Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

682 . NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI : Đọc Truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm, nghĩ về ...

                                                                                                 


Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.

Quá khứ lịch sử? Đúng vậy. Tác giả Nguyễn Văn Sâm, người nổi tiếng về truyện ngắn và về nghiên cứu văn học chữ Nôm, nhìn thấy có sự tương liên giữa sáng tác văn học và lịch sử. Trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại," nhà văn Nguyễn Văn Sâm giải thích: "Truyện ngắn là bài viết ít sự thực, kế đó là hồi ký, trên cùng là bài viết về lịch sử. Sự thực làm nguồn cho truyện ngắn, bị bóp méo ít nhiều trong hồi ký, được đào xới, phân tích, giải thích trong các bài về lịch sử...." (Lời tác giả trước khi vào truyện Khói Thuốc Cả, trang 244). Nghĩa là, truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm có một phần sự thật, nhiều hay ít. Phải chăng, chính những phần hư cấu sẽ đã sức mạnh để Truyện Kiều trở thành cội nguồn thơ mộng của dân tộc, và để Lục Vân Tiên trở thành kho tàng đạo lý bất tử, và để mối tình Rồng-Tiên đưa dân tộc Việt bay vào huyền sử tình yêu vĩnh cửu?

Tuyển tập truyện ngắn “Chiếc Ba Lô Để Lại” của Nguyễn Văn Sâm dày 630 trang, gồm 49 truyện ngắn. Mở đầu tuyển tập là bài “Giao Cảm Nguyễn Văn Sâm và Dòng Chảy Văn Chương Nam Kì Lục Tỉnh (các trang 5-20) của Hoàng Kim Oanh, viết từ Sài Gòn năm 2016, đưa ra cái nhìn tổng quan về Nguyễn Văn Sâm, từ một học giả có nhiều công trình biên khảo về văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh (Ghi chú về cách viết của Hoàng Kim Oanh, tựa đề viết là “Nam Kì” nhưng trong tiểu đề trong bài lại viết là “Nam Kỳ” – không viết thống nhất, cũng lạ), tới một Nguyễn Văn Sâm viết “truyện ngắn về đất và người Nam Kỳ Lục Tỉnh” (cũng chữ Kỳ với y).

Có một điểm dễ nhận ra khi bạn đọc truyện Nguyễn Văn Sâm là một cảm giác an tâm, nhẹ nhàng mà sâu lắng, buồn mà không gay gắt, ngay cả khi nổi giận với cái bất thiện cũng là những dòng la rầy rất nhẹ. Nhưng xuyên suốt trong các truyện là tấm lòng thiết tha của tác giả với quê hương, nơi đất, người và tín ngưỡng dân gian quyện lại thành những sợi tơ huyền thoại từ đời này sang đời kia. Bối cảnh truyện hầu hết là ở quê nhà. Ngay truyện đầu tiên là về mối tình của cô Mỵ với Trị, gắn liền với niềm tin đơn sơ về Ao Bà Om ở Trà Vinh, nơi có huyền thoại là lời thề trong ngôi Chùa Âng của các sư Khmer nơi đây được người dân địa phương tin có sức mạnh linh thiêng, nhưng nhân vật nữ lại ngờ vực. Hay như cuối tuyển tập là truyện “Tiếng Thầm Quê Mẹ” trong đó một băng giang hồ làm đủ thứ chuyện hình sự, kể cả nhập nha (đột nhập nhà để trộm hay cướp) như lời một nhân vật trong truyện kể qua lời ca, “Còng số 8 như vàng mười tám. Anh vào tù như hoàng tử nhập cung. Coi đấm đá như bài ca vọng cổ” (trang 605) nhưng vẫn tin có “bà độ” (trang 608) khi cầm dao búa xung trận, và một nhân vật trùm băng đảng chợt nhớ tới má: “Nó nhớ tới thơ má nó mới gởi về “rán ăn ở nhơn đức. Đừng làm chuyện tổn đức thì Trời Phật sẽ thương cho mẹ con mình đoàn tụ.” Thơ nào cũng vậy. “Ở nhơn đức cả đời ăn không hết. Chuyện gì cũng qua. Cầu gì cũng được”..."(trang 614). Dù vậy, cuộc đời phần lớn là bất như ý đối với nhân vật Mỹ lai này đang chờ ngày qua Mỹ đoàn tụ với mẹ.

Cuối tuyển tập truyện ngắn là bài “Thay Lời Bạt: Đôi Dòng Cảm Nghĩ Khi Đọc Truyện của anh Nguyễn Văn Sâm” của nhà văn Nguyễn Khắc Phụng, trong đó đưa ra cái nhìn tổng quan về truyện ngắn của nhà giáo, nhà văn đặc chất Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm:

Bằng một điệu văn đậm chất Nam bộ anh đã ghi lại những biến chuyển trong đời, trên đất nước quê hương, trên mảnh đất tạm dung, những cuộc tình dang dở, những mảnh đời bất hạnh, những hình ảnh êm đềm của những tháng ngày giờ đã xa lắc xa lơ. Nhẹ như gió thoảng, mơ hồ như sương, như khói. Hình ảnh lung linh, đôi khi sáng rực, đôi khi mờ ảo như liêu trai.

Hoàn cảnh đã để lại trong anh những nỗi đau vật chất cũng như tinh thần; những bất hạnh ngoài tầm tay cứu chữa. Nhưng trong anh người ta không thấy oán hờn; có chăng chỉ là những lời nhắc nhở dịu dàng. Đâu đó phảng phất âm hưởng sắc-không của Phật giáo, tha thứ, quên đi quá khứ, hướng về tương lai.

