Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

805 . TRƯƠNG VŨ Cái đẹp

 

Trương Vũ

C Á I  Đ Ẹ P

 

Mấy hôm nay, tôi thường đi bộ dọc theo bờ sông nhỏ trước khách sạn. Một buổi sáng, khi thoạt nhìn xuống những cây cỏ mà bình thường không để ý, tôi xúc động. Đó chỉ là những cây đước mọc từ đáy sông, mạnh mẽ vươn mình lên khỏi mặt nước, biểu hiện một sức sống mãnh liệt và đẹp. Rất đẹp, kể cả đám cây cỏ dại nhỏ bé mọc xung quanh, trên mặt nước. Tôi thấy một con thuyền nhỏ, hình như là nhà ở cho một gia đình nghèo. Tôi thấy những trụ gỗ hoang cũ, nhô lên mặt nước như hình ảnh hai vợ chồng, một đứa con. Tôi thấy một chiếc ghe nhỏ bỏ hoang, đơn độc.

 

Cái đẹp! Nhiều khi không phải tìm đâu xa. Nó quanh quẩn đâu đây.

 

Bến Tre 1/3/2023


Một số hình ảnh ghi lại được






804 .. BÓNG HÌNH CŨ Truyện ngắn. A.J. MCKENNA Nhà văn Anh (1888-1919) THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu

Nhà văn A. J. MCKENNA (1888-1919)

Tên đầy đủ là McKenna James Andrew Joseph, thuở nhỏ học các trường St Patrick và St Dunstan, những cơ sở giáo dục Thiên chúa giáo ở quê nhà. Sau đó, có một thời gian ngắn làm việc cho ngành hoả xa rồi thử nghề viết báo trước khi chuyển về Ottawa làm thư ký tại công sở. Ông chăm chỉ công tác nên không bao lâu được bổ nhiệm vào làm tại Sở Công tác Ấn Độ, và làm thư ký riêng cho toàn quyền Sir John A. Macdonald. Ông làm công việc này trong mười năm . Trong thời gian này, ông học luật và thành thạo trong lĩnh vực luật pháp nên tiếp tục thăng tiến những năm sau đó. Cuộc đời công chức với nhiều biến chuyển thời cuộc khiến ông không còn thời gian để viết lách. Tháng tư năm 1917 ông xin nghỉ và về sống tại Victoria. Tháng 2 năm 1918 ông in vài bài trên các báo ở địa phương.

McKenna qua đời vì bệnh tim năm 1919.

Tác phẩm ông để lại không nhiều nhưng những truyện ngắn của ông đều gây tiếng vang. Ngoài truyện ngắn, ông còn viết tiểu thuyết và kịch.

Truyện ngắn giới thiệu dưới đây nguyên tác có tên là Old Ghosts, đăng trên trang eastoftheweb.com, là một trong hai truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông ( truyện kia là Hope and Comfort. Tác giả khéo dẫn dắt người đọc lúc kể chuyện hiện tại lúc quay về quá khứ, theo những diễn biến tâm lý của nhân vật chỉ có cái tên ngắn ngủi là Jim. Ông già cô đơn và cô độc, ân hận về những điều đã làm lúc trẻ. Bút pháp lạnh lùng bằng những câu cụt ngủn, tả cảnh để nói về tình. Cái kết là một lối thoát cho nhân vật và cũng khiến người đọc thôi thấp thỏm trong cảnh ma quái âm u.

