Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

878. ĐẶNG MAI LAN - Chiêm bao

 




Tôi thích được ngồi cạnh Ngữ. Ngữ là mẫu người nghe nhiều hơn nói, và nếu chẳng may có một người nào trong đám bằng hữu nhộn nhịp, phá phách tấn công tôi về một mặt nào đó, thì chắc chắn rằng anh sẽ không đủ mồm mép để bênh vực hay chống trả hộ tôi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy có một sự an tâm, một bao che mơ hồ êm ái nào đó khi ngồi gần anh. Như thể ngồi gần anh thì chẳng ai dám đụng tới tôi vậy. Và anh cũng thích ngồi cạnh tôi. Tôi biết rõ điều đó bằng trực giác bén nhậy của một phụ nữ, trong sự tương quan giữa tôi và anh. Còn những người bạn của chúng tôi họ có biết hay không  thì tôi không rõ lắm. Nhưng thường thì họ vẫn xếp cho tôi ngồi cạnh anh. Có lẽ theo khuôn mẫu trật tự về tuổi tác, vai vế.

Lần này không hiểu ai là người đã sắp đặt chỗ ngồi mà tôi lại không được ngồi cạnh Ngữ. Cũng không nhớ nổi ai đã ở bên tôi lúc đó. Hầu như chung quanh tôi rặt toàn đàn ông. Ngữ ở hàng ghế bên kia, đối diện tôi. Chúng tôi không nói gì được với nhau. Lâu lâu Ngữ nhìn tôi, anh và tôi chỉ gửi gấm đến nhau bằng những ánh mắt thầm kín như thế.

Căn nhà đầy người, đầy tiếng cười nói vọng lên từ nhà dưới, vườn trước, vườn sau. Mùa xuân, hoa nở đầy vườn. Tôi ngồi nhìn mãi những nhành hoa trắng vươn qua từ vườn nhà hàng xóm. Không biết người ngồi cạnh tôi đã bỏ đi đâu tự lúc nào. Cái ghế trống. Tôi thấy Ngữ đứng lên. Tôi nhìn theo, không biết anh đi đâu, làm gì. Nhưng chỉ một phút thôi tôi hiểu ra, đó chỉ là một cái cớ. Vì Ngữ đã quay trở lại và ngồi vào chiếc ghế trống ấy. Ngữ kéo cái ghế đẩy sát vào tường. Anh dựa lưng, cánh tay duỗi ra, hờ hững gác trên chiếc kệ thấp cạnh đó, sát bức tường sau lưng tôi. Nếu tôi ngã người ra phía sau một chút, chắc chắn là tôi sẽ ngã gọn trong tay anh. Tôi thích cái khoảng cách vừa xa vừa gần. Cái khoảng cách vừa lẳng lơ mời mọc, thách thức, lại vừa có vẻ hồn nhiên vô tội vạ. Và lòng tôi rộn lên một thứ cảm giác rạo rực, háo hức. Thứ cảm giác quyến rũ làm sao !

Ngữ hỏi tôi có muốn ra ngoài một chút không ? Tôi gật đầu và đứng lên theo anh. Tôi cũng muốn đi dạo và ngắm cảnh chung quanh, vì đây là nơi mà tôi đến lần đầu. Không khí bên ngoài có vẻ trong lành êm ả hơn. Những người khác sau khi ăn uống cũng tản mạn rủ nhau ra hết ngoài vườn. Góc này vài người đứng, chỗ kia thì vài người ngồi, ngã nghiêng, nhàn nhã trên những chiếc ghế thấp, có lọng dù che nắng.

877 . ĐINH TỪ BÍCH THÚY Nguyễn Đức Sơn, vòng quay sinh tử

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020) - Nguồn ảnh: Google image


Tôi bắt đầu tìm hiểu về Nguyễn Đức Sơn khi bất chợt đọc được đoạn văn nói về ông trong bài viết của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn trên báo Người Việt online (đăng ngày 11 tháng 11 năm 2006):
Thay vì “làm học trò không có sách cầm tay, có tâm sự đi nói cùng cây cỏ” (Ðinh Hùng), chàng trai mới lớn trong thơ Nguyễn Ðức Sơn giấu trong cặp “chiếc băng vệ sinh” nhặt được ở đâu đó ngoài đường.
Người đàn bà, người nữ, xuất hiện trong thơ Nguyễn Ðức Sơn, không mặt mũi nhan sắc, trước tầm nhìn (thôi, cứ coi là tình cờ) của chàng trai mới lớn, ngồi xuống và “em chưa đái mà hồn anh đã ướt”.
Hình ảnh Nguyễn Đức Sơn giấu trong cặp ‘chiếc băng vệ sinh’ vô danh/vô thừa nhận đã ám ảnh tôi từ lúc đó. Tại sao nhà thơ lại làm như vậy, đó có phải là một hành động “nữ quyền” đi trước thời đại hay còn một mục đích nào khác?
Sống, lớn lên, và học hành ở Mỹ, từ lúc viết và xuất bản trong tiếng Anh khởi sự từ năm 1991, tôi nghiễm nhiên coi mình là một người viết Mỹ gốc Việt. Những gì tôi biết về văn chương Việt Nam trước đó cũng không nhiều. Tôi đã tưởng rằng những nhà văn, nhà thơ Việt Nam trước thời tôi là những người phần nhiều cổ kính, mẫu mực, với gu thẩm mỹ và cách sống không khác bố mẹ tôi. Tuy đã đọc văn chương Tự Lực Văn Đoàn và thơ của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, và Lưu Trọng Lư, cung cách lãng mạn của thi văn Tiền Chiến cũng không làm thay đổi cái nhìn chung của tôi: lúc đó tôi nghĩ những nhà văn, nhà thơ của Việt Nam là những con người thơ mộng, u hoài, bị đè nén triền miên, và vì vậy tôi đi tìm sự tác động và nổi loạn trong văn học hiện đại của Hoa Kỳ và Âu Châu.
Điều mâu thuẫn (mà tôi không nhìn thấy lúc đó) là ngay trong lúc thấy mình được tự do khai phá trong giòng văn chương ngoại ngữ, tôi đã chọn cho mình một đời sống rất cung cách và bình thường. Thay vì nổi loạn, tôi đã theo học Luật, rồi ra trường và nhận việc làm trong một cơ sở thuộc ngành tài chánh của chính quyền Hoa Kỳ. Số phận di dân (con gái đầu lòng trong một gia đình có 6 người con) không cho phép tôi làm những chuyện ngông cuồng. Tôi nghĩ mình chỉ là một con người thực tế thích sự an toàn. Tôi theo nghề Luật và do đó đã chọn thái độ “nằm xuống” thay vì nổi loạn—theo nghĩa của Nguyễn Đức Sơn trong Ý Tưởng Chiều Tà–để không lâm vào cảnh “chết đói” của những sinh viên theo ngành chữ nghĩa chỉ vì không đủ khả năng học lấy bằng kỹ sư điện toán hay theo nghề thuốc. Đã từ nhiều năm, tôi vẫn hỏi mình câu hỏi không có lời giải đáp, mà về sau tôi mới biết cũng là câu hỏi của Heidegger trong Sein und Zeit (Hữu thể và Thời gian), và của Nguyễn Đức Sơn cùng những nhà văn miền Nam cùng thời với ông: “Làm sao để sống hết sức thực lòng trước những giới hạn của số phận?”
Ngoài chuyện cảm phục tác phong độc lập của một nhà thơ “quái dị,” tôi cũng muốn tìm hiểu thêm về Nguyễn Đức Sơn từ khía cạnh giới tính, vì tôi thấy ông đã đi xa hơn những nhà thơ Việt cùng thời khi diễn tả vai trò phụ nữ trong quá trình sáng tác của ông. Khi chứng kiến cảnh phụ nữ tiểu tiện, Nguyễn Đức Sơn không bị “chồn dạ” mà trái lại còn có vẻ bị mê hoặc bởi hình ảnh người con gái đẹp hành động vô tư theo bản năng:
Một Đêm Vàng
không biết trong mơ em còn mắc cở
một đêm vàng rúng động giấc thanh tân
dưới chăn chiếu thiên nhiên lồ lộ mở
em đái dầm ướt sẫm cả trần gian
(trong tập Đêm Nguyệt Động)
và, tương tự, nhà thơ sẽ hoặc đã “đến” khi chứng kiến
Vũng Nước Thánh
anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước
miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi
ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người
em chưa đái mà hồn anh đã ướt
(trong tập Đêm Nguyệt Động)

NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI - Ngô Thì Nhậm: Viết trong thời ly tán.

 

Ngô Thì Nhậm: Viết trong thời ly tán

Phan Tấn Hải

Đất nước Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ ly tán gay gắt, với nội chiến tàn khốc, như thời Trịnh-Nguyễn phân tranh của thế kỷ 17 và 18, như thời nhà Tây Sơn với quân đội Nguyễn Ánh của thế kỷ 18 và 19.  Sau nội chiến là trả thù và truy sát tàn bạo.

Bây giờ, may mắn, chúng ta đang sống trong thời hậu chiến, nhưng mắt nhìn lẫn nhau không chắc đã thân thiện. Tuy rằng quê nhà đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn còn ly tán. Chữ nghĩa có vẻ như là những quả thủy lôi đang thả lơ lửng trên dòng sông Bến Hải, nơi chúng ta dễ dàng chạm tới là sẽ bị nổ tan xác. Chúng ta đã thấy trong mấy tuần qua có một số nhà văn trong Hội Nhà Văn VN ở Hà Nội bị bắt vì một tác phẩm ca ngợi lãnh tụ viết theo một văn phong giới trẻ, chỉ vì không giữ văn phong truyền thống.

Trong thời kỳ như thế, tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng là một xuất hiện rất hy hữu, chạm vào những vết thương của rất nhiều người, gợi những ký ức mà phần lớn dân mình đôi khi chỉ tạm quên đi và tránh nhắc tới. Hơn nửa thế kỷ qua đã có rất nhiều chiếc ghe biến mất giữa biển. Hẳn là, sẽ có nhiều người nhìn về tác phẩm “Thuyền” từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người nói sao viết mơ hồ quá, như trên mây, không chạm được tới những đau đớn của những người đã từng ngồi trên các chiếc ghe liều thân ra đi. Có người nói đây là văn phong thơ mộng, dòng ý thức. Và vân vân. Tôi chưa đọc, xin thú thật, nhưng được nhà văn Nguyễn Đức Tùng dặn là cứ lên nói, nghĩ gì nói đó. Do vậy, xin có vài lời. Bài viết này là những suy nghĩ rải rác nhiều năm qua trong khi nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm, người cuối đời là Thiền sư Hải Lượng, bây giờ xin gom lại.

Hãy nhìn về lịch sử quê nhà. Trong các thời kỳ nội chiến hay sau nội chiến, rất nhiều tác phẩm văn học không muốn nói tới lịch sử. Phần lớn, tôi nghĩ, tác giả thấy đau đớn quá. Bên nào cũng có người thân. Thời phân tranh Trịnh-Nguyễn (1627–1775), và rồi thời kỳ nội chiến giữa nhà Tây Sơn (trong đó có vua Quang Trung) và Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) các năm (1771–1802). Sau nội chiến là truy sát, những người sống sót chạy vào thật xa ở Miền Nam, đổi tên họ và ẩn thân.

Hãy suy nghĩ xem: văn học trong thời kỳ lòng dân ly tán đó, những gì nên được viết ra và những gì chạm được vào lòng người? Có nhiều kiệt tác văn học đã xa lìa chính trị để duy trì lập trường trung lập tuyệt đối, giữ  tinh thần nhân đạo phản chiến hoặc thái độ phản kháng thầm lặng. Bởi vì khi khi bị nhận định là công khai chống lại triều đình, người viết có thể nguy cơ bị chém đầu và tru di tam tộc ngay lập tức; đó là lý do các tác giả hiếm khi trực tiếp kêu gọi ân xá hay hòa giải.

Để hình dung mức độ căng thẳng, chúng ta có thể nhớ tới chuyện này. Bạn hãy còn nhớ rằng Đặng Trần Thường (khai quốc công thần của Vua Gia Long) đã dùng roi tẩm thuốc độc đánh Ngô Thì Nhậm (nguyên Binh bộ Thượng thư triều Tây Sơn) ở Văn Miếu (Hà Nội) năm 1803 để vài ngày sau, họ Ngô từ trần, bất kể bấy giờ Ngô Thì Nhậm đã xuất gia, trở thành một nhà sư ẩn dật.  Điều bi hài là: Đặng Trần Thường thời trẻ từng học chữ Nho với cụ Ngô Thì Sĩ, thân phụ của Ngô Thì Nhậm.

