hội và Phó Kiểm Sự Xã Hội được bổ dụng làm việc tại các ty xã
hội và các cơ sở như cô nhi viện, viện dưỡng lão, trung tâm cộng đồng. Ngoài
việc học lý thuyết về xã hội học, tâm lý học, kỹ thuật công tác xã hội, các học
viên còn phải đi thực tế, viết báo cáo thực tập, nghiên cứu và thực hiện các kỹ
thuật chuyên ngành.
Giám
Đốc đầu tiên của trường là Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh, tốt nghiệp Xã Hội Học tại
Mỹ và Philippines. Bà Oanh còn có thời gian làm Giám Đốc Cư Xá Thanh Quan dành
cho nữ sinh viên trên đường Hiền Vương mà các thanh niên nhiều người thường lui
tới. Bộ Xã Hội cũng đã cử các nhân viên trẻ du học về công tác xã hội và phát
triển cộng đồng tại Mỹ và Philippines . Sau khi tốt nghiệp văn bằng Master, họ
đã về tham gia giảng dậy và giữ các chức vụ điều hành trường.
Từ
khi có trường Công tác Xã Hội, các hoạt động của bộ Xã Hội được tiêu chuẩn hóa,
không chỉ còn là cứu trợ và từ thiện mà đã được nâng cấp thành một hoạt động có
bài bản, mang lại lợi ích không nhỏ cho các thành phần dân chúng cần sự giúp đỡ
và chăm sóc của chính phủ.
Cũng
vui khi một nơi của tệ nạn xã hội trở thành một nơi của những người có chức
năng cải tạo xã hội. Chỉ tiếc một điều là sau 1975, nơi này biến thành Trung
Tâm Hành Chánh Quốc Gia chứ không còn dính dáng chi tới cải tạo xã hội nữa.
08/2026
Website: www.songthao.com
938 . TRỊNH Y THƯ - NGỌN LỬA THIÊNG
Nhìn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử Việt Nam, số phận của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau năm 1975, ta không chỉ thấy một trường hợp cá nhân bị đàn áp, mà còn thấy đó là một nhát chém lên lịch sử-văn hóa Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi tăm tối đầy chấn động. Như chúng ta được biết, ông bị bắt giam vào khám Chí Hòa trong những điều kiện sức khỏe suy sụp trầm trọng, bị bắt không hẳn chỉ vì vài câu thơ châm biếm thời cuộc, mà vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam vượt lên trên ý thức hệ, điều mà bối cảnh chính trị lúc đó không thể dung nạp.
– Trịnh Y Thư
937 . TIỂU LỤC THẦN PHONG - ĐIỂM SÁNG GIỮA MỜ MỊT MÀN SƯƠNG
ĐIỂM SÁNG GIỮA MỜ MỊT
MÀN SƯƠNG
Mấy nay tôi đọc lại
những quyển sách của nhà văn Võ Phú và dự định viết chút gì đó nhưng lòng ngần
ngại sợ thiên hạ bảo “áo thụng vái nhau”. Bởi thế, thời gian cứ thấm thoát trôi
qua mà chẳng làm được, thế rồi hôm nay nhận được bộ sách Viết Trên Quê Người, tự
dưng tôi “mạnh mẽ bất chợt” và quyết định ngồi xuống viết mà không còn e ngại
gì.
Chỉ mới đọc thoáng
qua thôi nhưng quả thật hết sức thán phục cây bút này. Võ Phú đã đọc nhiều, đọc
rất nhiều sách của các tác giả hải ngoại để rồi viết nên bộ sách này, sức đọc của
anh, sức viết của anh, ý chí và tâm huyết của anh khó có ai sánh nổi, nhất là
trong thời buổi này. Bộ sách Viết Trên Quê Người dày gần hai ngàn trang giấy. Bộ
sách nặng ký cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Võ Phú tóm lược hành trình sáng
tác và tác phẩm của sáu mươi tư thi sĩ và văn sĩ thuộc Văn Bút Viêt Nam Hải Ngoại.