803. NGUYỄN TƯỜNG GIANG Đôi điều về truyện ngắn BÀN TAY CHO YẾN của Doãn Dân

 


Hôm nay trời mưa rỉ rả vì ảnh hưởng một cơn bão rớt, tôi nhẩn nha ngồi đọc hết truyện ngắn BÀN TAY CHO YẾN của Doãn Dân. Nhà văn Doãn Dân tôi không được đọc trước và sau 1975, nhưng rất cảm động về buổi tưởng niệm 50 năm mất và ra mắt Tuyển Tập Doãn Dân. Tò mò tôi tìm đọc trong mấy số báo Tân Phong tôi có, đọc được hai truyện Hoa Nở Muộn và Ghen, đúng như nhận xét của Trương Vũ, Doãn Dân có văn phong của Tự Lực Văn Đoàn (hai truyện đó viết vào khoảng 59-60) và viết về thời đẹp đẽ và an bình của những người thuộc thế hệ Tiểu tư sản miền Bắc (nhà biên khảo Nguyễn Vy Khanh đã nhận xét rất nhạy bén khi viết về DD). Cũng trong buổi họp mặt Tưởng Niệm Doãn Dân đa số nhận xét là truyện của ông ít bị ảnh hưởng của chiến tranh (tôi không được đọc các tác phẩm khác của ông nên không thể biết). Nhưng hôm nay khi đọc BÀN TAY CHO YẾN, tôi nghĩ đó là một truyện ngắn rất hay và chân thực về chiến tranh, lặng lẽ và âm thầm, có lẽ đó là những cảm nghĩ của tôi, mặc dù không hân hạnh được làm một người lính thời đó nhưng tôi vẫn tưởng tượng và thông cảm những cảm nghĩ của nhân vật Nguyên, một thanh/thiếu niên Bắc di cư, ở trại định cư, đi học, dạy học rồi nhập ngũ (tôi đoán thế khi đọc hai truyện trước). Dĩ nhiên là tôi có bias trong suy nghĩ này. Chỉ tiếc một điều là Doãn Dân mất đi quá sớm, trước khi chiến tranh trở nên dữ dội hơn (Hạ Lào, Mùa Hè Đỏ Lửa, 30 tháng tư…) và trại cải tạo, vượt biên v.v…, nếu còn sống có lẽ với sự ham mê văn chương và tấm lòng đối với con người và cuộc đời ông có thể cho ta đọc những tác phẩm sâu sắc về những biến cố trên. 

 

NGUYỄN TƯỜNG GIANG

Virginia, 7 May 2022

802. DU TỬ LÊ Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

 


Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.

Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là  “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.

Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”

Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.

Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.

Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với  người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…

Ở phần “Phụ Lục” cuối tuyển tập thơ mới nhất, tựa đề “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” do Thư Ấn Quán, in lần thứ ba, tại Hoa Kỳ, 2018, nhà văn Phạm Văn Nhàn, trong bài “Đất và Người,” viết: “Gần đây, đọc được bài thơ ‘Cha Tôi’ của Phạm Cao Hoàng, viết về người cha đã qua đời cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.

‘ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi
để lại đàn con trên quê hương tan tác
để lại trong trong tôi vết thương mang theo suốt đời.
bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương’
(Cha Tôi, 2015)

801 .DƯƠNG NGHIỄM MẬU Truyện ngắn TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT

 


Phác thảo chân dung Dương Nghiễm Mậu - Đinh Trường Chinh


Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại:
-Anh đã về.

Người anh phác một nụ cười:
-Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.

Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối.
-Anh về bao giờ lại đi?
Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm:
-Anh về ở nhà.
Ngươi hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt:
-Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe…À kìa, anh cả về đó sao?
-Dạ chào bác.
-Từ hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được, hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện…

Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói:
-Cha đâu?
-Cha nằm trong nhà.

Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra:
-Cha đang ngủ, anh không lên tiếng.

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

800 . NGUYỄN MINH NỮU : TÁCH TRÀ THƠM BUỔI SỚM MAI

                                                                                                              


TÁCH TRÀ THƠM BUỔI SỚM MAI
 
Nâng tách chè thơm buổi sớm mai
Dáng người như một vệt sương phai
Lẫn vào hương thoảng trầm hương cũ
Lẫn cả hương đêm lúc rạng ngày.
 