Tôi nghĩ rằng, tác phẩm nói lên mức độ phản chiến cao điểm nhất là "Chinh Phụ Ngâm" của Đặng Trần Côn. Thi tập này được viết nguyên bản bằng chữ Hán và sau đó được các danh sĩ như Đoàn Thị Điểm dịch sang chữ Nôm, kiệt tác này là một cột mốc quan trọng thể hiện tinh thần trung lập và phản chiến. Thay vì ca ngợi các chúa Trịnh hay chúa Nguyễn vì những chiến dịch quân sự của họ, bài thơ dài tập trung hoàn toàn vào nỗi đau đớn, sự cô đơn và những tổn thương tâm lý của người vợ có chồng phải ra trận. Bằng cách gạt bỏ những lý lẽ biện minh cho cuộc chiến và làm nổi bật nỗi đau thương mang tính nhân bản, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” đã lặng lẽ phơi bày sự vô nghĩa của các cuộc nội chiến.

“Chinh Phụ Ngâm” dài 476 câu thơ, là một tác phẩm phản chiến lớn hàng đầu, nếu không phải là lớn nhất, của dân tộc Việt Nam. Cả trong bản chữ Hán và trong bản dịch chữ Nôm đều tuyệt vời. Bài thơ là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người bước vào chiến trường. Yêu nước tất nhiên ai cũng yêu nước, nhưng cuộc chiến nào cũng rất mực bi thương.

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm tầng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này

Đặng Trần Côn viết nguyên tác bằng chữ Hán vào khoảng đầu đời Cảnh Hưng (thập niên 1740), thời vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Doanh.  Đây là giai đoạn cung đình Lê - Trịnh khủng hoảng trầm trọng. Triều đình liên tục phát động các cuộc hành quân trấn áp, chinh phạt các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài (như khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương...).  Người chồng (chinh phu) bị bắt lính ra trận không phải để giữ gìn bờ cõi trước giặc ngoại bang, mà là xông pha vào những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm bảo vệ quyền lực và ngai vàng của nhà vua. Do vậy, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” mang đậm tinh thần phản chiến.

Xin cảnh giác, tôi không phải sử gia, tôi chỉ suy luận trong cương vị một người sáng tác. Và không có gì chắc chắn rằng tôi nhận định đúng 100%, kể cả chuyện xưa và chuyện nay.

Tương tự, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du cũng thế, cũng là một tác phẩm mang tinh thần phản chiến. Chúng ta còn nhớ rằng gia tộc họ Nguyễn đã chia hai phe – một bên theo Tây Sơn, và một bên theo Nguyễn Ánh. Cuộc nội chiến dai dẳng tới mức kinh hoàng, có một thời kỳ Nguyễn Du lưu vong ba năm trên đất Trung Hoa, mặc áo nhà sư du hành tới các chùa. Bản thân Nguyễn Du đã trực tiếp trải qua sự sụp đổ của triều Lê, sự hưng vong của triều Tây Sơn và thắng lợi cuối cùng của vua Gia Long. Nguyễn Du luôn bị giằng xé sâu sắc giữa lòng trung thành với chế độ cũ và việc phải phục vụ triều Nguyễn mới. Ông đã gửi nỗi trăn trở đạo đức sâu sắc này vào tác phẩm "Truyện Kiều". Nhân vật chính (nàng Kiều) liên tục bị buộc phải đánh đổi danh dự và thích nghi với những hoàn cảnh nghiệt ngã, đầy biến động chỉ để tồn tại.

Hãy thấy, câu chuyện của nàng Kiều là một ẩn dụ lớn lao về tầng lớp trí thức Việt Nam --- những người phải xoay xở giữa những cuộc chuyển giao đẫm máu và khắc nghiệt của nội chiến mà không thể chọn dứt khoát một phe phái chính trị nào. Xin cảnh giác lần nữa: Đây cũng chỉ là một suy đoán, vì tôi không phải sử gia. Bạn thử suy nghĩ xem: tại sao lại đoạn trường, đứt ruột? Tại sao nhan đề Truyện Kiều còn là Đoạn Trường Tân Thanh (tiếng kêu mới đứt ruột)? Phải là người chứng kiến những cuộc thảm sát giữa gia tộc, giữa các bạn học, và giữa đồng bào mình mới thấy đứt ruột. Chứ không phải cô Kim Vân Kiều thời nhà Minh nào hết. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Du viết sơ hở, nếu để bị đấu tố là kể như sẽ bị chém đứt đầu.

Nêu lên những chuyện như thế để thấy rằng có những vị trí thức đã từ bi, đã suy nghĩ tới những cách hòa giải nội chiến. Hãy thấy những thảm sát tàn khốc, những chấn thương tâm lý từ nội chiến và nỗi thống khổ lan rộng trong xã hội đã tác động sâu sắc đến Ngô Thì Nhậm, và ngài chuyển mình thành một thiền sư và trở thành một tác giả biên soạn sách Thiền; lựa chọn này là từ một chiến lược lớn lao hơn: hòa giải vì tồn vong của dân tộc và phương tiện là thống nhất tư tưởng tại Việt Nam.

Ngô Thì Nhậm không tìm đến Phật giáo như một cách trốn tránh thụ động trước cảnh nội chiến. Thay vào đó, ngài chủ động lựa chọn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – một dòng thiền bản địa – để xây dựng điểm tựa tinh thần và văn hóa, nhằm hàn gắn một xã hội đang bị chia rẽ. Ngô Thì Nhậm là một vị quan tài năng từng phục vụ cả Chúa Trịnh lẫn triều đại Tây Sơn. Ngài đã tham dự, chứng kiến ​​hàng thập niên biến động quyền lực, đã phi ngựa trên các xác người, và đã đứng giữa các chiến trường máu chảy thành sông.

Sau cái chết đột ngột của vua Quang Trung vào năm 1792 và sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm nhận ra rằng đất nước cần hòa bình và hàn gắn. Nho giáo thuần túy đã thất bại trong việc ngăn chặn cảnh huynh đệ tương tàn. Do vậy, Ngô Thì Nhậm ra sức khôi phục thiền phái Trúc Lâm (có từ thế kỷ 13) – dòng thiền duy nhất mang đậm bản sắc Việt Nam, hy vọng Phật giáo sẽ làm mọi người xa lìa sát sanh, sẽ bẻ gãy cung kiếm để nhận lại anh em một nhà. Đó là lý do Ngô Thì Nhậm trở thành một Thiền sư dòng Trúc Lâm, và viết sách dung hợp Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo thành một thế giới quan thống nhất, để chữa lành những vết thương lòng của người dân, khôi phục văn hóa bản địa và dẫn tới hòa hợp hòa giải dân tộc.