Truyện của anh như một tấm tranh mosaic. Có lúc là hình ảnh của một người thầy hiểu rộng, biết nhiều, người thầy che chở đám học sinh thơ dại như sự hy sinh của Thầy Lượng, hay lòng ngưỡng mộ của đứa học trò với con chim Hán học cuối mùa. Anh tô điểm bức tranh của anh với những từ ngữ hiếm quý của người Nam bộ đang dần dần thoái hoá. Thêm vào đó những nét chấm phá của chữ Hán, chữ Nôm; pha thêm tiếng hát câu hò Vân Tiên để cho tranh có thêm âm nhạc! Muốn hiểu anh, người đọc không thể đọc lướt các truyện của anh. Đọc rồi, lại muốn đọc thêm truyện khác, như người khát nước đi tìm giọt nước ngọt trong ngày nắng gắt.”(trang 625-626)

Văn phong truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm nhẹ nhàng như dòng suối khơi nguồn từ huyền thoại Rồng-Tiên chảy qua miệt Đồng Nai, Gia Định chở theo những niềm vui và nỗi buồn của một dân tộc từng trải qua nhiều đau đớn lịch sử rồi hòa quyện vào dòng Cửu Long ra biển. Và rất đặc chất là hình ảnh, ngôn phong Sài Gòn, Lục Tỉnh đang dần dần trôi vào quên lãng dưới làn sóng đô thị hóa. Thử xem lại truyện “Người Em Xóm Giếng” (trang 372-387), chúng ta thấy tác giả nhắc tới các hình ảnh: Xóm Giếng, phông tên nước (trụ dẫn nước trong xóm), xách nước mướn, hình ảnh bàn thờ ông Thiên (thời xưa, trụ giữa sân trước nhà của dân Miền Nam để thờ trời đất), mả đá vôi, giếng mội, bót Catina, xe traction đen chở lính kín bố ráp Chùa Hoa Nghiêm, các tên đường thời Pháp như Blancsube de CauKho... và sử dụng ngôn phong rất miền Nam như: bù trất, à nhe, cô nào bắt cặp với cậu nào, con gái nhà ai chịu đèn với con trai nhà nào, trật đâu được, tuổi cũng sồn sồn, để tui lo, dợm cẳng bước đi, đợi tôi về nha, buồn buồn trong dạ, trơn lu, trớt quớt, đời cố Hỷ cố Lai nào mà không biết

Cũng truyện “Người Em Xóm Giếng” kể về những giao tiếp nam nữ rất hiếm gặp thời nay, khi nhân vật xưng tôi, thời thơ ấu là chú tiểu Tín đã phải ra đời sau khi sư cụ bị người Pháp bố ráp, dẹp chùa,  và chàng Tín này rất khù khờ khi cô gái tên Diễm tới tuổi cặp kê (cuối năm cô sẽ thi Tú Tài I, nghĩa là cô khoảng 16 hay 17 tuổi) đã nói thẳng, khi hai người ngồi trong quán cơm, rằng “anh cù lần và làm kiểu thầy chùa...” Cô nói rằng cô thương chàng từ thời thơ ấu, “Tám tuổi mà em biết yêu anh rồi đó.”  Rồi cô nói với Tín rằng anh Tín “hiền như cục bột lò bánh mì, ai muốn nặn sao thì nặn,” vậy mà sao cô không cạy miệng Tín được một lời cho nên duyên trong kiếp này. Tới một lúc, cô nắm tay chàng bóp mạnh, nói, “Anh Tín, có cần phải nghe em nói là em yêu anh anh mới chịu hay sao?” Tín rút tay lại, khi thấy người bồi bàn mang cơm ra. Than ôi, vài chục năm sau, Tín nhớ lại, “Nhưng mà cha mẹ ơi, hai chục năm lính, hai chục năm sống bất như ý, hễ khi trời mưa thì tôi nhớ đến chuyện mình với hai người con gái, chuyện nào cũng lỡ làng...”

Thế đó, sâu thẳm trong cõi này là một nỗi buồn, như dường không có lời nào mô tả được. Cõi này như thế, là như thế: cõi này bất như ý. Vui luôn luôn là khoảnh khắc, buồn thường khi là trọn đời người.

Đọc truyện Nguyễn Văn Sâm thường khi chúng ta gặp lại nhiều hình ảnh không còn trên cõi đời này nữa. Những chuyện xảy ra rất xưa, như là từ những kiếp xa xưa nào. Thí dụ như truyện “Bà Thũng ở Chợ Cây Điệp” (trang 28-39), ngôi chợ nơi góc Bà Hạt và đường Nguyễn Tri Phương bây giờ đã biến mất, nơi hồi đó mỗi sáng Chủ Nhựt có trò chơi lắc bầu cua cá cọp, mà các tay lắc là gian lận chuyên nghiệp và có liên hệ tới quân đội Bảy Viễn. Tất cả những hình ảnh đó bây giờ đã biến mất, y hệt như một giấc mơ rất xa xưa của tiền kiếp.

Truyện “Lòng Mẹ Bao La” (trang 286-293) cho độc giả một cảm giác như dường chuyện thật đời người của tác giả Nguyễn Văn Sâm, có thể nửa phần là hồi ký: xuất thân nhà nghèo, nhân vật xưng tôi học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từ năm thứ hai khởi tâm muốn nghiên cứu văn học, lấy vợ giàu, bị gọi nhập ngũ, mỗi khi ra trận đều hướng về má, xem má như Bồ Tát bổn mạng, để vái van, may mắn được biệt phái về trường cũ ở Cần Đước để dạy Việt Văn, rồi vượt biên, bốn ngày lênh đênh trên biển, chủ ghe thắp nhang trao cho mỗi người một cây nhang xin mọi người cầu nguyện theo tôn giáo riêng trong khi nước biển theo lỗ thủng không bịt hết đang dâng cao tới hông, tới ngực, và tác giả mơ hồ thấy Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và hình ảnh má hiện ra hòa nhập hai không mặt mẹ hiền vào nhau... Tới cuối đời, nhân vật xưng tôi nhận ra “Phật Bà nói chung là má của tất cả mọi người” (trang 293).