Là lúc thời gian đọng giữa chừng
Không gian dường cũng rất mông lung
Mẹ nối bây giờ cùng quá khứ
Và gửi tương lai một tấc lòng
 
Con quấn trong chăn, đã dậy rồi
Nhưng nằm mở mắt ngắm xa xôi
Quanh con như lớp tơ mềm óng
Chỉ thở mà ngân tiếng nhạc vời
 
Thấp thoáng hương bay cuốn bệ thờ
Ánh mắt Cha nhìn như ánh thơ
Con thấy Mẹ nâng tay tách nước
Nghe rung động suốt cõi mơ hồ
 
Thinh lặng giữa đôi bờ hư thực
Hương chè mạn lục thoảng qua môi
Hắt hiu một bóng soi trên vách
Mà khay vẫn có tách song đôi.
 
Những sớm mai kia, có chẳng nhiều
Mẹ già bạc tóc với cô liêu
Con thì phiêu bạc theo năm tháng
Đắng lưỡi tê môi với sớm chiều.
 
Đời con rồi ghé vào hưng phế
Đã biết bao nhiêu cuộc đổi dời
Tĩnh tâm chỉ có khi ngồi lại
Sớm mai nhớ Mẹ, tách chè thôi.


Sớm mai bên Mẹ tách chè thôi
Tâm nhẹ nhàng theo dáng mẹ ngồi.



 


Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

799 . LÃNG THANH : TÌNH CỜ ANH GẶP NÀNG ĐÂY.

                                                                                        


PHÂN ƯU

Thi Sĩ PHẠM THIÊN THƯ, tên thật là PHẠM KIM LONG, 
Ông sinh năm 1940 và từ trần ngày 7 tháng 5 năm 2026 tại Saigon, Hưởng thọ 87 tuổi.

Sinh thời ông là một nhà thơ lớn được yêu thương, quý trọng từ những vần thơ tình mang âm hưởng Thiền , được phổ nhạc từ nhạc sĩ Phạm Duy, và nhiều tập thơ như Đoạn Trường Vô Thanh, Kinh Ngọc ...nhưng sau 1975 ông không còn sáng tác  mới, và những năm cuối đời ông không còn thuận lợi khi phát âm nên rất ít nói.  Thường ngày, tại Quán cà Phê HOA VÀNG trong cư xá Chí Hòa, Ông thường ngồi đối diện quán  trên một hành lang bên đường, có bàn ghế  để tiếp các người hâm mộ ghé thăm. 

Mọi người đều nhận được lời chúc an lành từ mắt ông và hai tay chắp lại cám ơn.

Sự ra đi của ông là một tổn thương lớn với Văn Học Miền Nam. 

Và nỗi thương nhớ của Người Việt khắp nơi.

Tạp Chí VĂN PHONG và các tác giả  công tác chân thành tưởng nhớ

 Thi Sĩ PHẠM THIÊN THƯ

 và thành kính phân ưu cùng tang quyến.


Xin đăng tải bài viết của Tác Giả LÃNG THANH như một nỗi ngậm ngùi kính nhớ.

Tranh chân dung Thi sĩ PHẠM THIÊN THƯ của Họa sĩ PHAN NGUYÊN


Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

797 . PHẠM NGỌC DŨ : Tiểu thuyết ký sự BÀ GIÁO VÂN

                                                

                          LỜI THƯA

 

‘Lòng trung thực là trang đầu tiên của quyển sách trí tuệ’.  

Thưa tất cả các bạn văn và độc giả

Lịch sử thống nhất của đất nước đã đi qua gần 50 năm, nhiều sai lầm của thời buổi ban đầu đã làm nhức nhối của rất nhiều thức giả, nhất là thức giả của miền Nam Việt Nam nói riêng, với chuyên môn quá bài bản được du học từ các quốc gia văn minh tiên tiến từ châu Âu, châu Úc và châu Mỹ trở về phụng sự. 

Năm 1975 khi non sông liền một dải, chính quyền lúc ấy còn hạn chế sự hiểu biết trong quản lý hậu chiến nên rất đáng tiếc một số người tài được cải tạo, rồi trở về trở thành ‘vô dụng’, thành gánh nặng gia đình. Họ sống bên lề xã hội với nỗi mặc cảm của người thua cuộc. Đây là điều rất thực, ai cũng nhìn nhận ra được. May thay, nhiều thế hệ phía sau đã thấy và biết sửa chữa. 