Tới thời của chúng ta, sau nửa thế kỷ thống nhất đất nước, lòng dân còn ly tán, phần lớn còn đau đớn, chưa hàn gắn hoàn toàn. Theo tôi thấy trong cách chủ quan: Tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng (do Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội ấn hành) chính là một nỗ lực dùng văn chương để dịu dàng hàn gắn giữa một thời đại mà lòng dân vẫn còn nhiều rạn nứt.

Việc một cuốn sách khai thác đề tài thuyền nhân---vốn là một trong những vùng ký ức đau buồn nhất lịch sử Việt Nam hiện đại---được cấp phép và ra mắt chính thức trong nước là một hiện tượng hy hữu. Tôi chưa đọc cuốn sách này của Nguyễn Đức Tùng,  nhưng dư luận cho thấy tính cách hy hữu như thế. Có người sẽ nói rằng sách chưa đủ rùng rợn, chưa như đời thực. Có thể như thế, hẳn là như thế.

Tôi nhìn lại dòng lịch sử dân tộc mình, và đã thấy các tác giả xưa còn tránh né chuyện nhạy cảm rất là xa, không dám nói minh bạch cho độc giả hiểu. Ngày xưa, các cụ viết văn phản chiến trong một cách rất xa vời, kiểu như là nói chuyện rất xa xưa bên Trung Hoa chứ không phải chuyện nước mình. Các cụ Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du... đều hiểu rõ cái giá phải trả rất đắt khi kêu gọi hòa bình trong thời nội chiến, và các cụ phải viết trong một cách “chỉ về hướng Đông mà nói chuyện hướng Tây” để tác phẩm có thể được chuyền tay nhau, để mời nhau đọc.

Trong thời hiện nay, tôi tin rằng nhà văn Nguyễn Đức Tùng đã viết tiểu thuyết “Thuyền” với một thiện ý. Xin nhắc rằng, tôi chưa đọc, nhưng tôi tin như thế, theo nhận định của nhiều nhà phê bình, và tôi sẽ đọc đêm nay. Tôi không so sánh anh với các nhà văn của các thế kỷ trước. Tôi chỉ muốn nói rằng anh đang muốn bước qua một bãi mìn nơi vĩ tuyến 17 để hàn gắn, để chữa lành.

Tôi hy vọng rằng, trong một thời gian gần, bao lâu nữa thì tôi không thể biết, tôi tin rằng thiện ý của tất cả chúng ta sẽ làm rỉ sét, sẽ làm tắt ngúm tất cả các quả mìn còn sót lại dù ở bất kỳ nơi nào trên quê nhà. Và muốn như thế, đó phải là thiện ý của tất cả chúng ta.

Hãy cầm bút lên, và hãy sáng tác với thiện ý. Y hệt như Ngô Thì Nhậm, sau khi rời chiến trường là về mặc áo nhà sư, cầm bút viết những dòng chữ có thể giúp toàn dân, bất kể họ đã từng mặc bất kỳ trang phục binh giáp nào, đều có thể yêu thương nhau hơn, và mở được mắt trí tuệ để nhìn thấu suốt qua bờ giải thoát.

 

876 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG phổ thơ NGUYỄN MINH NỮU - HÁT RONG GIỮA ĐỜI

 


 
 HÁT RONG GIỮA ĐỜI. 
 Thơ Nguyễn Minh Nữu 
 Nhạc Nguyễn Quyết Thắng.
 Trình Bày QUANG ĐẠT - MINH CHIẾN

875 . NGUYỄN QUYẾT THẮNG phổ thơ THÁI TRUNG - NGOÀI PHỐ

874 . LÃNG THANH - MẪU TỬ TÌNH THÂM.

 


Thời gian nhuộm mái tóc má, giờ trắng phơ như mây trời. Tháng năm xóa đi sự tươi trẻ, làn da nay in đậm những dấu ấn nhăn nheo. Đôi mắt má không còn trong như lúc thanh xuân mà đã mờ nhạt màu mây. Mình đau xương nhức, đi đứng liêu xiêu…

Mỗi làn nói chuyện với má, ánh mắt má xa xăm diệu vợi như lạc vào cõi hư vô. Giờ má nói chuyện như một cái máy thâu sẵn, nhớ đâu nói đó, chuyện nọ xọ chuyện kia. Căn bệnh mất trí nhớ của người già đã làm cho má không còn ý thức được nội dung câu chuyện. Má chỉ nói theo ký ức còn lưu giữ trong tâm thức. Dường như tất cả những người già đều sống nhiều với dĩ vãng hơn là hiện tại. Má cũng thế, kể cũng lạ, chuyện trước mắt thì không nhớ mà chuyện từ xa xăm lại không quên. Điều này chứng tỏ bệnh lú lẫn của người già không thể xóa hết những ký ức cũ, ký ức cũ chính là “chủng tử” lưu trong A lại da thức. A Lại Da thức còn được gọi là hàm tàng thức, nghĩa là cái kho cất giữ lưu chứa tất cả những niệm của con người, có thể là niệm của một đời, niệm nhiều đời. Cái kho ấy chứa tất cả những hạt giống thiện, ác, trung tính của mỗi con người.