Truyện Nguyễn Văn Sâm là một cảm nhận mạnh mẽ về luật vô thường. Điển hình như truyện ngắn "Tiếng hát người tín nữ ni sư" (tuyển tập Chiếc Ba Lô Để Lại, trang 575-586). Truyện viết như hư, như thực. Chúng ta đọc và ngờ ngợ, không rõ bao nhiêu phần thực, bao nhiêu phần hư cấu. Thực tế đời thường, những gay cấn trong cuộc đời như trong truyện dĩ nhiên là có. Mối tình có vẻ như ngang trái, cô gái bán bánh mứt chợ Tết Sài Gòn có tên là Nguyện, xưng hô kiểu Nam Bộ hơi dị thường, tự gọi là "cưng" và gọi người đối thoại (chàng trai tên Song, người mà cô ưa thích) là "mình" -- tự nhiên là xa nhau, khi chàng nhập ngũ (có lẽ vì mấy ai đi mà tin chắc là có ngày trở lại).

Truyện ghi lời cô Nguyện nói với chàng Song, theo lời Song kể với tác giả, "Chắc cưng phải đi lấy chồng. Cưng còn ba má già và 6, 7 đứa em nhỏ phải lo. Lông bông hoài ba má rầy rà quá. Mình đi dạy chắc thế nào rồi cũng gặp được cô nào đó dễ thương hơn cưng." Rồi chàng Song suy đoán, nói với tác giả, "Sau đó Nguyện không cho mình gặp nữa. Hình như lấy một ông sắp tốt nghiệp Quân Y!” (trang 579).

Tuy nhiên, hơn một thập niên sau, đột nhiên Song thấy một phụ nữ mù, mặt có mấy vết sẹo bị dao chém, đứng hát ngoài chợ, tay cầm tấm bảng mang hình cô Nguyện xinh đẹp với nụ cười hớp hồn. Song cầm một nắm tiền nhờ một thanh niên tới dúi vào tay phụ nữ mù, và cô Nguyện nhận ra ngay là Song, nên gọi nhưng chàng im lặng, lùi xa và biến mất. Một thời gian sau, truyện kể rằng cô Nguyện đã trở thành một vị ni sư già nói chuyện với tác giả.

Lời tâm sự của ni sư già với tác giả rất dài, mở đầu bằng những đoạn như mơ như thực, ghi lời một vị trưởng lão râu dài tóc trắng bước ra từ sau lưng tượng Đức Phật, nói với vị ni sư (người khi chưa xuất gia là cô Nguyện) về luật nhân quả, trích:

"Tôi đương ngồi đọc kinh trước Phật đài thì thấy một ông lão tóc bạc phơ, dài chấm ót, mặc áo dài trắng, bước ra từ sau lưng tượng Phật, không, hình như là xuất ra từ tượng Phật, gương mặt thiệt quen thuộc nhưng tôi không thể nhớ là ai.

Tôi đứng dậy chào ông. Ông tới trước mặt tôi, ra dấu biểu ngồi xuống lại rồi ông chậm rãi ngồi xuống một cái ghế tràng kỷ sau cái bàn trà trước mặt tôi. Tôi hơi ngờ ngợ, bộ tràng kỷ chạm lộng mỗi ngày tôi lau chùi cẩn thận bằng cả tấm lòng mình, được đặt ở khách phòng chớ đâu phải ở trước Phật đài đâu, nhưng sự ngạc nhiên không ở lâu trong trí tôi vì ông lão đã cất giọng ôn tồn hỏi:

“Con đọc kinh mà có hiểu không?”

“Dạ, con không hiểu nhiều, đọc chỉ mong cho lòng con không dao động mà thôi.”

“Con dao động vì xót xa đời con nhiều chướng nghiệp. Ta biết! Nhưng chướng nghiệp người đời ai mà không có đâu con. Chướng nghiệp tới không do con tạo kiếp này thì nên quên nó và tha thứ cho người gây hại; chướng nghiệp tới do con huân tập kiếp nầy thì nên thành tâm sám hối. Không nên dùng kinh kệ để mong quên bất cứ điều gì.”

Tôi ngờ ngợ về lời khuyên đó. Vậy thì tôi phải quên bất hạnh xé nát đời tôi do những nhát mã tấu ghen tuông mà người đàn bà đanh ác kia dàn dựng hay sao? Và tôi phải tha luôn tội ác của bà khi quả quyết rằng sự chà lê quết xảm của chồng bà ta ở nhà tôi là do tôi quyến rũ, chớ không phải do lòng ham hố và sự ỷ quyền cậy thế của ông ta?" (trang 582-583)

Dĩ nhiên, vị ni sư già không còn oán hận gì cuộc đời khi tin sâu vào luật nhân quả. Tuy nhiên, trả giá luôn luôn là đau đớn. Và xuyên suốt các truyện Nguyễn Văn Sâm là những niềm vui rất ngắn, nhớ thương thì rất dài, và bất như ý là vô tận. Vô thường là sức mạnh làm tan vỡ tất cả những tường thành vững chắc nhất trong cõi này.

Như khởi đầu truyện tình "Khói Thuốc Cả" (trang 244-256) về các diễn biến ngỡ như là tình yêu  giữa nhân vật xưng tôi và nàng Ngoạn Nguyệt là dòng chữ: "Biểu đừng:  Muốn hôn em mà em cứ bảo đừng. Đến bây giờ thì hai đứa đã trở thành người dưng mất rồi..." (trang 244)

Xin chú ý: cách dùng chữ "biểu" là văn phong Nam Kỳ (nếu là văn phong Bắc Kỳ thì nói là "bảo"). Tuy nhiên, "hôn" là nói giọng Bắc, trong khi lẽ ra cho thống nhất dòng văn, hẳn là "hun" theo giọng Nam. Nguyễn Văn Sâm viết trong sách tràn ngập chữ giọng Nam, tại sao lại dùng chữ "hôn" nơi đây? Phải chăng vì lúc nhà văn muốn nói kiểu "nghiêm và buồn" cho mối tình trầm trọng thích nghi?