Tôi viết tiểu thuyết này khá lâu, năm 2005. Thao thức hoài không thể không xuất bản, tôi đã chỉnh trang lại cho thật phù hợp với thời đại hôm nay, tất nhiên một phần nhỏ lịch sử đã được khai thông tôi vẫn giữ lại, quyết định xuất bản. Nghiệp của nhà văn có viết tác phẩm không được xuất bản là nỗi bức xúc rất lớn. 

Tôi nỗ lực trong điều kiện của chính mình hầu mong đứa con với cả tâm tình, nỗi niềm của Tiểu thuyết ký sự: Bà Giáo Vân của tôi được khai sinh trên chính quê hương này, mặc dù thời nay rất dễ dàng gửi đi ra bên ngoài. Tôi ý thức rằng xuất bản trong nước là điều hợp lý và chính danh, nên kỳ này mạnh dạn gửi Nhà xuất bản cấp phép.

Nhà văn chịu trách nhiệm trước lịch sử, còn NXB chỉ chịu trách nhiệm trước một thời đại. Một quyển sách hay là quyển sách có giá trị nghệ thuật, luôn hướng tới cái đẹp, tính nhân văn của con người trong xã hội mình đang sống. Văn học là nhân học. 

Rất mong sách sẽ được khai sinh, trước bạ với nhân gian trong một đất nước mình hân hạnh được dự phần cống hiến cùng với cộng đồng tha nhân trong xã hội đương đại, nhằm hướng tới toàn cầu hóa tinh thần văn minh cùng nhân loại trên cả hành tinh này.  

Kính mong sự hoan hỉ, đồng cảm của các bạn văn và độc giả. 

 Phạm Ngọc Dũ 


Chương 1: RỦI MAY THẾ THỜI

 

Bà giáo Vân ngồi viết kiểm điểm trong phòng Công an P. Tân Định, Quận 1, mắt kính tỏ trễ xuống cánh mũi làm toát lên vẻ mặt phúc hậu và hiền lành, Người Trưởng phường đi ngang qua cửa, chợt khựng lại quan sát, rồi anh quay về phòng có chiều suy nghĩ: Có phải là cô giáo cũ của mình? Không thể, cô từ Quảng Ngãi làm sao vào bán chợ trời được, cả đời cô dạy học, đã mấy mươi năm từ tấm bé đến trung học mình biết rõ, dấu hỏi lớn được gợi lên trí chàng, có lẽ nào?

-          Này, Đ/c xuống phòng tiếp dân xem thử người phụ nữ mang kính viết kiểm điểm xong chưa? Nhớ rót nước mời bà đàng hoàng nhé. 

-          Dạ, Báo cáo: Rõ, Cậu Công an viên nhanh chân ra khỏi phòng

Bà giáo Vân và chiến sĩ công an vào phòng Trưởng công an.

-          Báo cáo, bà đã viết xong, em gửi đc xem.

-          Sơn – Trưởng công an Phường xem tường trình, anh ta khựng lại chừng vài phút.

-          Đ/c ra ngoài, tôi làm việc với bà. 

-          Rõ, anh công an viên vội vàng ra ngoài.

-          Bà Vân sợ hãi như kẻ tội đồ lớ ngớ chưa biết xử sự sao, tay chân luống cuống như thừa thải ra, thời gian yên lặng lạ thường…

-          Thưa bà, bà ở Quảng Ngãi à, bà có biết mua bán đồ tàng dư Mỹ Ngụy là phạm tội?

-          Thưa ông, dạ, tôi biết nhưng không còn cách nào khác. Ông thông cảm cho!

-          Bà bán được bao lâu, trên vỉa hè rồi?

-          Tôi bán mới gần ba tuần, 

-          Trước đây bà làm nghề gì? 

-          Dạ, dạy học

-          Sao lại bán đồ tàng trử nhất là áo của lính Mỹ? 