Khoa học nói: “Năng lượng không tự sinh ra và cũng không mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Ví như điện có trong than đá, dầu lửa, nước, gió…Con người chế ra những máy móc để “bắt” được nguồn điện và dùng điện vào sản xuất hay sinh hoạt của đời sống. Dòng điện khi được xài thì nó sẽ chuyển thành nhiệt năng, cơ năng… chứ nó đâu có mất đi. Con người ta cũng thế, khi thân xác này tan hoại nhưng những ký ức từ A lại da thức đâu có mất đi, nó sẽ chuyển biến từ dạng thức sống này sang dạng tức sống khác, hình tướng khác…cũng như dòng điện chuyển từ dạng này snag dạng khác. Dòng điện vốn không có sẵn nhưng vẫn hiện hữu trong gió, nước, than đá. Sự sống sanh ra nhưng thật là không sanh, sự sống mất đi nhưng thật chẳng mất mà chỉ chuyển từ thân này thành thân khác. Cơ chế hoạt động của tâm thức rất vi diệu, khoa học hiện đại cũng không làm sao biết được cho dù có dùng đến những phương tiện máy học hiện đại như điện não đồ hay các loại máy móc tinh vi nhất. Khoa học chỉ có thể nói mất trí nhớ là do những tế bào thần kinh chết đi mà những tế bào mới sanh ra không bù đắp được. Không thể biết trước khi về già ai sẽ minh mẫn đến phút cuối hay ai sẽ bị bệnh mất trí nhớ.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

873. Tranh Đinh Cường: Phác thảo chân dung Lãm Thúy.

Phác thảo chân dung Lãm Thúy
Tranh Đinh Cường - 26.10.2014

872. LÃM THÚY (1952-2026): 5 BÀI THƠ

Phác thảo chân dung Lãm Thúy
Đinh Cường (26.12.2014)

MÙA ĐÔNG ĐẤT KHÁCH
 
Buổi sáng uống ly trà lạnh
Nghe mùa đông chợt dài hơn
Chiều về nghe chim vỗ cánh
Chạnh lòng ta nhớ cố hương
 
Chẳng biết xưa người lữ khách
Châm điếu thuốc buồn ra sao?
Chẳng biết xưa nơi đất Trích
Tráng sĩ sầu như thế nào?
 
Chỉ biết ta buồn quá đỗi
Ngó mây bay cũng nhớ nhà
Đêm nằm, lặng nghe gió thổi
Thương gì thương đến xót xa !
 
Nhiều khi thoáng nghe đâu đó
Mùi hương  nguyệt quế trong vườn
Nhiều khi trên từng lá cỏ
Chở đầy nỗi nhớ quê hương
 
Nhớ nhánh sông mùa nước lũ
Nhớ bờ lau sậy lưa thưa
Nhớ cây Bằng lăng vườn cũ
Mương bèo, rụng tím mùa hoa
 
Chiều lạnh, mùa đông đất khách
Thương cha, nhớ mẹ, nghẹn ngào
Chẳng biết chim nào chim Vịt
Kêu chiều, thảm não như nhau.
 
ĐÊM Ở SÀI GÒN QUÁN
Đêm ở Sài gòn Quán
Gặp gỡ người tài hoa
Nghe Đinh Cường khen tặng
Thơ Mẹ, tình thiết tha.
 
Cảm ơn Nguyễn Minh Nữu
Và Mai, cô vợ hiền
Nhắc chuyện mười năm cũ
Đọc câu thơ hồn nhiên ( 1 )
 
Nghe chuyện Kim Các Tự
Nhà sư trẻ đốt chùa
Cảm ơn anh Trương Vũ
Nói những điều sâu xa…
 
Xưa, thuở còn trẻ dại
Đọc.  Chẳng hiểu chi nhiều
Chỉ biết nhà sư ấy
Chà đạp người diễm kiều
 
Phải chăng vì quá yêu
Người ta muốn hy diệt
Để muôn đời mang theo
Sâu kín niềm tưởng tiếc?
 
Cảm ơn Phạm Cao Hoàng
Tiếng trầm như nốt nhạc
Thắp lên niềm hân hoan
Giữa miền sầu chất ngất.
 
Đọc mấy câu “Tàn Thu” ( 2 )
Hỏi người bao nhiêu tuổi?
Hăm mấy mà làm như
Hơn nửa đời tàn rụi!


Đêm ở Sài Gòn  Quán
Nói chuyện thơ, chuyện người
Với chị Sơn mới gặp
Mà như quen lâu rồi
 
Về một mình, đêm lạnh
Gió thu làm bâng khuâng
Nghe niềm vui chắp cánh
“Chắt chiu những ân cần”.
 
Maryland 17-11-2014
( 1 ) Thơ Lãm Thúy:
Sáng nay thức dậy hết hồn
Người xa ta vạn dặm đường, còn đâu.
( 2 ) Thơ Phạm Cao Hoàng:
Ngậm ngùi nghe gió mùa thu tạt.
Ngó lại đời ta đã nửa đời
 
THƯ CHO ÚT PHỦ


Từ lâu. Chị vẫn thường ấp ủ
Những mong nói với Út đôi lời
Anh chị bây giờ xa cách cả
Chuyện nhà, trông cậy Út mà thôi
 
Chị biết lắm khi em bực dọc
Thân trai tù túng việc tề gia
Em ơi! Hãy nhớ niềm lao nhọc
Một đời. Cha mẹ đã vì ta…
 
Em còn trẻ quá, cần bay nhảy
Nuôi người bệnh hoạn. Dễ gì đâu!
Khổ nỗi, nhà mình đơn chiếc vậy
Không nhờ em, còn biết làm sao?
 
Cha mẹ già thường sinh cáu gắt
Cũng đừng hờn giận. Chị xin em
Mỗi ngọn lửa hờn em dập tắt
Là một hồng ân trên phước duyên.
 
Người bảo: Hai vai ta dẫu cõng
Mẹ cha đi khắp cả tinh cầu
Cũng chưa đền được ơn sâu nặng
Huống gì nhịn nhục một đôi câu…
 
Em còn được ở bên cha mẹ
Là phước ngàn đời. Em biết không?
Lỡ khi ngày tắt, chiêu dương xế
Đời ta. Bóng tối sẽ vô cùng!
 
Ai không được ở gần cha mẹ
Là mất đi suối mật, rừng hương
Là nỗi thiệt thòi không xiết kể
Là niềm bất hạnh, là tai ương!
 
Chị vốn không may: đời bạc phước
Tự năm mười tuổi đã xa nhà
Tuổi thơ thiếu mẹ sầu như nước
Bao chiều ngồi khóc, ngó về xa…
 
Thảm cảnh. Làm sao em hiểu được
(Một đời bên gối mẹ nâng niu!)
Có đâu như chị mười năm ngót
Thiếu vắng vòng tay mẹ sớm chiều…
 
Thuở ấy, mỗi năm về hai bận
Hè đi. Đợi mãi tận sang xuân
Ngày vui bên mẹ sao mà ngắn
Mỗi lần đi, đứt ruột một lần!
 