Nhân vật tôi kể chuyện gặp cô bé, khi cô bé còn bé tí, cùng gia đình di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam đang trú ngụ ở sân một ngôi trường, và nhiều năm sau, gặp lại năm cô học lớp đệ nhất, năm cuối trường nữ trung học Trưng Vương. Nhân vật “tôi” lúc đó là một vị thầy nổi tiếng ở Petrus Ký, được các học sinh sắp xếp cho khiêu vũ với Ngoạn Nguyệt để khai mạc một bữa tiệc. Trong khi khiêu vũ, tới một lúc chàng, bất kể là một người thầy nổi tiếng trong nhiều trường, thì thầm với cô: "Ngoạn Nguyệt cho anh hôn lên tóc nha." Và nàng từ chối... Hóa ra, chúng ta thấy câu này, tác giả văn chương Nam Bộ viết chữ "hôn" là vì nói chuyện với cô gái Bắc.


681 . PHAN TẤN UẨN : Em bé Việt Nam ở Gainesville

                                                                                                         


Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.

Chiều về nhà, Khang ngồi vào bàn ăn. Trước mặt em là tập vở đã mở sẵn.Trong bếp, bà Ánh đang rửa chén. Ngoài phòng khách, ông Lâm ngồi xem tin tức.Tiếng nước chảy đều đều, hòa vào không gian quen thuộc của căn nhà.

Khang ngồi yên. Trang giấy vẫn còn trống.

“Mẹ ơi,” Em nói, “cô giáo bảo viết về nước Mỹ, nhưng con không viết được.”

Bà Ánh ngừng tay.

“Con thấy sao thì viết vậy,” bà nói.

“Nhưng… nước Mỹ là gì ? ”

Bà không trả lời ngay. Bà lau tay vào khăn, rồi xoa đầu Khang.

“Là những gì con nhìn thấy mỗi ngày.”


680 . TIỂU LỤC THẦN PHONG- Đoạt Giải Nobel.

                                                                                                               


ĐOẠT GIẢI NOBEL

Hắn ngồi lì cả mấy giờ rồi, cứ bóp trán, nhíu mày cố suy tư tầm tứ để viết cho xong mẩu truyện ngắn mà lòng ấp ủ bấy lâu nay. Khổ nỗi cái đầu mít đặc chẳng có tứ nào nảy ra, rị mọ, hý hoáy hoài mà chữ không lấp kín trang vở học trò. Lòng dạ hoang mang nhưng cũng phải tạm dừng vì thấy bà vợ cứ đi ra đi vào đá thúng đụng nia, mặt mày xưng xỉa chửi chó mắng mèo, đôi lúc lại cạnh khóe bóng gió:

- Ối giời cao đất dày ngó xuống mà xem này!Có ai khổ như mụ gái già tôi không? Quanh năm cực nhọc làm ăn để nuôi báo cô, khéo bày trò văn vẻ…

- Này, này! Bà đừng có mà mồm loa mép giải đấy nhé! Bà bảo ai báo cô?

- Ừ thì tôi bảo báo cô đấy! ai báo cô thì tự mà biết lấy, đây không dư nước dãi mà giải thích. Thời buổi này không lo làm ăn kiếm đồng tiền đong bát gạo, suốt ngày cứ ngồi lì ra đấy, rồi mơ mộng chữ với chả nghĩa, rõ vớ vẩn! Mớ chữ ấy có mua nổi một miếng vá trên cái váy đụp của tôi không nào?

- Bà đừng có mà chanh chua chát khế như thế nhé! Bà xúc phạm tôi thì được nhưng đừng động đến văn chương chữ nghĩa! Đàn bà đái không khỏi ngọn cỏ biết gì mà lu loa lắm mồm, rách việc!

- Ối giời ơi, bớ làng nước ơi! Lại mà trông lão Thộn mắng tôi đây này! Này bà bảo cho mà biết nhá! Gái già này nào dám nói chuyện văn chương! Thiên hạ đoạt giải này giải nọ thế ông có giải gì? Giải rút lưng quần hả? Có giỏi thì tranh đoạt với thiên hạ, tôi nghe giải nô beo nô biếc chi đó danh giá lắm, tiền thưởng cả triệu đô la Mỹ. Ông cố lên đấy nhá, đoạt giải ấy để gái già này nở mặt nở mày với họ hàng làng nước. Tôi xem ti vi tối qua nghe anh Bảy nói nhà văn ta phải đoạt cho được giải nô beo đấy nhá!

Nói xong bà vợ cười the thé, cười nham nhở nhe hàm răng cái rụng cái sâu. Bà ấy ngồi phịch xuống đất vén váy đụp lên chùi nước dãi leo ra hai mép. Y ngán ngẩm và cũng thấy xấu hổ trong lòng, không muốn tranh cãi với đàn bà nhưng xét ra bà ấy cũng có lý, măc dù bà ấy mỉa mai dấm dẳng thật sâu cay. Y biết cãi với đàn bà là dại. Anh hùng cái thế trong thiên hạ đánh Đông dẹp Bắc oai hùng là vậy nhưng về đến nhà là một phép nhất vợ nhì giời. Mình là tay hàn sỹ thì làm sao chống nổi bà, thượng sách vẫn là chịu phép, hơn nữa bọn chữ nghĩa vãn kháo nhau “kính vợ đắc thọ” kia mà. Y bỏ bút giấy chỏng chơ trên bàn, bước ra nhà sau lấy cám cho lợn ăn rồi tắm lợn, hốt phân, quét rác… Tuy thân làm nhưng tâm y vẫn không dứt ra khỏi cái luồng suy tư về tứ của mẩu truyện đang định viết. Thật lòng thì y cũng có phần chán nản vì mình bất tài vô tướng, đã thế cộng với sự chụp mũ hồ đồ của bà vợ nên tâm tư lăn tăn bất an. Bà ấy tuy cay nghiệt nhưng thật tế, thời buổi này mà ngồi viết thì đến cám lợn cũng không có để mà húp. Y lấy chổi xể cọ chuồng lợn mà lòng tức tưởi, nghĩ đến thằng Thái bạn cùng làng, ngày xưa học chung lớp, nó dốt đặc cán mai, ấy vậy mà giờ làm đến bí thư tỉnh Q. Thằng Đức cũng thế, một chữ bẻ hai không thuộc, chuyên trốn học đi đánh đáo nhưng nay làm tổng giám đốc công ty quốc doanh Thuận Thiên Thành. Hồi nẳm, khi thi tốt nghiệp cả hai đứa mua bằng B tiếng Anh nộp vô, vậy mà giờ danh giá tai to mặt lớn, giàu nức đố đổ vách. Còn thân phận mình nổi tiếng học giỏi, văn hay chữ tốt vậy mà cứ ì ạch làm anh nhân viên quèn, tối ngày rặn mớ chữ, về nhà bị mụ vợ già xỉa xói linh tinh. Y nhớ lời sỉ nhục của thằng Thái nói hôm gặp nhau buổi tiệc cưới con của lão Đại:

- Ông vẫn còn mơ mộng viết lách à? Sách bán chạy không? Nói thật với ông chứ tiền ông bán sách không bằng tiền một lần tôi bo cho con phò ở quán karaoke Thiên Đường


679 . THÂN TRỌNG SƠN . Con Mèo Trong Mưa, Truyện dich của ERNEST HEMINGWAY

 

 CON MÈO TRONG MƯA Truyện ngắn ERNEST HEMINGWAY. (1899-1961) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

Ernest Hemingway (1899-1961)

 

   “ A writer of fiction is really... a congenital liar who invents from his own knowledge or that of other men.”

“  Một nhà văn hư cấu thực sự là... một kẻ nói dối bẩm sinh, người bịa ra từ kiến ​​thức của chính mình hoặc của người khác. “

    Ernest Hemingway là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Nhiều tác phẩm của ông được xem là kinh điển trong nền văn học Mỹ, với những khám phá đặc sắc về mọi khía cạnh phức tạp của cuộc sống nhưng cũng đậm chất nhân văn.

    Sinh ngày 21.7.1899 tại Oak Park ( tiểu bang Illinois ), Hemingway bắt đầu sự nghiệp cầm bút tại một tòa soạn ở TP Kansas khi mới 17 tuổi. Khi Mỹ tham chiến trong Thế chiến thứ I, ông tham gia đơn vị y tế tình nguyện trong quân đội Italy. Sau này, khi trở lại Mỹ, Ernest Hemingway là phóng viên cho các tờ báo Mỹ và Canada, rồi sau đó quyết định sang Paris (Pháp). Câu chuyện về chiến tranh và đời sống xã hội những năm đầu thế kỷ 20 được ông đưa vào tác phẩm The Sun Also Rises (Mặt trời vẫn mọc), 1926. Tiểu thuyết này cùng với những tác phẩm khác, như A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí), 1929; For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai), 1940 và The Old man and the Sea (Ông già và biển cả), 1952, đánh dấu cho sự khởi đầu một trào lưu văn học mới, được gọi là “The Lost Generation” (Thế hệ lạc lối). Đặc biệt, “Ông già và biển cả” được đánh giá là 1 kiệt tác và đạt Giải Pulitzer vào năm 1953. Hemingway được trao giải Nobel Văn học năm 1954 "vì sự thông thạo nghệ thuật kể chuyện, gần đây nhất được thể hiện trong Ông già và biển cả, và vì ảnh hưởng mà ông đã tạo ra đối với phong cách đương đại"

   Ông không chỉ được biết đến như một nhà văn vĩ đại mà còn là một biểu tượng văn hóa. Cuộc sống của ông mang đầy tính mạo hiểm, gắn liền với các hoạt động đi săn, câu cá. Kinh nghiệm sống với môi trường tự nhiên của Hemingway được thể hiện rõ ràng trong tác phẩm của ông, tạo nên một không gian rộng lớn và sự tự do tinh thần. Những tác phẩm của Ernest Hemingway tiếp tục sống mãi trong lòng của người hâm mộ văn học trên toàn thế giới. Ông là một trong những nhà văn có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến văn học Mỹ và là một biểu tượng văn hóa vĩ đại, với sự kết hợp giữa tài năng văn chương và cuộc sống đầy màu sắc của mình.

Ông là một nhà văn có tác động đáng kể đến sự phát triển của văn chương trong thế kỷ XX. Nhiều tác phẩm của ông hiện được coi là những tác phẩm văn học kinh điển của Mỹ: The Old Man and the Sea, For Whom the Bell Tolls, The Sun Also Rises, A Farewell to Arms… ( những cuốn này đều đã được dịch sang tiếng Việt. )

“ Cat in the Rain “ là một truyện rất ngắn của Ernest Hemingway , được xuất bản trong tuyển tập In Our Time đầu năm 1925 của ông. Hemingway đã viết truyện này cho vợ ông là Hadley khi họ sống ở Paris. Cô ấy muốn nuôi một con mèo nhưng anh ấy nói họ quá nghèo.

“ Cat in the Rain “ được cho là lấy cảm hứng từ một sự kiện cụ thể vào năm 1923 khi tác giả ở nhà của Ezra Pound (một người nổi tiếng yêu mèo) ở Rapallo, Ý, Hadley kết bạn với một chú mèo con đi lạc.

Để phù hợp với phong cách đặc trưng của Ernest Hemingway, 'Cat in the Rain' được viết bằng văn xuôi ngắn gọn, rõ ràng, sử dụng các câu ngắn và lời thoại đơn giản. Đây là nét đặc trưng trong phong cách của Hemingway trong truyện ngắn và tiểu thuyết của ông.