-          Rất tiếc, tôi không có ý định ấy, là áo quần thôi chứ nào phải đồ quốc cấm. 

-          Có thông báo trên dán các nẻo đường cả rồi. Phường đã thông báo tất cả các con đường lớn trong địa bàn, xe lưu động vẫn sáng chiều loa phóng thanh thường kêu gọi. 

-          Tôi tưởng là vũ khí mới như vậy, lần đầu mong ông tha tội, tôi đã hứa trong bản tường trình. Ông đọc hết sẽ rõ. 

-          Tôi đã đọc rồi, trước bà dạy ở đâu, sao lại một giáo viên bán chợ trời, chắc có lý do gì, bà cứ nói, chúng tôi xem xét, báo cáo.

-          Nỗi sợ hãi đã đi qua, sau khi đối thoại với người trưởng phường, tuy vậy bà đang chuẩn bị cho mình câu trả lời an bình nhất, kẻo không bị giam giữ tại phường như cô Huỳnh Kim người bày vẻ bà bán mua. 

-          Thưa ông, thú thật cả đời tôi từ ngày ra trường đến nay chỉ dạy học, tôi dạy từ năm 1957 đến 75, sau đó thì gia đình khó quá, nên nghe lời các bạn vào trong này kiếm tiền phụ giúp cho con cái, nghe nói là nếu nỗ lực cũng đỡ hơn quê nhà, các cháu còn đi học, ba mấy nhỏ bệnh chẳng làm gì kiếm ra tiền. 

-          Thôi được, bà cứ nghỉ ở đây, chiếc áo Pylajacket, các em đã lập biên bản rồi, chúng tôi phải giữ làm chứng từ để báo cáo lên trên.

-          Sơn bước đến kéo hộc tủ, bỏ vào, bà giáo Vân nước mắt lưng tròng.

-          Thưa ông, gia sản bây giờ chỉ còn cái áo đó, tôi mua hết cả túi tiền tôi có được, nếu không thông cảm cho, làm sao tôi có vốn bán mua để sống nơi này, đừng nói chi gửi về cho con! Các con rất cần tôi. 

-          Lệnh trên đã vậy, không thể trả lại được cô à, Cô cũng thông cảm cho.

796 . TT-THÁI AN : ĐÔI MẮT NHUNG RẤT BUỒN.

                                                                             

Từ trung tuần tháng 8 đến tháng 9, 2021 nhiều người Việt Nam ở Mỹ hoặc ờ trong nước Việt Nam gặp nhau đều nhắc đến bệnh covid-19 của ca sỹ Phi Nhung. Từ khi vào bệnh viện Gia An 115 cho đến khi chuyển sang bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn.  

Tôi không phải là fan hâm mộ của Phi Nhung, vì tôi không thích nghe các loại nhạc dân ca ba miền hết bản này đến bản kia.  Nhưng tôi thường xuyên theo dõi các show ca nhạc của Thúy Nga Paris nên biết đến Phi Nhung qua các tiết mục tân cổ hát với Mạnh Quỳnh hoặc Phi Nhung hát đơn ca các bản nhạc quê hương, có âm hưởng dân ca Nam Bộ.  Thỉnh thoảng thấy Phi Nhung và Mạnh Quỳnh hát song ca những bản Bolero thời trước 1975.

Phi Nhung bắt đầu xuất hiện trên Thúy Nga Paris từ cuốn DVD số 49 – cuốn 101.

Sau đó vắng mặt liên tiếp gần 6 năm, đến cuốn 119 mới trở lại. 

Thời gian này Phi Nhung ở Việt Nam nhiều hơn ở Mỹ, vì cô tìm được thị trường ca nhạc rộng lớn bên đó giúp cô hoạt động văn nghệ trong nhiều lãnh vực từ ca nhạc, đến cải lương, thoại kịch, hài kịch và điện ảnh.  Nhưng cũng vì thế, khi có show Thúy Nga Paris, Phi Nhung trở về Mỹ cận ngày trình diễn nên ít thời gian tập dợt, đôi khi chương trình có thay đổi thì Phi Nhung không đủ thời gian chuẩn bị nên bị cô giám đốc Tô Ngọc Thủy cho nghỉ dài hạn như thế. 