Những sớm còn vương hơi ấm mẹ
Còi xa. Tàu dã giục lên đường
Hành trang trĩu nặng vai thơ trẻ
Ngập ngừng chân bước, lệ tuôn tuôn…
 
Những cuộc chia ly về sáng ấy
Buồn không thể tả. Buồn vô biên.
Ba mươi năm. Giòng đời trôi chảy
Niềm rưng rưng ấy vẫn còn nguyên
 
Đời chị có bao lần chia biệt
Đã trăm lần tiễn, vạn lần đi
Nhưng hồi còi cũ buồn thê thiết
Của chuyến tàu khuya còn khắc ghi.
 
Đời.  Qua bằng những lần ly biệt
Kéo dài như thế suốt mười năm
Trở về bên mẹ. Vui chưa hết
Lại lấy chồng. .Xa đến mấy lần!
 
Mười năm, cũng bởi đời dâu bể
Được về nương náu với từ thân
Mười năm. Chị nuốt bao nhiêu lệ
Bởi đời cay đắng, bởi thăng trầm!
 
Rồi lại thêm lần chia biệt nữa
Ngày đi. Ôm mẹ, chẳng đành buông
Cứ xa thêm mãi, giờ xa quá
Tính lại đường bay, chợt hết hồn!
 
Đã muôn trùng vậy, làm sao gặp?
Nửa vòng trái đất_ mấy trùng dương…
Nhớ nhà, ra đứng trông trời đất
Đâu biết phương nào vọng cố hương!
 
Anh chị mỗi người đi mỗi chỗ
Nhọc nhằn phụng dưỡng để mình em
Ơn ấy ngàn đời xin ghi nhớ
Chưa biết làm sao để đáp đền.
 
Chị biết:  em là người hiếu đạo
Không nề khó nhọc, chẳng than van
Nói đây, không phải lời khuyên bảo
Tự dưng tâm sự bỗng tuôn tràn
 
Có lẽ chiều nay trời trở lạnh
Xui lòng nhớ quá nắng chiều quê
Xót Út chốn quê mùa quanh quẩn
Trách nhiệm hai vai gánh nặng nề
 
Út à. Giờ cha già mẹ yếu
Chuyện nhà phó thác một tay em
Nhân sinh hữu hạn, mong em hiểu
Gắng giữ giùm nghe, những ngọn đèn!
 
TỪ NAY THẾ GIỚI VẮNG ĐINH CƯỜNG


Chị Ý báo tin buồn. Thứ bảy
Lặng người không nói . Nói gì hơn?
Anh không ở nữa thì thôi vậy
Từ nay thế giới vắng Đinh Cường!
 
Có nghĩa là không còn nét vẽ
Những người thiếu nữ dáng như mơ
Những người thiếu nữ xanh như liễu
Rất mỏng manh và rất đỗi Thơ!
 
Có nghiã từ đây Sài Gòn Quán
Sẽ trống đi thêm một chỗ ngồi
Gặp nhau , dù có bao nhiêu bận
Không ai còn có thể nào vui!
 
Sẽ nhớ , dù sức tàn , lực kiệt
Cũng gom tàn lực để mà đi
Cố đến cùng bạn bè thân thiết
Chua xót nhìn nhau biết nói gì?
 
Có nghiã lần sau ra mắt sách
Không còn ai viết tặng bài thơ
Nét vẽ vội vàng trong khoảnh khắc
Gói lòng trân quý có ai ngờ!
 
Có nghiã từ đây trên kệ sách
Những người thiên cổ đã tương phùng
Chỉ có riêng mình ta thống trách
Giận rằng không gặp lúc lâm chung!
 
Giận không gửi bài thơ viết sẵn
Bây giờ còn biết gửi cho ai ?
Bảo biết lâu rồi đời ngắn lắm
Vậy mà để muộn mãi không hay!
 
Đêm nay gió lạnh nhiều , Anh ạ
Mở cửa ra nhìn bông tuyết bay
Chợt nhớ , lòng sao sầu thảm quá
Chỗ ấy đêm nay chắc lạnh đầy!
 
Cõi ấy , một mình đêm buốt giá
Từ nay sẽ lạnh đến thiên thu
Nhưng niềm thương tiếc bao la quá
Mong ấm lòng Anh cuộc viễn du.
           
January 12, 2016
 
MẸ ƠI, VĨNH BIỆT


Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!
 
Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!
 
Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…
 
Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!
 
Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!
 
Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!
 
Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!
 
Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!
 
Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!
 
Lãm Thúy 

                           

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

TIN BUỒN: NHÀ THƠ LÃM THÚY ĐÃ ĐI XA,

                                                                                    


                      Nhà thơ LÃM THÚY  ( 1952-2026)

TIN BUỒN.

Tin mới nhận, Nhà thơ Lãm Thúy, một tác giả rất quen thuộc với giới cầm bút Hoa Kỳ vừa đột ngột rời xa chúng ta ngày hôm qua. Bản tin ngắn do Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ vừa thông báo ngắn rằng:

"Vô cùng đau buồn thông báo đến tất cả anh chị em trong GIA ĐÌNH VBVNHN VÙNG ĐÔNG BẮC HK:

Thủ quỹ LÃM THÚY một hội viên tài năng, dễ thương, hiền hòa thân yêu của chúng ta đã ra người thiên cổ. LÃM THÚY đã đột ngột bỏ chúng ta ra đi một cách bất ngờ. Tuy LÃM THÚY bỉ bệnh đã lâu nhưng vẫn OK KHÔNG CÓ DẤU HIỆU GÌ ĐỂ CÓ THỂ NGHĨ LÀ LÃM THÚY SẼ BỎ CHÚNG TA RA ĐI NHANH CHÓNG , BẤT NGỜ NHƯ VẬY.

Xin các anh chị cầu nguyện cho LÃM THÚY được về cõi niết bàn. Có CÁO PHÓ hoặc tin tức gì thêm HT sẽ xin thông báo tiếp.Thân mến

Hồng Thủy".

 Chúng tôi đang chờ tin tức cụ thể và cáo phó của gia đình.

Chân Thành chia buồn cùng tang quyến và thương tiếc tiễn đưa một bạn văn thân thiết vừa rời xa chúng ta .


Nhà thơ Lãm Thúy
Photo by PCH - New Jersey, tháng 5.2017

                                                MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA 
                           Nhà thơ LÃM THÚY  ( 1952-2026)


871. TRÚC TIÊN ( PARIS) Ngồi quán cà phê Paris,

                                                            


                 

Ngồi quán cà phê Paris, 

người ta có thể một mình mà không cô độc.” 