Võ Phú có mối quan hệ rộng rãi, quen biết rất nhiều những cây đa cây đề lẫn mần
non của dân văn chương chữ nghĩa hải ngoại. Anh đã đọc rất nhiều những gì họ viết
ra để rồi khái quát những nét chính của từng tác giả. Anh nắm bắt được cái thần
khí và phong cách của từng cây bút. Mỗi tác giả anh có một câu nhận định ngắn gọn
nhưng nói lên được hành trạng và sự nghiệp văn chương của họ. Bộ sách Viết Trên
Quê Người có thể xem như là một “từ điển” tác giả văn chương thuộc Văn Bút Việt
Nam Hải Ngoại, lại vừa là một bộ điểm sách, tuy khái lược nhưng rất đầy đủ. Với
mỗi tác giả, Võ Phú chọn ra vài tác phẩm có thể nói là xuất sắc nhất của họ để
phân tích và giới thiệu. Với câu nhận định về từng tác giả, ta có thể hình dung
ra tác giả ấy như thế nào: Nghề nghiệp, sức sáng tác, quá trình sáng tác, hành trình
hay là cái duyên đến với nghiệp chữ…Ta thử xem vài câu nhận định đặc trưng
trong bộ sách này.
Với tác giả Cao Minh Nguyệt: Một đời chữ nghĩa đi qua bão giông và yêu thương.
Với Cung Thị Lan: Người giữ lửa văn chương Việt nơi xứ người. Với Diễm Châu
(Cát Đơn Sa): Người giữ gìn hồn Việt qua ca, văn, thi, họa. Với Kim Loan: Người
kể chuyện cộng đồng tỵ nạn qua thơ văn. Đình Duy Phương: Chữ nghĩa, thân phận
và niềm tin trên quê người. Văn Duy Tùng: Ngòi bút giữ gìn đức tin, quê hương
và những giá trị nhân bản. …Cứ như thế, sáu mươi bốn tác giả là sáu mươi tư mảnh
ghép lại thành một cộng đồng văn thơ bên ngoài biên giới quốc gia. Mỗi một tác
giả, Võ Phú dành tặng cho một câu thôi nhưng đủ để hiển lộ cái thần của con người
ấy. Võ Phú làm được cái việc mà hiện nay ít ai làm nếu không muốn nói là chẳng
ai làm.
Với Viết Trên Quê
Người, Võ Phú giúp độc giả nhận biết từng tác giả qua bài điểm sách, biết được
quá trình sáng tác, số lượng tác phẩm, nội dung chính của những tác phẩm. Ta có
thể điểm qua những tác giả nổi tiếng như: Cao Minh Hưng, Cung Thị Lan, Cao Mỵ
Nhân, Kim Loan, Diễm Châu (Cát Đơn Sa), Nguyễn Minh Nữu, Đào Hiếu Thảo…Để viết
được một bài điểm sách về một tác phẩm đã là khó, đằng này một bài điểm sách
nhưng về nhiều tác phẩm của một tác giả đòi hỏi phải đọc nhiều, đọc kỹ và có
cái nhìn sâu sắc để nắm bắt được cái phong cách của tác giả ấy. Võ Phú đã làm một
cách trọn vẹn, muốn có vạch lá tìm sâu cũng chẳng có điểm nào để chê.
Văn Học Việt Nam Hải
ngoại hiện nay có thể nói là đã chết lâm sàng. Người viết dần dần mất hút. Những
cây bút kỳ cựu vì tuổi tác mà lần lượt ra đi hoặc gác bút. Lớp trẻ kế thừa thì
không có. Người Việt hải ngoại không đọc sách, tầng lớp trí thức chỉ đọc tài liệu
tiếng Anh có liên quan đến chuyên môn của nghề nghiệp, giới lao động phổ thông
thì chẳng đọc bất cứ thứ gì dù là tiếng anh hay tiếng Việt. Thời đại công nghệ
điện toán – công nghệ thông tin bùng nổ, con người chúi mũi vào Iphone, Ipad,
laptop mà đu theo trào lưu mạng xã hội, chẳng còn ai đọc sách báo, tình hình
chung là thế! Tuy nhiên với người Việt hải ngoại thì còn nghiệt ngã hơn, hầu
như người mình cố tình quên đi nguồn cội, cố che giấu thân phận nhược tiểu, cố
Tây hóa, Mỹ hóa cho sang chảnh…ngay cả tiếng Việt họ cũng không muốn nói (nói
tiếng Anh cho sang) thì nói gì đến chuyện đọc sách báo tiếng Việt. Văn học Việt
Nam hải ngoại đã qua rồi cái thời “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Văn học
Việt Nam hải ngoại ngày nay không khác gì cảnh chợ chiều hiu hắt. Người ngoài
cuộc đã đành, ngay cả người trong cuộc cũng thờ ơ, rất may, trong cái hoàn cảnh
đáng buồn như thế thì chúng ta lại có được những người như Võ Phú.
Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026
936. NGUYỄN MINH NỮU Truyện ngắn CON TRAI CỦA THỦY THẦN