Những câu chuyện của Hemingway thường có vẻ trực tiếp và thực tế, như thể chúng đơn giản có ý nghĩa bất cứ điều gì chúng nói, nhưng trên thực tế, có sự cộng hưởng mang tính biểu tượng đối với nhiều chi tiết bình thường và đời thường mà ông xây dựng câu chuyện của mình xung quanh.

Con mèo trong mưa không chỉ là một con mèo: nó rõ ràng tượng trưng cho một điều gì đó hơn thế nữa đối với người vợ, người mong muốn giải cứu nó khỏi cơn mưa và khi làm như vậy, giải cứu một phần của chính cô ấy. Nó cũng muốn trốn mưa, như việc  nhắc đến mùa xuân (vẫn chưa đến) ở cuối câu chuyện đã chứng tỏ.

     Bằng cách nói với người đọc truyện “ Cat in the Rain “ giới thiệu dưới đây rằng những người Mỹ không biết ai ở khách sạn, người kể chuyện làm nổi bật sự khác lạ của họ - họ là những người xa lạ ở một vùng đất xa lạ. Cảnh quan phòng khách sạn nhìn ra rất đẹp. Tuy nhiên, nhận xét của người kể chuyện cho thấy rằng vào ngày câu chuyện được dựng lên, thời tiết thực tế không đẹp lắm vì không có họa sĩ nào vẽ tranh trong vườn. Hơn nữa, sự hiện diện của tượng đài chiến tranh cho người đọc biết rằng đã xảy ra một cuộc xung đột lớn ở khu vực này.

   Vai trò của người giúp việc trong câu chuyện cũng rất quan trọng trong mối liên hệ này. Có một mối quan hệ hấp dẫn giữa ba nhân vật nữ là người giúp việc, người vợ và con mèo. Hành động của người vợ được thúc đẩy bởi mong muốn che chở cho con mèo tội nghiệp khỏi cơn mưa khắc nghiệt, nhưng cũng bởi vì, như cô ấy thừa nhận, cô ấy muốn có một con mèo (trong số những thứ khác).

     Tóm lại, Cat in the Rain không chỉ nói về một con mèo. Con mèo có thể được xét theo giá trị bề ngoài và bề ngoài như “chỉ” một con mèo, và các sự kiện của câu chuyện chỉ là một bức ảnh chụp nhanh các sự kiện kéo dài một giờ trong cuộc đời của một cặp vợ chồng người Mỹ sống ở Ý những năm 1920. Nhưng từ khi nào trong cuộc sống của chúng ta, các sự kiện chỉ đơn giản xảy ra mà không có ý nghĩa rộng hơn? Nhiều việc chúng ta làm được thúc đẩy bởi những ham muốn, động lực, mong muốn, nỗi sợ hãi, lo lắng khác. Chúng ta có thể nói rằng điều này đặc biệt đúng với văn hóa Mỹ, - vào thời Hemingway cũng như thời chúng ta - vốn thường bị thúc đẩy bởi lòng ham muốn những vật chất: một chiếc ô tô mới, một ngôi nhà lớn hơn, những bộ quần áo thời trang mới nhất, v.v. Con mèo không thể tách rời tâm lý này: nó là hiện thân của nó. Mặc dù người vợ bắt đầu bằng việc muốn có 'con mèo trong mưa', nhưng sau đó cô ấy lại bày tỏ mong muốn có một con mèo: con mèo nào cũng được. Cô ấy muốn một con vật cưng.

( Trong truyện có nhiều câu nói bằng tiếng Ý. )

 

      Chỉ có hai người Mỹ dừng ở khách sạn. Họ không biết ai cả nên họ cứ đi tới đi lui trong cái phòng phía trên cầu thang. Phòng của họ ở tầng hai hướng mặt ra phía biển, đối diện với công viên và đài tưởng niệm chiến tranh. Trong công viên có những cây cọ cao và những chiếc ghế dài màu xanh. Một chàng họa sĩ với cái giá vẽ vẫn thường xuyên đến đó vào những hôm thời tiết tốt. Các họa sĩ thích những cành cọ vươn lên và những sắc màu lấp lánh của các khách sạn hướng mặt về phía vườn cây và biển. Những người Ý từ những con đường diệu vợi đến chiêm ngưỡng đài tưởng niệm chiến tranh. Nó được làm bằng đồng và lấp loang trong mưa. Trời đang mưa. Từ phía trên những cây cọ mưa rơi rơi. Nước đọng trong các vũng trên những lối đi trải sỏi. Sóng biển vỡ thành một đường dài trong mưa rồi ập xuống lướt vào bờ trượt dài lên cát và lại ập vỡ thành một đường dài như thế trong mưa. Những chiếc xe hơi rời khỏi công viên bên cạnh đài kỷ niệm. Bên kia quảng trường nơi cửa quán cà phê một người bồi đứng nhìn ra cái quảng trường vắng ngắt.

678 . HOÀNG XUÂN SƠN : TỨ NGÔN

                                                                                                           


 

t ứ n g ô n
_____________________


CẢM HỨNG

như bắt được vàng
là tôi hở hang
chiếc lá sơ ngộ
đất trời mang mang

KHÓI

từ hun khói biếc
xanh lam một nền
lẵng hoa tung tẩy
huyện về tên quen

XA

rồi người cũng xa
xa ta ta xa
chờ trong định lực
thu lệ vỡ òa

QUAY

sáng quay chong chóng
vịn một bình minh
thuần dương rịn ứa
di cảo một mình

VỠ

Neo nhau ra biển
Nước lại quay về
Quai thuyền đã vỡ
Hết một trần mê

LẮC

Tuổi ám vào mệnh
Con súc sắc mù
Một thần bốn mặt
U.    uu.    u.......


h o à n g x u â n s ơ n
tháng mười một, 2025


 

 

 

 

 

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

677 . NGUYỄN VY KHANH : Hoài Ziang Duy, Tác phẩm như cuộc hành trình đời.