Phi Nhung lai Mỹ, sinh vào ngày 10 tháng 4, 1970.  Đầu tháng 1, 1973 chánh phủ Hoa Kỳ rút toàn bộ quân đội của họ ra khỏi miền Nam Việt Nam khiến tất cả bar, quán chuyên phục vụ quân đồng mình phải đóng cửa.  Các cô gái bán bar bị thất nghiệp và buộc phải kiếm cách khác sinh sống.  Những người làm sở Mỹ từ nhân viên văn phòng cho đến người lao động chuyên quét dọn lau chùi hoặc nấu ăn, hoặc chuyên viên kỹ thuật các ngành đều bị thất nghiệp ngang.

 Nhà báo Đỗ Vẫn Trọn, người đồng hương Pleiku của Phi Nhung, nói chuyện trên Youtube của ông rằng Phi Nhung có tên thật là “Lê Thị Tuyết Lan, sinh tháng 4, ngày 10, năm 1969” nghĩa là 1 năm sớm hơn trên giấy tờ khi vào Mỹ.  Vì khi các thầy cầu siêu cho Phi Nhung trong đám tang đọc tên nàng là Lê Thị Tuyết Lan với ngày sanh này”.  Vì cầu siêu thì phải dùng cái tên và ngày sinh chính xác.

795 . TIỂU LỤC THẦN PHONG : THƯA RẰNG SON SẮC XUÂN XANH.

                                                                                       


Sáng nay vườn ta nở  những đóa thủy tiên đầu tiên, trời ơi cái màu vàng rực rỡ, màu trắng tinh khiết thanh tân. Đất trời đông giá mà sao thấy sắc xuân long lanh trên đầu ngọn cỏ. Những đóa thủy tiên nở sớm là dấu hiệu của mùa xuân đang đến.

Thưa rằng xuân xanh vẫn son sắc vĩnh hằng, có đi đến bao giờ! Nhựa xuân âm ỉ chảy trong từng thớ gỗ, mạch lá. Sắc xuân ngủ trong củ hoa chỉ đợi khi trời ấm thì bừng lên. Xuân không đi không đến. Xuân vẫn ngụ giữa trời đông, ẩn trong vô số nụ và chồi. Xuân có ngay giữa hạ với sắc lá xanh biếc. Xuân hòa trong muôn hồng nghìn tía của mùa thu. Xuân ở trong đất mẹ, vi vu cùng làn gió vô tận đất trời. Xuân ấm áp tia nắng và dĩ nhiên róc rách lưu chuyển trong dòng nước miên viễn kia. Xuân chan hòa khắp nhân gian, sáng rực rỡ dung thông ba cõi mười phương.

Mùa xuân đã không sanh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm…Cớ sao ta lại bảo xuân về? Thưa rằng cái tâm cảm em ơi! Vì chúng ta chấp vào cái tướng mà không thấy cái tánh ấy thôi. Phần nữa vì thế gian này là thế giới đối đãi, thế giới nhị nguyên. Vì chúng ta thô nên mới sanh tâm ra vậy.

Năm xưa Lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Cái tâm (soul, spirit, mind, thought…) khi không trụ vào bất cứ vật gì, việc gì… thì nó trở nên kỳ diệu vô cùng, diệu dụng không sao nói hết được! Hầu hết mọi người chúng ta tâm trụ vào tiền bạc của cải, nhan sắc sắc dục, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ chơi bời. Trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên tâm chúng ta không thể dụng được cái diệu. Tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần nên mới sanh tâm xấu – đẹp, đến – đi, tăng – giảm… và từ đó mới có xuân khứ, xuân lai, xuân đáo, xuân này hơn xuân kia…và dĩ nhiên không thể thấy đóa hoa mai ngoài sân trong đêm tối như ngài thiên sư Mãn Giác. Càng không thể “ngộ” đóa hoa sen như ngài Ca Diếp.