– Jean-Paul Sartre. 

 

Có lẽ vì thế mà nhiều người rời Paris rồi vẫn nhớ những quán cà phê của thành phố này. Không phải vì ly “café noir” nhỏ trên bàn, mà vì cảm giác được ngồi thật lâu giữa đời sống đang trôi qua trước mắt mình. Một người ngồi xoay nhẹ tách cà phê trong tay. Một ông lão im lặng bên tờ báo sáng. Những chiếc ghế quay ra vỉa hè như thể điều quan trọng nhất không nằm trong quán, mà là thành phố ở phía trước mặt.

Và có lẽ, chính trong những khoảnh khắc rất bình thường ấy, người ta hiểu Paris nhiều hơn bất kỳ cuốn sách hướng dẫn du lịch nào.




“Nếu tuổi trẻ của bạn từng thuộc về Paris, thì suốt phần đời còn lại, Paris sẽ luôn ở trong bạn”. Ernest Hemingway                

Những chiếc ghế luôn quay ra đường

Buổi sáng ở Paris bắt đầu khá chậm. Khoảng tám giờ, các quán cà phê quanh boulevard Saint-Germain bắt đầu đông dần. Người phục vụ kéo ghế ra ngoài terrasse, lau những chiếc bàn tròn còn lạnh hơi sương đêm. Một ông lão mang theo cuốn tiểu thuyết còn gấp dở dưới cánh tay. Một cô sinh viên đặt máy tính xuống bàn rồi gọi café crème. Một người đàn ông mặc vest đứng uống nhanh ly espresso ở quầy rồi đi mất.

Cà phê Kléber – place Trocadéro

Nhưng cũng có những người ngồi lại rất lâu. Điều đặc biệt ở các quán cà phê Paris là cách người ta nhìn ra phố. Những hàng ghế ngoài terrasse gần như luôn hướng về phía dòng người qua lại, nơi tiếng xe buýt, tiếng giày trên vỉa hè và những cuộc trò chuyện nhỏ hòa lẫn vào nhau. Thành phố trở thành một phần của quán cà phê – hay có lẽ, quán cà phê chỉ là một cách khác để ngồi giữa thành phố.

Những chiếc ghế luôn quay ra đường…

Một tách cà phê kéo dài cả buổi sáng

Paris không hẳn có cà phê ngon nhất thế giới. Người Ý có thể phản đối. Người Việt Nam chắc cũng không đồng ý. Nhưng điều Paris có, là nghệ thuật ngồi với ly cà phê của mình. Một tách espresso nhỏ có thể nằm trên bàn suốt cả tiếng đồng hồ. Người phục vụ không thúc giục. Không ai nhìn người khác khó chịu vì ngồi quá lâu. Dường như ở đây, thời gian được kéo dài ra thêm một chút.

Café Central – 40 rue Cler – Paris 7

Có lần tôi ngồi gần hai tiếng ở một quán nhỏ gần Café de Flore. Bàn bên cạnh là một cô gái trẻ đang đọc tiểu thuyết. Cô gần như không gọi thêm gì ngoài một ly cappuccino đã nguội từ lâu. Thỉnh thoảng cô ngẩng đầu nhìn dòng người ngoài phố vài giây rồi lại cúi xuống đọc tiếp. Không ai làm phiền cô. Không ai hỏi vì sao cô ngồi lâu đến thế. Ở nhiều thành phố khác, việc ngồi lâu như vậy dễ khiến người ta cảm thấy áy náy. Nhưng ở Paris, đó gần như là chuyện bình thường.

“Paris lúc nào cũng là một ý tưởng đẹp” – Audrey Hepburn

Những quán cà phê và giới văn nghệ sĩ

Từ rất lâu, quán cà phê ở Paris không chỉ là nơi để uống cà phê, mà còn là nơi để viết, để tranh luận và trao đổi ý tưởng. Có những bài báo, bản thảo văn chương, thậm chí cả tư tưởng chính trị đã từng được bàn luận quanh những chiếc bàn nhỏ ngoài vỉa hè, giữa tiếng muỗng chạm vào thành tách và dòng người qua lại ngoài phố.

Cà phê Flore lúc 10g sáng

Café de Flore – nơi người ta ngồi để suy nghĩ: Café de Flore ra đời từ cuối thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là một quán cà phê nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés. Nhưng theo thời gian, quán dần trở thành điểm hẹn của giới văn nghệ sĩ và trí thức Pháp. Sau Thế chiến thứ hai, Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường ngồi ở đây hàng giờ để viết, tranh luận và nhìn dòng người qua lại ngoài phố.

Điều đặc biệt ở Café de Flore không chỉ nằm ở lịch sử hay những tên tuổi từng ngồi ở đó, mà ở cảm giác quán gần như không thay đổi giữa một Paris luôn chuyển động. Mái hiên đỏ, những hàng ghế sát boulevard Saint-Germain, ánh đèn vàng bên trong – tất cả vẫn giữ lại không khí của một Paris trí thức và văn chương xưa cũ.

Người ta đến Café de Flore không hẳn để tìm một ly cà phê ngon nhất Paris, mà để ngồi giữa một nơi từng chứng kiến biết bao cuộc trò chuyện, bản thảo và suy nghĩ đã đi qua thế kỷ XX.

Les Deux Magots là hiện thân của một Paris văn chương và quán cà phê. Mở cửa từ năm 1885

Les Deux Magots – quán cà phê của văn chương: Chỉ cách Café de Flore vài bước chân là Les Deux Magots. Tên quán nghe lạ. “Deux Magots” nghĩa là “Hai pho tượng Trung Hoa”, vì bên trong quán từng có hai pho tượng trang trí từ thời nơi này còn là một cửa hàng bán lụa phương Đông. Nhưng theo thời gian, cái tên kỳ lạ ấy lại trở thành một phần lịch sử văn học Pháp.

Trước chiến tranh, nhiều nhà văn và nghệ sĩ đã chọn nơi này làm điểm hẹn: Ernest Hemingway, Pablo Picasso, Albert Camus… Khác với Café de Flore có vẻ trí thức và chính trị hơn, Les Deux Magots mang không khí văn chương rõ hơn. Người ta đến đó để viết, để đọc, để ngồi nhìn mưa rơi trên Saint-Germain trong nhiều giờ liền.

Đến nay, quán vẫn trao giải văn học Prix des Deux Magots hằng năm – như một cách giữ lại mối liên hệ giữa quán cà phê và văn chương Paris.