 

Nhà văn Hoài Ziang Duy tên thật Thái Sanh Lợi, sinh năm 1948 tại Châu Đốc. Khởi viết rất sớm và từ 1965 có truyện và thơ đăng trên các nhật báo ở Sài-Gòn cũng như các tạp chí văn học. Sĩ quan Quân Đội VNCH, sau khi VC cưỡng chiếm miền Nam, ngày 9-5-1975, ông bị tù “cải tạo” 6 năm. Đến Hoa Kỳ theo diện H.O. năm 1991, định cư ở tiểu bang Virginia, làm việc cho Bưu điện liên bang cho đến khi về hưu. Ông khởi viết lại với truyện ngắn Nghe Chút Tình Chi Lạ đăng trên tạp chí Văn Học (số 100, 8-1994), làm chủ bút tuần báo Diễn Đàn Hải Ngoại và chủ trương tập san Thân Hữu, cộng tác với nhiều tạp chí hải ngoại – những tờ sau cùng là Thư Quán Bản Thảo, Ngôn Ngữ Văn Học Mới, cùng một số trang mạng. Ông mất tại Virginia HK ngày 1-6-2022.

Tác phẩm đã xuất-bản ở hải ngoại: - Ông Tướng Sang Sông (truyện; Alpha, 1999) - Lối Đi Dưới Lá Đời Thà Như Mưa (thơ; Thân Hữu, 2007) - Bốn Ngàn Năm Chen Lấn (truyện; Thư Ấn Quán, 2010) - Những Bài Thơ Tháng Tư (CD thơ; Thân Hữu, 2014) - Còn Không Chốn Quay Về (tự truyện; Thân Hữu, 2017) và Đứng Tựa Bên Đời (thơ, Hiện Diện, 2019). Ngoài ra, ông còn góp mặt trong các tuyển tập văn chương.

Sự nghiệp văn học của Hoài Ziang Duy không nhiều về số tác phẩm đã xuất bản cũng không gây biến cố, tranh luận, có vẻ bình yên như cuộc sống mới của ông và gia đình ở đất tạm dung, tuy vậy Hoài Ziang Duy trội bật và đặc biệt ở những thơ văn về đời lính tâm nguyện bảo vệ quê hương bị định mệnh tàn nhẫn cắt ngang mà di chứng vẫn kéo dài nơi quê người. Sĩ quan tác chiến Sư đoàn 9 Hoài Ziang Duy bị chiến thương nhiều lần và có lần bị rớt máy bay nhưng sống sót cùng chỉ huy là Đại tá Hồ Ngọc Cẩn (tháng 10-1972) – Ông kể lại trong Lần Theo Nỗi Chết, mà nay sau hơn 30 năm “vết lói phía lưng thỉnh thoảng khi trở trời thân thể yếu, làm mỏi, khó chịu khi nằm, ngược lại với hồi trước” (CKCQV, tr. 182).

676 . NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH . NGUYÊN YÊN. KHOẢNG TRỐNG GIỮA NHỮNG VÔ NGHĨA TỒN TẠI VÀ NHỮNG BẤT TỬ ĐÃ BỊ DẬP TẮT

Nguyễn Thị Khánh Minh: 

Nguyên Yên, khoảng trống giữa những vô nghĩa tồn tại và những bất tử đã bị dập tắt.


Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận trên Việt Báo ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn. Trong một trang thơ của Việt Báo, tôi đã giới thiệu về Nguyên Yên với đôi dòng cảm nhận như sau:

 “Một nhà phê bình văn học ngoại quốc đã nói đại ý: Nếu các nhà thơ hiện đại không có độc giả, họ có thể tạo ra độc giả. Đây thuộc vào phần lớn thi tài của nhà thơ. Để có được một bài thơ ra thơ, nghĩa là, được sinh ra từ cảm xúc thực, có sự mới lạ của chữ và nghĩa, và ít nhất là có nhạc thơ. Thơ hiện đại có khi nghiêng về lý sự mà coi nhẹ cảm xúc. Làm thế nào để một bài thơ mang tính triết lý, đầy suy tư cá nhân, gây được rung động, cảm xúc Thơ nơi người đọc?

Thơ Nguyên Yên có một gợi mở như thế.

Thơ của cô trầm tĩnh, đầy những suy tư, và táo bạo một cách sáng suốt để không phá đi thẩm mỹ từ của thi ngữ. Cô tôn trọng thi ngữ, cô triết lý bằng cảm xúc (là khi trái tim phỉnh cái đầu…), và vì vậy thơ vừa hiện đại vừa đầy chất thơ, và nhạc chữ rất riêng của thơ tự do, đọc lên, có được cảm xúc đọc một bài thơ, cảm được cái mới lạ của chữ, nghĩa, hình ảnh. Suy tư, trực diện, mà vẫn ánh lên nét thơ mộng, lãng mạn, đặc biệt là những bất ngờ ở cuối bài thơ. Đó là những yếu tố mà thơ Nguyên Yên đã chinh phục được người đọc, để tạo ra một lớp độc giả cho mình…” (Hết trích) (https://vietbao.com/a311042/dong-tho-nguyen-yen)

675 .THÂN TRỌNG SƠN . CHIỀU ƠI CHIỀU.

 


CHIỀU ƠI CHIỀU

 

Ca dao Việt Nam là một kho tàng vô tận ( và vô giá ): đủ mọi hình thức, thể loại, đề tài. Có khi chỉ nêu lên một kinh nghiệm sống. Cũng có lúc gợi đến một địa danh, một nhân vật / sự kiện lịch sử… Chỉ riêng những câu bắt đầu bằng hai tiếng “ chiều chiều “ cũng có thể kể đến trên năm mươi câu:

1. Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

2. Chiều chiều ra đứng bờ sông,

Trông về quê mẹ mênh mông nỗi buồn.