Mùa xuân đất trời, mùa xuân đời người còn không mất thì mùa xuân chánh pháp cũng không thể diệt, dù rằng quy luật thịnh - suy vẫn có đấy. Quy luật thành – trụ - hoại – không vẫn tồn tại. Sở dĩ vinh viễn son sắc xuân xanh là vì nhân duyên, nhân duyên vốn không nên son sắc xuân xanh cũng không sanh không diệt. Sanh diệt là cái tướng, tướng có tánh không. Có lẽ cũng từ đây mà đời có gã du tử mới làm thơ mùa xuân son sắc vĩnh hằng

Dẫu vô thường thật

                             hãy còn

Mong manh cái đẹp sắc son xuân về

Ùn lên khí vị bốn bề

Đất trời cao rộng

                           chưa hề thịnh suy


794 . NGUYỄN VY KHANH : Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại Nhà văn TRẦN DOÃN NHO

                                                                                                 



Trần Doãn Nho, bút hiệu sử dụng khi sáng tác và ký Trần Hữu Thục tên thật, khi viết tiểu luận. Sinh ngày 25-7-1945 tại Huế. Tốt nghiệp ngành Triết. Trước 1975, phụ khảo môn Triết tại Đại học Văn Khoa Huế; sĩ quan quân đội VNCH và cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn. Sau 1975, ở tù “cải tạo” đến 1981. Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo Dục Thành Phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Tự Do, Văn, và các trang mạng.

Tác-phẩm đã xuất bản: các tập truyện ngắn Vết Xước Đầu Đời (Thanh Văn, 1995), Căn Phòng Thao Thức (Thanh Văn, 1997), Đi. Trong Một Buổi Sáng (Văn Học Press, 2021) - ký và tùy bút Loanh Quanh Những Nẻo Đường (Văn Mới, 2000), truyện dài Dặm Trường (Văn Mới, 2001; Thư Ấn Quán tb 2018) - các biên-khảo tiểu luận Viết và Đọc (Văn Học, 1999), Tác Giả Tác Phẩm và Sự Kiện (Văn Mới, 2005), Từ Ảo Đến Thực (2006), Ẩn Dụ Cuộc Phiêu Lưu của Chữ (Người Việt, 2015), …

*

Trần Doãn Nho giáo chức và đã khởi nghiệp văn-chương từ trước 1975, ông thực sự xuất bản từ khi định cư tại Hoa Kỳ. Là một cây bút trí thức, do đó khi sáng-tác ông cũng đã hơn một lần cho người đọc thấy ông nhiều suy : con chữ Trần Doãn Nho hoặc Trần Hữu Thục, nếu không có mục-đích thì cũng liên hệ đến tâm thức và ý nghĩa nào đó của hiện hữu, của con người và nhất là con người Việt Nam!

Trong Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu của Chữ, ông nghiên cứu về “ẩn dụ” trong văn học Đông Tây trãi qua các thời đại. Chương viết về “Chữ nghĩa: chữ và nghĩa”, ông cho biết:

Chữ: Nói đến chữ, ta thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ. Dưới hình thức chữ cái, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ “tách khỏi thế giới và trở thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ,” theo Arild Utaker, trong một bài viết bàn về Saussure. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành “một vấn nạn triết lý”: tương quan “giữa ngôn ngữ và thế giới” hay nói khác đi, tương quan “giữa chữ và sự vật.” Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là phản ảnh vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm thấy trong chữ. Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn … “Hoạt động ngôn ngữ” là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói”. “Ngôn ngữ” có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. “Lời nói” là sự sử dụng cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này, Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là toàn thể các ký hiệu. Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ viết khiến ta không thấy được điều đó...”.

Nghĩa: Dù là bằng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic), chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “đi”. Đi là động tác di chuyển bằng chân hướng về phía trước, nhưng có nhiều chữ đi lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi đêm, đi khách. Hay chữ “ăn”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng, ta có những chữ ăn khác như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”...”.