Hai pho tượng Trung Hoa ở Les deux Margots

La Closerie des Lilas – nơi Ernest Hemingway từng viết: Nếu Saint-Germain là khu của những triết gia và trí thức Pháp, thì La Closerie des Lilas lại thuộc về các nhà văn Mỹ lưu vong đầu thế kỷ XX”.

Nằm gần Montparnasse, quán từ lâu đã là điểm hẹn của nhiều nhà văn và nghệ sĩ thế giới. Người ta vẫn còn giữ nguyên chiếc bàn Hemingway từng ngồi viết, với một tấm bảng đồng nhỏ khắc tên ông trên mặt gỗ sẫm màu.

Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở chiếc bàn ấy, mà ở ý nghĩ rằng giữa một quán cà phê rất bình thường của Paris, một phần văn học thế kỷ XX đã từng được viết ra trong mùi cà phê nóng và khói thuốc lá.

Closerie des lilas 1900 và ngày nay

Le Procope – quán cà phê lâu đời nhất Paris: Ra đời từ năm 1686, Le Procope thường được xem là quán cà phê lâu đời nhất Paris. Vào thế kỷ XVIII, khi cà phê còn là một thức uống mới lạ ở châu Âu, Le Procope đã trở thành nơi gặp gỡ của giới triết gia thời Khai sáng.

Voltaire, Jean-Jacques Rousseau hay Denis Diderot từng ngồi ở đây tranh luận về tự do, lý trí và xã hội. Có một chi tiết rất Paris: nhiều ý tưởng về Cách mạng Pháp đã từng được nói ra trong các quán cà phê trước khi xuất hiện ngoài quảng trường. Ở Paris, quán cà phê không chỉ là nơi nghỉ chân. Nó từng là nơi người ta nghĩ về cách thay đổi thế giới.



Le procope đầu thế kỷ 19

Ở khu Montparnasse, Le Dôme Café từng là điểm hẹn quen thuộc của giới họa sĩ và nghệ sĩ nhập cư đầu thế kỷ XX. Amedeo Modigliani, Marc Chagall hay nhiều họa sĩ trẻ nghèo thời ấy thường ngồi ở đây suốt nhiều giờ với rất ít tiền trong túi. Paris khi ấy không chỉ là thành phố của ánh sáng, mà còn là nơi người ta mang theo giấc mơ nghệ thuật của mình để sống, dù nghèo đến đâu.

Le Dome 2026

Còn La Rotonde, với những hàng ghế đỏ đặc trưng ở boulevard du Montparnasse, từ lâu đã gắn với không khí bohemian của Paris đầu thế kỷ XX. Người ta kể rằng chủ quán từng cho các họa sĩ nghèo ngồi lì hàng giờ chỉ với một ly café, thậm chí cho họ ký nợ bằng tranh vẽ. Nhiều bức tranh ngày ấy về sau lại trở thành tác phẩm có giá trị lớn.

Le Dome 1928

Dọc theo bờ Seine, những quán cà phê nhỏ nối tiếp nhau dưới hàng cây. Vào cuối buổi chiều, khi ánh sáng bắt đầu đổi màu trên mặt nước, người ta ngồi ở đó rất lâu – trước một ly vang, một tách espresso hay chỉ để nhìn những chiếc bateau-mouche chậm rãi đi qua.

Café La Rotonde – Paris 6

Ở khu Saint-Michel hay gần Ile de la Cité, nhiều terrasse mở thẳng ra phía sông. Từ đó có thể nhìn thấy những nhịp cầu đá, những quầy sách cũ màu xanh của các bouquinistes dọc bờ Seine, và phía xa là bóng Notre-Dame hiện lên giữa trời chiều.

Amedeo Modigliani, Pablo Picasso và André Salmon trước quán cà phê La Rotonde năm 1916

Paris có một từ rất đặc biệt: flâner. Khó tìm một từ tiếng Việt thật tương đương. Nó không hẳn là đi dạo, cũng không phải lang thang. Đó là cách bước chậm lại để nhìn, để quan sát, để thành phố tự hiện ra trước mắt mình mà không cần một mục đích rõ ràng. Những quán cà phê Paris dường như sinh ra cho điều đó. Người ta có thể flâner ngay cả khi chỉ ngồi yên trước một tách cà phê và nhìn phố xá trôi qua.

Bouquiniste paris 1900

Thành phố như một sân khấu nhỏ

Ngồi ở terrasse một quán cà phê Paris vào cuối buổi chiều, người ta bắt đầu hiểu vì sao thành phố này sinh ra nhiều nhà văn đến thế.

Ngoài kia, đời sống đi qua liên tục như một bộ phim không có kịch bản. Một người phụ nữ ôm baguette bước nhanh dưới hàng cây. Một ông lão dắt chó đi dạo. Một người kéo violin ở góc đường. Một đôi tình nhân cãi nhau rất khẽ rồi im lặng nhìn nhau.



Bouquinistes paris 1934

Người ngồi ở quán không cần tham gia vào tất cả những điều đó. Chỉ cần nhìn. Có lẽ chính từ những khoảnh khắc rất nhỏ ấy mà văn chương Paris được tạo ra.

Nghệ thuật ở một mình giữa đám đông

Có một điều rất Paris: người ta có thể một mình mà không cô độc. Trong những quán cà phê ngoài vỉa hè, giữa dòng người đi ngang và tiếng phố chậm rãi trôi qua, mỗi người dường như vẫn giữ được cho mình một khoảng riêng rất yên tĩnh.

“Cà phê làm thơm mọi khoảnh khắc của cuộc đời” – Honoré de Balzac

Ở nhiều thành phố hiện đại, con người luôn bị thúc phải bận rộn và đi nhanh hơn. Nhưng ở Paris, người ta vẫn cho phép mình có một khoảng thời gian “vô ích” – chỉ để ngồi xuống, nhìn thời gian trôi qua và nghe thành phố thở quanh mình.

Có lẽ đó chính là điều làm nên vẻ lãng mạn thật sự của Paris. Có những thành phố khiến người ta muốn đi nhanh hơn. Paris, đôi khi, chỉ khiến người ta muốn ngồi xuống.

La Javelle nằm cách công viên Parc André Citroen chỉ vài bước chân, Paris 15.

 

Trúc Tiên ( Tác giả )

Paris, ngày 26 tháng 5 năm 2026