3. Chiều chiều ra đứng cửa sau,

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

4. Chiều chiều dắt mẹ qua đèo,

Chim kêu bên nớ, vượn trèo  n ni.

5. Chiều chiều đứng ngóng mỗi chiều,

Ngó con thuyền nhỏ lắc lều ngoài khơi.

6. Chiều chiều ra ngắm trời mây,

Ngóng ai nơi ấy, biết ngày nào duyên.

7. Chiều chiều ra bến sông sâu,

Muốn qua mà sợ, sông sâu đò đầy.

8. Chiều chiều ra đứng bờ đê,

Thấy anh đi kiểm mà mê tấm lòng.

9. Chiều chiều ra đứng cửa đình,

Thấy anh đội nón mà tình chẳng nguôi.

10. Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Ngó lên mấy núi mà đau tấm lòng.

11. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,

Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai.

12. Chiều chiều ông Ngự đi câu,

Cái ve, cái túi, cái bầu trên lưng.

13. Chiều chiều quạ nói với diều,

Vườn hoang cỏ rậm có nhiều gà con.

14.Chiều chiều ra đứng bờ sông

 Muốn về với mẹ mà không có đò.

 15.Chiều chiều chim rét kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

 16.Chiều chiều ra đứng lầu tây

Thy cô gánh nước tưới cây ngô đồng.     

17.Chiều chiều ai đứng hàng ba

Quần đen áo trắng nết na dịu dàng.

18.Chiều chiều bắt bướm đang bay

Bâng khuâng nhớ bạn, bạn rày nhớ ta.

19.Chiều chiều bắt nhâm cm câu

Nhái kêu cái cthảm sầu nhái ơi.

20.Chiều chiều bóng ngả về tây

Hỡi cô bán củi bên đầy bên vơi

Cô còn bán nữa hay thôi

Cho tôi bán với làm đôi vợ chồng.

21.Chiều chiều bước xuống ghe buôn

Sóng bao nhiêu gợn em buồn bấy nhiêu.

22. Chiều chiều buồn miệng nhai trầu

Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ.

23.Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau.

24.Chiều chiều con quạ lợp nhà

Con cu chẻ lạt, con gà đưa tranh

Chèo bẽo nấu cơm nấu canh

Chìa vôi đi chợ mua hành về nêm.

25.Chiều chiều dạo mát dưới trăng

Trông lên chỉ thấy chị Hằng ở trong.

26. Chiều chiều đứng bên Vân Lâu

Trông về Vĩ Dạ ruột đau chín chiều.

27.Chiều chiều mây phủ Sơn Trà

Sóng xô cửa Đại trời đà chuyển mưa

Công đâu công uổng công thừa

Công đi gánh nước tưới dừa Tam Quan.

28.Chiều chiều mây phủ về kinh

Ếch kêu giếng lạn cảm tình đôi ta

Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc như đèn mới khêu.

29. Chiều chiều bãi bể sóng xô

Dã tràng xe cát cơ đồ phù vân.

30. Chiều chiều ông Lữ đi cày

Trâu tha, gãy ách, khoanh tay ngồi bờ.

31.Chiều chiều én liệng trên trời

Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây.

32.Chiều chiều én liệng Truông Mây

Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

33.Chiều chiều én liệng cò bay

Khoan khoan hỏi bạn, bạn rày nhớ ai?

34.Chiều chiều én tiếng ngoài khơi

Thấy anh ba chốn, bốn nơi mà buồn.

35.Chiều chiều vịt lội bàu sen

Để anh lên xuống làm quen với nàng.

36.Chiều chiều xách giỏ hái rau

Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần.

37.Chiều chiều có kẻ thất tình

Tựa mái mái ngã, tựa đình đình xiêu.

38.Chiều chiều hoa trải góc đền

Muốn vô làm bé có bền hay không?

39.Chiều chiều hoa trải sập vàng

Điếu Ngô xe trúc sao chàng chẳng say.

40.Chiều chiều em đứng bên trông

Trông non non ngắt, trông sông sông dài

Trông mây mây kéo ngang trời

Trông trăng, trăng khuyết trông người ở xa.

41.Chiều chiều én liệng bờ kinh

Ếch kêu giếng lạnh thắm tình đôi ta.

42.Chiều chiều én liệng bờ sông

Hỏi thăm chú lái đò chồng em đâu?

Chồng em lên ngọn sông Ngâu

Buôn bè Mạn hảo năm sau mới về.

43. Chiều chiều én liệng cò bay

Bâng khuâng nhớ bạn, bạn rày nhớ ai?

Bạn rày nhớ củ, nhớ khoai

Nhớ cam, nhớ quýt, nhớ xoài cà lăm.

44.Chiều chiều gọt mướp nấu canh

Thấy anh qua lại bỏ hành lộn om.

45.Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Tay bưng cái rổ, tay dìu con thơ.

46.Chiều chiều lo by lo ba

Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên

47. Chiều chiều lửa cháy cơm sôi

Heo la, con khóc, chồng người nhậu say.

48.Chiều chiều mang giỏ hái dâu

Hái dâu không hái nhớ câu ân tình.

49.Chiều chiều mây phủ Hải Vân

Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn

Buồn riêng rồi lại tủi thầm

Hai tay áo vải ướt đầm cả hai.

50. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông cô hàng xóm ruột đau quá chừng.

51.Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ nồi cơm nguôi, nhớ niêu nước chè.

52.Chiều chiều lo by lo ba.

Lo cha mẹ già đầu bạc tuổi cao.

53. Chiều chiều ngư phủ đi câu

Sấm bắt ngư phủ biết đâu mà tìm.

54.Chiều chiều ông Lữ đi câu

Bỏ ve, bỏ chén, bỏ bầu ai mang.

55.Chiều chiều gọt mướp nấu canh

Thấy anh qua lại bỏ hành lộn om.

56.Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Tay bưng cái rổ, tay dìu con thơ.

 

THÂN TRỌNG SƠN

Tháng 12 / 2025